Reply to Thread

Post a reply to the thread: SAIGON THUỞ ẤY ...

Your Message

Viết bằng chữ trong ô trống kết quả của bảy trừ năm

 

Additional Options

  • Will turn www.example.com into [URL]http://www.example.com[/URL].

Topic Review (Newest First)

  • 18-11-2017, 09:00 PM
    Tran Truong

    Đường Đi Không Đến _ Xuân Vũ

    Tôi định ngồi hẳn dậy, nhưng cái xương sống của tôi cứng đơ cứng ngắc như một khúc xương liền không có khớp. Nhưng tôi quyết không chịu thua, tôi nghếch đầu lên mép vơng và lần này đến phiên cái cổ của tôi không giữ được cái đầu tôi nữa. Tôi gục hẳn xuống, mắt tôi nh́n mặt đất xoay vần. Tôi nôn, nhưng trong bụng tôi không có ǵ để mà nôn!

    Thu vội vă ôm đầu tôi đặt vào vơng. Bất giác tôi gào lên:

    – Đ.m. chúng nó!

    Quả t́nh tôi không thể im lặng lâu hơn được nữa. Đó là kết quả sự đè nén lâu ngày, kết quả của ḷng tin bắt buộc.

    Tôi thấy ân hận v́ đă bôn ba hơn ba mươi ngày để đến đây, trên quăng đường không có cột số, cũng không có tất cả những ǵ cần thiết tối thiểu cho người đi đường. Nằm giữa chốn đây không có một tấc sắt trong tay, lấy ǵ bảo vệ thân sống chống lại cọp hùm rắn rít, chống lại những tên “bê quay” đă trở thành thổ phỉ c̣n hung ác tàn nhẫn hơn cả bọn phỉ mà người ta thường nguyền rủa. (Chữ “bê quay” này chốc nữa th́ tôi sẽ giải thích, dẫn chứng với hằng trăm sự việc ly kỳ.)

    Cha mẹ tôi sinh tôi ra cho tôi theo cách mạng chín năm chống Pháp rồi cho tôi đi ra Bắc để xây dựng lực lượng đặng trở về Nam thống nhất đất nước với ḷng tin tưởng vô biên, có ngờ đâu tôi được đối xử như thế này? Tôi không c̣n nghĩ đến cái điều vinh quang mà người ta gắn cho tôi lúc tôi sắp ra đi – cái vinh quang chói lọi tưởng chừng bằng tất cả sự vinh quang của dân tộc ta trong thế kỷ đau thương này góp lại – nhưng lạy Chúa, con lạy Đức Mẹ nhân lành, nếu có thể, con xin quỳ gối mà trả lại tất cả cho người đă ban phát cho con, hoặc con xin lấy nó ra làm hiện vật để đánh đổi một sự nhỏ hơn nó gấp vạn lần, đó là tránh cho con cơn sốt sắp tới đây mà con cảm thấy nó đang lù lù đi tới.

    Bây giờ tôi mới biết sốt rét rừng, mới hiểu tại sao người Pháp có đồn điền cao su trên rừng luôn luôn bao lưới tất cả các cửa ra vào, tôi hiểu rồi, hiểu rồi, hiểu bằng chính sự chịu đựng của thân xác tôi.

    Trời ơi! sốt ǵ mà sốt vậy! Chỉ một cơn sốt thôi mà tôi cảm thấy tôi không c̣n cái ǵ nguyên vẹn trong người cả, từ lá phổi buồng tim, bộ óc cho đến những khớp xương, làn da và đến từng lỗ chân lông một. Tất cả đều hở ra, ọc ạch, xiêu vẹo.

    Trời đất ơi! sốt ǵ mà sốt thế! Chỉ một cơn sốt thôi tôi đă nh́n trời ra màu xám ngoẹt. Từ vui đến buồn, từ buồn đến bi lụy. Tôi bây giờ đang gục xuống dưới cái lưỡi búa bi lụy của chính ḿnh. Tôi chỉ c̣n nghĩ một điều: hận.

    Tại sao người ta ném một cán bộ hai mươi năm chiến đấu, mười lăm tuổi đảng vào khu rừng này mà không cho một bước rút lui pḥng thủ, không cho một thứ vũ khí trong tay? Con người là vốn quí nhất, Lê Nin hay Mác đă nói vậy, và Đảng Lao Động cũng lập lại câu đó bất cứ ở đâu.

    Th́ vỡ lẽ ra ở trên con đường Trường Sơn này cái vốn đó được đem ra xài với sự trân trọng nhất. Như hiện giờ nầy đây, như cái thằng tôi hiện giờ đang nằm đây này!


    Mờ mờ trước mắt tôi, Thu vẫn ngồi ủ rủ, không rơ Thu nghĩ ǵ. Tội nghiệp! Cô nàng chắc hẳn là nhớ Hà Nội lắm. Gái Hà Nội mà! Xa Hà Hội một ngày đă thấy mất đi một tí ǵ trong người rồi, một tí duyên dáng, một tí lẳng lơ, một cái ư thơ mộng trữ t́nh do phong cảnh, do sinh khí, do cái đất ngàn năm văn vật gây nên, hiến dâng và thấm vào mà không người con gái Hà Nội nào không có, và không một người con gái nào có.

    Thu như con cá nước ngọt bị ném ra biển.


    Còn tiếp ...
  • 18-11-2017, 10:42 AM
    Tran Truong

    Đường Đi Không Đến _ Xuân Vũ

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng[2]. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968. Trích :

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .........................



    Thu đưa cho tôi hai mẩu giấy. Tôi không đọc ngay nhưng tôi biết đó là của anh đoàn phó và của Lâm – của Lâm, mảnh giấy to hơn…

    Chung quanh tôi mấy cái vơng mắc ṭng teng mà dưới mắt giao liên là những cái của nợ, v́ những người này thường hay ṃ vào trạm của họ để căn nhắn, xin xỏ hoặc ỳ ra không chịu đi, tệ hơn nữa có những người nằm ngủ luôn không dậy, họ phải khiêng đi chôn cho khỏi thối trạm, có lẽ đó cũng là những người bị rơi rớt trên đường mà đoàn họ gửi lại núi rừng thiêng này – cũng như lũ chúng tôi đây.

    Tôi nh́n xuống cái ga-men của tôi ngay đầu vơng. Tôi không buồn nhặt nó lên. V́ cái kỷ niệm chiều hôm qua c̣n hơi ấm giữa tôi và Lâm sẽ làm cho tôi khổ hơn. Cái bánh làm bằng khoai ḿ, canh ḿ nêm bột ngọt… tất cả mâm cỗ mà Lâm làm hôm qua, tôi không có thụ hưởng một tí ǵ. Cái củ ḿ to tướng của tôi vẫn c̣n nguyên đó.
    Vậy là Lâm chỉ dùng ḿ lượm mót của ḿnh mà thôi. Đó là một nghĩa cử mà tôi phải ghi nhớ. Trên con đường này người ta chơi xấu với nhau từng chút một, nhất là miếng ăn. Miếng ăn là miếng tồi tàn! Lâm đă để lại cho tôi một tí đường trong số 250 gờ-ram của anh ta đang mang theo từ Hà Nội. Tôi không giở nắp ga-men ra, nhưng tôi vẫn trông thấy những hạt đường lấp lánh t́nh bạn. Lâm tốt đến thế đối với tôi vậy mà Lâm vẫn bỏ tôi mà đi với đoàn.

    Bất giác tôi đưa mảnh giấy của Lâm lên mắt.

    “Ḿnh đi nhé! Thế nào cũng “nằm” lại ở vài trạm trước. Cậu sẽ bắt kịp. Đừng buồn nhé!”

    Tôi buông mảnh giấy trên ngực tôi. Tôi nghe nước mắt ứa ra và từ từ trào ra tràn xuống má! Tôi biết Lâm cũng buồn, nhưng tôi hiểu nó lắm. Nó cũng không muốn bỏ tôi mà đi nhưng nó phải đi, và cơn sốt của nó (mà tôi đă thấy trước) bắt nó phải chờ tôi. Rồi lại tới phiên tôi phải bỏ nó mà đi và phải viết những lời như nó viết cho tôi hôm nay.

    Thật t́nh tôi không thấy đói, không thấy buồn, không thấy cái ǵ cả. Tôi đă hoàn toàn biến thành một khối xương thịt vô tri. Tôi muốn nằm yên rồi chết… nếu không có tiếng the thé của Thu gọi tôi:

    – Anh có ăn cháo không em nấu?

    Trời ơi! Cái gương mặt của Thu bây giờ sao xấu đau xấu đớn thế? Bây giờ tôi trông thấy mà giật ḿnh, không hiểu tại sao Thu đă xấu ra, hay tṛng mắt tôi bị méo mó v́ cơn sốt? Đằng nào th́ cũng đáng buồn cả.

    Tôi giụi mắt nh́n lại. Thực t́nh Thu xấu đi nhiều quá. Đôi mắt sâu và đôi môi tái nhợt cũng đủ làm cho vẻ đẹp của Thu mất hết sự lộng lẫy ngày xưa rồi. Mà có xưa ǵ cho lắm? Mới hơn một tháng đây thôi. Hồi ở nhà trường ai cũng ve văn tán tỉnh nàng. C̣n bây giờ người ta xa lánh v́ đàn bà ở đây không dùng được vào việc ǵ cả, ngay như sắc đẹp là cái món ngon lành nhưng ở đâu chứ ở đây th́ cũng vô dụng nốt. Mà cũng may, cái đó không c̣n có ở đây.

    Tôi đáp:

    – Anh cũng đang đói, từ trưa hôm qua tới giờ đâu có cái ǵ vô bụng.

    Thu soạn cái ga-men của tôi ra. Quả thật Lâm đă để lại cho tôi một nhúm đường cát. Đây là lần thứ hai tôi nhận của Lâm thức ăn. Lần thứ nhất, lúc đó đi được hơn mươi ngày. Anh chị em c̣n sức. Một hôm trạm mời đoàn vào múa hát phục vụ cho giao liên, không rơ anh chị em được tặng món ǵ mà khi tan cuộc, Lâm rỉ tai tôi: “Chốc nữa tớ cho cậu món ăn đặc biệt”… Chiều hôm đó khi tôi sắp ăn cơm, Lâm đến gần bên tôi và thừa lúc không ai chú ư, Lâm xộc tay vào túi quần nắm ra một nắm rồi chúm lại rót xuống bàn tay tôi đang xoè ra để nhận lấy.

    Tôi chú ư xem là cái ǵ. Đó chỉ là những hạt đậu phộng rang với muối. Chỉ có dăm hạt thôi vậy mà Lâm phải rót đến hai lần. Lần thứ nhất ba hạt, rồi chắc Lâm cảm thấy c̣n ít quá, Lâm lại hở mấy ngón tay ra vừa vặn cho hai hạt nữa rớ xuống. Thế cũng đă nhiều, trên đường này.

    Mấy hôm sau đổi được mấy trái chuối rừng (giống như chuối hột trong Nam, nhưng trái chuối đầy hột chát ngầm không nuốt được) tôi cũng tuyên bố với Lâm: “Tớ sẽ cho cậu một món đặc biệt”. Đợi cho ai nấy đều ngủ hết tôi mới ṃ sang vơng Lâm và dúi vào ngực Lâm một trái chuối rừng.

    Bây giờ Lâm cho tôi mấy muỗng đường cát. Chỉ vậy thôi mà nước mắt tôi ứa ra, tôi không chùi kịp.

    Thu nhúm lửa với mấy mụn củi nứa đêm qua Lâm c̣n bỏ lại và hơ mớ cháo khoai ḿ đủ âm ấm rồi sớt ra cái nắp ga-men trao cho tôi.

    Thu nói:

    – Bỏ vào một ít đường cho ngọt để ăn anh nhé, chắc anh đắng miệng lắm.

    Tôi nâng chiếc nắp ga-men lên, ngửi mùi khói bốc từ mớ cháo, tôi biết rằng trong đó đă có đường rồi. Tôi kê miệng húp một miếng. Quả thật, cháo ngọt. Tôi muốn nuốt vào nhưng không hiểu v́ sao, như bên trong như có một cái ǵ đang tràn ra, đẩy ngụm cháo phọt ra ngoài, tủa ra đầy đất.

    Thu vội vă đỡ lấy nắp ga-men và kêu lên:

    – Sao vậy anh? Ơ ḱa?

    Tôi khoát tay ư bảo không có chuyện ǵ đâu đừng cuống lên. Tôi biết sức khoẻ của tôi mất đi gần hết sau cơn sốt dồn dập khởi đầu từ ban trưa, ngưng một chập rồi lại sốt suốt đêm. Cho nên lúc sáng, đoàn cuốn tăng vơng ra đi tôi hăy c̣n mê man, anh em từ giă , tôi không hay biết ǵ hết.


    Còn tiếp ...
  • 17-11-2017, 10:45 PM
    Tran Truong

    Đường Đi Không Đến _ Xuân Vũ

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng[2]. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968. Trích :

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .........................



    Bây giờ đây đâu phải là tôi quên rằng tôi đă có một dịp hay ho như vậy, đâu phải tôi quên rằng người con gái ngồi trước mặt tôi đó đă có một cặp chân tuyệt mỹ! Nhưng tôi không buồn nghĩ đến cặp chân ấy nữa.

    Người ta không c̣n th́ giờ, đúng ra là không c̣n tâm hồn nào để nh́n cái đẹp nữa. Tôi c̣n phải dành trí khôn để ước lượng xem phải uống bao nhiêu kí-ninh nữa để cắt cơn sốt, xem nếu tôi đi th́ có đi nổi không, xem cây gậy của tôi có nặng so với sức lực của tôi bây giờ không, nhất là làm thế nào để cùng với cái cô diễn viên múa kia đuổi kịp theo đoàn v.v.. và v.v…

    Và nếu tâm trí tôi có bắt buộc phải nghĩ tới đôi chân đẹp đó chăng đi nữa th́ đôi mắt tôi, chúng cũng từ chối.

    Chỉ sau vài hôm đi trên đường Trường Sơn th́ mắt tôi bắt đầu không thấy núi đẹp như trong thơ nữa. Núi ôm ấp mây, núi quàng khăn tuyết … tất cả những nét đó h́nh như vô lư. Mắt tôi cứ hau háu như mắt cú vọ để t́m kiếm một cái đọt bứa, một cái mụt chuối rừng c̣n sót lại hay một cái quai dép, một mẩu ni-lông của ai làm rớt dọc đường. Mắt tôi hễ mở ra th́ bắt đầu nh́n những ḥn đá chơm chởm gập ghềnh chỗ thấp chỗ cao, nh́n những bộ mặt vàng nẫu, những cặp chân cà tong cà teo run run khiêng pháo lên dốc.

    Tất cả những ǵ đẹp đẽ cũng không cần thiết, đúng ra cũng không cần có ở đây.

    Và dù là cái đẹp đó là cái riêng của tôi đi nữa, tôi cũng không cần. Tôi không cần nó, tôi không khát nó, tôi không thèm nó. Tôi cần, tôi khát, tôi thèm cái khác: ăn! Ăn cái ǵ th́ ăn, nhưng núi đẹp và cặp chân vũ nữ tuyệt vời kia th́ không thay cho món ăn được.

    H́nh như ánh mặt tôi gọi Thu cho nên Thu quay lại. Tôi không tỏ vẻ ngạc nhiên về sự ở lại của hai đứa và cũng không có vẻ vui mừng v́ chỉ có hai đứa ở lại mà thôi.

    Thu cố nhấc cái chân què đi tới ngồi phệt xuống bên vơng của tôi và thở dài:

    – Đoàn đi cả rồi anh!

    Tôi nh́n Thu không đáp.

    – Khổ quá đi mất!

    Tôi cũng không đáp.

    – Không biết rồi phải làm sao?

    Sự lặng im vẫn kéo dài.

    Tôi ngạc nhiên về sự sắt đá của tôi trước những câu than thở đồng cảnh ngộ của một cô gái. Tôi biết tôi phải nén ḷng v́ nếu tôi nói ra th́ tôi sẽ nói những lời không đúng đắn về lập trường, về t́nh nghĩa, về sự có lư hay vô lư. Nếu tôi nói ra một câu th́ những tiếng đầu tiên phải là những tiếng không có văn hoa, văn hoá.

    Nhưng chửi ai, văng tục với ai?

    – Anh hết sốt chưa? Thu hỏi.

    – Qua cơn rồi em ạ!

    – Không biết rồi ngày mai em ra sao, anh nhỉ?

    – Thu chưa bao giờ bị sốt nên đâu hiểu sốt là thế nào!

    Thu ngồi lặng thinh. Bây giờ th́ chỉ c̣n có hai đứa, hai đứa bé mồ côi, khát sữa bú tay.

    Một chốc Thu mới nói lại nguyên văn câu nói lúc năy:

    – Đoàn đă đi hết rồi anh ạ!

    – Anh biết rồi.

    Rồi hai đứa lặng thinh.

    Tôi cố mở hai mí mắt nặng nề dày cộm của thằng sốt rét ra mà liếc nh́n chung quanh. Cảnh tượng thật là ảo năo, buồn thảm, bi đát, đau thương. Tất cả những chữ na ná như thế trong ngôn ngữ Việt Nam gom lại cũng không đủ tả cái cảnh chung quanh tôi lúc bấy giờ.

    Những cái cọc hôm qua kín những vơng và những tăng, những màn, những cái giàn nhỏ đầy những ba-lô, khăn túi, những cái bếp th́ khói lửa tuy phải che đậy từng tí nhưng vẫn ấm áp tươi vui với ánh lửa và hương củi lửa. Tôi nghĩ rằng chỉ có những người đi rừng biền biệt xóm làng như chúng tôi mới hiểu nổi giá trị của lửa.

    Hôm qua là cả một không khí hoạt động bánh trái vui nhộn, nhưng hôm nay đây, họ đă đi, mang theo họ cả khung trời. Chưa một lần nào tôi thấy vừa cô đơn vừa buồn tủi như hôm nay.

    Thu đưa cho tôi hai mẩu giấy. Tôi không đọc ngay nhưng tôi biết đó là của anh đoàn phó và của Lâm – của Lâm, mảnh giấy tọng teng mà dưới mắt giao liên là những cái của nợ, v́ những người này thường hay ṃ vào trạm của họ để cằn nhằn, xin xỏ hoặc ỳ ra không chịu đi, tệ hơn nữa có những người nằm ngủ luôn không dậy, họ phải khiêng đi chôn cho khỏi thối trạm, có lẽ đó cũng là những người bị rơi rớt trên đường mà đoàn họ gửi lại núi rừng thiêng này – cũng như lũ chúng tôi đây.


    Còn tiếp ...
  • 17-11-2017, 10:57 AM
    Tran Truong

    Đường Đi Không Đến _ Xuân Vũ

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng[2]. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968. Trích :

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .........................


    – Không bóp th́ cũng sưng rồi mà. – Một giọng lè nhè của một ông cụ – Bây giờ coi chừng nó chảy.. nước … trắng nước vàng ra đó!

    – Nó sưng lâu quá rồi mà, để nguyên nó cũng chảy!

    Câu chuyện pha tṛ cứ kéo dài măi, nhưng không làm cho tôi hứng thú chút nào. Tôi loáng thoáng nghe tiếng cười, nhưng đầu óc tôi mơ đến những chuyện khác thiết thực hơn.

    Tôi mơ ước , trước mặt tôi có một cái quán bán các thứ dưa chuối, chè đậu, bánh dày, bánh gị rất mất vệ sinh với những đàn ruồi xanh như những đàn phi cơ làm xao động cả buổi trưa.

    Làm ǵ nhiều thế? Tôi chỉ cần một bà lăo bán chè xanh dưới một gốc cây bă đậu rợp mát với những cái chén sứt mẻ vằn vện những cốt trà cũ, với những cái tủ kính nhỏ đầy ghét cáu và vỡ nát, bên trong có đựng những chiếc bánh chè lam có rắc một ít đậu phộng và mè rất cứng, mà b́nh thường ở ngoài đó không bao giờ tôi nghĩ tới việc phải để mắt tới.

    Hay tôi lại thèm một ít nước béo cho vào tô phở , chỉ một ít thôi cũng đủ. Tôi như ngửi thấy mùi hương của những bát phở gà với những miếng mỡ mà tôi ưa thích nhất. Những con gà vàng ngậy kinh người treo trong những lồng kính. Tôi thèm tất cả, mơ tất cả những ǵ có thể cho vào mồm để mà nhai. Đời giản dị chỉ có thế thôi.

    Biết bao ư nghĩ trước kia tôi không hề có , nhưng một cơn sốt đổ xuống tôi, mang đến cùng với sức nóng và sức rét của nó, bao nhiêu là siêu vi trùng trong tư tưởng. Những ước mơ tôi mang nặng hôm qua bây giờ hoàn toàn phủi sạch.

    Nằm ở đây giữa Trường Sơn này với một cơn sốt dài lê thê hàng chục cây sô đường rừng, tôi chỉ c̣n nghĩ tới một điều cụ thể nhất là cái ǵ để cho vào mồm và nuốt được.

    Tôi chỉ cần một khẩu phần cơm cơ quan ba hào chẳng hạn với cục bột ḿ sừn sựt với bát ngô sền sệt một thỏi cá tanh ŕnh bằng ngón tay và vài cọng rau muống dai nhách tua tủa những gốc rễ.

    Thiên đường ở đâu? Thiên đường của người chiến sĩ vượt Trường Sơn là cái khẩu phần đó đó.

    Ba lon gạo tối hậu dành để chống càn buộc thắt ngang trong ruột tượng cũng đă cạn rồi. Có người lượm gạo mục ở dọc đường của ai nứt ruột tượng đổ ra và giũ ruột tượng của ḿnh lấy nốt những hạt gạo c̣n sót, cho tất cả vào canh cho có mùi gạo tí ti, húp cho cứng gối.

    Phiền ḷng quá, tủi thân quá!

    Đây là chặn đường Kontum có lẽ. Tôi có cái bản đồ con con có h́nh nước ta nhưng nó bé nhỏ quá, nó chỉ chiếm hết ḷng bàn tay tôi thôi, cho nên những địa danh của nó cũng không được ghi đầy đủ. Và không có địa bàn, không có làng, có xứ thổ dân nào, tôi làm sao biết được tôi đang ở cách xa những người tôi vừa chia tay là bao xa và những người tôi sắp được bắt tay là bao xa. Chỉ biết rằng tôi đang đón nhận cái phần thưởng đầu tiên cấp trên gửi tặng tôi là cơn sốt vừa qua cùng với một nồi cháo ḿ của một thằng bạn khổ – không có cái ǵ hơn là tấm ḷng để giúp tôi.

    Bừng mắt ra, tôi thấy rừng vây quanh tôi. Hoàn toàn xa lạ. Cái cảm giác đầu tiên của tôi là tôi đang lọt tơm giữa mênh mông. Và tôi sắp tan ra trong cái mênh mông đó.

    Tôi phải mất ít nhất là vài giây để hiểu những sự việc vừa qua kể từ khi Thu chống cái gậy lê chân đi từng bước biến dần trước mắt tôi. Cái h́nh ảnh đầu tiên tôi nhớ ngay về buổi trưa hôm qua là cái h́nh ảnh của Thu.

    V́ chung quanh tôi không có ai hết cả ngoài Thu.

    Nhưng, thế thôi cũng đủ. H́nh như Trời c̣n ngó lại cho tôi. Trời không muốn tôi quá cô đơn giữa cái rừng sâu nầy. Nhưng tôi chỉ hưởng được cái giây phút êm đềm đó trong một thoáng thôi rồi lại rơi vào cái khổ triền miên, cái khổ đeo đẳng, dằng dặc chặt không đứt, bứt không rời của Trường Sơn: đó là cái đi, cái đứng, cái ăn, cái ngủ, cái bệnh, cái tức, cái giận, cái thương, cái ghét … thực là một trăm thứ cái, mà cái nào cũng kỳ cục, khác thường, nó xoi, nó mói, nó cạ̣o, nó gọt tâm tủy con người.

    Giữa chúng tôi, hai đứa c̣n sót lại sau đoàn đây, một đứa Nam, một đứa Bắc, đứa đàn ông, đứa đàn bà, một đứa bệnh, một đứa tật, khác nhau cả, nhưng có điều giống nhau quá là đứa này sầu, đứa nọ cũng rầu.

    Thu ngồi quay lưng ra tôi cho nên tôi thức mà Thu không biết. Những đốm nắng vàng vọt rời trên những phiến đá ẩm ướt rêu mốc mà hơi người không làm ấm lại nổi. Tóc Thu hồi c̣n ở Hà Nội tôi nhớ là đẹp lắm mà. Tóc con gái là đẹp lắm rồi, dù màu vàng hoe hay màu đen huyền, dù kẹp ngang vai hay uốn xoăn cũng đẹp, nhưng hôm nay th́ tóc Thu không đẹp nữa rồi. Mắt tôi đâu c̣n tinh anh để nh́n tóc nàng?

    Thu có đôi chân tuyệt đẹp của một diễn viên múa mà tôi chưa từng trông thấy ở bất cứ ai. Tôi thấy Thu là tôi đă nh́n đôi gót chân để mong có thể nh́n lên cao hơn ống chân, cao hơn tí nữa, như có lần tôi đă thấy gần trọn vẹn bộ đùi của Thu khi Thu xăn quần lội qua con suối.


    Còn tiếp ...
  • 17-11-2017, 12:10 AM
    Tran Truong

    Đường Đi Không Đến _ Xuân Vũ

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng[2]. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968. Trích :

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .........................




    Không hiểu bằng cách nào mà tôi đă theo kịp đoàn tôi trong chiều hôm đó, cố nhiên là tôi đến sau tất cả mọi người. Tôi nghĩ, nếu người ta mà biết được tôi đă cố gắng đến mức độ nào để tới đây th́ họ sẽ thưởng cho tôi cái mề-đay bự nhất. Bây giờ viết lại cái ư nghĩ có vẻ mỉa mai này của tôi trên giấy tờ, tôi hăy c̣n lợm giọng khi nghĩ đến cái vinh quang mà người ta đă dành cho tôi trước khi tôi cất bước lên đường.
    Cơn sốt rét đă lắng xuống nhưng sự mệt nhọc th́ vọt lên cao độ.

    Ai cũng lo công việc của ḿnh, không c̣n thời giờ để mừng đón tôi, mà cũng lạ thật, tôi đă vất bỏ đi cái thói xấu công thần một cách dễ dàng. Đến nơi, tôi chỉ mong mắc vơng và nằm, yên chí rằng trong đêm nay ḿnh không cô độc giữa rừng.
    Phần lớn anh chị em đang bận rộn bào chế các món ăn bằng khoai ḿ, những mẩu khoai ḿ vụn mà họ đă phải đi trên một tiếng đồng hồ để mót lấy, trên ruộng rẫy mà bộ đội đă nhổ trụi những khẩu phần của họ rồi.

    Bây giờ th́ thiên hạ bận rộn như ngày có giỗ. Kẻ th́ t́m một phiến đá để đập và nghiến ḿ ra thành bột rồi nặn thành từng bánh đem nướng trên lửa than. Kẻ th́ dồn vào trong ống nứa non đem đốt như kiểu người thiểu số nấu cơm nếp giữ nguyên hương nguyên chất. Hoặc kẻ th́ v́ không đủ sức làm hay v́ tính giản dị, cứ đem luộc và ăn ngay.

    Lâm đến mắc vơng gần bên tôi và hỏi:

    – Muốn ăn cái ǵ tớ làm cho?

    Tôi trỏ tay dưới đít vơng. Lâm nh́n theo và ngạc nhiên kêu lên khi thấy một củ ḿ quá ngon lành nằm trườn trườn trên mặt đất.

    Tôi nói:

    – Cậu muốn làm ǵ th́ làm tùy thích!

    Tính Lâm tỉ mỉ và hay vẽ vời. Lâm say sưa nh́n củ ḿ, cầm nó lên vuốt ve mà nói:

    – Ta nấu chè, chén một bữa đi bạn!

    Tôi gắt:

    – Làm sao đủ đường mà nấu?

    – Ḿnh c̣n!

    – Úy trời đất!

    – Ừa, thiệt mà! – Lâm tiếp – Hồi trước khi đi ḿnh có mua thêm 250 gờ-ram. Đó là nhờ thằng bạn cho phiếu ḿnh mua cả tháng của nó. Chớ không th́ phải chạy đi mua cái phiếu đó giá cũng em em giá của 250 gờ-ram đường.

    Tôi nghe đến chè th́ nước miếng nước mồm tuôn ra không kịp nuốt. Thời buổi này giữa Trường Sơn c̣n 250 gờ-ram đường, không khéo bị “ăn cướp” đánh nhà , chớ phải chơi đâu. Nhưng tôi lại lắc đầu:

    – Đừng có phí như vậy cậu ạ! Nhỡ có ốm th́ lấy ǵ!

    – Th́ cậu ốm rồi đấy, c̣n chờ chừng nào nữa? Hay là ḿnh đâm nhuyễn ra ṿ viên nấu canh nêm ḿ chính (tức bột ngọt) rồi ăn cơm cùng với mắm ruốc!

    Nói xong Lâm xem như đó là quyết định cuối cùng và sáng suốt nhất. Lâm hăm hở soạn bếp núc của Lâm, vừa hí hoáy vừa hỏi thăm tôi hoặc vừa pha tṛ để ḍ xem phản ứng của tôi mà đoán sức khoẻ của tôi.

    C̣n tôi th́ cố gắng ghếch đầu lên mép vơng mà trả lời câu được câu chăng với Lâm. Lâm là thằng bạn rất tốt đối với tôi. Chúng tôi quen nhau từ thuở bé, và Ông Trời cứ bắt hai đứa phải gần nhau luôn, không mấy khi xa nhau. V́ thế, gây gổ, đụng chạm, cự nự nhiều hơn bất cứ đối với ai. Có lần giận nhau hằng năm, nhưng đó là sự hờn giận của những người yêu – tan rồi hợp, hợp rồi tan, và cuối cùng lần này hai đứa lại đi chung trên con đường mà sự vinh quang chúng tôi phải chia nhau gánh đội đến oằn cả vai, c̣ng cả lưng, tối cả mặt mày.

    Lâm vừa thổi lửa vừa nói:

    – Ḿnh nghĩ thương cô Oanh quá cậu ạ!

    Tôi lặng thinh nhưng Lâm không cần sự đáp lại của tôi ở đây. Tôi đă biết thừa cái chuyện của cô Oanh cũng như chuyện của bao nhiêu cô khác. Nhưng Lâm yêu nhất cái t́nh nghĩa cô Oanh nên vướng bận măi cho đến ngày ra đi.

    – Tao mà c̣n ở lại năm nay ngoài đó th́ nhất định tao lấy con Oanh, không có cách ǵ khác. Con gái Bắc ngoan, dễ yêu; con gái Nam hồn nhiên, chân thật. Đằng nào cũng hay cả! Ấy chết, con Thu nó có ngồi gần đây th́ nó nghe.. nó yêu ḿnh mất.

    – À, được rồi. Mai họp đoàn em báo cáo anh phá hoại đoàn kết Nam Bắc nhé! – Thu đang ngồi o bế cái chân đau, vọt miệng đáp ngay.

    – Ừ, cứ báo mạnh vào! Cái chân sưng mủ kia ḱa không lo mà đắp, mà vặt, mà xoa bóp đi… à mà em có cần anh bóp không nào?

    – Cậu bóp th́ có mà sưng to thêm! – Một người nhạy miệng đáp, làm tiếng cười nổi lên họa theo.

    Một người khác lại nói xen vào to hơn:

    – Nào, nhà nữ múa sĩ Ngọc Thu có đồng ư cho vơ sĩ Lâm bóp…không?

    Anh bạn kéo dài tiếng “bóp” làm cho tiếng cười lúc năy lại phát lên, chỗ th́ rúc rích, chỗ th́ sằng sặc. Có người đang ăn phun cả cơm ra ngoài.


    Còn tiếp ...
  • 16-11-2017, 10:39 AM
    Tran Truong

    Đường Đi Không Đến _ Xuân Vũ

    – Tôi nhớ từng gốc cây anh ạ! Ở gần nhà tôi có cái gốc cây gọi là cây Quéo, từ ngă ba đi vô độ hơn hai chục cây số. Đi xa ngó về vẫn trông thấy ngọn của nó vượt hẳn lên những rặng vườn. Tôi đi bộ đội được vài năm th́ nghe nói bà con ở nhà đă hạ nó xuống để không c̣n chuẩn cho máy bay bỏ bom nữa. Nghe nói đốn nó phiền phức lắm v́ nó là loại cây to bóng mát mà, có Bà ngự, hạ nó xuống đâu phải là chuyện chơi! Thầy pháp phải cúng, phải cầu, bà con phải đốt nhang khấn vái dữ lắm… Dù tôi đă biết người ta hạ cái cây Quéo xuống hơn hai mươi năm nay nhưng mỗi khi nhớ nhà, nh́n những chân vườn xa trước mắt th́ tôi lại cứ thấy nó đứng sừng sững trước mặt tôi, trong tâm tư tôi.

    Ở đàng kia có một tốp binh sĩ vừa lố dạng. Thành ngoắc ngoắc:

    – Đem lại đây, tôi tặng cho ông bạn đồng hương một củ.

    Tôi nh́n đoàn người đang khuân vác lôi thôi lếch thếch đi về phía tôi. Miệng tôi đắng như lúc năy tôi nuốt c̣n sót một viên kí-ninh trong cổ họng tôi, tôi cứ khạc nhổ măi mà không hết đắng. Bây giờ tôi nghe cái củ của ông bạn đồng hương sắp cho, tôi không biết là củ ǵ. Củ khoai, củ ḿ, củ chụp …củ ǵ cũng ăn được. Vậy là được lắm rồi. Ở giữa chốn này dễ ǵ ai nhận mang cho ai cái ǵ, dễ ǵ ai cho ai món ǵ ăn được, vậy mà tôi nhận mang cho Thành cả một lá thư. Có lẽ v́ vậy mà Thành cho tôi cả một củ…

    Một anh bộ đội mặc áo cổ vuông ướt đẫm mồ hôi ở phía trước ngực lẫn sau lưng, gánh một sọt khoai ḿ, củ nào củ ấy to bằng bắp đùi người lớn (chưa vượt Trường Sơn!). Tôi hết sức ngạc nhiên. Không hiểu sao ở xứ này lại có thứ ḿ to củ đến thế, một người chỉ vác nổi một củ mà thôi.

    Hồi ở Hà Nội, tôi nghe các vị trong ban Thống Nhất Trung Ương kể chuyện về rừng ḿ giải phóng mà mê như một bài thơ xă hội chủ nghĩa trữ t́nh. Các vị kể rằng ở dọc Trường Sơn có những rẫy ḿ đă trở thành rừng không thể nào ăn hết nổi. V́ theo tinh thần xă hội chủ nghĩa th́ những kẻ ra Bắc vào Nam ngang qua những rẫy xă hội chủ nghĩa đó cứ tha hồ lấy củ mà ăn, nhưng lấy bao nhiêu phải dọn đất trồng lại bấy nhiêu, lâu ngày chầy tháng , ăn không hết, vả lại v́ tinh thần xă hội chủ nghĩa quá cao cho nên có những đoàn ăn một trồng lại mười, v́ thế rẫy ḿ thay v́ eo hẹp lại giờ mở rộng ra mà … thành rừng.

    Nghe th́ hay quá, nhưng thực tế đâu phải như vậy.
    Thành trỏ vào sọt ḿ ngao ngán nói:

    – Tụi tôi sống bằng toàn cái ngữ này! Thỉnh thoảng mới được cơm trắng. Coi vậy mà ăn nhiều hại lắm! – rồi Thành bảo tôi – Anh ăn bao nhiêu cứ lấy mà ăn.

    Nhưng tôi thấy ḷng vẫn chua xót khi thấy ḿnh vừa ngồi trên cái đế cối. Càng chua xót khi tôi ngồi trên cái đế cối mà lại trước mặt những nhà chỉ huy quân sự.

    – Tại sao anh em ḿnh lại vứt cái đế cối như thế này anh?

    – Nó vác không nổi nữa th́ nó vứt chứ sao !

    – Rồi cái ṇng làm sao?

    – Kê vô đầu gối mà bắn… kh́ kh́… nói đùa vậy , chớ cái ṇng nó cũng vứt luôn chớ giữ làm ǵ?

    Thành tiếp:

    – Đường dốc đường đèo như thế, sức đâu mà vác? Cái này là đế 82 nặng không dưới 50 kí-lô. Rồi c̣n ba-lô gạo muối nữa lấy sức đâu mà vác? Anh vào một vài chặng nữa rồi mà xem súng đạn nó vứt đầy hai bên đường. Đi không nổi mà vác sắt khối như thế vác làm sao? Có trượt chân ngă, ṇng súng đè gă xương sườn, trật khớp xương sống. Lính Trường Sơn! Chậc! Chết c̣n sướng hơn!

    Tôi đánh Pháp 10 năm chưa lúc nào khổ thế này. Cái khổ nhất là cái mất liên lạc cá nước với đồng bào. Ở ngoài kia quan điểm nhân dân này nọ nói nghe mát bụng lắm …”dễ mười phân không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong.” nhưng vào đây, lâu nay đồng chí có gặp người dân nào không? Thế cho nên tụi tôi sửa lại: “dễ 10 phân kêu dần không lại, nặng trăm lần khiêng bại cả lưng!” Ở rừng riết rồi xem thấy khỉ cũng đẹp, và tưởng chừng ḿnh cũng hoá thành khỉ nay mai.

    Thành bắt tay tôi măi không muốn rời. Có lẽ Thành muốn truyền đạt những t́nh cảm của ḿnh về gia đ́nh qua lời nói và hơi thở của tôi. Thành muốn tôi kể lại cho cha của Thành về Thành với những chi tiết đầy đủ nhất trong buổi gặp gỡ hôm nay.

    Rồi chúng tôi chia tay.

    (Cho đến hôm nay – 7 năm sau cuộc gặp gỡ đó – tôi mới có dịp viết lại cái kư ức về một chặng đường của Trường Sơn mà nét mặt vàng vọt cùng với giọng nói của Thành không hề phai nhoà trong tôi. Tôi viết những ḍng này không phải với mực thường mà với thứ mực khác thường. Tôi mong nếu Thành c̣n sống và đọc được những ḍng này. Tôi đă làm tất cả những ǵ tôi đă hứa với Thành năm đó, chỉ có một điều tôi không làm được là tôi không t́m thấy Ông Hai Trí và cái bến đ̣ Anh Thạnh của Thành.
    Hơn mười lăm năm tang thương biến đổi mà lại là một thứ tang thương trong chiến tranh, nó bất ngờ và tàn nhẫn vô cùng, tôi làm sao t́m thấy được một cụ già trong cái biển lửa ngút trời của Miền Nam, tôi làm sao t́m thấy cái bến đ̣ nhỏ bé của Thành với những cái rể cây đă ṃn v́ những bàn chân bước xuống đ̣ – trong lúc mà đến cả rừng già c̣n hoá thành băi trắng.

    Có lẽ giờ đây, nếu sau 7 năm chịu đựng ở rừng Lào, Thành c̣n sống sốt th́ Thành cứ nghĩ rằng người bạn đồng hương của Thành đă đi về tới nơi và trao thư của Thành cho gia đ́nh Thành ngày đêm mong đợi Thành về. Riêng tôi th́ vô cùng chua xót khi nghĩ về những người lính gốc Miền Nam cứ hằng ngày nh́n thấy người ta nối đuôi nhau đi trên đường về Nam, c̣n ḿnh th́ cứ trấn thủ rừng Lào để “Ủm hộ” cách mạng thế giới đang triển khai trên xứ Vạn Tượng. Hằng vạn thanh niên Miền Nam rũ xương trên đất Lào một cách phí uổng, trong lúc gia đ́nh họ không được một mảnh giấy báo tin.

    Thành ơi! không biết giờ nầy anh c̣n sống hay đă nằm yên trong một cuộc chạm súng vô nghĩa lư nào rồi?

    Lá thư của anh tôi vẫn c̣n giữ đây, tôi đă học thuộc từng chữ, nhớ cả tuồng chữ và chữ kư của anh. Lâu nay gặp ai tôi cũng gợi chuyện để may ra t́m thấy cha anh nhưng tôi không hề thấy có ai, không thấy ai nhắc đến cha anh cả. Gia đ́nh của anh ở đâu làm sao tôi t́m được? Củ khoai ḿ to tướng của anh đă bồi cho tôi bao nhiêu sinh tố, nhưng c̣n lá thư của anh th́ tôi không biết làm sao gởi đi. Tôi mang nó trong người tôi như một món nợ mà tôi phải trả, như một đau khổ của riêng tôi và của hàng chục vạn người cũng như anh sống trong rừng Lào không phải “đêm Nam ngày Bắc” mà “đêm Nam ngày cũng Nam”.)



    Còn tiếp ...
  • 15-11-2017, 09:57 PM
    Tran Truong

    Đường Đi Không Đến _ Xuân Vũ

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng[2]. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968. Trích :

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .........................




    Tôi c̣n nghe ng̣i bút của Thành chạy sột soạt trên mặt giấy, một chốc lại nghe Thành kêu lên gay gắt:

    – Nghẹt ng̣i rồi! Bực quá! Có bút đó không Ớt?

    – Không! Lâu rồi đâu có viết cái ǵ mà bút với mực.

    – Mẹ!…Hồng Hà làm giống in Parker 91 mà dở ẹc. Ng̣i viết có hơn tháng đă toè mẹ nó ra rồi.

    – Ai bảo mua rồi la?

    – Thấy có đứa bảo tốt lắm, nó mua đem về cho bạn bè Miền Nam.

    – Ờ, vậy cũng tốt, nó được cái tinh thần.

    – Tinh thần ǵ?

    – Tinh thần tự túc tự cường. Ta làm ra ta xài chẳng hơn mua cây bút “Anh Hùng” của Trung Quốc à?

    – Chà, chà! Nổi lập trường lên rồi đó hả?

    – Kh́..kh́! Thôi viết đi, hết cơn sốt ông bạn đồng hương lại trổi dậy đi mất bây giờ!

    Thành đập đập mép vơng hỏi tôi:

    – Đỡ chưa đồng chí? Tôi viết thư rồi đấy! – Thành vừa nói vừa xếp lá thư nhỏ lại bằng một ngón tay và nói – Chỉ có bây lớn đây thôi, không có nặng ǵ đâu! Coi như nó là miếng giẻ rách vá cái áo cho đồng chí vậy thôi. Tôi cũng biết các đồng chí nặng lắm rồi, nhưng đây là vấn đề t́nh cảm của ḿnh, tôi không bao giờ quên ơn đồng chí.

    Rồi thao thao bất tuyệt, Thành nói:

    – Tôi đi bộ đội hồi năm 1947 lận đấy , đồng chí ạ! Đánh trận nào ở Mỹ Tho mà không có tôi, cả cái trận đánh với tụi Lê Dương mặt gạch ở G̣ Công cũng có tôi. Trận đó hai bên đều hết đạn, đập nhau bằng súng và ôm vật nhau! Cái bọn Lê Dương mặt gạch cái mặt đen thui mà gạch ngang gạch dọc như mặt thớt vậy, cái đầu th́ tóc quăn xoắn lại và cặp môi đen ś như cặp đỉa trâu bằng bắp tay nằm ngang. Gớm, trông thấy mà rợn người. Tụi nó đánh gan lắm! Chết bao nhiêu cũng không sợ, cứ nhào vô ào ào ngay họng đại liên, trung liên.

    Đồng chí có biết Phan Thanh Nhàn không? Nhàn Râu đó! Ông ta đấu tranh với bộ Tổng bị tù đó, ai cũng biết. Ban đầu tôi ở tiểu đoàn của Nhàn Râu, rồi sau này tôi sang Trung Đoàn Đồng Tháp đi lung tung càng ngày càng xa không về xứ được. Cuộc cách mạng của ḿnh kỳ cục quá. Mới ban đầu ḿnh tưởng chừng vài tháng th́ xong, vài tháng không xong, rồi lại đến vài năm. Mới đầu tưởng ra khỏi làng thôi, ai dè đi lên tỉnh rồi đi lên miền, rồi ra Bắc cho tới bây giờ nghĩ tới ngày về mà vô cùng ngao ngán. – Thành nói chậm hẳn lại :

    – Bây giờ th́ bọn tôi không c̣n có ngày về. V́ thế cho nên tôi mới nóng ḷng mà gửi bức thư này vậy. Nếu đồng chí có về ngay xă tôi, đến bến đ̣ An Thạnh th́ xin hỏi tên ông Hai Trí, đó là Ông già tôi và đưa thư này dùm tôi, tôi cám ơn lắm.

    Cái thằng Nam Bộ ít hay nói tiếng cám ơn lắm. Nó cám ơn tự trong ḷng, nó nhớ ơn và đợi lúc trả ơn. Ở đây Thành nói cám ơn là chuyện không thường rồi.
    Tôi cầm lấy bức thư, đúng ra là mẩu giấy con không có vẻ trang trọng ǵ hết, nhưng trong đó gói trọn cả một trái tim, một nỗi niềm.

    Anh ta khóc chăng? Tôi trông thấy anh ta quay mặt đi, người chính trịnh viên, thằng Thành con Bác Hai Trí ở Mỹ Tho! Có lẽ anh ta đau lắm khi nói những câu trên với giọng run ngập ngừng. Bỗng nhiên Thành quay lại, cố gắng nói giọng b́nh thường:

    – Thôi, chúc đồng chí đi cho tới nơi. Độ hai tháng nữa là cùng, sẽ gặp lại ông già bà già cho ổng bả mừng. C̣n tụi tôi th́… – Thành nghẹn ngào nhưng cố nói cho trọn câu – c̣n tụi tôi th́ kể như bỏ xác nơi rừng Lào này đi !

    Gương mặt tṛn trịa của Thành trông thương hại quá. Đôi má phính không phải v́ béo mà v́ sỉn, run run theo những tiếng nghẹn ngào của Thành, hai hàng nước mắt của người chính trị viên quê ở Mỹ Tho chảy xuống chầm chậm và càng lúc càng nhiều. Thành vụt đưa mu bàn tay quệt ngang và tiếp:

    – Thôi, tạm biệt nhé!

    Tôi ấm ức thay cho Thành, cho Tư Ớt và cho tất cả những người miền Nam không được về quê. Tôi hỏi:

    – Nhưng các đồng chí sao không được về chứ?

    Tư Ớt rất uất và sự uất ức đó dường đă được khơi dậy. Tư Ớt nói:

    – Họ bắt chúng tôi cứ ở lẩn quẩn trên con đường chết tiệt nầy xích ra xích vô, lết tới lết lui, thấy các anh em “về nước” mà tủi thân vô cùng. Trước đây tụi ḿnh đâu có muốn đi mà vẫn phải đi, bây giờ ḿnh muốn về th́ lại cũng không được về. Không biết cách mạng Lào trở thành căn đày kiếp đọa ǵ cho lũ Miền Nam tập kết này, và không biết tới bao giờ mới dứt?

    Tôi cố đứng dậy khỏi chiếc vơng v́ tôi đă biết câu chuyện sắp kết thúc.

    Đứng dậy xong tôi phải vịn cái cây ở đầu vơng, rồi một cách may rủi, tôi chụp lấy cây gậy của tôi lúc năy không biết ai đă dựng sẵn đó cho tôi và tôi chống gậy lảo đảo đi ... ngồi phệt lên cái đế cối lúc năy. Bây giờ th́ tới phiên Tư Ớt tâm sự, trong lúc Thành bước lại cuốn cái vơng. Tư Ớt nói với cái giọng khàn khàn có lẽ v́ khát?


    Còn tiếp ...
  • 15-11-2017, 09:08 AM
    Tran Truong

    Đường Đi Không Đến _ Xuân Vũ

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng[2]. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968. Trích :

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .........................




    Tôi nh́n cái khuôn mặt buồn bă và vàng sậm của Tư Ớt mà đau xót. Tôi biết y hoạt động rừng núi đă lâu ngày rồi. Nước da của anh xấu quá. Tôi thương Tư Ớt vô cùng, một t́nh thương bất ngờ, đột biến, sôi lên.

    Tôi hỏi:

    – Anh không về à?

    – Không được về chớ không phải không về đồng chí ạ!

    – Tại sao không được?

    – V́ người ta không cho.

    – Nhưng tại sao không cho mới được chứ ?

    – Tại v́ người ta nói Đảng Bác chưa cần, tôi ở đây đă 4 năm rồi.

    Tôi ngă ngửa ra. Vậy ra có những người như Tư Ớt, cứ ở đây măi không được về xứ.

    – Ḿnh phải đấu tranh chứ!- tôi gắt.

    – Đấu thế chó nào được, không đấu th́ c̣n “lon” c̣n “gáo” mà mang. Đấu th́ đi Hỏa Ḷ và lon gáo rụng hết. Quân đội mà, anh có hiểu không? Anh không nghe nói vụ Thiếu Tá Phan Thanh Nhàn, người Bến Tre, ở Hà Nội à? Cũng v́ hăng hái đấu tranh cho quyền lợi anh em đó mà đi tù. Gần chục năm nay rồi. Vợ ở ngoài đi lấy chồng. Anh em có thương t́nh cũng chẳng dám đi thăm, sợ liên lụy. Đó, kết quả của sự đấu tranh là thế đó .

    Tư Ớt thở dài thườn thượt làm cho tôi có cảm giác là y chán chường mọi sự đời đến mức cùng cực, kể cả cái nhiệm vụ thiêng liêng mà anh được giao cho trên đường dây này.

    Thành chờ đợi cái chấm câu của Tư Ớt tự năy giờ. Thành nói:

    – Thôi được rồi cha nội! Để cái cồn lá cồn lạp của anh qua một bên đi, để cho tôi nói chuyện với anh bạn một chút.

    Thành ngồi xuống bên tôi x̣e bàn tay vàng ngoách như vừa nhúng trong nước kí-ninh ra và nói:

    – Tôi sẽ viết cấp tốc một bức thư với 10 chữ thôi, không nặng đâu đồng chí ạ. Tôi biết các đồng chí đi đến đây là kiệt sức rồi, một sợi tóc cũng làm nặng thêm một kí-lô. Đồng chí ạ, đồng chí có về tới Mỹ Tho và có dịp đi ngang qua xă Đạo Thạnh th́ hỏi dùm tên ông già tôi.. Ờ..ờ… tôi sẽ ghi trong thư kỹ lưỡng, rồi đưa dùm cái thơ nhé. May ra gia đ́nh tôi nhận được thư mà biết tin tôi c̣n sống. C̣n nếu không t́m được th́ thôi chẳng quan trọng ǵ. Đời tôi coi như bài cào bù trất rồi, may ra c̣n kiếm được hai ba nút, vậy thôi!

    Rồi Thành lấy chiếc vơng quấn tṛn như đ̣n bánh tét đeo trên lưng và tháo ra buộc vào hai cái cây bên đường rồi d́u tôi lên nằm:

    – Nghỉ khỏe đi, bây giờ mới 12 giờ 5 phút thôi, c̣n sớm chán! Mà đoàn của đồng chí đâu?

    – Đi trước rồi!

    Thành hơi ngần ngại:

    – Vậy làm sao đồng chí theo kịp?

    Tôi nói dối để cho Thành yên tâm mà không nói tía lia nữa. Tôi không muốn nói cũng không muốn nghe. Tôi nằm, cơ thể hoàn toàn ngơi nghỉ. Tay chân buông thõng. Tôi có cảm giác là tất cả những bộ phận trong người tôi không c̣n ăn khớp với nhau nữa.

    Tư Ớt đưa tay sờ trán tôi:

    – Cỡ 39, 40 độ!

    Tôi bắt đầu run lên. Sốt xong đến rét. Người ta gọi sốt rét mà lại! Cái rét có h́nh tượng. Nó như con vật có hằng vạn bàn chân li ti chạy từ trong máu, trong tủy tôi toả ra khắp châu thân. Tôi biết rằng đó là cuộc tấn công của những toán vi trùng vào những khối hồng huyết cầu theo như lời bác sĩ giảng, nhưng tôi không tin như vậy. Tôi cứ tưởng như tôi bị nhúng nước lạnh, mà cũng không phải nữa, bởi v́ giữa trưa nắng mà đắp chăn vẫn cứ run. Hai tay ôm ngực, hai chân co lên sát bụng, hai hàm răng nghiến chặt, càng co càng rút th́ càng run, răng càng đánh ḅ cạp.

    Hai mắt lại nóng bừng như hai ḥn lửa và không trông thấy rơ nét một vật ǵ. Tôi chúi đầu vào mép vơng như chỗ tựa để chống lại cơn sốt đang hoành hành.

    Tôi nghe loáng thoáng bên tai:

    – Tôi nghiệp! Chắc đồng chí mới sốt lần đầu phải không? Ở đây là như vậy đó. Tụi tôi coi sốt như cơm bữa, “phi sốt rét bất thành giải phóng” mà! Kí-ninh uống như trẻ cơm nguội có ăn thua ǵ. Nhiều khi ḿnh sốt mà giống như là giả bộ vậy, đang ngồi chơi bỗng run lên, đang đi bỗng ră rời tay chân mắc vơng không kịp mà nằm. H́, h́.. trong người tụi tôi bây giờ vi trùng sốt rét hàng tá bắt nấu canh chua không hết.


    Còn tiếp ...
  • 14-11-2017, 11:55 PM
    Tran Truong

    Đường Đi Không Đến _ Xuân Vũ

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng[2]. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968. Trích :

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .........................



    Bỗng nhiên tôi có cái mặc cảm: ḿnh cũng nằm lại đây, lấy tấm đế cối này làm mộ bia.

    Một người đi ngang qua trước mặt tôi, ném một câu cụt ngủn:

    – Sốt à?

    Tôi khẽ gật đầu, mà h́nh như tôi chỉ ngồi im, không đáp lại. Tôi nghe cách phát âm th́ tôi biết đó là người Nam Bộ. Tôi thấy hơi đỡ khổ, bớt cô đơn, tôi hơi tỉnh lại. Tôi hỏi vói theo:

    – Đồng chí ở tỉnh nào?

    – Bến Tre – Anh bạn quay lại đáp.

    – Tôi ở Mỹ Tho

    Tôi trả lời vào một câu không phải là câu hỏi. Tưởng đó là một ḥn đá ném xuống vực thẳm không nghe tiếng đáp lại chẳng ngờ lại có âm vang:

    – À, có Mỹ Tho đi tới kia ḱa.- nói xong anh chàng bước lùi lại và vẫy tay kêu to: – Ê, ê!… có đồng hương đây mau lên – rồi lại hỏi tôi:

    – Anh về Ông Cụ phải không?

    Tôi gật. Anh bạn lạ mặt kia – một cán bộ quân đội – vỗ đùi kêu to:

    – Sướng quá trời đất ơi!

    Anh bộ đội nói tiếp:

    – Thằng bạn của tôi kia nó ở Mỹ Tho. Mười mấy năm nay nó chưa gửi được một lá thư về gia đ́nh cũng không nhận được một lá thư nào của gia đ́nh. Vợ con nó không biết ra sao. Nghe nói h́nh như ả đă lấy chồng rồi. Nó buồn lắm, cố nhiên, vợ đi lấy chồng vui sao được ,nhưng buồn một nỗi nữa là cái tin không biết có đúng vậy không. Nếu rơ vậy th́ nó ở ngoài nầy kiếm vợ chẳng khó khăn ǵ nhưng nếu không phải vậy th́ tội nghiệp cho người đàn bà. Người ta chờ đợi thủy chung té ra ḿnh quất ngựa chuối đi mất, khổ quá!

    Anh bạn mới quen nói tía lia, vừa nói, vừa b́nh luận, vừa cười và sầu năo với tôi như với một người quen cũ. Anh khoa tay:

    – Anh ngồi đây để tôi chạy đi kêu. Nó đang nướng ḿ ăn đằng kia ḱa.

    Rồi anh ta chạy phốc đi, một chốc trở lại với một người bạn mới. Anh ta vừa thở vừa nói:

    – Nó là Chính Trị Viên tên Thành, c̣n tôi Đại Đội Phó cũng xin tự giới thiệu luôn. Tôi tên Cu bí danh Tư Ớt v́ lúc nào ăn cơm cũng phải có ớt. Anh em c̣n cho tôi cái tên nữa là Cu Ớt Hiểm- Anh ta nói tự nhiên không có vẻ ǵ xấu hổ v́ cái tên không văn hoa của anh, rồi anh ta vỗ vai tôi và tiếp – C̣n đây là anh bạn sốt người Mỹ Tho đang trên đường “về nước”

    Thành hỏi tôi ngay:

    – Mỹ Tho mà quận nào anh?

    – Cái Bè – Tôi đáp.

    – Tôi ở châu thành gần bến bắc Rạch Miễu. Anh biết bến bắc Rạch Miễu không?

    – Có chớ! Tôi có qua lại vài lần.

    Tôi bỗng nhiên thấy tỉnh hẳn lại. Những cái tên đất, tên làng của quê hương không có ǵ tất cả. Đó là những cái tên b́nh thường, quá b́nh thường đi nữa là đằng khác. Nhưng đó là tất cả.

    Nhưng ở đây, những bộ mặt xanh nanh vàng, những cặp môi tím ngắt thốt ra những cái tên ấy, run run như da thịt người chạm phải làn điện nhẹ, nó run lên, những âm thanh ấy, như những tiếng đàn bất tuyệt ngân lên và lay động đến tận những nơi sâu xa nhất trong ḷng.

    Tư Ớt Hiểm cảm thấy bơ vơ khi thấy tôi và Thành không nhắc đến y. Có lẽ vậy! Cho nên y xen vô, tự giới thiệu:

    – C̣n tôi ở Bến Tre, quận Giồng Trôm, anh có biết không? Từ Mỹ Tho xuống Bến Tre đâu có mấy cây số. Qua bắc Rạch Miểu thế là tới “Bến Tre quốc” rồi!

    Tôi đáp:

    – Hồi 9 năm tôi có tới đó. Tôi sống ở Bến Tre cũng lâu lắm. Tôi biết rất nhiều. Có phải Giồng Trôm của anh có những làng Tân Hào, Thạnh Phú Đôn, Cái Mít không?

    – Phải! Phải nhưng Cái Mít không phải là làng mà chỉ là tên chợ thôi. Chợ Cái Mít nhưng làng Thạnh Phú Đông! Hồi đó tôi ở bên Tân Hương thường chèo xuồng qua Thạnh Phú Đông. Hai cái vàm Tân Hương và Cái Mít gần ngang nhau. Sông Hàm Luông rộng lắm nhưng nó có rất nhiều cồn. Tôi không nhớ hết. Mà không biết mấy chục năm nay cù lăo cũ có bồi ra thêm không . C̣n cù lao mới chắc mọc lên bít cả con sông Hàm Luông nối liền chợ Tân Hương và chợ Cái Mít nữa là khác.

    Đôi mắt Tư Ớt mơ màng ngó mông lên đầu núi, dường như ở sau rặng núi hiểm trở này là quê hương anh, ḍng sông đó, cồn đất đó. Tư Ớt nói liên miên, không để ư đến sự chú ư của những người chung quanh nữa.

    – Bây giờ mà cho tôi đi về th́ tôi đi một mạch tới ngay. Đây đó có bao xa mà về không được, gần hai chục năm rồi. Ở nhà, cha mẹ chết hết ḿnh cũng không hay!


    Còn tiếp ...
  • 13-11-2017, 05:57 PM
    Tran Truong

    Đường Đi Không Đến _ Xuân Vũ

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng[2]. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968. Trích :

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    .........................


    Anh binh sĩ nào đă vứt cái đế cối xuống đây? Cái đế súng cối này đă từ trên vai một binh sĩ nào tuột xuống đây? Nó không muốn rơi xuống đây nhưng v́ người ta vứt nó xuống nên nó phải nằm ở đây, nhưng binh sĩ đó tên ǵ? Ở đâu? Anh ta đă vác cái khối sắt này từ bao lâu và anh ta đă nghĩ ǵ khi trút cái quả núi con này xuống đây?

    Trời ơi! Tôi không hiểu được cái sức lực nào đă chuyển nỗi cái đế cối 82 ly qua những dăy núi trùng điệp này. Trong khi tôi chỉ mang có một cái ba-lô đựng toàn của riêng tôi, nghĩa là những đồ ăn, đồ ngủ mà chỉ tôi xài, không ai có quyền động tới. Trong khi mà tôi t́m từng những mẫu giấy trong cái vỏ lưỡi lam, và tất cả những đồ vật có sức nặng bằng cái nút áo trở đi để giảm chính. Trong khi mà tôi chỉ mang giúp cho anh bạn chí thân của tôi một cái áo mỏng nặng không đến 300 gờ-ram và chỉ trên một quảng đường ngắn th́ anh chiến sĩ này đă vác, ngoài cái ba-lô của anh ra, cả cái đế cối này, một cái món đồ vật của anh nhưng không phải là của anh, không phải trên một quảng đường mà là suốt cả con đường.

    Đừng ai chê trách anh, đừng ai buộc tội anh. Tôi xin làm biện hộ sư cho anh tới cùng. Anh chiến sĩ ấy là con người, anh ta phải biết suy nghĩ, phải có lương tri, v́ thế anh ta đă vứt cái gánh nặng đó đi. Anh vứt nó đi là phải. Bất cứ anh bộ độ̣i con cháu Cụ Hồ nào trên đường Trường Sơn này vứt súng đi cũng đều không đáng chê trách. Người ở ngoài cuộc không thể hiểu được con người đă lao lực như thế nào.

    Tôi chua xót nghĩ đến cái vai gầy không c̣n thịt đă bị cái đế cối kia cạp cho tận xương, tới cái xương sống như lưng đê sông Hồng uốn lượn nao núng vào mùa nước đổ .
    Tới hai hàng xương sườn nổi ṿng lên và suưt bật tung ra mỗi lần chiếc đế cối kia, v́ một cử động nhanh hoặc bất thường, đè nặng xuống vai anh ta hơn, tới hai cái chân cũng bị những mảnh đá tai mèo róc hết thịt để lộ ra những chiếc xương cong dưới sức nặng cũng của chiếc đế sắt và mỗi bước đi, những cái khớp xương cứ khua lụp cụp như những ổ đạn của những chiếc xe lâu ngày không vô mỡ ḅ, tới những ngón chân như những cây gậy toè đầu , đă để lại máu trên những phiến đá.

    Tôi nghĩ đến những bộ phận của con người b́nh thường nhất , từ cái tóc, từ cái tai cho đến cái răng, cái mũi của anh chiến sĩ, quả t́nh đáng thương hại. Anh ta là một người không c̣n giống người nào trên trái đất kể cả tôi, là đồng bào, đồng hành, đồng chí của anh. Tôi vụt đứng dậy v́ không hiểu sao tôi lại nghĩ rằng cái đế cối này là một nấm mộ dưới đó là một bộ xương đang ră ra và vong hồn c̣n treo lơ lửng đâu đó trên những cành cây trên đầu tôi.

    Anh chiến sĩ đă không trút khỏi cái khối nặng của Bác và Đảng đặt trên lưng anh v́ anh đi giải phóng Miền Nam với cái đế cối kia mà. Anh đă vấp ngă, tôi nghĩ vậy. Mà khi cái đế cối kia sau khi đă nằm chễm chệ trên lưng anh mấy tháng trời, nó nhân dịp đó mà trả ơn cho anh bằng cách là đè anh bẹp dí như một chiếc rập nhẹp đè một con chuột. Và trung thành với chủ nó cho đến giờ phút cuối cùng, cái khối sắt ấy đă lấy thân ra làm nấm mộ che đậy sương gió cho anh.

    Tôi chua chát nghĩ đến nhân vật anh hùng của truyện dài Paven Coóc-sa-ghin trong “Thép Đă Trui”. Vâng, thép trong xứ Việt Nam cũng đă trui như thế đấy và con người được gắn thêm cái danh hiệu vinh quang “đi giải phóng Miền Nam” cũng đă được trui như thế ấy.


    Còn tiếp ...
This thread has more than 10 replies. Click here to review the whole thread.

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •