Reply to Thread

Post a reply to the thread: SAIGON THUỞ ẤY ...

Your Message

Viết bằng chữ trong ô trống kết quả của năm mươi trừ hai mươi

 

Additional Options

  • Will turn www.example.com into [URL]http://www.example.com[/URL].

Topic Review (Newest First)

  • 16-08-2018, 09:18 PM
    tran truong

    ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    Phương đă bị phục kích chết ở Eo Máu trên đường về quê khu Năm. C̣n Thu th́ c̣n sống sót vô đến đây để gặp người yêu, nhưng dọc đường chúng tôi đă đi quá xa trên con đường t́nh cảm. Tôi muốn biết thêm về việc gặp lại người yêu của Thu ở trong này. Nhưng không tiện hỏi thẳng Thu mà cũng hơi khó hạch Ba Mực. Nhưng Ba Mực biết tỏng bụng tôi , nói:

    – Vụ đó xù rồi ! Thằng kia ở trong này lại lăng nhăng với một con nhỏ cải lương.

    Hoàng Việt cười, nh́n tôi một cách trêu chọc:

    – Mày nên báo cáo với tổ chức đi là vừa. Để nó trống chân lâu ngày có thằng nhảy vô đấy.

    Ba Mực cười:

    – Ra thế à ?

    – Th́ nó thế đấy. C̣n hơn thế nữa. Hà Nội đỡ rắc rối là nhờ nó và một thằng nữa đi vô đây.

    Ba Mực hỏi:

    – Thằng nữa là thằng nào?

    – Thằng Sáng ủy viên Ban Chấp Hành Hội Nhà Văn. Đó là hai con quỉ chùa phá nhà chay ở ngoài đó, cho nên để cho dân Hà Nội an cư lạc nghiệp, người ta tống hai thằng vô rừng này.

    Ba Mực hớp miếng rượu khà một cái to và tiếp:

    – Muốn làm ǵ th́ dắt đi đâu , chứ ở đây không được đâu cha nội ơi !

    – Dắt đi đâu là đi đâu?

    – Không có đi đâu được hết, nghĩa là không có làm ǵ được hết.

    – Sao quái gở vậy? Hoàng Việt hỏi.

    – Các anh mới về nên chưa có thông t́nh h́nh ở trong này đâu! Đoàn Văn Công không cho ai yêu ai, không có nói tới cái vụ yêu đương trong lúc này. Để toàn tâm toàn ư phục vụ cách mạng.

    – Vậy sao cái thằng của con Thu lại lăng nhăng với con nhỏ nào?

    – Hai đứa vừa bị kiểm thảo một trận trời long đất lở.

    – Thế à? Hoàng Việt cười khè :

    – Bà trưởng đoàn đă “lên mốc” nên không cho đám trẻ con chơi tṛ hú tim chớ ǵ !

    – Chị Ba ở Sài G̣n mới ra nhưng chỉ giác ngộ mau lắm. Chỉ c̣n nghiêm hơn các ông ngoài ta.

    – Chị Ba nào? Tôi hỏi.

    – Chị Ba Thanh Loan chớ chị Ba nào. Anh không biết sao? Ba Mực nói.

    – Không !

    Hoàng Việt trả lời thay.

    – Thanh Loan là chị Thanh Hương Nguyệt Nga Điêu Thuyền của ông Tám Danh rơ chưa nào?

    – Ủa!

    – Ủa cái ǵ ! Bả là ủy viên trung ương Mặt Trận ta đó chú em.

    – Hiện phụ trách đoàn Văn Công Giải Phóng của ḿnh.

    – Vậy th́ “chú em” có muốn “đút đờ-măng” vô con Thu phải báo cáo với nữ chúa nghe ! Vô đây là cơ quan rồi không có đấu phép như trên đường Trường Sơn được nữa. Coi chừng sụp hầm chông đấy!

    Tôi thở dài một cách vui vẻ:

    – Vấn đề là tui có muốn oánh phép hay không thôi chứ không phải vấn đề xin phép ai đâu!

    Hoàng Việt cười ré lên:

    – Mày là con quỉ. Đi đâu th́ phá làng phá xóm tới đó.

    – Tôi tu lâu rồi anh Bảy!

    – Ừ mày sắp thành ở ngoài trường đi B rồi đấy nhỉ.

    – Trường đi B nào? Ba Mực hỏi.

    – Tức là cái trường tên mang gạch mang đá của tụi này đấy. Trước khi vô đây phải trải qua một khóa luyện nội công ba tháng. Ở đó vách tường khít rim mà nó c̣n đấu phép rần rần kia ḱa, vô đây rừng cây không có hàng rào nó coi như đồ bỏ.

    Tôi hỏi sang vấn đề khác:

    – Chị Ba có anh Ba không?

    – Không có ai cả!

    – Vậy ai làm người t́nh của nữ chúa? Hoàng Việt cười ngặt nghẽo hỏi.

    Ba Mực ngó quanh rồi nói:

    – Có ông Tám Năng nhà ḿnh mới xứng, nhưng ổng đạo đức lắm, ổng không dám đánh du kích đâu.

    – Tám Năng nào?

    – Huỳnh Minh Siêng đấy! Trại cưa Kim Hữu, nhớ không?

    – Á, à… ổng vô đây đổi Tư Siêng ra Tám Năng hả?

    – Ừ th́ đại khái là ở rừng th́ cũng lấy tên cho nó có vẻ rừng rú một chút. Nay mai rồi mày cũng phải vứt bỏ cái tên Trường Sơn của mày đi để tra một cái tên rừng vào. Xuân Vũ th́ đổi ra Tư Cọp, Năm Cheo hay Tám Ḅ Hóc vậy đó. Không thấy Xuân Hồng lại hóa ra Ba Mực sao?

    – Ba Mực là tên cũ của tôi , bây giờ đem ra xài rất hợp ní ! C̣n anh th́ lấy tên ǵ ?

    – Tớ th́ có sẵn rồi. Tụi nó bảo Hoàng Việt cũng như Hoàng C̣ … Thôi th́ để cho Mỹ Ngụy nó không t́m ra tác giả Tiếng C̣i Trong Sương Đêm (*), sẵn rượu thịt đây, tôi tự đặt cho tôi là Bảy C̣ luôn nhé. C̣n thằng Xuân Vũ th́ tao đặt cho là Hai Cọc, được không?

    (*) Bài hát nổi tiếng của Lê Trực tức Hoàng Việt.

    Tôi cười ngất:

    – “Cộc hay “cọc” ? Cộc th́ có nghĩa là cồng cộc bắt cá dưới đ́a c̣n cọc là cây cọc, cọc gỗ, em gái ngồi phải cọc. Anh muốn cho tôi là cồng cộc hay cọc cho em gái ngồi ?

    Ba Mực đáp:

    – “Cọc” hay hơn.

    – Tại sao?

    – V́ “cọc” không có “ô” cho nó khỏe và khoái nữa. C̣n “cộc” th́ có “ô” mệt lắm. Ở đây mà bị một phát “ô” th́ sầu đời vô cùng.

    – Ô che nắng che mưa, ǵ mà rầu.

    – Không ! Cái ” ô” kia cơ !

    – Ô trong này ăn cực ăn khổ thế mà cũng phạm cái “ô” đó nữa sao?

    – Cả hai cái, “ô” này dẫm lên chưa rút chân ra khỏi lại dẫm lên “ô” nọ. Có thằng dẫm một, có thằng dẫm cả hai. “Buồn t́nh quê” lắm ông văn sĩ xă nghĩa ơi! ông về đây th́ nên mau mau xin xuống đồng bằng mà công tác đi thôi. Ở trên này chẳng có đề tài đâu.

    – Đi đâu bây giờ?

    – Ông ở Bến Tre th́ về viết Đồng Khởi. Ông Bảy C̣ th́ đi sông Cửu Long viết Giao hưởng số hai như ông đă từng tâm sự với tôi.

    – C̣n ông ở đây à?

    – Ở đây th́ sớm muộn ǵ cũng kênh cần cổ lên đội “dưa hấu” thôi, nhưng nếu đi hết th́ ai thường trực? Tôi với thằng họa sĩ Đức kia ḱa được phân công ở lại thường trực.

    – Đức nào ?

    – Đức cháu họa sĩ Huỳnh Văn Gấm đại biểu quốc hội hồi 46 đó!

    – Ủa… Thế à !

    – Ông ra ngoải có gặp ổng không?

    – Có chớ đi họp gặp hoài, ổng có minh họa truyện của tôi đăng trên báo nữa.

    – Nhưng mà nói chuyện với ông họa sĩ này th́ nên chú ư nghe !

    – Tại sao ?

    – Nó toàn dùng ngôn ngữ đặc biệt không hè.

    – Thí dụ như ǵ?

    – Thí dụ như đi săn khỉ, cà khu th́ nó gọi là đi săn Tổ Tiên. Đi bệnh xá th́ nó gọi là đi Diêm Vương, uống kí-ninh nó gọi là “thỉnh thị”, trà hiệu con khỉ nó gọi là con khỉ hộc máu… hoặc con khỉ có tháng.

    – Anh ta có định nghĩa “Rờ” là ǵ không? Tôi cứ nghe nói rờ, rờ, mà không hiểu rờ ǵ !

    Ba Mực nói:

    – Tôi không hiểu cũng không rơ nó có từ đâu. Ai đặt cho nó từ thời nào? Tụi tôi nói riết quen miệng, thành thói quen luôn. Cũng như chứ “I”. I ngắn ông hiểu không. Chẳng hiểu tại sao người ta không gọi là Khu Tư, Khu Ba, Khu Tám, Khu Chín như thời chống Pháp, mà lại gọi là “I.” I Tư là khu Tư tức Sài G̣n Chợ Lớn. I Ba là khu 9. I Hai là khu 8 cũ. Rờ có lẽ là một tiếng lóng lấy từ câu “Rờ Râu, Râu Rụng, Rờ Rún, Rún Rung Rinh” chăng?

    – Không phải! Hoàng Việt căi lại :

    - Rờ là “Ṛm Rỉn Rầu Rỉ Rét Rên Rũ Riệt Ră Rời.”

    – Vậy ḿnh xài cái tiếng mà chính ḿnh không hiểu à?

    – Có nhiều tiếng quái gở hơn thế nữa cơ.

    – Như tiếng ǵ ?

    – Ví dụ như tiếng “Học.” Ḿnh dùng tiếng này một cách phổ thông là: Tôi đi học, học trường nào. Phải không? Thế nhưng nếu ông xuống đồng bằng th́ ông nghe các ông tỉnh ủy nói: “Tôi đi học cho các đồng chí cơ quan ! ” . . .

    – Nghĩa là sao ?

    – Nghĩa là “tôi đi dạy cho các đồng chí cơ quan một bài ǵ, một chỉ thị nào của ở trên!”

    – Tiếng ǵ lạ vậy ai mà hiểu cho nổi.

    Ba Mực cười khè khè hiền hậu:

    – Ở trong này nó toàn ngược ngạo như thế. Anh ở đây hoặc xuống đồng bằng rồi sẽ thấy. Không có giống bất cứ sinh hoạt nào hồi kháng chiến hết.

    – Thí dụ coi.

    – Thí dụ như tất cả sinh hoạt đều về đêm. Chợ họp đêm, mít-tinh đêm, đi đêm, ngủ ban ngày và ở hầm bí mật. Ở rừng này cũng vậy thôi. Chúng ta chỉ sống về đêm, chỉ hưởng được sự yên ổn về đêm. Nhưng bây giờ đêm cũng không c̣n yên ổn nữa.

    – Tại sao ?

    – Trên rừng th́ bị B52. Đồng bằng th́ bị trực thăng. Thằng Mỹ này ác gấp ngàn lần thằng Pháp. Khi nó đă đánh th́ nó đánh triệt để. Đại khái như nó bỏ bom nhé. Bom bỏ xong, đến pháo bắn. Pháo bắn dứt trực thăng đến tỉa. Ba cuộc tấn công liên tiếp không cho ḿnh ngóc đầu dậy.

    Ba đứa đă nhậu hết rượu và khô. Kẻng cơm khua leng keng vừa đủ nghe. Ba Mực đứng dậy:

    – Để tôi đi lănh khẩu phần !

    Đoàn tiên nữ tắm suối lại , vừa cười rúc rích vừa dẫm lên lá nát trở về.

    Ba Mực nói:

    – Chừng vài bữa nữa bọn đực rựa các anh sẽ câm hết.

    – Sao vậy? Một nàng gắt yêu.

    – Tụi anh ở dưới nguồn chứ sao. Hà hà hà…

    Hoàng Việt đỡ giùm các cô:

    – Bậy nào, uống nước tiên tắm, giọng hát mới thanh tao chớ.

    – Mấy anh ngày nào không ghẹo tụi em là mấy anh bị sốt hả?

    – Đâu tui có ghẹ… ẹo ǵ. Các em chê tui xấu xí mà!

    Hoàng Việt tiếp:

    – Đứa nào sôlô Xuân Chiến “Xĩ” đâu, vô đây tác giả thưởng miếng khô dê, ủa khô na..ai!

    – Ảnh láu ăn lắm. Hôm nọ ảnh săn được con nai, ảnh vác ngang đoàn tụi em, ảnh không đi đường ṃn mà cắt đường mới, sợ tụi em xin một đùi.

    – Ai mà sợ ! Xin một đùi cho liền, sợ bắt nguyên con chớ.

    Thu đứng xa xa nh́n tôi qua vai các bạn. Bây giờ tôi thấy khó gặp nàng. Có lẽ nàng cũng muốn nói ǵ với tôi nhưng không tiện đứng lại. Cho nên khi các cô kéo nhau đi th́ Thu cũng chỉ giơ tay vẫy nhẹ tôi rồi quay lưng đi.

    Ba Mực nói với theo:

    – Mai anh bắn cho con tổ tiên nhé.

    – Con tổ tiên là con ǵ ?

    – Là con tổ tiên ở trên ngọn cây kia chứ con ǵ.

    Hoàng Việt kêu giật lại:

    – Ấy Thu ! Trở lại anh Bảy gởi bài hát của anh về cho chị Ba phân công cho em nào dượt trước đi. Mai anh sẽ ra duyệt.

    Có lư do chính đáng, Thu quay lại. Ba Mực xách gà-mèn lănh cơm, vừa đi vừa hát:

    “Chiến sĩ ta ngồi đâu ngủ đó…đó… !”

    Hoàng Việt hỏi Thu.

    – Thế nào? Thằng kia chơi đểu rồi hả?

    Thu cúi xuống lí nhí trong miệng:

    – Chuyện của người ta, em không để ư.

    – Giỡn hoài ! Không để ư mà leo hết dăy Trường Sơn vào đây !

    – Em đi công tác chớ !

    Hoàng Việt cười khẩy:

    – Ờ, không để ư th́ đừng có nhờ anh Bảy giúp đỡ nghe ! Muốn nói ǵ, nói một câu đi ! Kỷ luật đoàn gắt gao lắm. Nay mai anh Bảy đi đồng bằng, ở trên này không có ai hiểu em đâu.

    Thu đứng trơ trơ không nói ǵ . Hoàng Việt quay sang tôi:

    – Nam Bắc chừng nào thống nhất một nhà hả mậy?

    Tôi rót miếng trà đưa cho Thu:

    – Em uống tí trà chặn cử sốt chút đi. Em cứ tự nhiên. Chúng ta vẫn là bạn.

    Hoàng Việt gắt:

    – Bạn ǵ? Bạn đường, bạn đời hay bạn trăm năm. Năm bảy thứ, thứ nào? Không được nói bạn này mà ra bạn nọ. Tao thấy mày nên quyết định đi. T́nh h́nh địch găng lắm. Mày không c̣n th́ giờ để nhởn nhơ như ở Hà Nội nữa đâu. Thằng Anh Đức nó khôn đấy. Vô đây là quèo con nhỏ vô đám cưới liền. Nhảy pa-dô-đớp luôn đi, ở đó mà rà rê tango!

    Tôi uống trà cầm chừng chờ xem Thu tỏ thái độ ra sao. Nhưng dù thái độ của Thu sao đi nữa, tôi cũng không thể đi tới bước nào. V́ hiện đang có một người con gái Nam Bộ từ Hà Nội vào đây. Chắc Thu dư biết điều đó. Cũng như Thu biết tôi đă hứa với Phương…

    Thu đă hớp hết chén trà và trao cái bát cho Hoàng Việt. Hoàng Việt gắt:

    – Trà ngọt không?

    – Em không biết nữa! Thu lắc đầu và hơi nhếch môi.

    – Đắng à?

    – Không.

    – Không ngọt cũng không đắng hả em? Không có trà ngọt hay trà đắng! Nó đắng hay ngọt là do cái lưỡi của ḿnh.

    Thấy Ba Mực xách cơm về, Hoàng Việt chạy ra đỡ tiếp, đứng rù ŕ rồi rẽ vào một lối ṃn đi sang cḥi khác. Lạnh lùng, Thu đứng dậy cáo từ. Tôi hỏi:

    – Em có hay Phương đă hy sinh chưa?

    – Hồi nào? Thu kêu lên :

    – Anh bày đặt hả?

    – Thiệt mà.

    – Các anh là ghê gớm lắm.

    – Anh không đùa đâu. Chốc nữa hỏi Hoàng Việt th́ biết !

    Thu sững sờ. Tôi cũng lặng thinh. Và không hiểu ḿnh nói ra chuyện đó để làm ǵ trong lúc này. Để cho Thu yên trí rằng tôi không c̣n vướng bận ai nữa chăng? Tôi đă đi tới với Thu một cách bất ngờ.

    Thu gạn hỏi thêm. Tôi cho thêm chi tiết về vụ phục kích ở Eo Máu mà kẻ sống sót là Thiệp chồng của Xuân Anh.

    Thu hỏi:

    – Chị Xuân Anh bị bắt à?

    – Th́ như thế đó. Truyền đơn bay xuống từ phi cơ và tiếng loa nghe rơ ràng.

    – Rồi anh Thiệp ở đâu?

    – Thiệp định đi vào luôn với anh, nhưng sau khi nghe tiếng nói của vợ th́ nằm nín lại đó…

    – …Để làm ǵ?

    – Ai biết ! Đau chân th́ há miệng vậy thôi , chứ c̣n biết làm ǵ !


    Mai tiếp ...
  • 15-08-2018, 08:46 PM
    tran truong

    ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .................



    Tôi hỏi:

    – T́nh h́nh căng như vậy, anh làm sao biết chắc Lê Tương Phùng sẽ ra đời ?

    – Bởi v́… chịp ! Tất cả đều từ ước mơ. Attends-moi ! Je reviendrai ! Đợi anh, anh sẽ về. Về rồi ! ước mơ đă thành sự thực. Nhưng rồi lại có ước mơ mới.

    Hoàng Việt ném cái tàn thuốc , đưa tay lên miệng hú to và nói:

    – Để tao kêu Ba Mực về nhậu.

    – Ba Mực nào.

    – Thằng Xuân Hồng !

    À, ra Xuân Hồng, tác giả nhiều bài nhạc giải phóng rất nổi tiếng ở Hà Nội, nổi tiếng hơn cả trong Nam, có cái tên là Ba Mực. Tôi chưa hỏi thêm th́ Hoàng Việt đă nói tiếp:

    – Nó là huyện ủy viên một huyện nào đó của Thủ Dầu Một tao quên rồi, không hiểu tại sao nó không lên tỉnh ủy mà lại nảy nách ngang làm nhạc sĩ mới kỳ chứ!

    Nhạc sĩ Xuân Hồng là một con người khỏe mạnh, cù lự như nông dân cơ bản. Ở rừng tối kỵ là xoay trần và mặc quần tiều (phơi sơ hở ra cho đ̣n xóc tiêm kí-ninh !) nhưng Ba Mực lại mặc quần tiều và ở trần, khoe bắp thịt c̣n rất cợm và rắn chắc.

    – “Chiến sĩ ta dầm mưa dăi nắng. Rét run người nắng rám màu da!” Hoàng Việt vừa nói vừa cười :

    – Làm một miếng trà Thiết Quan Âm cái đă rồi tính tiệc mặn !

    – Chứ không phải “chiến sĩ ta ngồi đâu ỉa đó, ỉa trong quần không biết mùi hôi” à? Xuân Hồng tự chế diễu.

    Tôi cười xă giao:

    – Có bài nào mới không, hát nghe chơi ta !

    Hoàng Việt xỏ ngang:

    – Y đang sáng tác trường ca dài hai trăm tám chục nhịp.

    – Vậy hả, tên ǵ ? Gởi ra Hà Nội chưa ? Ở ngoải đang chờ tác phẩm trong này gởi ra như chờ nước uống.

    Hoàng Việt cười:

    – Chưa. C̣n chờ sả ớt !

    – Bản ǵ mà có sả ớt trong đó.

    – Trường ca “Săn Mễn”!

    Tôi bật cười. Hoàng Việt tiếp:

    – Mục tiêu của nó là một tuần phải hạ được hai khỉ, một mễn, một cà khu c̣n chim cóc th́ không kể. Mày mới về chưa biết danh nó đâu. Để nay mai tao bảo nó sẽ bắn một con mễn liên hoan mừng mày về tới nơi.

    Hoàng Việt quay sang Ba Mực:

    – Vợ con có ra được không bồ .

    – Ra ǵ nổi mà ra anh Bảy !

    Ba Mực đưa tay cào cái đầu tóc xùi lên như cái bùi nhùi thợ rèn và nói tiếp:

    – Khó lắm anh Bảy ơi ! Hôm anh đi rước chị Bảy tôi muốn cản anh ghê lắm , v́ tôi sợ anh không thành công , nhưng thấy anh nôn nóng quá xá, nên tôi không dám .

    – Nóng chớ nguội sao được ! Hai mươi năm trời vợ con bất biết, bây giờ về tới đây sống chết cũng phải gặp

    Hoàng Việt nấu nước châm trà. Quần áo có làn xếp thẳng băng như giặt ủi. Trà rót ra ly tách , văn minh đàng hoàng chứ không uống bằng chén sắt Hungari hoặc nắp gà-mèn quốc doanh Hà Nội đâu. Hớp một ngụm trà, rít một hơi thuốc thơm rồi lắc lư cái đầu bùi nhùi, Ba Mực hỏi phong long:

    – Biết ông Bảo không?

    – Bảo nào?

    – Nguyễn Văn Bảo, dân chiến khu Đ hồi kháng chiến trước và là đồng chí Nam Kỳ 40 với Tô Kư.

    Tôi vọt miệng:

    – Phải Bảo sư đoàn 330 không? Tôi biết. Người cao lớn, mặt mũi hiền hậu, ổng là Chánh ủy Sư đoàn của Đồng Cống Bến Tre tôi mà. Ông có cho tôi đi ké xe jeep lên Nông trường Lam Sơn , hồi văn nghệ sĩ đi lao động thực tế sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm 1958.

    – Chết rồi ? Ba Mực nói gọn khô.

    – Trời đất ! Tôi kêu lên.

    – Ổng về đến bờ sông Sài G̣n th́ biệt kích bắn chết. Ở trên đưa ông về làm chính ủy I/4.

    – Vậy à? Vậy là lên chức dữ dội. Từ chánh ủy F lên chánh ủy Quân khu.

    Hoàng Việt ngồi lặng lẽ uống trà và phà khói mịt mù như núi lửa phun, để mặc cho tôi và Ba Mực tân cổ giao duyên chơi, hồi lâu mới trút xác trà ra và nói.

    – Lên chức con mẹ ǵ !

    – Từ chánh ủy F lên chánh ủy một khu mà không lên chức à? Tôi căi lại.

    Hoàng Việt chậm răi châm trà mới , rồi nói:

    – Mày ở ngoài Bắc cả chục năm mà vẫn c̣n ngây thơ. Chỗ nào bỏ mạng sa tràng dễ dàng th́ thằng Nam Kỳ đi đầu hết cả. Ngă rạp như cỏ lác bị phát rồi kế đó…

    -…mới tới ḿnh ! Ba Mực vuốt.

    Hoàng Việt lắc đầu:

    – Không! Ḿnh đâu có được đi tiếp theo. Mà là tụi Bắc Kỳ. Tụi nó dẫm lên xác ḿnh và đi tới nẫng chiếu nhất , chiếu nh́ ngồi chật hết. Xong đâu đó mới tới tụi ḿnh chầu ŕa đứng bốn góc chiếu chờ chúng nó ném cái xương nào lên đầu th́ mới nhào ra giật lấy mà gặm.

    Ba Mực cười:

    – Anh đi mấy năm trời bên “Bun-da-ri” mà cũng c̣n bất măn dữ vậy sao anh Bảy?

    – Th́ tao nói để rồi tụi mày coi có đúng không? Bắc Kỳ vô đặc rừng này hết rồi đó. Chừng nữa đây rồi từ Bộ trưởng cho đến tổ phó tam tam chế cũng đều Bắc Kỳ xực hết ráo, chứ đám dưa hấu chả có được cái con mẹ ǵ. Tao bảo đảm tụi mày như thế. Giỏi lắm th́ chỉ “phó” thôi. Phó nháy, phó may, phó nḥm, phó cối, phó vịn, phó đè, phó đội!…

    Ba Mực cười:

    – Ông Tư Siêng vô đây là để làm Bộ trưởng Bộ Văn Hóa đó cha nội !

    – Ừ, th́ ở trong rừng, nó phong chức đủ hết ! Nhưng khi về thành phố, bày đặt ra tiêu chuẩn xe hơi nhà lầu , phiếu đi mậu dịch quốc tế ḱa, chừng đó dân Nam Kỳ mới bị đá văng một cách rất đau đớn mà đếch có dám la. Bây giờ ở trong rừng với ba con cà khu này, thằng nào cũng ăn cơm nấu bằng chảo đụng, hơn nhau vài viên thuốc sốt rét, Bắc Kỳ nó đâu có thèm tranh giành cho mang tiếng mậy!

    Ba Mực ngẩn người ra. Tôi cũng có một bụng bất măn giống y như Hoàng Việt nhưng để Hoàng Việt sôlô cho Ba Mực nghe êm ái hơn. V́ tôi là thằng ăn nói lỗ măng hay chửi thề bọn Bắc Kỳ nên ngồi im rung đùi cho khỏe bộ gị Trường Sơn nhăo.

    Hoàng Việt chưa chịu x́ tốp. Anh uống trà liền liền đốt thuốc liên miên và tiếp:

    – Hồi kháng chiến chống Pháp tao thấy các ông Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần mà thương. Hai ông ấy có ở chiến khu D với tao một thời gian. Tao phục các ông lắm. Đại trí thức như vậy mà không thèm bơ sữa xe hơi nhà lầu, bỏ tất cả để đi kháng chiến giành độc lập cho dân tộc. C̣n Luật sư Thái Văn Lung người Công giáo, hy sinh trong kháng chiến, Lê Trần nhạc sĩ nữa, kể sao cho hết. Nhưng qui luật của tụi Bắc Kỳ là như thế này: khi ṃ cua bắt ốc th́ cục muối cắn làm hai nhưng khi mâm cỗ dọn lên rồi th́ Bắc Kỳ quất trọn.

    – Bộ anh thấy vụ đó sao anh Bảy? Tôi cười khảy chọc tức anh bạn Nam Kỳ sồn sồn chơi.

    Hoàng Việt nguưt tôi một phát kinh hồn rồi bảo :

    – Mày biết rơ hơn tao chứ! Phạm Văn Bạch th́ ở hang chuột c̣n Phạm Ngọc Thuần th́ bị đày đi làm đại sứ bên Đức Quốc.

    Tôi nói:

    – Nói làm mẹ ǵ mệt cái mồm, để uống trà Thiết Quan Âm cho nó ngọt.

    Ba Mực nói:

    – Tôi c̣n một mớ khô nai đây đem ra “chống sốt” chơi.

    Ba Mực và Hoàng Việt ở chung một cḥi một cách tương đắc. Khi Hoàng Việt vừa về là Ba Mực rước tới cḥi luôn. V́ Hoàng Việt không c̣n khả năng dựng nổi một cái sườn cḥi và cũng không có đủ ni-lông để mà lợp. Cả tôi lẫn ông nhạc sĩ Giao hưởng số một của chế độ được xếp vào hạng sơ cấp (Xin phép dừng lại địt mẹ thằng Hồ và Trung ương đảng mỗi đứa vài phút) trong khi anh vợ thằng Lê Đức Thọ và mụ già trầu vợ Nguyễn Chí Thanh th́ lại đi vô Nam bằng máy bay Hàng không dân dụng và trực thăng Liên Xô. Chí công vô tư của đảng đấy !

    Hoàng Việt đến trạm cuối cùng là Kà Tum Kà Teo ǵ đó th́ không c̣n lết được nữa. Trần Bạch Đằng nghe tin bèn cho hai nhân viên ra cơng khiêng vác lôi anh nhạc sĩ về tới nơi th́ ngáp ngáp.

    Bây giờ đă lấy lại sức khỏe đi rước vợ, đi lung tung là nhờ ba cái thịt rừng của Ba Mực và ba cái xa xỉ phẩm Sài G̣n được tiếp tế qua tay bà vợ. Ba Mực ở chung với Hoàng Việt được cái lợi là học hỏi thêm ở đàn anh tiên tiến , c̣n Hoàng Việt th́ được Ba Mực săn sóc như một người yêu.

    Ba Mực lấy khô đem dụi vào bếp. Thứ khô này rất nhát lửa. Chỉ nháy mắt là đem ra dần là mềm mại ăn được ngay. Ngon lắm. Lại có cả rượu Tây. Quên là hiệu ǵ nhưng không phải “đế quốc Miên”. Thế là từ trà bắt qua rượu, từ việc nhà bắt qua việc nước, việc kia việc nọ̣ lung tung.


    Từ hôm về tới nay, tôi chỉ toàn ăn chực, uống chực , chứ không có tiền mua sắm một thứ ǵ. Sáng dậy th́ đầu này hú, đầu kia hú đến uống trà, trưa lănh cơm xong , một bạn nào đó bí mật x́ cho một ít ruốc thịt rừng hoặc một dúm lạc rang muối. Vậy là đă quí vô cùng rồi. C̣n chỗ ở th́ tấp vào cái cḥi chung với nhà phê b́nh ṇi là Từ Sơn con của ông Hoài Thanh.

    Anh này nghịch lắm. Đi ăn cơm về là nhào lên vơng nằm là rớt cái ạch thôi. Đó là do anh ta sửa dây vơng. Ở với anh ta nhưng tôi chỉ về để ngủ và những lúc bị ma rét hành, c̣n th́ suốt ngày tôi đi la cà hết lều này sang lều khác để hỏi thăm t́nh h́nh trong Nam và t́m gặp người quen từ kháng chiến chống Pháp.

    “Tiệc” sắp dọn ra th́ có tiếng cười khúc khích rồi tiếng chân khua lá khô. Tôi ngoảnh nh́n ra th́ thấy một bầy tiên cô tay ôm quần áo từ từ đi tới.
    Như một ảo ảnh xa vời, đám con gái vụt hiện ra trước mặt tôi, ngay bên thềm cḥi.

    – Đi tắm hả các em ? Ba Mực nhắp miếng khô rồi hỏi :

    – Đừng có quậy ngọp đục hết nước, để các anh uống trà nhé !

    Tôi vụt kêu lên:

    – Thu !

    Cô gái đi sau cùng c̣n lếch thếch ở phía bụi cây vừa nhô ra đi tới cḥi cũng khựng lại như tiếng gọi của tôi.

    – Thu với chả Đông ! Hoàng Việt càu nhàu một cách vui vẻ :

    – Mày đi đâu cũng gặp nợ !

    Thu vừa tới , th́ lũ con gái đi trước đă quá cḥi khuất dạng về phía suối. Thu đứng lại bên thềm ngẩn ngơ. Tôi hỏi tiếp:

    – Em vào đây đă lâu chưa?

    – Cả tháng rồi !

    – Ngồi trên vơng ḱa em gái, đứng mỏi chân ! Ba Mực trỏ cái vơng mời khách một cách ga-lăng.

    – Em phải đi, kẻo tụi nó trêu. Nó lại báo cáo với đoàn

    – Trêu cái giống ǵ ? Báo cáo cái ǵ ?

    – Đoàn có kỷ luật nghiêm lắm. Đi đâu phải đi tập thể!

    – Ừ th́ đi đi ! Hoàng Việt lúc nào cũng tỏ vẻ “ghét” các vụ nam nữ lăng nhăng.

    – Bữa nào em xin phép đoàn vào thăm anh ! Thu nói xong quay lưng đi.

    Tôi nh́n theo, sững sờ. Kể từ chia tay ở cái trạm gặp ông Mặt Sắt tới bây giờ là một trăm năm hay một tháng, tôi cũng không c̣n nhớ được. Tôi đă chết năm bảy lần và cũng đă sống lại năm bảy lần, tôi cũng không hiểu. Tôi càng không ngờ là tôi c̣n gặp được Thu.
    Thu bây giờ trông có vẻ trắng trẻo trơn tru không lùi xùi bủng beo như hồi đó.

    – Cái ǵ mà ngẩn ngơ thế kia? Này, uống một chút cay hâm bầu nhiệt huyết ! Hoàng Việt bảo.

    – Đoàn ǵ mà có kỷ luật nghiêm dữ vậy anh Bảy?

    – Đoàn Văn Công chứ c̣n đoàn ǵ ?

    – Trời đất ? Tôi kêu lên :

    – Văn Công ǵ ?

    – Th́ Văn Công chớ c̣n Văn Công ǵ ? Cái thằng !

    – Ở đây diễn cho ai coi ?

    – Cà khu, khỉ mặt xanh, khỉ mặt đỏ, nai, mễn, rắn rít và tụi ḿnh ! Ba Mực tiếp.

    Tôi mới sực nhớ ra rằng trong đoàn tôi đi , có đến cả chục cô em đẹp nhất lấy từ trường Múa và các đoàn Văn Công Trung ương trong đó có Phương của tôi và Thu.


    Mai tiếp ....
  • 14-08-2018, 11:13 PM
    Tigon
    TAXI SÀI G̉N XƯA


    Taxi bắt đầu xuất hiện ở Sài G̣n – Chợ Lớn khoảng cuối những năm 40 và thịnh hành những năm 50 của thế kỷ 20. Khi ấy, người dân Sài G̣n vẫn quen miệng gọi là xe “cóc” hoặc “con bọ”.., tôi có vài người bạn là dân gốc Sài G̣n “chính hiệu” cho biết : “Đến giờ tôi vẫn nhớ như in h́nh ảnh của chiếc taxi cóc có màu xanh dương và màu vàng kem.

    H1: Những năm 1960 – 1970 đường phố Sài G̣n tràn ngập loại xe này, ngày đó những người dân cho dù giàu hay nghèo vẫn b́nh đẳng đi phương tiện này và không bao giờ phân biệt giàu nghèo như nay. Sau năm 75 những chiếc taxi này hầu như bị “tuyệt chủng” không c̣n xuất hiện trên đường nữa”.

    H2: Một nét văn minh khi đi trên những chiếc Taxi Sài G̣n xưa trước 75 hầu hết các xe taxi thời đó đều viết khẩu hiệu tuyên truyền “Không bỏ rác xuống đường” để giữ đường phố sạch đẹp, không biết có ai c̣n nhớ không ta ?

    Mới đây trong vài lần đi ngao du ḷng ṿng Sài G̣n có thấy một anh tên Ḥa năm nay cũng đă 65 tuổi, anh là một người Sài G̣n chính gốc một tài xế taxi trước 75 chia sẻ : “Tôi lái taxi lúc đó 21 tuổi, cũng vào những năm tháng huy hoàng cuối cùng của những chiếc xe taxi con cóc, lúc đó, bến Bạch Đằng là điểm đậu rất nhiều taxi.

    H3: Thời đó taxi không được trang bị bộ đàm, không có tổng đài như bây giờ, nên phải chạy ḷng ṿng để đón khách, hằng đêm, chúng tôi hay đậu xe gần các rạp hát cải lương để đón khách, những chiếc taxi thời kỳ này đa phần là nhập từ Pháp về Sài G̣n, sau đó được đăng kư và cấp phát số hiệu. Số hiệu được in lớn hai bên cửa, khách muốn đi taxi phải ra đường chờ xe chạy ngang qua rồi vẫy tay để gọi, hoặc ra tận những nơi đậu xe. Đi taxi thời bấy giờ chỉ tính tiền km, không tính tiền chờ như hiện nay”, anh Ḥa kể lại”

    1/. Gặp lại chiếc TAXI c̣n sót lại

    Taxi “con cóc” thời đó đặc trưng nhất là những chiếc xe mang tên Renault 4CV, do Pháp sản xuất đại trà từ năm 1947 và những h́nh dưới đây là chiếc Renault 4CV mang số hiệu Taxi – 1541, một trong số ít những chiếc taxi c̣n sót lại tại Sài G̣n và đang được phục chế sau hơn 40 năm “mất tích”, theo một thợ chuyên phục chế lại xe cũ, sau một thời gian bị lăng quên, hiện nay một số chiếc taxi xưa đang được phục hồi nguyên trạng, để phục vụ du lịch và dành cho những người muốn t́m lại chút hoài niệm về Sài G̣n xưa.

    Một nhà sưu tầm đồ cổ đă t́m và phục dựng thành công chiếc taxi Renault 4CV này. Anh cho biết sẽ đưa chiếc xe đến những địa điểm mà nó đă từng đậu và đón khách, cũng theo anh, chiếc taxi xưa hiện anh đang sở hữu được người bán lại cho biết, nó được cấp lại biển số sau giải phóng..

    H4: Taxi “con cóc” thời đó đặc trưng nhất là những chiếc xe mang tên Renault 4CV, do Pháp sản xuất đại trà từ năm 1947. Đây là chiếc Renault 4CV mang số hiệu Taxi – 1541, một trong số ít những chiếc taxi c̣n sót lại tại Sài G̣n và đang được phục chế sau hơn 30 năm “mất tích”.

    H5: Theo một thợ chuyên phục chế lại xe cũ, sau một thời gian bị lăng quên, hiện nay một số chiếc taxi xưa đang được phục hồi nguyên trạng, để phục vụ du lịch và dành cho những người muốn t́m lại chút hoài niệm về Sài G̣n xưa.

    2/. Những tính năng Taxi con cóc trước 75

    H6: Đồng hồ tính tiền, đây là một loại đồng hồ cơ học cũng sản xuất từ Pháp, được trang bị trên taxi thời đó hiện vẫn c̣n nguyên vẹn trên chiếc xe đang được phục chế, một nét văn minh Sài G̣n xưa, hầu hết các xe taxi thời đó đều viết khẩu hiệu tuyên truyền “Không bỏ rác xuống đường” để giữ đường phố sạch đẹp, thời đó, chủ nhân của xe được khắc tên, địa chỉ lên một tấm bảng gắn trên xe. Chiếc xe này thuộc về người chủ tên Nguyễn Thị Mười, ngụ đường Lê Văn Duyệt xưa (Cách Mạng Tháng Tám) nay..

    H7: Thời đó, chủ nhân của xe được khắc tên, địa chỉ lên một tấm bảng gắn trên xe. Chiếc xe này thuộc về người chủ tên Nguyễn Thị Mười, đường Lê Văn Duyệt, nay là đường Cách Mạng Tháng Tám, quận Tân B́nh.

    FB Yên Huỳnh chuyển tiếp
  • 14-08-2018, 09:13 PM
    tran truong

    ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .................



    Mỗi khi tôi qua cơn sốt, Sáu Lăng và Thủy Thủ đến nấu trà uống với tôi. Một người nữa cũng đến là nhà văn Anh Đức. Anh ta không thích tôi mà tôi cũng không thích ǵ anh ta. Hồi ở Hà Nội, sống cùng nhà nhưng không chơi chung v́ anh ta là ngôi sao sáng nhất trong Hội Nhà Văn, c̣n tôi th́ cứ như lục b́nh trôi, dở không dở hay không hay, ai đến đâu tôi đến đó. Tôi vô Hội trước anh ta nhưng viết không được, cứ viết tới viết lui ba cái chuyện kháng chiến không có lập trường và suông đuồn đuột, c̣n anh ta th́ lên như diều, tác phẩm lớp in sách , lớp được lấy làm phim. Tố Hữu cho đó là cây bút số một, trên cả Nguyên Ngọc.

    Khi về gặp nhau ở đây th́ hầu như không c̣n những t́nh cảm cũ, thấy thương nhau hơn v́ hai đứa bây giờ hiểu ra ḿnh đều là nạn nhân và tội nhân của đảng cả. Khổ như con chó để sau này Nam Kỳ lại tiếp tục là thuộc địa của Bắc Kỳ như hai đứa cùng biết quá trễ!

    Nh́n thằng bạn, tôi hết biết nói sao. Tôi vụt nghĩ đến thân thể ḿnh rồi sau này cũng thế mà ớn ḷng. Trước kia nó trắng, cao, có một cái răng cửa sâu ăn, nói chung là đẹp trai. Đào hát bóng xưởng phim Hà Nội có cô từng mê nó mà. Nhưng bây giờ than ôi ! Nó đă trở thành một anh chàng nào khác. Mặt đầy nốt đen thâm như sẹo trái rạ, da bủng vàng hay xám ngoét ... tôi cũng không rơ nữa, một thứ nước da kỳ dị, thú thực tôi chưa từng thấy ở đâu. Tay th́ nổi hột như da trái khổ qua, da chân như da cóc. Môi thâm sịt.
    Trời ơi ! Đó là kết quả hai năm ở rừng của một chàng trai. Thoạt đầu nh́n thấy nó , tôi hoảng hồn, nhưng rồi tự bảo: ḿnh th́ cũng có đẹp đẽ ǵ ! Loan, vợ chưa cưới của Anh Đức, nữ sinh Hà Nội, nhân viên giữ thư viện của Hội Nhà Văn, cũng vô một chuyến với tôi. Ở đâu th́ vợ chồng cũng có thể hưởng hạnh phúc, nhưng ở rừng th́ vợ chồng là một điều bi thương. Thằng đàn ông đă bệnh hoạn kiệt sức .... lại càng kiệt sức bệnh thêm.

    Lúc tôi c̣n ở Hà Nội, Anh Đức gởi thơ ra xin cho Loan vào. Bố Loan là tù chính trị cải tạo, mười năm mà không “tiến bộ” nên ở trên xét trường hợp của nàng một cách đặc biệt. Nếu không phải là người yêu của nhà văn Nam Kỳ đă về Nam th́ không đời nào Loan được vô. Loan bị ở trên ngâm hồ sơ cả năm trời. Tố Hữu phán quyết , cuối cùng Loan mới được đi. Vào đây rồi, Loan sầu ảo năo. Chỉ được phút đầu. Cơ quan tổ chức đám cưới cho hai đứa với hai gói trà và mấy thỏi kẹo. Vậy cũng đă là cả một vấn đề … tổ chức !

    Sau đám cưới là sốt rét. Hai đứa thay phiên như hợp tác xă vần công. Loan đi đường khỏe mạnh, vượt lên đi trước cả đoàn. Rủi thay, một lần vấp đá bị trẹo chân, cổ chân sưng vù. Đoàn phải họp tức khắc, quyết định khiêng Loan đi theo như một ân huệ chưa từng có , bất cứ ở quăng nào trên đường này. Hồi đó tôi c̣n khỏe nhưng không tham gia vào làm “phu kiệu cưới” v́ tôi cho là dù có khiêng th́ giỏi cũng chỉ được vài ba trạm. Nhưng đám thanh niên thuộc đội vũ Ba Lê cố tỏ ra ḿnh là lực sĩ nên cứ khiêng.

    Đâu được vài ba trạm th́ tôi sốt, đi không nổi, nằm lại, chẳng ma nào d́u dắt, mang dùm ba-lô nói chi tới khiêng. Trên đường này cũng có những tên nịnh đầm dữ dội, không biết có được xơ múi ǵ không. Bây giờ Loan đă vô đây và đă là vợ của nhà văn số một miền Bắc xă hội chủ nghĩa , cũng là người có thâm niên ở rừng cao nhất Hội Văn Nghệ Giải Phóng, trừ Lư Văn Sâm.

    Trong rừng lúc bấy giờ chỉ có hai cặp uyên ương là vợ chồng Anh Đức và vợ chồng Lư Văn Sâm. Vô đây tôi mới vỡ nhẽ ra được nhiều thứ.

    Ở Hà Nội khi nghe Đài Phát Thanh Giải Phóng tường thuật “Hội nghị văn nghệ R dưới quyền chủ tọa của Chủ tịch Trần Hữu Trang, nhà văn Lư Văn Sâm đọc báo cáo thành tích hoạt động của hội trong năm qua, nhà văn Anh Đức báo cáo những mắc mướu trong vấn đề sáng tác”, bọn tôi cứ nhảy nhổm cả lên, ngủ nghê không được. Phải chi có cánh bay về gấp gấp để dự hội nghị và băng ḿnh qua khói lửa để sáng tác v.v…

    Sau đó đâu vài tháng lại nghe đài tường thuật về buổi lễ long trọng phát phần thưởng cho các tác giả trúng giải thưởng Văn Học Nguyễn Đ́nh Chiểu. Những tác phẩm được nêu tên là “Ḥn Đất” giải nhất về tiểu thuyết, tập thơ của thi sĩ Giang Nam giải nhất về thơ v.v…
    Đồng chí chủ tịch Mặt Trận trao tặng (chứ không phải chủ tịch Hội Văn Nghệ Giải Phóng đâu đấy nhé, chớ có lầm. Ảnh chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ được treo ngang ảnh Hồ Chủ Tịch ở tiền đ́nh nhà hát lớn kia ḱa. Vậy chẳng khác nào Hồ chủ tịch trao tặng). Nghe thế bọn tôi càng nôn, nóng nảy muốn về mau. Đồ đạc ai xin cũng cho, giá mấy cũng bán. Phải về, nếu không, th́ không kịp hưởng vinh quang.

    Bây giờ về rồi: Công chúa mặt lọ!

    Ông Tổng thư kư Hội Văn Nghệ Giải Phóng mặt mũi trỏm lơ, ngồi đâu không đứng dậy nổi, cứ ngáp vắn ngáp dài. Ông Phó chủ tịch th́ khá hơn nhưng lại mang bịnh ghẻ hờm. Mỗi sáng phải bỏ ra hai tiếng đồng hồ để gỡ mài ghẻ c̣n bao nhiêu thời giờ th́ lại dành vào việc chăm sóc đám lác voi.


    Nói có trời đất chứng minh, chỉ một ḿnh Trưởng Tiểu ban Văn Nghệ là Sáu Lăng được sức khỏe kha khá không ghẻ hờm, không lác voi, sốt cũng ít. Nhờ vậy ông mới chạy chọt lănh tiền xin gạo, thuốc kư-ninh và bông băng thuốc đỏ về cho anh chị em dùng.

    Té ra đài Giải Phóng gạt được cả bồ nhà. Tài ! Tài thật. Tiên sư anh Giải Phóng! Trong số về trước tôi c̣n có vài nhân vật độc đáo khác nữa. Trong đó có nhà phê b́nh trẻ Từ Sơn , con nhà văn Viện phó Viện Văn Học , đầu sỏ số một chống Nhân Văn Giai Phẩm 1956 Hoài Thanh.
    Cậu sinh viên này vừa soọc-ti đại học Văn Khoa của Phạm Huy Thông hay của Hoàng Xuân Nhị ǵ đó muốn vô chơi cho biết xứ Nam Kỳ và dạy dỗ dân Nam Kỳ phê b́nh văn học theo đường lối đảng.

    Nhưng vô tới đây nằm mắc kẹt ở đây v́ tỉnh , quậ̣n , giải phóng của ông Thọ đâu có rộng bằng cái bánh bẻng của bé gái lên ba mà có sinh hoạt văn học. Không có văn học th́ lấy ǵ để phê b́nh? Cái cầy đặt trước con trâu nhà phê b́nh Từ Sơn tối ngày xung phong bửa củi cho nhà bếp. Đừng tưởng đùa. Bửa củi tốt hơn ngủ trưa. Nếu nằm không th́ cứ nằm ngáp dài một lúc là ngủ. Ngủ dậy nghe ơn ớn, rồi vài hôm là sốt. Cho nên bửa củi rất lao tư lưỡng lợi.

    Nhân vật thứ hai là Ca Lê Hiến, cũng sinh viên Văn Khoa cùng khóa với Từ Sơn, nhưng lại làm thơ. Thơ Ca Lê Hiến được Tố Hữu khen. Do đó Hiến được tiến cử về Nam một cách suông sẻ, khỏe hơn tôi nhiều! Hiến là con trai thứ bảy, thứ tám ǵ đó của cụ Ca Văn Thỉnh đốc học liên tỉnh Bến Tre, thị xă quê tôi. Cụ Thỉnh có cử nhân văn chương, có bút hiệu là Ngạc Xuyên, thời Pháp thuộc đă từng thông dịch cho toàn quyền Decoux tại sân vận động Bến Tre khi tôi c̣n là học tṛ Trung học.
    Cách mạng tháng tám nổ ra, cả gia đ́nh vợ con cụ đi kháng chiến đủ mặt. Nếu tôi không nhầm th́ cụ từng làm Bộ trưởng Bộ Giáo Dục hay một bộ nào đó trong chánh phủ liên hiệp hồi 1946. Bến Tre kể cũng có nhiều người hữu dụng cho kháng chiến lắm , nhưng khi kháng chiến thành công họ đều ra ŕa. Chính tôi thấy tận mắt, cụ Thỉnh được thưởng công kháng chiến bằng chức Giám đốc Thư Viện ủy Ban Khoa Học , mà sách vở phần lớn là tiếng Nga cho nên mỗi ngày có chừng hai người tới đọc, trong đó có thằng con trai của cụ là Ca Lê Hiến biết tiếng Nga. Nhà nước cho cụ cái nhà mà trước kia Tây dùng nuôi chó bẹc giê ! Hỡi ơi dân Thành Đồng Tổ Quốc ! Phơi xương đổ máu để cho ai ?

    Ca Lê Hiến có người yêu đi học Trung Quốc là em gái của Anh Đức. Cô nàng tên Lan Anh. Do đó, Hiến lấy bút hiệu là Lê Anh Xuân. Khi Hiến lội tới trong này th́ Lan Anh từ Trung Quốc về Hà Nội. Thơ của Lê Anh Xuân làm nhiều hơn cả Giang Nam. Chàng đang làm trường ca “T́nh Yêu Song Sắt Nở Hoa” để ca ngợi mối t́nh của Nguyễn Văn Trỗi và cô Quyên th́ thư từ Hà Nội phóng vào, Lan Anh cho biết: “Em không thể chờ đợi anh. Vậy anh cứ đi đường anh và em đường em!”
    Nhà văn Anh Đức giận cô em gái nổ trời , nhưng làm ǵ được khi trái tim Lan Anh không c̣n ḥa nhịp cũ với trái tim Xuân ? Nhất là hai bên ở cách xa ngàn cây số th́ bàn tay phàm cũng khó nỗi rút ngắn đường đất , cho hai người gặp nhau để tâm t́nh và hôn hít được. Thói đời yêu nhau trên giấy, hôn nhau trong thơ vài lần th́ c̣n “thơ” nhưng cứ năm này sang năm khác th́ thơ hóa ra thơ thẩn rồi thơ thẩn trở thành ngơ ngẩn và nàng quất ngựa chuối dông luôn.

    Anh Đức gởi thơ ra dọa: “Tao từ mày.”

    Lan Anh gởi thơ đáp lễ: “Em có cuộc đời của em ! “

    Thế là nhà thơ Lê Anh Xuân “ôm song sắt nở hoa” một ḿnh.

    Sau đó ít lâu, Lê Anh Xuân đi Long An với một anh cán miền Bắc. Cả hai chết dưới hầm bí mật v́ nghẹt thở. Cái chết của Lê Anh Xuân được báo về Hội Văn Nghệ Giải Phóng như một tin sét đánh ! Nó làm cho những kẻ định đi Đồng Bằng lấy đề tài như tôi teo ruột.

    Tưởng đến hóa ra chưa đến.

    Từ rừng Cao Mên mà lội về tới Bến Tre là cả một cuộc đi vô cùng nguy hiểm , không bằng th́ cũng hơn cuộc leo núi Trường Sơn chớ không phải dễ. Những người đă đi rồi về lại được R kể như đầu thai kiếp khác. Trong những người này có Anh Đức, kẻ đă về tận Rạch Giá để lấy tài liệu viết tiểu thuyết Ḥn Đất. Theo anh ta kể lại th́ phải qua vô số “cửa tử. ” Đồng Chó Ngáp, Sông Cửu Long, Lộ Đông Dương và đồn bót, chụp dù, máy bay, tàu lặn, cà nông của Mỹ gấp ngàn lần hồi kháng chiến chống Pháp.

    Tôi nằm vơng cả ngày nh́n lên nóc tăng, cứ tưởng tượng đó là nóc nhà của ḿnh cho đỡ khổ. Ở trên bảo riêng tôi: Về Bến Tre cố gắng viết một cái tiểu thuyết về Đồng Khởi ! Vẫn ghi khắc lời dặn ḍ và mong ước ấy của cấp trên, nhưng làm sao về ? Về tới nơi th́ mới mong viết được chứ bỏ xác dọc đường th́ viết làm sao?

    Cái mộng viết tiểu thuyết Đồng Khởi trong tôi rất to. Nó vừa là tác phẩm vừa là mối hận tôi phải rửa cho xong, mối hận gần mười năm sống trên đất Bắc in ba quyển sách chẳng ra hồn.

    Từ một hội viên trẻ nhất vô Hội sớm nhất, sau một thời gian đă được xếp vào hạng “sắp bị đưa xuống hội viên dự bị!” Điều này c̣n bí mật , nhưng một thằng bạn Nam Kỳ vô Hội sau tôi bấy giờ đă vào ban chấp hành, rỉ tai cho tôi biết.

    – Mấy ổng chẳng có xét vấn đề chính trị ǵ ǵ của mày đâu (tức là vụ lên ủy Ban Quốc Tế xin về Nam) mà xét qua các truyện của mày.

    Tôi bảo:

    – Xuống dự bị th́ xuống chứ tao c̣n biết làm sao bây giờ. Tao viết không được v́ tao viết không được ! Tao chịu thôi !

    Bây giờ lấy cái tiểu thuyết Đồng Khởi mà phục hận cho chính ḿnh vậy.


    Những ngày nằm sốt rét lây lất ở Hội Văn Nghệ Giải Phóng, tôi gặp lại Hoàng Việt đi móc vợ ở sông Sài G̣n trở về. Sau một thời gian tẩm bổ, anh khỏe lên nhưng tóc th́ bạc hết và mặt như sưng, da mặt láng như vỏ vú sữa. Anh khoe:

    – Tao đạt mục tiêu rồi ?

    – Mục tiêu ǵ ?

    – Mục tiêu tao nói hồi ngoài Trường Sơn đó !

    – À anh đă móc chị Bảy vô rồi hả?

    – Tao về tới là móc vô ngay.

    – C̣n yếu vậy mà cũng cả gan móc!

    – H́ h́… mày cũng nên tính việc móc đi. Cơ quan đài thọ tiền móc.

    – Nhưng tôi có quen với ai đâu mà nhờ.

    – Cơ quan lo luôn cho mày. Có móc chuyên nghiệp. Họ đi một phát móc luôn năm, bảy gia đ́nh.

    – Anh gặp chị Bảy thật không?

    – Cái thằng ! Không chị Bảy mày th́ ai ?

    – Có ḷi mấy cái h́nh em bé tóc vàng Bungari ra không?

    – Tao đốt hết trước chứ mày !

    – Bả có hạch hỏi ǵ không?

    – Hạch ǵ mà hạch. Tao dẫn cái xác về tới được cho bả thấy là quới rồi. Nhiều thằng từ Sài G̣n đi một lượt với tao đâu có về nữa.

    Hoàng Việt móc trà bao ch́, lấy sữa Con Chim ra pha cho tôi uống. Anh bảo:

    – Của bả đem ra đấy. Rồi vung tay lên :

    – Cái đồng hồ Movado này nữa. Rồi cả bộ đồ này nữa. Tao lột xác ... Trường Sơn vứt cả rồi.

    – C̣n cái vơng đâu ?

    – Tao cũng có vơng ni-lông mới.

    Hoàng Việt vừa móc thuốc lá thơm ra hút vừa đáp :

    – Cái ǵ cũng mới cả chỉ có vợ cũ . Nhưng vieille marmite, bonne soupe ! (nồi cũ canh ngon!)

    – Sao chỉ biết mà mua vơng mua dù cho anh?

    – Mấy bà móc nói cả chứ! Chắc chắn là thằng Lê Tương phùng ra đời vào năm tới !

    – Lê Tương Phùng nào?

    – Cái thằng ! Hoàng Việt trợn mắt :

    – Mày mau quên quá mậy . . .

    Tôi sực nhớ ra đó là thằng con mà anh dự định sẽ có sau khi gặp chị. Anh đem nào sữa nào cà phê ra liên hoan với tôi và kể chuyện bốp trời.
    Sữa Con Chim thơm bát ngát cả một vùng rừng âm u man rợ. . . Chợt nhớ tới hộp sữa của thằng Thuần cho trên đường Trường Sơn, tôi hỏi:

    – Anh biết con Thu về tới đây chưa?

    – Nó vô đây lâu rồi. Nhờ nó đi chung với đoàn của ông Mặt Sắt. Bộ mày muốn sưu tầm vốn cũ dân tộc hả? Để tao chỉ cho. Nhưng mà phải chờ.

    – Chờ ǵ?

    – Chờ cho mày lấy lại sức chớ chờ ǵ. Mày bây giờ ruồi đậu lỗ mũi không đập nổi mà ! Gặp làm ǵ ?

    – Chậc ! Th́ hỏi cho biết vậy thôi ! Nó đến nơi, tôi mừng chớ tôi có muốn gặp làm ǵ đâu ?

    – Thiệt không muốn gặp không? Mày mà ḅ đi được là mày t́m nó ngay chớ không muốn. Nó ở ngoài đoàn của chị Ba Thanh Loan kia ḱa. Tao vừa gặp bả. Tức cười quá. Hồi ở Sài G̣n trông bả mướt xầy, vô đây lùi xùi quá đỗi.

    – Thanh Loan nào?

    – Mày nhớ Thanh Hương không?

    Thằng cha ác thật. Cái ǵ chả cũng biết. Toàn chặn họng ḿnh. Thanh Hương là em Thanh Loan. Thanh Loan là đào thương của Đoàn Cải Lương Văn Nghệ Nam Bộ từ hồi kháng chiến.
    Tập kết ra Bắc là đào số một đoàn cải lương Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Bạch em ông bác sĩ Hưởng, Phó chủ tịch Quốc Hội bù d́n. Thanh Hương trẻ đẹp (giống in như Kiều Lệ Mai bây giờ). T́nh duyên trắc trở sao đó nên đang ở Sài G̣n hái ra bạc, bỗng bỏ đi bưng biền năm 1950. Ra Hà Nội đóng vai Nguyệt Nga và Điêu Thuyền độc chiếm sân khấu Cải Lương Nam Bộ ở Hà Nội năm, sáu năm liền.
    Thanh Hương có quen với tôi, tới lui nhiều lần và làm mai cho tôi một cô đào Nam Bộ cũng ở trong gánh hát này. Nhưng tôi không khứng, mà tôi lại muốn người khác tuy rằng tuổi cao hơn tôi. Nói thẳng ra là bà mai tốt số.

    Tại sao Hoàng Việt cũng biết mà khơi lại vết thương cũ?

    – Mày có muốn ra đầu quân làm lính của nữ tướng Thanh Loan không?

    – Sao kêu bả là nữ tướng?

    – Bả đóng các vai Phàn Lê Huê Lưu Kim Đính ở SàiG̣n nổi tiếng chớ sao.

    – Rồi tôi vác cà bắp đi hầu bà nữ tướng à?

    – Mày soạn tuồng cải lương cho bả.

    – Tôi đâu biết món đó. Mà đă có Nguyễn Ngọc Cung về rồi ! Ở trên đă cân đo sắp xếp cả.

    – Thằng Cung đi về Bạc Liêu luôn để móc gia đ́nh chưa thấy lên.

    Tôi lại nhắc vụ Lê Tương Phùng:

    – Anh có chắc năm tới chị Bảy ẵm Thiếu Nhi Cứu Quốc vô thăm anh không?

    – Chắc. Bài bản tao thuộc làu mà. Tuy mấy em tóc vàng bóc lột kha khá nhưng cây đờn ḱm vẫn lên dây ngon như thường.

    – Anh chị trăng mật được mấy ngày?

    – Đếch họ chớ mấy ngày !

    Hoàng Việt mắc vơng nằm song song với tôi và đốt thuốc hút. Anh hút không hở miệng. Một gói Ruby Queen đốt một ngày không đủ. Tôi cũng hút tới ngủ mới thôi. Ngủ mà hút được chắc anh cũng hút. Anh tḥ đầu qua rỉ tai tôi, nói bằng tiếng Pháp:

    – Révolution égale barbarisme. Cách mạng có nghĩa là dă man! Mẹ, thằng anh đă mười bảy tuổi, thằng em mới oe oe chào đời. Tao đi ṿng quanh trái đất mất bằng ấy thời giờ. Tưởng đi đâu ai dè cũng quay về chỗ cũ!

    Hoàng Việt rít khói rồi tiếp:

    – Trăng mật ǵ mà trăng mật. Dập mật th́ có.

    – Sao vậy? Ở đâu?

    – Bị ruồng chạy ra khói đít chớ sao. Bờ sông Sài G̣n đẹp lắm mày ạ. Có thể ngồi ở đó mà tưởng tượng sông Cửu Long cũng được nhưng bom pháo tơi bời chạy tuột quần tuột áo, ở đó mà trăng với mật. Gặp nhau chỉ hai mươi bốn tiếng mà thấp thỏm như ngồi bàn chông. Trực thăng nó bay như chuồn chuồn ! Cuộc chiến tranh này không có thơ mộng kiểu Lá Xanh, Nhạc Rừng (*) đâu đấy nhé. Để mầy về đồng bằng rồi sẽ nếm mùi tân khổ.

    (*) Những bài hát của anh sáng tác hồi chín năm.


    Mai tiếp ....
  • 13-08-2018, 07:32 PM
    tran truong

    ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .................



    Khi tôi về đến R không ai c̣n nhận ra tôi, những người quen lâu cũng những kẻ mới biết trên đường Trường Sơn. Tôi không c̣n ra con ngợm ǵ nữa. Đúng ra là tôi đă phải chết cả chục lần ở dọc đường, nhưng không hiểu tại sao tôi c̣n sống mà về tới đây.

    Hôm nay ngồi viết tiếp những ḍng này giữa căn nhà ấm áp, đèn điện, giấy bút đàng hoàng, bên ngoài trời mưa như trút, một cơn mưa lớn nhất của thành phố tôi đang sống – từ năm mười năm nay. Mưa ngập đến độ có người bị chết trôi, xe hơi nằm đường làng khang như củi khúc. Thế nhưng tôi không bị dính một hạt mưa nào. Xem TV tường thuật trận mưa ở vùng ven núi, thác đổ ào ào, tôi không khỏi giật ḿnh nhớ lại những trận mưa tàn ác ở lưng Trường Sơn hai mươi bảy năm qua. Lúc đó tôi c̣n trẻ quá, từ khi cha sanh mẹ đẻ chưa hề biết nằm nhà thương là ǵ, thế nhưng chỉ sau bốn tuần làm bạn với muỗi đ̣n xóc tôi đă ngă quỵ… Đó là lần tôi khát quá, phải nín mũi uống nước vũng voi đầm rồi ốm.

    Rồi ḅ dậy, quyết chí về quê, sau một trăm ngày đêm ... sống không biết nhà cửa là ǵ, với một chiếc tăng ni-lông, một cái vơng, một hộp muối, một con dao găm cứa da không đứt. Khi về đến trạm cuối cùng – h́nh như là trạm Kà Tum hay trạm ǵ đó tôi không c̣n đi nổi nữa. Ông Trần Bạch Đằng là người xin và “bảo đảm” cho tôi về Nam đă cho hai giao liên của R ra cơng tôi.
    Nhưng Hoàng Việt c̣n tệ hơn, nên tôi nhường cho anh cái ân huệ được “cơng” về trước. Anh có triệu chứng ho lao: khạc ra máu mỗi buổi sáng và không ăn uống được nữa.

    Xin nhắc lại về cái “lịch sử về nước” của tôi, để các bạn đọc , không có dịp đọc các quyển trước (Đường Đi Không Đến, Xương Trắng Trường Sơn, Mạng Người Lá Rụng) sẽ rơ cái sự về của tên Nam Kỳ ly hương này cũng đau đớn không thua ǵ Ngũ Tử Tư là mấy. Nếu không có ông Trần Bạch Đằng – xếp cũ của tôi thời đánh Tây – bảo đảm th́ tôi như những người khác, mọc rễ luôn xứ Bắc.

    Số là năm 1956-57 ǵ đó, tôi chán Hà Nội đến cùng cực nên tôi lên Ủy Ban Quốc Tế để xin về Nam một cách công khai. V́ theo Hiệp định Giơ-Neo th́ trong ṿng bao nhiêu ngày đó người Bắc có quyền vô Nam và người Nam có quyền ra Bắc định cư (tôi không nhớ nhưng lúc tôi lên Ủy Ban Quốc Tế th́ thời gian hăy c̣n hiệu lực).

    V́ ngây thơ nên bị tên công an gác cổng báo cáo về cơ quan. Tôi bị kiểm thảo và bắt lên Đài Phát Thanh đọc một bài nhắn về Nam nói rằng “Xuân Vũ không có xin về Nam và không có bị đày đi Nông Trường”. Không hiểu sao báo Sàig̣n lúc đó lại đăng tin về vụ này chóng thế. Cái án “Ủy Ban Quốc Tế” treo trên cổ tôi sáu, bảy năm. Tôi phải phục xuống tích cực công tác để “chuộc tội”. Thế nhưng khi vô trường đi B rồi, tên cán bộ Tổ Chức gốc Liên Khu “nem” c̣n gọi tôi lên nhắc lại cái án treo đó.

    Cộng Sản cướp được miền Nam xong, Trần Bạch Đằng không có chức ǵ hết trong đảng cũng như trong chánh phủ. Thiên hạ đổ thừa rằng “tại thằng Xuân Vũ đi. Đó là trách nhiệm của ông!” Khi ra hải ngoại, Nguyễn Mộng Giác đến thăm tôi, cho biết như vậy.

    Tôi cười, bảo: Nguyên nhân chính v́ Trần Bạch Đằng là người Nam Bộ. Nếu ông là dân Rau Muống th́ mười thằng Xuân Vũ hồi chánh , ổng cũng chẳng hề ǵ. Có ai bỏ tù Lê Duẩn, giáng chức Trường Chinh khi Hoàng Văn Hoan chui lỗ chó sang Tàu không? Vậy sao Xuân Vũ đi mà Trần Bạch Đằng bị tội? Thói đời Cộng Sản là thế! Hễ dân Nam Kỳ th́ ăn cơm nguội ngủ hàng ba. Cái Câu Lạc Bộ Kháng Chiến mà ông là người lănh đạo cắt nghĩa rất nhiều.

    Khi tôi về đến R th́ tôi chẳng gặp ông. Ông chỉ gởi tiền Rịa cho và kèm một bức thư. Đó là bức thư độc nhất tôi nhận được của ông.

    Đi đường chán ngán bao nhiêu, về R sợ hăi bấy nhiêu. Không có ǵ khác trong cuộc sống. Cũng tăng , lều ni-lông, cũng hộp guy-gô nấu cơm cá thể và cũng … sốt rét.

    Chỉ có khác một điều là mắc vơng giăng tăng không phải cuốn mỗi buổi sáng như trên đường Trường Sơn.

    Các ông bà đi cùng đoàn với tôi đă được phân phối đi các “cơ quan” như văn công R hoặc đi xuống các khu I, khu II và bỏ trống vài cái sườn cḥi và nền cḥi. Ông Thủ-trưởng của tôi là người rất tốt bụng. Là dân Thanh Hoá, vô Nam kháng chiến chống Pháp từ đầu, tên là Nguyễn Văn Phổ làm báo Tổ Quốc, cơ quan của Bộ Tư Lệnh khu 8 của Trần Văn Trà. Ông làm thơ, viết báo, chuyên viết mục gây căm thù thực dân và kư tên là “Sắt Máu” (Thật đấy! Tôi không có bịa chút nào đâu).
    Khi tập kết ra Hà Nội th́ làm ở báo Quân Đội Nhân Dân ở phố Lư Nam Đế, đóng quân hàm đại úy. Năm 60, khi Mặt Trận Giải Phóng thành lập, ông về Nam lănh chức Trưởng Tiểu Ban Văn Nghệ gồm có vài ngoe. Ông lấy tên là Bùi Kính Lăng tức Sáu Lăng. Về Sàig̣n ông làm Tổng Giám Đốc các nhà xuất bản – nghe nói đă qua đời.

    Sáu Lăng cho tôi ở một cái cḥi hoang đó.

    Ngay buổi chiều , ông đến cho tôi một mớ ruốc thịt nai. C̣n những bạn bè “đồng hành” khác th́ cũng tới chơi nhưng không cho ǵ, v́ không có ǵ để cho.

    Cái hạnh phúc lớn nhất của nhà leo núi Trường Sơn là được ăn thịt. Nhưng ở đây cái hạnh phúc to hơn cả miếng thịt là sự “sáng mai không phải đi đâu nữa hết!” . Giao liên không mè nheo, quát nạt, nhăn nhó v.v… Ta thuộc về ta. Nhưng khổ nỗi ta lại sốt rét.

    Mặc kệ! Vẫn cứ hạnh phúc như thường. V́ ở Trường Sơn sốt rét vẫn phải đi. C̣n về đến nơi rồi, sốt rét không phải đi. Hạnh phúc là vấn đề tương đối.

    Cho nên được voi rồi, tôi chẳng có đ̣i tiên bà, tiên cô ǵ ! Xin được nằm. Muốn nằm đến chừng nào th́ nằm cho khớp xương có thời giờ sản xuất chất nhờn.

    Tôi đang rên hừ hừ th́ một người đàn bà đến hỏi tôi:

    – Anh đỡ chưa?

    – Dạ chưa.

    – Tôi đă nấu cho anh chén cháo hột gà rồi. Anh ráng ngồi dậy ăn cho khoẻ.

    Trời đất! Không đ̣i tiên mà tiên lại đến mang cho cháo hột gà.

    Đó là chị Hai Lư vợ của anh Lư Văn Sâm, nhà văn Sàig̣n ra khu với Mặt Trận Giải Phóng là Phó Chủ Tịch hay Tổng Thơ Kư Hội Văn Nghệ Giải Phóng của ông Tư Trang ǵ đó tôi không c̣n nhớ.

    Chén cháo hột gà bốc hơi nghi ngút thiệt t́nh chớ không phải mơ. Tôi ăn nhưng không biết mùi vị ǵ. Thực t́nh như thế. V́ quá thèm khát và v́ cháo quá nóng. Húp không kịp biết mùi vị. Ăn xong như cọp ăn bù mắc. Như Bát Giới ăn sâm. Đáng lẽ phải ăn năm, bảy chén mới vừa.

    Chị Hai có nuôi một con gà. Lâu lâu mới đẻ một trứng rất tùy hứng. Thế mà tôi được hưởng th́ có khác ǵ trứng gà vàng.

    Một trong những người đến chơi với tôi có Thủy Thủ, tên thật là Thái Trần Trọng Nghĩa, có tục danh là “anh Tám”. Thủy Thủ người gầy, cổ cao, tóc ít, tiếng nói khàn khàn. Hồi ở Hà Nội tôi có nghe vụ anh và Phan Lạc Tuyên cả hai cùng là đại úy quân đội Sàig̣n đă rời bỏ hàng ngũ ra khu “hợp tác” (!) với Mặt Trận.

    Tôi có gặp Phan Lạc Tuyên trong phái đoàn của Nguyễn Văn Tiến mà Hà Nội dựng lên thành “đại diện của Mặt Trận Giải Phóng” ở Hà Nội. Tiến tên thật là Lư Sanh Kỉnh, người Tàu lai ở Mỹ Tho làm bí thư cho Hoàng Xuân Nhị trong kháng chiến chống Pháp. Riêng Thủy Thủ có truyện ngắn là “Chiếc Guốc Xinh Xinh” đăng ở báo Văn Nghệ Hà Nội và được đảng tung hô dữ dội.

    Sự thực đó chỉ là một mẩu chuyện mà nhà văn nào nhắm mắt viết cũng được, nhưng người ta tung nó lên để tuyên truyền cái đại nghĩa bánh vẽ của Mặt Trận (Quả thật, sau này khi Thủy Thủ nhận ra cái bánh không ăn được , bèn tự vận bằng AK, bỏ ông đồng chí ở lại một ḿnh trong phái đoàn Mặt Trận Giải Phóng ở Hà Nội như một con bú dù kém hấp dẫn hơn khỉ ở vườn Bách Thảo. Tôi sẽ trở lại chuyện tự sát rùng rợn này sau).


    Mai tiếp ....
  • 12-08-2018, 10:16 PM
    tran truong
    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .................



    Người Bắc nh́n chằm chằm vào tôi từ năy, ngón tay trỏ gơ nhẹ trên mặt bàn, buông một câu:

    – Anh có đọc Xuân Vũ chứ?

    – Thưa có đọc.

    – Anh mới đọc hay đọc lâu rồi ?

    – Nói là có đọc, nhưng nghe người ta nói nhiều hơn là đọc! Tôi trớ ngang. Hắn nhấn mạnh cụt ngủn:

    – “Đường đi không đến.”

    – Nghe người ta nói chứ tôi chưa đọc được hết…

    – Sách đoạt giải nhất , giải Tổng Thống mà anh chưa đọc à… ? Tay nghề khá vững, tiếc rằng nội dung…

    Hắn tiếp luôn:

    – Xuân Vũ là bạn của tôi đó… bạn từ thuở chưa viết văn, từ hồi c̣n đi học.

    – Tôi tiếc cho nó… Nhưng con người đâu phải là thần thánh, ai mà chẳng lầm lạc. . . Người Nam cắt ngang.

    Tôi thầm nghĩ thằng này là thằng Sáng hay thằng Đức ? Người Bắc hỏi tiếp:

    – Anh Xuân Vũ h́nh như có làm việc chung với anh ?

    – Thưa anh ấy có làm việc chung với tôi.

    – Phó Giám Đốc . Người Bắc gật gù.

    Người Nam:

    – Cũng lạ, nhà văn .... Ngụy nó đưa qua làm hành chánh…

    Người Bắc cười:

    – Đâu có ǵ lạ. Tụi nhà văn Ngụy không đi làm công chức, hoặc có một nghề ǵ tay trái , thì cho có rách. Nên Ngụy nó đưa Xuân Vũ vào làm ở đây cũng phải. Để có chút tiền rồi tha hồ viết chửi… Mỹ Ngụy nó độc lắm….

    Hai người nh́n nhau như trao đổi ư kiến bằng mắt rồi người Nam nh́n sang tôi:

    – Phải không anh Tài ?

    Giật ḿnh nhận ra năy giờ hai “nhà văn ” có vẻ lịch sự, giờ th́ bắt đầu ḷi cái đuôi công an của chúng ra. Tôi nói:

    – Thưa, không hẳn thế!

    – Đúng thế chứ sao không hẳn thế, anh Tài!

    Thấy không nên tranh luận với hắn, tôi giả vờ:

    – Thế à!

    Tôi linh cảm nhận ra, tụi này không thể bắt ḿnh đến đây để nói chuyện suông. Rơ là chúng muốn nhắm vào Xuân Vũ. Đă biết vậy mà tôi vẫn chưa rơ mục tiêu cụ thể. Nhắm vào Xuân Vũ để làm ǵ ? Phải chăng đây là thời gian thử nghiệm để lần ra đầumối .. Nhưng cái đầu mối đó là ǵ ? Chúng vẫn c̣n giữ kín…

    Đang nói th́ có một người mặc áo đen, khăn rằn đă bạc màu đến bên cạnh người Bắc. Nói ǵ không rơ, nhưng sau đó người Bắc hất hàm hướng về người Nam:

    – Chúng ta xuống dưới một chút đi ! Xin lỗi anh Tài, ngồi xơi nước, thuốc đây cứ tự nhiên.

    Rồi hai người bước ra chỉ c̣n lại ḿnh tôi trong gian pḥng thênh thang , xưa kia là pḥng làm việc của ông Phó Giám Đốc Xuân Vũ, ngoài cửa là một nhân viên an ninh đi qua đi lại.

    o O o

    Một ḿnh ngồi giữa gian pḥng thênh thang không có bất cứ một vật ǵ khác ngoài cái bàn của Xuân Vũ xưa kia ngồi làm việc và ba cái ghế gỗ , cái cao cái thấp, tôi nghĩ đúng là cuộc đời ‘bể dâu”. Mới chỉ hai tháng “giải phóng” mà gian pḥng của ông Phó Giám Đốc đă đổi khác quá thể: cái bàn sắt khá đẹp nay đă phai màu, mà không c̣n một ngăn kéo nào cả, nó trống hếch như lỗ mắt đầu lâu.

    Xưa những ngăn kéo này đầy chật bản thảo của Xuân Vũ. Tôi c̣n nhớ, trên mặt bàn này, Xuân Vũ ngồi viết tùy bút “Nắng và Tuyết” sau chuyến Xuân Vũ đi Bắc Âu về, 1973. Cái bàn thật nhiều kỷ niệm: Ngày sắp về làm việc với tôi, Xuân Vũ nói: “Tôi chỉ cần xin anh một cái bàn đặt ờ bất cứ góc nào cũng được và một xấp giấy “. Tôi đă cho Xuân Vũ một lúc ba ram giấy pelure, một bó bút và cái bàn này.

    Theo tôn ti chức sắc, trên bàn ông Phó bao giờ cũng có cái bảng nhỏ màu xanh bằng nhựa với mấy chữ “Phó Giám Đốc “. Cái bảng này có từ trước. Nhưng khi Xuân Vũ về , th́ một hôm tôi thấy cái bảng biến mất. Tôi hỏi Xuân Vũ. Nhà văn đáp: “Tôi quăng nó đâu quên mất”. Tôi phải giải thích: “Đó là nguyên tắc hành chánh“. Xuân Vũ: “À thế!”

    Sau ngày 30-4-75 là “trải qua một cuộc bể dâu ” . Chàng nhà văn Phó Giám Đốc giờ không biết trôi dạt phương nào… hay đang ngồi trong pḥng tối nào? Xuân Vũ th́ nhất định chúng không cho ở chung trong trại cải tạo thường. Mắt đảo qua pḥng khách, tôi nhớ lại không biết bao nhiêu là khách bốn phương đến thăm trung tâm, không một tuần lễ nào không có phái đoàn quốc tế.

    Khách kinh ngạc v́ những người t́m tự do ngày càng đông , trong khi ngày chiến thắng cộng sản chỉ c̣n là thời gian. Người ta đến đây để t́m hiểu một vấn đề chính trị từ gốc rễ của nó: Tại sao những người trong hàng ngũ kẻ sắp “chiến thắng lại bỏ về ” ? Đúng ra họ phải ở lại để ngày vinh quang , ngực sáng huân chương. Hay có chết đi bia mộ sẽ c̣n ghi: “Tổ quốc ghi công. ”

    Người Mỹ đă t́m ra câu giải đáp ấy: đó chính là cái nguồn gốc độc tài bạo chúa của chế độ cộng sản đă thúc đẩy những ai ở trong quỹ đạo của nó hễ có dịp là t́m mọi cách để thoát ra, v́ họ đă nh́n thấy trước cái mặt trái của chiếc huân chương và những bộ xương khô dưới những nấm mồ đắp vội. Người Mỹ thấu rơ điều ấy cho nên ngân sách giúp cho người t́m tự do cũng chẳng thua kém ǵ ngân sách giúp cho người tỵ nạn sang Hoa Kỳ hôm nay.

    Và Xuân Vũ, cũng như những người t́m tự do khác, cũng chỉ nhận nhúm xương c̣m không phải tận tay người Hoa Kỳ trao, mà từ tay những người Việt Nam phải chịu trách nhiệm ngày mất nước: 30-4-75. Thật tội nghiệp cho các nhà văn… Nhưng Xuân Vũ chấp nhận đối đầu với cuộc sống khắc nghiệt. Anh không bẻ bút, anh vẫn viết và đă giúp cho chúng ta được biết , cái con đường mang tên một lăo già , tự cho ḿnh là “cha già dân tộc. ” Con đường ấy, con đường của lăo già râu bạc cầm gậy hướng dẫn ấy đă không bao giờ đến: Cái gậy đă găy “Đường đi không đến. “


    o O o

    Một người bước nhanh vào pḥng:

    – Chào anh Phạm Thành Tài !

    – Kính anh… Tôi nghĩ ngay: thường ít ai gọi ḿnh cả tên lẫn họ, chỉ các chức sắc khi giao thiệp công tác, một là họ lịch sự “tôn vinh” ḿnh, hai là họ sợ lầm lẫn với người khác… Tôi lọt vào trường hợp thứ hai… công an sợ nhầm.

    – Khỏe không anh Tài ?

    – Cám ơn anh, tôi vẫn khỏe.

    – Chắc là anh chưa gặp tôi lần nào ?

    – Thưa chưa!

    – Nhưng tôi gặp anh hoài, hồi trước giải phóng.

    – Dạ, vậy là tôi quên, xin lỗi anh.

    – Khi th́ gặp anh ở đài phát thanh Tự Do, khi th́ ở khu nhà Nguyễn Mạnh Côn và Phạm Duy ở cư xá Chu Mạnh Trinh.

    – Thế à… vậy mà tôi không được vinh hạnh biết anh.

    – Tôi làm văn nghệ thành ra hay giao du với các cơ quan truyền thông báo chí và các anh em nghệ sĩ…

    – Thưa anh, tôi có viết ở đài Tự Do, viết không nhiều. Thỉnh thoảng có đến thăm anh Côn và anh Duy ở cư xá Chu Mạnh Trinh.

    – Anh viết khá nhiều ở Đài Tự Do đấy chớ, nhưng không sao đâu, tôi biết “ở với ma phải mặc áo giấy” mà. Tôi có đọc bài anh viết ở báo Văn Nghệ Sài g̣n. Chắc anh c̣n nhớ bài “Mấy vấn đề tự do trong văn nghệ, ” “Nhật kư cuối năm” , “Vấn đề đảng tính trong văn nghệ cộng sản " Những bài đó, thật sự xin lỗi anh, là “độc địa” không có lợi ǵ cho cách mạng. Nhưng… chuyện ấy đă qua rồi… Tôi mừng là anh c̣n đây cho dù có “kẹt” lại … Lịch sử đă sang trang, tụi ḿnh đừng “quánh nhau” giờ bắt tay nhau được rồi… (Vâng, lạy Chúa, bắt tay hết tám cuốn lịch!! Nếu không bắt chắc thêm vài cuốn)

    – Cảm ơn anh.

    – Giờ tôi muốn anh giúp tôi. Nói thẳng ra cũng không hẳn là giúp tôi, mà giúp tôi để tôi giúp bạn anh !

    – Thưa anh, nếu được, tôi xin sẵn sàng…

    – Chúng tôi muốn hiểu thêm về anh Xuân Vũ Bùi Quang Triết. Nếu ảnh c̣n ở lại th́ chẳng sao cả. Chúng tôi sẽ mời anh ấy viết lại, cố nhiên là phải thay đổi lập trường… Lúc năy, hai anh ấy có gặp anh phải không ? Một anh ở Hà Nội, một anh ở R.

    Chúng bỏ tôi ngồi một ḿnh, rồi đột nhiên trở lại, đến người Bắc hỏi tôi:

    – À mà thằng Trưởng có đến đây thăm thằng Xuân Vũ không, anh Tài hả ?

    – Tôi không thấy Trưởng đến đây. Nhưng tôi nhớ ... h́nh như Trưởng có mời anh Xuân Vũ đến nhà chơi .

    Tôi b́nh tĩnh đáp, mặc dù chúng chuyển đề tài một cách đột ngột.

    – Hồi nào, anh Tài hả ?

    – Hồi nó là Tướng Tư Lệnh Vùng I chiến thuật.

    – Làm đến Tướng Vùng mà c̣n nhớ đến bạn cũ cũng hay …

    – Tôi muốn biết thằng Trưởng v́ t́nh bạn mà mời Xuân Vũ đến chơi hay là nó có mục đích ǵ ? Chắc là Xuân Vũ nó nói chuyện với anh chứ?

    – Xuân Vũ chỉ kể tôi nghe , là có gặp Ngô Quang Trưởng ở Đà Nẵng.

    – Với ai nữa ?

    – Chỉ có Tướng Trưởng và Xuân Vũ…

    Mắt hắn hơi nhíu lại, nghĩ ngợi…

    – Anh Tài có nghe thằng Xuân Vũ cho biết Ngô Quang Trưởng bàn ǵ với nó không ?

    Tôi chưa kịp trả lời, th́ hắn tiếp:

    – Anh Tài, anh cứ nói thật đi. Tôi biết anh là người “có t́nh” với Xuân Vũ, anh không muốn nói hết những ǵ liên quan về nó, sợ cắn rứt lương tâm . Đó là “chất ngọc” rất là “con người” trong anh…

    Hắn ngưng ngang một hồi , lại tiếp :

    – Trong số các Tướng nguy, có lẽ thằng Trưởng là Tướng vừa “sạch ” vừa có “lư tưởng”. H́nh như thằng này không xuất thân từ “lính tẩy” vừa không ăn cắp tiền Mỹ, vừa có “lư tưởng” chống cộng, lại vừa “có t́nh” với bạn th́ thật là hiếm có trong hàng ngũ “tai to mặt lớn” của bọn ngụy. Xét cho cùng th́ thằng Tướng này cũng nguy hiểm không kém cuốn “Đường đi không đến ” của thằng Xuân Vũ, dù tác phẩm văn học nó tác hại sâu xa hơn, Mỹ bây giờ t́m một thằng Tướng để dân chúng “chưa giác ngộ cách mạng” ngưỡng mộ như ṃ kim đáy giếng. . .

    Hắn đột ngột nhấn mạnh:

    – Cho nên thằng Trưởng và thằng Xuân Vũ là một cặp bài trùng ... tôi không tin chỉ vì “t́nh bạn” cũ mà tụi nó gần nhau. C̣n cái mục đích lớn hơn. Mục đích đó là mục đích chống phá cách mạng.

    Rồi hắn nh́n thẳng vào mắt tôi:

    – Anh Tài, tôi cần anh cho chúng tôi biết tất cả những ǵ anh có thể biết được giữa thằng Ngô Quang Trưởng và thằng Xuân Vũ. . .

    Nói xong, hắn bỏ lửng , rồi bước ra ngoài… Tôi nghĩ hắn đang nghi Xuân Vũ đă trốn thoát vào “mật khu” của Tướng Ngô Quang Trưởng và đang cùng Ngô Quang Trưởng tổ chức “chống phá cách mạng ” .
    Nghe đâu Tướng Trưởng có lần đă bí mật về Sài g̣n… Cả Sài g̣n x́ xào về tin này và có người nhận rằng , ḿnh đă gặp Tưởng Trưởng. Có người tung tin họ vào mật khu của Ngô Quang Trưởng đâu ở vùng IV và có gặp nhiều nhân vật trong bộ tham mưu của ông ta… Tôi nghĩ, biết đâu trong số này có Xuân Vũ?

    Song tôi lại nghĩ, tôi là người thấu rơ nhà văn này. Xuân Vũ là con người “phi chính trị ” . Ngay như chuyện tính toán mưu sinh hằng ngày, hắn vẫn là con người của cảm tính. Chuyện lớn mà bàn với hắn th́ rốt cuộc hắn sẽ cho ta một hư cấu văn chương.

    – Sao anh Tài ? Anh nhớ ǵ nói nấy. Chúng tôi cần biết rơ quan hệ giữa thằng Trưởng và Xuân Vũ càng chi tiết càng tốt.

    – Thưa anh, tôi chỉ nhớ toàn chuyện lặt vặt…

    – Chúng tôi cần…

    – Thưa anh, theo Xuân Vũ kể lại, nó gặp Trưởng lần đầu tiên ở Chương Thiện , nhân dự lễ ǵ đó tôi cũng quên. Ngô Quang Trưởng bấy giờ là Tư Lệnh vùng IV chiến thuật.
    Trong buổi lễ, Trưởng bất ngờ bỏ bàn tiệc đến nh́n chăm chăm vào mặt Xuân Vũ rồi hỏi: “Phải Bùi Quang Triết không?” Xuân Vũ đáp: “Phải!”.
    Ngô Quang Trưởng ôm chầm Xuân Vũ làm cả buổi lễ ngạc nhiên, kể cả các tai to mặt lớn, như các Bộ Trưởng, phó Thủ Tướng. Xuân Vũ giải thích cho tôi: “Ông biết sao mà Ngô quang Trưởng với ḿnh gặp nhau mừng đến muốn rơi nước mắt vậy không? V́ ḿnh với Trưởng _ Xuân Vũ không nói họ và chữ lót _ có quá nhiều kỷ niệm thời thơ ấu …

    Trưởng đă từng đá banh với tôi mà. Lúc ấy đang học lớp nhất sơ học ở Mỏ Cày Bến Tre. Nó giữ “gôn” cũng khá. Chơi cho lọt lưới không phải dễ, v́ nó dong dỏng cao, tay lại hơi dài, người gầy nên nó “trùm” được cả khoảng cách hai ḥn đá trụ gôn. Hôm đó tôi tức quá , nghĩ ra một cách có thể đá “thủng lưới ” thằng “gôn ” Trưởng này một cú.
    Tôi lừa banh sang góc trái. Trưởng dạng hai chân thủ ở góc đối diện. Tôi nhá chân như sắp “sút” một “sấm sét “, Trưởng đem hết “thần lực” để ôm banh, không ngờ tôi “hất ” nhẹ bóng vào góc phải. Trưởng phóng tới nhưng bóng không dính vào đôi tay “nhựa” mà trúng trán làm đôi kính cân thị của Trưởng văng ra… Thế là lọt lưới …

    Tôi kể ṿng vo để có th́ giờ suy nghĩ.

    – Anh thử cố nhớ , Xuân Vũ nó có nói ǵ không. Có thể Xuân Vũ có nói mà anh không để ư, nên cố nhớ xem nào !

    Hắn càng siết ṿng vây. Nhưng tôi chợt nghĩ là nó muốn t́m điều đó , ḿnh cứ phịa ra may th́ hắn không hỏi ḿnh nữa, lại nữa c̣n có cái lợi là “gạt ” nó để nó nghĩ là thực sự Xuân Vũ và Ngô Quang Trưởng đang kết hợp với nhau làm một “việc lớn”. Tôi nói:

    – Thưa anh, tôi thực sự không nghe Xuân Vũ nói ǵ chuyện này, nhưng nghe đâu như hắn nói xa, nổi gần ǵ đó …

    – Chúng tôi cần chuyện đó.

    – H́nh như Xuân Vũ có nói Ngô Quang Trưởng tương lai sẽ được Nguyễn Văn Thiệu cho lên làm Tổng Tham Mưu Trưởng rồi dần dà sẽ cho làm Thủ Tướng …

    – Như vậy th́ thằng Trưởng phải chuẩn bị “quản lư” chính phủ ngụy.

    – Thưa tôi không nghe, chỉ nghe khi mất Đà Nẵng, Ngô Quang Trưởng có bị kỷ luật nhẹ. Nhưng Tướng Trưởng c̣n được Tổng Tư Lệnh Nguyễn Văn Thiệu tin cẩn và có giao công tác mới, v́ cho đến lúc mất Đà Nẵng, tướng Trưởng vẫn c̣n uy tín trong quân đội và dân chúng.

    Hắn nhảy tưng lên:

    – Công tác mới ǵ ?

    – Thưa tôi chỉ nghe vậy thôi. Dư luận nói là sau khi mất Đà Nẵng, Tướng Trưởng có được phân công công tác mới. C̣n mới như thế nào th́ tôi không nghe.

    – Vậy sau mấy lần gặp Ngô Quang Trưởng, Xuân Vũ không cho anh biết ǵ sao ?

    – Tụi nó chỉ nhắc chuyện xưa… hồi ở Bến Tre.

    Hắn hỏi vội:

    – Bây giờ t́nh h́nh như “nước sôi lửa bỏng” mà tụi nó lại c̣n b́nh tĩnh nhắc chuyện quê hương … chắc là thằng Xuân Vũ giấu anh những việc nó bàn với Ngô Quang Trưởng ?

    – Thưa tôi chỉ biết đến đó, không c̣n ǵ hơn…

    o O o

    Tên công an mật vụ này hỏi tôi về vụ “Xuân Vũ liên hệ với Tướng Trưởng” đúng một tuần lễ. Hắn trở đi trở lại hỏi ngoắt hỏi ngoéo để gài tôi vào tṛng. Nhưng hắn đâu có kinh nghiệm về Cộng sản bằng tôi. Tôi đáng tuổi bố nó mà. Cho nên nó càng hỏi nhiều , tôi càng có cơ hội “sáng tạo” nhiều tin tức lạ̣ , tháu cáy nó chơi.

    Có điều tôi thấy rơ nhất là chúng nó sợ văn chương chữ nghĩa không kém ǵ súng đạn.

    Phạm Thành Tài
    Hoa kỳ tháng 4-1992
  • 11-08-2018, 09:57 PM
    tran truong
    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .................



    Sau cuộc thẩm vấn nhậm nhầy kể trên, tôi lại bị mời theo kiểu “bắt nguội”. Lần này chúng chở tôi đi. Ngồi trên xe giữa hai họng súng cặp bên cạnh sườn. Tôi không dám nhúc nhích lỡ nó lăy c̣ th́ bỏ mạng. Tôi không sợ nó bắn chết ḿnh ngay trên xe. Muốn hành quyết th́ phải đem ra băi trống hoặc trong vườn hay là ở một sườn núi hoặc tiện hơn là ở một bãi sông… Bắn cho xác trôi sông…

    Tôi chỉ sợ súng cướp c̣, súng Rouleau rất nhạy. Tôi đành ngồi như phỗng. Chiếc Volswagen quẹo qua góc chợ Thái B́nh, phía rạp hát Khải Hoàn rồi thẳng ra đường Hồng Thập Tự. Người đi đường vẫn thản nhiên nào biết có một người vừa bị “túm gọ̣n” đang bị giải đi.
    Một chiếc Com-măng-ca chạy sau. Trên xe toàn là lính Bắc Việt. Họ đội mũ cối và nói giọng trọ trẹ. C̣n trên chiếc Volkswagen th́ là lính người Nam, chỉ có một người ngồi cạnh tài xế đội mũ cối là lính Bắc, mang cấp bực thiếu tá .

    Sau này tôi mới rơ: Người tài xế là nhân viên của Phủ Đặc Ủy T́nh Báo Trung Ương sài G̣n. C̣n hai anh chàng lực lưỡng như hộ pháp ngồi hai bên chĩa súng vào mạn sườn tôi là nhân viên cảnh sát đặc biệt làm việc thời ông Thiệ̣u.
    Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, những nhân viên cấp thừa hành của chế độ cũ đều được An Ninh Nội Chính Cộng Sản huy động đi ruồng bố bắt bớ những sĩ quan trốn tŕnh diện học tập và các tổ chức “chống đố́ chế độ” .

    Bọn An Ninh Cộng Sản tuy xử dụng họ nhưng luôn luôn cảnh giác: Cứ một nhân viên t́nh báo chế độ cũ th́ kèm theo hai hoặc ba tên An Ninh Cộng Sản trong khi hành sự. Cộng sản có cấp súng cho họ, nhưng hết giờ bố ráp th́ thu lại. Họ được về nhà, nhưng cho tới tháng 10 năm 1975, nghĩa là sáu tháng sau ngày mất nước, toàn bộ nhân viên thuộc các tổ chức T́nh Báo chế độ cũ đều tŕnh diện và lănh c̣ng USA đều ra Tân Cảng để lên tàu ra Bắc.

    o O o

    Dựa lưng vào nệm xe tôi thấy nhẹ nhơm và bắt đầu chú ư cuộc hành tŕnh… Chiếc Volswagen dừng khá lâu ở ngă tư đường Cống Quỳnh và Hồng Thập Tự đợi cho hàng đoàn xe tải quân đội Bắc Việt đi qua , toàn là xe Molotova cũ kỹ và đầy bụi đường. Nếu chiếc Volswagen quẹo sang phải là chắc nó đưa ḿnh lên đề lao Gia Định, nơi nổi tiếng nhốt tù chính trị từ thời Pháp, c̣n nếu quẹo trái th́ ḿnh nằm ấp Chí Ḥa.

    Chợt trong đầu tôi thấy tiếc, nếu nó bắt tại nhà là ḿnh mang được “đồ nghề” theo, nào bộ "trây di ", cái mũ rộng vành, dép, bàn chải đánh răng … giá như giờ nó đưa minh về nhà để “xét nhà” th́ hay quá, mọi thứ chuẩn bị cho việc ở tù sẽ như ư, chỉ sợ cái cuốn ” Tầng đầu địa ngục” nó t́m thấy th́ hơi rắc rối … Nhưng tôi nghĩ lại, tụi nó bắt kiểu này là bắt “nguội” , giống như nó bắt nhà văn Solzenitsyne vậy, sức mấy mà nó đưa ḿnh về nhà. Nghĩ vậy nên tôi chờ cho đoàn xe Molotova qua hết xem nó quẹo trái hay phải.

    Đoàn xe quân đội vừa qua chiếc cuối cùng , th́ chiếc Wolswagen quẹo trái. Thế là đi hướng Chí Ḥa rồi. Nhưng khi xe chạy đến ngă tư Lư Thái Tổ th́ nó ṿng theo bùng binh quay ngược lại đường Hồng Thập Tự. Không hiểu tại sao nó đi ṿng vo như vậy. Xe bon bon chạy đằng sau là chiếc Com-măng-ca. Sắp ngang qua đường Lê Vă Duyệt , tôi nghĩ, nếu nó quẹo phải là đưa ḿnh về nhà để xét nhà và đọc lệnh bắt giam.

    Nhưng ư nghĩ này không vững, nêu vậy th́ nó đến nhà bắt ḿnh chứ. Nó cố ư bắt ” nguội” mà. Nếu quẹo trái th́ chắc nó cho ḿnh nằm ấp “Trung tâm thẩm vấn Việt Mỹ” đường Tô Hiến Thành. Đây là một trung tâm khá lớn để thẩm vấn tù binh Việt Cộng thời trước.
    Mọi dự đoán đều sai. Chiếc Wolswagen chạy thẳng trên đường Hồng Thập Tự. Đường vắng ngắt, Sàig̣n sau hai tháng “giải phóng” như thất thần. Chiếc Volswagen lại chạy, nó như không định hướng.

    Cứ mỗi ngă tư th́ người tài xế ngoảnh sang tên thiếu tá Bắc Việt như xem thử hắn muốn đi đâu. Tên thiếu tá lạnh lùng cứ mỗi ngă rẽ được th́ hắn hất hàm hướng về phía trước, xe tiếp tục lăn bánh trên đường Hồng Thập Tự qua ngă tư Duy Tân, Hai Bà Trưng, rồi qua cầu Thị Nghè, vậy là ḿnh bị cho nằm ấp ở Biên Ḥa rồi …

    Chiếc xe qua khỏi dốc cầu đổ xuống thật nhanh , nhưng đến ngă rẽ ngang chợ Thị Nghè th́ tên thiếu tá ngồi ở ghế trước giơ cánh tay ra hiệu. Xe quẹo mặt, chạy thật chậm ngang qua chợ, buổi chiều vắng. Vừa qua khỏi chợ Thị Nghè th́ gặp một con đường ngang, con đường tôi từng đi hằng ngày mà nay quên tên rồi. Vừa đến ngă ba th́ tên thiếu tá Bắc Việt lại giơ tay ra hiệu: Quẹo phải. Xe tiếp tục chạy, tên thiếu tá giơ bàn tay đập đập vào cửa xe bảo chạy thật chậm …

    Xe từ từ qua cổng trước không c̣n lính gác như xưa. Hồi trước cổng được lính gác cẩn mật, bên ngoài có cảnh sát đặc biệt , theo dơi bọn đặc công cộng sản có thể tổ chức phá hoại. Tổng Nha Cảnh Sát đă từng phát hiện đặc công đem mấy kí chất nổ để phá hoại. Âm mưu bị phát giác và chúng bị bắt. Nay cổng không c̣n lính gác. C̣n cái bảng thật lớn “Trung Tâm Chiêu Hồi Trung Ương” cũng không c̣n. Xe chạy qua sân lớn của Trung Tâm rồi thắng qua văn pḥng của tôi, cạnh đó là văn pḥng của ông Phó Giám Đốc Xuân Vũ.

    Tôi thầm nghĩ: Nhà văn chống Cộng khét tiếng lại làm Phó Giám Đốc cái Trung Tâm này , th́ Việt Cộng làm sao tha được. Vậy mà không lo mà chạy c̣n ở đó “bay bướm”.

    Xe chở tôi ngừng ngay trước bậc thềm vào văn pḥng chính của Trung Tâm, c̣n chiếc com-măng-ca theo sau th́ chạy thẳng vào garage. Từ trên cao bậc thềm, hai người đàn ông tuổi trung niên bước xuống. Tên thiếu tá Bắc Việt mở cửa xe bước lên. Ba người tụm lại nói đôi câu rồi tên thiếu tá đến phía sau xe nói:

    – Mời anh Phạm Thành Tài nào…

    Tôi vừa bước xuống chưa kịp khép cửa xe, th́ hai người đàn ông trờ tới bắt tay chào và nói rất nhỏ: “Anh Tài “

    – Chào hai anh! Tôi đáp.

    Hai người đàn ông lạ hoắc, má cóp, một người có con mắt mở sáng và cặp chân mày đậm hơi xếch, nói giọng Bắc, c̣n người kia th́ hơi thấp, có vẻ xuề x̣a, đôi mắt mệt mỏi, nói giọng Nam …

    Tôi chưa bao giờ đoán trước rằng họ có thể đưa tôi vào Trung Tâm này v́ đây không phải là cơ quan mật vụ, cũng không phải là nơi lưu trữ hồ sơ gián điệp. Nó chỉ là một Trung Tâm trung ương tiếp nhận những người t́m tự do, những người yêu nước bị cộng sản mua chuộc, dụ dỗ, ép buộc hoặc đă lầm lẫn giữa cộng sản và dân tộc.
    Toàn bộ ngân sách chi tiêu của Trung Tâm do Hoa Kỳ viện trợ. Người Hoa Kỳ rất thích thú và vui vẻ chi tiền cho Trung Tâm điều hành công việc. Đó là nghĩa cử mở rộng ṿng tay đón nhận những người t́m tự do.

    Ho đưa tôi vào trong pḥng rồi lên lầu. Tôi vẫn chưa rơ họ đưa tôi vào Trung Tâm này với mục đích ǵ ?

    – Anh Tài, anh là Giám Đốc Trung Tâm này trước đây phải không ? Người Bắc hỏi.

    – Thưa trước ngày 30-4-75, tôi có làm giám đốc ở đây…

    Người nói giọng Nam tiếp:

    – Hỏi vậy thôi chứ chẳng dính dấp ǵ chức vụ cũ của anh đâu! Anh yên tâm. Tụi ḿnh gặp nhau là điều đáng mừng. Anh em nhau cả…

    Người Bắc đến ngồi phía sau bàn ngày xưa Xuân Vũ ngồi làm việc, tôi c̣n nhớ cái bàn sắt của Mỹ bị quẹt ở phía trước một lằn dài. Hắn đứng dậy khom người ra phía trước mời tôi một điếu thuốc Đại Tiền Môn của Trung Cộng. Cách mời rất lịch thiệp, anh ta vỗ điếu thuốc ra rồi đưa bằng hai tay.

    – Mời anh … Thuốc này chắc không hợp “gu ” anh…

    – Cám ơn anh… Tôi hút thuốc ǵ cũng được!

    Người Nam ngồi trước bàn đối diện với tôi liền bật chiếc Zippo.

    – Cảm ơn anh…

    – Không có xăng Zippo nên lâu cháy...

    – Dạ…

    Người Bắc tiếp:

    – Mời anh dùng trà, nước trà Bắc Thái đấy. Anh thử xem, anh cứ tự nhiên.

    Tôi cầm cốc nước ực một cái rất ngon lành v́ cũng đă khô cổ. H́nh như thấy tôi tỉnh táo và chẳng e dè mấy, người Nam nh́n vào mắt tôi:

    – Xin tự giới thiệu, chúng tôi là nhà văn ở R về…

    Tôi ngỡ ngàng. Nhà văn mà gặp ḿnh ở đây làm ǵ, có kèm theo mật vụ đi bắt người. Thế là sao ? Tôi nghĩ đây chắc là hai tên Anh Đức và Nguyễn Quang Sáng, v́ trước đây tôi có nghe Xuân Vũ tâm sự là bạn của hai tên này. Tụi nó đều là dân Nam kỳ tập kết. Vậy chỉ một tên, có thể là Đức hoặc Sáng

    – Xin lỗi, xin quư anh cho biết bút hiệu ? Tôi hỏi.

    Hai người nh́n nhau, người Bắc nhanh nhẩu:

    – Rồi chúng tôi sẽ tặng sách cho anh. Anh sẽ biết, muộn ǵ!

    Tôi chưa kịp nói ǵ thêm , th́ người Nam phân bua :

    – Anh không biết bút hiệu tụi tui, chứ tụi tui biết anh. Hồi anh c̣n Phụ giảng ở Đại học có làm thơ, tôi có đọc và c̣n nhớ. Đó là bài “Chim Yến” đăng ở báo Văn Nghệ Quân Đội và bài thơ “Thăm hang” đăng ở báo Văn học … Một số bài tùy bút viết ở báo Sinh Viên … Tưởng là gặp anh ở chỗ khác nào ngờ lại gặp ở đây … Trái đất tṛn ở đâu cũng gặp… miễn có gặp là vui vẻ là tốt rồi!

    Người Bắc hỏi:

    – Anh Tài, anh cũng là người viết văn, anh có nhận xét ǵ về nền văn học cách mạng không ?

    – Thưa anh, tôi chưa có dịp đọc nhiều, thành ra không thể có ư kiến ǵ về nền văn học cách mạng.

    – C̣n tụi Ngụy, theo anh nó có một nền văn học không ?

    – Xin lỗi hai anh, cái đó để cho lịch sử phán xét … Tôi không rành về văn học.

    Người Nam nói:

    – Ḿnh nói vui thôi mà, đâu nhằm tới cái lớn …

    – Tôi bỏ viết lâu rồi, nên không lưu tâm…

    – Anh khiêm tốn quá, tôi có đọc nhiều bài được ghi âm lại lúc chưa giải phóng. Anh có viết trên báo Khởi Hành, báo Diễn Đàn và rất nhiều tùy bút được phát thanh trên Đài Tiếng Nói Tự Do. Chắc anh c̣n nhớ các bài “Đoạn tuyệt danh vọng” , ”H́nh của nước”… Anh viết suốt cả năm này qua năm khác, hàng tuần, hàng tháng Đài Tự Do phát thanh bài của anh đều đều.

    – Sau đó th́ tôi không viết nữa…

    Tôi tự hỏi tụi này muốn cái ǵ đây mà nó cứ đi ṿng ṿng ...

    – Đúng, một năm gần đây không nghe Đài Tự Do phát thanh các bài tùy bút của anh nữa… Nhưng theo anh Tài, nhà văn nào viết khá nhất trong thời ngụy…

    Tôi không ngần ngại:

    – Doăn Quốc Sĩ, Vơ Phiến, Duyên Anh và …

    Định nói thêm một tên nữa , nhưng cái bàn đang ngồi dựa tay vào là cái bàn của chính người , tôi phải giả vờ quên: Xuân Vũ… nên lặng thinh không đáp.

    H́nh như hắn muốn tự tôi đưa tôi vào tṛng, hắn vội hỏi:

    – Và ai nữa anh… ?

    Tôi chưa kịp nghĩ ra một tên khác th́ người Nam cướp lời:

    – Xuân Vũ, Xuân Vũ Bùi Quang Triết.

    Đến lúc này tôi mới hiểu ra. Chúng nó gặp tôi chỉ có một mục đích: hỏi về Xuân Vũ. Nhưng hỏi về cái ǵ, điều ǵ? Chả lẽ hỏi về sự nghiệp văn học chống cộng của Xuân Vũ sao ?
    Tôi chợt nghĩ: Hay Xuân Vũ bị bắt, nó đem ḿnh ra để điều tra Xuân Vũ.
    Vô lư ! Xuân Vũ đă ra Phú Quốc một tuần trước ngày 30-4-75. Dường như đi trước cả mười ngày, nửa tháng nữa. Xuân Vũ có hẹn tôi nếu cần, cứ chạy ra Phú Quốc rồi tính sau…

    Tôi lại nhớ: Ngày vừa mất Sài g̣n chừng một tháng, nhà văn Sơn Nam có đến nhà chơi và có nói: “H́nh như thằng Xuân Vũ bị tụi nó bắt. “ Tôi căi lại: “Làm sao bắt được Xuân Vũ hẳn đi từ khuya. “
    Sơn Nam: “Nghe tụi nó nói là thằng Xuân Vũ đeo con nào đó, nên mới bị túm ”
    Tôi lại đính chính “Xuân Vũ không phải loại đàn ông dại gái , sao có thể bị túm được. “
    Nhà văn Sơn Nam: ” Ngựa sinh chứng th́ sao. Nó nổi tiếng với “Đường đi không đến ” rồi mà, ông không thấy sao?”. Tôi không tin, nhưng thoáng chút ngậm ngùi: “Biết đâu chừng đó là sự thật. “

    Tay tôi giả vờ rót liền hai cốc nước và c̣n định rót thêm để có th́ giờ suy nghĩ.


    Mai tiếp ....
  • 10-08-2018, 07:10 PM
    tran truong
    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .................



    CỘNG SẢN HÀ NỘI TRUY NĂ MỘT NHÀ VĂN:
    XUÂN VŨ

    (Trích Hồi kư của Phạm Thành Tài)

    Hồi c̣n ở quê nhà, sau tám năm “cải tạo học tập” về, tôi có mở một pḥng mạch chữa bệnh cho bà con để kiếm sống qua ngày. Chữa bệnh bằng Tây Y kiếm cơm hơi khó v́ thuốc hiếm, mắc quá, bệnh nhân mua không nổi nên tôi chuyển sang chữa bằng Đông Tây Y kết hợp. Nhờ trời cũng đắp đổi bữa có bữa không.
    Nhưng tôi quyết không bỏ nghề, không chỉ v́ sợ mất cần câu cơm, mà c̣n v́ tôi không thể bỏ ngang thân chủ ḿnh. Bà con lành được bệnh tôi cũng có niềm an ủi, hơn nữa cái thế giới quen biết của ḿnh ngày càng rộng khắp với bao nhiêu tâm sự vui buồn trong thời ly loạn nhân tâm. Trong số đó có một người con gái tên Thư.

    Cô gái này h́nh như là sinh viên cũ của Sàig̣n không được vô Đại Học Nhà Nước, rất thích đọc sách. Lạ một điều là cô ta chỉ thích loại tiểu thuyết lịch sử. Cô kể cho tôi nghe gần như thuộc ḷng nào là “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” của Khái Hưng, nào là “Chiến Tranh và Hoà B́nh”, nào là “Ana Karenina” của Tolstoi. Cuốn này cô kể thật hấp dẫn, đây là cuốn có t́nh tiết rất tinh tế, rất khó kể sao cho hấp dẫn, thế mà tôi nghe phải mê luôn các nhân vật trong ấy. Có một lần nghe cô kể, không hiểu sao tôi buột miệng hỏi:

    – À mà lâu nay cứ nghe chuyện ngoại quốc. C̣n truyện trong nước Thư có đọc nhiều không ?

    – Chuyện nào em cũng đọc. Hễ thấy là em mua ngay. Hết tiền v́ đọc, má em la hoài… Em đọc cả sách “chui” nữa.

    – Cả sách “chui” nữa, sách “chui” th́ Thu thích cuốn nào?

    – “Một Ngày của Ivan” và “Quần Đảo Ngục Tù” của Solzenitsyne, nhất là cuốn “Tầng Đầu Địa Ngục” cũng của Solzenitsyne.

    Tôi lấy làm ngạc nhiên, nhưng ra mặt tỉnh bơ.

    – C̣n sách chui trong nước ?

    – “Đường Đi Không Đến” của Xuân Vũ !

    Thư trả lời trơn tru, gọn lỏn làm tôi tá hỏa và có cảm giác ớn lạnh. . . Tôi nghe như ai lấy cục nước đá chà vào lưng đốt sống nhất là nhắc đến cái tên mà tôi chứng kiến đă từng bị truy nă. “Xuân Vũ! “ Ngay lúc ấy tôi như không c̣n nghe Thư nói ǵ nữa. Sở dĩ mà cô dám đường đột nói như vậy là v́ cô biết cái gốc của tôi không phải là cán bộ Cộng Sản. Hơn nữa, tám năm sau “giải phóng” người dân đă khinh nhờn Cộng sản rất xem thường , v́ chúng tỏ ra quá nham nhở, thua kém Sài G̣n cũ xa.

    Cô hỏi:

    – Sao mà thầy đờ ra vậy ?

    – Chả có ǵ!

    (Chả lẽ tôi dám cả gan buột miệng : Xuân Vũ là người tôi từng ‘biết”!)

    Tôi c̣n hỏi lại:

    – Cô thấy nói ǵ trong sách đó?

    Thư không trả lời thẳng câu hỏi:

    – Cái ông xuân Vũ mà c̣n ở lại th́ phải “ăn đạn đồng” “đền tội trước nhân dân và Đảng.” Thư nhấn mạnh và bĩu môi ở từng lời.

    – Làm ǵ mà ghê thế? Tôi nói.

    Như chuẩn bị hồi nào, Thư tuôn ra một hơi không có vẻ sợ sệt e dè ǵ hết :

    – Thầy coi viết như vầy có ‘độc” không? Mở đầu câu chuyện ông ta ví Đảng là người chủ ngựa, nhân dân là ngựa. Con ngựa gầy c̣m mỏi mệt nai lưng ra kéo xe. Đảng nói: Cố lên, đấy nắm cỏ đằng trước mặt … rồi sẽ no nê … “ở đó thiên đường, gắng lên . . . “

    Lại thêm một lần nữa, tôi nghe Thư nói mà “rởn ” gáy. Tôi đă đọc cuốn “Đường Đi Không Đến” quả là có câu đó, Xuân Vũ có viết nhưng khi nghe Thư kể lại th́ cái hồn của ư đó nó sống độ̣ng hơn, nó ma mănh hơn …

    Tôi suưt buột miệng kêu lên:

    – Chao ơi, cô bé kể chuyện hay quá, tôi nghe mê quá. C̣n cái ông Xuân Vũ kia quả là tôi…

    Tôi tự chế kịp thời ngay trong tâm trí. V́ không thể nói ra một câu có thể làm cho tôi trở lại trại cải tạo mục xương.

    o O o

    T́nh thế đẩy đưa làm sao mà tôi lại xin đi theo diện HO và được đi. Sang Hoa Kỳ tôi bơ vơ lắm không biết t́m ai ? Đất nước ḿnh sống bỗng nhiên phải bỏ đi để lại cha mẹ già trên tám mươi tuổi. Có thảm cảnh của dân tộc nào bằng thảm cảnh dân tộc Việt Nam ?

    Thâm tâm tôi quyết t́m Xuân Vũ, người tôi có “quen ” từ lâu. Tôi hỏi các báo có tên Xuân Vũ trong ban biên tập, chủ báo nói biết nhưng không được phép cho số điện thoại và địa chỉ.

    Một hôm buồn quá, tôi dạo nhà sách Tú Quỳnh ở đường Bolsa. Có hai điều làm tôi chú ư bàng hoàng. Thứ nhất là cuốn sách “Đường Đi Không Đến” và thứ hai là một người con gái giống Cléopâtre.

    Sự chú ư của tôi chợt hướng hẳn vào những tên sách đập vào mắt tôi: “Tự Vi Thế Kỷ” truyện ngắn Xuân Vũ, “Xương Trắng Trường Sơn”, hồi kư tập hai Xuân Vũ, “Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc Như Tôi Biết,” hồi kư Xuân Vũ và v.v….. Đột nhiên, buổi thẩm vấn tạ̣i ... của tên công an cách nay hơn mười năm hiện lên trong đầu tôi như một thoáng ác mộng.

    Tóc hắn húi ngắn. Đầu hắn hơi bờm xờm, điều làm tôi chú ư là hai chân hắn đi như lướt nhẹ làm lất phất hai cái ống quần rộng, chân hắn như không xương… lại một điều nữa làm tôi để ư là da mặt hắn trắng hồng và râu xanh mờ ở mép qua các đường cạo thật nhẵn, chắc là phải dùng loại dao cạo râu nổi tiếng Reles.
    Tôi mường tượng như gặp hắn đâu đó thuộc ngày 30 tháng 4 năm 1975 và h́nh như hắn đă từng gặp Xuân Vũ trong một dịp vô t́nh nào đó… chắc chắn hẳn không phải là một trong những nhân vật đi trên đường ṃn Trường Sơn “đường đi không đến “… nhưng không thể không là một trong những tên mật vụ nhà nghề…

    Trong bản thảo đầu tiên bài “Truy nă một nhà văn: Xuân Vũ “ tôi viết:

    Năm 1973, nhà văn Xuân Vũ được giải nhất trong cuộc thi văn học giải Tổng Thống. Tác phẩm được giải là cuốn truyện “Đường Đi Không Đến.” Vô t́nh tên tuổi một nhà văn gắn liền với tên tuổi một Tổng Thống. Nhà văn Xuân Vũ và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
    Nhưng hai năm sau, ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày khai tử Việt Nam Cộng Ḥa, chúng ta mất nước, cố nhiên mất Tổng Thống và mất luôn Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng không mất “Đường Đi Không Đến” và không mất Xuân Vũ, v́ tác phẩm th́ vào ḷng người và nhà văn th́ không phải là một chức sắc.

    “Thằng Thiệu đă mất chức Tổng Thống. C̣n thằng Xuân Vũ nó không mất chức v́ nó là thằng Nhà Văn. Thằng Thiệu phải trả lại Việt Nam sau bao năm nó “bán đứng cho Mỹ. ”
    C̣n thằng Xuân Vũ nó “bán hồn” cho Thiệu, nó cũng bỏ tác phẩm mà chạy. Thằng Thiệu trốn, bỏ lại đất nước, ta c̣n có thể sửa lại c̣n thằng Xuân Vũ bỏ lại tác phẩm th́ chả ai sửa lại được v́ nó là chất độc, cực độc.

    Đất nước bị tàn phá Đảng ta sẽ làm lại ngh́n lần đẹp hơn. Con người Miền Nam bị hư hỏng Đảng ta thừa sức cải tạo thành con người mới, con người Xă Hội Chủ Nghĩa.
    Nhưng những tác phẩm văn học phản động như kiểu “Đường Đi Không Đến” của thằng Xuân Vũ th́ làm thế nào sửa lại cho đẹp, làm thế nào cải tạo nó … Cái nguy hiểm độc hại là ở chỗ đó… Chắc anh, một người trí thức, anh hiểu điều ấy hơn tôi … V́ vậy mới có hôm nay, chúng ta gặp nhau… “

    Đó là câu nói hằn học của tên công an thẩm vấn sơ khởi thuộc Sở An Ninh Nội Chính thành phố, nhưng tôi không được đến sở mà đến một biệt thự ngay trước cổng trường Gia Long…

    Hôm nay tôi chép lại nhữg ḍng đầu tiên trong bản thảo đầu tiên , viết theo thứ tự thời gian và sự kiện mà tôi c̣n nhớ về cuộc thẩm vấn.

    – Anh có biết Xuân Vũ liên hệ với cơ quan Thông Tin Mỹ hồi trước 30 tháng 4 năm 75 không ?

    – Có lẽ anh nên gặp Xuân Vũ th́ rơ hơn.

    – Làm sao gặp được nó?

    – Các anh cho tôi biết Xuân Vũ c̣n “kẹt” lại đâu ở Phú Quốc hay Bến Tre ǵ đó mà!

    Tên công an như lỡ lời, liền bào chữa.:

    – Rồi tôi sẽ bắt nó! Nhân dân là lưới trời mà.

    Viên công an cho tôi biết.: Xuân Vũ v́ liên hệ với một cô ca sĩ nào đó muốn xin đóng một vai trong cuốn phim dự định dựng lại từ cuốn truyện “Đường Đi Không Đến. ” Cô ca sĩ mê Xuân Vũ v́ tài…, c̣n Xuân Vũ mết cô ta vì sắc. Tài sắc “đố kỵ” nên Xuân Vũ để gia đ́nh đi trước, c̣n Xuân Vũ ở lại đón người đẹp theo sau. Đâu ngờ cách mạng như “vũ băo ” làm nhà văn và mối tình vỡ mộng. Cô ca sĩ th́ chẳng biết mô tê, c̣n Xuân Vũ th́ chui rúc đâu ở miệt Hậu Giang.

    (Tôi cũng có tin đồn Xuân Vũ chạy theo tàn quân về Bến Tre. Cũng có người nói Xuân Vũ đang “ấp” người đẹp tại một ngôi nhà “bí mật” ở ngay “Ḥn Ngọc Viễn Đông” đầy dấu dép râu và chập chờn mũ cối…)

    – Anh có biết tên cô ca sĩ đó không nhỉ ? Tên công an hỏi.

    – Tôi không hề gặp cô này.

    – Anh nên thành thật khai báo! Chính cô ca sĩ này gặp Xuân Vũ tại văn pḥng Trung Tâm Chiêu Hồi Trung Ương do anh làm Giám Đốc.

    – Cô ca sĩ nào nhỉ?

    – Anh Tài à, việc này chả có ǵ quan trọng, anh cho tôi biết tên cô đó là mọi việc êm xuôi. Chúng tôi chả làm phiền anh, mà tôi cũng xong việc.

    – Có thể là Hoài Hương chăng ? Tôi ngập ngừng đáp.

    Người thẩm vấn viên như t́m được một cái “đầu mối”. Mắt anh ta sáng rỡ, nhưng c̣n đề pḥng.

    – Đúng là Hoài Hương không ?

    Thực ra, có một cái tên Hoài Hương. H́nh như cô này là xướng ngôn cho đài Tiếng Nói Tự Do, rồi sang đài Mẹ Việt Nam. Tôi thoáng nhớ một cái tên như vậy và phịa ra cho xong chuyện. Nào ngờ “trúng tủ ” tên công an, nhưng hắn neo lại đó, không hỏi vội. Hắn bọc một ṿng rộng chung quanh tôi:

    – Anh quen với Xuân Vũ vào dịp nào nhỉ?

    Hắn vừa hỏi vừa ch́a tay trao tôi một điếu thuốc Điện Biên.

    – Thưa anh, hồi ảnh mới về Sài G̣n.

    Tên công an hít một hơi dài , phà khói thuốc chạy dài thành một đường cong queo phía trước mặt hắn. Tôi đoán hắn đang mơ màng h́nh dung một câu hỏi tiếp:

    – À Xuân Vũ tên thật là ǵ anh Tài nhỉ ?

    – Thưa, h́nh như, nếu tôi không quên, là Bùi Quang Triết.

    – Chắc hắn có họ hàng với tên phản động tư sản Bùi Quang Chiêu thời Pháp đô hộ…

    – Thưa có thể.. cùng là Bùi Quang… mà không rơ có bà con không ? Chắc các anh rơ hơn tôi !

    – Chuyệ̣n ấy không quan trọng, hỏi cho vui thôi. Nhưng nguồn gốc giai cấp thường quyết định lập trường. Bùi Quang Triết là cây bút thực tài , dù chưa viết nhiều, nhưng tiếc là hắn đă quay về giai cấp của hắn, chống cách mạng …

    Thốt nhiên tên công an như sực nhớ ra câu trả lời đầu tiên của tôi và hắn hơi có vẻ vội vàng:

    – Hồi anh quen Xuân Vũ lúc nó mới về là hồi nào nhỉ ?

    Hắn nh́n thắng vào tôi. Tôi đang giả vờ dụi điếu thuốc vào cái gạt tàn bằng sứ để có chút thời gian đoán hắn muốn gài ḿnh vào bẫy ǵ nếu câu trả lời hớ hênh, th́ hắn như cướp lời:

    – Chắc là hồi nó ở Phủ Đặc ủy Trung Ương T́nh Báo , đưa về Trung Tâm của anh phải không anh ?

    – Thưa phải !

    Và tên công an như buộc tôi đồng ư với hắn:

    – Hắn là cộng tác viên của Phụ Đặc Ủy T́nh Báo ngụy chớ gi?

    – Theo tôi biết th́ chắc là không có.

    Tôi trả lời tiếp:

    – Trước khi anh Xuân Vũ về Trung Tâm do tôi làm Giám Đốc , có một người tự giới thiệu là Phụ Tá Phủ Đặc Ủy hỏi tôi bằng điện thoại xem thử Xuân Vũ có phải là Nhà Văn không ? Tôi khẳng định là phải, dù chưa hề quen ông ta. Người phụ tá ấy hỏi tôi rằng tại sao không thấy Xuân Vũ khai báo ǵ cụ thể , để kết thúc hồ sơ.
    Tôi nói rằng, nếu đúng anh ta là nhà văn th́ việc khai báo đối với họ là vất đi v́ họ làm việc bằng hư cấu, tượ̣ng trưng, điều cần thiết là tác phẩm của họ. Tôi c̣n nhớ tiếng nói của người phụ tá Phủ Đặc ủy trong dây nói: “Thế à.!”
    Chuyện ấy bẵng đi một thời gian mấy tháng , th́ từ Phủ Đặc Uỷ Tinh Báo có gởi đến tôi một b́ thư rất lớn và ghi là “tuyệt mật” khi mở b́ ra, tôi thấy một xấp bản thảo trang đầu viết chữ thật lớn “Xương Trắng Trường Sơn.” Nét chữ gọn sắc, bản thảo ở dạng phác thảo bố cục, có đoạn viết thành văn, nhiều đoạn c̣n bỏ dở…

    – À ra thế !… Cuốn này hắn chưa cho in…

    – Cuốn đó chính là “Đường Đi Không Đến” tập một . Tôi ngưng một chút rồi tiếp :

    – Theo tôi, hắn bắt đầu bất măn các anh hồi Cách Mạng tháng 8!

    Tôi hơi mỉm cười , làm tên công an thẩm vấn nh́n chăm chăm vào tôi. (Hồi đó hắn chưa ra đời!)

    – Anh nói sao tôi chưa hiểu ?

    – Thưa anh tôi có ư nói. “Đường Đi Không Đến” là cuốn sách mang tư tưởng “phản động ” , ngay từ lúc Xuân Vũ đi kháng chiến thuở Cách Mạng Mùa Thu.

    – Tôi vẫn chưa hiểu ?

    – Xin lỗi anh , tôi nói không được rơ. Tôi muốn nói là “Đường Đi Không Đến” chính là tác phẩm đă viết bằng tư tưởng chống cách mạng ngay từ lúc Xuân Vũ không bằng ḷng cách mạng , thuở c̣n kháng chiến chống Pháp. Từ ấy tích tụ đến nay và thể hiện ở “Đường Đi Không Đến. “

    Tên công an hiểu ra, mắt hắn nheo cười, mỉa mai:

    – Nếu nó để cái tên cũ “Xương Trắng Trường Sơn” th́ c̣n có lư. Phải có “Xương Trắng” khắp “Trường Sơn” mới có ngày hôm nay. Nó vô t́nh nói lên sự hy sinh vô bờ bến của Đảng và Nhân Dân. Đằng này nó viết Đường Đi Không Đến là nó nói phét. Nếu không đến th́ sao nó c̣n trốn lẩn quất đâu đây và làm sao tôi có thể gặp anh hôm nay được ?

    Tôi thầm nghĩ tên công an này thật là tráo trở nên tôi giả vờ :

    – Thưa anh, tôi nghĩ là Xuân Vũ rất “phản động”, y c̣n viết một cuốn nữa …

    – Cuốn ǵ anh nhỉ ?

    Hắn vừa hỏi vừa c̣n giữ nụ cười mỉm. Tôi nói :

    – Thưa cuốn “Đến Mà Không Đến” !

    – Thật à. . . ?

    – Thưa có thật như vậy…

    – Anh có đọc chưa?

    – Thưa chưa … nhưng đă có dư luận độc giả rầm rộ lắm!

    Nụ cười mỉa trên môi tên công an chợt tắt ngấm, hắn có vẻ lúng túng và dằn giọng:

    – Rồi chúng tôi sẽ bắt nó và hỏi: “Đến Chưa” ? Nó c̣n trốn đâu đây. Làm sao thoát khỏi lưới trời … Thôi ta tạm dừng câu chuyện này ở đây. Bây giờ tôi muốn gặp anh để nhờ anh giúp một việc khác, cũng là chuyện Xuân Vũ Bùi Quang Triết …


    Mai tiếp ....
  • 09-08-2018, 08:09 PM
    tran truong

    MẠNG NGƯỜI LÁ RỤNG

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .................


    Suưt chút nữa tôi quên một chất liệu quan trọng. Số là hồi trưa này khi nghỉ ở dưới dốc chúng tôi gặp một gốc bứa. Ngữ là người c̣n khỏe nhất trong chúng tôi và là người trông thấy nó trước nhất. Ngữ leo như một chú khỉ bị thợ săn đuổi . Tất cả đội nữ binh và chúng tôi vây quanh gốc cây. Các cô léo nhéo với giọng đáng yêu nhất:

    – Anh cho em xin tí.

    – Anh bẻ cho em cái búp non kia !

    Hoàng Việt nh́n tôi và kêu với Ngữ:

    – Anh đội Miền Nam ơi , “giúp các em tí!”

    Chúng tôi cười nhưng không ai hiểu ǵ về cái điển tích ấy ! Hoàng Việt hỏi các em:

    – Giúp th́ anh đội Miền Nam thừa sức giúp, nhưng các cô muốn mấy ván?

    – Dạ ván ǵ ạ?

    – Ván tức là lá ấy mà.

    Tôi nhanh nhẩu :

    - Tiếng Miền Nam chúng tôi hơi khác, cũng như ngoài ta gọi là thuyền nhưng trong ta kêu là ghe !

    – Nếu thế cho chúng em xin mấy ván cũng được, càng nhiều càng tốt.

    – Các cô nói cậu cho mấy ván cũng được. Thế ba ván nhé!

    – Ừ ba ván không bỏ dở ván nào !

    Chúng tôi lại cười với nhau. Nhờ vậy mà nghe đỡ mệt. Ngữ ở trên cây nói tiếp xuống :

    – Xin lá hay cành ?

    – Dạ lá thôi.

    – Bứa có củ nữa, có lấy không?

    – Ném luôn lá cả củ lẫn cành cho đủ bộ!

    Vài cô đă biết chúng tôi trêu , nên không kêu đ̣i nữa , trong lúc các cô khác th́ cứ xin rối rít.

    Những cái đọt bứa c̣n bị bỏ quên trong túi ba lô. Tôi nghĩ đến canh chua. Lá bứa nấu chín rồi dầm ra trong nước húp một th́a đă ê răng, nước miếng bị kích thích sẽ tràn ra đầy mồm c̣n có tác dụng hơn cả vườn quít tưởng tượng của Tào Tháo. Ai cũng khéo đặt cái dốc này là dốc Cụ Hồ.

    Chao ôi ở cái đỉnh non tiên này , mà nấu món đồ chua ấy các tiên cô tiên bà ngửi được ắt phải mê mùi tục lụy ngay. Tôi đóng hai cái cọc gác một que cây ngay để treo gà-mèn sửa soạn nhóm lửa. Khắp một dăy lều trại vừa giăng mắc ấm lên với những khói và lửa bếp chiều hôm , trong lúc bao tử reo lên chờ đợi với hi vọng nhá nhem như lửa ma trơi lập ḷe từng đóm.

    Nhưng bữa nay, khác với thường lệ, tôi treo cái gà-mèn nghiêng để được thấy nước kha khá trong góc, nếu treo ngay ngắn th́ nước sẽ loăng ra chỉ tráng đít gà-mèn , và theo vật lư học th́ mặt nước càng rộng sự bốc hơi càng lớn, như vậy nấu xong chỉ c̣n cái gà-mèn không. Tôi dự đinh sẽ nấu thật nhanh để nước không kịp bốc hơi. Tôi vừa móc bật lửa để nhóm bếp vừa hỏi sang ông bạn vàng:

    – Anh định sáng tác món ǵ đó ?

    – Khuấy hồ dán mép cấm khẩu luôn cho khỏe, c̣n mày?

    – Tôi “cất” nước để pha thuốc bổ.

    – Bổ ǵ?

    – Bổ thận.

    Hoàng Việt mang qua cho tôi một cái lá, bảo:

    – Mày hửi xem là lá ǵ ?

    – Lá Xanh (*) nhưng anh không c̣n trẻ !

    Tôi cười, đưa chiếc lá lên mũi ngửi rồi kêu lên :

    – Ng̣, anh Bảy ơi! Ở đâu anh có vậy ?

    ( *) Lá Xanh, bài hát rất phổ biến của Hoàng Vệt, có câu: “Lá c̣n xanh như anh đang c̣n trẻ…”

    Hoàng Việt lôi tay tôi qua lều của anh và trỏ vào cái gốc cây ở đầu vơng. Tôi nhận ra là một bụi ng̣ gai có đến bốn năm lá. Tôi ṿ cái lá tôi đang cầm trên tay ngửi tiếp để chắc bụng. Mùi nó hăng hăng, không dịu như lá quế và rau om, nhưng nó cũng là một trong mấy thứ rau dùng để nêm canh chua ở xứ ta.

    – Đúng nó rồi anh Bảy ! Tôi reo lên :

    – Buồn ngủ lại gặp chiếu manh. Tôi đang nấu lá bứa làm canh chua . Tôi hỏi :

    – C̣n mấy cái Lá Xanh của anh đâu?

    – Tao nhai hết dọc đường rồi. Nhờ nó mà tao c̣n chút nước để khuấy hồ đó chớ ?

    Tôi ngồi xuống, đưa tay nhổ bụi rau ng̣ như tiên cô hái đào tiên. Bên cạnh chiếc lá xanh, bàn tay tôi hiện ra gầy guộc ḷi những xương gu và vàng kinh khủng. Tôi tưởng như không c̣n đủ sức để lôi bật gốc bụi rau. Tôi cào bỏ mấy hột đất dính quanh cái rễ đuôi chuột trắng và dài không quá hai lóng tay. Có lẽ nó đụng đá nên không ăn sâu nếu nó ăn sâu hơn th́ có lẽ tôi và Hoàng Việt phải hợp tác xă sức khỏe mới giải phóng nó nổi.

    Tội nghiệp bụi rau ng̣ cũng như tôi, như tất cả đám dân Nam kỳ tập kết, bị đặt không đúng đất, nên nó chỉ có dăm lá giống như một cái “chông ba lá” của Giải phóng quân dùng diệt Mỹ mà tôi gặp sau này. Bụi rau ngẫu nhiên mọc giữa trời cao, dưới chân cây to và trên chót núi, nhưng nó vẫn không chết rụi.

    Bất giác tôi ngẩng nh́n trời. Mây tuôn lớp lớp qua ngọn cây. Hỡi những thuyền mây, hăy chở hồn ta về quê dùm chút. Ta đến đây như con ngựa chiến đă hết cỏ, chắc phải gục xuống với bốn vó găy ĺa, chỉ c̣n trăn trối với tiếng hí thê lương không vang.

    Các ông các bà chơi tṛ hứng mây lấy nước phí sức mà vô ích nên t́m hốc đá múc nước loăng quăng thực tế hơn. Tôi lăng mạn, lại há mồm hớp những cụm mây bay qua bếp và bảo Hoàng Việt:

    – Anh Bảy ! Có quán kem Thủy Tạ Bờ Hồ nè !

    Hoàng Việt đang lui cui với cái bếp mịt mù khói, ngó sang với mắt mũi ṛng ṛng nước mắt nước mũi:

    – Ê đừng có hư cấu nghe mày !

    – Đây là hiện thực xă hội chủ nghĩa chứ đâu có hư cấu ǵ !

    – Ừ, nếu thiệt, mày ăn mấy cây kem ?

    – Tôi chỉ múc nước Hồ Gươm để nấu canh chua thôi.

    – Nước phẩn rùa à?

    Bỗng Hoàng Việt đột ngột hỏi tôi:

    – Mày có tin rằng trong Vạn Lư Trường Chinh của anh Ba Mao, lính luộc dây nịt da mà ăn, đái ra mà uống không?

    – Đái ra uống th́ có thể, nhưng ăn dây nịt là hư cấu. Bởi v́ một khi da đă thuộc rồi th́ dù có luộc nó cũng không có trở lại là da sống được. Thằng cha nào viết chuyện đó là viết láo, cũng như thằng bạn tôi nó kể lại rằng Lê-nin đọc sách như thế này. Ông ta cứ nh́n vào trang sách là đă đọc hết tất cả chữ trong chớp mắt, nghĩa là ông có thể đọc một ngàn trang sách trong một tiếng đồng hồ.

    – Đời này thằng nào nói dóc giỏi thằng đó có địa vị cao. Chỉ có những thằng nghệ sĩ không nói dóc trong tác phẩm được thôi, bởi v́ trái tim con người là một thực chất, không mạ cũng không làm bằng sáp được. Nếu nói dóc, tác phẩm chẳng rung động nó được. Cái sự nấu dây nịt để ăn là một sự biện chứng bá láp

    Hoàng Việt ngưng lại và hỏi tôi :

    – Mày đang sáng tác truyện ǵ đó hả? Chẳng lẽ lại luộc dép cao su để kính dâng Bác Mao gái à ?

    – Nước đâu mà luộc ?

    – Mày là thằng “yêu nước” hơn tao. Ráng nhín một chút để mai bôi bánh chè mà đi pa-tanh nghe em ? Xe hơi xuống dốc th́ không cần xăng, nhưng người tuột dốc th́ không có nước không được. Tao chắc bây giờ đem cái bi-đông của mày ra vắt cũng không ra giọt nào, đúng không?

    – C̣n vài chung mắt trâu.

    – Thế mà lại đem ra nấu canh chua là thế nào? Phí của giời ! Đáng lẽ mày phải giữ ǵn nó như con ngươi của mắt mày vậy, để khi sắp chết khát, mày đem ra mà nh́n như ḅ nhai cỏ vậy hiểu chưa?

    Tôi ngẩn người ra. Tôi đă sử dụng mấy chung nước và mớ lá bứa một cách sai lầm. Nhưng lỡ đă nấu nó rồi, đâu có sửa sai được. Tôi bảo:

    – Vậy th́ ngày mai khi xuống núi, hễ tôi kêu khát th́ anh cứ làm Tào Tháo dùm tôi vậy.

    Hoàng Việt cười :

    – Tào Tháo thành công là v́ binh sĩ của ông ta tưởng trước mặt có vườn quít thật, nhưng với mày tao không thể làm Tào Tháo được v́ mày biết rằng tao nói theo sách của Trung ương. Hồi mới đi tao đă bảo mày trên đường này có mậu dịch Việt Miên Lào bán bằng ba thứ tiền hà hà… Bây giờ cuốn sách đó đă hết trang.

    Thấy cái gà-mèn của tôi lên khói, Hoàng Việt la:

    – Mày không đậy nắp, nước bay hết.

    Tôi lật đật nhắc gà-mèn canh xuống luôn. Mùi rau ng̣ hiếm hoi bốc lên mũi tôi. Tôi lấy nắp đậy lại để nước khỏi bay. Mùi rau làm tôi nhớ nhà vô hạn. Sao có thể một bụi rau ng̣ lại mọc trên núi này. Một con chim nào ngậm hạt trong mỏ nhả xuống đất hay một ngọn gió nào thổi nó ra tận đây để nó phải mọc lên trên cái đất không phải là quê hương của nó?

    – Xong chưa, đem trao đổi văn hóa ?

    – Đổi th́ đổi.

    Hoàng Việt xách cái gà-mèn hồ loăng sang lều tôi mà không phải qua một hữu nghị quan nào.

    – Ăn hồ trước rồi húp canh chua sau rồi đi ngủ,

    – Ừ, sao cũng được.

    – Mai đi một mách tới trưa mới nghĩ đó ! Giao liên nó bảo thế .

    Hoàng Việt vừa sớt chỗ hồ loăng vào nắp gà-mèn cho tôi vừa tiếp :

    – Có những chặng đi đêm nghe chú em ! H́ h́, nhưng sắp tới ranh nước ḿnh rồi.

    Tôi bỗng ứa nước mắt ra. Hoàng Việt tiếp:

    – Nó bảo c̣n chừng hai chục trạm nữa thôi. Liệu có kham không?

    – Lo cho cặp gị ống điếu của anh kia ḱa.

    – Ê ống điếu nhưng trường túc nghe chú em !

    – Ừ muối hết, gạo hết mai này tuột dốc cho anh giỏi mà trườn… tu…ốt! !

    Bản thảo này mất hồi 1975 tại Sài G̣n.
    Viết lại xong tháng mười hai 89 ở Hoa Kỳ.


    Xin mời đọc:
    ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN
    (tức hồi kư Đường Đi Không Đến tập IV)
    gồm những cảnh sống rùng rợn ở R.

    Soạn giả Trần Hữu Trang, một số nghệ sĩ Sàig̣n như Bảy Thinh.. và nghệ sĩ cải lương ở Miền Bắc về chết trong những trận B52 như thế nào?

    Nguyễn Chí Thanh có phải là nhà cách mạng đạo đức không, trong khi ông ta “chăm sóc” rất chu đáo một goá phụ vợ của một anh hùng giải phóng (Nguyễn Văn Trổi)?

    Thủy Thủ tức Thái Trần Trọng Nghĩa , một Đại Úy Hải Quân V.N.C.H cùng với Phan Lạc Tuyên chạy ra Khu, được đối xử như thế nào? và tại sao Thủy Thủ lại tự sát bằng AK, trối trăn những ǵ trong mấy gịng ngắn ngủi ở quyển sổ tay ?

    Tác giả đă thoát chết trong trận B52 thảm khốc đó như thế nào?

    Lưu Hữu Phước trở thành con bài hiếu hỉ trong tay Bộ Chính Trị như thế nào.?

    Hai Thứ trưởng Văn hoá của chánh phủ Huỳnh Tấn Phát, gốc nhà văn Sàig̣n bị đám cá kèo giải phóng xem thường ra sao? Hội Văn nghệ giải phóng là những ai, ngoài Lư Văn Sâm – nhà văn Sàig̣n ra Khu?

    Một số nét về Quách Vũ, Vũ Anh Khanh và nhiều h́nh tượng đời không thấy ở đâu ngoài R.

    Tác giả đă căi to với cấp chỉ huy và gởi thơ cho Trần Bạch Đằng như thế nào trước khi xin phép rước vợ con lên R rồi hồi chánh luôn, sau bảy ngày nhịn đói trong rừng Cao Miên. Ngay sau khi tác giả về đến Sàig̣n, một nửa đoàn văn công giải phóng đă hồi chánh. Mười Cúc đến tiểu ban văn nghệ xạc-cà-rây ban chỉ huy và “chỉnh đốn” tổ chức như thế nào?

    Bạn đọc đă theo dơi suốt ba quyển trước, sẽ rất thích thú khi đọc Đến Mà Không Đến. Sau một trăm ngày leo núi Trường Sơn, tác giả đến th́ có đến “R” thật đấy nhưng trong tinh thần lại chẳng đến đâu! Cũng như ngày nay, quân Cộng Sản đă đến Miền Nam .. mấy mươi năm nhưng cũng thật sự chúng chẳng đi đến đâu ! Mỗi cái tên tác giả đặt ra cho sách ḿnh , đều mang một triết lư: Đường Đi Không Đến, Xương Trắng Trường Sơn, Mạng Người Lá Rụng, Đến Mà Không Đến, Đồng Bằng Gai Góc.

    Mai tiếp ....
  • 09-08-2018, 09:11 AM
    Tigon
    Ngôn Ngữ Sài Gòn Trong Mắt Một Người Con Đất Bắc

    Sài G̣n mới hình thành từ thế kỷ 17, so với Hà Nội ngàn năm văn hiến th́ ngắn hơn, nhưng Sài Gòn lại có những nét văn hóa thật dễ thương. Qua những cuộc di cư vào Nam suốt mấy trăm năm nay, đến vùng “Đất lành chim đậu”, có những điều không bị mai một đi mà con người c̣n làm đẹp hơn lên. Rồi “Đất phương Nam” an b́nh, ph́ nhiêu lại có thêm người Hoa, người Ấn đến sinh sống, tạo nên một miền đất đa sắc tộc sống chan ḥa bên nhau.

    Tết vừa rồi tôi có dịp trở lại Hà Nội, bạn bè anh em lâu ngày gặp nhau, câu đầu tiên “tay bắt, mặt mừng” là: “Hi, xin chào anh Hai Sài G̣n”, rồi những người đến sau cũng lại chào tôi là: “Anh Hai Sài G̣n mới ra hả”. Có chuyện ǵ muốn kết luận lại “anh Hai Sài G̣n cho ư kiến”, và tất nhiên cuối buổi nhậu nhiệm vụ của anh Hai Sài G̣n là… thanh toán. Phải chi tiền mà cũng thấy sướng cái bụng, bởi thấy cái tên “anh Hai Sài G̣n” mà bạn bè gọi tôi, tôi cũng thấy hay hay và có chút tự hào nữa.

    Có người hỏi:
    – Tại sao có “anh Hai Sài G̣n” mà không có “anh Hai Hà Nội” nhỉ?
    Tôi sực nhớ lại một thời đă có nhiều người đưa ra những giả thiết về cái tên gọi “anh Hai, chị Hai”, trong đó tôi nhớ có một giả thiết khá hợp lư và mang tính nhân văn cao.
    Tôi kể họ nghe:
    – Ngày xưa phương Nam của đất nước ḿnh đất rộng người thưa, c̣ bay thẳng cánh, nên dân tứ xứ kéo vào sinh sống, làm ăn. Mà các cụ xưa người Bắc th́ rất “tôn ti trật tự”, có nghĩa là trong nhà, ai có đi đâu th́ đi nhưng chỉ những đứa con thứ! Người con cả (anh Cả) phải ở lại chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ già, trông coi đất đai, thờ phụng tổ tiên… Những người con thứ vào Nam, họ làm ăn phát đạt, sinh con đẻ cái, cháu con đề huề nhưng họ luôn nhớ về tổ tiên, cha mẹ và nhớ tới người anh cả của ḍng họ ở lại ngoài Bắc. Vậy nên khi sinh ra những đứa con đầu ḷng, họ không gọi là “anh Cả” mà gọi là “anh Hai” để tránh “phạm húy”. Rồi từ “anh Hai, chị Hai” gọi riết từ đời này sang đời khác th́ người ta hiểu đó chính là “anh Cả, chị Cả” trong nhà. Thật là nhân văn, đúng hông?
    Cả đám bạn bè vỗ tay tâm đắc: “Các cụ nhà ḿnh trong đó quá hay”. Tôi được thể nói luôn: “Ở trỏng người ta vậy cả mà”.

    Có anh bạn trẻ cuối bàn h́nh như lần đầu nghe câu chuyện “anh Hai, chị Hai” thấy thú vị quá, cầm ly bia to tướng đi lại bắt tay và kêu: “Trăm phần trăm đi anh Hai Sài G̣n!”, tôi “chơi luôn”, nhưng rồi cậu lại hứng lên: “Xin mời anh Hai Sài G̣n cốc nữa”. Tôi buột miệng: “B́nh tĩnh đă cưng”. Một tiếng xuưt xoa phía góc bàn: “Lại một từ cưng, nghe hay nhất trong ngày rồi anh Hai Sài G̣n ơi, dzô đi”.

    Vô Nam sinh sống lâu năm rồi, những từ “dễ thương” ấy cứ nhập vào gia đ́nh tôi từ lúc nào không hay. Các con tôi nhiều khi gọi nhau bằng “cưng ơi, cưng à”, mẹ nó cũng gọi các con “cưng à, cưng ơi”. Tôi c̣n nhớ có lần cậu con trai nhỏ của tôi có chuyện nghịch ngợm ǵ đó, bị mẹ rầy la, chị gái nó lại vỗ vỗ nhẹ vai em: “Chị Hai bảo cưng của chị nè, lần sau đừng vậy nữa nghe cưng, cưng hổng sợ ba mẹ buồn sao?” Rồi một tiếng “Dạ” nhè nhẹ trong tiếng sụt sùi. Nói như vậy th́ làm sao thằng em không nghe cho được, tôi nghe mà cũng thấy mát lạnh trong ḷng.

    Ngày xưa lúc c̣n sống ở Hà Nội tôi cũng đă được nghe từ “cưng” này, nhưng trong những hoàn cảnh h́nh như khác, như “Bà ấy cưng con chó quá” hoặc “Cậu ấm ấy là con cưng của nhà đại gia”… chứ không phải người ta dùng từ “Cưng” để gọi nhau như ở Sài G̣n. Tiếng “cưng” ở đây nghe nó tự nhiên, đằm thắm và dễ thương làm sao.

    Tất nhiên, đă là xă hội th́ sẽ có người này người nọ, lúc này lúc nọ nhưng những câu xă giao thân t́nh với cái giọng của người Sài G̣n dễ thương thật. Vào các cửa hàng thấy cách đón tiếp chào mời trong mua bán giữa khách và cô bán hàng: “Hàng này đồ thiệt hôn cưng?”; “Thiệt mà, thưa cô”… Người nghe cũng thấy nhẹ ḷng. Đi ngoài đường, nếu vô t́nh ta quên gạt chân chống xe máy, ta sẽ được một cô, cậu thanh niên nhắc rất nhẹ, đủ nghe: “Cô/chú ơi, gạt chân chống” và một lời đáp lại: “Cảm ơn nha”. Nghe mà thấy vui.

    Cuộc sống muôn vẻ, cuộc sống c̣n nhiều bộn bề, lo toan, nhưng cuộc sống cũng rất cần cái hương vị dịu dàng tưởng chừng như thường t́nh, vô vị, nhưng không phải vậy. Bởi v́ từ những đứa trẻ mới lọt ḷng cũng đă thích nghe những lời ru nhẹ nhàng êm ái của bà, của mẹ để đi vào giấc ngủ, cho đến khi tuổi cao sức yếu, gần đất xa trời, con người vẫn mong nhận được những lời nói dịu ngọt của con cái, người thân và bạn bè. Ngôn ngữ của người Sài G̣n nghe đă thiệt.

    FB HQ Lưu

    Theo Saigonxua.org và Fanpage Saigonxua
This thread has more than 10 replies. Click here to review the whole thread.

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •