Reply to Thread

Post a reply to the thread: SAIGON THUỞ ẤY ...

Your Message

Viết bằng chữ trong ô trống kết quả của năm mươi trừ hai mươi

 

Additional Options

  • Will turn www.example.com into [URL]http://www.example.com[/URL].

Topic Review (Newest First)

  • 23-10-2018, 08:30 PM
    tran truong

    Sài G̣n, Một Góc Kư Ức Và Bây Giờ _ Vũ Thế Thành

    Tôi sinh ra, lớn lên ở Sài G̣n. Tuổi thơ ở khu Tân Định. Dọn nhà một lần cũng ḷng ṿng đâu đó, gần cổng xe lửa số Sáu, bên bờ kênh Nhiêu Lộc và ở tới giờ. Ở riết thấy nhàm, tôi thấy Sài G̣n vẫn vậy. Vẫn vậy là kiểu ăn, cách nói, cà phê, quán nhậu …chứ đường xá, nhà cửa … thay đổi nhiều.

    Trước 1975, đôi khi tôi cũng lêu lổng ở Đà Lạt, mê cảnh núi đồi, ao hồ, sông suối, yên tĩnh và nhịp sống chậm răi của Đà Lạt, và cũng không loại trừ mê luôn người Đà Lạt hiền ḥa và hiếu khách. Tôi nhủ, rồi ngày nào đó sẽ về đây dưỡng già (non).

    Bây giờ tôi đă về Đà Lạt, cũng hơn sáu năm rồi. Nợ đời chưa dứt, nên khi Sài G̣n lúc Đà Lạt.

    Sài G̣n và Đà Lạt đều là dân tứ xứ. Ở lâu th́ thành người Sài G̣n hay dân Đà Lạt gốc. Mỗi nơi đều có con người và phong cách riêng. Rồi cuộc đời dâu bể, nơi c̣n nơi mất. Đà Lạt đang mất dần, gượng không nổi, nhưng Sài G̣n c̣n là Sài G̣n, dù có mất chút đỉnh.

    Ai ở đâu tới mặc kệ, nhưng Sài G̣n không có đất sống cho ‘bún mắng cháo chửi’, không phân biệt khách Tây khách ta, không giẫm nát hoa hội chợ, phở Hà Nội không thể ‘tuyệt đối đúng’ khi thiếu rau thơm giữa đất Sài G̣n … Trước như vậy, giờ vẫn thế.

    Nhưng Đà Lạt th́ khác, chụp giựt, níu kéo, chém chặt, phân biệt Tây ta … đang h́nh thành ở những ngày cuối tuần hay lễ hội. Đà Lạt tuổi đời trẻ quá, chưa kịp bén rễ th́ băo đời đă làm tản mác con người Đà Lạt. Đà Lạt thiếu ‘con người Đà Lạt’ đâu c̣n ǵ là hồn Đà Lạt. Đà Lạt chỉ c̣n thân xác như bức họa đắt giá của Picasso dưới con mắt của kẻ phàm phu.

    Nói vậy thôi, Đà Lạt vẫn c̣n vài nơi yên tĩnh, hoa lá núi đồi , để tôi c̣n đọc sách bên tách trà ly rượu. Rồi ngẫm lại mới thấy, sao mà những năm tháng lớn lên ở Sài G̣n êm ả quá. Và rồi cũng nơi đó, những năm tháng cùng cực, cơm áo gạo tiền, cố giữ cho được cái nguyên tắc sống của riêng ḿnh, thiệt vất vả.

    Ở Sài G̣n tôi nhớ Đà Lạt, nhưng ở Đà lạt tôi lại nhớ Sài G̣n. Hai cái nhớ khác nhau. Nhớ Đà Lạt v́ lỡ thương. C̣n nhớ Sài G̣n v́ duyên v́ nợ.

    Hầu hết những bài trong sách đều được viết ở Đà Lạt. Phải xa Sài G̣n mới ngứa tay viết được, mà viết tùy bút kiểu này cũng coi như một cách tính sổ với cuộc đời. Đà Lạt làm tôi biết nhớ Sài G̣n.

    Chỉ mới ba trăm cây số Đà Lạt – Sài G̣n, lại c̣n đi đi về về mà đă thế, huống chi những người ở xa Sài G̣n nửa ṿng trái đất, chục năm, hai ba chục năm biền biệt th́ sao? Có lẽ chỉ c̣n cách như người bạn tôi, nửa đêm không ngủ được, gọi phone về , thở dài: Tao nhớ Sài G̣n chết … mẹ!

    Xa Sài G̣n mới thấm, mới cảm thấy thiếu thiếu cái ǵ đó, như từ bỏ một thói quen, bứt rứt khó chịu như cai thuốc.

    Nhớ Sài G̣n chứ sao không! Nhớ con hẻm lầy lội, nhớ tiếng mưa rơi trên mái tôn, nhớ tuổi thơ, nhớ tiếng rao hàng giọng Sài G̣n, nhớ sầu riêng vú sữa, nhớ đủ thứ … Xa rồi mới biết thương biết nhớ …
    Vũ Thế Thành

  • 22-10-2018, 12:37 AM
    tran truong

    Sài G̣n : Trăm ngh́n nhánh khổ

    Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm … Họ chỉ hát toàn nhạc xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero, nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược.
    Lần trước về Sài G̣n, tôi đă ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế "… Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời "(2). Lặng cả người!

    Tôi chợt nhớ những ngày sau tháng Tư 75, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để đối phó với thời cuộc, rồi vội vă t́m đường vượt biên. Có đứa vượt được qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại như tôi, tưởng họ đă đến bến bờ thiên đường.




    Bạn bè, có đứa vượt được qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới…



    Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sài G̣n – Đà Lạt. Có khi Hà Bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần c̣n lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết.
    Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng: Xứ này không ăn dơ như thế.

    Cũng có người đi làm nail, “tiền tươi thóc thật”, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con; hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt. Khi con thành tài, thân mẹ cũng tàn tạ. Tiền gửi về nhà, người thân trong nước , nhiều khi tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng không mua bảo hiểm y tế.

    Nhưng cũng có nhiều người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh. Nơi xứ người, dù sao vẫn có nhiều cơ hội hơn trong nước, vấn đề là có chịu nắm bắt hay không mà thôi.

    Trong nước th́ coi như bế tắc. Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm năm, bảy học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy mà rớt.
    Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” c̣n trong trại cải tạo, làm sao vào đại học nổi, em rớt ngay từ băi gửi xe. Em đến báo tin, thầy tṛ ngồi uống cà phê vỉa hè, buồn ứa nước mắt. Thời điểm này không dung những tiềm năng như em … Số phận đời người chứ đâu phải tṛ chơi chính trị.


    Những năm sau 75, giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, chạy xe ôm, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, mở quán cà phê vỉa hè, buôn hàng lạc soong … Người nào lanh hơn th́ buôn hột xoàn , đổi đô-la …

    Năm 78, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, quư phái, không quá ba mươi, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê hai bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nh́n tôi, nói như năn nỉ: Lát nữa gần đến ga B́nh Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi hai bao than này xuống.
    Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C.V. Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Tác giả đă mô tả đôi mắt của bà, cũng buồn và nhẫn nhục như thế.

    Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngă ba Trần Quang Diệu – Trương Minh Giảng(3), ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại: Cho trẫm điếu thuốc.
    Hoàng thượng đă chiếu cố dân đen, dân nào dám căi. Tôi rút điếu thuốc, cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay: Cho lui …
    Lui rồi, ngoái cổ lại, vẫn thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.








    Bùi Giáng đă có mầm mống bất thường từ trước rồi. Sau 75 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ư thức buồn vui làm chi cho khổ ?

    Mà Sài G̣n lúc đó sao dễ gặp “người điên” thế ! Cũng không phải điên, họ có phá phách ǵ ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự, áo sơ mi trong quần, có ông c̣n đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù …

    Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng kư rưỡi, kèm bức thư ngắn: " Gửi mày mấy hộp thuốc Tây, bán đi mà lai rai. C̣n lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó." Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại ?

    Sau 75, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lư. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng có khi tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng ḿnh đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước chậm nhịp, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.

    Cả đất nước đă có lúc “sống” bằng khẩu hiệu. Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên th́ sao?

    Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ, có khi chẳng mua được thứ ǵ.
    Mà có tiền đi chợ là c̣n may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ … quanh năm. Ăn để sống sót th́ thứ ǵ chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.

    Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo.
    Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn c̣n nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than: Tội nghiệp cho cả gia đ́nh tôi ! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói v́ không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con.
    Năo ḷng đến thế là cùng ! Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên, bà này chắc có căn phần phúc đức.

    Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông. Mấy bà này chắc phải phong thánh.

    Tháng Tư năm nay, Sài G̣n nóng khủng khiếp. Sài G̣n không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng Tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ở Couvent des Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.

    Đà Lạt, tám giờ tối đă như mười hai giờ khuya ở Sài G̣n. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà , thường kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm. Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân.

    Cuối tháng Tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sài G̣n để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng c̣n chút tâm t́nh này : không nói về những ngày sau 75 trong mắt tôi là như thế nào ... ḷng dạ chưa yên …

    Đời trăm ngh́n nhánh khổ, nhánh nào cho người, nhánh nào cho ḿnh? Năm 75 là ngă rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm dập, và cho dù ở phương trời nào, Tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến. Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn đời người.

    Tháng Tư, tôi thắp ngọn nến trong ḷng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm bài hát nghe được ở quán rượu …

    Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người,
    Khi ḿnh c̣n đôi tay…(1)

    Vũ Thế Thành, Đà Lạt, 28.04.2016

    Đăng lại từ bài viết cùng tên
    Đăng trên trang vuthethanh.com
    Mời độc giả t́m đọc cuốn “Sài G̣n, một góc kư ức và bây giờ” (12/2017) của tác giả

    Chú thích:

    (1) Xin thời gian qua mau – Lam Phương
    (2) Nửa đêm ngoài phố – Trúc Phương
    (3) Nay là đường Lê Văn Sỹ
  • 18-10-2018, 08:52 PM
    tran truong

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC _ Tiếp theo và hết .

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Đó là giảng đường và trại ngủ. C̣n văn pḥng th́ gồm có bốn chiếc giường bện bằng tràm con, một cái bàn dài cũng bằng tràm. Áo quần sách vở của ban chỉ huy rất đơn sơ không cần có tủ. Gió lật sách, gió thổi sáo , và tràm đước gảy đàn. Nhà bếp là một cái cḥi gồm có một chiếc ḷ, nấu cơm bằng chảo đụng, thức ăn suốt tháng chỉ một món kho. Rau sam trại sinh tự túc lấy để ăn. Thỉnh thoảng mới có được bữa canh dưa hường nêm mắm ruốc. Đặc biệt dù kho hay canh, dưới đáy tô vẫn đọng một lớp cát. Khi nhai trong mồm, nghe rào rạo. Đứng mà ăn chớ không có ghế ngồi. Ban chỉ huy cũng như trại sinh. Thế nhưng tâm hồn cao cả vô biên!

    Linh hồn của ban chỉ huy trại là anh Mạch Văn Tư tức thi sĩ Tâm Điền. Đêm nào cũng vậy, sau khi dạy chúng tôi một bài chính trị, t́nh h́nh thế giới, thi sĩ cũng đọc thơ kháng chiến như Ngọn Quốc Kỳ của Xuân Diệu hoặc những bài thơ của chính anh viết trong lúc làm trại trưởng.

    Gió reo, gió reo, gió Việt Nam reo
    Mây bay, mây bay, mây hồng tươi sáng
    Gió ca trên non, gió ngợi trên đèo
    Gió bay đi mà nhạc cũng bay theo.

    Xuân Diệu

    Đây biển rộng, đây rừng sâu
    Đây mênh mông cao cả,
    Đây thiên nhiên ḥa hợp với ḷng người
    Đây muôn ḷng xinh đẹp giữa hồng tươi.

    Tâm Điền

    Anh là thần tượng của tuổi trẻ chúng tôi. Những thanh niên đầu óc mới tinh như trang giấy trắng, những học sinh vừa bỏ trường , ḷng c̣n rộn tiếng trống Chi Lăng, tiếng sóng Bạch Đằng nhưng chưa biết đi đâu, những thiếu nhi ham hát “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng” nhưng chưa biết đàng nào để đi, tất cả đều đến đây để nhận đường đi cứu nước như những chiến sĩ trẻ lên đường:

    Với núi sông vừa khi tươi sáng
    Lên đường ta quyết tiến
    Đoàn quân ta cùng bước đều ca
    Rền khắp ngàn nơi xa
    Cứu nước non vượt khi nguy biến
    Lên đường ta quyết chiến

    (Chiến Sĩ Lên Đường, Tâm Điền – Lữ Sinh, 1947)

    Trước mặt chúng tôi, ba tấm ảnh lớn của các văn hào: Gorki, kỹ sư tâm hồn; Romain Rolland, bạn của kẻ yếu; Henri Barbusse, Đại Tướng chống Phát Xít được treo ngang nhau một cách trang trọng. Tôi nhớ không có ảnh Hồ Chí Minh. Không biết vô t́nh hay sự cố ư của ban chỉ huy trại.

    Anh Mạch Văn Tư là người không chấp nhận CS từ đầu kháng chiến. Ngày nay, tức là sau bốn mươi sáu năm rời trại , bất ngờ tôi được biết vị trại trưởng của tôi chính là thi sĩ Xuân Tước hiện tị nạn ở Colorado ! Chỉ có ba khẩu hiệu: “Dân Tộc – Khoa Học – Đại Chúng” viết trên gỗ thô đóng đinh trên xà ngang của giảng đường. Tuy không hiểu trọn vẹn, nhưng tất cả những ǵ tôi được dạy, tôi đều cảm thấy mới lạ và rất bổ ích. Chương tŕnh huấn luyện của trại như một bó đuốc soi đường kỳ diệu. Bên ba tấm ảnh là bức tranh một chiến sĩ trẻ ôm súng máy xông trận với ḍng chữ chú thích: “Thanh Niên Mới”.

    Ba mươi ngày học ở đây thật chẳng khác nào một khúc nhạc xuân vui tươi, hồn nhiên và nóng sốt. Trong khung cảnh này, thi sĩ Tâm Điền và nhạc sĩ Lữ Sinh có được nguồn hứng để đẻ ra những tác phẩm bất hủ.

    Cùng đi nguyền đem thân hiến cho đời mới
    Tim thơm nồng đứng lên thét lên ánh dương chan ḥa
    …. Nghe nắng mới reo xôn xao,
    chim với gió tung bay cao
    Ta muốn đắp xây tương lai, ngàn tươi sáng.
    Khi sông máu thôi tràn đầy
    Ta quyết hiến tâm hồn này
    Dâng ánh sáng cho đời sống
    Nghe nắng mới reo xôn xao
    Chim với gió tung bay cao…

    (Tiến Lên Đường Sáng – TĐ-LS, 1946)

    Một hôm anh Lữ Sinh nhạc sĩ vĩ cầm sang giảng đường bảo chúng tôi:

    - Hôm nay tôi dạy các em bản hát mới.

    Rồi tay kẹp nách vĩ cầm, tay ra bộ, anh hát:

    Làm sao khắp chúng dân đều tự do
    Làm sao khắp muôn dân đầy cơm áo
    Làm sao khắp thiên hạ hưởng ḥa b́nh
    Bao nhiêu năm đói rét và lầm than
    Bao nhiêu lần bao nước mắt đẫm máu xương
    Đứng lên đều tung gông cùm giam đời sống
    Vùng lên đem hết máu xương
    Vùng lên quyết tranh phần sống
    Nào nại tan nát thân ḿnh
    Nào nại cực khổ gian lao
    Muôn dân khóc than
    Muôn dân nát ḷng
    Muôn dân căm hờn
    V́ đời bất công!
    Vùng lên đem hết máu xương
    Vùng lên quyết tranh phần sống!
    Tự do hạnh phúc kia rồi
    Ḥa b́nh no ấm chào đón ta!

    (Tự Do, Cơm Áo, Ḥa B́nh, Lữ Sinh-Tâm Điền,1947)


    Chúng tôi học thuộc rất mau nhờ tiếng đàn dẫn dắt. Nhưng chính là nhờ những ư tướng xă hội cao đẹp của bài hát đă đi vào tâm hồn chúng tôi như một mồi lửa phóng vào một mớ rơm khô. Nó tiếp nhận một cách hào hứng.

    Cũng như đối với những bài khác sáng tác chung với anh Tâm Điền, anh Lữ Sinh đều không giới thiệu tác giả , nên măi về sau chúng tôi mới biết lời ca là của thi sĩ Tâm Điền. Hai mươi năm đi khắp đất nước, bây giờ trở lại vùng biển rừng như gặp lại một “kỷ vật” vĩ đại, tôi nghe nỗi buồn thấm tận tâm can.

    Con người và tác phẩm của thi sĩ Tâm Điền đă ảnh hưởng sâu sắc trong đời viết văn của tôi. Chính anh đă gieo vào tâm hồn tôi mầm mống nghệ thuật từ đó nhưng tôi cũng không biết. Có lẽ anh cũng chẳng hay Bà tiên cầm đóa hoa thổi đi, những hạt hoa bay, bà đâu biết nó sẽ bắt mầm và mọc lên ở mảnh đất nào. Bà chỉ biết gởi nó cho gió:

    “Je sème à tout vent. “

    Thật vậy tôi bắt đầu ham thơ phú, nhạc họa từ lúc hát những bài của Lưu Hữu Phước, xem tranh của Diệp Minh Châu và nghe thơ của Tâm Điền. Hồi ở trại, chính anh đă bảo tôi đóng mấy tập thơ “Đượm Hồng” của anh để triển lăm ở buổi lửa trại bế mạc khóa Chiến Thắng tại huyện lỵ Thạnh Phú. Nhờ đó tôi đă đọc hết tập thơ của anh. Và chưa bao giờ tôi đọc nhiều thơ cùng một lúc như vậy.

    Bên cạnh văn học nghệ thuật anh c̣n dạy cho tôi ḷng yêu nước. Anh đă làm theo những lời anh từng dạy chúng tôi Một ḷng yêu nước trọn vẹn và không bị bất cứ thứ chủ nghĩa nào chi phối.

    Trong lúc làm Tỉnh Đoàn Trưởng Thanh Niên Cứu Quốc Tỉnh, anh đă bị Tỉnh Ủy chèn ép, mua chuộc, nhưng anh nhất định không vô đảng. V́ quá cứng đầu nên anh bị đưa lên Nam Bộ cho Tỉnh Ủy khỏi chướng tai gai mắt.
    Lên đây anh lại bị chèn ép bởi cơ quan Thanh Niên Cứu Quốc Nam Bộ đứng đầu là Trần Bạch Đằng. Tài năng vượt xa Đằng nhưng anh bị đặt dưới Đằng. Mặc dù vậy anh buộc ḷng chấp nhận công tác cho đến 1954. Chính anh quen biết Hoàng Xuân Nhị từ 1946 trong buổi lễ bế mạc khóa Chiến Thắng kể trên, nhưng sau này chính Hoàng Xuân Nhị lẫn Hà Huy Giáp thuyết phục anh vô đảng. Anh vẫn từ chối. Nhất định không vô Cộng sản để được ân huệ của đảng. Khi đ́nh chiến, anh tuyên bố:

    – Tôi chịu đựng các anh đă quá nhiều. Sự đóng góp của tôi trong chín năm kháng chiến coi như đă đủ đối với đất nước. Bây giờ tôi phải đi con đường của tôi!

    Và anh dắt vợ con về Sài G̣n.

    Mạch Văn Tư, người thanh niên hai mươi sáu tuổi trại trưởng, tỉnh đoàn trưởng, ủy viên thường vụ Thanh Niên Cứu Quốc Nam Bộ, người đă vơ trang trên bốn trăm cán bộ Thanh Niên cho tỉnh Bến Tre, hằng ngàn cán bộ cho toàn Nam Bộ, vũ khí ḷng yêu nước mầu nhiệm, đành phải về Sài G̣n, tự hủy bỏ công lao của ḿnh v́ không thể hợp tác với Cộng sản năm 1954 , và đă phải bỏ nước ra đi v́ không thể sống chung với Cộng sản năm 1975. Nhưng điều đó không có nghĩa là anh khuất phục chúng. Không ! Thi sĩ Tâm Điền thời đầu Kháng chiến và nhà thơ Xuân Tước bây giờ là một, vẫn chiến đấu chống Cộng sản, với ngọn bút trong tay.



    .............................. ........


    Khi người Bắc di cư vào Nam năm 1954, họ rất ngạc nhiên khi thấy những người đạp xe xích lô đến buổi trưa, t́m chỗ mát nghỉ ngơi. Họ ngồi gác chân đọc nhật tŕnh. Người b́nh dân miền Nam có truyền thống đọc sách báo mà ở ngoài Bắc không có. Ngay từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 miền Nam đă là vùng đất của tiểu thuyết và báo chí trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần lớn chỉ dành cho người có học.

    Đó là sự cách biệt lớn lao giữa con người hai miền . Phải chăng vì vậy , du kích miền Bắc sắt máu hơn tàn ác hơn ... giết người man rợ hơn ! Cho nên những người có ăn học nhìn ra sự dã man ... chán nản bỏ về thành không ít .

    Lịch sử Việt rơi vào khoảng tối tăm này , mạng người không bằng mạng ngóe ( bồ toọc ) . Chỉ cần mảnh vải trong người , ba màu xanh đỏ trắng ,hay dắt bút nguyên tử xanh đỏ ... hoặc một mảnh gương soi là đủ tội chết !!!
  • 17-10-2018, 09:36 PM
    tran truong

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Nó lấy đuôi tôm chở tôi và Tư Mô vô căn cứ của nó, chớ không phải của Huyện Ủy. V́ mỗi thằng ở một hang, không ở chung, sợ bị chết chùm, tuốt trong một xóm lá rậm ri. Ăn nhậu xong, nó mới nói về t́nh h́nh.

    – Các cha xuống đây là cái rọ . Cuộc sống chỉ tính từng ngày.

    Tư Mô bảo.

    – Được ngày nào hay ngày nấy!

    – Tụi nó sắp lấy Hương Mỹ làm tỉnh lỵ cho một tỉnh mới là Kiến Tân.

    Tôi cười ha hả :

    – Rồi ḿnh ở đâu?

    Tư Mô mỉa mai :

    – Ra biển.

    – Hồi đó tới giờ mày có lái đầu xe lửa nữa không?

    – Xe lửa ǵ? Chạy sút trứng non trứng già đây, xe đâu mà chạy?

    Tôi nhắc lại chuyện xưa, lúc khóa học “Chiến Thắng” của Thanh Niên Cứu Quốc Tỉnh bế mạc, đốt lửa trại liên hoan th́ hắn, do cái thân mập lù, được cắt giữ vai lái xe lửa, tức là làm bộ chạy x́nh xịch bằng miệng trong lúc chúng tôi đồng thanh “hợp xướng” ba tên trùm Phát Xít là Ribbentrop (khi xe vừa khởi đầu), Von Papen (khi xe chạy nhanh), Hess (khi xe dừng lại).

    Bây giờ hắn cũng c̣n mập như xưa, chỉ già đi thôi. Hắn đổi tên là Ba Thơ. Hắn cũng không hỏi chúng tôi tới đây làm ǵ. V́ hắn thừa biết lúc này quân B́nh Định đang rải đều ở An Định _ Thành Thới để chiếm đất và chiêu an bà con. Tư Mô buột miệng hỏi Ba Thơ,

    – Tết nhất rồi, tính sao chú Ba?

    Hắn nói:

    – Ông bà chạy mất hết có ở nhà đâu mà ăn Tết?

    Một lúc sau, Tư Mô mới nói cho biết , tôi là dân Mùa Thu. Hắn không tỏ vẻ mừng rỡ ǵ hết ráo. Mùa Thu hay mùa Đông ǵ cũng chạy vắt gị lên cổ thôi.

    Ba Thơ bảo:

    – Sáng mai nếu t́nh h́nh êm , tôi sẽ dắt các cha đi ăn Tết chực.

    – Sao lại không? Nhưng tội nghiệp ông bà ḿnh. Con cháu không có ở nhà để cúng kiến.

    Tôi tính đến năm nay là hai mươi năm tôi không có quét mộ ông bà và không gặp mặt tía má tôi. Tôi cũng buồn năo ḷng nhưng làm bộ:

    – Thôi bỏ qua mấy chuyện đó đi anh Tư. Ở Sài G̣n ăn nhậu đă đời lại c̣n ṃ ra rừng mần chi.

    – Hổng biết sao hồi đó tôi lại nhẹ dạ vậy, thằng bạn quèo cái là đi liền, lại c̣n giấu vợ con!

    Sáng hôm sau, chúng tôi ăn cơm sớm. Đó là thói quen của dân cán xứ Đồng Khởi, v́ nếu quân Sài G̣n tấn công th́ hừng đông đă có pháo dọn băi. Nếu không bỏ bụng ba hột th́ làm sao chạy đua nổi với trực thăng? Lại nghe tin là Sư Đoàn 9 đang nghỉ quân ở Kiến Ḥa, Tư Lệnh của Sư Đoàn này là Tướng Trần Bá Di con của ông Trần Bá Vạn là thầy của tôi ở Collège Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho, th́ nó xuống đây không quá hai mươi phút.

    Tôi hỏi Ba Thơ:

    – Tết, không lẽ nó không “tha Tào” một phen?

    – Có lệnh ngưng chiến 24 tiếng , mà không bảo đảm ăn Tết một ngày sao ông Bí?

    – Lệnh th́ lệnh nhưng ba thằng du kích bắn bậy ai mà la cho nổi. Hồi năm ngoái năm kia ǵ đó, cũng chiều 30 Tết, tụi Sài G̣n đang chụp ở đây, sửa soạn rút về để cho ḿnh ăn Tết. Rút gần hết, một thằng du kích bắn vét đuôi. Nó bèn quay lại cả bầy nó trả hỏa cho một giờ. Xong nhảy xuống đóng luôn không rút nữa. Bà con năm đó đâu có ăn Tết ăn nhứt ǵ. Tao vái trời năm nay không có thằng nào khùng như vậy nữa.

    – Nó có đóng ở đâu đây à ?

    – Nó đóng trụ trên An Nhơn kia cà cha ! Tao đang nhang đèn vái nó rút đi cho sớm sớm để ḿnh c̣n ăn Tết.

    May quá, không có việc ǵ xảy ra. Ba Thơ dắt chúng tôi đi đến nhà một cốt cán, tên là Tư Cua. Anh chị Tư Cua sở dĩ mang tên này v́ anh chị buôn cua biển với tư cách gần như đại lư cho cả vùng này v́ những người khác hoặc làm cán bộ hoặc có dính líu với Việt Cộng nên không dám tḥ mặt ra chợ quốc gia. Ngoài ra anh chị lại có cái tiệm bán tạp hóa.
    Anh Tư Cua là cán bộ của Ba Thơ. Anh chị vui vẻ nấu cơm mời khách. Chỉ đơn sơ rau mắm và khô cá thu. Đây là vùng biển nên thức ăn như thế này chỉ gọi là đạm bạc. Sự thực ở trên rừng đây là một bữa cỗ.

    Chúng tôi chén xong th́ nằm chỏng cẳng tán gẫu, mặc dù t́nh h́nh không ổn. Nếu cái chốt An Nhơn đánh tỏa xuống đây, trong vài phút th́ tới. Chúng tôi chỉ đủ thời giờ để chạy tụt vô rừng ở ngay sau hè. Ở đây rừng khắp nơi nên “địa thế chạy trốn” rất thuận lợi, chưa ở đâu hơn ở đây. Chỉ có một điều bất lợi là không có hầm. Rừng đước ngập nước không đắp hầm được. Nếu có trực thăng bắn th́ vui ḷng né tránh (! !) may nhờ rủi chịu. Bạn cũng nên nhớ cho rằng trong một phút cà nông 20 ly trực thăng phóng xuống mặt đất tới sáu ngàn viên đạn và mỗi viên cách nhau chừng vài phân, nghĩa là không đủ kẽ hở cho một thân người. Liệu mà né cách nào th́ né !

    Nhưng cũng may sao du kích không chọc bậy nên cái chốt kia nằm im. Ba Thơ dặn Tư Cua lo lắng cho hai đứa tôi rồi quảy ba lô đi công tác. Đến chiều Ba Thơ trở lại bảo:

    – Tết này chắc êm. Các cha ở đây ăn Tết với tụi tôi!

    Rồi dắt tôi và Tư Mô đi dạo cảnh. Nếu tôi không lầm th́ toàn tỉnh Bến Tre quê hương Đồng Khởi lúc bấy giờ chỉ c̣n có xă Thạnh Phong là giải phóng nhưng đang chuẩn bị “rước bọn ngụy về B́nh Định” bởi v́ chẳng c̣n nơi nào để quân B́nh Định làm việc nữa cả. Đàn bà đi chợ về cũng xám xịt với nhau rằng ở trên Kiến Ḥa lính sẵn sàng hành quân, dây ch́ gai và trụ cọc, bao xi măng đă chất đống ở bến tàu để đưa xuống đây xây đồn bót. Cho nên buổi dạo cảnh của chúng tôi cũng có nghĩa là mắt dáo dác, chân bỏ vó hùm sẵn sàng phóng vô rừng.

    Tư Mô đă từng than với tôi khi vừa đặt chân xuống vùng biển này một câu bất hủ:

    – Ước ǵ ḿnh có được một mảnh đất không có chụp dù để đi bộ và để nghỉ ngơi !

    Tôi không đ̣i ǵ hơn. Đây là mảnh đất lư tưởng nhất nhưng nó có giới hạn, một bên là sông Cổ Chiên một bên là sông Hàm Luông dày đặc những hô-bo, trên đầu th́ diều ó, c̣n chúng tôi là gà con. Nhưng đi th́ đi, dạo qua cảnh cũ cho đỡ buồn. Thoạt tiên Ba Thơ đưa ra băi biển và trỏ cái xác tàu tô hô nằm giữa cát lấp đến nửa thân.

    – Tàu ǵ vậy?

    Tôi nh́n Ba Thơ như hỏi. Ba Thơ nháy tôi. Tôi thấu cáy:

    – Tàu chở đạn ngoài Bắc vô chớ ǵ! Mày tưởng tao điên à?

    Ba Thơ cười trừ:

    – Biết rồi th́ thôi. Đại khái là vậy đó, c̣n hỏi làm ǵ?

    – Nghĩa là sao? Tôi không hiểu ǵ hết!

    Tư Mô làm bộ ngây thơ.

    – Tàu chưa cặp bến th́ trực thăng tới bắn tanh bành rồi phóng lửa xuống đốt tàu luôn. Ở trên bảo tụi tao phải thủ tiêu cái xác tàu để chạy án, nhưng tụi tao đă đánh mấy trái ḿn mà nó c̣n ỳ như thế đó. Thôi đừng có hỏi nữa.

    Ba Thơ dắt tụi tôi đi trên con đường cát dưới những ngọn đồi. Miểng cà nông của hạm đội Bảy bắn lên nằm lẫn trong gốc cây, bên vệ đường. Có cái giống như vỏ chuối già. Ba Thơ bảo:

    – Tụi nó bắn không có giờ giấc ǵ hết. Uống bia xong, là tụi nó giật c̣ bắn tưới như đốt pháo vui chơi.

    – Rồi ḿnh làm sao?

    – Hầm sẵn kia. Chui chớ c̣n sao nữa ! Nếu trái đầu nổ mà ḿnh c̣n sống th́ có hầm chui. Hầm ở khắp nơi mà. Cứ vài trăm thước có cái hầm to, vài chục thước có hố cá nhân. Nhà cũng là hầm. Nửa nhà nửa hầm hoặc cả nhà là một cái hầm, gọi là nhà hầm.

    – Rồi làm sao mần ăn?

    – Ra ruộng dưa cũng “vác hầm theo” chớ sao hà hà… Các cha có “vác” nổi không, tôi cho mỗi cha một cái?

    Ba Thơ dắt tôi và Tư Mô đi một chập th́ dừng lại bảo:

    – Đây là trại huấn luyện tao với mày học cách đây hai mươi năm. “Khóa 3: Chiến Thắng”!

    Câu nói làm tôi giật ḿnh. Tôi nghe như có một sợi thần kinh nào cháy lên trong đầu. Đây là trại huấn luyện Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh sao? Thời gian quả là bàn tay tàn phá vĩ đại. Tự nhiên nước mắt tôi tuôn trào.

    “Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”.

    Tôi ra đi “theo cái cuộc cách mạng” từ đây, thuở c̣n thiếu nhi. Rồi rời tỉnh, lên Tháp Mười xuống Miền Tây, lên Miền Đông, ra Bắc, lội Trường Sơn rồi trở về đây. Hai mươi năm như một cái nháy mắt không khác một giấc mơ. Thằng bé ngày xưa bây giờ đă đến tuổi sồn sồn, trên đầu đă có dăm ba sợi bạc. Tôi phóng mắt nh́n quanh không thấy ǵ ngoài những đụn cát vàng và ven rừng nâu, những vệt mây và một mảnh Thái B́nh Dương man mác.

    – Mày có gặp mấy thằng cũ ở đây không?

    – Thằng nào?

    Tôi kể lại tất cả những tên đồng khóa

    – Thằng Thự, thằng Phong, thằng Lực và ông Huệ huấn luyện viên môn Địa Dư chuyên môn vẽ bản đồ trên băi cát bằng vỏ ốc, để dạy.

    Ba Thơ ngẩn ngơ một giây rồi lắc:

    – Tao không có gặp thằng nào cả . Ra trường rồi đi luôn tới bây giờ.

    – Mày có gặp lại anh Tư, anh Hậu không? Anh Thông nữa?

    Ba Thơ ngơ ngác như thằng ngố. Có lẽ hắn không ngờ tôi đă đào đến tận đáy óc hắn một cách bất ngờ. Hồi lâu mới đáp:

    – Anh Mạch Văn Tư nghe nói sau khi bế trại được rút về làm ủy viên thường vụ, kiêm Trưởng Ban Huấn Luyện trên Thanh Niên Cứu Quốc Nam Bộ mà.

    – Rồi sao nữa?

    – Mày ở trên tỉnh mà không rơ, tao ở dưới huyện biết ǵ?

    – C̣n anh Hậu, anh Cầu, anh Tôn, anh Hưng … tao cũng không bao giờ gặp lại. Anh Cầu có lúc muốn làm rể ông Hoàng Như Nam. Bà Đào rất đẹp, biết không?

    – Sao mày quên các ảnh mà nhớ anh Hoàn Cầu?

    – Là v́ nhà chị Đào ở gần nhà tao.

    Tôi ngó quanh rồi hỏi:

    – Nền trại ở chỗ nào?

    – Đâu vùng này nhưng không chắc là chỗ nào. Có lẽ là chỗ cụm lau đó.

    Tôi nh́n khóm lau vàng ngoách gật gờ trong nắng nhạt. Chung quanh chỉ vài mái lá núp ḿnh trong đụn cát và vài ba con chim rừng sập xòe bay.

    – Nhà ông Chín Bản ở đâu?

    – Chín Bản nào?

    – Một nhà giàu đă hảo tâm giúp vật liệu và bàn ghế cho trại. Ngôi nhà ở phía sau trại, sát ven rừng! Nằm ở nhà ngủ của tụi ḿnh vạch vách nh́n thấy cái tủ kiếng trong nhà ổng lấp lánh.

    – Tao quên rồi.

    – Ổng có người con gái tên là chị Bê là người con gái duy nhất mặc áo bà ba trắng trong vùng trại mình. C̣n ngoài ra ai cũng mặc áo nâu hoặc áo đen.

    – Tao không c̣n nhớ ai.

    – Chị Vấn, bà Tư nấu cơm cho trại mày cũng quên nữa sao?

    – Hai người đó th́ tao c̣n nhớ v́ tao có tật xin cơm cháy ăn hằng ngày. Chị Vấn thiệt đẹp, vẻ đẹp khỏe mạnh, có cái đầu tóc rất to, c̣n bà Tư th́ gầy g̣, có thằng cháu nội cũng đến phụ nấu cơm.

    Bỗng nhiên Ba Thơ vỗ vế la lên:

    – Chết cha rồi !

    Tôi giật ḿnh hỏi.

    – Ǵ vậy?

    – Bà Tư Cua!

    – Bà Tư Cua làm sao?

    – Hổng chừng bà Tư Cua đó! Hồi đó tao không có quen ông Chín Bản cũng không biết chị Bê. Từ khi tao về công tác ở huyện này, tao chỉ gọi bà ta là bà Tư Cua. Mày không nhận ra chỉ sao?

    – Tao hơi ngờ ngợ nên không dám hỏi. Hồi đó chỉ mới chừng mười tám bây giờ gần bốn mươi.

    – Người ta sắp làm suôi rồi đó . Mày với anh Tư ở đây lâu lâu sẽ được ăn đám cưới.

    Thời gian! Đó là điều ghê gớm. Trước mắt tôi cả một khu trại lá hiện ra . Vô cùng đơn sơ nhưng thật vĩ đại. Không có ǵ đáng giá cả, nhưng tuổi trẻ yêu nước của tỉnh nhà thời 45-46 đă được đào tạo nơi đây.

    Một trại lá dài thấp lè tè được ngăn đôi. Văn pḥng của Ban Chỉ Huy trại chỉ chiếm một phần năm. Phần c̣n lại dành cho giảng đường. Không có cửa đóng then gài. Vách lá dừng cao tới ngực. Người đi ngoài đường nh́n vào có thể đếm tất cả trại sinh. Bàn ghế làm toàn bằng cây tràm cây đước đốn ngoài rừng , róc sơ và bện cặp vào nhau, ngồi lên c̣n đau đít.
    Chỉ có chiếc bàn đặt trên bục giảng viên là sản phẩm của thợ mộc mà thôi. Chiếc bàn đó được mượn từ nhà ông Chín Bản. Trước trại là một vuông sân, cát ngập tới mắt cá. Giữa sân lêu nghêu cây cột cờ. Chân cột được tô điểm một ṿng tṛn xây bằng vỏ ṣ, ốc, điệp ... mà mỗi buổi sáng trại sinh, sau khi tắm biển phơi nắng đều có ư thức nhặt năm bảy chiếc để góp phần vào đó.

    Mỗi buổi sáng hai khóa gần chừng sáu mươi, bảy mươi trại sinh, một nửa là cán bộ thiếu nhi, một nửa là cán bộ thanh niên, sau khi tắm nước ngọt xong đến đây xếp hàng ngắn để chào cờ và nhận lời giáo huấn của ban chỉ huy trại.

    Bên trái là Nhà Ngủ của trại sinh. Ngủ bằng nóp , trên hai dăy sạp dài ọp ẹp, chiếc này úp sát chiếc kia, như những cái mả đất. Trên vách có treo hai khẩu hiệu: “Quân sự hóa thanh niên, du kích hóa đồ đạc”. Trong giờ ngủ có thể có c̣i kẻng báo động, trại sinh phải cuốn nóp vác lên vai ra tập họp trong ṿng năm phút. H́nh như có súng gỗ nữa th́ phải.
    C̣n b́nh thường th́ nghe kẻng thức, trại sinh vừa tung nóp vừa hô “Xung phong, xung phong “ tay cuộn nóp miệng hát: “Anh nghe chăng cung kèn rạng đông, đang uy linh lừng vang trên không” (Cung Kèn Rạng Đông của Hùng Lân). Dứt hồi kẻng là phải ra biển để được huấn luyện viên dắt chạy vài ṿng trước khi tập thể dục lẫn vơ thuật.


    Mai tiếp ...
  • 16-10-2018, 10:42 PM
    tran truong

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Bỗng “ụp” một tiếng. Bùn chung quanh Hồng bắn lên. Một người trên bờ reo lên:

    – Cha chả, cá trê trắng to lắm.

    Hồng nhăn mặt và biến sắc. Một ông già bảo:

    – Bộ bị cá trê chém rồi hả?! Không sao, tôi có bùa. Ngắt cái đuôi nó dán vào vết thương và miệng nói “không nhức, không nhức”, chừng một hồi th́ khỏi.

    Nhưng Hồng khuỵu xuống và gục mặt trong bùn. Không ai rơ chuyên ǵ lạ vậy. Mấy người đứng gần đó nhảy xuống lôi Hồng lên. Chân phải của Hồng máu me dầm dề . Không phải cá trê trắng mà là lựu đạn. Trời ơi ! Ác thế ! Cô em gái Hồng chạy đi báo tin. Ông già của Hồng đang làm ngoài đồng nghe vậy chạy ḅ càng . Bờ lộ không đi, ông lủi dưới mương, vừa lội vừa la như điên.

    Vết thương Hồng đă được băng bằng cả chiếc mùng cũ xé ra. Nhưng máu không ngưng chảy. Bị thương ở giữa đất śnh, vết thương làm độc. Hồng bất tỉnh ngay sau đó. Hồng được chở đi t́m bệnh xá, quân y xá, đủ thứ xá, bất cứ chỗ nào , để được một tí thuốc đỏ bôi vào và một bàn tay cứu thương mó tới , nhưng chèo đi ba đồng bảy đổi suốt nửa ngày và một đêm. Đến chỗ này, người ta bảo ở chỗ kia, đến chỗ kia lại được biết y xá mới vừa dời. Rốt cuộc, cậu thanh niên 18 tuổi chết v́ phong đ̣n gánh.

    Người nhà cậu chửi rủa mấy ông nội du kích lúc trời mưa ghé lại rửa chân đă làm rớt lựu đạn dưới ao rồi không dám ṃ, bỏ luôn. Nhưng mấy ông nội th́ đổ thừa đó là đạn M79 của Thủy Quân Lục Chiến mới vừa càn.

    Thiên hạ hoang mang không ai dám chịu cha ăn cướp. Lúc cởi băng ra lau vết thương để tẩn liệm cho thằng nhỏ th́ thấy một miểng lựu đạn trong quần cậu ta.

    Chuyện du kích gài lựu đạn chết dân là sự thường. Không ai bắt đền bồi hoặc kiểm thảo ǵ cả. V́ “đó là họ chống càn, giặc rút họ quên không gỡ, dân có lỡ đạp chết th́ thôi. “

    Gài lựu đạn thời kỳ chống Mỹ không có vui vẻ dễ ăn và dễ trở thành anh hùng như trước. Thời Pháp, lính ruồng đi bộ, du kích có thể biết trước đường đi của chúng cả giờ đồng hồ. Du kích tha hồ gài và ngụy trang rồi lui vào bụi lùm xa xa ngồi chờ kết quả . C̣n bây giờ lính chụp dù không đi đường lộ, mà nhảy cóc hoặc có trực thăng vừa bắn vừa dẫn đường.

    Cho nên mấy ông nội, cứ phóng chừng mà gài cho thật nhanh rồi phóng. Có khi ông nội gài, ông ngoại đạp. Có khi gài rồi không nhớ chỗ, v́ lúc gài bị trực thăng bắn rát nên không làm dấu kịp, lúc rút, trở ra t́m không thấy loay hoay một chập lại dẫm lên lựu đạn của chính ḿnh. Hoặc có nhiều ông nội làm biếng, gài không nổ rồi bỏ luôn, kẻ nào đạp ráng chịu. Ai mà truy cho ra tác giả. Hoặc tệ hơn nữa, các ông vô t́nh gài trên đường thoát thân của dân cán.

    Thằng Hồng chết v́ mảnh lựu đạn cũ lại quết đầy bùn non śnh thối, cũng chưa bi thảm bằng cái chết của ông Năm Hữu, Khu ủy Viên khu 8. Ông là thầy giáo dạy trường Mỏ Cày. Khi kháng chiến bùng nổ, ông bỏ trường đi theo tiếng gọi non sông làm trưởng ban tuyên truyền tỉnh, sau thầy Ngọc, trong ủy Ban Kháng Chiến Hành Chánh tỉnh của ông Mười Huệ.

    Ra Bắc ông được cho làm phó một thời gian rồi gởi về Nam. Đạo đức của ông cao lắm nên ông được mệnh danh là Cụ Hồ Con. Ông dư sức vào Khu Ủy nhưng tụi đàn em trong này giành hết ghế, ông không có chỗ. Trung ương phải điện vào chỉ định ông làm Phó Bí Thư Khu Ủy th́ đàn em mới chịu nhín cái ŕa ghế cho Cụ Hồ Con ngồi tạm.

    Ông là trí thức nên muốn đi đường thành đến các tỉnh ông phải phơi nắng cho tiệp với nước da lănh đạo của bần cố hỉ để không bị nghi ngờ. Ông về Bến Tre gặp tôi hai ba lần. V́ không có quan hệ cũ cũng không có quan hệ trong công tác hiện tại, chỉ dính tí bà con nên gặp nhau chỉ chào hỏi rồi mạnh ai nấy lủi. Kỳ đó ở Tân Hào, ông gặp tôi, bảo:

    – Cháu cẩn thận, tụi du kích ở đây gài lựu đạn ẩu lắm!

    Chẳng ngờ vài hôm sau ông lại chết v́ một trái lựu đạn gài. Không phải của du kích mà chính của tên cận vệ ông. Nghe pháo nổ dọn băi ở Bàu Sen, anh chàng cận vệ vác lựu đạn gài chặn đường vào căn cứ mà không cho ông biết. Ông ra ngoài chỗ trống ngước nh́n con đầm già bắn điểm. Ông né qua né lại thế nào mà lại giẫm trên quả lựu đạn…
    Cái chết của ông Cụ Hồ Con làm rúng động cả một vùng. Tỉnh Ủy đă giấu nhẹm tin này. Tội nghiệp thay vợ con ở trong thị xă mà không cho hay . Cứ mỗi lần ra thăm, họ được đám Tỉnh Ủy cho biết ông về khu hoặc lên R hội nghị, nào ngờ ông đi công tác vô thời hạn ở âm ty.

    Ở Củ Chi năm 1967, chẳng khác Nam Bộ kháng chiến 1946: cưa tay chân thương binh bằng cưa thợ mộc không có tê, mê . Đó là bác sĩ Tám Lê , anh hùng quân đội Việt Cộng.


    Ở Bến Tre bác sĩ mổ chiến thương trên xuồng, nước lớn lắc lư và bác sĩ đứng dưới nước ngập đến ngực. Đó là bác sĩ Bích. Trên đầu th́ đầm già quần t́m điểm. Tôi trông thấy tận mắt. Ai có thể bịa ra nổi những chuyện như vậy?

    Tư Mô cứ than vắn thở dài với tôi:

    – Nếu bắt tôi phải chết, cho tôi xin cái chết b́nh thường, đừng quá bi thảm.

    B́nh thường sao được ? Cuộc sống này đă là một sự mọi rợ rồi. Lúc này quân B́nh Định đă ổn định hoàn toàn Cù Lao Minh. Đi tới đâu như chẻ tre tới đó. Dân cán chính cấp tỉnh chạy thoát thân qua bên Cù Lao Bảo, chỉ c̣n đám huyện xă ở lại mặc t́nh chui hang.

    Rồi cuối cùng Cù Lao Bảo cũng không yên. Những cuộc chụp liên tiếp của Sư Đoàn 7, Sư Đoàn 9, Thủy Quân Lục Chiến có phù hiệu con ó đậu trên trái đất, Biệt Động Quân, Trâu Điên sau Tết Mậu Thân đều thừa thắng xông lên. Không ngày nào, tôi và Tư Mô không chạy. Chạy ngày không giờ, tuần không thứ, ban ngày không đủ tranh thủ ban đêm. C̣n nói ǵ đến việc sáng tác. Tư Mô cười buồn:

    – Ḿnh càng chạy xa , chiến thắng càng gần!

    Một hôm nằm ở quán Bà Mười, vặn đài Sài G̣n nghe tin lén, bỗng Tư Mô la lên:

    – Thằng Dương Văn Đức ca-ma-lố của tôi!

    – Sao?

    – Nó làm tới Trung Tướng.

    – Anh quen nó hồi nào?

    – Nó học Le Myre de Vilers với tôi. Mà bây giờ nó vậy, ḿnh vầy. Chú coi đó.

    – Th́ tại nó đi bên kia ḿnh đi bên nầy, nên nó vậy ḿnh vầy, c̣n than nỗi ǵ bác nó ! Ai biểu già rồi c̣n ham vui chi ... mà bây giờ than thở!

    Từ đó tôi và Tư Mô dính với nhau sinh tử bất ly, khi th́ ở Thạnh Phú Đông, lúc lên Phước Long, lúc lại sụt về Tân Hào, tùy t́nh h́nh, nhưng nói chung không ngày nào nghỉ chân trên con đường chạy đua với trực thăng, lủi trốn chẳng khác ǵ hồi bác bí mật đi t́m đường cứu nước.

    Đoán chừng vợ sắp sanh, hằng ngày tôi từ Tân Hào lội ra Thạnh Phú Đông để đón đ̣ máy hỏi tin tức. Tôi đă dặn các em con cậu Tám tôi ở Bến Tre, hễ vợ tôi sanh th́ đến đ̣ máy Sơn Đốc nhắn cho tôi hay liền.

    Một bữa tôi vào một ngôi nhà thật tồi tàn, gặp một bà già hom hem. Trong lúc ngồi đợi đ̣, qua câu chuyện xă giao, tôi được biết đó là bà vợ của một anh hùng trong thời kỳ chống Pháp: anh Phan Văn Kích, tự Ba Kích, Chỉ Huy Phó, sau lên Chỉ Huy Trưởng bộ đội Đoàn Trần Nghiệp, gốc là bộ đội của Hai Phải.

    Nguyên hồi đó ở bên Cù Lao Bảo có hai nhóm tự động vơ trang, một là nhóm của anh Phan Văn Phải tự Hai Phải do anh và hai người em ruột của anh là Ba Kích và Năm Hà gây dựng. Nhóm thứ hai là nhóm của Đồng Văn Cống, tức Bảy Cống.

    Anh Hai Phải đă anh dũng hi sinh trong trận hạ đồn Cầu Mống tại làng tôi. Sau đó anh Ba Kích và anh Ba Lắm lên chỉ huy thay cho anh Hai Phải. Anh Kích hi sinh trong một trận đánh đồn ở Trà Vinh. Năm Hà tiếp tục chỉ huy thay hai anh.

    Đó là những người hùng yêu nước tuyệt vời, không đảng phái không cờ đỏ Mác Lê ǵ cả. Thế nên khi Năm Hà tập kết ra Bắc th́ bị coi như một con người tầm thường, công lao bị phủi sạch. Thói thường Cộng Sản là như thế. Khi c̣n lao đao lận đận trốn chui trốn nhủi trong chuồng heo th́ khác. Nhưng khi đớp được mồi ngon th́ bọn đầu xỏ quên hẳn nhờ ai chúng được lên ngôi.

    Một vạn trường hợp như thế đă xảy ra cho cán bộ Nam Kỳ. Ba anh em Hai Phải là một trường hợp. Một lần tôi đi từ Hà Nội xuống Hải Pḥng, t́m đến thăm chú Năm Hà th́ thấy chú đang ở một cái cḥi gần Cầu Rào. Chú đi săn vịt trời bán lấy tiền sinh nhai. Bây giờ về Nam tôi gặp bà góa phụ Phan Văn Kích, nghèo nàn và cô độc sống trong một ngôi cḥi tranh.
    Bà có một cô con gái tên là Huấn Ngọc đang làm biên đạo trong đoàn Văn Công Giải Phóng Tỉnh đang ră ra ... đi cuốc đất trồng rau ở Tân Hào. Sau này tôi và Tư Mô có dịp chạy chung với đoàn này xuống Thạnh Phong.

    Việc gặp bà Phan Văn Kích làm tôi nhớ lại nhiều vị công thần Nam Bộ bị bạc đăi, hất hủi một cách lạ lùng mà tôi đă kể ra không biết bao nhiêu lần, bất cứ ở đâu để cảnh tỉnh những ông bà nhắm mắt đốt nhang thờ Bác Đảng suốt gần nửa thế kỷ nay. Viết đến đây , tôi nhớ thêm một trường hợp khác : Khu Phó Nguyễn Hùng Phước.

    Thời kỳ đầu kháng chiến, ở Miền Tây Nam Bộ giặc Pháp khiếp đảm những cuộc đột nhập hạ đồn xuất quỉ nhập thần của nhóm xung kích cảm tử Nguyễn Hùng Phước, mà người dân Miền Tây tặng cho danh hiệu Con Hùm Xám Miền Tây.
    Em ruột của Nguyễn Hùng Phước là Nguyễn Hùng Minh là một thợ máy từng làm giám đốc một công binh xưởng đă đem mẹ già 70 tuổi ra Bắc những mong nh́n dung nhan bác Hồ. Nguyễn Hùng Minh không có nhà ở , phải đem mẹ ẩn náu dưới gầm cầu Long Biên trong một túp lều làm bằng cạc-tông.

    Một buổi chiều như những buổi chiều, tôi ra bến đ̣ để đón tin vui. Th́ tin vui đến thật. Một người đă đưa tôi một lá thơ của em gái tôi.

    Anh Hai,

    Chị Hai đă sanh con gái. Mẹ tṛn con vuông. Má đặt tên cho cháu là Mỹ Hạnh. Chờ chị Hai cứng cáp , em sẽ đưa chị và cháu sang thăm anh.

    Em. .

    Tôi nghe như cả đất trời quay vun vút, tôi không đứng vững. Tôi đă có con. Tôi đă làm cha ! Ḍng họ tôi được nối tiếp. Tía má tôi có cháu. Tôi phải t́m ngay một người để chia sớt niềm vui. Người đó không ai khác hơn là Tư Mô.

    Chiều hôm đó Tư Mô câu được nhiều cá . Chúng tôi về nhà Ba Dành nơi tôi ở để làm tiệc . Nhà cửa từ ngày vợ chồng tôi ra đi , đă trở thành hoang tàn. Chị Ba chứa củi, nuôi gà và giă gạo xay lúa trong đó. Chúng tôi t́m vỏ dừa đốt than nướng cá. Đám con Ba Dành, học tṛ cũ của vợ tôi mừng ríu rít, tưởng thím Hai trở lại dạy học.

    Ba Dành bắt con gà gị và sai con đi mua rượu để mừng chú Hai có con. Đêm đó tôi và Tư Mô tâm sự rất dài về gia đ́nh. Chính tôi định đặt tên con tôi là Dung và tôi nhờ anh viết chữ nho để gởi về cho em gái tôi thêu trên áo con. Nhưng má tôi đă đặt cho nó là Hạnh. (Năm 1992 Mỹ Hạnh đă đỗ Cử Nhân Khoa Học – BS). Nếu tôi không cương quyết đá Bác Đảng th́ tôi vẫn phải ở rừng để chiều chiều coi khỉ cái là những mỹ nhân. Tư Mô nói với tôi một câu để đời:

    – Từ nay viết truyện chú sẽ mô tả vấn đề vợ con chính xác và sâu sắc hơn.

    Từ đó tôi không ngớt nghĩ cách bỏ Đảng Bác mà đi, miễn sao gia đ́nh tôi toàn vẹn. Mười cái Đảng và chục “thằng Bác” tôi cũng bỏ.


    B́nh Định xong Cù Lao Minh, quân Sài G̣n phóng mũi lao sang Cù Lao Bảo. Bên này đất hẹp người đông v́ cán bộ dồn cục tới đây t́m sinh lộ. Tỉnh Ủy biến mất cùng với các cháu gái đánh máy và giao liên.
    Xă Phước Long có một khu rừng lá rộng lớn mà chúng tôi đặt tên là “Đám Lá Tối Ṃ”. Trước đây bị đuổi ở Tân Hào th́ chúng tôi chạy dồn lên đây. Nhưng bây giờ nó không c̣n là nơi an toàn nữa. B52 đă thả bom bốn lần.

    Tôi và Tư Mô cũng phải tính kế thoát thân. Toàn khu Giải Phóng của tỉnh Bến Tre bây giờ chỉ c̣n lại một lỏm đất trống ở xă Thành Phong. Đó là phần đất cuối cùng của Cù Lao Minh giáp với biển Đông. Nơi đây được Hà Nội dùng làm băi đổ vũ khí của quân Bắc Việt.

    Chúng tôi tự động đi t́m trạm giao liên. Mỗi chuyến xuồng đuôi tôm chở được từ tám đến mười người, nhưng phải có giấy giới thiệu của Tỉnh Ủy, bởi v́ Thạnh Phong đă trở thành “thánh địa” của Tỉnh Ủy. Không phải ai muốn đến cũng được.
    Nhưng giao liên đi một ngày nghỉ hai ba ngày và c̣n tùy thuộc t́nh h́nh. V́ vậy nên cán bộ ứ đọng nằm lềnh khênh trong vườn ổi dọc bờ sông Hàm Luông chờ chuyến, chờ chụp, chờ chết.

    Chúng tôi đành năn nỉ. Tuy là công tác dưới quyền Tỉnh Ủy , nhưng đất nước này là xứ sở chúng tôi, chỗ nào mà chúng tôi không từng đi qua hồi chín năm? Cho nên chúng tôi đi không cần phải có liên lạc. Chỉ cần chiếc xuồng con là chúng tôi đi Thạnh Phú được thôi. Chỉ sợ ba cái hô-bo trên sông Hàm Luông. Chúng chạy như bay trên mặt nước. Khi chúng thấy th́ không lủi kịp. Chỉ bị bắt thôi.

    Chúng tôi đă xuống nước tận cùng , nhưng liên lạc nhất định giữ vững nguyên tắc. Thời may có Trưởng Ty Công An là bạn học trường quận cũ với tôi ở đâu lơn tơn đi tới. Nó đang làm thường vụ Tỉnh Ủy nữa, không biết sao nó chưa vô Trung ương mà Mười Kỹ – Nguyễn Xuân Kỹ- lại được vào, nó nói với giao liên:

    – Hai ông này là người của R. Cho ổng xuống căn cứ đi ! Tôi chịu trách nhiệm.

    Thế là hai ông cán R được hân hạnh xuống xuồng xuôi Thạnh Phú. Cùng đi với tôi có bà cô họ của tôi làm Chi Ủy ở Minh Đức. Bả đi tập huấn dưới tỉnh. Tuy là cô nhưng bả chỉ bằng tuổi tôi. Hồi 45 cách mạng đứng lên, bả cũng chỉ huy thiếu nhi như tôi thôi. Bây giờ bả vô Tỉnh Ủy , nhưng bả không dám ra lệnh như thằng Trường Ty Công An.

    Xuống xuồng chạy đuôi tôm trên sông cái mênh mông,anh Tư Mô rỉ tai tôi, ảnh nói tiếng Pháp v́ sợ họ biết :

    – Non acte de violence nghe chú Hai!

    Ư của ảnh là nếu bị hô-bo đuổi kịp bắt sống th́ ríu ríu nghe theo chớ không có chống cự. Ảnh đă dặn tôi từ trên bờ nhưng xuống ghe c̣n dặn lại cho chắc.

    Hai anh em đă từng đi trên R về tới đây, qua sông Cửu Long mấy lượt qua lộ Đông Dương mấy lần sanh tử có nhau. Tưởng về tới xứ là khỏe, ai dè lại vượt Cửu Long lần nữa. Mà lần này đi “đ̣ dọc” nghĩa là đi trên sông một khoảng dài chừng mười cây số chớ không phải chỉ băng vọt qua là xong đâu. Cái đoạn đường thủy mười cây số này có nhiều “yếu tố”, đụng ho-bo hơn những khúc trên miệt Mỹ Tho.

    Tôi cũng run gân lắm nhưng làm bộ tỉnh táo , lấy mấy trái ổi ra nhai nhóp nhép. Anh Tư khều khều tôi bảo cởi cây K54 ra đút dưới sạp xuồng. Tôi chỉ cởi ra rồi ngồi lên thôi v́ cái xuồng bể, nước vô óc ách, đút xuống đó ướt hết. Thực ra tôi không nghĩ là tôi dám bắn trả một phát nào trước họng súng lính Mỹ trên ho-bo. Ngồi lên súng là một cử chỉ sẵn sàng giơ tay hoặc nhảy xuống sông lặn thôi. Từ 1948-49 ǵ đó, tôi đă làm phóng viên chiến trường nhưng cũng chưa bắn phát nào.

    May mắn thay con đường đi “xuống căn cứ địa” hoàn toàn mỹ măn. Lên đến trạm an toàn, hai anh em mừng húm, tưởng như tới Tây Phương. Vừa bước chân lên băi đất cát êm ái th́ đụng đầu một thằng mang K54 đ̣i xét giấy. Tư Mô né ngang. C̣n tôi trờ tới, hỏi ngược lại hắn ta:

    – Đồng chí là ai? Tôi phải coi giấy đồng chí trước rồi tôi mới đưa giấy của tôi cho đồng chí coi !

    Bỗng hắn ta kêu lên:

    – Mày là thằng…

    Tôi cũng nói lại:

    – Mày là thằng… à…

    Th́ ra hắn ta là thằng “Ṭng địa” bí thư Huyện Ủy Thạnh Phú kiêm Tỉnh Ủy Viên, bạn học cùng Trại Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh hồi trước. Nó coi anh Tư Mô như đàn anh nên khỏi giới thiệu. Xa nhau trên hai mươi năm mà vẫn c̣n nhận ra nhau. Gặp thằng thổ địa này th́ đỡ nấu cơm và không phải lo hầm trốn nữa. Cứ nắm đầu nó thôi.


    Mai tiếp ...
  • 15-10-2018, 09:47 PM
    tran truong

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Về tới nhà th́ thấy đèn đuốc đỏ rực, người ta lao xao. Hai Liêm hỏi tôi:

    – Bộ ông bà nông dân lấy nhà chú làm điểm họp hành sao vậy?

    Tôi pha tṛ.

    – Đó là trường tiểu học hỗn hợp đó anh Hai. Anh có huấn thị ǵ không?

    – Tiểu học ǵ? Sao tôi chưa hay? Huấn thị cái con khỉ già .

    – Nó không nằm trong hệ thống Giáo Dục của anh nên anh không biết chớ ǵ.

    Khi vào nhà anh mới vỡ nhẽ ra , đó là lớp học của vợ tôi. Ba chục trẻ con chớ ít ỏi ǵ! Nhưng để bảo đảm sinh mạng học tṛ lẫn cô giáo, lớp học phải tiến hành ban đêm. Không có bàn ghế, không có bảng đen, không có phấn. Mỗi đứa phải mang dầu đèn và một tấm ván nhỏ để kê trên bắp vế làm bàn. Tôi lấy một tấm ván cửa dựng lên và vợ tôi có sáng kiến lấy than trong bếp thay cho phấn.

    – Rủi trực thăng soi, pháo bắn rồi làm sao?

    – Th́ cứ nằm xuống, tắt đèn, sống chết phó cho trời.

    Hai Liêm lắc đầu:

    – Cái Ban Giáo Dục của tôi đến giải tán mất. Sự thực hiện giờ Ban Giáo Dục chỉ c̣n trên danh nghĩa. Toàn tỉnh đâu c̣n cái trường nào. Giáo viên th́ đi bồi mía, gặt cấy mướn hoặc làm việc khác để kiếm sống, c̣n học tṛ th́ cha mẹ bắt ở nhà hết ráo!

    Ngày vui ngắn chẳng đầy gang. Vừa được tiền chiều nay th́ sáng mai bị chụp to. Sư Đoàn 9 hành quân trên Cao Mên đuổi Việt Cộng hơi mệt , nên t́m nơi dưỡng quân. Tội nghiệp, xă Tân Hào được chọn làm nơi nghỉ xả hơi của họ.

    Tôi đành phải chạy theo Hai Liêm và Tư Mô, bỏ nhà bỏ vợ mất ba ngày. Ba Dành là người tốt bụng nên thấy tôi vắng nhà th́ đem vợ tôi về cải trang thành cô thôn nữ lọ lem ở chung trong gia đ́nh. Một đơn vị của Sư Đoàn 9 đóng ngay trong vườn chuối của Ba Dành.

    Khi họ rút đi, tôi mới trở về, bụng phập phồng lo sợ, không biết chuyện ǵ đă xảy ra ở nhà. Chẳng ngờ vợ tôi vui vẻ và tỉnh bơ kể chuyện lại với tôi:

    – Lính Sài G̣n tinh mắt thiệt anh ạ !

    – Tại sao?

    – Họ hỏi em sao mặt mày sáng sủa vậy mà không ra thành ở ? Em nói loanh quanh một hồi, một người trong đám họ bảo: cô này là dân thành chớ đâu phải dân nông thôn. Họ thấy con anh Dành nhặm mắt, họ cho pommade xức.

    Nàng kể tiếp:

    – Họ bắt được ông Mười Đờn ở Văn Công tỉnh với cây đờn ḱm. Ổng định leo lên ngọn dừa mà trực thăng bắn rát không leo kịp.

    – Rồi làm sao?

    – Khi biết được ổng là Văn Công th́ họ bảo ông đờn cho họ nghe rồi họ thả (*)

    (*) Tôi có viết truyện này trong tập “Con Người Vốn Quư Nhất” xb hồi 1989.

    – Trời đất, thiệt à?

    Chị Ba Dành thêm vô:

    – Thiệt mà chú Hai. Cái ông đờn ḱm đầu bạc trắng. Ổng ngồi trên cối giă gạo ổng đờn lẳn tẳn con nít bu lại như coi văn công . Ổng đờn một hồi , rồi ông chỉ huy cho gói thuốc biểu về nhà làm ăn đừng theo Việt Cộng nữa, kỳ sau bắt được không tha. Việt Cộng là ai vậy chú Hai?

    Chị hỏi tôi. Tôi cười:

    – Việt Cộng là ông Ba Dành hội viên nông hội đó!

    Tôi dắt vợ tôi về nhà và móc trong túi ra cả nạm me chín lẫn me dốt. Lâu nay cô nàng thèm chua nên mỗi lần chạy, bận về, gặp me, khế, ổi, tôi đều xin đem về thưởng cho nàng. Cây me già ở Ngă Ba Giồng Chùa đă ban cho chúng tôi nhiều ân huệ nhất. Vợ Ba Sơn cũng đang mang bầu, nên thỉnh thoảng tôi lại nghe tiếng gọi từ ngoài đường vọng vô:

    – Anh Hai ơi ... đi Giồng Chùa không?

    Th́ tôi biết đó là công tác trèo me của hai thằng đàn ông sắp được làm bố. Ba Sơn là người tốt bụng vô cùng. Lúc nào chạy chụp mà có y th́ tôi khỏi lo đói. V́ vùng này toàn là bà con bên vợ y. Có nhiều bữa gặp đám giỗ, tha hồ bồi dưỡng cặp gị.

    Thấy t́nh h́nh quá căng thẳng, tôi và Ba Sơn t́m chỗ đào hầm bí mật. Chúng tôi làm được một cái. Đất giồng, toàn cát, dễ đào, lại không ngập nước. Chúng tôi chỉ dùng có một lần. Đó là lần duy nhất trong đời tôi sống dưới hầm bí mật trong ba tiếng đồng hồ. Cũng may, lính chỉ đi qua. Nếu chúng đóng quân th́ không biết cách nào chui lên. Nhớ tụi thằng Lê Anh Xuân và thằng Hồng Đức chết ngộp dưới hầm ở Long An mà ớn quá. Ba Sơn biết tôi có cây “cun” trong túi xách con nên dặn:

    – Hễ bị moi th́ ḿnh ḅ lên chớ anh đừng bắn nghe anh Hai. Để ḿnh sống mà nuôi vợ nuôi con!

    Tôi bảo thầm: Chú mày đừng lo tôi bắn. Nó vừa đến là tôi chui lên liền, không đợi mời. Tôi mà bị bắt như Mười Đờn th́ được tha tôi không về!

    Tôi luôn luôn bàn với Ba Sơn nay mai lấy nhà bảo sanh ở đâu cho vợ đẻ ? Ba Sơn cho biết y sẽ gởi vợ về gia đ́nh ở thị xă Bến Tre. Y hỏi.

    – C̣n anh?

    – Chắc cũng phải vậy thôi. Nhưng tôi gởi về Mỏ Cày.

    – Phải tính sớm đi anh ạ . Tôi coi bộ t́nh h́nh căng đến nơi rồi.

    – Nó xơi tái xong Cù Lao Minh th́ nó sẽ sang xào ḍn Cù Lao Bảo chớ chạy sao khỏi.

    – Bên này khu giải phóng hẹp hơn bên Minh nhiều.

    Muốn có vợ th́ đă có vợ. Muốn có con th́ sắp có con. C̣n muốn ǵ nữa. Còn nhiều chứ ! Muốn cho vợ con an toàn, no ấm, muốn cho gia đ́nh sống chung được một mái nhà không chồng Bắc vợ Nam. Làng tôi giờ đây nát như tương. Việc nhà việc nước không xong việc nào.

    Số là tôi có hai thằng em, thằng Tâm con cậu Bảy, thằng Đức con d́ Năm. Hai đứa thi rớt Tú Tài sợ ở lại Sài G̣n bị bắt đi quân dịch nên cậu và d́ tôi giữ chúng ở lại nhà ngoại tôi, nhưng ở lại nhà th́ lại bị Giải Phóng bắt dân công chiến trường , nên một lần, hồi ngoại tôi c̣n tại đường, tôi về thăm nhà th́ d́ và cậu tôi gởi hai em đi theo.
    Không ǵ th́ cũng nối được chí của cha mẹ , ngoài ra c̣n tránh được cái vụ quân dịch. Dân Miền Nam thời đó khổ thay. Sống giữa lưới đạn bom. Không biết phải tránh né bên nào. Theo VC th́ ăn đạn Quốc Gia. Theo Quốc Gia th́ xơi mă tấu Cộng Sản.

    Cậu Bảy tôi đă từng tham gia kháng chiến chống Pháp, c̣n dượng Năm tôi là chiến sĩ cách mạng từng bị tù Côn Đảo. Nay hai em tôi đi theo giải phóng th́ cũng xuôi chèo lắm, hơn nữa dưới sự “d́u dắt” (!) của tôi th́ vui biết chừng nào. Tôi đem gởi thằng Tâm cho chị Sáu Ḥa Phụ Nữ Giải Phóng Tỉnh , c̣n thằng Đức được Văn Công nhận vào đoàn.

    Vào đây Đức phải ḷng một cô nữ diễn viên múa . Đức muốn tôi nói dùm một tiếng. Nhưng tôi biết những cô nhảy cóc nhảy nhái này. Trong khu có câu: “Má văn công, mông hộ lư (hay y tá)” nên gạt ngang. Nó cũng biết nghe lời nên quác ra. Về sau khi đoàn chạy thục mạng qua Tân Hào th́ cậu em lại để ư một cô con nhà dân giả ở gần mé sông Cái Hàm Luông.
    Tuy cách sông như vậy, nhưng Tân Hương _ Tân Hào đường chim bay th́ chỉ chừng ba, bốn cây số. Ngày trước bộ đội anh Hai Phải từ Vàm Cái Mít băng qua Vàm Tân Hương bằng xuồng bơi trong ṿng một tiếng đồng hồ.

    Đức bèn nhờ người về Tân Hương rước d́ Năm tôi sang cưới vợ cho nó . D́ Năm tôi lên bến Tre và đi đ̣ máy xuống.

    Do đó tôi mới có dịp gặp d́ Năm tôi. Và cơ hội “ngàn năm có một”: Tôi gởi vợ tôi về nhà. Bấy giờ cái bụng của vợ tôi đă lớn. Đêm nào tôi cũng để tay lên bụng vợ tôi để nghe đứa con máy, có khi máy mạnh, có khi máy nhẹ , nhưng tôi đều nghe cả đất trời rung rinh theo “cái máy” của con tôi. Có niềm vui nào hơn niềm vui của thằng con trai sắp được làm cha.

    Chạy chụp về tới cửa, câu đầu tiên của tôi là: “ở nhà con có máy không em?” Vợ tôi đáp: “Có! Con máy hai ba lần!” Tôi cụ thể hơn: “Mấy cái mạnh, mấy cái nhẹ ?” Đêm nằm, tôi luôn luôn thủ sẵn chiếc đèn pin trên
    tay, hễ vợ tôi kêu: “Con máy mạnh đau quá!” th́ tôi bật đèn lên để nh́n con tôi máy trong bụng vợ. Thật là huyền diệu, mầu nhiệm thay , đấng Hoá Công đă tạo nên con người.

    Vợ tôi phải bỏ dạy một đêm để chia tay với đám học tṛ. Cô giáo vườn và đám học sinh ngây ngô nhếch nhác quyến luyến nhau vô cùng. Chúng khóc mùi mẫn. Con của anh Ba Dành, thằng Bút, thằng Tải, thằng Luận, con Nâu, con Yến … là những người bạn tí hon của chúng tôi trong những ngày tá túc ở đây. Chính chúng là niềm vui của vợ chồng tôi.
    Thằng Tải giỏi ngoéo cua biển. Mỗi lần bắt được một con, nó đem lại cho, chúng tôi trả tiền, nó không lấy. Nhà thằng Định có nhiều dừa khô, thỉnh thoảng nó xách đến cho chúng tôi một cặp. Đêm nào cũng vui như đêm nào , nhờ có tiếng học ê a của chúng. Bây giờ bỗng đứt ngang t́nh cảm. Tôi bảo tôi sẽ dạy tiếp theo cô giáo, nhưng sau đó tôi buồn quá lơi dần, rồi nghỉ hẳn.

    Tôi gói ghém mọi món đồ tế nhuyễn của vợ tôi dồn vào cái xách tay bằng ni-lông, gia tài chỉ có thế, rồi đưa vợ ra Thạnh Phú Đông, gần bến đ̣ máy đi Bến Tre. Vợ chồng tôi ở tạm trong nhà bà suôi sau này của d́ Năm tôi.

    D́ Năm ôm vợ tôi khóc ṛng. Đêm đó tôi không ngủ được v́ xa vợ xa con.
    Đêm chia ly, tôi nằm bên vợ tôi, tay để trên bụng vợ chờ nghe con cựa ḿnh để cảm thấy giờ phút làm cha gần hơn, để được sờ đứa con rơ hơn qua làn da bụng của vợ.

    Mới đám cưới đây mà đă có con. Lạy Trời, lạy Phật. Tôi xin đội ơn Người đă mang đến cho tôi và ḍng họ tôi một niềm vui vĩ đại mà suốt hai mươi năm theo đảng tôi đă bị chúng cướp mất.

    Tôi dặn vợ tôi đủ thứ chuyện như một bà già xưa. Nào đừng có làm công việc nặng, đừng có bước lên bước xuống thềm cao, đừng xem đánh lộn, đừng ăn món ǵ và nên ăn món ǵ.

    – Anh muốn em về đâu? Về má trên An Định hay má dưới Hương Mỹ ?

    – Má nào cũng được, miễn về nhà ḿnh th́ thôi.

    Tiếng c̣i điện của đ̣ máy văng vẳng đưa từ phía Sơn Đốc. Người đi thị xă Bến Tre lục tục kéo ra bến. Họ từ trong vườn men theo một bờ ranh lớn, gánh, xách rau cải bầu bí gà vịt, khiêng cả heo đem lên thành bán. Tiếng người tṛ chuyện, tiếng gà vịt heo ... ḥa lẫn nhau cùng với những ngọn đuốc chấp chới trong buổi hừng đông, làm thành một nét sinh hoạt đặc biệt của khu giải phóng.
    D́ Năm tôi bảo:

    – D́ đưa vợ cháu về nhà ngoại ở Tân Hương trước, d́ sẽ nghe ngóng t́nh h́nh trong Hương Mỹ , nếu êm ái ,d́ sẽ đưa nó về nhà cháu ở với má cháu. Nếu t́nh h́nh c̣n lộn xộn th́ d́ để nó ở với d́ một thời gian rồi sẽ tính sau. Chừng nào nó sanh xong, cứng cáp, d́ sẽ đem mẹ con nó qua thăm cháu. Ờ, chắc chừng đó sẽ tới đám cưới thằng Đức. Mọi việc đă xong, chờ ngày cưới.

    Đèn pha sáng rực của chiếc đ̣ máy xuyên thủng màn sương ... lù lù tới. Khách khá đông nhưng không ai chen lấn v́ nếu hụt chuyến này c̣n chuyến khác ngay sau đó. Vợ tôi gục đầu vào vai tôi, nức nở, không ra lời :

    – Anh ở lại cho cẩn thận, ít bữa em qua !

    Tôi không nói ǵ hết. Đă nói cả ngàn chuyện đêm qua rồi. Tôi rọi đèn pin lên chiếc đ̣n dài và dắt nàng bước lên đ̣. Mọi cuộc biệt ly đều giống nhau: nước mắt và hứa hẹn tái ngộ. D́ Năm tôi bảo:

    – Lên tới Bến Tre d́ sẽ ghé nhà mợ Tám và nhắn tin cho cháu.

    Nhà mợ Tám tôi bị cháy rụi trong Mậu Thân nay mới dựng lại bằng tôn gỗ của Ty Xă Hội cấp. Sau này, khi hồi chánh, tôi đi thẳng một mạch từ Châu Đốc xuống đây và bảo thằng em con mợ lên báo tin cho Bộ Chiêu Hồi.

    Đ̣ lui. Tôi nghe như chết nửa thân người. Từ trước tôi chỉ chia tay với người yêu. Lần này chia tay vợ và con. Đau khổ gấp trăm lần. Sông Hàm Luông, một trong những ngành lớn của Cửu Long Giang, tôi đă vượt qua cả chục lần từ 1945 tới nay, bây giờ tới vợ con tôi, con sông máu và nước mắt. Tuy từ đây lên thị xă , đ̣ chỉ chạy ba tiếng đồng hồ, nhưng tôi vẫn lo sợ.

    Tôi trở lại nhà nhạc mẫu em Đức, chờ tin từ Bến Tre. Chiều hôm đó, đ̣ về tới. Chủ đ̣ cho tôi biết rằng vợ tôi đă tới Bến Tre.
    Tôi càng nung nấu ư chí về thành. Một ngàn cái cách mạng, một trăm cái giải phóng này tôi cũng bỏ. Mười năm ở Hà Nội tôi trốn không thoát. Ba năm ở Miền Nam việc bỏ CS chỉ là một bước , nhưng gia đ́nh tôi c̣n ở ngoài khu giải phóng. Tôi đi là bọn du kích mừng lắm v́ chúng sẽ có cớ bắt má tôi và cướp của cải tôi. Tôi nằm ở đây ẩn nhẫn chờ quân B́nh Định hoàn thành việc chiếm đóng Cù Lao Minh là xin chào. Không luyến tiếc chút ǵ.

    Nói th́ dễ, nhưng trên thực địa th́ không. Đă lỡ , tay trót nhúng chàm rồi, khó rửa sạch, cũng như theo Cộng Sản không dễ ǵ rứt ra. Cộng Sản không rộng lượng như người Quốc Gia. Chúng là loại người đê tiện nhất thế gian. Chúng có thể làm bất cứ việc ǵ để trả thù.

    Tôi trở lại nhà anh Ba Dành với một tâm sự năo nề chán chê tê tái. Giá tôi vứt ba lô súng ngắn nhảy xuống đ̣ đi luôn với vợ tôi th́ giờ này tôi đă ở nhà mợ Tám tôi, rồi ra chợ uống nước đá, hoặc dạo chơi ở bờ Hồ giếng nước cũ Bến Tre rồi.

    Về sau, các vị trong Ban Chỉ Huy đoàn Văn Công Tỉnh đă chuồn về thị xă bằng những chuyến đ̣ máy này. Một tay là trưởng đoàn, nhạc sĩ đờn ḱm đă từng vô dĩa Pathé, một tay là bí thư chi bộ đoàn.
    Cả hai đă ngụy trang thành những ông già , rồi ră bành tô luôn. Nhiều em về nhà trong vùng Quốc Gia vừa chiếm lại, lấy chồng, nhiều em vọt thẳng lên Sài G̣n. Sau này có vài em gặp tôi. Số c̣n lại bị hốt ở Thạnh Phong, sẽ kể tới.

    Về đến nhà gặp chị Ba Dành và mấy đứa con đang quét dọn sân trước. Chị Ba hỏi.

    – Chú đưa thím ra đ̣ rồi hả?

    Đám con chị cũng hỏi làm cho tôi suưt bật khóc.

    – Thím Hai chừng nào trở lại, chú Hai?

    Tôi ṿ đầu chúng, an ủi:

    – Ít bữa thím qua.

    Tôi vào nhà, vô buồng. Hoang vắng kinh hoàng. Tôi ra sau múc nước rửa mặt. Thấy như vợ tôi c̣n đó, đứng xách nước đổ vô lu và lóng phèn để xài hằng ngày. Một lần tôi chạy chụp về, thấy vợ tôi ngồi nôn ọe bên chiếc lu. Cả tôi lẫn nàng đều không biết đó là hiện tượng ǵ. Măi sau vợ Ba Sơn mới cho biết và Ba Sơn rủ tôi đi hái me ở Giồng Chùa. Gói me, trái bưởi tôi đem về kỳ rồi, nàng c̣n bỏ lại đó , càng gợi thêm buồn. Tôi ra sân nói mấy lời cảm ơn chị Ba , trước khi dời địa điểm. Chị la lên :

    – Chú đi đâu? Thím đi về th́ chú ở đây với vợ chồng tôi chớ? Tụi nhỏ mến chú thím lắm.

    – Tôi cũng ở gần đây thôi chị Ba à ! Thỉnh thoảng tôi đến thăm anh chị và các cháu.

    Tội nghiệp con nít xóm này mới học được nhấp nhem, bây giờ không có cô giáo. Tôi phải gạt nước mắt lặng lẽ ra đi. Trong đám dân địa phương chạy chụp dù , tôi có quen với Sáu Tiến. Tiến là chi ủy viên xă, có đi học lớp đào tạo cán bộ ǵ đó trên R, có nghe Trần Bạch Đằng diễn thuyết. Tôi t́m tới y chớ không nhờ Mười Lết nữa, để nhờ giúp cho tôi một chỗ ở. Sáu Tiến dẫn tôi đến nhà Năm Tích là anh ruột của y và gởi tôi ở đó “cho có bạn” chạy với nhau. Năm Tích chỉ có một đứa con gái chừng mười tuổi . Vậy là chuyện ăn ở rất gọn.

    Tôi cố gầy dựng lại lớp học của vợ tôi để có gạo ăn, ba chục lít một tháng là một nguồn lợi rất lớn, và giữ quan hệ với bà con trong xóm, để có việc ǵ th́ được sự giúp đỡ, như đau ốm, nhất là bị thương t́m được cái gọi là “y xá” trong khu giải phóng cũng không dễ hơn ở Trường Sơn. Người ta giữ bí mật triệt để, đến nỗi thương binh t́m không ra phải khiêng trở về và đành chịu chết.

    Đó là trường hợp của em Hồng, một thanh niên ở xóm. Nhà Hồng khá giả có ruộng và nhiều đ́a ao, nơi tôi thường chọn tép đă kể trên kia. Một hôm Hồng khoe với tôi sẽ tát cái ao trước cửa nhà và mời tôi đến ăn tôm nướng. Tôi cũng đến hụ hợ để chốc nữa ăn cho mạnh miệng.

    Nước giựt xuống quá nửa ao. Bùn đất bị khuấy lên. Tôm càng xanh bị xốn mắt nổi lên quơ râu đỏ cả mặt nước. Hồng kêu cô em gái cắt rau sống và đi mua bánh tráng ở ḷ gần đó. Tất cả hứa hẹn một bữa tôm nướng đă đời. Nước c̣n chừng một gang th́ lộ đáy ao, Hồng lội xuống quơ bắt những chú tôm càng xanh đang hết nước sống. Khi ra tới giữa ao Hồng càng quơ mạnh. Tôm đầy một giỏ đ́a.


    Mai tiếp ....
  • 14-10-2018, 10:22 PM
    tran truong

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Cũng may chuyến đi trót lọt. Lên bờ mạnh ai nấy vọt. Vợ chồng tôi đi theo vợ chồng Ba Sơn. Bà bầu đi lệt bệt. Vợ tôi thông cảm nữ giới với nhau nên đi kèm. Đây là đất Thạnh Phú Đông -Tân Hào , quê hương của lực lượng vơ trang tỉnh , thời đầu kháng chiến chống Pháp do các vị tiền bối Hai Phải, Ba Kích, Năm Hà, Bảy Cống nhen nhóm và phát triển thành bộ đội lớn sau này thành trung đoàn 99.

    Về đến nhà ông nhạc của Ba Sơn th́ trời tối. Ông già làm gà đăi con gái, con rể trở về nhà và vợ chồng tôi. Sáng hôm sau Ba Sơn lên giồng t́m cho vợ chồng tôi một cái nhà bỏ hoang cách đó chừng hơn một cây số. Như vậy cũng ấm cúng. Có chạy th́ chạy chung không đến đỗi cô đơn.

    Đây là nhà của anh Ba Dành. Cũng như ông Ba C̣n bên An Thới, anh Dành bỏ nhà lớn ra ngoài đồng ở cḥi. Anh có ba đứa con nhỏ, chị lại có bầu. Xóm ấp không có trường trại ǵ hết , nên anh gợi ư cho vợ tôi mở lớp dạy học.

    Một sáng kiến vĩ đại. Anh đứng ra sửa soạn lại ngôi nhà lớn cho vợ chồng tôi ở, phần c̣n lại th́ dùng làm trường học. Thiệt là đơn sơ đến mức tối đa. Pḥng của vợ chồng tôi dựng bằng vài tấm lá trống hốc , không có cửa buồng. Bên trong chỉ có một bộ vạt tre, dây mây bện đầu đứt hết. Tôi phải sửa chữa lấy, nhưng cũng may, bốn chân c̣n rất chắc. Đó là điều căn bản. Ngoài ra tôi đi t́m miếng ván làm cái kệ, ban đêm đốt đèn để lên đó cho bớt hoang vắng.

    Nhà c̣n một cái cũi chén và cái bếp có chân cao khá tốt. Vậy là đủ. Cần ǵ hơn? Chiếu? Anh Ba cho một chiếc cũ. Gạo? Mỗi đứa học tṛ đóng một lít mỗi tháng. Có hơn ba chục em trai lẫn gái. Phân chia làm ba, bốn lớp. Đứa nào biết tới đâu dạy tới đó. Tôi hết sức lấy làm lạ, vợ tôi không tỏ vẻ phiền hà buồn bực chút nào. Nàng nấu cơm, xách nước, dạy học như công việc đă quen từ lâu.

    Bà con lối xóm thấy cô giáo siêng năng, dễ thương th́ cho dừa khô , mắm, rau ăn thêm. Tôi ít khi giúp vợ tôi phóng bài cho các em. Tôi chuyên trách một công việc khác vĩ đại hơn nhiều. Đi chọp cá tép để ăn hằng ngày.

    Dễ lắm. Tôi đi t́m một miếng lưới rách, chặt bốn cành tre suông và một khúc tầm vông. Lúc c̣n nhỏ ở nhà , tôi vẫn thường đi chọp tép ở các ao mương. Bây giờ tái hành nghề chẳng khó khăn ǵ. Gần nhà anh Dành có rất nhiều ao. Tối tối, tôi đi giăng lưới bén, sáng dậy sớm đi gỡ cá rô đem về cho vợ làm rồi vác chọp đi công tác. Gặp đàn bà đi chợ về, tôi xin vài nắm cám. Tôi ṿ vào đất sét quăng xuống ao. Một chốc giơ chọp lên, tép nhảy tưng bừng coi mê mắt.

    Ăn không hết đem phơi khô đập lấy ruột bỏ vô keo , lâu lâu rủ cán bộ địa phương tới lai rai lấy cảm t́nh. Xă Tân Hào đặc biệt có một ông phó bí thư không đi được mà chỉ lết tục gọi là Mười Lết. Chính Mười Lết cho phép tôi đóng đô ở đây và cũng tới lui giúp đỡ tôi việc này việc khác.

    Anh kể rằng thuở bé anh cũng khỏe mạnh như trẻ con khác nhưng y tá của bộ đội Bảy Cống tiêm thuốc ở mông anh nhè trúng nerf sciatique nên anh bị xụi luôn chớ không phải bẩm sinh. Tuy kém “cái bề chân đứng” nhưng lại rất đắt mèo. Một cô y tá và một cô con gái bà má Hai đeo y và có lúc ghen tương suưt choảng nhau. Người ta đồn rằng , y có bùa hoặc ngón nghề ǵ đặc biệt, không rơ.

    Nhờ gạo của học tṛ và cá tép trời cho mà vợ chồng tôi sống cũng qua ngày đoạn tháng. Một hôm vợ tôi nhớ nhà đ̣i về bên An Định. Hai đứa bàn rằng , lính đóng đồn ở dọc lộ đá ḿnh về sẽ lên vùng An Huy đồng rộng mênh mông tá túc ở nhà cô Hai của vợ tôi sống cũng được. Lính không bao giờ đi tới đó .

    Hành lư đă gói ghém xong, vợ tôi chờ tôi đi móc với đường dây là lên đường hồi hương. Sự thực tôi không muốn đi , v́ liên lạc chỉ đưa ḿnh đi tỉnh đi R chớ không dắt tới các xă. Hơn nữa đồn bót mới không biết lối nào mà tránh. Ngoài ra c̣n biệt kích nhiều như trấu. Cũng may hôm ấy trời mưa. Cô giao liên Tỉnh Ủy ghé nhà tôi đụt mưa một cách bất ngờ.

    Tôi đi t́m trạm giao liên không kết quả nên trở về nhà . Gặp cô ta, tôi hỏi thăm t́nh h́nh bên Cù Lao Minh. Cô cho biết quân B́nh Định đă chốt Cầu Sập, Cầu Ông Ng̣, Ngă Tư Giồng Vơ , chợ An Thới, sắp sửa bỏ ṿi xuống Tân Trung, Giồng Cui, Tân Huề. Như vậy là Mỏ Cày và Hương Mỹ được nối liền nhau bằng một hệ thống đồn bót đóng dọc trục lộ giao thông chính . Vợ tôi nghe vậy bảo:

    – An Huy chưa bị đóng th́ không sao!

    Cô liên lạc bèn cho biết:

    – Kỳ này nó chơi ác, đóng luôn An Huy, tại nhà bà Hai Sâm.

    Vợ tôi giật ḿnh lặng thinh hồi lâu. Tôi biết đó là nhà cô Hai, ngôi nhà lớn nhất vùng, có lần nhạc phụ tôi chở tôi lên đó ăn giỗ. Cô giao liên c̣n quơ tay:

    – Tụi B́nh Định ác thiệt. Nó đă làm xong con lộ từ An Thới lên Thành Thới nối liền Thom. Con lộ này được đắp cùng một lúc với ông Diệm xây ấp Chiến Lược. Ḿnh phá ấp Chiến Lược xong phá luôn lộ. Bây giờ đă sửa lại xe máy dầu chạy rầm rầm. Nó vừa tổ chức chạy đua cả mấy trăm chiếc từ Mỏ Cày xuống Ngă Tư Cái Quao, vô An Thới lên Thành Thới lên Thom rồi trở về Mỏ Cày.

    Tôi nghĩ bụng vậy là nó chiếm trọn Mỏ Cày rồi ! nhưng không dám nói ra.

    Cuộc hồi hương đành hủy bỏ. Nếu lơn tơn về, dám bị biệt kích bắn chết. Trước đó có một cán bộ của tỉnh đội tên là Phan Thảo v́ hiềm khích nội bộ nên bị cơ quan cho nghỉ việc. Phan Thảo bèn về quê vợ ở An Thới. Về chưa tới nhà đă bị bắn chết.

    T́nh h́nh càng ngày càng bi đát. Một bầu không khí xám xịt bao trùm lên thôn xóm. Ai nấy đều t́m đường ra thành hoặc vùng Quốc Gia mới kiểm soát. Tôi cũng nghĩ tới việc đưa vợ về quê, không phải quê An Định mà là chợ Mỏ Cày. Ở đó vợ tôi có rất đông bà con bên ngoại.

    Một bữa, Tư Mô lại ghé nhà tôi. Tôi hỏi chận đầu ngay:

    – Lại công điện R nữa hả bác nó?

    Tư Mô giới thiệu một người tóc tai chân mày bạc phếu:

    – Đây là anh Hai Liêm trưởng ban Giáo Dục tỉnh.

    Hai Liêm có vẻ hóm hỉnh. Anh nh́n quanh rồi nói:

    – Ở đây nó thường đổ quân bốn chỗ . Giồng Đồng, Bào Sen, Giồng Chùa và Thạnh phú Đông, chú em phải định
    trước con đường thoát. Đừng đợi nước tới trôn mới nhảy.

    – Dạ tôi có nghiên cứu rồi anh Hai.

    – Nghiên cứu cách nào?

    – Dạ sáng sớm tôi ăn cơm xong th́ lên quán bà Mười “đóng quân” lóng ngóng chờ chụp đặng chạy.

    Thấy vợ tôi không có ở nhà, Tư Mô hỏi:

    – Ủa, thím Hai đâu? Bộ chú gởi về nhà rồi hả?

    – Cổ tanh cơm tanh cá nằm trong buồng!

    Tư Mô cười:

    – Chú giỏi lắm! ông già bà già chú có tương lai rồi. Chú muốn trai hay gái?

    – Trai gái ǵ cũng được miễn tía má tôi có cháu bồng th́ thôi.

    – Tôi cả thảy năm đứa. Mậu Thân vừa rồi mất một thằng đực, mà chết cháy thế mới đau!

    Ba ông táo ngồi uống trà nói toàn chuyện trốn, chạy, lủi, chém vè … Tư Mô nói:

    – Lúc trước ở Thành Thới, tụi tôi bị một trái rốc kết cá lẹp phóng sém miệng hầm.

    Hai Liêm xua tay:

    – Cá lẹp bắn dai như trâu đái, c̣n phóng rốc kết th́ một phát bốn trái. Vô phước kẻ nào bị nó phóng th́ không c̣n miếng xương. Ở An Thới, anh út chủ quán gần chợ bị chụp bốn quả. Thấy ớn quá trời.

    Nh́n quanh nhà, chiếc vơng lác rách nát mắc ở gần cửa sau, anh đi tới lấy chân đá đá và cười nhếch mép:

    – Đây là cái vơng Mậu Thân. H́ h́… v́ nó chỉ c̣n có hai cái đầu, c̣n ḿnh th́ nát hết.

    Bỗng nghe đầm già “khảy đờn c̣” trên trời. Hai Liêm lại pha tṛ:

    – Buổi trưa mà ḥa nhạc kiểu đó chắc không ổn đó hai chú ơi !

    Trông ra cửa nh́n lên trời và nói:

    – Nó không liếc phía nào mà chỉ bay thẳng xuống Sơn Đốc.

    – Nó quay lên rồi “cáo… đùng” mấy hồi.

    Bỗng nghe oang oang từ trên trời vọng xuống:

    Nghe đây! Hồ Chí Minh Đă Chết!
    Nghe đây! Hồ Chí Minh Đă Chết!

    Ba người ḍm nhau, không hiểu, không tin ở lỗ tai ḿnh.

    Hồ Chí Minh Đă Chết !

    Tiếng loa giữa không trung làm rởn tóc gáy. Hai Liêm sửng sốt:

    – Chuyện ǵ vậy ḱa?

    Tư Mô bảo.

    – Để nghe vài ba lần nữa coi !

    Tôi lắc đầu:

    – Rơ rồi, c̣n ǵ nữa?

    Ba người ngồi êm rơ, vểnh tai nghe. Vẫn một giọng đó. Vẫn những tiếng đó vang vang cả bầu trời . Bỗng vài tờ giấy trắng lắc lư loạng choạng rơi xuống trước sân. Tư Mô hỏi.

    – Giấy ǵ vậy?

    Tôi chạy vụt ra lượm rồi đưa lên mắt đọc. Cũng những chữ đó. Nhưng bây giờ không chỉ nghe mà đọc cụ thể hơn: “Hồ Chí Minh Đă Chết!” Bên cạnh những chữ đó c̣n có tấm h́nh lăo già bị cái gạch chéo lấp cả mặt. Và những ḍng chữ li ti. Tôi vào nhà đưa cho Tư Mô. Hai Liêm vừa xem vừa lắc đầu:

    – Có lư nào?

    – Để chiều nay nghe BBC th́ biết.

    Tôi không nói ǵ, lấy đài ra mở liền. Tiếng nói quen thuộc vang ra từ đài Hà Nội, giọng buồn rầu kể lể:

    – Đây là bản tin liên tục phát thanh từ Đài Tiếng Nói Việt Nam! Hồ Chủ Tịch bị cảm nặng từ lâu, Trung ương Đảng đă hết ḷng chạy chữa. Các lương y Trung Quốc, Liên Xô và các nước anh em cũng được mời sang để chẩn mạch cho thuốc cho người , nhưng v́ tuổi già sức yếu cùng với những năm tù đày , bôn ba liên tục, nên người đă từ trần hồi… giờ… phút ngày 3 tháng 9 năm 1969.

    Một ủy Ban Tang Lễ đă được thành lập do đồng chí Lê Duẩn ,Tổng Bí Thư Đảng làm trưởng ban, gồm có các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp, . . . làm ủy viên. Linh cữu của Chủ Tịch Hồ Chí Minh sẽ quàn tại Phủ Chủ Tịch để các đoàn thể nhân dân và đại biểu các Đảng CS anh em trên thế giới tới phúng điếu…

    Tôi vặn nhỏ lại và nh́n Hai Liêm. Hai Liêm nói:

    – Như vậy là có thiệt rồi hai chú.

    Thấy tôi và Tư Mô không phản ứng ǵ hết, anh tiếp:

    – Ḿnh bị một cái Mậu Thân vừa rồi, bây giờ bị cú này nữa, thiệt là mậu hẩu.

    Tôi nói:

    – Kẹt cái là ổng “đi” gần trùng ngày Quốc Khánh.

    – May mà ổng c̣n chịu nổi một ngày nên rơi vào ngày 3 tháng 9, nếu “đi” vào ngày 1 hoặc ngày 2 th́ càng mậu hẩu nữa.

    Tư Mô hờ hững:

    – Trước sau ǵ cũng vậy thôi !

    Hôm đó trở đi, ngày nào đầm già cũng ở trên mây loa xuống, “Hồ Chí Minh đă chết”. Lâu lâu lại đổi dĩa kêu gọi “Anh em cán binh VC hăy quay về với chánh nghĩa Quốc Gia” kết thúc lời kêu gọi là cái điệp khúc “Chiêu Hồi hoặc là tử thần!”

    Nghe mà run từng miếng thịt chớ không phải chơi !

    Tư Mô và Hai Liêm ở lại tổng hành cḥi của tôi chơi hai ba ngày , luôn tiện cùng nghe đài Hà Nội và BBC về cái chết của ông Hồ. Trước khi từ giă chúng tôi, Tư Mô cho tôi một tin giật gân. Tư Mô hỏi tôi:

    – Chú có người cậu nào làm ở Ban Tài Chánh Tỉnh không?

    – Tôi chỉ có một người cậu đi kháng chiến với anh đó thôi!

    – Ấy tôi gặp ổng, ổng bảo ổng là cậu của chú. Quê ổng ở Cẩm Sơn.

    Tôi lẩm nhẩm một lát rồi gật:

    – Nếu vậy ông là… con của mấy ông bà bên họ ngoại tôi nhưng các cậu đông lắm tôi không biết là ai.

    Tư Mô rỉ tai tôi rồi cười vang:

    – Nếu vậy th́ có lư lắm. Hiện giờ ḿnh đang cạn “nguồn sống”. Trên R chơi vậy là hết đường tương chao!

    – Chó chơi ! Tôi ở luôn dưới này coi lăo Tư Siêng làm ǵ?

    Tôi vào buồng nói gạt vợ tôi là Tỉnh Ủy gọi đến có chuyện gấp. Vợ tôi vốn không muốn cho tôi đi đâu. Chỉ trừ buổi sáng đi lên giồng nằm khểnh trong quán bà Mười chờ chụp th́ nhảy. Ngoài ra tôi cũng không muốn bỏ vợ ở nhà một ḿnh, rủi có chuyện ǵ biết nhờ ai?

    Tôi xách chiếc túi con, giắt súng trong lưng rồi đi với hai ông già.

    Hai Liêm rất rành đường đi nước bước nên dắt tôi và Tư Mô một buổi th́ tới bờ sông Long Mỹ. Cây cầu sắt bị đánh găy gục xuống sông, mấy cái trụ đứng chôn chân giữa sông ngóng cổ kêu trời không thấu. Hai bờ sông đầy những lá dừa nước như rừng. Hai Liêm trỏ qua bên kia sông bảo:

    – Mấy giả đóng bên đó. Đi ṿng th́ xa lắm. Nhưng nếu bơi qua sông th́ đụng ngay. Các chú muốn hành thuyền hay kỵ mă?

    Tư Mô ngó tôi. Tôi hiểu ư, nói ngay:

    – Nếu mấy ổng đóng bên kia sông th́ để một ḿnh tôi “hành thuyền” cũng được.

    Tư Mô móc trong túi ra con dao sáu lưỡi rất bén luôn luôn bất ly thân cắt một cái bập lá ném cho tôi.

    – Thuyền nè !

    Tôi tự hào một cách cảm tử:

    – Không cần !

    Nói xong tôi giao đồ tế nhuyễn cho anh, cởi trần bận quần tiều tay cầm quần áo rồi phóng xuống sông bơi như đua… kiểu sải, kiểu chó và kiểu trẻ con đập tầm vũng trong mương. Lâu quá không có dịp trổ tài rái cá, nay mới gặp sông. Tư Mô thấy tôi bơi khá nhưng sợ tôi bị “vọp bẻ” nên ném cái bập lá chận đầu.

    Quả thật, anh hiểu sức khỏe của tôi đă bị Trường Sơn róc gần hết , rồi Đồng Chó Ngáp cạp cũng bộn bàng, về đồng bằng chạy đua mấy chục trận với trực thăng, nay gặp con sông Lưu Sa Hà này sợ e khó vượt.

    Tôi chỉ cảm thấy điều đó khi ra đến giữa sông, nước chảy mạnh. Nếu không có cái bập lá chắc phải vất vả và có thể bị tắp vào chân cầu. Nhưng cuối cùng nhà thể thao vẫn tới mé bờ. Tôi quay lại vẫy tay rồi bươn lên băi lá lội lên bờ đi theo sự chỉ vẽ của Hai Liêm.

    Quả thật tôi t́m được ông cậu tôi. Nhờ xưng tên tuổi mà hai cậu cháu nhận ra nhau chớ không ai biết mặt ai cả. Cậu hỏi tôi có về thăm quê cụ ngoại không? Tôi mô tả sự hoang tàn của các ngôi nhà ở Cẩm Sơn. Cậu nói:

    – Tao biết lâu rồi. Nhưng làm ǵ được! Cách mạng là như thế cháu ơi !

    Tôi hiểu sở dĩ người ta cho cậu giữ tiền của tỉnh là v́ cậu thuộc thành phần phi vô sản. Không phải người ta sẽ lấy đất đai nhà cửa của cậu, v́ c̣n đâu mà lấy, nếu cậu thụt két, nhưng đây là vấn đề tâm lư. Các ngài địa chủ đă quen giữ tiền bạc nên khi ôm một bao đầy ắp không bị lóa mắt, c̣n các ông bần cố th́ khó chưa từng thấy của, gặp bao bạc là ôm nhảy ra thành liền. Kinh nghiệm phổ biến cho thấy là thành phần bần cố tham ô bạt mạng cô hồn , vượt các thành phần khác gấp năm lần.

    Cậu hỏi tôi:

    – Mày cần bao nhiêu?

    – Biết bao nhiêu mà nói, cậu?

    – Mày có biết là ở R ra lệnh cắt sinh hoạt phí của mày không?

    – Dạ biết, đó là chuyện lâu rồi.

    – Mới đây nữa ở trên vừa tống thêm một cái công điện gắt gao hơn.

    – Nói ǵ trong đó cậu?

    – Trên đó bảo Tỉnh Ủy không cho mày ở trong tỉnh nữa.

    Tôi cười ph́. Cậu hỏi:

    – Mày mới cưới vợ mà có được tiếp tế của gia đ́nh không?

    – Cháu có gởi người về nhưng lính bao vây ngặt quá nên không ai đi tới nhà cháu cả. ..

    Cậu nói:

    – T́nh h́nh này ôm tiền nhiều không có lợi, nên Tỉnh ủy bảo phân tán. Do đó tao nghĩ tới mày. Mày cầm bấy nhiêu đây về chia cho mấy ông bạn mày với. Nên đi hai người. Có bề ǵ giúp nhau, mày đi một ḿnh nguy hiểm.

    Cậu đưa cho tôi một gói bạc và hỏi:

    – Vợ con mày bỏ ở đâu?

    – Cháu dắt theo chớ An Định bị đóng bót rồi . Ông nhạc cháu cũng chạy, cháu đâu có gởi vợ cháu được.

    – Bây giờ nó ở đâu?

    – Dạ ở bên Tân Hào.

    – Tân Hào mà ở ấp nào?

    – Dạ không biết ấp nào mà ở gần Giồng Đồng.

    – Sao lựa chỗ nó hay chụp mà ở vậy cháu?

    – Đâu có chỗ nào khác nữa cậu! ở đây đâu có bà con ḍng họ ǵ mà trú ngụ .

    – Mày tới đây bằng cách nào?

    – Dạ bơi qua sông.

    – Trời đất! Rủi chết hụt làm sao? Để tao biểu tụi nó lấy xuồng đưa cho về.

    Tôi đứng dậy tự hào lần nữa:

    – Dạ cháu dư sức bơi qua cậu à .

    Tôi trở về bờ bên kia và được hai lăo tướng đón tiếp như một anh hùng thắng trận.

    Hai Liêm cười móm mém:

    – Mẹ kiếp ngồi buồn lại gặp chiếu manh!

    Chúng tôi biếu ông bạn già một ít như một cách trả ơn chỉ đường, c̣n bao nhiêu chia đôi. Mỗi đứa được 16 ngàn trong khi gạo 30 đồng một lít. Trên đường trở lại nhà, tôi ghé quán ở Ngă Ba Giồng Chùa mua đủ thứ vừa thức ăn, thức nhẩm xà , thức uống trà , thức ph́ phà và dầu Nhị Thiên Đường, cù là, kí nính …

    Tư Mô không quên mua một chục ống Tranquinol để hằng đêm xoa dịu thần kinh. C̣n anh Hai Liêm th́ mua một chục rê thuốc giồng rọc cọng để thủ sẵn trong ba lô.


    Mai tiếp ....
  • 13-10-2018, 09:18 PM
    tran truong

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Đám cưới của tôi thật gian nan. Quân B́nh Định đă đóng lại chợ An Định làm rối loạn của sinh hoạt khu giải phóng. Đường đi nước bước thay đổi hoàn toàn. Cơ quan đua nhau lủi. Những ông cán thận trọng biết hầm hố vùng này không c̣n tác dụng nữa, nên cạy nắp hầm gói vô nilông quảy sau lưng đi t́m địa điểm mới kiến trúc cái khác.

    Nhà nhạc phụ tôi ở cách chợ chừng non hai cây số. Lúc bấy giờ tôi đang ở bên An Thới gần văn pḥng Tỉnh Ủy và Phụ Nữ tỉnh. Tôi không thể rước gia đ́nh ở Cầu Mống lên được v́ ở dưới đó quân B́nh Định cũng đă lấn chiếm, ngoại khó nhập mà nội th́ khó xuất. Gần ngày đám cưới mà tiền không có để mua nữ trang cho cô dâu.
    Đă đành là dân giải phóng nghèo kiết nhưng cũng phải giữ lễ. Tôi bèn mạo hiểm băng đồng về Tân Trung rồi len lỏi trong vườn về Minh Đức đến nhà ngoại tôi, cầu cứu với d́ Năm tôi. D́ bảo em tôi lấy nữ trang cưới của nó đưa cả cho tôi và cho tôi một số tiền mua sắm thêm “để bên đàng gái chê ḍng họ ḿnh”. Tôi gởi đó , đi Bến Tre mua thêm vài ba món cho đủ bộ.

    Chị Sáu Ḥa đoàn trưởng Phụ Nữ Giải Phóng Tỉnh đă từng mai mối cho tôi nhiều cô trong số cán bộ của chị, nhưng tôi không ưng cô nào. Do thế ngày nay nghe tôi cưới vợ là nữ sinh thành th́ có ư không vui. Chị bảo:

    – Nên coi lại thành phần.

    Tôi trả lời nhỏ nhẹ:

    – Bác vợ tôi có hai người con trai hi sinh. Cô của vợ tôi có con đi cán bộ tỉnh.

    – C̣n một cánh ở Sài G̣n th́ sao?

    – Gia đ́nh vợ tôi ở trong vùng giải phóng không có liên lạc với “họ”..

    – Để tôi xin ư kiến Tỉnh Ủy đă . V́ hiện giờ Tỉnh thay mặt cho R giải quyết việc hôn nhân cho cậu.

    Tôi hơi nực nhưng cố nén ḷng và lễ phép tối đa. Chị Sáu là Tỉnh Ủy Viên. Tôi quen hồi thời kháng chiến.

    – Dạ thưa chị Sáu, mọi việc đă do hai bên gia đ́nh chúng tôi xếp đặt cả rồi. Chỉ c̣n mời đại diện Tỉnh Ủy đến chứng kiến. Cá nhân tôi đề nghị chị thay mặt Tỉnh Ủy đến công nhận cuộc hôn nhân là đủ.

    – Ngày nào th́ em tiến hành?

    – Dạ hai bữa nữa.

    – Chờ đúng ngày sinh nhật Bác cử hành luôn cho đầy đủ ư nghĩa cậu à.

    – Dạ tôi sợ t́nh h́nh không ổn. Nên ngày nào không có chụp dù th́ ngày đó có ư nghĩa. Nếu đ́nh hoăn sợ đàng gái bắt bẻ.

    Chị biết không có cách ǵ ngăn cản hoặc đ́nh hoăn lễ thành hôn của tôi nên đành phải nhận lời đại diện Tỉnh Ủy đến làm chủ hôn đàng trai.

    Buổi lễ cử hành trong căn cḥi túm húm ở sau vườn nhà nhạc phụ tôi. Chủ tọa vừa tuyên bố lư do xong, cô dâu chú rể sắp ra tuồng th́ trực thăng tới. Từ xa đă thấy đèn rọi, chụp xuống đất dọc theo gân lộ đá tỉnh bị phá hoại từ 45 c̣n sót lại. Cả đám tiệc tắt đèn ngồi êm rơ, chờ cho trực thăng biến mất mới thắp đèn lại, tiếp tục. Mặt người nào người nấy cắt không được hột máu. Cũng may, ngoài trực thăng không có màn ǵ khác. Nếu cà-nông thụt th́ không có đủ hầm để chun.

    Đại diện Tỉnh Ủy đứng lên lặp bặp vài ba câu vừa công nhận cuộc hôn nhân vừa chúc mừng đôi tân hôn. Rồi chàng rể trao tặng cô dâu một bó hoa do bà đạo diễn của đoàn văn công tỉnh sáng tác. Thế là kết thúc. Mỗi đại diện cơ quan đến dự được ông nhạc tôi tặng một cục thịt heo rồi mạnh ai nấy hối hả ra về.

    Thế là tôi đă có vợ. Một biến chuyển lịch sử trong đời cách mạng chầu ŕa của tôi. Qua một sớm hôm một chiều , tôi đă là chồng của một người con gái.

    Khuya hôm đó đôi tân hôn phải dắt nhau băng đồng qua An Thới hăy c̣n chưa bị quân B́nh Định thăm viếng. Ông nhạc tôi bảo vợ chồng tôi đến nhà ông Ba C̣n là người quen để ở đậu. Ông Ba C̣n tuổi chỉ bằng ông nhạc tôi nhưng ông để râu dài như cụ Hồ. Nghe vợ chồng tôi đến, ông sốt sắng kêu các con trai khiêng bàn ghế, giường ngủ đến ngôi nhà trong vườn của ông cho vợ chồng tôi ở.

    Ngôi nhà ba căn đầy đủ tiện nghi, nhưng theo thời trang bây giờ th́ không dùng được . V́ nó ở trong vườn, mà vườn là mục tiêu của bom pháo. Cho nên gia đ́nh ông cất cḥi ngoài ruộng để ở tạm. Của đáng tội , cḥi cách nhà chừng trăm thước. Tuy vậy, ông yên tâm là khỏi bị trực thăng và đầm già để ư.

    Gia tài của cặp vợ chồng mới gồm có cái ba lô bao tử trâu của chồng, và cái xách tay bằng ni lông trong đó đựng vài bộ bà ba và một ít đồ tế nhuyễn của vợ. Thế là hết. Nếu muốn kể thêm th́ c̣n vài món khác như đôi dép bắt heo và cây K54.

    Vừa đặt ba lô xuống là tôi đi rảo sau vườn để nghiên cứu những tử điểm và sinh lộ. Sau nhà là Rạch Cái Chát không rộng lắm , nhưng nếu ai không biết bơi th́ nhảy xuống đó sẽ bị bà thủy mời dễ dàng. Hai bên bờ rạch là lá dừa nước um tùm. Nếu trực thăng nhảy gị ở trước ruộng th́ tôi có thể vọt qua rạch dông một hơi đến “vương quốc Thành Thới” một vùng tiếp giáp với bờ sông Cổ Chiên và bên kia sông là tỉnh Trà Vinh: Thành Thới có rất nhiều vùng đất hoang rậm ri, có thể làm nơi cho tôi dung thân vạn đại.

    Nh́n qua địa thế hiểm trở, tôi lấy làm an tâm xây tổ uyên ương trong ngôi nhà bỏ hoang này. Đoán chắc t́nh h́nh thay đổi làm cho vợ tôi suy nghĩ bâng quơ và buồn bực, tôi bèn lấy hết lập trường cách mạng ra để công tác chính trị cô nàng. Nhưng vợ tôi cười vui vẻ:

    – Em đâu có sợ lính quốc gia mà anh lo dữ vậy! Em gặp họ hoài. Họ có ǵ đáng sợ đâu.

    Tôi mừng rỡ, nói tiếp:

    – Dần dần rồi em sẽ quen với đời sống lưu động của anh.

    – Anh không phải ngại ǵ cả . Anh đi đâu em đi đó . Em biết trước cuộc sống của anh rất cực khổ nhọc nhằn nhưng em vẫn yêu anh. Em chấp nhận cuộc sống của anh và coi đó là cuộc sống của em.

    Được lời như mở tấc ḷng, tôi hôn nàng say đắm. Ở đây chúng tôi sống tiếp tuần trăng mật, hầu như quên lăng cả thế giới bên ngoài.

    Không ngày nào dài bằng ngày chúng tôi
    Không đêm nào ngắn bằng đêm chúng tôi
    Không ngày nào ngắn bằng ngày chúng tôi
    Không đêm nào dài bằng đêm chúng tôi.

    Bây giờ tôi không sáng tác Đồng Khởi mà cũng không làm thơ Bóng dừa xanh thẳm nữa. Không bóng nào xanh thẳm bằng mắt, tóc của nàng.

    Anh yêu em tuyết phủ
    Anh yêu em sông dài
    Anh yêu em núi một
    Anh yêu em đồi hai.

    Bài thơ dài vô tận c̣n nằm trong ḷng tôi chưa viết lên trang giấy. Một hôm trong lúc yêu nhau tôi nói với nàng:

    – Hai mươi năm sau con đầu ḷng chúng ḿnh sẽ đỗ tú tài.

    Chúng tôi đă thực hành được lời hứa này. Lúc nào yêu nàng tôi cũng nghĩ đến đứa con mà chúng tôi sẽ có. Để cha mẹ tôi ẵm bồng nâng niu. Đó cũng là cách tránh khỏi cái tội bất hiếu của tôi.

    Bỗng một hôm Tư Mô đến thăm tổ uyên ương của chúng tôi. Vợ tôi nấu đăi anh một tô ḿ gói. Loại ḿ này chúng tôi dự trữ hằng khối trong nhà để pḥng khi ứng dụng, nhất là khi có chụp th́ nàng nhét hai ba gói vào trong chiếc túi con cho tôi đắp đầu gối để chạy cho khỏe. Tư Mô húp xong tô ḿ rồi chậm răi móc trong túi ra nào là tiêu tỏi hành ớt tương chao nghệ ngăi bày đầy một bàn, tỏ vẻ t́m kiếm.

    – Anh t́m cái ǵ vậy?

    – Công điện ở trên Tiểu Ban R.

    – Nói cái ǵ?

    – À, đây rồi. Hồi năy tôi dùng gói bột ngọt… Ở trên bảo ḿnh về gấp.

    Tôi ngẩn người ra hồi lâu mới đọc:

    ” Tiểu Ban Văn Nghệ R gởi Tỉnh Ủy Bến Tre, Tư Mô và Hai Bùi về gấp. Tư Siêng. “

    Tôi đưa cái công điện lại cho Tư Mô. Anh bảo:

    – Chú tính thế nào?

    – Về ǵ được mà về !

    – Quân áo Đen’ đóng lan ra tới Ngă Tư Giồng Vơ rồi.

    – Anh đi ngă nào tới đây?

    – Chẳng biết ngă nào mà nói, cứ nhắm hướng càn đại tới !

    – Sao anh biết vợ chồng tôi ở đây.

    Tư Mô cười:

    – Bây giờ có vợ rồi ăn nói mạnh miệng ha ! Tôi có đến nhà ông nhạc chú. Ủa thím Hai đâu rồi? Ông nhạc chú gởi cho chú thím vài thùng đường mía.

    Tôi kêu lên:

    – Làm sao anh vác nổi. Mỗi thùng 50 kí lô lận mà !

    – Đường đă đổi ra tiền nên nó nhẹ hoe thôi, chú nó !

    – Ba má tôi mạnh hả anh Tư?

    – Mạnh hết. Nghe gia đ́nh sắp dời lên Mỏ Cày ít lâu , lính đóng đồn xong sẽ về. Bây giờ lúc tranh tối tranh sáng, bom đạn mệt lắm.

    Vợ tôi vốn quen tánh anh Tư, hễ ngồi lại là hút thuốc uống trà, nên đă nấu nước sôi. Anh Tư lấy trà ra bỏ vô b́nh:

    – Ở trên R uống trà con khỉ hộc máu, xuống đây cũng gặp nó, cho nên chúng ḿnh lúc nào cũng chạy hộc máu mồm…

    Vừa uống trà chúng tôi bàn thêm về bức công điện. Anh Tư nó́ nhỏ với tôi:

    – Có lẽ Tỉnh Ủy báo cáo lên trên.

    – Báo cáo ǵ anh?

    – Vụ vợ con của chú sao đó, biết đâu !

    Tôi phát cáu nhưng anh nháy tôi , bảo giằn lại kẻo cô nàng nghe. Tôi nói to:

    – Đường dây chắc chắn là đứt hết. Bây giờ giao liên chạy tán loạn, dễ ǵ mà t́m được trạm.

    – Đó không thành vấn đề .

    Anh lại móc đưa một tờ giấy khác, bảo:

    – Chú đọc đi !

    Th́ ra cái “thông báo” của văn pḥng Tỉnh Ủy cho hay sẽ cắt sinh hoạt phí của chúng tôi. Thật ra số tiền đó không đủ mua dấm nấu một nồi canh chua. Lâu nay về đồng bằng tôi sống nhờ sự tiếp tế của gia đ́nh nhiều hơn. Nhưng sự cắt sinh hoạt phí này có tính chất đe dọa , bắt buộc chúng tôi phải cuốn gói, chết sống băng Đồng Chó Ngáp về R.

    Anh Tư vừa nhấp trà vừa b́nh luận:

    – Đi th́ không thể, ở không xong.

    – Ḿnh cứ coi như không có cái công điện này.

    – Giỡn hoài chú nó !

    – Theo anh th́ phải quyết định như thế nào?

    Tư Mô ngồi làm thinh. Anh đă trải qua quá nhiều éo le trong cuộc đời đi theo cách mạng của anh nên gặp chuyện ǵ , dù phật ư đến đâu anh cũng phản ứng rất nhẹ nhàng, khác hẳn với ‘tôi. Có lẽ Tỉnh Ủy đă báo cáo vụ tôi cưới vợ chăng?
    Tôi vụt nhớ chuyện bác Ba Lắm B́nh Xuyên. Ba Lắm là một trong những ông tướng chỉ huy đánh trận Cầu Mống ở làng tôi. Khi ra Bắc, tôi nghe bác bỏ về phục viên với chức “đại đội phó”. Suốt chín năm không được đề bạt một cấp nào. Tôi gặp bác tại nhà bác gái ở gần Cầu Long Biên. Tôi nhắc chuyện xưa. Bác lắc đầu:

    – Thôi cháu ơi ! Dân Nam Bộ ḿnh bị hố rồi, nhớ chuyện xưa chỉ thêm đau ḷng!

    Lúc đó bác đă ngoài năm mươi mới cưới vợ. Bác gái là một bà tư sản có phố cho mướn, có con phục vụ chế độ: một là bác sĩ, một là diễn viên kịch nói. Thế nhưng bác bị ban tổ chức trung ương qui cho cái tội’ “mất lập trường”.

    Bác nói với tôi:

    – Chúng nó bỏ vợ lớn lấy con địa chủ th́ cho là khuyết điểm sinh hoạt, c̣n ḿnh lấy một bà góa bị tước đoạt hết tài sản th́ bị qui là mất lập trường.

    – Trường hợp của tôi th́ sao? Sao th́ sao. Mặc ! Tôi không sợ ǵ nữa. Muốn kỷ luật ǵ th́ kỷ.

    Tư Mô rỉ tai tôi:

    – Hai Tranh phó bí thư Tỉnh Ủy vừa bị bắn chết ở Đồng Chó Ngáp!

    – Tin ở đâu vậy?

    – Tin hành lang. .

    – Thằng chả đi đâu lên đó?

    – Đi lên R để nhận chỉ thị cho t́nh thế mới ǵ đó !

    Anh Tư nói vậy th́ có nghĩa là không thể về, không nên về , đừng về .

    – Tụi nó sẽ đóng bít hết Cù Lao Minh. Không biết rồi ḿnh chạy đi đâu.

    – Bộ đội không “gỡ” được cái đồn nào hay sao?

    – Chú không biết là trong Tết bộ đội ḿnh bị thiệt hại bộn à ?

    – Nó sẽ bỏ ṿi vô tới chợ An Thới. Ḿnh lại phải đi khỏi chỗ này.

    – Qua Thành Thới trú tạm ít lâu vậy. Ở đó có hai ấp An Trạch Đông và An Trạch Tây c̣n độc lập.

    Sau đó anh t́m nhà một nông dân ở đậu, nhà ông Năm Triều, ngày ngày bắt nhái, làm mồi câu cua sinh sống, chớ không ở với chúng tôi. Anh không muốn quấy rầy cặp vợ chồng mới.
    Ngày nào tôi cũng thấy hàng đàn dân chúng , cán bộ đi qua đi lại trước cửa nhà tôi, như kiến động ổ. Quả thật không bao lâu, quân B́nh Định bỏ ṿi vô An Thới.T́nh thế bi đát vô cùng. Tôi định đưa vợ tôi về với gia đ́nh ông nhạc để nàng lên Mỏ Cày ở tạm. Như vậy th́ càng mất lập trường. Nhưng vợ tôi không chịu đi.

    – Anh đâu em đó !

    Thế là vợ chồng tôi đành phải bỏ cái tổ êm ấm này chạy qua Thành Thới . Chỉ hôm sau là quân B́nh Định chiếm luôn An Thới không có một phát súng phản ứng.

    Tưởng rằng t́m được nơi héo lánh mà ẩn thân chẳng ngờ qua đó lại đụng đầu cán bộ lụp cụp. Càng rủi hơn lại chạm trán tên Nhái bén. Hắn có vẻ không bằng ḷng nhưng chẳng dám nói ǵ. V́ đất này đâu phải của riêng ai.
    Thấy tay chân mặt mũi vợ tôi không hạp với sinh hoạt nông dân, tôi phải t́m quần áo phèn cho nàng mặc. Ngoài ra tôi c̣n dặn:

    – Nếu có gặp lính chụp th́ em cứ nói em là cháu của Tổng Cường, dượng rể ở quận Hương Mỹ.

    Nàng cười:

    – Anh sợ lính chớ em không sợ đâu. Hồi trước em gặp họ hoài mà.

    Chúng tôi may mắn gặp một anh bạn do Tư Mô giới thiệu. Đó là Ba Sơn, người ở thị xă Bến Tre. Ba Sơn làm việc trong ban Điện Đài của Tỉnh Ủy. Ở cơ quan này c̣n có anh Hồng là con của cô vợ tôi. Anh Hồng có đến hỏi thăm chúng tôi qua loa rồi biến mất. Chúng tôi không nhờ cậy ǵ được . Một hôm Ba Sơn bảo tôi:

    – Anh chị phải đi qua bên Cù Lao Bảo mới yên. Tỉnh ủy sắp “lui ghe” rồi.

    Nghe câu nói đó tôi mọc ốc đầy ḿnh. Cưới vợ xong, chưa gặp lại gia đ́nh, cũng không cho vợ về thăm. Vợ tôi làm sao vượt sông Hàm Luông nổi ? Cô nàng có chịu bỏ xứ mà đi lưu linh như tôi không? Qua đó tứ cố vô thân, lấy đâu làm nguồn tiếp tế?

    Nhưng may quá, nàng vẫn cương quyết “anh đâu em đó”. Thế là cuộc trường chinh bắt đầu. Ba Sơn cũng có một cái “rờ-moọc” đeo sau lưng như tôi mà lại đang trọng tải “một trái bầu” khá to. Đường đi thuộc ḷng , do Ba Sơn hướng dẫn trên con đường “Ba bước lội” (nói nhại tên xă Đa Phước Hội) không có khúc nào khô ráo được vài thước, toàn bùn śnh và cầu kỳ quái gở. Nhưng vợ tôi cũng cố mím môi mím lợi mà lội với t́nh cảm “Chàng đi theo nước, thiếp theo chàng!”

    Riêng tôi đă phải vượt sông Cửu Long năm bảy lần rồi, bây giờ thêm một lần nữa cũng chẳng sao. Trước khi bốn ông bà xuống chiếc ghe tang thương, anh giao liên khai thông tư tưởng bằng một giọng lạnh như tiền:

    – Bến này đă bể. Đầm già vừa phóng pháo hôm qua. Chúng tôi đi chuyến này là chuyến chót. Đuôi tôm chạy không bảo đảm. Nếu ra giữa sông mà chết máy th́ yêu cầu các đồng chí bơi tiếp. Nếu đầm già hoặc trực thăng tới th́ các đồng chí tự lo liệu lấy…

    Chúng tôi đành cắn răng nhắm mắt mà bước xuống ghe . Hành thuyền kỵ mă tam phân mạng. Đó là thuyền b́nh thường, c̣n đây là thuyền giao liên th́ thập tử nhất sanh.


    Mai tiếp ....
  • 12-10-2018, 08:31 PM
    tran truong

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    T́nh h́nh sau Mậu Thân càng găng tới. Không có ngày nào vùng này yên ổn. Cứ vài hôm lại chụp một phát. Lại c̣n thêm tiết mục mới là trực thăng soi. Ban đêm nó đang bay trên đầu, ḿnh đi dưới đất hoặc bơi xuồng, chạy đuôi tôm trên sông, yên chí lớn là nó không thấy ḿnh, nhưng bất th́nh ĺnh nó bật đèn lên sáng choang, con kiến ḅ cũng rơ. Nếu có bụi rậm th́ lủi vào. Nhưng đi giữa đồng trống th́ ḷi lưng. Nó xả súng bắn, hoặc táo bạo hơn, nó đáp xuống chĩa súng bắt.

    Ngoài ra lại c̣n có tin đồn quân B́nh Định trở lại. Ruột rối như tơ ṿ . Một buổi chiều êm ả duy nhất từ mấy tháng nay, tôi đi thơ thẩn trên bờ ruộng sau nhà má, mắt ngó về phía vườn chuối xanh trong đó ẩn nấp một mái lá . Dưới mái lá đó là bóng hồng thân thuộc lâu nay.

    Tôi lẩm nhẩm bài Lỡ Chuyến Đ̣ của Anh Việt. Anh Việt là bạn của hai ông bạn nhạc sĩ của tôi thời kháng chiến: Thanh Cao và Thanh Sử. Hai bạn này thường nhắc đến Anh Việt (không đi kháng chiến). Đặc biệt hai bản nhạc bất hủ của Anh Việt được Thanh Cao và Thanh Sử chơi Hạ Uy cầm và violon c̣n tôi th́ solo luôn. Hai bài đó được cán bộ kháng chiến rất mê . Đến nỗi trong tập nhạc cá nhân của thằng nào cũng có, cơ quan phải cấm nhưng càng cấm cán bộ càng hát lén dữ dội. Tôi chỉ c̣n nhớ được vài câu:

    Chiều vàng lại đem mong nhớ tiếc thương bóng con đ̣ xưa
    Và chiều chiều thôn nữ vấn vương…

    Tôi bỗng bật cười khi hát, ḿnh là khách lỡ chuyến đ̣ vừa là nghệ sĩ. Nghệ sĩ lỡ chuyến đ̣. Chuyến này không phải là thứ nhất. Cả chục chuyến rồi. Chuyến nào cũng sắp sang nhưng rồi không sang được. V́ hoàn cảnh éo le. Nếu t́nh thế b́nh thường th́ cha mẹ tôi đă có cháu lớn rồi. Khi tía tôi bằng tuổi tôi bây giờ th́ tôi đă học trung học.

    Chiều buồn mênh mông. Nhớ nhà, nhớ những kỷ niệm Hà Nội. Nhớ người đàn bà đă có chồng mà muốn ly dị chồng để yêu tôi. Chỉ dấn thêm một bước nữa là thành. “Em yêu anh như yêu mối t́nh đầu” Ácxinha nhân vật của Cholokhov trong Sông Đông Êm Đềm có mối t́nh bốc lửa với một anh chàng đă có vợ là Gorigôri làm anh chàng này không dứt ra được. Đàn bà khi đă yêu th́ t́nh yêu vô cùng quyết liệt. Chỉ đàn bà mới biết yêu và phục vụ t́nh yêu.

    Tôi ngồi giữa đồng, không muốn vào nhà nữa, nhưng sực nhớ chiến thuật soi cá của trực thăng nên vội vă men về vườn. Vào nhà thấy má vừa đốt đèn, mặt má tươi rói:

    – Mày đi đâu năy giờ tao kiếm không được.

    – Dạ con ở ngoài ruộng.

    – Mai mày chuẩn bị đi nghe !

    – Dạ chuẩn bị ǵ vậy má ?

    – T́m người đi về móc gia đ́nh.

    – Chung quanh Cầu Mống bây giờ lính bủa vây đâu có ai đi lọt, má !

    – Vậy th́ làm sao?

    – Có việc ǵ quan trọng vậy má?

    – Chuyện của mày chớ c̣n chuyện ǵ nữa!

    Tôi ngớ ra, má nói tiếp:

    – Người ta chịu gả rồi, nhưng người ta đ̣i phải có người của gia đ́nh mày đến.

    Tôi ngẫm nghĩ một hồi rồi hỏi:

    – Nhưng ai vậy má?

    – Th́ c̣n ai nữa? Thằng bác ruột nó biết bên gia đ́nh mày. Tao nói hết gốc gác của mày th́ bác nó bảo là tưởng ai chớ ông già mày là bạn đá gà của nó hồi trước. Nó c̣n xúi ông già con nhỏ: “Tưởng ai th́ c̣n điều tra chớ chỗ đó th́ nên gả!”.

    Nghe má nói tôi tưởng chừng một cú sét đánh bên tai mà cái búa Thiên Lôi làm bằng một đóa hoa hồng. Nhưng gia đ́nh đồng ư c̣n đối tượng th́ sao?

    Ít lâu nay tôi không côn trông thấy nàng thấp thoáng trong mấy bờ mía nữa. Tôi phải t́m cách gặp nàng để xem t́nh ư. Nàng không sang nhà má Bảy, th́ tôi phải đến nhà nàng, nhưng với lư do ǵ? Không có lư do ǵ cả.

    Ngày ngày tôi cứ ngẩn ngơ. Vẫn ngồi ở bàn làm như sáng tác, nhưng sự thực th́ chỉ “sáng tác” thư t́nh và thơ t́nh. Có khi cả chục trang viết xong mà không biết làm sao đưa. Nàng có mấy đứa em trai ra vào ngôi nhà lớn của nàng ngang nhà má Bảy. Ngôi nhà nay đă dỡ đi cột kèo xếp lại chở về Mỏ Cày để gởi bà con giữ giùm.

    Trong nền nhà đó, ban đêm tôi lén đào chôn chiếc thùng tiểu thuyết của tôi. Trong vườn chuối của gia đ́nh nàng, tôi cũng đă đào một cái hầm bí mật. Mấy đứa em nàng đi bắn chim, hái ổi t́nh cờ lại t́m thấy cái nắp. Chúng bèn kêu nàng ra xem. Tôi thấy thế bèn chạy sang. Biết là hầm ḿnh bị lộ nhưng lại có dịp gặp nàng. Thấy tôi đến mấy đứa bé nh́n tôi bằng cặp mắt ḍ xét rồi lần lượt chúng lảng tránh. Tôi tưởng nàng cũng đi theo đám em, chẳng ngờ nàng đứng lại. Đây là cơ hội ngàn năm có một. Tôi hỏi:

    – Sao lâu nay không thấy em ra đánh lá mía nữa?

    Nàng nghiêm nghị đáp:

    – Phải chờ một tháng mới có lá khô.

    – Lâu quá vậy?

    – Phải chờ, nếu sốt ruột th́ lá non không đánh được.

    – Bờ nào cũng vậy sao?

    – Em đánh qua lượt hết rồi.

    Tôi đă thủ sẵn một xấp cả chục lá thư nhưng không dám đưa. Sợ người ta không nhận. May sao nàng lại hỏi:

    – Anh có làm tiếp bài “Bến Tre xanh thẳm bóng dừa” không ?

    – Có, đây nè, em có muốn đọc tiếp không?

    Tôi vừa hỏi vừa đưa ra. Nàng hơi lưỡng lự rồi nhận xấp giấy từ tay tôi.

    – Sao lâu nay em không sang nhà bà Bảy chơi nữa?

    Nàng ngập ngừng một chút rồi nói:

    – Em qua, bà nói chuyện ǵ kỳ quá hà!

    – Chuyện ǵ mà kỳ?

    Nàng đỏ ửng mặt, tay bứt mấy chiếc lá ổi non ṿ nát mà không nói ǵ. Tôi hỏi:

    – Chuyện ǵ, đâu em kể lại cho anh nghe với, được không?

    – Bà hỏi em có chịu đi chờ Cầu Mống không?

    – Chợ Cầu Mống th́ cũng như chợ Cái Quao, chợ Mỏ Cày vậy chớ có ǵ mà kỳ.

    Nàng dậm chân nhè nhẹ:

    – Không phả…ải. Bà có ư khác.

    – Ư khác là ư ǵ?

    – Mà thôi bỏ qua đi. Em nhờ anh giúp chuyện này một chút.

    – Chuyện ǵ nói đi!

    Tôi mừng rơn trong bụng. Chuyện lên trời xuống biển ǵ mà không nhận? Nàng nói:

    – Ở xă muốn em dạy học. Em biết ǵ mà dạy. Nhưng ba em đă nhận lời rồi.

    Tôi bảo:

    – Em dạy được mà. Trẻ con ở thôn quê ít học lắm.

    – Em dạy ǵ nổi ba lớp một lúc. Em đâu có từng làm cô giáo.

    – Em dư sức dạy mà. Em cứ bắt đầu, rồi anh giúp cho.

    – Bộ trước đây anh có dạy học sao mà giúp?

    – Không. Nhưng dạy con nít khó ǵ.

    Nàng giở xấp giấy ra liếc qua và nói:

    – Thơ ǵ mà nhiều dữ vậy?

    – Thơ của anh làm.

    – Giải Phóng mà cũng biết làm thơ sao?

    – Biết chớ.

    – Vậy em nghe báo thành nói Giải Phóng rừng rú, dă man, ốm yếu ba người đeo một tàu đu đủ không rụng.

    Nàng che miệng quay ngang. Tôi bật cười to lên rồi hỏi:

    – Như anh vầy, em coi có dă man không?

    Nàng cười và lắc đầu. Thỉnh thoảng nàng đi đâu về, ghé nhà má nói chuyện với tôi. Má thấy chúng tôi xưng hô “anh, em” với nhau ngọt ngào, bèn bảo cô nàng:

    – Hổm rày tao thèm bánh mà không biết bánh ǵ, sẵn có cháu đây làm một món!

    Nàng lắc đầu:

    – Cháu không biết làm bánh ǵ hết.

    – Ờ phải, con gái ở chợ, muốn ăn bánh th́ đi mua. Vậy thôi làm kẹo bẹ chuối ăn uống trà đỡ đỡ.

    – Cháu cũng không biết nữa.

    – Bà chỉ cho làm!

    Rồi không đợi cô bé đồng ư, má lấy dao nạy đường mía trong hũ ra để trong soong chụm lửa và dặn:

    – Cháu ngồi coi chừng để bà đi cắt ít cái bẹ chuối.

    Thấy tôi đứng xớ rớ bên cạnh, má lại trách:

    – Con trai không biết làm ǵ hết, nữa có vợ, vợ nó bảo nấu cơm kho cá không biết làm nó đánh đ̣n.

    Tôi cười:

    – Con nấu cơm giữa trời mưa c̣n chín đó má ạ !

    – Vậy th́ ở đó phụ với người ta nấu nước đường, đừng để cho khét.

    Nàng cúi nh́n lửa, đôi má đỏ rần. Tôi rón rén ngồi xuống cách nàng xa xa. Thỉnh thoảng lại rút một thanh bă mía khô đưa cho nàng. Nàng đưa tay lấy mà không quay mặt lại nh́n tôi. Thấy nàng nhận sự ngồi gần của tôi, tôi bèn nhích tới chút, rồi lấy chiếc muỗng đưa cho nàng, bảo:

    – Em khuấy lên cho đều kẻo khét.

    Nàng cũng làm theo tôi bảo nhưng vẫn không nh́n tôi. T́nh yêu có mắt sau lưng. Tôi thấy trán nàng rươm rướm mồ hôi bèn đi lấy chiếc khăn của tôi đưa cho nàng:

    – Em lau mồ hôi đi !

    Nàng đưa tay quệt ngang trán chớ không nhận khăn. Tôi hơi bối rối trước sự từ chối nho nhỏ đó, định bụng t́m kế khác nhưng má đi vào, tay cầm một mớ bẹ chuối. Má bảo cô nàng:

    – Để đó bà coi chừng, cháu di ra cái tủ ngoài vườn lựa lấy vài cái dĩa đem vô đây đổ kẹo.

    Nàng vừa đi th́ má lại bảo tôi.

    – Con ra phụ với nó. Chén dĩa để lộn xộn lắm. Không dám để trong nhà v́ sợ cháy nhà tiêu hết. Mau lên, con trai ǵ không sáng trí.

    Tôi hiểu ư má bèn nhanh nhẩu đi theo nàng. Chiếc tủ đứng giữa những bụi chuối. Nàng sợ rắn không dám chen vào Tôi xung phong thay cho nàng. Tôi lấy chén dĩa đưa ra nàng cầm lấy xếp dưới đất. Đến vài lần nàng vừa đưa tay ra để nhận th́ tôi cầm chặt lấy rồi bất thần tôi hôn. Rồi hôn luôn trên má nàng. Mặt nàng đỏ rần. Nàng lí nhí trong miệng:

    – Bà Bảy thấy mét ba.

    – Không thấy đâu.

    – Bà ra kia ḱa.

    – Bà không rầy đâu!

    Tôi lại hôn lên má nàng những cái hôn thật dài. Chúng tôi không nói ǵ với nhau. Chúng tôi hôn nhau. Hôn chính là lời nói, lời thơ. Thơ nào, lời nào nồng nàn bằng những cái hôn mở ngơ một cuộc t́nh.

    Chúng tôi đi vào. Má bảo nàng để ngửa những bẹ chuối trên ván lấy dầu dừa thoa lên và bảo tôi lấy muỗng múc nước đường đổ từ từ lên những bẹ chuối, với sự điều khiển của má, nàng cầm đũa khuấy cho đường kẹo lại. Má bảo:

    – Kẹo tốt lắm. Vậy là thành rồi.

    Rồi má xách cái soong ra ao cạo rửa. Tôi bắt ngây nên t́m cách hôn nàng. Tôi nh́n những vệt trầy trên tay nàng và hỏi:

    – Tay em sao vậy .

    – Lá mía cắt.

    Tôi bất thần cầm lấy rồi hôn luôn. Rồi đưa lên miệng mút những ngón tay dính đường. Nàng đẩy nhẹ tôi ra:

    – Bà Bảy vô ḱa!

    Má nhắc lại lần nữa.

    – Kẹo dẻo chớ không loăng. Vậy là thành rồi !


    Mai tiếp ....
  • 11-10-2018, 08:57 PM
    tran truong

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Một buổi sáng tôi thức dậy như thường lệ . Tôi ra bờ mương ngồi nặn kem Hynos sửa soạn khoát nước súc miệng th́ có một bóng hồng lướt qua. Quái nhỉ. Ở đây sao c̣n sót một nàng tiên như thế này. Chẳng lẽ tôi quáng manh. Tôi đánh răng xong vào, hỏi má Bảy:

    – Ai vậy má?

    Má vọt miệng nói ngay:

    – Cháu tao chớ ai.

    – Ủa, sao lâu nay con không thấy.

    – Nó học trên tỉnh ... chớ ở nhà đâu mà mày thấy được? Ở trển lộn xộn quá, nên tía má nó không cho trở lên nữa.

    – Qua chiến dịch rồi đâu có ǵ lộn xộn nữa má.

    – Ai chắc được. Thời này ở đâu cũng không yên. Ở thành th́ mấy ông bộ đội đánh vô, c̣n ở ruộng th́ lính đánh ra. Dân ở giữa chạy đàng nào cũng không khỏi.

    Thấy má Bảy hơi nguôi buồn về cái chết của thằng Rô, nên tôi bắt chuyện:

    – Ít lâu đây rồi yên hết má à. Cỡ thằng Rô Con lớn lên sẽ được đi học.

    – Thôi đi mày ơi ! Người ta hứa một trăm lần rồi. Không có lần nào đúng hết. Bây giờ tao nghe ai hứa tao để ngoài tai.

    Hai mẹ con đang trao đổi ư kiến về cách mạng th́ một ông cán bộ bước vào. Đó là ông Trần Thành, phó bí thư xă Ủy, cháu kêu má bằng cô. C̣n ông Xă Ủy, kẻ hội ư cùng tôi “vụ trật dấu” th́ lặn luôn không dám tới.

    Thấy Trần Thành bước vô, má bỏ vào buồng. Trần Thành nói chuyện với tôi một chập rồi cất tiếng:

    – Cô Bảy! Bữa nay ngoài xă làm lễ truy điệu, cháu thay mặt Xă Ủy tới mời cô ra dự.

    Má làm thinh. Trần Thành tiếp:

    – Bữa nay làm long trọng chớ không phải đơn sơ như mấy lần trước. Có tỉnh xuống dự. Sau đó có văn công biểu diễn.

    Má vẫn không trả lời. Trần Thành bèn tỏ sự quan tâm của cách mạng đối với gia đ́nh tử sĩ, tiếp:

    – Vợ con của thằng Rô được Mặt Trận lo. Con nó sau này sẽ đi học Liên Xô Trung Quốc. Cha hi sinh con hưởng. Cô đừng buồn. Chiến dịch đánh vô thị xă vừa rồi bộ đội hi sinh đông lắm. Cả bốn năm chục chớ phải ḿnh thằng Rô đâu. Gia đ́nh anh Sáu có đến ba đứa hi sinh. Thiệt là oanh liệt. Tổ Quốc ghi công, c̣n Mặt Trận sẽ phát bằng “gia đ́nh vẻ vang” cho cô tại buổi lễ.

    Má bước ra xỉ mặt Trần Thành:

    – Nó chết cũng tại mày.

    – Nó yêu nước th́ nó đi tôi đâu có xúi biểu ǵ.

    – Ngày nào mày cũng tỉ tê , cho nên nó mới bỏ vợ con nó đi. Bây giờ đó, mày làm mày nuôi vợ con nó.

    – Tôi hứa với cô, cô ra dự lễ là cô phấn khởi liền.

    – Mày làm sao thằng Rô sống dậy th́ tao đi. Tụi bây khôn lắm. Con cái của bây , bây giấu trong buồng c̣n con cái người ta th́ bây xúi đi cho chết. Mày với thằng bí thư bí thiếc ǵ đó đều học một sách. Dân công cũng không, bộ đội cũng không. Ai chết chớ con cái bây đâu có chết mà bây lo. C̣n thằng nhỏ mới biết đi đó, xúi nó đi bộ đội luôn cho mát bụng bây.
    Tao đă nói với bây găy lưỡi. Là tao có một đứa con trai, để nó ở nhà làm lụng nuôi tao, đẻ con nối ḍng cho dượng mày, mày nhất định đẩy cho nó vô bộ đội. Vinh quang lắm. Bây giờ mày ăn cho hết cái vinh quang đó đi. Tao không có đi dự lễ truy điệu truy điếc ǵ hết, đừng có mời mất công.

    Trần Thành đành tiu nghỉu ra về.

    Đường mới ai ơi đời mới
    Tuổi thanh niên như nàng xuân đang reo cười
    Nghe nhựa sống dâng trào
    Đời mới ai ơi ḷng ta sục sôi với tuổi hai mươi
    Yêu mến vâng ư Bác Hồ
    Vượt qua bao gian khổ.

    Tội Lưu Hữu Phước lớn lắm v́ những bài hát loại xúi giục này. Thanh niên chết ngập Trường Sơn v́ bài hát này. Trần Thành về rồi má nói với tôi:

    – Tụi này gian lận dữ lắm. Nó nắm chỉ thị nên khi nào sắp bắt dân công hoặc kêu thanh niên ṭng quân th́ chúng nó cho con cái giả đau hoặc đi “thăm ngoại thăm nội” đến hết đợt bắt mới về . Gia đ́nh tụi nó có sứt mẻ chút nào đâu!

    Rồi má quay lại chuyện nàng tiên lúc năy:

    – Con nhỏ coi được đến. Ḍng họ của ông Bái Khải. Tao có bà con với bà nội nhỏ sắp này nên tụi nó cũng kêu tao bằng bà . Ḍng họ này cũng đi hàng hai, một cánh ở Sài G̣n, có đứa làm tới bác sĩ, có đứa dạy học hoặc làm phạm- nhe (lâu lắm tôi mới nghe tiếng phạm-nhe (y tá) – Tây gọi là infirmier). C̣n một cánh theo giải phóng mạnh lắm. Thằng thứ sáu có tới ba đứa con đi bộ đội. Kỳ trước truy điệu một lượt hai thằng. Vợ nó ngất xỉu, nhưng không tởn cho hai thằng đi tiếp. Nó choàng vải dù mang ba lô đi qua đi lại đường này hoài. C̣n một thằng thứ hai cũng có con đi làm ǵ trên tỉnh lớn lắm!

    Tôi chưa kịp nói ǵ th́ má tiếp:

    – Mấy bữa mày viết rồi đầm già tới mày bỏ quên giấy trên bàn, con nhỏ tới nó lén đọc. Hai ba lần như vậy, lần vừa rồi nó ra đây, nó không thấy mày, nó mới hỏi tao vậy chớ mày làm ǵ ? Tao bảo nó là cán bộ giải phóng chớ c̣n làm ǵ nữa mà hỏi. Nó hỏi giải phóng mà ngành nào? Tao nói tao thấy nó viết viết tối ngày và có cả thùng giấy, chớ tao không biết nó làm ǵ. Trước đây có một thằng ở đâu trên R xuống định “quây phinh” thằng Út Bùi bên cạnh. Hai đứa nó bàn việc làm phinh với nhau.

    – Rồi cổ nói sao, má?

    – Nó nói mày làm thơ phú ǵ đó phải không? Tao hỏi sao nó biết? Nó nói nó có đọc tờ giấy trên bàn. Mày viết Bến Tre ǵ đó.

    – Dạ “Bến Tre xanh măi bóng dừa”.

    – Ừa, hổng chừng đó đa ! Mà thôi nói gần nói xa hổng qua nói thật. Mày chịu con nhỏ không? Hễ chịu th́ tao mần mai cho. Mày ở đây lâu nay trong vùng ai cũng biết, không có mang tiếng mang tăm ǵ.

    Tôi không thấy mặt mũi cô nàng nhưng đoán chắc cô cũng khá gái. Dù ǵ người ta cũng là học sinh thành phố chớ đâu có lội bùn dang nắng dầm mưa như ḿnh. Nhưng c̣n dè dặt :

    – Ở thành khó lắm má ơi!

    – Khó cái ǵ mà khó ! Má hỏi thiệt con, con ra ngoài Bắc, con không có vợ có con ǵ hết phải không?

    – Dạ không.

    – Có dính với cô nào không?

    – Dạ cũng không.

    – Chắc phải không?

    – Dạ con đâu có dám nói dối với má !

    – Mày là con nhà tử tế. Thấy cách ăn nói đi đứng của mày tao biết mày là đứa đàng hoàng. Có mấy thằng về đây đ̣i hội mẹ cưới vợ. Cưới xong th́ ḷi cái mặt lường gạt ra.

    – Bộ bà lớn ở ngoài đó đi tàu lặn vô được sao má?

    – Không phải bà lớn bà nhỏ nào vô đây, mà tụi bạn của thằng đó bất ngờ nói lộ ra.

    – Cái tuồng đó ở ngoài Bắc ḱa mới có nhiều má ạ. Chớ trong này dù có cũng chỉ lai rai thôi.

    – Ở Bắc sao có nhiều vậy?

    – Dạ mấy bà phụ nữ trong ḿnh hay gác máy bay. Thấy mấy cán ngoài Bắc vô trong này , được bọn cùng phe cấp cho ghe bốn chèo, có xây lố cố theo hầu hạ, th́ mê, không điều tra kỹ lưỡng, a thần phù nhào vô hốt đại. Trời bất dung gian đảng , về ngoài đó đụng bà già trầu! Thôi bỏ đi má ơi, nhắc tới mấy chuyện đó nhức đầu dùm chị em ta lắm.

    – Ừ vậy mày đă biết phải quấy, th́ tao tin, tao làm mai cho.

    – Cha mẹ con ở ngay dưới Cầu Mống kia mà , lo ǵ má ! Con gạt ai chớ chẳng lẽ con dám gạt cả má và cha mẹ của con.

    Má Bảy hỏi gặng:

    – Mà mày chịu con nhỏ thiệt không?

    – Dạ… phần con th́ xong rồi. Chỉ sợ người ta không ưng con thôi !

    – Thời buổi chiến tranh chết chóc này, con gái lớn lên là cha mẹ mong gặp mối gả liền, chẳng có ai muốn giữ trong nhà làm ǵ. May mà con nhỏ chạy về được chớ nếu kẹt ở trên th́ đạn lạc tên bay không biết đâu mà tránh. Bởi vậy ba má nó không có cho trở lên học nữa.

    – Dạ nếu cô ta đ̣i đi th́ làm sao?

    – Ông già nó nghiêm lắm, nói không là không. Mày muốn coi mặt nó cho rơ không?

    – Dạ . . . nhưng mà làm sao, má ?

    – Mày biết con chị nó ở ngoài chợ không? Con nhỏ có tiệm vải ngoài chợ sát vách tiệm con sẩm lai đó.

    – Ủa, chị của cô ta?

    – Đó là chị Hai, nó thứ Ba. Chị nó sao th́ nó như vậy. Hai đứa đứa nào cũng ngộ hết. Để bữa nào nó đi đánh lá mía, tao kêu qua đây cho mày nói chuyện. Nó ở thành, dạn dĩ chớ không có nhát như con gái vườn đâu.

    Tôi có thấy chị Hai của nàng bán vải ngoài chợ. Tôi hỏi:

    – Học sinh thành mà cũng chịu làm vườn nữa sao má ?

    – Học th́ ở trường về nhà phải làm công việc giúp cha mẹ chớ!

    Một bữa thấy cô nàng thấp thoáng bên bờ chuối, má gọi:

    – Cháu ơi! Cháu qua đây bà mượn làm dùm chuyện này chút!

    Tôi đang viết, quay lại thấy má nháy nháy và trỏ tay ư bảo vô buồng trốn. Tôi làm y theo lời. Chập sau nàng vào nhà. Má hỏi:

    – Cháu có đủ người đánh lá mía không?

    Nàng đứng ở góc ván trả lời chớ không ngồi.

    – Dạ biết bao nhiêu mà đủ bà Bảy. Cháu làm được tới đâu hay tới đó.

    – Để bà kiếm dùm cho một công, cháu chịu không?

    – Ở đây đâu c̣n người mà bà kiếm. Người ta bị bắt dân công chưa có về.

    – Cháu không sợ họ bắt à?

    – Họ chê cháu ở thành không xài đâu !

    Hai bà cháu nói chuyện bỗng một tờ giấy trên bàn bị gió thổi bay xuống đất. Tờ giấy cũng khôn thật, nó đáp xuống nằm trên bàn chân nàng. Nàng nhặt lên rồi vừa đi vừa xem. Đến mép bàn nàng dừng lại và mải mê đọc không trả tờ giấy lại chỗ cũ. Đọc hết tờ này, nàng định lấy tờ kia, nhưng giật ḿnh quay lại:

    – Ai viết vậy bà Bảy?

    – Thằng cán bộ ở trong nhà tao chớ ai.

    – Ủa, giải phóng mà cũng biết làm thơ nữa sao?

    – Ai biết đâu. Tao chỉ thấy nó ngồi nó viết tối ngày. Hễ có chụp th́ nó xếp lại. Chạy trở về th́ viết tiếp. Cháu đọc cái ǵ trong đó?

    – Dạ đây là bài thơ “Bến Tre xanh măi bóng dừa”. Đoạn đầu đâu mất, chỉ có đoạn này thôi. Hay lắm bà ơi. Bà muốn nghe không, cháu đọc cho bà nghe.

    – Nhưng chắc cháu đọc nghe hay không bằng nó đâu !

    – Nó nào bà?

    – Th́ thằng đó chớ nó nào. Để chút nữa nó đi quán về, bà biểu nó đọc cho cháu nghe. Nó c̣n đầy thùng đạn lận chớ không phải có mấy tờ đó đâu. Ở đây chờ một chút.

    Nàng ngẫm nghĩ một hồi, để tờ giấy xuống mặt bàn rồi nói:

    – Thôi thôi bà Bảy ơi ! để cháu đi đánh lá mía.

    – Ừ đi th́ đi, rồi mai qua đây tao nhờ làm công chuyện. Năy giờ tao quên mất.

    Nàng chạy vụt qua bờ mía. Tôi bước ra. Má hỏi:

    – Đó mày coi rơ con nhỏ chưa?

    – Dạ rơ rồi, má !

    – Được không?

    – Dạ con th́ được rồi, không biết người ta có được không?

    – Thong thả rồi tao t́m cách tao nói. Con người ta con gái, ḿnh phải khéo. Mà mày nói phải chắc nghe!

    – Chắc ǵ má?

    – Chắc là mày chưa có vợ. Đừng có báo hại tao làm mai mắc họa đó.

    – Dạ, con gốc gác ở đây, cha mẹ c̣n đủ. Cô con có chồng ở Ngăi Đăng. Họ ngoại con ở Cẩm Sơn, giáp ranh với xă này mà má. Con đâu có làm xấu ḍng họ con được.

    – Mày nói th́ tao tin, nhưng phải cho chắc.

    Hôm sau, cô học sinh ra đánh lá mía. Má gọi. Nàng lại sang và tôi lánh mặt trong buồng, nàng lại đọc thơ Bến Tre xanh thắm.

    Lúc đó tôi không c̣n tâm trí nào dành cho Đồng Khởi nữa. Tôi cứ làm thơ. Tôi chen thơ t́nh vào trong đó. Tôi đưa bóng dáng nàng học sinh vào thơ. Rồi tôi tâm sự luôn với nàng.

    Con chim bay khắp trời xanh
    Hôm nay trở lại cội cành vườn xưa
    Cô đơn tiếng hót trong mơ
    Có ai đáp lại thành thơ với ḿnh ?
    Ai quen sống chốn thị thành
    Về quê có gặp bạn t́nh hay chăng?
    Mẹ già quơ củi sau vườn
    Hoa cau rụng trắng bờ mương nước đầy
    Sớm trông chiều ngóng chân mây
    Con đi biền biệt từ ngày chiến chinh.

    Trong một thời gian dài nàng hầu như có thói quen sang nhà má Bảy để “may rủi” không thấy tôi ở nhà, gặp thơ xanh thẳm bóng dừa mà đọc. Bàn tay đạo diễn của má rất khéo léo Một hôm nàng đang đọc th́ tôi bất ngờ “về tới”.

    Má Bảy nói ngay:

    – Cháu tao nó mới tới đó. Nó thấy giấy rớt dưới đất nên nó lượm lên dùm.

    – Cảm ơn cô. Tôi đi lại quán mua trà quên giằn nên gió bay.

    Nàng lựng khựng một chút rồi nói lí nhí trong miệng:

    – Con đi à… bà Bảy!

    – Ở, đi rồi mai mốt qua bà nhờ chuyện này.

    Nhờ hoài nhưng không biết là chuyện ǵ. C̣n tôi th́ cứ làm thơ dừa xanh cả ngàn câu chớ không phải ít. Nói về giải phóng bao nhiêu th́ mô tả nàng học sinh bấy nhiêu. Lần đó tôi viết hẳn một đoạn, bày tỏ ư muốn lập gia đ́nh với nàng. Nàng vẫn sang và đọc như mọi lần.

    Nlhưng bỗng nàng không sang nữa. Nàng có đi đánh lá mía nhưng má gọi th́ nàng lẩn tránh. Tôi hồn vía lên mây, lại … nữa rồi. Tôi không giấu được nỗi buồn từ khi vắng bóng hồng. Má Bảy an ủi tôi:

    – Con gái mới lớn lên, nó hay mắc cỡ, hoặc ba má nó rầy rà , nên nó không sang nữa. Hai lẽ đó không biết lẽ nào. Để tao ḍ ư tứ nó xem sao.


    Mai tiếp ....
This thread has more than 10 replies. Click here to review the whole thread.

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •