Reply to Thread

Post a reply to the thread: Ngày này năm xưa

Your Message

Viết bằng chữ trong ô trống kết quả của chín trừ sáu

 

Additional Options

  • Will turn www.example.com into [URL]http://www.example.com[/URL].

Rate Thread

You may rate this thread from 1-star (Terrible) to 5-stars (Excellent) if you wish to do so.

Topic Review (Newest First)

  • 14-11-2018, 03:15 AM
    nguoi gia
    Cách nay đúng 167 năm, nhóm người được mệnh danh là đội Denny đổ bộ tại nơi mà sau là thành phố Seattle

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipe.../Th%C3%A1ng_11
    Ngày 13 tháng 11, 1851
    • 1851 – Đội Denny đổ bộ tại Alki Point, sau đó chuyển đến một địa điểm nay trở thành thành phố Seattle, Washington, Hoa Kỳ.

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Seattle
    https://en.wikipedia.org/wiki/Seattle
    https://fr.wikipedia.org/wiki/Seattle
    https://nuocnha.blogspot.com/2018/11...nguoi-uoc.html

    Seattle

    — Thành phố —

    Trung tâm thành phố nh́n từ hướng Bắc.

    Tên hiệu: The Emerald City, Seatown, Rain City, Jet City, Gateway to Alaska, Gateway to The Pacific, Queen City

    Vị trí của Seattle trong Quận King và Washington

    Tọa độ: 47°36′35″B 122°19′59″T
    Quốc gia USA
    Tiểu bang Washington
    Quận King
    Đặt tên theo Tù trưởng Seattle

    Chính quyền
    Kiểu Hội đồng thị trưởng
    Thị trưởng Tim Burgess

    Diện tích
    Thành phố 369,2 km2 (142,5 mi2)
    Đất liền 217,2 km2 (83,87 mi2)
    Mặt nước 152 km2 (58,67 mi2)
    Vùng đô thị 21.202 km2 (8.186 mi2)
    Độ cao 0–158 m (0–520 ft)
    Dân số (18 tháng 9 năm 2009)
    Thành phố 602.000 (US: 25th)
    Mật độ 2,755/km2 (7.136/mi2)
    Đô thị 2.712.205
    Vùng đô thị 3.407.848 (US: 15th)
    Seattleite
    Múi giờ PST (UTC-8)
    Mùa hè (DST) PDT (UTC-7)
    Mă bưu điện 98101, 98102 98103, 98104, 98105, 98106, 98107, 98108, 98109, 98110, 98111, 98112, 98113, 98114, 98115, 98116, 98117, 98118, 98119, 98121, 98122, 98124, 98125, 98126, 98127, 98129, 98131, 98132, 98133, 98134, 98136, 98138, 98139, 98141, 98144, 98145, 98146, 98148, 98151, 98154, 98155, 98158, 98160, 98161, 98164, 98165, 98166, 98168, 98170, 98171, 98174, 98175, 98177, 98178, 98181, 98184, 98185, 98188, 98190, 98191, 98194, 98195, 98198, 98199
    Mă điện thoại 206
    Thành phố kết nghĩa Beersheba, Bergen, Cebu, Trùng Khánh, Christchurch, Daejeon, Galway, Gdynia, Hải Pḥng, CaoHùng, Kobe, Mombasa, Limbe, Mazatlán, Nantes, Pécs, Perugia, Reykjavík, Sihanoukville, Surabaya, Goiânia, Tashkent, Chimbote

    Trang web www.seattle.gov

    Seattle (phát âm /siːˈæɾ(ə)l, us dict: sē•ăt′•əl) là một thành phố cảng biển tọa lạc ở vùng Tây Bắc Thái B́nh Dương của Hoa Kỳ. Thành phố này nằm ở phía tây tiểu bang Washington trên một dải đất giữa Vịnh Puget (một nhánh nhỏ của Thái B́nh Dương) và hồ Washington, khoảng cách khoảng 160 km về phía nam biên giới Canada – Hoa Kỳ. Thành phố được đặt tên theo tù trưởng Seattle, thuộc các bộ lạc Duwamish và Suquamish. Seattle là trung tâm của vùng đô thị Seattle–Tacoma–Bellevue lớn thứ 15 ở Hoa Kỳ và lớn thứ nhất ở Tây Bắc Thái B́nh Dương. Là một trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của khu vực, Seattle là thủ phủ của Quận King. Theo cuộc điều tra dân số vào tháng 4 năm 2009, Seattle có dân số khoảng 617.000 người, c̣n vùng đô thị là 4.158.000 người. Cảng Seattle và Sân bay quốc tế Seattle-Tacoma là cửa ngơ chính đi tới Châu Á, Alaska và các nơi khác trên thế giới.
    Những người bản địa đă định cư tại Seattle ít nhất 4000 năm, nhưng khu định cư người châu Âu chỉ bắt đầu vào giữa thế kỷ 19. Những người định cư châu Âu lâu dài đầu tiên — Arthur A. Denny và những người tiếp theo được gọi là bọn Denny — đă đến đây vào ngày 13 tháng 11 năm 1851. Năm 1853, David Swinson Maynard đă đề xuất tên gọi khu định cư chính được đổi thành "Seattle", một tên gọi Anh hóa của tên Sealth, tù trưởng của hai bộ lạc địa phương. Kể từ đó, thành phố có tên gọi là Seattle. Từ năm 1869 cho đến năm 1882, Seattle đă có biệt danh "Queen City".
    Seattle nổi tiếng với việc tiêu thụ nhiều cà phê; các công ty cà phê được thành lập hoặc đóng trụ sở ở Seattle có Starbucks, Seattle's Best Coffee, và Tully's. Các nhà nghiên cứu tại Trường Đại học Central Connecticut đă xếp hạng Seattle là thành phố học thức nhất Hoa Kỳ trong 69 thành phố lớn nhất châu Mỹ trong năm 2005 và 2006, xếp thứ nh́ trong năm 2007 (sau Minneapolis, Minnesota), và ḥa với Minneapolis vào năm 2008. Ngoài ra, số liệu điều tra từ Cục điều tra dân số Hoa Kỳ cho thấy Seattle là thành phố có giáo dục cao nhất Hoa Kỳ, với 52,5% dân số từ tuổi 25 trở lên có bằng cử nhân hoặc cao hơn. Seattle là nơi sinh của huyền thoại nhạc rock Jimi Hendrixvà phong cách nhạc gọi là "grunge" trứ danh bởi các ban nhạc Nirvana, Alice in Chains, Pearl Jam, và Soundgarden. Bruce Lee và người con trai của ông, Brandon Lee được an táng ở khu nghĩa trang Lakeview.
    Xét về thu nhập b́nh quân đầu người, một nghiên cứu của Cục phân tích kinh tế Mĩ xếp hạng vùng đô thị Seattle đứng thứ 17 trong 363 khu vực đô thị trong năm 2006. Seattle từ một vùng kinh tế lạc hậu, nay đă phát triển mạnh mẽ về trung tâm công nghệ thông tin, hàng không, kiến trúc và các ngành công nghiệp giải trí. Thành phố được biết đến như một trung tâm của những người yêu công nghệ "xanh".
    Các tuyến đường sắt và xe điện thô sơ (street car) đă từng thống trị hệ thống giao thông nhưng đă bị thay thế phần lớn bằng một hệ thống xe buưt dày đặc và sự phát triện nhanh chóng đă khiến cho xe hơi trở thành phương tiện chính của người dân từ giữa đến cuối thế kỉ XX. Chính v́ vậy, Seattle đă trở thành một trong những thành phố có nạn ùn tắc giao thông nhiều nhất nước Mĩ. Mặc dù vậy, những nỗ lực để thay đổi vấn nạn này tại các khu vực và các cơ quan chức năng đă dẫn đến dịch vụ đường sắt mới nối Seattle đến Everett và Tahoma, liên kết khu vực Light Rail về phía Nam từ khu Trung tâm và khu nội thành South Lake Union bằng tuyến đường sắt South Lake Union. Một tuyến đường mở rộng ở phía Nam đi tới Sân bay Quốc tế Seattle-Tahoma bắt đầu được đưa vào sử dụng từ ngày 19 tháng 12 năm 2009; tuyến đường mở rộng ở phía Bắc th́ đi đến Đại học Washington được xây dựng vào năm 2010; và một vài mở rộng xa hơn như kế hoạch đi đến Lynnwood ở phía Bắc, Des Moines ở phía Nam, và Bellevue và Redmond ở phía Đông vào năm 2023.

    Lịch sử
    Thành lập


    Trận Seattle (1856)
    Khai quật khảo cổ xác nhận rằng khu vực Seattle đă có con người sinh sống cách đây ít nhất 4.000 năm. Trước khi những người châu Âu đầu tiên đến khu vực này, người dân bản địa (nay gọi là tộc Duwamish) đă chiếm 17 làng quanh khu vực Vịnh Elliott.
    Người châu Âu đầu tiên đặt chân đến khu vực Seattle là George Vancouver vào tháng 5 năm 1792 trong chuyến thám hiểm để lập biểu đồ Tây Bắc Thái B́nh Dương (1791-1795).[20] Năm 1851, một bọn lớn do Luther Collins đặt chân đến cửa sông Duwamish, họ đă tuyên bố chủ quyền vùng đất này vào ngày 14 tháng 9 năm 1851.[21] Mười ba ngày sau đó, các thành viên của Bọn Collins yêu cầu bồi thường thông qua các tuyển trạch viên của Bọn Denny.[22] Các thành viên của Bọn Denny tuyên bố chủ quyền vùng đất Aiki Point vào ngày 28 tháng 9 năm 1851.[23] Phần c̣n lại của Bọn Denny đóng buồm từ Portland, Oregon và đi tới Aiki Point trong một cơn mưa ngày 13 tháng 11 năm 1851.[23]
    Sau một mùa đông khó khăn, hầu hết các thành viên Bọn Denny di chuyển qua Vịnh Elliott và thành lập làng "Dewamps" hoặc "Duwamps" trên vùng đất mà ngày nay Pioneer Square.[23] Charles Terry và John Low ở lại vị trí ban đầu và lập một ngôi làng mang tên "New York", nhưng lại đổi lại thành "New York Aiki" từ tháng 4 năm 1853. Chữ "Aiki" trong tiếng Chinook có nghĩa là lát nữa thôi, ngay bên cạnh hoặc một người nào đó.[24] New York Alki và Duwamps cạnh tranh cho sự thống trị trong một vài năm tới, nhưng sau đó Aiki bị bỏ rơi và người dân chuyển sang sinh sống ở bên kia vịnh.[25]
    David Swinson ("Doc") Maynard, một trong những người sáng lập Duwamps, là người đề xuất tên gọi làng là "Seattle" từ tên của tù trưởng của hai bộ lạc Duwamish và Suquamish, Sealth.[26][27][28] Thuật ngữ "Seattle", xuất hiện trên chính thức trên lănh thổ Washington ngày 23 Tháng Năm 1853. Năm 1855, khu định cư được thành lập. Ngày 14 tháng 1 năm 1865, Lập pháp của Washington hợp nhất thị trấn Seattle với một ủy ban quản lư thành phố. Hai năm sau, sau khi đơn xin đă được nộp bởi hầu hết các công dân hàng đầu, lập pháp đă giải tán trị trấn. Năm 1867, một linh mục Công giáo người Canada gốc Pháp tên là Francis X. Prefontaine đến Seattle và quyết định thành lập một giáo xứ ở đó. Trong thời gian 1868-1869, ông đă góp tiền xây dựng nhà thờ bằng cách nâng cao tiền tại hội chợ, triển lăm ở khu vực Vịnh Puget và cho ra nhiều công tŕnh, vào năm 1869, ông mở cửa nhà thờ Công giáo đầu tiên tại Seattle trên Đại lộ thứ ba và đường Washington, Thị trấn vẫn c̣n một khuôn viên của Quận King cho đến cuối năm 1869 khi một đơn yêu cầu mới đă được đệ lên và thành phố đă được tái hợp với một chính quyền thị trưởng-hội đồng.[23][29] Các con dấu chính thức của thành phố Seattle mang năm "1869".

    Cuộc đi t́m vàng, Thế chiến thứ I và Đại Khủng hoảng

    Một tờ báo loan tin cuộc Tổng đ́nh công ở Seattle 1919

    Kể từ khi t́m ra vàng ở dọc sông Klondike gần cuối thế kỉ XIX, mọi người đổ xô đến để đào vàng. Kể từ đó, Seattle đă trở thành một trung tậm vận chuyển lớn. Ngày 14 tháng 7 năm 1897, các tàu SS Portland chứa hàng tấn vàng cập cảng Seattle, và Seattle đă trở thành mốc giao thông chính và cung cấp hàng hoá cho các thợ mỏ ở Alaska và Yukon.

    Alaska ( /əˈlæskə/) (phát âm: Ơ-látx-cơ hay A-lát-xca) là một tiểu bang của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, nằm tại đầu tây bắc của lục địa Bắc Mỹ. Alaska giáp với Canada ở phía đông, giáp với Bắc Băng Dương ở phía bắc, và giáp với Thái B́nh Dương ở phía tây và phía nam, đối diện với Ngaqua eo biển Bering.


    Yukon ( /ˈjuːkɒn/; phát âm tiếng Pháp: [jykɔ̃]) là lănh thổ liên bang nhỏ nhất và xa nhất của Canada (hai lănh thổ khác là Các Lănh thổ Tây Bắc và Nunavut).

    Cùng với Seattle, các thành phố khác như Everett, Tacoma, Port Townsend, Bremerton, và Olympia, tất cả trong khu vực Vịnh Puget, trở thành đối thủ cạnh tranh để trao đổi, chứ không phải chỉ ḿnh Seattle là trung tâm chính khai thác các kim loại quư. Cuộc đổ xô đi t́m vàng ở Yukon kết thúc vào năm 1909, và năm đó thành phố cũng đă đăng cai tổ chức Triển lăm thế giới.
    Một sự bùng nổ đóng tàu có quy mô lớn ở phần đầu của thế kỷ 20 làm cho các hăng đóng tàu tăng thêm nhân công nhưng lại trả lương rất ít ỏi, các công nhân đă đồng loạt đ́nh công để đạt được mức lương cao hơn sau hai năm Thế chiến thứ I kiểm soát tiền lương, đă tạo nên cuộc Tổng đ́nh công ở Seattle năm 1919, là cuộc tổng đ́nh công đầu tiên trong nước. Một kế hoạch phát triển thành phố vào năm 1912 do Virgil Bogue đề xướng nhưng không được sử dụng. Nền kinh tế của Seattle phát triển thịnh vượng vào những năm 1920 nhưng lại bị suy thoái do ảnh hưởng của Đại Khủng hoảng, và đă phải trải qua nhiều cuộc xung đột lao động nghiêm trọng nhất của đất nước trong thời kỳ đó. Những cuộc xung đột trong thời gian diễn ra cuộc Đ́nh công bờ biển phía Tây năm 1934 đă khiến cho Seattle phải trả chi phí rất lớn nếu muốn đi đến cảng Los Angeles bằng tàu.[30]
    Seattle cũng là trụ sở của ông trùm sân khấu kịch hài Alexander Pantages, người mà đă mở hàng loạt các sân khấu dành cho kịch hài, kịch câm tại Seattle. Những nhà hát của ông luôn được mở rộng, và từ một người Mỹ gốc Hy Lạp nghèo túng, ông đă trở thành một trong những ông bầu xuất sắc nhất nước Mĩ và mau chóng trở thành ông trùm màn bạc.

    https://s20.postimg.cc/cgdmlbxst/EU-_Greece.svg.png
    Hy Lạp (tiếng Hy Lạp: Ελλάδα Ellada hay Ελλάς Ellas), tên chính thức là Cộng ḥa Hy Lạp(Ελληνική Δημοκρατία, Elliniki Dimokratia), là một quốc gia thuộc khu vực châu Âu, nằm phía nam bán đảo Balkan.

    Seattle được cho là nơi hấp dẫn du khách ở miền Tây Hoa Kỳ nhờ vào các tạp kỹ (biểu diễn ca, nhạc, múa, xiếc...). Thành công của Pantages một phần là do công của Kỹ sư- Kiến trúc sư người Scotland B. Marcus Priteca. Priteca đă xây những nhà hát có thể phá huỷ hoặc dễ dàng di chuyển từ nơi này sang nơi khác cho nhiều mục đích khác nhau. Liên doanh Pantages-Priteca có độ ảnh hưởng rất lớn đối với công chúng Mĩ thời đó. Tuy nhiên, những nhà hát của Pantages-Priteca c̣n sót lại trên một số thành phố của Hoa Kỳ chỉ c̣n một cái tên là Pantages.

    Những năm sau chiến tranh: Hàng không và điện tử

    Trung tâm Seattle

    Nền kinh tế khu vực xuống dốc sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, đồng nghĩa với việc làn sóng nhập cư từ Nhật Bản đến Seattle. Nền kinh tế được phục hồi trở lại nhờ sự thống trị ngày càng tăng trong thị trường máy bay chở khách của công ty sản xuất máy bay Boeing.[31] Seattle tổ chức lễ ăn mừng cho sự phục hồi thịnh vượng của nó và tổ chức Triển lăm thế kỉ 21 và Hội chợ thế giới 1962.[32] Nhưng kinh tế địa phương đă đi vào một t́nh trạng suy thoái lớn trong cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970. Nhiều người rời khỏi khu vực để t́m việc làm ở nơi khác, và các công ty bất động sản lớn ở Seattle đă đăng bản thông báo "Will the last person leaving Seattle – Turn out the lights."[33]
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    https://s20.postimg.cc/5mncy23n1/New...ted_States.png
    New Mexico (phiên âm: Niu Mê-hi-cô, tiếng Tây Ban Nha: Nuevo México [ˈnweβo ˈmexiko]; [Yootó Hahoodzo] lỗi: {{lang-xx}}: văn bản có thẻ đánh dấu in xiên (trợ giúp) [j̣:txó hàḥ:tṣ]) hay Tân Mexico là một tiểu bang tọa lạc ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ. New Mexico trở thành bang thứ 47 vào ngày 6 tháng 1 năm 1912.

    Vào giai đoạn này, Seattle đă có sự thu hút đối với giới doanh nghiệp. V́ vậy, thành phố đă là trụ sở của nhiều công ty lớn. Thành phố cũng là chủ nhà của Đại hội thể thao Goodwill Games năm 1990,[37] Hội nghị APEC năm 1993. Cũng trong giai đoạn này, ḍng nhạc grunge (xuất xứ từ Seattle) đă phát triển và phổ biến rộng khắp.[38]


    Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái B́nh Dương (tiếng Anh: Asia-Pacific Economic Cooperation, viết tắt là APEC) là diễn đàn của 21 nền kinh tế thành viên Vành đai Thái B́nh Dương với mục tiêu tăng cường mối quan hệ về kinh tế và chính trị.

    Địa lư

    Toàn cảnh Seattle nh́n từ Space Needle: một cái nh́n gần 360 độ bao gồm (từ trái sang) Vịnh Puget, Queen Anne Hill, Lake Union, Capitol Hill, trung tâm thành phố Seattle, Elliott Bay, và West Seattle.

    Với tổng diện tích 83,9 dặm vuông, Seattle nằm ở 47,37 vĩ độ Bắc và 122,20 kinh độ Tây. Địa h́nh chính là đồi núi, Seattle nằm trên bảy ngọn đồi là Capitol Hill, First Hill, West Seattle, Beacon Hill, Magnolia, Denny Hill và Queen Anne. Kitsap và bán đảo Olympic cùng với những ngọn núi Olympic nằm ở phía Tây của Vịnh Puget, trong khi dăy Cascade và Lake Sammamish nằm về phía đông hồ Washington. Các khu rừng xanh tươi tốt và nhiều cơ quan nước đă cung cấp kế sinh nhai cho nhiều cộng đồng hái lượm và săn bắn.

    Địa h́nh

    Trung tâm Seattle được bao bọc bởi Vịnh Elliot (phía dưới bên trái), hạ Broadway (từ phía trên trái đến phía trên bên phải), Yesler Way (phía dưới phải) và Denny Way (vùng bị che bởi mây)

    Seattle nằm giữa Vịnh Puget (là một vịnh nhỏ, được xem là cánh tay phải của Thái B́nh Dương) về phía tây, và hồ Washington về phía đông. Cảng chính của thành phố, Elliott Bay, là lối vào của Vịnh Puget. Ở phía Tây, bên kia Vịnh Puget là bán đảo Kitsap, dăy núi Olympic trên bán đảo Olympic; ở phía Đông, có hồ Washington, vùng ngoại ô, hồ Sammamish và dăy Cascade.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Kinh tế
    https://s20.postimg.cc/pxal4a859/Port_of_seattle.jpg
    Cảng Seattle

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Dân số
    Tỉ lệ Nhân khẩu và Xă hội (ước tính năm 2006)[58]
    Phân loại: Seattle Washington Hoa Kỳ
    Đàn ông (%) 49,6 49,8 49
    Phụ nữ (%) 50,4 50,2 31
    Tuổi trung niên 37,7 36,7 36,4
    Vị thành niên (%) 15,3 23,9 13,3
    18-64 tuổi (%) 73,6 64,6 74,6
    Trên 65 + (%) 11,1 11,5 12,1
    Thu nhập b́nh quân đầu người ($) 38 648 27 346 25 035
    Tỷ lệ đói nghèo[59] (%) 12,5 11,8 13,3

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Cơ sở hạ tầng
    Giao thông
    https://s20.postimg.cc/6th9ngxql/Seatac_Worlwind.jpg
    Toàn cảnh sân bay Sea-Tac nh́n từ trên cao
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Thư viện
    https://s20.postimg.cc/vzi7udrbx/Sea...al_Library.jpg
    Thư viện trung tâm Seattle

    Bài quá dài, phải cắt bớt
    Du lịch
    https://s20.postimg.cc/5r7350mnx/Pik...et_Seattle.jpg
    Chợ Pike Place
    Bài quá dài, phải cắt bớt
  • 09-11-2018, 03:34 AM
    nguoi gia
    Cách nay đúng 95 năm, Hitler thất bại trong âm mưu lật đổ chính phủ Bayem ở Đức

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipe.../Th%C3%A1ng_11
    Ngày 08 tháng 11, 1923
    • 1923 – Đảo chính nhà hàng bia: Tại München, Adolf Hitler lănh đạo lực lượng Quốc Xă trong một nỗ lực bất thành nhằm lật đổ chính phủ Bayern, Đức.

    https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90..._qu%C3%A1n_bia
    https://en.wikipedia.org/wiki/Beer_Hall_Putsch
    https://fr.wikipedia.org/wiki/Putsch_de_la_Brasserie
    https://nuocnha.blogspot.com/2018/11...muu-lat-o.html

    Đảo chính quán bia “Hall Putsch”

    Beer Hall Putsch

    The Marienplatz in Munich during the Beer Hall Putsch

    Date 8–9 November 1923
    Location Munich, Bavaria, Germany (48.1304°N 11.592°E)
    Action Hitler and his associates planned to seize Munich and later to use Munich as a base for a march against Germany's Weimar Republic government
    Result Reichswehr victory. Putsch failure, arrest of NSDAP leadership.

    Insurgents v. Government
    Nazi Party Weimar Republic
    Sturmabteilung Free State of Bavaria, Reichswehr

    Commanders and leaders
    Adolf Hitler (WIA) Gustav von Kahr
    Erich Ludendorff Eugen von Knilling
    Ernst Röhm Hans von Seisser
    Rudolf Hess Otto von Lossow
    Scheubner-Richter †
    Hermann Göring (WIA)

    Military support
    2,000+ 130

    Casualties and losses
    16 killed 4 killed
    About a dozen injured Several wounded
    Many captured and imprisoned

    Đảo chính quán bia (tiếng Đức: Bürgerbräu-Putsch) hay Đảo chính Hitler-Ludendorff (tiếng Đức: Hitler-Ludendorff-Putsch) là cụm từ mà sử gia gọi biến cố xảy ra ngày 8 tháng 11 năm 1923 do Adolf Hitler điều động Đảng Đức Quốc xă gây ra, nhằm lật đổ chính quyền bang Bayern, từ đó dự định tiếp tục lật đổ chính phủ Cộng ḥa Weimar.


    Adolf Hitler (tiếng Đức: [ˈadɔlf ˈhɪtlɐ] (phiên âm: A-đôn-phơ Hít-le)(20 tháng 4 năm 1889 – 30 tháng 4 năm 1945) là người Đức gốc Áo, Chủ tịch Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xă hội chủ nghĩa (Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei, viết tắt NSDAP) từ năm 1921, Thủ tướng Đức từ năm 1933, là "Lănh tụ và Thủ tướng đế quốc" (Führer und Reichskanzler) kiêm nguyên thủ quốc gia nắm quyền Đế quốc Đức kể từ năm 1934.


    Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xă hội chủ nghĩa (tiếng Đức: Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei; viết tắt: NSDAP; gọi tắt: Nazi; gọi tắt trong tiếng Việt: Đảng Quốc Xă) là đảng cầm quyền Đức trong thời kỳ Đức Quốc Xă.


    Germany năm 1930


    Bayern (tiếng Đức: Freistaat Bayern; tiếng Anh: Bavaria) là bang lớn nhất nằm cực nam của Đức ngày nay, với diện tích 70.553 km² và dân số 12,4 triệu người (đứng hàng thứ hai sau Nordrhein-Westfalen).


    Các bang của Đức thời Weimar

    Cộng ḥa Weimar (tiếng Đức: Weimarer Republik) là tên sử gia gọi chính phủ của nước Đức trong khoảng thời gian từ 1918 sau cuộc Cách mạng tháng 11, sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, đến khi Adolf Hitler được phong làm thủ tướng vào ngày 30 tháng giêng 1933 và đảng Quốc xă lên nắm quyền.

    Nguyên nhân
    Bang Bayern lúc bấy giờ do một tam đầu chế lănh đạo: Gustav von Kahr (Thủ hiến bang), Đại tướng Otto von Lossow (tư lệnh quân đội ở bang) và Đại tá Hans von Seisser (Chỉ huy trưởng Cảnh sát Bayern).

    https://s20.postimg.cc/tdf3wlmwd/Gus...r_von_Kahr.jpg
    Gustav Ritter von Kahr (29 tháng 11 năm 1862 - ngày 30 Tháng 6 năm 1934) là một chính trị gia người Đức, hoạt động ở bang Bavaria và là một trong ba tam đầu chế của bang bavaria. Ông đă có công lớn trong sự việc lật đổ và đàn áp cuộc Đảo chính nhà hàng bia vào năm 1923 của Adolf Hitler, ông bị Đảng Đức Quốc xă của Adolf Hitler sát hại dă man hơn mười năm sau đó trong đêm của những con dao dài.

    https://s20.postimg.cc/3umrjo3d9/Major_v._Lossow.jpg
    General Otto Hermann von Lossow (15 January 1868 – 25 November 1938) was a Bavarian Army and then German Army officer who played a prominent role in the events surrounding the attempted Beer Hall Putschby Adolf Hitler and the Nazi Party in November 1923.

    https://s20.postimg.cc/vuqv42wkt/sei...tter-von02.jpg
    Colonel Hans Ritter von Seisser (German Seißer; 9 December 1874 – 14 April 1973) was the head of the Bavarian State Police in 1923.

    Tuy có thái độ thách thức với chính phủ trung ương, tam đầu chế này vẫn hành động thận trọng. Nhưng Hitler thấy rằng nếu để chính phủ trung ương có thêm thời gian và ổn định lại t́nh h́nh, Quốc xă sẽ mất cơ hội. Thêm nữa, Hitler cũng đang lo là tam đầu chế âm mưu một cuộc đảo chính không có ông để tách Bayern ra khỏi nước Đức. Với ư tưởng cực đoan cho một nước Đức hùng mạnh, thống nhất và theo chủ nghĩa quốc gia, Hitler kiên quyết chống đối ư đồ như thế.
    Mục tiêu lớn lao của Hitler là chiếm chính quyền nước Đức, nhưng ông ta không có đủ sự hậu thuẫn để một ḿnh lật đổ chính phủ. Ông cần có sự hậu thuẫn của bang Bayern, quân đội và cảnh sát. Bằng cách nào đó, ông phải đặt Kahr, Lossov và Seisser vào vị thế khiến cho họ phải hành động cùng với ông và không thể thối lui được. Ông ta quyết định bắt cóc tam đầu chế và ép buộc họ hành xử quyền hành theo ư ông muốn. V́ thế, trong một thời gian, Hitler đă có ư chiếm chính quyền bang Bayern để làm bàn đạp tiến lên chính phủ trung ương.
    Sau vài âm mưu không thành, cơ hội đă đến. Báo chí đă đăng tải một thông báo vắn tắt cho biết, theo sự yêu cầu của vài tổ chức kinh doanh ở thành phố München, Thủ hiến Kahr sẽ đến phát biểu tại một buổi mít-tinh ở quán bia Bürgerbräukeller nằm ở vùng ngoại ô phía đông-nam thành phố. Đề tài phát biểu sẽ là về chính quyền Bayern. Tướng von Lossow, Đại tá von Seisser và nhiều nhân vật cao cấp khác sẽ hiện diện.


    Localización de Múnich en Baviera


    Ubicación de Múnich
    München hay Muenchen (phát âm: [ˈmʏnçən]), thủ phủ của tiểu bang Bayern, là thành phố lớn thứ ba của Đức sau Berlin và Hamburg và là một trong những trung tâm kinh tế, giao thông và văn hóaquan trọng nhất của Cộng ḥa Liên bang Đức.

    Có hai yếu tố khiến cho Hitler đi đến quyết định vội vă. Một là ông ta nghi ngờ Kahr có thể lợi dụng cuộc mít-tinh để tuyên bố nền độc lập cho Bayern và đưa vương triều Wittelsbach trở lại ngai vàng.

    https://s20.postimg.cc/7og7sruz1/Wap...ches_Reich.png
    Nhà Wittelsbach là một trong những hoàng tộc châu Âu lâu đời nhất và là một triều đại Đức ở Bayern. Xuất phát từ nhà này là các bá tước, công tước, tuyển hầu tước và vua của Bayern (1180–1918), cũng như các công tước Kurpfalz (1214–1803 và 1816–1918), mà cũng là tuyển hầu tước của Đế quốc La Mă Thần thánh. Nhánh Pfalz cũng có công tước của Jülich-Berg (1614–1794/1806).

    Điều này đi ngược lại chủ trương của Hitler: một nước Đức thống nhất dưới chính thể độc tài không có vua, nên ông ta muốn ngăn chặn Kahr thực hiện việc này. Yếu tố thứ hai là cuộc mít-tinh tạo cơ hội quư báu để đẩy tam đầu chế vào rọ và uy hiếp họ tham gia cuộc cách mạng của Quốc xă. Thế nên, Hitler quyết định hành động lập tức. Các đội quân thuộc lực lượng bán quân sự SA của Đảng Đức Quốc xă, dưới quyền chỉ huy của Ernst Julius Röhm, được khẩn cấp điều đến nhà hàng bia.

    Diễn biến
    Lúc 9:45 giờ tối ngày 8 tháng 11 năm 1923, sau khi Kahr đă phát biểu được nửa giờ trước đám đông khoảng 3.000 người, th́ lực lượng SA kéo đến bao vây quán Bürgerbräukeller và Hitler tiến vào. Trong khi một số thuộc hạ của ông ta bố trí một khẩu súng máy ở cổng vào, Hitler nhảy lên một chiếc bàn và bắn một phát súng lục để gây sự chú ư của đám đông. Kahr ngừng nói giữa bài phát biểu. Đám đông nh́n quanh quẩn để t́m nguyên do của sự ngăn trở. Với sự hỗ trợ của Rudolf Hess (cánh tay phải của Hitler) và Ulrich Graf (cận vệ), Hitler tiến đến khán đài. Một thiếu tá cảnh sát định ngăn cản, nhưng Hitler chĩa khẩu súng lục vào anh ta và tiếp tục tiến đến. Kahr bước lùi ra khỏi diễn đàn và Hitler đến thế chỗ.
    Bài quá dài, phải cắt bớt


    Erich Friedrich Wilhelm Ludendorff (9 tháng 4 năm 1865 – 20 tháng 12 năm 1937) là một tướng lĩnh và chiến lược gia quân sự quan trọng của Đế quốc Đức.

    Lúc đầu, ba người không muốn nói chuyện với Hitler. Ông ta tiếp tục kêu gọi họ. Cả ba phải cùng với ông ta tuyên cáo cách mạng và chính phủ mới; cả ba phải nhận chức vụ mà ông ta cử, nếu không họ không có quyền để tồn tại. Kahr sẽ là Phụ chính cho bang Bayern; Lossov làm Bộ trưởng Liên lạc Quốc hội; Seisser làm Bộ trưởng Bộ Cảnh sát của Đức. Cả ba người đều không có ấn tượng với những chức vụ như thế. Họ không trả lời!
    Sự im lặng kéo dài khiến cho Hitler cảm thấy bất an. Cuối cùng, ông ta chĩa khẩu súng về phía họ: "Tôi có bốn viên đạn trong khẩu súng. Ba viên cho những người cộng sự, nếu họ bỏ rơi tôi. Viên đạn cuối cùng dành cho tôi!" Rồi chĩa súng vào màng tang ḿnh, Hitler thốt lên: "Nếu đến chiều mai tôi không đạt chiến thắng, tôi sẽ chịu chết."
    Kahr trả lời: "Ông Hitler, ông có thể ra lệnh cho người ta bắn tôi hoặc tự ông bắn tôi. Tôi chết hoặc sống cũng không hề ǵ."
    Seisser cũng cất tiếng. Ông trách Hitler đă không giữ lời hứa rằng sẽ không nổi dậy chống lại cảnh sát.
    Hitler trả lời: "Đúng là tôi có hứa. Xin lỗi, nhưng tôi phải làm nhiệm vụ cho tổ quốc."
    Tướng von Lossow vẫn giữ im lặng trong sự khinh miệt. Nhưng khi Kahr bắt đầu thầm th́ với ông, Hitler cắt ngang: "Ngưng! Không được nói nếu tôi không cho phép!"
    Hitler không đạt kết quả ǵ trong việc thuyết phục họ. Cả ba người đang nắm giữ quyền lực ở Bayern đều không muốn theo ông ta, dù đang bị ṇng súng đe dọa. Cuộc bạo loạn không diễn ra như dự trù. Rồi Hitler có động thái bất chợt. Không nói thêm một tiếng, ông chạy ra, bước lên khán đài, tuyên bố với đám đông rằng ba người trong căn pḥng bên cạnh đă tham gia với ông để lập nên chính phủ trung ương mới.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Thất bại đầu tiên
    Khi trở lại, Hitler thấy các con mồi đă vuột khỏi tầm tay. Ông đă tự tin mà nghĩ lúc này đáng lẽ các "bộ trưởng" của ông ta phải tất bật lo chuẩn bị cho những nhiệm vụ mới, trong khi Ludendorff và Lossow phải vạch kế hoạch tiến về Berlin. Nhưng hầu như không có việc ǵ xảy ra. Ngay cả München vẫn chưa nằm trong tay lực lượng cách mạng. Röhm chỉ mới chiếm được doanh trại của Bộ Chiến tranh nhưng bỏ sót một số địa điểm chiến lược kể cả nhà bưu điện. V́ thế, tin tức về vụ bạo loạn được truyền đến Berlin và tướng Hans von Seeckt truyền về lệnh cho quân đội ở Bayern phải trấn áp đám phản loạn.


    Johannes Friedrich "Hans" von Seeckt (22 tháng 4 năm 1866 – 27 tháng 12 năm 1936) là một vị Sĩ quan Quân đội Đức, ông là người có công gầy dựng lực lượng Quân đội Liên bang Đức (Reichswehr) trong thời kỳ Cộng ḥa Weimar. Ông được xem là người đặt nền móng cho các chiến thuật Blitzkrieg của Đức.

    Chỉ có vài sĩ quan cấp thấp và một số binh sĩ bỏ hàng ngũ v́ ủng hộ Hitler và Röhm. Các sĩ quan cao cấp, dưới quyền Tướng von Danner, chỉ huy quân đội ở München, không những chuẩn bị tuân lệnh Seeckt mà c̣n thấy bất măn v́ cách Hitler đối xử với von Lossow. Theo quy củ của quân đội, một người dân thường chĩa súng vào một vị tướng đáng bị trừng phạt. Lúc gần sáng, quân đội đă tạo một ṿng vây chung quanh lực lượng của Röhm đang chiếm đóng Bộ Chiến tranh.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    https://s20.postimg.cc/t1xnjoe4d/Friedrich_Ebert.jpg
    Friedrich Ebert (phiên âm: Phi-đrích E-be) (4 tháng 2 năm 1871 – 28 tháng 2 năm 1925) là một chính trị gia của đảng SPD: Đảng Dân chủ Xă hội Đức ( tiếng Đức: Sozialdemokratische Partei Deutschlands) là tổng thống đầu tiên của Đức từ năm 1919 cho tới khi ông ta mất vào năm 1925.

    Bây giờ, Ludendorff đề xuất với anh lănh đạo Quốc xă đang lung lay tinh thần một kế hoạch mang chiến thắng đến với họ và tránh đổ máu. Ông tin chắc rằng binh sĩ và cảnh sát Đức – phần đông là cựu chiến binh – không bao giờ bắn một vị tướng huyền thoại đă từng chỉ huy họ đạt những chiến thắng trên các mặt trận. Ông và Hitler sẽ cùng với thuộc hạ tiến đến trung tâm thành phố. Ông tin rằng không những cảnh sát và quân đội không dám giết ông, mà c̣n sẽ quy thuận và chiến đấu theo mệnh lệnh của ông. Tuy c̣n hồ nghi, Hitler vẫn đồng ư. Dường như không có cách nào khác.

    Sự đổ máu
    Lúc 11 giờ sáng ngày 9 tháng 11 năm 1923, ngày kỷ niệm sự khai sinh của nền Cộng ḥa Weimar, Hitler và Ludendorff dẫn đầu 3.000 quân SA hướng về trung tâm München. Bên cạnh họ c̣n có Hermann Göring (chỉ huy lực lượng SA), Scheubner-Richter, Alfred Rosenberg, Ulrich Graf (cận vệ của Hitler), và một số cấp lănh đạo đảng.
    https://s20.postimg.cc/5i3b5ehql/Hermann_G_ring.jpg
    Hermann Wilhelm Göring (hay Goering;[a] tiếng Đức: [ˈɡøːʁɪŋ] (; 12 tháng 1, 1893 – 15 tháng 10 năm 1946) là một chính trị gia người Đức, chỉ huy quân sự và thành viên hàng đầu của Đảng Quốc xă (NSDAP).
    Tiếp theo sau là một xe tải mang súng máy cùng xạ thủ. Binh sĩ SA đeo súng trường trên vai, một số người gắn thêm lưỡi lê. Hitler lăm lăm khẩu súng lục trong tay. Không phải là lực lượng mạnh lắm, nhưng Ludendorff, vốn đă chỉ huy hàng triệu binh sĩ thiện chiến nhất của Đức trong Thế chiến thứ nhất, nghĩ rằng thế là đủ để đạt mục đích.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Phiên ṭa xử tội phản quốc
    Hitler đă thừa khôn ngoan để biến phiên ṭa thành một diễn đàn để ông ta lên án những người đă bắt giữ ḿnh và – điều này là quan trọng hơn – lần đầu tiên tên tuổi ông ta lan khỏi bang Bayern, và lan ra ngoài nước Đức. Ông ta biết rơ rằng những nhà báo khắp thế giới cũng như của các tờ báo Đức đang đổ xô đến München để tường thuật phiên ṭa bắt đầu ngày 26 tháng 2 năm 1924. Khi phiên ṭa kết thúc 24 ngày sau, Hitler đă biến thất bại thành chiến thắng, khiến cho dưới mắt quần chúng Kahr, Lossow và Seisser phải chịu một phần trách nhiệm về những nỗi khổ sở của họ. Hitler cũng đă tạo ấn tượng mạnh trong ḷng người dân Đức bằng tài hùng biện và tinh thần quốc gia sôi sục, và đưa tên tuổi ông ta lên trang nhất nhiều tờ báo trên thế giới.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Quyển sách Mein Kampf
    Mùa hè 1924 năm ấy, trong ṭa pháo đài Landsberg xưa cũ được sử dụng làm nhà tù nh́n xuống ḍng sông Lech, Adolf Hitler, tội nhân nhưng được đối xử như là khách danh dự, với một căn pḥng cho riêng ḿnh và cảnh quan tuyệt vời bên ngoài, gọi Rudolf Hess đến đề bắt đầu đọc cho anh ta ghi lại từ chương này qua chương kia của một quyển sách có tựa đề Mein Kampf (Cuộc Tranh đấu của tôi).

    https://s20.postimg.cc/72r8ww54d/Mein_Kampf.jpg
    Mein Kampf (nghĩa là "Cuộc tranh đấu của tôi" trong tiếng Đức) là tựa đề tiếng Đức của quyển sách do Adolf Hitler làm tác giả bắt đầu từ năm 1924, tŕnh bày tư tưởng và cương lĩnh của ông về Đế chế Đức một khi ông ta lên nắm quyền.

    Có lẽ nếu không xảy vụ bạo loạn, Hitler đă không có thời giờ viết nên quyển Mein Kampf v́ bận lo phát triển Đảng Quốc xă, tranh đấu với các phe phái... Và dù có viết ra, với tư cách vô danh của tác giả, quyển sách cũng không được ai để ư đến.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Kết quả lâu dài
    Cuộc bạo loạn tuy bị thất bại nhưng giúp cho Hitler được nổi danh cả nước, và trong con mắt nhiều người, đó là người yêu nước và nhà anh hùng. Chẳng bao lâu, bộ máy tuyên truyền của Đảng Quốc xă đă biến vụ việc thành một trong những huyền thoại vĩ đại nhất. Mỗi năm, ngay khi Hitler đă nắm chính quyền, ngay lúc Thế chiến thứ hai đang tàn phá, Hitler đều trở về nhà hàng bia ấy ở München đúng vào ngày 8 tháng 11 để ban huấn từ cho đảng viên.
    Bài quá dài, phải cắt bớt
  • 07-11-2018, 09:17 PM
    nguoi gia
    Cách nay đúng 592 năm, nghĩa quan Lam Sơn đánh thắng quân Minh ở Đông Quan

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipe.../Th%C3%A1ng_11
    Ngày 07 tháng 11, 1426
    • 1426 – Quân Lam Sơn giành thắng lợi trước quân Minh trong trận Tốt Động–Chúc Động diễn ra tại Đông Quan, nay thuộc Hà Nội, Việt Nam.

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%...%90%E1%BB%99ng
    https://en.wikipedia.org/wiki/Battle...%90%E1%BB%99ng
    (Việc xưa, không có tiếng Pháp)
    https://nuocnha.blogspot.com/2018/11...quan-minh.html

    Trận Tốt Động – Chúc Động

    Một phần của Khởi nghĩa Lam Sơn
    Thời gian 5-7 tháng 10 năm Bính Ngọ (1426)
    Địa điểm Đồng Chê, xă Tốt Động, huyện Chương Mĩ, Hà Nội
    Kết quả Chiến thắng quyết định của nghĩa quân Lam Sơn

    Tham Chiến
    Nghĩa quân Lam Sơn Đế quốc Minh

    Chỉ Huy
    Lư Triện Vương Thông
    Đinh Lễ Phương Chính
    Đỗ Bí Mă Kỳ
    Nguyễn Xí Sơn Thọ
    Trương Chiến Lư An, Trần Hiệp, Mă Anh

    Lực lượng
    Theo Đại Việt sử kư toàn thư, Theo Đại Việt sử kư toàn thư,
    cánh quân của Lư Triện, Đỗ Bí có 3.000 quân, 1 thớt voi; Đại Việt thông sử, Lam Sơn thực lục,
    cánh quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí có 3.000 quân tinh nhuệ, lực lượng quân Minh có 10 vạn quân, 5 ngh́n ngựa.
    2 thớt voi; tổng cộng có 6.000 quân, 3 thớt voi.

    Tổn thất
    không rơ 5 vạn lính bị giết, 1 vạn lính bị bắt sống

    Trận Tốt Động – Chúc Động là trận đánh diễn ra trong các ngày 5-7 tháng 10 năm Bính Ngọ (1426), giữa nghĩa quân Lam Sơn với quân nhà Minh đóng ở Đông Quan (tức là Thăng Long, Hà Nội).

    Lănh thổ nhà Minh năm 1580.
    Nhà Minh (chữ Hán: 明朝, Hán Việt: Minh triều; 23 tháng 1 năm 1368 - 25 tháng 4 năm 1644[chú thích 1]) là triều đại cuối cùng do người Hán kiến lập trong lịch sử Trung Quốc. Năm 1368, Chu Nguyên Chương sau khi tiêu diệt các thế lực quần hùng, tại phủ Ứng Thiên đăng cơ, quốc hiệu Đại Minh, do hoàng thất họ Chu, nên c̣n được gọi là Chu Minh.

    Đây là một chiến thắng quân sự lớn của nghĩa quân Lam Sơn và được nhắc đến trong B́nh Ngô đại cáo.
    https://s20.postimg.cc/4s1x0qs5p/B_nh_Ng_i_c_o.jpg

    B́nh Ngô đại cáo





    B́nh Ngô đại cáo (chữ Hán: 平吳大誥) là bài cáo viết bằng văn ngôn do Nguyễn Trăi soạn thảo vào mùa xuân năm 1428, thay lời B́nh Định Vương Lê Lợi để tuyên cáo về việc giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến với nhà Minh, khẳng định sự độc lập của nước Đại Việt. Đây được coi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam, sau bài Nam quốc sơn hà.

    Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm;
    Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

    Địa điểm
    Địa điểm diễn ra là tại hai nơi, cách nhau khoảng 6–7 km, đều thuộc địa bàn huyện Chương Mỹ Hà Nội ngày nay là:
    • Tốt Động c̣n gọi là Tụy Động (nay là xă Tốt Động), tại đây nghĩa quân Lam Sơn phục binh chặn đánh cánh tiên phong của quân Minh ở Đông Quan(Thăng Long thời thuộc Minh)
    • Chúc Động c̣n gọi là Ninh Kiều (nay là thị trấn Chúc Sơn), là nơi quân Lam Sơn mai phục chặn đánh hậu quân của quân Minh từ Đông Quan kéo ra.

    Chương Mỹ là một huyện đồng bằng của thành phố Hà Nội, phía tây nam thủ đô Hà nội, thị trấn Chúc Sơn của huyện nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 20 km, nơi cuối cùng của huyện cách trung tâm thủ đô không quá 40 km, huyện Chương Mỹ có diện tích rộng đứng thứ 3 toàn thành phố (sau huyện Ba V́ và huyện Sóc Sơn).
    (Tốt Động là một xă nằm ở trung tâm huyện Chương Mỹ, Hà Nội, Việt Nam. Tốt Động cũng là nơi diễn ra trận Tốt Động-Chúc Động chống quân nhà Minh tháng 11 năm 1426, chiến thắng có tính quyết định đến thắng lợi toàn cục của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lănh đạo.
    Chúc Sơn là thị trấn thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Nội, Việt Nam.)

    Lực lượng
    Quân Minh
    Theo Đại Việt sử kư toàn thư, Đại việt thông sử, Lam Sơn thực lục, Vương Thông mang 5 vạn quân, 5000 ngựa từ Trung Quốc sang, hợp với quân ở Đông Quan, có tất cả hơn 10 vạn quân.

    Nghĩa quân Lam Sơn
    Theo Đại Việt sử kư toàn thư, cánh quân của Lư Triện, Đỗ Bí có 3.000 quân, 1 thớt voi; cánh quân của Nguyễn Xí, Đinh Lễ, Trương Chiến có 3.000 quân tinh nhuệ, 2 thớt voi.
    Theo Lam Sơn thực lục, cánh quân do Lư Triện, Trịnh Khả, Đỗ Bí, có 2 ngàn quân; cánh quân của Đinh Lễ,Nguyễn Xí có 2 ngàn tinh binh.

    Bối cảnh

    Nghĩa quân Lam Sơn tiến quân ra Bắc
    Sau 8 năm khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn ngày càng trở nên vững mạnh, chiếm lại được vùng đất rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào đến Tân B́nh, Thuận Hóa (Thừa Thiên-Huế ngày nay), nghĩa quân Lam Sơn đang bao vây thành Nghệ An.


    Thanh Hóa là tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam và là một tỉnh lớn về cả diện tích và dân số, đứng thứ 5 về diện tích và thứ 3 về dân số trong số các đơn vị hành chính tỉnh trực thuộc nhà nước, cũng là một trong những địa điểm sinh sống đầu tiên của người Việt cổ.
    Lê Lợi nhận định rằng tinh binh quân Minh tập trung ở Nghệ An, các thành ở Đông Đô tất suy yếu. Tháng Tám năm Bính Ngọ (1426), Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến, Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo, Thái úy Lê Triện, Thái giám Lê Khả, Á hầu Lê Như Huân, Lê Bí đem hơn 3.000 quân 1 thớt voi đi tuần các xứ Thiên Quan , Quảng Oai, Quốc Oai, Gia Hưng, Quy Hóa, Đà Giang, Tam Đới, Tuyên Quang để cắt đứt đường viện binh của quân Minh từ Vân Nam sang; Thái úy Lê Bị, Thái giám Lê Khuyển đem 2.000 quân và 1 thớt voi đánh ra các xứ Khoái Châu, Bắc Giang, Lạng Giang để chặn viện binh từ Lưỡng Quảng tới; Tư không Lê Lễ và Lê Xí th́ đem tinh binh tiến sau để phô trương thanh thế.
    Ngày 12 tháng 8 năm Bính Ngọ (1426), cánh quân Lư Triện tiến đến sát thành Đông Quan, quân Minh nghĩ quân từ xa tới, liền dốc quân ra đánh, trận chiến diễn ra ở xứ Ninh Kiều thuộc Ứng Thiên. Nghĩa quân phá tan quân Minh, chém hơn 2.000 người, rồi dời quân đóng ở phía tây sông Ninh giang
    Ngày 17 tháng Chín, Lư An, Phương Chính để Thái Phúc giữ thành Nghệ An, đem quân vượt biển về cứu Đông Đô. Lê Lợi đem tinh binh đuổi theo, đóng quân ở Lỗi Giang.
    Ngày 20, cánh quân do Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả chỉ huy đánh bại Đô ty Vương An Lăo khi viên đô ty này đem hơn 1 vạn viện binh từ Vân Nam sang, chém 1.000 người, chết đuối rất nhiều, số c̣n lại chạy vào thành Tam Giang.


    Vân Nam (giản thể: 云南; phồn thể: 雲南; bính âm: Yúnnán) là một tỉnh ở phía tây nam của Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa, giáp biên giới với Việt Nam. Vân Nam có dân số 44.150.000 người, diện tích 394.100 km². Thủ phủ của tỉnh này là thành phố Côn Minh. Vân Nam là nơi bắt nguồn của sông Hồng và sông Đà, sông Mê Kông cũng chảy qua Vân Nam.

    Cùng ngày đó Lư Triện đánh nhau với quân Minh ở cầu Nhân Mục, chém hơn 1.000 người, bắt được Đô ty Vi Lượng.
    Nghĩa quân Lam Sơn tuy luôn đánh thắng, nhưng vẫn dựa vào đất Nghệ An, Thanh Hóa. Cánh quân của Lư Triện và Trịnh Khả chỉ huy v́ quân đơn độc, cứ đi đi lại lại ở vùng Thiên Quan, Quảng Oai, Tam Giang rồi áp sát vào Đông Quan. Người trong nước c̣n sợ oai quân Minh, chưa quy phục hết thảy.

    Viện binh nhà Minh
    Đầu tháng 10 năm Bính Ngọ (1426), nhà Minh đă phải cử Vương Thông, Thượng thư bộ binh Trần Hiệp, Tham tướng Mă Anh dẫn hơn 5 vạn quân, 5.000 kỵ binh sang tăng viện cho Đông Quan.
    (Vương Thông (tiếng Trung: 王通, ?-1452) là một tướng nhà Minh từng là tổng binh quân Minh tại Đại Việt.)
    Trước đó, một vạn quân Vân Nam đă bị Trịnh Khả đánh bại, chạy vào thành Tam Giang.
    Ngày 6 tháng Mười, Vương Thông tập hợp quân hơn 10 vạn, chia làm ba đường đánh nghĩa quân Lam Sơn.

    Trận mở màn
    Ngày 6 tháng 10 năm Bính Ngọ (1426) , cánh quân của Vương Thông kéo đến đóng tại bến đ̣ trên sông Đáy ở làng Cổ Sở,[20] làm cầu phao qua sông. Cánh quân của Phương Chính kéo đến Sa Đôi (đ̣ Đôi) trên sông Nhuệ[21] đóng đồn. Sơn Thọ kéo theo đường qua làng Nhân Mục (cống Mọc trên sông Tô Lịch) đến đóng đồn tại cầu Thanh Oai bắc qua sông cổ Đỗ Động.[22]. Quân Minh dàn doanh trại liền nhau đến vài mươi dặm, cờ xí rợp đồng, giáo mác rực trời, tự cho là đánh một trận là bắt hết được nghĩa quân Lam Sơn.
    Lư Triện, Lê Bí mai phục binh tượng ở đồng Cổ Lăm[23], cho du binh nhử đánh vào doanh quân Sơn Thọ, Mă Kỳ rồi giả vờ thua chạy. Quân Minh đuổi theo, khi qua bờ cầu Tam La[24], chỗ ấy ruộng nước, bùn lầy, quân mai phục của nghĩa quân nổi dậy đánh tạt ngang vào. Quân Minh bị sa lầy. Nghĩa quân chém hơn một ngh́n người, đuổi tận đến cầu Nhân Mục. Xác quân Minh phơi ngổn ngang đến vài mươi dặm, bị bắt sống hơn 500 người.
    Lư Triện, Đỗ Bí định đánh chặn hậu doanh của Phương Chính, nhưng Phương Chính đă rút đi rồi. Trời tối, bèn thu quân về.

    Diễn biến
    [img] https://s20.postimg.cc/4gkgo5jh9/Tr_..._c_ng_1426.jpg [/img]
    Ngày 7 tháng Mười cánh quân Lư Triện, Đỗ Bí đánh Vương Thông ở các trại ngoài Cổ Sở. Quân Minh đă phục binh sẵn, đan tre làm lá chắn, bên trong gài chông sắt, giả cách vứt lá chắn bỏ chạy. Voi của nghĩa quân giẫm lên, trúng phải chông sắt, quân ta thất lợi, phải tạm lui. Lư Triện, Đỗ Bí tự liệu không thể chặn được mới phá hủy doanh trại cũ, thu quân giữ nơi hiểm yếu, cáo cấp trước với cánh quân Đinh Lễ, Trương Chiến, Nguyễn Xí.
    Cánh quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Trương Chiến đă bí mật mai phục tinh binh ở Thanh Đàm[25] để đợi quân Minh, được tin báo của Lư Triện, bèn đang đêm đem hơn 3 ngh́n quân tinh nhuệ và 2 thớt voi đến cứu, hội quân ở Cao Bộ[26], chia quân phục sẵn ở các chổ hiểm yếu. Nhân bắt được gián điệp của quân Minh, tra hỏi biết được quân Minh định đặt súng phía sau nghĩa quân Lam Sơn.[27]
    Sách Khâm định Việt sử thông giám chép rằng: Bắt được gián điệp của địch, ta biết Thông đă tiến đóng ở Ninh Kiều, ngầm cho kỳ binh tiền nhanh đến phía sau quân Triện, c̣n chính binh của Thông sẽ vượt sông tiến lên phía trước. Chúng hẹn nhau hễ nghe tiếng súng pháo nổ, th́ các mũi quân địch cùng lúc đánh khép lại.

    Khâm định Việt sử thông giám cương mục (chữ Hán: 欽定越史通鑑綱目) là bộ chính sử của triều Nguyễn viết dưới thể văn ngôn, do Quốc Sử Quán triều Nguyễn soạn thảo vào khoảng năm 1856-1884.

    Đinh Lễ và Lư Triện dùng luôn kế của quân Minh, hạ lệnh cho các quân nghe tiếng súng nổ vẫn nằm im không được nhúc nhích. Quân Minh cho là không có quân, đi theo đường tắt tới, nổ súng rồi đem toàn bộ quân tiến sâu vào.[28]
    Đến cách sông Yên Duyệt[29] vài dặm th́ phục binh nghĩa quân ba mặt đều xông lên, hăng hái đánh vào các xứ Tốt Động[30], Chúc Động[31], phá tan quân Minh, chém Thượng thư Trần Hiệp, Nội quan Lư Lượng và 5 vạn quân Minh. Quân Minh chết đuối rất nhiều, nước sông ở Ninh Kiều do vậy mà tắc nghẽn. Bắt sống hơn 1 vạn người[32], thu được ngựa, quân tư, khí giới, xe cộ nhiều không kể xiết. Phương Chính theo đường bến Cổ Sở trốn về. Vương Thông, Mă Kỳ chỉ thoát được thân, chạy về thành Đông Quan.[33]

    Kết quả
    Khoảng 5 vạn quân Minh bị tiêu diệt, 1 vạn quân Minh bị bắt sống, quân tư, khí giới, xe cộ thu được nhiều vô kể. Một lực lượng lớn tháo chạy qua sông Ninh Giang bị chết đuối nhiều đến mức "làm nghẽn cả khúc sông Ninh Giang". Đinh Lễ, Đỗ Bí, Nguyễn Xí, thừa thắng tiến thẳng sát thành bổ vây[34][35][36][37] Các chỉ huy của quân Minh là Trần Hiệp, Lư Lượng, Lư Đằng bị giết tại trận. Ngay Vương Thông cũng bị thương.[38]

    Ư nghĩa
    Kết cục của trận Tốt Động-Chúc Động đă làm phá sản kế hoạch phản công của Vương Thông đồng thời tạo ra lợi thế cho nghĩa quân Lam Sơn buộc quân Minh phải rút về cố thủ và chấp nhận đàm phán. Do mất rất nhiều vũ khí trong trận này, quân Minh buộc phải t́m cách chế tạo vũ khí, Vương Thông đă sai quân phá chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh để làm hỏa khí. Trong khi đó, quân Lam Sơn có thêm rất nhiều vũ khí và có thể đă tiếp thu thêm công nghệ chế tạo súng của quân Minh.[39]
    Sách Đại Việt thông sử viết rằng:
    Người trong nước c̣n sợ oai giặc Ngô, chưa quy phục nhà vua hết thảy. Từ sau chiến thắng Tốt Động quân ta bèn vây Đông Đô. Sĩ dân ở các phủ huyện hưởng ứng rầm rộ. Những người hào kiệt trí dũng theo về như đi chợ. Thành tŕ giặc các nơi lần lượt bị phá hoặc xin hàng, mà 3 ty nhà Minh phải đóng cửa thành tử thủ, thế cùng bức bách phải xin ḥa. Trong khoảng một năm, cả nước được b́nh định. Đó đều là công của bọn các ông Lê Lễ, Lê Triện
    — Đại Việt thông sử, Đinh Lễ
    [40]
    Đây là trận quyết chiến, một trong những thắng lợi quyết định toàn cục của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Trận đánh này đă làm cho tên tuổi của Lư Triện, Đinh Lễ nổi danh, sử gia Ngô Sĩ Liên cho rằng, Tướng giỏi thời ấy th́ Lễ và Triện đứng đầu[41]

    Trong Văn học
    Tác phẩm B́nh Ngô đại cáo viết rằng:
    Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh lây muôn dặm!
    Tốt Động thây nằm đầy nội, để thối ngh́n thu!
    Lư Lượng là sâu mọt dân, ta đă đem phanh xác!
    Trần Hiệp là tay chân quân giặc, cũng bị bêu đầu!
    Vương Thông dẹp loạn mà nơi cháy lại cháy thêm.
    Mă Anh gỡ đ̣n mà kẻ giận càng giận dữ![42]

    Xem thêm
    • Khởi nghĩa Lam Sơn
    • Lư Triện
    • Nguyễn Xí
    • Đinh Lễ
    • Đỗ Bí
  • 07-11-2018, 05:19 AM
    nguoi gia
    Cách nay đúng 13 năm, thủ đô của Myanma được chuyển từ Yangon tới Naypyidaw

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipe.../Th%C3%A1ng_11
    Ngày 06 tháng 11, 2005
    • 2005 – Thủ đô của Myanmar được chuyển tới khu vực cách khoảng 320 km về phía bắc của Yangon, hiện mang tên Naypyidaw (h́nh chùa Uppatasanti).

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Naypyidaw
    https://en.wikipedia.org/wiki/Naypyidaw
    https://fr.wikipedia.org/wiki/Naypyidaw
    https://nuocnha.blogspot.com/2018/11...tu-yangon.html

    Naypyidaw

    Nay Pyi Taw

    — Thành phố thủ đô —

    Chùa Uppatasanti, Naypyidaw


    Nay Pyi Taw

    Tọa độ: 19°45′B 96°6′Đ
    Quốc gia Myanma
    Khu vực Lănh thổ Liên bangNaypyidaw
    Phân cấp hành chính 8 khu vực
    Định cư 2005
    Hợp nhất 2008

    Diện tích
    Tổng cộng 272,371 mi2 (7.054,37 km2)
    Dân số (2009)
    Tổng cộng 925,000
    Mật độ 300/mi2 (130/km2)
    Múi giờ MST (UTC+06:30)
    Mă điện thoại 067

    Naypyidaw (phiên âm: Nây-pi-đô; tiếng Miến Điện: နေပြည်တော်; MLCTS: Nepranytau, chính tả chính thức là Nay Pyi Taw và Naypyitaw; phát âm [nèpj́dɔ̀]) là thủ đô của Myanmar. Theo Hiến pháp năm 2008, thành phố về mặt hành chính được coi là Lănh thổ Liên bang Naypyidaw. Vào ngày 6 tháng 11 năm 2005, thủ đô hành chính của Myanmar đă chính thức được chuyển tới một vùng đồng quê cách 3,2 km (2,0 mi) về phía tây của Pyinmana, và có khoảng cách xấp xỉ 320 km (200 mi) về phía bắc của cố đô Yangon (Rangoon). Tên gọi chính thức của thủ đô được tuyên bố vào ngày 27 tháng 3 năm 2006, tức ngày các lực lượng vũ trang Myanmar. Đô thị kế hoạch này dự kiến sẽ hoàn tất việc xây dựng vào năm 2012. Năm 2009, thành phố có 925.000 dân, và là thành phố lớn thứ ba của Myanma, sau Yangon và Mandalay. Năm 2011, Naypyidaw là một trong mười thành phố phát triển nhanh nhất trên thế giới.


    Rangoon and Environ map, 1911


    Map of Mandalay, 1911

    Từ nguyên
    Nay Pyi Daw thường được dịch thành "thủ đô vương thất", "chỗ của vua" hay "nơi ở của các vua". Theo truyền thống, nó đă được sử dụng làm hậu tố trong tên gọi các kinh đô, như Mandalay, được gọi là ရတနာပုံနေပြည်တော် (Yadanabon Naypyidaw). Nghĩa của tên gọi này là "thành phố vương thất của mặt trời" trong tiếng Miến.

    Lịch sử
    Naypyidaw chỉ có một lịch sử ngắn ngủi, được thành lập ở một nơi đầy cây bụi cách khoảng 3 kilômét (1,9 mi) về phía tây của Pyinmana, và cách xấp xỉ 320 kilômét (200 mi) về phía bắc của Yangon, và bắt đầu được xây dựng từ năm 2002.
    Chính quyền quân sự đă thuê ít nhất 25 công ty để xây dựng thành phố.
    Chính quyền quân sự bắt đầu chuyển các bộ trong chính quyền từ Yangon đến Naypyidaw vào ngày 6 tháng 11 năm 2005 vào giờ hoàng đạo theo tính toán của các nhà chiêm tinh là 6:37 sáng.
    Năm ngày sau đó, 11 giờ trưa ngày 11 tháng 11, một đoàn xe thứ hai gồm 1.100 xe tải quân sự chở 11 tiểu đoàn và đồ của 11 bộ đă dời khỏi Yangon.
    Người ta mong đợi là các bộ được di dời sẽ bắt đầu hoạt động tại trụ sở mới vào cuối tháng 2 năm 2006; tuy nhiên, việc di chuyển vội vàng đă dẫn đến vấn đề thiếu trường học và các tiện nghi khác nên các viên chức chính phủ đă phải xa gia đ́nh trong một thời gian.

    Chính phủ ban đầu đă cấm gia đ́nh của các nhân viên chính phủ di chuyển đến thủ đô mới.

    Cơ quan quân sự đầu năo nằm trong một khu vực riêng biệt với các bộ, và dân thường bị cấm vào cả hai khu vực.
    Những người bán dạo bị giới hạn trong một khu thương mại gần các văn pḥng của chính phủ.
    Ngày 27 tháng 3 năm 2006, trên 12.000 binh lính đă tuần hành tại thủ đô mới trong sự kiện công cộng đầu tiên: một cuộc diễu hành quân sự lớn để đánh dấu ngày các lực lượng vũ trang Myanma, ngày kỉ niệm cuộc nổi dậy Myanma năm 1945 chống lại quân Nhật chiếm đóng.
    Cuộc diễu hành có cả ba tác phẩm điêu khắc mô tả các vị vua Myanma gồm Anawrahta, Bayinnaung và Alaungpaya, được coi là ba vị vua quan trọng nhất trong lịch sử Myanma.
    Thành phố chính thức được đặt tên là Naypyidaw trong những lễ kỉ niệm này.


    Anawrahta Minsaw (tiếng Miến Điện: အနော်ရထာ မင်းစော, phát âm [ʔənɔ̀jətʰà mɪ́ɴ sɔ́]; 1015–1078) là một vị vua nhà Pagan, người sáng lập đế quốc Myanma thứ nhất.


    Bayinnaung (tiếng Miến Điện: ဘုရင့်နောင်, phát âm [bəjɪ̰ɴ nàuɴ]; sinh: 13/11/1516 – mất 11/1581) là vị vua đời thứ ba của nhà Taungoo ở Myanma.


    Alaungpaya (tiếng Myanma: အလောင်းဘုရား, phiên âm quốc tế: ʔəláuɴ pʰəjá) là vị vua đầu tiên của triều Konbaung trong lịch sử Myanma, trị v́ từ năm 1752 đến năm 1760.

    Lư do dời đô
    Naypyidaw có vị trí trung tâm và chiến lược hơn so với thủ đô cũ là Yangon. Đây cũng là một trung tâm giao thông nằm tiếp giáp với các bang Shan, Kayah và Kayin.


    Shan là một bang của Myanma, lấy tên từ người Shan, một trong những dân tộc sống ở khu vực này. Đây là bang rộng nhất trong 14 bang và các phân chia hành chính khác của Myanma.

    [img] ]https://s20.postimg.cc/3wemcqf8d/Myanmar_Kayah.png[/img]
    Kayah là một bang nằm ở phía đông nam Myanma, rộng 11.670 km², có thủ phủ là Loikaw. Bang này có 259.000 dân, trong đó hầu hết là người Karen (thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến).


    Kayin là một bang của Myanma và cũng c̣n được gọi là bang Karen theo tên của dân tộc Karen. Thủ phủ bang là thành phố Pa-an. Bang này đang thuộc tranh chấp giữa chính quyền quân đội của Myanma và các nhóm Karen, những người gọi khu vực này là Kawthoolei.

    Cũng có nhận định rằng một sự hiện diện mạnh mẽ hơn của quân đội và chính phủ ở gần đó có thể giúp ổn định các khu vực đă hỗn loạn trong nhiều năm. Những lời giải thích chính thức cho việc dời đô là v́ Yangon đă trở nên quá chật hẹp và đông đúc nên sẽ hạn chế việc mở rộng trong tương lai của các văn pḥng chính phủ.
    Một số nhà ngoại giao Phương Tây suy đoán rằng chính phủ Myanma có lẽ lo ngại về khả năng bị nước ngoài tấn công, c̣n Yangon th́ nằm sát bờ biển và do đó sẽ dễ dàng bị xâm phạm bởi một cuộc xâm lược đổ bộ. Nhiều người dân Myanma cho rằng cảnh báo về việc nước ngoài tấn công đă được một nhà chiêm tinh báo cho giới chức quân sự cầm quyền.
    Nhà báo Ấn Độ Siddharth Varadarajan, người đến thăm Naypyidaw vào tháng 1 năm 2007, đă mô tả sự rộng lớn của thủ đô mới này là để bảo vệ chống lại "thay đổi chế độ" và "một kiệt tác của quy hoạch đô thịđược thiết kế để đánh bại bất kỳ "cách mạng sắc màu" giả định nào– không phải bằng xe tăng và pháo bắn nước, mà bằng h́nh học và bản đồ".

    https://s20.postimg.cc/hdbkvm4zh/Hlu..._Naypyidaw.jpg
    Ṭa nhà Quốc hội Liên bang Myanmar

    Địa lư
    Naypyidaw nằm giữa các dăy núi Bago Yoma và Shan Yoma. Thành phố có diện tích 7.054,37 km2 (2.723,71 sq mi) và có dân số là 924.608 người theo thống kế chính thức.
    Đập Chaungmagyi nằm cách vài km về phía bắc của Naypyidaw, c̣n đập Ngalaik th́ nằm cách vài km về phía nam. Đập Yezin nằm xa hơn về phía đông bắc.

    Cảnh quan thành thị
    https://s20.postimg.cc/xbkalren1/Nay..._Apartment.jpg
    Một căn hộ tại Naypyidaw

    Naypyidaw được tổ chức thành một số phân khu. Đến năm 2011, thành phố vẫn c̣n thiếu nhiều cơ sở hạ tầng của một thủ đô.
    Các khu dân cư được tổ chức một cách cẩn thận, và các căn hộ đều được phân bổ theo các bậc và t́nh trạng hôn nhân. Năm 2007, thành phố có khoảng 1.200 nhà chung cư bốn tầng.
    Mái nhà của các ṭa chung cư có mă màu dựa theo nghề nghiệp của các cư dân; nhân viên của Bộ Y tế sống trong các ngôi nhà có mái màu lam và nhân viên Bộ Nông nghệp sống trong các ngôi nhà có mái màu lục. Các quan chức cấp cao sinh sống trong các biệt thự.

    Tuy nhiên, nhiều cư dân của thành phố phải sống trong các khu ổ chuột.

    Các quan chức quân sự cấp cao và những viên chức chủ chốt sống cách 11 km (6,8 mi) so với các viên chức b́nh thường trong một khu phức hợp được cho là gồm có cả các đường hầm và boongke; công chúng bị hạn chế tiếp cận đối với khu vực này. Thành phố cũng có một căn cứ quân sự, các công dân hay cá nhân khác không thể tiếp cận nơi này nếu không có sự cho phép bằng văn bản. Bên trong khu vực quân sự, những con đường có tám làn xe cho phép các máy bay cỡ nhỏ hạ cánh.

    Khu vực bộ của thành phố có trụ sở của các bộ trong chính phủ Myanma. Tất cả ṭa nhà các bộ đều giống hệt nhau về vẻ bề ngoài.[20] Một tổ hợp nghị viện gồm 31 ṭa nhà[21] và một phủ tổng thống có 100 pḥng cũng nằm tại đây. Khu vực cũng có ṭa thị chính, trong đó có nhiều đặc điểm kiến trúc Stalin, song với một mái nhà kiểu Miến.

    Khu vực khách sạn có nhóm các khách sạn theo phong cách biệt thự trên vùng đồi ngoại ô của thành phố. Chợ Myoma Naypyitaw hiện là trung tâm thương mại của Naypyidaw. Các khu vực thương mại khác là Chợ Thapye Chaung và Junction Centre Naypyidaw. Junction Centre Naypyidaw do công Ty Phát triển Shwe Taung xây dựng và hoàn thành vào tháng 8 năm 2009, Junction Centre là trung tâm mua sắm tư nhân hoạt động đầu tiên của thành phố. Naypyidaw cũng có một số chợ địa phương và khu vực nhà hàng.

    https://s20.postimg.cc/f8r7ujy7x/Upp..._Pagoda-01.jpg
    Chùa Uppatasanti

    Công viên hồ Ngalaik là một công viên nước nhỏ nằm dọc theo đập Ngalaik, gần làng Kyweshin trên hồ Ngalaik (xấp xỉ 7 dặm từ trung tâm Naypyidaw). Opened in 2008, cơ sở vật chất của Công viên hồ Ngalaik bao gồm các trượt nước, khu nghỉ dưỡng thiên nhiên, pḥng cho thuê và một băi biển nhân tạo. Công viên mở cửa miễn phí cho công chúng vào lễ Thingyan.[22]

    https://s20.postimg.cc/h0k6pgx0d/Bag...f_Thingyan.jpg
    Thingyan (tiếng Miến Điện: သင်္ကြန်; MLCTS: sangkran, từ bắt nguồn từ tiếng Pali sankanta,nghĩa là sự di chuyển của mặt trời từ cung Song Ngư sang cung Dương Cưu ) là Tết té nước năm mới của Miến Điện (nay là Myanmar), thường rơi vào giữa tháng tư (theo lịch Miến Điện cổ).

    Cũng mở cửa vào năm 2008, Công viên Thảo mộc Quốc gia rộng 200 mẫu Anh (0,81 km2) trưng bày các loài thực vật có tác dụng làm thuốc đến từ tất cả các khu vực chính tại Myanma. Có hàng ngh́n cây trong công viên, đại diện cho hàng trăm loài khác nhau.[23]
    Phía sau ṭa thị chính, có một công viên với một sân chơi và tổ hợp đài phun nước, tại đây sẽ tổ chức tŕnh diễn nhạc nước vào mỗi đêm.
    Vườn bách thú Naypyidaw mở cửa vào năm 2008 với khoảng 420 loài động vật và một ngôi nhà chim cách cụt được kiểm soát nhiệt độ. Đây cũng là vườn thú lớn nhất Myanma.[24][25] Vườn thú hoang dă Naypyidaw chính thức mở cửa vào ngày 12 tháng 2 năm 2011.[26][27]
    Naypyidaw cũng có hai sân golf (Nay Pyi Taw City Golf Course và Yaypyar Golf Course) và một bảo tàng đá quư.[28]
    Tương tự như kích thước và h́nh dạng của chùa Shwedagon tại Yangon, chùa Uppatasanti được hoàn thành vào năm 2009.[29]
    Chính phủ đă dành 2 hécta (4,9 mẫu Anh) đất cho mỗi đại sứ quán ngoại quốc và trụ sở của các cơ quan Liên Hiệp Quốc.
  • 06-11-2018, 02:40 AM
    nguoi gia
    Lĩnh Nam

    Xin giới thiệu với quư vị trang nhà LĨNH NAM, với tên miền sau:
    www.mevietnam.org

    Với đôi câu đối: Văn hiến thiên niên quốc, Xa thư vạn lư đồ.

    Sau khi nhấn (click) vào h́nh trống đồng Đông Sơn sẽ hiện ra như sau:
    http://www.mevietnam.org/index-a.html

    Phần chính là bản đồ nước Việt năm 1754; phía trên là các lựa chọn:
    Huyền Sử/Triết Việt, Nguồn Gốc, Sử Liệu, Ngôn Ngữ, Văn Hoá, Lănh Thổ/Hải, Môi Sinh, Đạo Học, Vơ Học.

    Phần bên phải có một cửa sổ (window) không có ǵ.


    Khi chọn Huyền Sử/Triết Việt, cửa sổ bên tay mặt sẽ như h́nh sau:

    Tốt nhất khi lựa chọn một đề mục nào ở bên phải, dùng nút PHẢI của con chuột để có một cửa sổ khác.
    Bản điều trần của bs Trần Đại Sỹ ở mục Lănh Thổ/Hải.

    Hôm nay tôi muốn giới thiệu với quư vị về chữ Việt trong tên nước Việt-Nam, và người Việt của Lê Văn Ẩn.
    Bài này không thể đem về trang Blog của tôi v́ có quá nhiều chữ Hán tượng trưng cho chữ Việt:
    Xin vui ḷng đọc bài từ đây:
    http://www.mevietnam.org/NgonNgu/lva-Viet.html

    PHẢI HẢNH DIỆN XƯNG M̀NH LÀ VIỆT
    Trong số năm học giả ở trên th́ có hai học giả cảm thấy xẩu hổ khi xưng ḿnh là Việt, và đề nghị xưng ḿnh là người Nam!
    Sau khi t́m hiểu nguồn gốc chữ "Việt" tôi không thấy có ǵ là xấu hổ cả! Tổ tiên của chúng ta đă có suy nghĩ rất kỹ khi đặt tên "Việt" cho dân tộc ḿnh. Tên "Việt" đă được ghi rơ ràng qua kinh điển và qua bằng chứng của khảo cổ trên những chữ khắc trên xương và yếm rùa mà chúng ta gọi là sấm ngữ.
    Khi nghiên cứu lại tiền sử của dân Việt, chúng ta sẽ đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác, v́ người ta viết không trúng về người Việt rất nhiều. Trong mỗi chặn sử của Trung Hoa, đều có sự hiện diện của tiền nhân người Việt. Những di tích của người Việt c̣n để lại trên đất Trung Hoa, những ảnh hưởng của người Việt c̣n t́m thấy qua khảo cổ, nhân chủng học, ngôn ngữ học vv... ở trên đất Trung Hoa. Các học giả Trung Hoa đă đề xướng "Chủ Thuyết Trung Nguyên" để t́m cách loại cái ảnh hưởng của tiền nhân người Việt ra khỏi sử Trung Hoa, nhưng họ đă không làm được chuyện đó, v́ lư do đơn giản là họ không thể gạt bỏ Kinh Điển và những cổ thư mà khảo cổ đào được.
    Đừng bao giờ nói như một học giả ở trên viết:... "Từ thời thượng cổ cho đến cận đại, dân tộc mà ngày nay bị gọi là Việt Nam này không bao giờ chịu nhận ḿnh là người Việt". Cái lỗi ở đây là tại chúng ta không t́m hiểu cho cận kẽ, rơ ràng rồi tuyên bố không muốn xưng ḿnh là Việt, chứ tiền nhân của chúng ta vẫn gọi họ là người Việt. Cổ thư, kinh điển đều ghi là Việt, là người Việt, bạn và tôi đâu có bịa những chuyện đó ra đâu.
    Trước khi kết thúc tôi xin tóm tắt lại như sau:
    1. Nói chữ Việt gồm bộ Tẩu với chữ Tuất là sai. Chữ Việt đúng là gồm bộ Tẩu và chữ Việt. Có hai cái sai: thứ nhất là sai chữ. Các học giả trên đọc lộn chữ Việt ra chữ Tuất . Cái sai thứ hai là các học giả trên không kiểm soát lại cái âm khi đọc để biết ḿnh nói có đúng hay không.

    2. Không có ai, kể cả nhà Thương hay nhà Chu hoặc nhà Hán, đặt tên Việt cho người Việt. Tên Việt là do chính tổ tiên của người Việt đặt cho dân Việtï, bằng chứng từ kinh điển và khảo cổ có cho biết là tên Việt đă có từ lâu đời.
    3. Chữ Việt có hai nghĩa. Chữ Việt bộ Mễ là để nói, thời b́nh người Việt làm nghề nông sanh sống, lúa gạo trữ trong kho. Chữ Việt bộ Tẩu là để nói, thời chiến người Việt cầm vũ khí đi chống xâm lăng để giữ nước.
    Chữ Việt mà người ta lầm tưởng là chó chạy, đă giải thích trật từ lâu lắm rồi, không phải đợi tới các học giả trên viết ra mới biết là sai. Các học giả trên viết bài với tấm ḷng yêu nước, nhưng chỉ lập lại cái trật của những người đi trước mà thôi.Thật ra, tôi lấy năm tài liệu nầy để làm cái cớ mà đính chính và giải thích chữ "Việt", chứ không có ư chỉ trích ai. Tôi xin cám ơn năm học giả trên đă cho tôi cơ hội, giải thích lại phần nào nguồn gốc của người Việt. Nếu trong sự giải thích nầy có đều ǵ xúc phạm đến năm học giả trên, xin miển thứ.
    Trước khi kết thúc tôi xin lập lại câu nói của cụ Trần Trọng Kim ghi trong Việt Nam Sử Lược: "Người trong nước có thông hiểu những sự tích nước ḿnh mới có ḷng yêu nước, yêu nhà, mới biết cố gắng học hành, hết sức làm lụng, để vun đắp thêm vào cái nền xă-hội của tiên-tổ đă xây dựng nên mà để lại cho ḿnh". Tôi hy vọng bài viết nầy gíúp cho bạn và tôi biết được một đôi chút sự-tích nước ḿnh để cho khỏi tủi quốc hồn, tôi chỉ có ước mơ đơn giản vậy thôi.
    Lê Văn Ẩn
  • 04-11-2018, 09:32 PM
    nguoi gia
    Cách nay đúng 27 năm cựu đệ nhất phu nhân Imelda Macos được tổng thổng Corazon Aquino ân xá, cho phép về nước.

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipe.../Th%C3%A1ng_11
    Ngày 04 tháng 11, 1991
    • 1991 – Cựu Đệ nhất phu nhân Philippines Imelda Marcos được Tổng thống Corazon Aquino ân xá và cho phép về nước.

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Imelda_Marcos
    https://en.wikipedia.org/wiki/Imelda_Marcos
    https://fr.wikipedia.org/wiki/Imelda_Marcos
    https://nuocnha.blogspot.com/2018/11...lda-macos.html

    Imelda Marcos


    Chức vụ
    Dân biểu Hạ viện Philippines từ Đơn vị bầu cử Ilocos Norte
    Nhiệm kỳ ngày 30 tháng 6 năm 2010 –
    Tiền nhiệm Ferdinand Marcos, Jr.

    Nghị sĩ Hạ viện Philippines từ đơn vị bầu cử số hai của Leyte
    Nhiệm kỳ ngày 30 tháng 6 năm 1995 – ngày 30 tháng 6 năm 1998
    Tiền nhiệm Cirilo Roy Montejo
    Kế nhiệm Alfred Romuáldez
    Mambabatas Pambansa từ Region IV-A
    Nhiệm kỳ ngày 12 tháng 6 năm 1978 – ngày 5 tháng 6 năm 1984

    Thống đốc của Metro Manila
    Nhiệm kỳ ngày 27 tháng 2 năm 1975 – ngày 25 tháng 2 năm 1986
    Kế nhiệm Jejomar Binay

    Bộ trưởng định cư
    Nhiệm kỳ 1978 – 1986
    Tiền nhiệm Antonio Villarama
    Kế nhiệm Mita Pardo de Tavera

    Đại sứ đặc mệnh toàn quyền
    Nhiệm kỳ 1978 – 1986

    Thông tin chung
    Đảng phái Kilusang Bagong Lipunan(1978–nay)
    Liên minh chính trị khác Nacionalista (1965-1978; 2009–nay)
    Quốc tịch Philippines
    Sinh 2 tháng 7, 1929 (89 tuổi), Manila, Philippines
    Nơi ở Makati
    Nghề nghiệp Đại sứ
    Tôn giáo Roman Catholicism
    Gia quyến
    Benjamin Romualdez (anh/em trai)
    Daniel Z. Romualdez (cháu họ)
    Norberto Romuáldez (uncle)
    Mariano Marcos (bố chồng)
    Pacifico Marcos (anh/em rể)

    Con cái
    mee
    Ferdinand, Jr.
    Irene
    Aimee

    Imelda Remedios Visitación Trinidad Romuáldez-Marcos (sinh ngày 02 tháng 7 năm 1929) là phu nhân của cựu Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos.

    Ferdinand Emmanuel Edralín Marcos (11 tháng 9 năm 1917 – 28 tháng 9 năm 1989) là tổng thống Philippines từ năm 1965 đến 1986. Ông là một luật sư, đă là một dân biểu Hạ viện Philippines (1949-1959) đồng thời là một thượng nghị sĩ của Thượng viện Philippines (1959-1965).

    Bà được mọi người nhớ đến với bộ sưu tập của hơn một ngh́n đôi giày của ḿnh.

    Imelda đă bắt đầu sự nghiệp của ḿnh với nghề ca sĩ và người mẫu địa phương tại Manila trước khi gặp chồng Ferdinand, người sau này sẽ được bầu làm Tổng thống. Sau khi tuyên bố thiết quân luật vào năm 1972, Imelda bắt đầu giữ các chức vụ trong chính phủ quốc gia cho phép bà đi khắp thế giới và tích lũy tác phẩm nghệ thuật và bất động sản. Cặp đôi này củng cố quyền lực của họ cho phép họ chuyển kinh phí từ ngân khố quốc gia ra nước ngoài như các ngân hàng tại Thụy Sĩ.

    Tổng thống Marcos bị buộc tội ám sát Benigno Aquino, Jr., dẫn đến các cuộc cách mạng quyền lực dân buộc Marcos từ chức và phải sống lưu vong ở Hawaii.

    Benigno Simeon "Ninoy" Aquino, Jr. (ngày 27 tháng 11 năm 1932 - 21 tháng 8 năm 1983) là một Thượng nghị sĩ Philippines (1967-1972) và là một cựu Thống đốc Tarlac. Aquino, cùng với Gerry Roxas và Jovito Salonga, h́nh thành các lănh đạo của phe đối lập với chính phủ của Tổng thống Ferdinand Marcos.

    Sau cái chết của Ferdinand, Imelda và gia đ́nh đă được Corazon Aquino ra lệnh ân xá. Bà trở lại Philippines và được cho phép trở lại diễn đàn chính trị. Bà được bầu vào Hạ viện năm 2005 đại diện cho Leyte và được bầu lại năm 2010 đại diện cho Illocos Norte.

    Maria Corazon "Cory" Cojuangco Aquino (25 tháng 1 năm 1933 – 1 tháng 8 năm 2009) là Tổng thống thứ 11 của Philippines và là một nhà hoạt động dân chủ, ḥa b́nh, nữ quyền, và mộ đạo nổi tiếng thế giới. Bà giữ chức vụ tổng thống từ năm 1986 đến 1992. Bà là nữ tổng thống đầu tiên của Philippines nói riêng và của cả châu Á nói chung.


    Ilocos Norte là một tỉnh của Philippines, tỉnh thuộc vùng Ilocos tại góc tây bắc của Luzon. Tỉnh lỵ là thành phố Laoag. Tỉnh giáp với Cagayan và Apayao về phía đông, Abra là Ilocos Sur về phía nam. Tỉnh giáp với biển Đông về phía tây và eo biển Luzon về phía bắc.

    Mặc dù phải đối mặt với nhiều trường hợp liên quan đến cáo buộc tham nhũng, bà đă không bị giam giữ và tiếp tục sử dụng quyền lực. Khả năng sinh tồn qua những thăng trầm trong cuộc sống của bà đă khiến bà được gọi là "Bướm thép".

    Tiểu sử
    Imelda Remedios Visitación Romuáldez sinh ngày 2 tháng 7 năm 1929 ở Manila, Philippines, Tổ tiên của bà là một gia đ́nh địa chủ tại Tolosa, Leyte, hậu duệ của Granada, Andalusia, Tây Ban Nha.


    Đảo Leyte là một ḥn đảo thuộc khu vực Visayas của Philippines. Ḥn đảo bao gồm hai tỉnh là Tỉnh Leyte và Tỉnh Nam Leyte.

    https://s20.postimg.cc/doq0qmdq5/Loc..._Andaluc_a.png
    Andalucía (phát âm tiếng Anh: /ændəˈluːʒə/, /ændəˈluːziə/; tiếng Tây Ban Nha: Andalucía, phát âm [andaluˈθi.a]; phát âm địa phương: [andaluˈsi.a]) là tên một vùng hành chính của Tây Ban Nha. Tên chính thức là "Comunidad Autónoma de Andalucía".

    Bà có năm anh chị em: Benjamin (1930–2012), Alita, Alfredo, Armando, và Concepcion trải qua thời thơ ấu ở San Miguel. Sau khi mẹ bà mất năm 1938, gia đ́nh đă chuyển đến Tacloban, nơi những đứa trẻ được người hầu Estrella Cumpas chăm sóc.

    https://s20.postimg.cc/riedfolr1/Ph_...e_tacloban.png
    Thành phố Tacloban (tiếng Filipino: Lungsod ng Tacloban, tiếng Waray-Waray: Siudad han Tacloban) là thành phố cảng cách khoảng 560 km về phía đông nam Manila. Đây là thủ phủ và là thành phố lớn nhất theo số dân của tỉnh Leyte, Philippines

    Bà tuyên bố đă gặp Douglas MacArthur khi ông đến Tacloban cuối thế chiến II.

    Thống tướng Douglas MacArthur (26 tháng 1 năm 1880 - 5 tháng 4 năm 1964) là một danh tướng của Hoa Kỳ và là Thống tướng Quân đội Philippines (Field Marshal of the Philippines Army).

    Theo thỉnh cầu của người cháu họ bà, Daniel, Romuáldez đă quay lại Manila thập niên 1950, nơi bà làm trong một cửa hàng âm nhạc trên phố Escolta với công việc là ca sĩ để thu hút khách. Bà đă theo học khóa luyện giọng tại nhạc viện của Đại học Santo Tomas. Romuáldez sau đó tham dự cuộc thi sắc đẹp Miss Manila và bà đạt giải nh́ nhưng được tôn là Muse of Manila sau khi có tranh căi về kết quả. Bà có thời kỳ ngắn hẹn ḥ với Benigno Aquino, Jr.. Ngày 1/5/1954, Romuáldez đă kết hôn với Ferdinand Marcos, một nghị sĩ đảng Nacionalista từ Ilocos Norte. Họ có với nhau 4 đứa con: Imee, Bongbong, và Irene, và một cô con gái nuôi tên Aimee.

    Đệ nhất phu nhân
    Ferdinand Marcos được bầu làm tổng thống thứ 10 của Philippines vào ngày 9 tháng 11 năm 1965, và Imelda trở thành đệ nhất phu nhân. Trong những năm đầu của nhiệm kỳ tổng thống Marcos, Imelda đă có các cuộc đụng độ với The Beatles và với Dovie Beams.

    https://s20.postimg.cc/68qr4xd71/The_Beatles.jpg
    The Beatles là ban nhạc rock người Anh hoạt động trong thập niên 1960. Với 4 thành viên John Lennon, Paul McCartney, George Harrison và Ringo Starr, bộ tứ trở thành nghệ sĩ thành công nhất và ảnh hưởng nhất thời kỳ huy hoàng của nhạc rock

    Ngày 23 Tháng 9 năm 1972, Ferdinand tuyên bố thiết quân luật. Là đệ nhất phu nhân, Imelda đă được gọi là "nửa kia của cặp vợ chồng độc tài".[20][21] Bà cũng là một là bậc thầy cúa sự xa hoa trong nghệ thuật và văn hóa.[22] Vào ngày 7 tháng 12 năm 1972, một kẻ tấn công đă cố gắng đâm Imelda bằng một con dao bolo nhưng đă bị cảnh sát bắn chết.
    Sau khi Ferdinand đă củng cố quyền lực của ḿnh, Imelda đă tổ chức các sự kiện công cộng sử dụng quỹ quốc gia để đánh bóng h́nh ảnh của vợ chồng bà.[23] William H. Sullivan đă viết rằng bà đă có đủ quyền lực để có thể ép buộc các tướng lĩnh Philippine phải mặc quần áo cải trang tại các bữa tiệc sinh nhật của bà.[24] Imelda đă đưa Hoa hậu Hoàn vũ toàn thế giới năm 1974 về Manila, với nơi tổ chức sự kiện trên là Nhà hát dân gian Nghệ thuật được xây dựng trong ṿng chưa đầy ba tháng.[25] Bà cũng đă tổ chức Kasaysayan ng Lahi, một lễ hội quảng bá lịch sử Philippines.[26][27] Imelda cũng khởi xướng các chương tŕnh xă hội, chẳng hạn như cuộc Cách mạng xanh, với nỗ lực giải quyết nạn đói bằng cách khuyến khích nhân dân trồng rau trong vườn hộ gia đ́nh, và tạo ra một chương tŕnh kế hoạch hoá gia đ́nh cấp quốc gia.[28] Trong thời gian đầu thập niên 1970, bà mất kiểm soát việc phân phối bánh ḿ gọi nutribun, mà thực sự đến từ Hoa Kỳ Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID).[29][30]
    Imelda được bầu vào quốc hội Philippines năm 1978 làm thành viên Batasang Pambansa lâm thời đại diện cho Vùng IV-A và cũng được bổ nhiệm là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, cho phép bà đi Hoa Kỳ, Liên Xô, Libya, Nam Tư, Iraq, và Cuba.[31] Nhờ những lần đi lại này,[32][33][34][35][36][37][38] Imelda đă thành bạn của Richard Nixon, Muammar Gaddafi, Saddam Hussein, Fidel Castro, và Joseph Tito.[39][40] Một công hàm ngoại giao Wikileaks "tuyên bố rằng bà đợi nhà độc tài Tây Ban Nha Franco qua đời để bà có thể bay qua Madrid dự đám tang."[41] Imelda tuyên bố bà cần đi nhiều để đảm bảo dầu mỏ từ Iraq và Libya, mà bà cũng cho rằng bà có vai tṛ lớn trong việc kư hiệp định ḥa b́nh với Mặt trận Giải phóng Dân tộc Moro.[42][43] Ngoài chức vụ đại sứ, Imelda cũng giữ chức Bộ trưởng Bộ Định cư, cho phép bà xây dựng Trung tâm văn hóa của Philippines, Trung tâm Tim Philippines, Trung tâm Phổi Philippines, Trung tâm Hội nghị Quốc tế Philippines, Cung điện dừa, và Trung tâm phim Manila. Imelda mua một số tài sản ở Manhattan trong năm 1980, trong đó có Crown Building 51 triệu Mỹ kim, Woolworth Building ở 40 Wall Street, và Trung tâm Herald 60 triệu Mỹ kim.[44] Bà từ chối mua Empire State Building với giá 750 triệu Mỹ kim v́ bà xem đó là "quá phô trương." [45]

    Quyền lực nhân dân
    Imelda có vai tṛ lớn trong vụ trục xuất năm 1980 đối với nhà lănh đạo đối lập Benigno Aquino, Jr., người bị bệnh tim trong khi ở tù.[46] Thiết quân luật sau này đă được dỡ bỏ năm 1981 nhưng Ferdinand tiếp tục làm tổng thống.
    Trong khi chồng bà bắt đầu bị lupus ban đỏ, Imelda đă điều hành công việc của chồng trên thực tế. Aquino trở lại vào năm 1983 nhưng đă bị ám sát tại sân bay quốc tế Manila khi ông về đến sân bay.[47] Với những lời buộc tội chống lại Imelda bắt đầu gia tăng, Ferdinand lập ra Ủy ban Agrava, một ủy ban t́m hiểu thực tế, để điều tra bà, cuối cùng kết luận bà không có tội.[23][48][48][49]
    Ngày 07 tháng 2 năm 1986, các cuộc bầu cử đột xuất được tổ chức giữa Ferdinand và Corazon Aquino, người góa phụ của Benigno Aquino Jr..Mặc dù chồng bà dường như giành chiến thắng trong cuộc bầu cử, các cáo buộc gian lận trong cuộc bỏ phiếu đă dẫn đến các cuộc biểu t́nh mà sau này được biết đến như là cách mạng sức mạnh nhân dân.[50] Ngày 25 tháng 2, Imelda và gia đ́nh bà chạy trốn đến Hawaii. Sau khi họ rời cung điện Malacañang, người ta t́m thấy bà để lại 15 áo khoác lông chồn vizon, 508 áo dài, 1.000 túi xách,[51] và đôi giày, số lượng chính xác khác nhau theo các ước tính nhưng cho thấy có tới 7.500 cặp đôi.[52] Tuy nhiên, thời gian báo cáo rằng cuộc kiểm phiếu cuối cùng chỉ có 1.060 đôi.[53] Vị trí nơi giày dép và đồ trang sức của bà đă giữ được sau đó bị phá hủy một số đồ bị đánh cắp và một bức tranh của bà đă bị phá hủy bên ngoài Cung điện.[21][45][54][55][56]

    Năm 1988, Imelda và Ferdinand Marcos, cùng với Adnan Khashoggi, đă bị xét xử và được đại hội thẩm liên bang tuyên trắng án ở Manhattan qua một cáo buộc biển thủ.[57][58][59]


    Adnan Khashoggi (Arabic: عدنان خاشقجي‎; 25 July 1935 – 6 June 2017) was a Saudi Arabian billionaire international businessman, best known for his lavish business deals and lifestyle.

    Trong số những người bảo vệ hai vợ chồng này có Gerry Spence,[60] Doris Duke,[61] và George Hamilton.[62][63]Ferdinand đă qua đời khi sống lưu vong ở Hawaii vào ngày 28 tháng 9 năm 1989.[23][64][65][66] Tháng 12 năm 1990, Ṭa án liên bang Thụy Sĩ phán quyết rằng tiền mặt trong các ngân hàng Thụy Sĩ sẽ chỉ được trả lại cho chính phủ Philippines nếu một ṭa án Philippines xét xử Imelda trong một vụ "xét xử công bằng[67]

    Sự nghiệp sau này

    Imelda Marcos, 2006.

    Ngày 4 tháng 11 năm 1991, tổng thống Philippines đă cho phép Imelda trở lại Philippines.[68][69][70] Năm sau đó, bà chạy đua chức tổng thống trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 11 tháng 5 năm 1992, bà giành vị trí thứ 5 trên 7 ứng viên.[71] Trong cuộc tổng tuyển cử ngày 8 tháng 5 năm 1995, bà được bầu làm nghị sĩ đại diện cho Leyte, dù phải đối mặt với vụ kiện không đủ tư cách nhưng Ṭa án tối cao Philippines đă tuyên bà có đủ tư cách.[72] Imelda tranh cử chức tổng thống một lần nữa trong cuộc bầu cử tổng thống Philippines ngày 11 tháng 5 năm 1998 nhưng sau đó đă rút lui để ủng hộ người sau này giành chiến thắng Joseph Estrada.[73]

    Joseph "Erap" Ejercito Estrada sinh ngày 19 tháng 4 năm 1937 là tổng thống Philippines thứ 13 từ 1998-2001. Ông đă là thị trưởng thành phố Manila từ 2013

    Bà xếp thứ 9/11 ứng viên.[74][75][76][77] Bà được ṭa án khu vực Manila tuyên trắng án trong một trong các cáo buộc đút lótdo c̣n nghi ngờ hợp lư.[78][79] Imelda vẫn c̣n 10 vụ h́nh sự tồn đọng trước vụ Sandiganbayan.[80]
    Imelda chạy đua trong cuộc bầu cử Hạ viện Philippines đại diện khu vực Ilocos của Ilocos Norte trong cuộc bầu cử ngày 10 tháng 5 năm 2010 để thay thế con trai bà,[81] Bongbong, đă chạy đua trong cuộc bầu cử Thượng viện đại diện cho Đảng Nacionalista.[82][83] Bà chiến thắng đối thủ gần nhất với 80% phiếu bầu.[84] Trong nhiệm kỳ của ḿnh, bà giữ chức chủ tịch Các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ ở Hạ viện.[85] Năm 2011, Cục thứ năm của Sandiganbayan đă ra lệnh Imelda trả 280.000 USD trong quỹ của chính phủ mà bà và chồng đă chiếm đoạt từ Cơ quan thực phẩm quốc gia.[86][87][88] Imelda nộp giấy chứng nhận ứng cử của ḿnh vào ngày 03 tháng 10 năm 2012 trong một nỗ lực để làm mới đại diện đơn vị bầu cử thứ hai của Ilocos Norte.[89] Bà chiến thắng trong cuộc bầu cử Hạ viện Philippines ngày 13 tháng 5 năm 2013.[90]
    Đầu năm 2013, Nghiệp đoàn quốc tế các nhà báo điều tra tiết lộ con gái bà Imee dính líu trong vụ dịch vụ ngân hàng ở nước ngoài.[91] Imee giúp Imelda giấu tài sản ở quần đảo Virgin thuộc Anh.[92][93] Ngày 17 tháng 10 năm 2013, việc bán hai bức họa của Claude Monet, L'Eglise de Vetheuilvà Le Bassin Aux Nymphéas, đă trở thành một chủ đề của vụ pháp lư ở New York chống lại Vilma Bautista, một người từng là phụ tá của Imelda.[94][95][96] Thư kư của bà bị kết án ngày 6 tháng 1 năm 2014.[97] Ngày 13 tháng 1 năm 2014, ba bộ sưu tập trang sức của bà:[98] bộ sưu tập Malacanang, bộ sưu tập Roumeliotes, và bộ sưu tập Hawaii; cùng với các bức họa của Claude Monet bị chính phủ Philippines tịch thu.[99][100][101][102][103][104][105][106]

    Tài sản
    Bộ sưu tập giày của Imelda,[107][108] bao gồm các gót giày Pierre Cardin, nay nằm một phần ở Bảo tàng Quốc gia Philippines và một phần ở bảo tàng giày ở Marikina.[109][110][111]
    Băo Haiyan đă làm hư nhà tổ tiên bà ở Tacloban, cũng dược sử dụng làm bảo tàng,[112] dù bà c̣n giữ các ngôi nhà ở Ilocos Norte và Makati, nơi bà sinh sống.[113]
    Năm 2012, Imelda tuyên bố tài sản ṛng của bà là 22 triệu USD và bà đă được xếp hạng là nhà chính trị Philippines giàu thứ nh́ sau nhà chính trị và vơ sĩ quyền Anh Manny Pacquiao.[114]
    Imelda tuyên bố tài sản của bà đến từ Yamashita's Gold.[115]
    Tài sản của bà cũng đă từng có trang sức và bộ sưu tập 175 tác phẩm nghệ thuật,[116] cũng bao gồm các tác phẩm của Michelangelo, Botticelli, Canaletto, Raphael,[117] cũng như của Monet “L’Église et La Seine à Vétheuil” (1881), tác phẩm của Alfred Sisley “Langland Bay” (1887), and Albert Marquet’s “Le Cyprès de Djenan Sidi Said” (1946).[45][118][119][120][121][122][123][124]
    Năm 2015, một viên kim cương hồng hiếm trị giá 5 triệu USD đă được phát hiện trong bộ sưu tập trang sức của bà.[125][126]

    Di sản
    Imelda là một biểu tượng thời trang và văn hóa dân gian.[127][128] Frank De Lima thể hiện bà trong album năm 1988 của ông The Best of De Lima.[129] Năm 1996, Mark Knopfler đă viết bài hát "Imelda", từ album của ông Golden Heart.[130][131][132] Bà đă là chủ đề của phim tài liệu năm 2003 Imelda bởi Ramona S. Diaz trong đó bà được phỏng vấn về cuộc sống của ḿnh khi c̣n lại đệ nhất phu nhân.[133][134][135][136][137] Ngày 23 tháng 3 năm 2012, Carlos Celdran đă biểu diễn Living La Vida Imelda của ông ở Dubai.[138][138][139][140] Nhà sản xuất Anh Fatboy Slim và nhạc sĩ David Byrne đă tạo ra một album ư tưởng có tên gọi Here Lies Love. Mùa xuân năm 2013, The Public Theater ở New York đă giới thiệu một phiên bản nhạc kịch của album với vai chính Ruthie Ann Miles.[141][142] Đoạn kết sau đó được tŕnh diễn tại The Public Theater ngày 24 tháng 3 năm 2014.[143] Một tác phẩm London đă mở cửa ngày 30 tháng 9 năm 2014 tại Nhà hát Quốc gia Hoàng gia.[144][145] Imelda được gọi là "Bướm thép".[23][146][147][148][149][150][151][152]
  • 03-11-2018, 08:36 PM
    nguoi gia
    Cách nay đúng 180 năm tờ The Times of India đưọc phát hành đầu tiên ở Ấn Độ

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipe.../Th%C3%A1ng_11
    Ngày 03 tháng 11, 1838
    • 1838 – The Times of India phát hành số đầu tiên tại Ấn Độ, hiện là nhật báo tiếng Anh có lượng phát hành nhiều nhất thế giới.

    https://vi.wikipedia.org/wiki/The_Times_of_India
    https://en.wikipedia.org/wiki/The_Times_of_India
    https://fr.wikipedia.org/wiki/The_Times_of_India
    https://nuocnha.blogspot.com/2018/11...nh-autien.html

    The Times of India




    Quảng cáo tờ báo trên các đường phố của Mandawa (Shekhawati)

    Loại h́nh Nhật báo
    H́nh thức Khổ rộng
    Chủ sở hữu The Times Group
    Nhà xuất bản The Times Group
    Tổng biên tập Jaideep Bose
    Thành lập 3 tháng 11, 1838; 179 năm trước
    Ngôn ngữ Tiếng Anh
    Trụ sở Mumbai
    Số lượnglưu hành 3.057.678 hàng ngày (tính đến tháng 7-12 năm 2015)
    Báo chị em
    The Economic Times
    Navbharat Times
    Maharashtra Times
    Ei Samay
    Mumbai Mirror
    Số OCLC 23379369
    Trang web timesofindia.indiatimes.com

    The Times of India (TOI, nghĩa là "Thời báo Ấn Độ") là một nhật báo tiếng Anh tại Ấn Độ. Đây là báo lớn thứ ba tại Ấn Độ tính theo lượng phát hành và là báo tiếng Anh bán chạy nhất hàng ngày trên thế giới theo Cục Kiểm tra Phát hành Ấn Độ. Đây là báo tiếng Anh lâu năm nhất tại Ấn Độ vẫn c̣n được phát hành.
    Năm 1991, BBC xếp The Times of India vào hàng sáu tờ báo tốt nhất thế giới.
    Công ty sở hữu và phát hành báo là Bennett, Coleman & Co. Ltd. thuộc gia tộc Sahu Jain.
    Trong Báo cáo Brand Trust 2012, The Times of India xếp thứ 88 trong số thương hiệu tin cậy nhất của Ấn Độ, và xếp thứ 174 trong báo cáo năm 2014.

    The Times of India (TOI) is an Indian English-language daily newspaper owned by The Times Group.

    20 August 2013 front page of the Kolkataedition of The Times of India

    The Times Group is India’s largest media conglomerate, according to Financial Times as of March 2015
    It is the fourth-largest newspaper in India by circulationand largest selling English-language daily in the world according to Audit Bureau of Circulations (India).

    https://s20.postimg.cc/mxnlmyf7x/ABC_lndia_logo.jpg
    The Audit Bureau of Circulations (ABC) of India is a non-profit circulation-auditing organisation. It certifies and audits the circulations of major publications, including newspapers and magazines in India.
    It is the oldest English-language newspaper in India still in circulation, with its first edition published in 1838. and the second-oldest Indian newspaper still in circulation after the Bombay Samachar. Near the beginning of the 20th century, Lord Curzon, the Viceroy of India, called The Times of India "the leading paper in Asia".


    The Lord Curzon of Kedleston as Viceroy of India
    George Nathaniel Curzon, 1st Marquess Curzon of Kedleston, KG, GCSI, GCIE, PC, FBA (11 January 1859 – 20 March 1925), who was styled as Lord Curzon of Kedleston between 1898 and 1911, and as Earl Curzon of Kedleston between 1911 and 1921, and was known commonly as Lord Curzon, was a British Conservative statesman, who served as Viceroy of India, from 1899 to 1905, during which time he created the territory of Eastern Bengal and Assam, and as Secretary of State for Foreign Affairs, from 1919 to 1924.


    In 1991, the BBC ranked The Times of India among the world's six best newspapers.
    It is owned and published by Bennett, Coleman & Co. Ltd., which is owned by the Sahu Jain family. In the Brand Trust Report 2012 The Times of India was ranked 88th among India's most-trusted brands. In 2017, however, the newspaper was ranked 355th.

    Lịch sử

    Ṭa nhà Times of India, khoảng 1898

    Khởi đầu
    The Times of India phát hành số báo đầu tiên vào ngày 3 tháng 11 năm 1838 với tên The Bombay Times and Journal of Commerce. Báo được phát hành vào các ngày Thứ 4 và Thứ 7 dưới quyền chỉ đạo của một nhân vật theo chủ nghĩa cải lương người Maharashtra là Raobahadur Narayan Dinanath Velkar, gồm có các tin tức từ Anh Quốc cùng thế giới, cũng như Tiểu lục địa Ấn Độ. J.E. Brennan là chủ biên đầu tiên.

    Năm 1850, báo bắt đầu phát hành các số báo hàng ngày.
    Năm 1860, chủ biên Robert Knight (1825–1892) mua cổ phần của đồng sở hữu Ấn Độ, hợp nhất với địch thủ Bombay Standard, và khởi đầu thông tấn xă đầu tiên của Ấn Độ. Nó đánh điện Times đi các báo trên toàn quốc và trở thành đại lư Ấn Độ cho dịch vụ tin tức Reuters.

    https://s20.postimg.cc/vh6zkafq5/Reuters_logo.png
    Reuters là một trong những hăng thông tấn lớn nhất thế giới. Reuters cung cấp bài viết, h́nh ảnh, đồ họa và video cho những tờ báo, đài phát thanh, đài truyền h́nh, Internet và các phương tiện truyền thông khác.

    Năm 1861, ông đổi tên báo từ Bombay Times and Standard sang The Times of India. Knight đấu tranh cho tự do báo chí trước hạn chế hoặc đe dọa, thường xuyên chống lại các nỗ lực từ chính phủ, giới doanh nghiệp và phát ngôn viên văn hóa, khiến tờ báo nổi bật ở tầm quốc gia. Trong thế kỷ 19, công ty báo sử dụng trên 800 lao động và phát hành một lượng đáng kể tại Ấn Độ và châu Âu.

    Bennett & Coleman sở hữu
    Sau đó, quyền sở hữu The Times of India thay đổi nhiều lần cho đến năm 1892, khi Thomas Bennett và Frank Morris Coleman có được báo thông qua công ty mới của họ mang tên Bennett, Coleman & Co. Ltd, song Coleman sau đó thiệt mạng vào năm 1915 khi SS Persia bị ch́m.

    https://s20.postimg.cc/mm659uyod/The_Times_Group.png
    The Times Group
    Bennett, Coleman & Co. Ltd.
    Dalmiya sở hữu

    Năm 1946, Bennett Coleman & Co. Ltd được bán cho trùm tư bản đường Ramkrishna Dalmia thuộc gia tộc Dalmiya trứ danh bấy giờ với giá 20 triệu rupee, khi India đang trong quá tŕnh độc lập và các nhà sở hữu người Anh rời đi. Năm 1955, Ủy ban Điều tra Vivian Bose kết luận rằng Ramkrishna Dalmia vào năm 1947 đă sắp đặt vụ thâu tóm Bennett, Coleman bằng cách chuyển tiền từ một ngân hàng và một công ty bảo hiểm mà ông làm chủ tịch. Một ṭa án sau đó phát quyết Ramkrishna Dalmia bị phạt hai năm tù trong trại Tihar do bị kết tội tham ô và lừa đảo.
    Tuy nhiên, hầu hết thời gian chấp hành án, ông t́m cách để được ở trong bệnh viện. Đến khi ông được phóng thích, con rể ông là Sahu Shanti Prasad Jain, là người mà ông giao phó quản lư Bennett, Coleman & Co. Ltd. cự tuyệt các nỗ lực của ông nhằm lấy lại quyền điều hành công ty.

    Gia tộc Jain (Shanti Prasad Jain)
    Đầu thập niên 1960, Shanti Prasad Jain bị tống giam v́ tội bán giấy in báo tại chợ đen. Và dựa trên báo cáo trước đó của Ủy ban Vivian Bose về các hành vi phạm pháp của tập đoàn Dalmia - Jain, bao gồm các buộc tội cụ thể chống lại Shanti Prasad Jain, Chính phủ Ấn Độ đệ đơn nhằm hạn chế và loại bỏ quyền quản lư của Bennett, Coleman and Company. Dựa vào biện hộ, Thẩm phán lệnh cho Chính phủ nắm quyền kiểm soát báo bắt nguồn từ việc thay thế một nửa ban giám đốc và bổ nhiệm một thẩm phán ṭa án cấp cao Bombay làm chủ tịch.

    Chính phủ quản lư
    Sau khi báo cáo Ủy ban Vivian Bose chỉ ra các sai phạm nghiêm trọng của tập đoàn Dalmia–Jain, vào ngày 28 tháng 8 năm 1969 Ṭa án Cấp cao Bombay dưới quyền Thẩm phán J.L. Nain ban lệnh tạm thời giải thể ban giám đốc Bennett Coleman và thành lập một ban điều hành mới dưới quyền chính phủ. Ṭa án phán quyết rằng "Trong hoàn cảnh này, điều tốt nhất ban hành các lệnh như vậy dựa trên giả định rằng các cáo buộc của nguyên đơn rằng sự vụ của công ty được quản lư theo một cách thức gây tổn hại đến lợi ích công cộng và lợi ích của công ty là chính xác".
    Sau lệnh này, Shanti Prasad Jain ngừng vai tṛ giám đốc và công ty được điều hành với một ban giám đốc mới, do Chính phủ Ấn Độ bổ nhiệm, ngoại lệ là một người viết tốc kư của gia tộc Jain. Ṭa án bổ nhiệm D K Kuntelàm chủ tịch của ban điều hành. Dù là một chiến sĩ tự do và một người chính trực, song Kunte trước đó không có kinh nghiệm kinh doanh và cũng là một thành viên đối lập trong Lok Sabha.


    Lok Sabha (Hindi:लोक सभा) c̣n được gọi Hạ viện Nhân dân hay Viện dân biểu, là hạ viện của trong hệ thống Quốc hội lưỡng viện của Ấn Độ. Tất cả các thành viên của hạ viện được các cử tri Ấn Độ trực tiếp bầu chọn trên cơ sở phổ thông đầu phiếu, ngoại trừ hai người do Tổng thống Ấn Độ chỉ định. Mọi công dân của Ấn Độ trên 18 tuổi, không phân biệt giới tính, đẳng cấp, tôn giáo hay chủng tộc, đủ tiêu chuẩn, đủ điều kiện đều có quyền bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thành viên của Lok Sabha.

    Gia tộc Jain trở lại
    Năm 1976, trong thời kỳ Khủng hoảng tại Ấn Độ, Chính phủ chuyển giao quyền sở hữu báo về cho Ashok Kumar Jain (con trai của Sahu Shanti Prasad Jain, cháu ngoại của Ramkrishna Dalmia và là cha của Samir Jain và Vineet Jain).[20] Gia tộc Jain thường xuyên dính vào các âm mưu rửa tiền khác nhau và Ashok Kumar Jain đào thoát khỏi Ấn Độ khi Cục Chấp hành theo đuổi mạnh mẽ vụ kiện của ông vào năm 1998 v́ cáo buộc vi phạm khi chuyển giao phi pháp kinh phí (khoảng 1,25 triệu USD) sang một tài khoản hải ngoại tại Thụy Sĩ.[21][22][23][24]

    https://s20.postimg.cc/kud6f22hp/Eur...erland.svg.png
    Thụy Sĩ, tên chính thức Liên bang Thụy Sĩ, là một nước cộng ḥa liên bang tại châu Âu. Quốc gia này gồm có 26 bang, và thành phố Bern là nơi đặt trụ sở nhà đương cục liên bang.

    Trong T́nh trạng Khẩn cấp
    Ngày 26 tháng 6 năm 1975, sau khi Ấn Độ tuyên bố t́nh trạng khẩn cấp, phiên bán Bombay của The Times of India đăng một mục từ trên cột cáo phó đọc là "Dân chủ, người chồng yêu quư của Sự thật, cha của Tự do, anh của Tin tưởng, Hy vọng và Công lư đă tắt thở vào ngày 25 tháng 6".[25]
    Hành động này nhằm chỉ trích t́nh trạng khẩn cấp kéo dài trong 21 tháng của Thủ tướng Indira Gandhi, bị nhiều người nh́n nhận là thời kỳ chính phủ Ấn Độ chuyên chế hoàn toàn.[26][27]

    https://s20.postimg.cc/dg4ccfep9/Indira_Gandhi_1977.jpg
    Indira Priyadarśinī Gāndhī (Devanāgarī: इन्दिरा प्रियदर्शिनी गान्धी; IPA: [ɪnd̪ɪraː prɪjəd̪ərʃɪniː gaːnd̪ʰiː]; tên thời con gái là Indira Priyadarshini Nehru, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1917, mất ngày 31 tháng 10 năm 1984) là Thủ tướng Ấn Độ từ 19 tháng 1 năm 1966 đến 24 tháng 3 năm 1977, và lần thứ hai từ ngày 14 tháng 1 năm 1980 cho đến khi bị ám sát ngày 31 tháng 10 năm 1984.

    The Times trong thế kỷ 21
    Cuối năm 2006, Times Group có được Vijayanand Printers Limited (VPL). VPL trước đó phát hành hai tờ báo tiếng Kannada là, Vijay Karnataka và Usha Kiran, và một nhật báo tiếng Anh là Vijay Times. Vijay Karnataka từ đó đứng đầu trong mảng báo tiếng Kannada.[28]
    Báo phát hành một phiên bản Chennai vào ngày 12 tháng 4 năm 2008.[29] Phiên bản Kolhapur được phát hành vào năm 2013.

    https://s20.postimg.cc/72f99mcil/Ove...art_Madras.png
    Chennai (tiếng Tamil: சென்னை), trước đây có tên là Madras pronunciation (trợ giúp·chi tiết), là thủ phủ của bang Tamil Nadu và là thành phố thủ phủ lớn thứ 4 của Ấn Độ. Chennai tọa lạc bên bờ biển Coromandel của Vịnh Bengal.

    Giải thưởng TOIFA được trao lần đầu vào năm 2013[30] và lần thứ nh́ vào năm 2016,[31] "The Times of India Film Awards" hay "TOIFA" là giải thưởng dành cho các tác phẩm trong ngành công nghiệp điện ảnh, được quyết định dựa trên bỏ phiếu công chúng toàn cầu theo hạng mục đề cử.[32]

    Phiên bản và phát hành

    Văn phóng đầu tiên của TOI đối diện với ga Chhatrapati Shivaji tại Mumbai, là nơi nó được thành lập.

    Times of India do tập đoàn truyền thông media group Bennett, Coleman & Co. Ltd. phát hành. Công ty này c̣n gọi là The Times Group và cũng phát hành Ahmedabad Mirror; Bangalore Mirror; Bangalore Times, Delhi Times; The Economic Times; Ei Samay, (một nhật báo tiếng Bengal); Maharashtra Times]', (một nhật báo tiếng Marath); Mumbai Mirror; Navbharat Times, (một nhật báo tiếng Hindi); và Pune Mirror.


    The Economic Times is an English-language, Indian daily newspaper published by the Bennett, Coleman & Co. Ltd..


    Ei Samay Sangbadpatra is a Bengali-language broadsheet daily newspaper from The Times Group. It was launched as a motive to enter into a head to head competition with Anandabazar Patrika (and its recently launched sister publication, the tabloid .


    Maharashtra Times (Marathi: महाराष्ट्र टाइम्स), colloquially referred to as 'Ma Taa' (मटा) from its Marathi initialism, is a Marathi newspaper based in Mumbai, India.

    https://s20.postimg.cc/x8zyfirgt/Nav...cover_page.jpg
    Navbharat Times (NBT) is one of the largest circulated as well as largest read Hindi newspapers of Delhi and Mumbai and Lucknow.

    The Times of India có thị trưởng tại các thành phố lớn như Mumbai,[33] Ahmedabad, Aurangabad, Bangalore, Bhopal, Bhubaneswar, Calicut, Chandigarh, Chennai, Coimbatore, Delhi, Guwahati, Hubli, Hyderabad, Indore, Jaipur, Kochi, Kolhapur, Kolkata, Lucknow, Madurai, Mangalore, Mysore, Nagpur, Nashik, Panaji, Patna, Puducherry, Pune, Raipur, Ranchi, Surat, Trichy, Trivandrum, Varanasi, Vijayawada và Visakhapatnam
  • 02-11-2018, 08:29 PM
    nguoi gia
    Cách nay đúng 69 năm, Hoà Lan chuyển giao độc lập cho Indonesia

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipe.../Th%C3%A1ng_11
    Ngày 02 tháng 11, 1949
    • 1949 – Hội nghị bàn tṛn tại La Haye giữa Hà Lan và Indonesia kết thúc với hiệp định chuyển giao chủ quyền cho Indonesia.

    https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%B..._Lan-Indonesia
    https://en.wikipedia.org/wiki/Dutch%...ble_Conference
    https://fr.wikipedia.org/wiki/Conf%C...nde_de_La_Haye
    https://nuocnha.blogspot.com/2018/11...uyen-giao.html

    Hội nghị bàn tṛn Hà Lan-Indonesia

    tiếng Indonesia: Konferensi Meja Bundar
    tiếng Hà Lan: Ronde Tafel Conferentie

    Phiên họp của Hội nghị bàn tṛn

    Ngày thảo 23 tháng 8 năm 1949
    Ngày kư 2 tháng 11 năm 1949
    Địa điểm Den Haag, Hà Lan
    Có hiệu lực 27 tháng 12 năm 1949
    Điều kiện (Chuyển giao chủ quyền)
    * Chuyển giao hoàn toàn chủ quyền vô điều kiện và không thể triệt tiêu của Vương quốc Hà Lan cho Cộng ḥa Hợp chúng quốc Indonesia, và do đó công nhận Cộng ḥa Hợp chúng quốc Indonesia là một quốc gia độc lập và có chủ quyền
    Cộng ḥa Hợp chúng quốc Indonesia chấp thuận chủ quyền này dựa trên các điều khoản trong hiến pháp của ḿnh; Vương quốc Hà Lan đă được thông báo về hiến pháp đề xuất này

    Bên kư kết Indonesia
    -------------------------------------
    Hà Lan, BFO
    Liên Hiệp Quốc, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Komisi Tiga Negara
    -------------------------------------
    Bên tham dự Indonesia
    -------------------------------------
    Hà Lan, Tân Guinea thuộc Hà Lan, Vương quốc Pontianak, Nhà nước Đông Indonesia
    Nhà nước Madura, Pasundan, Nhà nước Đông Sumatra, Đại Dayak
    -------------------------------------
    Hoa Kỳ, Úc, Bỉ, Anh Quốc, Pháp, Trung Quốc, Liên Xô
    Nơi lưu giữ Vương quốc Hà Lan
    Ngôn ngữ tiếng Hà Lan

    Hội nghị bàn tṛn Hà Lan–Indonesia được tổ chức tại Den Haag từ ngày 23 tháng 8 – 2 tháng 11 năm 1949, giữa các đại biểu của Hà Lan, nước Cộng ḥa Indonesia và Hội đồng Tư vấn Liên bang (BFO: Federal Consultative Assembly )- đại diện cho các quốc gia mà người Hà Lan lập ra trên quần đảo Indonesia.

    Vị trí ở Zuid-Holland

    Den Haag (phát âm [dɛnˈɦaːx] ) hay 's-Gravenhage (phát âm [ˈsxraːvə(n)ˌɦaːɣə] ) - trong tiếng Việt quen gọi là La Hay dựa theo cách gọi La Haye của tiếng Pháp - là thành phố lớn thứ ba ở Hà Lan sau Amsterdam và Rotterdam, có diện tích vào khoảng 100 km², có dân số 472.087 người (tính cả vùng xung quanh là 700.000 người) vào ngày 1 tháng 1 năm 2005.

    Trước hội nghị này, đă diễn ra ba cuộc họp cấp cao khác giữa Hà Lan và Indonesia; đó là Hiệp định Linggadjati (1947), Hiệp định Renville(1948), và Hiệp định Roem-van Roijen (1949). Hội nghị kết thúc với kết quả là Hà Lan chấp thuận chuyển giao chủ quyền cho Hợp chúng quốc Indonesia.

    The Dutch–Indonesian Round Table Conference was held in The Hague from 23 August to 2 November 1949, between representatives of the Netherlands, the Republic of Indonesia and the BFO (Federal Consultative Assembly) representing various states the Dutch had created in the Indonesian archipelago. Prior to this conference, three other high-level meetings between the Netherlands and Indonesia took place; the Linggadjati Agreement (1947), the Renville Agreement (1948), and the Roem-van Roijen Agreement (1949). The conference ended with the Netherlands agreeing to transfer sovereignty to the United States of Indonesia.


    Sutan Sjahrir (left) and Wim Schermerhorn drafting the agreement

    The Linggadjati Agreement (Linggajati in modern Indonesian spelling) was a political accord concluded on 15 November 1946 by the Dutch administration and the unilaterally declared Republic of Indonesia in the village of Liggarjati, near Cirebon in which the Dutch recognised the republic as the de facto authority in Java, Madura and Sumatra.

    https://s20.postimg.cc/inm9d250d/Renville.jpg
    Negotiations underway on USS Renville between the Dutch and the Indonesian republicans
    https://s20.postimg.cc/3rnq5h919/USS_Renville.jpg
    USS Renville (APA-227) at anchor off the coast of South Vietnam, 1966


    The Van Mook Line in Java. Areas in red were under Republican control

    The Renville Agreement was a United Nations Security Council-brokered political accord between the Netherlands, which was seeking to re-establish its colony in South East Asia, and Indonesian Republicans seeking to secure Indonesian independence during the Indonesian National Revolution.


    The Roem – van Roijen Agreement was an agreement made between Indonesia and the Netherlands on 7 May 1949. The name being derived between the two principal negotiators at the meeting; Mohammad Roem and Jan Herman van Roijen.

    Bối cảnh
    Ngày 28 tháng 1 năm 1949, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua một nghị quyết chỉ trích cuộc tấn công quân sự mà Hà Lan mới tiến hành nhằm chống lực lượng cộng ḥa tại Indonesia và yêu cầu phục hồi chính phủ cộng ḥa. Nghị quyết cũng thúc giục nối lại đàm phán nhằm t́m kiếm một giải pháp ḥa b́nh giữa hai bên


    Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh: United Nations Security Council, viết tắt UNSC) là cơ quan chính trị quan trọng nhất và hoạt động thường xuyên của Liên Hiệp Quốc, chịu trách nhiệm chính về việc duy tŕ ḥa b́nh và an ninh quốc tế. Những nghị quyết của Hội đồng Bảo an được thông qua mà phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc th́ bắt buộc các nước hội viên của Liên Hiệp Quốc phải thi hành. Hội đồng Bảo an không phục tùng Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc

    Hiệp định Roem-van Roijen kư vào ngày 6 tháng 7, xác nhận hiệu lực của nghị quyết Hội đồng Bảo an, trong đó Mohammad Roem phát biểu rằng nước Cộng ḥa Indonesia, với các lănh tụ vẫn đang lưu vong trên đảo Bangka, sẽ đàm phán trong một hội nghị bàn tṛn nhằm làm tăng tốc độ chuyển giao chủ quyền.


    Bangka (đôi khi viết là Banka) là một ḥn đảo nằm phía đông đảo lớn Sumatra, Indonesia. Cũng có một ḥn đảo nhỏ cùng tên nằm ở phía bắc của tỉnh Sulawesi, Indonesia.

    Chính phủ Indonesia trở lại thủ đô lâm thời Yogyakarta vào ngày 6 tháng 7 năm 1949 sau hơn 6 tháng lưu vong.

    Vùng đặc biệt Yogyakarta (tiếng Indonesia: Daerah Istimewa Yogyakarta, hay DIY), là một tỉnh của Indonesia trên đảo Java. Đây là tỉnh duy nhất ở Indonesia vẫn c̣n chính thức được quản lư bằng một tiểu vương: tiểu vương Hadiningrat.

    Nhằm đảm bảo lập trường tương đồng trong đàm phán giữa các đại biểu của Cộng ḥa và liên bang, trong nửa cuối tháng 7 năm 1949 và từ ngày 31 tháng 7 – 2 tháng 8, các hội nghị liên Indonesia được tiến hành tại Yogyakarta giữa toàn bộ các nhà cầm quyền hợp thành trong Hợp chúng quốc Indonesia tương lai. Những người tham dự chấp thuận dựa trên các nguyên tắc cơ bản và khuôn khổ hiến pháp
    Các cuộc thảo luận sơ bộ tiếp theo do Uỷ ban Liên Hiệp quốc về Indonesia tại Jakarta bảo trợ, hội nghị bàn tṛn được quyết định sẽ diễn ra tại Den Haag.

    Đàm phán
    Kết quả của các cuộc đàm phán nằm trong một số văn kiện, một Hiến chương Chuyển giao Chủ quyền, một Quy chế Liên minh, một hiệp định kinh tế và các hiệp định về công tác xă hội và quân sự

    Họ cũng đạt được hiệp định về việc triệt thoái các binh sĩ Hà Lan "trong thời gian ngắn nhất có thể". Và về việc Hợp chúng quốc Indonesia cấp t́nh trạng tối huệ quốc cho Hà Lan. Ngoài ra, sẽ không có phân biệt đối xử chống lại kiều dân hoặc các công ty Hà Lan và nước Cộng ḥa chấp thuận kế tục các hiệp định mậu dịch do Đông Ấn Hà Lan đàm phán.


    Đông Ấn Hà Lan (tiếng Hà Lan: Nederlands-Indië; tiếng Indonesia: Hindia-Belanda) từng là một thuộc địa của Hà Lan và là tiền thân của nước Indonesia ngày nay. Đông Ấn Hà Lan được thành lập từ việc quốc hữu hóa các thuộc địa của Công ty Đông Ấn Hà Lan, công ty nằm dưới sự quản lư của chính quyền Hà Lan từ năm 1800.

    Tuy nhiên, hai chủ đề lớn gây bất đồng là nợ của chính phủ thực dân Hà Lan và t́nh trạng của miền Tây đảo Tân Guinea.


    Western New Guinea, also known as Papua (formerly Irian Jaya) and West Papua, is the part of the island of New Guinea (also known as Papua) incorporated into Indonesia in 1962. Lying to the west of the Independent State of Papua New Guinea, it is the only Indonesian territory to be situated in Oceania.

    Các cuộc đàm phán về nợ quốc nội và ngoại quốc của chính phủ thực dân Đông Ấn Hà Lan bị kéo dài, mỗi bên tŕnh bày các tính toán riêng của ḿnh và tranh luận về Hợp chúng quốc Indonesia có nên chịu trách nhiệm về các khoản nợ mà người Hà Lan gánh sau khi đầu hàng Nhật Bản vào năm 1942. Các phái đoàn Indonesia phẫn nộ trước việc phải tính cả khoản tiền mà họ cho là chi phí quân sự của Hà Lan nhằm chống lại họ. Cuối cùng, nhờ can thiệp của thành viên đại diện cho Hoa Kỳ trong Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Indonesia, phía Indonesia nhận thức rằng chấp thuận trả một phần nợ của người Hà Lan sẽ là giá họ phải trả để được chuyển giao chủ quyền. Ngày 24 tháng 10, các phái đoàn Indonesia chấp thuận rằng Indonesia sẽ tiếp nhận khoảng 4,3 tỷ Guilder nợ chính phủ Đông Ấn Hà Lan.
    Vấn đề tiếp nhận miền Tây đảo Tân Guinea suưt khiến đàm phán trở nên bế tắc. Các phái đoàn Indonesia có quan điểm rằng Indonesia sẽ bao gồm toàn thể lănh thổ của Đông Ấn Hà Lan. Người Hà Lan bác bỏ thỏa hiệp, tuyên bố miền Tây đảo Tân New Guinea không có liên kết về dân tộc với phần c̣n lại của quần đảo Bất chấp quan điểm công chúng tại Hà Lan là ủng hộ chuyển giao miền Tây đảo Tân Guinea cho Indonesia, nội các Hà Lan lo ngại hành động nhượng bộ điều này sẽ khiến Quốc hội không phê chuẩn Hiệp định hội nghị bàn tṛn.

    Cuối cùng, vào những giờ đầu của ngày 1 tháng 11 năm 1949 các bên đạt được một thỏa hiệp: t́nh trạng của miền Tây đảo Tân Guinea sẽ được xác định thông qua các cuộc đàm phán giữa Hợp chúng quốc Indonesia và Hà Lan trong ṿng một năm sau chuyển giao chủ quyền.

    Hội nghị chính thức kết thúc tại ṭa nhà quốc hội Hà Lan vào ngày 2 tháng 11 năm 1949. Chủ quyền được chuyển giao cho Hợp chúng quốc Indonesia vào ngày 27 tháng 12 năm 1949.

    1. Vương quốc Hà Lan chuyển giao hoàn toàn chủ quyền vô điều kiện và không thể triệt tiêu cho Cộng ḥa Hợp chúng quốc Indonesia, và do đó công nhận Cộng ḥa Hợp chúng quốc Indonesia là một quốc gia độc lập và có chủ quyền.
    2. Cộng ḥa Hợp chúng quốc Indonesia chấp thuận chủ quyền này dựa trên các điều khoản hiến pháp của ḿnh; Vương quốc Hà Lan đă được thông báo về hiến pháp đề xuất này.
    —Hiến chương chuyển giao chủ quyền.

    Hậu quả
    Sau sáu mươi năm công nhận ngày chuyển giao chủ quyền là ngày độc lập của Indonesia, đến ngày 15 tháng 8 năm 2005 chính phủ Hà Lan chính thức công nhận Indonesia độc lập thực tế từ ngày 17 tháng 8 năm 1945, tức ngày Indonesia tuyên bố độc lập. Trong một hội nghị tại Jakarta, Ngoại trưởng Ben Bot tuyên bố "hối tiếc sâu sắc về những đau khổ" xảy ra trong Cách mạng Dân tộc kéo dài trong bốn năm, song không chính thức xin lỗi. Phản ứng của Indonesia với lập trường của Hà Lan nh́n chung là tích cực; Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia Hassan Wirayuda được trích lời nói rằng, sau khi thừa nhận điều này, "sẽ dễ dàng hơn để hướng về phía trước và tăng cường quan hệ song phương giữa hai quốc gia".
  • 01-11-2018, 08:48 PM
    nguoi gia
    Cách nay đúng 25 năm, Liên Minh Âu Châu chính thức được thành lập

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipe.../Th%C3%A1ng_11
    Ngày 01 tháng 11, 1993
    • 1993 – Hiệp ước Maastricht có hiệu lực, chính thức thành lập Liên minh châu Âu.

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%...C3%A2u_%C3%82u
    https://en.wikipedia.org/wiki/European_Union
    https://fr.wikipedia.org/wiki/Union_europ%C3%A9enne
    https://nuocnha.blogspot.com/2018/11...u-httpsvi.html

    Liên minh châu Âu

    Cờ Liên minh

    Khẩu hiệu: Thống nhất trong đa dạng
    "United in diversity" (tiếng Anh)
    "In Varietate Concordia" (tiếng Latinh)
    Minh ca:
    Ode to Joy (ḥa xướng)
    https://i.postimg.cc/N0tWFLN1/EU28-on-a-globe-svg.png

    Liên minh châu Âu hay Liên hiệp châu Âu (tiếng Anh: European Union), cũng được gọi là Khối Liên Âu, viết tắt là EU, là liên minh kinh tế – chính trị bao gồm 28 quốc gia thành viên thuộc châu Âu. Liên minh châu Âu được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày 1 tháng 11 năm 1993 dựa trên Cộng đồng châu Âu (EC). Với hơn 500 triệu dân, Liên minh châu Âu chiếm khoảng 22% (16,2 ngh́n tỷ đô la Mỹ năm 2015) GDP danh nghĩa và khoảng 17% (19,2 ngh́n tỷ đô la Mỹ năm 2015) GDP sức mua tương đương của thế giới (PPP: Purchasing power parity).
    Liên minh châu Âu đă phát triển thị trường chung thông qua hệ thống luật pháp tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu thông tự do của con người, hàng hóa, dịch vụ và vốn. EU duy tŕ các chính sách chung về thương mại, nông nghiệp, ngư nghiệp và phát triển địa phương. 17 nước thành viên đă chấp nhận đồng tiền chung (đồng Euro), tạo nên khu vực đồng Euro. Liên minh châu Âu đă phát triển vai tṛ nhất định trong chính sách đối ngoại, có đại diện trong Tổ chức Thương mại Thế giới, G8, G-20 nền kinh tế lớn và Liên Hiệp Quốc. Liên minh châu Âu đă thông qua việc băi bỏ kiểm tra hộ chiếu bằng Hiệp ước Schengen giữa 22 quốc gia thành viên và 4 quốc gia không phải là thành viên Liên minh châu Âu.),
    Là tổ chức quốc tế, Liên minh châu Âu hoạt động thông qua hệ thống chính trị siêu quốc gia và liên chính phủ hỗn hợp. Những thể chế chính trị quan trọng của Liên minh châu Âu bao gồm Ủy ban châu Âu, Nghị viện châu Âu Hội đồng Liên minh châu Âu, Hội đồng châu Âu, Ṭa án Công lư Liên minh châu Âu và Ngân hàng Trung ương châu Âu.
    Liên minh châu Âu có nguồn gốc từ Cộng đồng Than Thép châu Âu từ 6 quốc gia thành viên ban đầu vào năm 1951. Từ đó cho đến nay, Liên minh châu Âu đă lớn mạnh hơn về số lượng cũng như chất lượng thông qua việc tăng cường thẩm quyền của Liên minh châu Âu.

    Địa lư

    https://i.postimg.cc/1Xx9WymM/D-me-du-Go-ter.jpg
    Mont Blanc đỉnh núi cao nhất Liên minh châu Âu

    Lănh thổ của Liên minh châu Âu là tập hợp lănh thổ của tất cả các quốc gia thành viên nhưng cũng có những ngoại lệ. Chẳng hạn như quần đảo Faroe thuộc Đan Mạch là một bộ phận lănh thổ của châu Âu nhưng không nằm trong lănh thổ của Liên minh châu Âu hay đảo Síp, thành viên Liên minh châu Âu thường được xem là một phần của châu Á v́ gần Thổ Nhĩ Kỳ hơn châu Âu lục địa.[20][21] Một vài vùng lănh thổ khác nằm ngoài châu Âu và cũng không thuộc lănh thổ của Liên minh châu Âu như trường hợp của Greenland hay Aruba.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Thành viên

    Các thành viên (màu tím) và ứng viên (màu đỏ) của Liên minh châu Âu giai đoạn 2004-2007 (ISO 3166)

    Lịch sử của Liên minh châu Âu bắt đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Có thể nói rằng nguyện vọng ngăn ngừa chiến tranh tàn phá tái diễn đă đẩy mạnh sự hội nhập châu Âu. Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Robert Schumann là người đă nêu ra ư tưởng và đề xuất lần đầu tiên trong một bài phát biểu nổi tiếng ngày 9 tháng 5 năm 1950. Cũng chính ngày này là ngày mà hiện nay được coi là ngày sinh nhật của Liên minh châu Âu và được kỉ niệm hàng năm là "Ngày châu Âu".
    Ban đầu, Liên minh châu Âu bao gồm 6 quốc gia thành viên: Bỉ, Đức, Ư, Luxembourg, Pháp, Hà Lan. Năm 1973, tăng lên thành 9 quốc gia thành viên. Năm 1981, tăng lên thành 10. Năm 1986, tăng lên thành 12. Năm 1995, tăng lên thành 15. Năm 2004, tăng lên thành 25. Năm 2007, tăng lên thành 27. Từ 1 tháng 7 năm 2013, EU có 28 thành viên.


    Quá tŕnh gia nhập của các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu

    Sau đây là danh sách 28 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu xếp theo năm gia nhập và theo bảng chữ cái tiếng Việt.
    a/ 1957: Bỉ, Đức, Hà Lan, Luxembourg, Pháp, Ư
    b/ 1973: Anh (chuẩn bị ra đi sau trưng cầu dân ư ngày 24/6/2016), Đan Mạch (chuẩn bị tổ chức trưng cầu dân ư về việc rời khỏi EU), Ireland
    c/ 1981: Hy Lạp
    d/ 1986: Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha
    e/ 1995: Áo, Phần Lan, Thụy Điển
    f/ Ngày 1/5/2004: Ba Lan, Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Malta, Séc, Síp, Slovakia, Slovenia
    g/ Ngày 1/1/2007: Bulgaria, Romania
    h/ 1/7/2013: Croatia
    Hiện nay, Liên minh châu Âu có diện tích là 4.422.773 km² với dân số là 492,9 triệu người (2006) [29]; với tổng GDP là 11.6 ngh́n tỉ euro (xấp xỉ 15.7 ngh́n tỉ USD) trong năm 2007. Hầu hết các quốc gia châu Âu đều đang là thành viên của Liên minh châu Âu.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Ba trụ cột chính của Liên minh châu Âu

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Hiệp ước Maastricht - Trụ cột thứ nhất


    Các nước phê chuẩn Hiệp ước Maastricht

    Hiệp ước Maastricht hay c̣n gọi là Hiệp ước Liên minh châu Âu (tiếng Anh, "Treaty of European Union"), kư ngày 7 tháng 2 năm 1992 tại Maastricht Hà Lan [36], nhằm mục đích:
    a/ Thành lập liên minh kinh tế và tiền tệ vào cuối thập niên 1990, với một đơn vị tiền tệ chung và một ngân hàng trung ương độc lập,
    b/ Thành lập một liên minh chính trị bao gồm việc thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung để tiến tới có chính sách pḥng thủ chung, tăng cường hợp tác về cảnh sát và luật pháp.
    Hiệp ước này đánh dấu một bước ngoặt trong tiến tŕnh nhất thể hóa châu Âu và dẫn đến việc thành lập Cộng đồng châu Âu.

    Liên minh chính trị
    a/ Tất cả các công dân của các nước thành viên được quyền tự do đi lại và cư trú trong lănh thổ của các nước thành viên.
    b/ Được quyền bầu cử và ứng cử chính quyền địa phương và Nghị viện châu Âu tại bất kỳ nước thành viên nào mà họ đang cư trú.
    c/ Thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung trên cơ sở hợp tác liên chính phủ với nguyên tắc nhất trí để vẫn bảo đảm chủ quyền quốc gia trên lĩnh vực này.
    d/ Tăng cường quyền hạn của Nghị viện châu Âu.
    e/ Mở rộng quyền của Cộng đồng trong một số lĩnh vực như môi trường, xă hội, nghiên cứu...
    f/ Phối hợp các hoạt động tư pháp, thực hiện chính sách chung về nhập cư, quyền cư trú và thị thực.

    Liên minh kinh tế và tiền tệ
    Được chia làm 3 giai đoạn, từ 1 tháng 7 năm 1990 tới 1 tháng 1 năm 1999, và kết thúc bằng việc giải tán Viện tiền tệ châu Âu, thành lập Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB).
    Điều kiện để tham gia vào liên minh kinh tế và tiền tệ (c̣n gọi là những tiêu chỉ hội nhập) là:
    • Lạm phát thấp, không vượt quá 1,5% so với mức trung b́nh của 3 nước có mức lạm phát thấp nhất;
    • Thâm hụt ngân sách không vượt quá 3% GDP;
    • Nợ công dưới 60% GDP và biên độ dao động tỷ giá giữa các đồng tiền ổn định trong hai năm theo cơ chế chuyển đổi (ERM);
    • Lăi suất (tính theo lăi suất công trái thời hạn từ 10 năm trở lên) không quá 2% so với mức trung b́nh của 3 nước có lăi suất thấp nhất.
    Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đồng Euro đă chính thức được lưu hành trong 12 quốc gia thành viên (c̣n gọi là khu vực đồng Euro) gồm Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Phần Lan, Ireland, Ư, Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; các nước đứng ngoài là Anh, Đan Mạch và Thuỵ Điển. Hiện nay, đồng Euro đang có tỷ giá hối đoái cao hơn đồng đô la Mỹ.

    Hiệp ước Schengen

    Các nước trong hiệp ước Schengen

    Ngày 19 tháng 6 năm 1990, Hiệp ước Schengen được thoả thuận xong. Đến ngày 27 tháng 11 năm 1990, 6 nước Pháp, Đức, Luxembourg, Bỉ, Hà Lan và Ư chính thức kư Hiệp ước Schengen. Hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha kư ngày 25 tháng 6 năm 1991. Ngày 26 tháng 3 năm 1995, hiệp ước này mới có hiệu lực tại 7 nước thành viên. Hiệp ước quy định quyền tự do đi lại của công dân các nước thành viên. Đối với công dân nước ngoài chỉ cần có visa của một trong 9 nước trên là được phép đi lại trong toàn bộ khu vực Schengen. Tính đến 19/12 năm 2011, tổng số quốc gia công nhận hoàn toàn hiệp ước này là 26 nước: Ba Lan, Cộng ḥa Séc, Hungary, Slovakia, Slovenia, Estonia, Latvia, Litva, Malta, Iceland, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Luxembourg, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, Áo, Ư, Hy Lạp, Thụy Sĩ, Liechtenstein(trong đó có 22 nước thuộc khối liên minh châu Âu).[37]

    Hiệp ước Amsterdam - Trụ cột thứ hai
    Hiệp ước Amsterdam c̣n gọi là Hiệp ước Maastricht sửa đổi, kư ngày 2 tháng 10 năm 1997 tại Amsterdam, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 5 năm 1999, đă có một số sửa đổi và bổ sung trong các vấn đề như:
    1. Những quyền cơ bản, không phân biệt đối xử;
    2. Tư pháp và đối nội;
    3. Chính sách xă hội và việc làm;
    4. Chính sách đối ngoại và an ninh chung.

    Hiệp ước Nice - Trụ cột thứ ba
    Hiệp ước Nice được lănh đạo các quốc gia thành viên châu Âu kư vào ngày 26 tháng 2 năm 2001 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 2 năm 2003. Hiệp ước Nice là sự bổ sung cho Hiệp ước Maastricht và Hiệp ước Rome. Hiệp ước Nice tập trung vào vấn đề cải cách thể chế để đón nhận các thành viên mới theo chính sách mở rộng về phía Đông châu Âu, vốn ban đầu là nhiệm vụ của Hiệp ước Amsterdam nhưng không được hoàn thành.[38]
    Trong cuộc trưng cầu dân ư diễn ra vào tháng 6 năm 2001, các cử tri Ireland đă phản đối việc thông qua Hiệp ước Nice. Tuy nhiên, sau hơn một năm, kết quả đă bị đảo ngược.

    Hiệp ước Lisbon – tái cấu trúc Liên minh châu Âu
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Cơ cấu tổ chức

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Hội đồng châu Âu
    https://i.postimg.cc/RF58yht3/Donald-Tusk-2015.jpg
    Chủ tịch Hội đồng châu Âu Donald Tusk

    Hội đồng châu Âu phụ trách điều hành Liên minh châu Âu và có nhiệm vụ nhóm họp ít nhất 4 lần trong năm. Hội đồng châu Âu bao gồm Chủ tịch Hội đồng châu Âu, Chủ tịch của Ủy ban châu Âu và một đại diện của mỗi quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, có thể là người đứng đầu nhà nước hoặc chính phủ của quốc gia thành viên đó. Hội đồng châu Âu được xem là cơ quan lănh đạo tối cao của Liên minh châu Âu.[40] Hội đồng châu Âu chủ động xem xét những thay đổi trong các hiệp ước điều chỉnh hoạt động Liên minh châu Âu cũng như xác định chương tŕnh nghị sự và chiến lược cho Liên minh châu Âu.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Hội đồng Bộ trưởng
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Nghị viện châu Âu
    Gồm 751 nghị sĩ, nhiệm kỳ 5 năm, được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu từ tất cả các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu. Trong Nghị viện châu Âu các nghị sĩ ngồi theo nhóm chính trị khác nhau, không theo quốc tịch.[46]
    https://i.postimg.cc/k4QZmCNT/Europe...egislative.png
    Thủ tục lập pháp của Liên minh châu Âu.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Ủy ban châu Âu
    https://i.postimg.cc/Gtbf3fqd/Jean-Claude-Juncker.jpg
    Jean-Claude Juncker (ngườiLuxembourg), Chủ tịch Ủy ban châu Âu đương nhiệm
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Ṭa án Công lư Liên minh châu Âu
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Hệ thống pháp luật

    https://i.postimg.cc/fy5rVvrX/Tratado-de-Lisboa.jpg
    Lần tu chính án cuối cùng cho Hiến pháp Liên minh châu Âu 2009
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Các quyền cơ bản

    Điều 1 và 2 Hiến chương Liên minh châu Âu về những quyền cơ bản:
    "Nhân phẩm là không thể xâm phạm. Nhân phẩm phải được tôn trọng và bảo vệ.
    Mọi người đều có quyền được sống. Không một ai bị kết án tử h́nh hoặc bị xử tử."
    Các điều ước đă kư kết giữa các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu công nhận rằng Liên minh châu Âuđược "thành lập trên cơ sở tôn trọng những giá trị nhân phẩm, tự do, dân chủ, công bằng, pháp trị và nhân quyền, bao gồm quyền của những người thuộc những sắc tộc thiểu số... trong một xă hội đa dạng, không phân biệt, khoan dung, công lư, đoàn kết và b́nh đẳng giới."[52]
    Bài quá dài, phải cắt bớt


    Quốc gia thành viên Liên minh châu Âu ban hành hộ chiếu riêng của Liên minh châu Âu trên đó có ghi tên gọi cùng với biểu tượng và ḍng chữ Liên minh châu Âu bằng ngôn ngữ chính thức của quốc gia thành viên đó - (Mẫu hộ chiếu của Ireland)
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Các đạo luật
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Tư pháp và Nội vụ

    Khu vực Schengen bao gồm hầu hết các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Ngoại giao
    https://i.postimg.cc/cC1DGnLJ/Baroness-Ashton.jpg
    Đại diện cao cấp của Liên minh châu Âu về ngoại giao và chính sách an ninh, bà Catherine Ashton.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Quân sự
    https://i.postimg.cc/NfzdZLqg/Typhoon.jpg
    Chiến đấu cơ Eurofighter được chế tạo bởi một tập đoàn hợp tác giữa bốn quốc gia thành viên Liên minh châu Âu.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Kinh tế


    10 nền kinh tế có GDP và PPP lớn nhất tính theo USD
    trong đó Liên minh châu Âu được tính là một thể chế duy nhất (IMF, 2009).[75]
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Thị trường nội địa châu Âu
    https://i.postimg.cc/W4MSDnD3/Airbus-A380.jpg
    Airbus A380 một trong những sản phẩm hợp tác sản xuất của các thành viên Liên minh châu Âu
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Liên minh tiền tệ

    Đồng tiền chung Euro được sử dụng từ năm 2002.

    https://i.postimg.cc/MHrYk3Ls/Eurozone-svg.png
    Khu vực đồng tiền chung euro (eurozone) (màu xanh đậm) bao gồm 16 quốc gia thành viên sử dụng đồng euro như đồng tiền chính thức.

    https://i.postimg.cc/c1Dh86JQ/European-Central-Bank.jpg
    Ngân hàng Trung ương châu Âu ở Frankfurt chịu trách nhiệm quản lư chính sách tiền tệ.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Luật cạnh tranh

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Dân số
    Ngày 1 tháng 1 năm 2011, tổng dân số của 27 quốc gia thành viên thuộc Liên minh châu Âu dự tính đạt 501.259.840 người. Tuy Liên minh châu Âu chỉ chiếm 3% diện tích đất liền, dân số liên minh này chiếm đến 7,3% dân số thế giới. Mật độ dân số lên đến 115,9 người/km ² đă khiến cho Liên minh châu Âu trở thành một trong những khu vực đông dân cư nhất trên thế giới.

    Đô thị hóa
    Bài quá dài, phải cắt bớt
    Liên minh châu Âu là nơi có nhiều thành phố toàn cầu hơn bất cứ khu vực nào khác trên thế giới, có tất cả 16 thành phố trên một triệu dân, trong đó lớn nhất là Luân Đôn.[96]
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Ngôn ngữ
    Trong số rất nhiều ngôn ngữ và tiếng địa phương được sử dụng ở Liên minh châu Âu, có 23 ngôn ngữ chính thức và tiếng phổ thông: Bungary, Séc, Đan Mạch, Hà Lan, Anh, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ư, Ailen, Latvia, Litva, Malta, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Rumani, Slovak, Slovenia, Tây Ban Nha và tiếng Thụy Điển.[100][101] Các tài liệu quan trọng, chẳng hạn như luật pháp, được dịch sang mọi ngôn ngữ chính thức. Nghị viện châu Âu cung cấp các bản dịch tài liệu văn bản và phiên toàn thể ở tất cả các ngôn ngữ.[102] Một số tổ chức sử dụng chỉ một số ít các ngôn ngữ phổ thông nội bộ.[103] Chính sách ngôn ngữ do các thành viên trong liên minh quản lư, nhưng các tổ chức Liên minh châu Âu luôn thúc đẩy việc học các ngôn ngữ khác.[nb 15][104]
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Tôn giáo
    https://i.postimg.cc/wT7V5Htn/EU-belief-in-god.png
    Tỷ lệ người châu Âu ở mỗi quốc gia thành viên những người tin vào "một Thiên Chúa"[110]
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Văn hóa
    https://i.postimg.cc/hP60pwTv/Autumn-in-Turku.jpg https://i.postimg.cc/HkM9K292/Tallinna-vanalinn.jpg
    Turku của Phần Lan (trái) và Tallinn của Estonia (phải) là trung tâm văn hóa châu Âu (năm 2011).
    Bài quá dài, phải cắt bớt
  • 01-11-2018, 12:40 AM
    nguoi gia
    Cách nay đúng 34 năm, cựu thủ tướng Ấn-Độ là Indira Gandhi bị ám sát (Không họ hàng với Mahama Gandhi)

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipe.../Th%C3%A1ng_10

    Ngày 31 tháng 10, 1984
    • 1984 – Cựu Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi (h́nh) bị hai nhân viên bảo vệ ám sát, bạo loạn nhanh chóng nổ ra tại New Delhi khiến hàng ngh́n người theo đạo Sikh bị sát hại.

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Indira_Gandhi
    https://en.wikipedia.org/wiki/Indira_Gandhi
    https://fr.wikipedia.org/wiki/Indira_Gandhi
    https://nuocnha.blogspot.com/2018/10...dhi-bi-am.html

    Indira Gandhi


    Thủ tướng thứ ba của Ấn Độ

    Nhiệm kỳ 14 tháng 1 năm 1980 – 31 tháng 10 năm 1984
    Tổng thống Neelam Sanjiva Reddy, Zail Singh
    Tiền nhiệm Charan Singh
    Kế nhiệm Rajiv Gandhi
    Nhiệm kỳ 24 tháng 1 năm 1966 – 24 tháng 3 năm 1977
    Tổng thống Sarvepalli Radhakrishnan
    Zakir Husain
    V. V. Giri
    Fakhruddin Ali Ahmed
    Phó Thủ tướng Morarji Desai
    Tiền nhiệm Gulzarilal Nanda (quyền)
    Kế nhiệm Morarji Desai

    Bộ trưởng Ngoại giao
    Nhiệm kỳ 9 tháng 3 năm 1984 – 31 tháng 10 năm 1984
    Bài quá dài, phải cắt bớt
    Bộ trưởng Quốc pḥng
    Nhiệm kỳ 14 tháng 1 năm 1980 – 15 tháng 1 năm 1982
    Bài quá dài, phải cắt bớt
    Bộ trưởng Nội vụ
    Nhiệm kỳ 27 tháng 6 năm 1970 – 4 tháng 2 năm 1973
    Bài quá dài, phải cắt bớt
    Bộ trưởng Tài chính
    Nhiệm kỳ 16 tháng 7 năm 1969 – 27 tháng 6 năm 1970
    Bài quá dài, phải cắt bớt
    Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông
    Nhiệm kỳ 9 tháng 6 năm 1964 – 24 tháng 1 năm 1966
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Thông tin cá nhân
    Sinh Indira Priyadarshini Nehru, 19 tháng 11 năm 1917, Allahabad, Liên hiệp Các tỉnh, Ấn Độ thuộc Anh
    Mất 31 tháng 10 năm 1984 (67 tuổi), New Delhi, Ấn Độ
    Đảng chính trị Đảng Quốc đại
    Chồng Feroze Gandhi
    Con cái Rajiv Gandhi, Sanjay Gandhi
    Cha mẹ Jawaharlal Nehru, Kamala Nehru
    Alma mater Đại học Visva-Bharati (bỏ học)
    Đại học Somerville, Oxford (bỏ học)
    Tôn giáo Hindu giáo
    Tặng thưởng Bharat Ratna (1971)
    Chữ kư

    Indira Priyadarśinī Gāndhī (Devanāgarī: इन्दिरा प्रियदर्शिनी गान्धी; IPA: [ɪnd̪ɪraː prɪjəd̪ərʃɪniː gaːnd̪ʰiː]; tên thời con gái là Indira Priyadarshini Nehru, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1917, mất ngày 31 tháng 10 năm 1984) là Thủ tướng Ấn Độ từ 19 tháng 1 năm 1966 đến 24 tháng 3 năm 1977, và lần thứ hai từ ngày 14 tháng 1 năm 1980 cho đến khi bị ám sát ngày 31 tháng 10 năm 1984.
    Là con gái của thủ tướng đầu tiên, Jawaharlal Nehru, và là mẹ của một thủ tướng khác, Rajiv Gandhi, Indira Gandhi là một trong những chính khách nổi bật nhất sau khi Ấn Độ giành độc lập.


    Jawaharlal Nehru (tiếng Hindi: जवाहरलाल नेहरू; IPA: [dʒəvaːhərlaːl nehruː]; 14 tháng 11 năm 1889 tại Allahabad – 27 tháng 5 năm 1964 tại New Delhi) là một nhà chính trị người Ấn Độ và từ 1947 cho đến 1964 là thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, là một trong những nhân vật trung tâm của chính trị Ấn Độ trong phần lớn thế kỷ 20.


    Rajiv Ratna Gandhi (sinh ngày 20 tháng 8 năm 1944 - mất ngày 21 tháng 5 năm 1991) là Thủ tướng thứ sáu của Ấn Độ (tại vị: 1984-1989).

    Bà không có quan hệ họ hàng ǵ với Mahatma Gandhi.


    Mahātmā Gāndhī (2 tháng 10 năm 1869 – 30 tháng 1 năm 1948), nguyên tên đầy đủ là Mohandas Karamchand Gandhi (Devanagari: मोहनदास करमचन्द गांधी; Gujarati: મોહનદાસ કરમચંદ ગાંધી), là anh hùng dân tộc Ấn Độ, đă chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ của hàng triệu người dân.

    Thiếu thời

    Gia tộc Nehru thuộc giai cấp Brahmin ở bang Jammu, ở Kashmir và ở Delhi. Ông nội của Indira là một luật sư giàu có ở Allahabad thuộc bang Uttar Pradesh.

    Vị trí của Uttar Pradesh trong Ấn Độ
    Uttar Pradesh (Hindi: उत्तर प्रदेश nghĩa đen "Tỉnh Bắc"), viết tắt UP, là bang đông dân nhất của Cộng ḥa Ấn Độ cũng như phân cấp hành chính quốc gia đông dân nhất thế giới.

    Ông là một trong số những thành viên quan trọng nhất của Đảng Quốc Đại Ấn Độ trong thời kỳ tiền Gandhi, là người soạn thảo bản Báo cáo Nehru, sự lựa chọn của nhân dân cho thể chế chính trị tương lai của Ấn Độ đối nghịch với thể chế của Anh. Cha của bà, Jawaharlal Nehru là một luật sư trí thức, cũng là nhà lănh đạo được yêu thích trong Phong trào Độc lập Ấn Độ. Người vợ trẻ của ông, Kamala, sinh hạ Indira Priyadarshini Nehru vào thời điểm Nehru gia nhập phong trào độc lập cùng với Mahatma Gandhi.

    Lớn lên trong sự chăm sóc của người mẹ vẫn thường bệnh tật và xa cách gia đ́nh bên nội, Indira phát triển bản năng tự vệ và tính cách đơn độc. Indira thường bất ḥa với các bà cô (chị em của cha), đáng kể nhất là với Vijayalakshmi Pandit (nữ chủ tịch đầu tiên của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc), những tranh chấp này được họ đem theo vào chính trường.

    https://s20.postimg.cc/cdu5u83p9/UN_...embly_hall.jpg
    Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tại trụ sở chính ở New York

    Indira Priyadarshini Nehru thành lập phong trào Vanara Sena cho thanh thiếu niên, thủ giữ một vai tṛ tuy nhỏ nhưng có nhiều ảnh hưởng trong Phong trào Độc lập Ấn Độ, tổ chức những cuộc phản kháng và diễu hành, cũng như hỗ trợ các chính khách đảng Quốc Đại phổ biến các ấn phẩm nhạy cảm và tài liệu bị cấm đoán. Theo một giai thoại, Indira đă giấu một văn kiện quan trọng trong cặp sách để đem ra khỏi ngôi nhà bị cảnh sát theo dơi cẩn mật, đó là bản phác thảo khởi xướng cuộc cách mạng vào đầu thập niên 1930.


    Gia tộc Nehru - Đứng (từ trái): Jawaharlal Nehru, Vijayalakshmi Pandit, Krishna Hutheesing, Indira, và Ranjit Pandit; Ngồi: Swaroop Rani, Motilal Nehru và Kamala Nehru khoảng năm 1927.

    Năm 1934, mẹ cô, Kamala Nehru, bị quật ngă bởi bệnh lao phổi sau một thời gian dài chữa trị. Khi ấy Indira 17 tuổi, và chưa bao giờ có cơ hội hưởng không khí đầm ấm của gia đ́nh trong suốt thời niên thiếu. Cô theo học tại những trường nổi tiếng của Ấn Độ, Âu châu và Anh Quốc như Santiniketan và Oxford, nhưng thành tích học tập yếu kém đă không giúp cô có được một văn bằng nào. Trong những năm sống ở Anh và Âu châu đại lục, Indira gặp Feroze Gandhi, một thành viên tích cực của đảng Quốc Đại.
    https://s20.postimg.cc/jh219vbpp/Feroze_Gandhi.jpg
    Feroze Gandhi (born Feroze Jehangir Ghandy;[3] 12 September 1912 – 8 September 1960) was an Indian politician and journalist. He served as the publisher of The National Herald and The Navjivan newspapers from Lucknow.

    Họ kết hôn năm 1942, ngay trước lúc khởi xướng Phong trào Bất phục tùng Dân sự Ấn Độ (Quit India Movement) – một cuộc cách mạng tối hậu và rộng khắp phát động bởi Mahatma Gandhi và đảng Quốc Đại. Đôi vợ chồng mới cưới bị giam giữ trong vài tháng v́ dính líu đến phong trào. Sau khi kết hôn, Indira Priyadarshini Nehru đổi họ theo họ Gandhi của nhà chống. Năm 1944, Rajiv Gandhi chào đời, hai năm sau là Sanjay Gandhi.

    Bài quá dài, phải cắt bớt


    Vùng Kashmir theo ranh giới kiểm soát của Ấn Độ, Pakistan và Trung Quốc.
    Kashmir (Tiếng Kashmir: کشیر / कॅशीर; Tiếng Hindi: कश्मीर; Tiếng Urdu: کشمیر; Tiếng Duy Ngô Nhĩ: كەشمىر; Tiếng Shina: کشمیر) là khu vực phía tây bắc của tiểu lục địa Ấn Độ. Cho đến giữa thế kỷ 19, thuật ngữ Kashmir dùng để chỉ thung lũng giữa dăy Himalaya lớn và dăy Pir Panjal

    Vươn đến Quyền lực
    Trong năm 1959 và 1960, Gandhi ra tranh cử và đắc cử Chủ tịch Đảng Quốc Đại Ấn Độ. Không có biến động nào trong nhiệm kỳ này. Bà cũng đảm trách việc quản lư nhân sự cho cha. V́ Nehru thường lớn tiếng chỉ trích chủ trương gia đ́nh trị, bà không ra tranh cử trong kỳ bầu cử năm 1962.

    Indira và Mahatma Gandhi, thập niên 1930

    Nehru từ trần ngày 24 tháng 5 năm 1964. Theo lời khẩn nài của tân Thủ tướng Lal Bahadur Shastri, Gandhi ra tranh cử và bắt đầu tham chính, được bổ nhiệm Bộ trưởng Thông tin và Phát thanh.
    https://s20.postimg.cc/84pfs5fwd/Lal...ur_Shastri.jpg
    Lal Bahadur Shastri (tiếng Hindustan: [laːl bəˈɦaːd̪ʊr ˈʃaːst̪ri], listen (trợ giúp·chi tiết), 2 tháng 10 năm 1904 – 11 tháng 1 năm 1966) là Thủ tướng Ấn Độ thứ 2 và lănh đạo Đảng Quốc Đại Ấn Độ.

    Bà đến Madras khi bạo động bùng nổ ở những tiểu bang miền nam không sử dụng tiếng Hindi chống lại việc tiếng Hindi được chọn làm quốc ngữ.
    https://s20.postimg.cc/72f99mcil/Ove...art_Madras.png
    Chennai (tiếng Tamil: சென்னை), trước đây có tên là Madras pronunciation (trợ giúp·chi tiết), là thủ phủ của bangTamil Nadu và là thành phố thủ phủ lớn thứ 4 của Ấn Độ. Chennai tọa lạc bên bờ biển Coromandel của Vịnh Bengal.

    Bà nói chuyện với các viên chức địa phương, xoa dịu sự giận dữ của các thủ lĩnh cộng đồng và đôn đốc công cuộc tái thiết khu vực bị ảnh hưởng. Shastri và các bộ trưởng cao cấp tỏ ra bối rối v́ ở thế thụ động, dù có lẽ hành động của Gandhi không nhắm vào Shastri cũng không nhằm nâng cao uy tín chính trị của bà. Nhiều nhận xét cho rằng Gandhi ít quan tâm đến các chức năng hành chính của một bộ trưởng, nhưng tỏ ra khôn khéo trong giao tiếp với công chúng, lăo luyện trong nghệ thuật chính trị và biết cách vun đắp cho ḿnh h́nh ảnh thu hút của một chính khách.

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    https://s20.postimg.cc/fxg3k590t/Morarji_Desai.jpg
    Morarji Desai (29 tháng 2 năm 1896 – 10 tháng 4 năm 1995) là nhà hoạt đọng xă hội người Ấn Độ và giữ chức Thủ tướng Ấn Độ thứ tư của chính phủ thành lập bởi Đảng Janata.

    Trong cuộc bầu phiếu của Đảng Quốc Đại, Gandhi đánh bại Morarji Desai với số phiếu 355 – 169 để trở thành thủ tướng thứ ba của Ấn Độ và là phụ nữ đầu tiên đảm nhận chức vụ này.

    An ninh Hạt nhân và Cách mạng Xanh
    Trong cuộc chiến năm 1971, Hoa Kỳ gởi Đệ Thất Hạm đội đến Vịnh Bengal như là một lời cảnh cáo Ấn Độ chớ sử dụng nạn diệt chủng diễn ra ở Đông Pakistan (nay là Bangladesh) như là cái cớ để tấn công Tây Pakistan (nay là Pakistan), nhất là đối với lănh thổ đang tranh chấp Kashmir. Động thái này khiến Ấn Độ càng xa lánh thế giới thứ nhất và thúc đẩy Thủ tướng Gandhi dẫn dắt chính sách ngoại giao và an ninh quốc gia theo hướng mới. Những hỗ trợ chính trị và quân sự từ Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Hỗ tương kư với Liên Xô trước đó góp phần đáng kể vào chiến thắng của Ấn Độ trong cuộc chiến năm 1971.
    Gandhi cũng cho đẩy mạnh chương tŕnh hạt nhân quốc gia v́ Ấn Độ cảm nhận mối đe dọa hạt nhân từ Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa cũng như những quyền lợi của hai siêu cường có thể xung đột với sự ổn định và nền an ninh của Ấn. Bà mời tân Tổng thống Pakistan Zulfikar Ali Bhutto đến Shimla dự cuộc họp thượng đỉnh kéo dài một tuần. Sau những khó khăn ban đầu, hai nhà lănh đạo kư kết Thỏa hiệp Shimla, ràng buộc hai quốc gia này phải giải quyết tranh chấp Kashmir bằng thương thảo và các biện pháp ḥa b́nh.

    https://s20.postimg.cc/v660xxaf1/Zul...Ali_Bhutto.jpg
    Zulfiqar Ali Bhutto (tiếng Urdu: ذوالفقار علی بھٹو, Sindhi: ذوالفقار علي ڀُٽو, IPA: [zʊlfɪqɑːɾ ɑli bɦʊʈːoː]) (5 tháng 1 năm 1928–4 tháng 4 năm 1979) là một nhà chính trị Pakistan, giữ chức Tổng thống Pakistan từ năm 1971 đến 1973 và chức vụ Thủ tướng Pakistan từ năm 1973 đến 1977.

    Năm 1974, Ấn Độ thực hiện thành công một thí nghiệm hạt nhân dưới mặt đất kế cận ngôi làng Pokhran trong sa mạc ở Rajasthan. Mặc dù miêu tả cuộc thí nghiệm là v́ "mục đích ḥa b́nh", từ nay Ấn Độ trở thành cường quốc hạt nhân.


    Kế hoạch đổi mới nông nghiệp và các trợ giúp của chính phủ khởi đầu từ thập niên 1960 giúp Ấn Độ thoát khỏi t́nh trạng thiếu hụt lương thực triền miên, rồi dần dà thặng dư trong sản xuất lúa ḿ, lúa gạo, sợi, sữa và bắt đầu xuất khẩu thực phẩm và đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp. Tiến tŕnh này được biết đến dưới tên cuộc Cách mạng Xanh. Đồng thời, cuộc Cách mạng Trắng được tiến hành nhằm phát triển công nghiệp sản xuất sữa với mục tiêu kiềm chế nạn suy dinh dưỡng, nhất là trong trẻ em.

    T́nh trạng khẩn trương

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Tháng 6 năm 1975, Ṭa Thượng thẩm bang Allahabad buộc tội thủ tướng đương nhiệm đă sử dụng công chức cho chiến dịch bầu cử của bà và cho công tác của đảng Quốc Đại. Trên nguyên tắc, phán quyết này xem cuộc bầu cử là gian lận và ṭa án ra lệnh trục xuất Gandhi khỏi Quốc hội cũng như cấm bà tranh cử trong ṿng sáu năm.

    https://s20.postimg.cc/4xuw8kdgt/Indira_and_Nixon.jpg
    Indira Gandhi và Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon, năm 1971

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Thất sủng, giam cầm, và hồi sinh
    Desai nhậm chức thủ tướng và Neelam Sanjiva Reddy trở thành tổng thống Ấn Độ.
    https://s20.postimg.cc/jttfg6c0t/Nee...eeva_Reddy.jpg
    Neelam Sanjiva Reddy pronunciation (trợ giúp·chi tiết) (19 tháng 5 năm 1913 – 1 tháng 6 năm 1996) là Tổng thống Ấn Độ thứ 6, tại chức từ năm 1977 đến năm 1982.

    Gandhi mất ghế ở quốc hội và nhận ra rằng bà không c̣n việc làm, lợi tức và tư dinh. Đảng Quốc Đại bị phân hóa, những người từng ủng hộ bà như Jagjivan Ram bỏ sang đảng Janata. Đảng Quốc Đại (Gandhi) nay chỉ c̣n là một nhúm đối lập nhỏ ở Quốc hội. Do những tranh chấp nội bộ, chính phủ liên hiệp Janata tỏ ra không đủ uy tín để kiểm soát t́nh thế, Bộ trưởng Nội vụ Choudhary Charan Singh ra lệnh tống giam Indira và Sanjay Gandhi dựa trên một số cáo buộc không chính đáng. Tuy nhiên, việc bắt giữ và xét xử kéo dài khiến h́nh ảnh một phụ nữ yếu đuối bị ngược đăi làm thay đổi t́nh cảm của công chúng và là nhân tố dẫn đến sự hồi sinh chính trị cho Gandhi.

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Indira Gandhi được tặng Giải thưởng Ḥa b́nh Lenin (cho năm 1983-1984).

    Chiến dịch Blue Star và vụ Ám sát
    Trong những năm cuối đời, Gandhi vướng mắc vào nhiều khó khăn liên quan đến tiểu bang Punjab khi nơi này ủng hộ mạnh mẽ đảng phái của người Sikh.
    https://s20.postimg.cc/k6ktmdp5p/IN-_PB.svg.png
    Punjab là một bang miền Bắc Ấn Độ, là một phần của vùng Punjab lớn hơn. Bang này tiếp giáp với Jammu và Kashmir về phía bắc, Himachal Pradesh về phía đông, Haryana về phía nam và đông nam, Rajasthan về phía tây nam, và tỉnh Punjab (Pakistan) về phía tây.

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Ngày 31 tháng 10 năm 1984, hai người Sikh thuộc toán cận vệ của Gandhi, Satwant Singh và Beant Singh, ám sát bà ngay trong khu vườn của Tư dinh Thủ tướng tại số 1 đường Safdarjung ở New Dehli. Lúc ấy, Gandhi đang dạo bước nói chuyện với diễn viên người Anh Peter Ustinov trong một cuộc phỏng vấn như là một phần của bộ phim tư liệu thực hiện cho truyền h́nh Ireland. Khi bước qua chiếc cổng nhỏ, bà cúi chào theo phong tục Ấn, Satwant và Beant đang đứng gác, hai người liền nổ súng. Gandhi từ trần khi đang trên đường đến bệnh viện.
    Indira Gandhi được hỏa táng ngày 3 tháng 11, tại Shakti Sthal, gần Raj Ghat (nơi hỏa táng Mahatma Gandhi).
    Sau cái chết của Gandhi, những cuộc bạo động chống người Sikh bùng nổ khắp New Delhi khiến hàng ngàn người thiệt mạng và nhiều người khác mất nhà cửa.
    Trong suốt cuộc đời ḿnh, Indira Gandhi không chỉ thay đổi đất nước Ấn Độ mà c̣n làm thay đổi quốc gia Pakistan kế cận.

    Gia tộc Nehru-Gandhi
    Lúc đầu, Sanjay được chọn là người thừa kế Indira, nhưng sau khi Sanjay thiệt mạng trong một tai nạn phi cơ, bà cố thuyết phục người con trai trưởng, Rajiv Gandhi, từ bỏ công việc của một phi công hàng không dân dụng để bước vào chính trường vào tháng 1 năm 1981. Sau khi mẹ chết, Rajiv trở thành thủ tướng; đến tháng 5 năm 1991, ông bị ám sát, lần này do các thành viên của tổ chức Hổ Tamil. Vợ góa của Rajiv, Sonia Gandhi, sinh trưởng tại Ư, lănh đạo một liên minh với thành phần chính là đảng Quốc Đại đến chiến thắng bất ngờ trong kỳ bầu cử năm 2004, loại bỏ Atal Behari Vajpayee và Liên minh Quốc gia Dân chủ khỏi chính quyền.


    Sonia Gandhi (tên khai sinh là Edvige Antonia Albina Maino; sinh ngày 9 tháng 12 năm 1946) là chính khách Ấn Độ sinh trưởng tại Ư, Chủ tịch Đảng Quốc Đại Ấn Độ (Đảng Quốc Đại) và là goá phụ cựu Thủ tướng Ấn Độ Rajiv Gandhi.

    Sonia Gandhi từ chối cơ hội trở thành thủ tướng nhưng vẫn duy tŕ quyền kiểm soát bộ máy quyền lực của đảng Quốc Đại; Tiến sĩ Manmohan Singh được chọn để lănh đạo chính phủ.
    https://s20.postimg.cc/gmyvwlp0t/Manmohan_Singh.jpg
    Manmohan Singh (Tiếng Hindu: मनमोहन सिंह, tiếng Punjab: ਮਨਮੋਹਨ ਸਿੰਘ, sinh ngày 26 tháng 9 năm 1932) là Thủ tướng đời thứ 14 của Cộng ḥa Ấn Độ từ năm 2004 đến 2014.

    Các con của Rajiv, Rahul Gandhi và Priyanka Gandhi, đă khởi đầu sự nghiệp chính trị. Vợ góa của Sanjay Gandhi, Maneka Gandhi, sau khi chồng chết, đă tách khỏi ảnh hưởng của nhạc mẫu, cùng với con trai, Varun Gandhi, hoạt động tích cực với tư cách là thành viên của đảng BJB đối lập.

    Cần lưu ư rằng Indira Gandhi và các thành viên Gia tộc Nehru-Gandhi không có quan hệ họ hàng ǵ với Mohandas Gandhi, dù ông là một người bạn của gia đ́nh.
    Bài quá dài, phải cắt bớt
This thread has more than 10 replies. Click here to review the whole thread.

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •