Reply to Thread

Post a reply to the thread: SAIGON THUỞ ẤY ...

Your Message

Viết bằng chữ trong ô trống kết quả của bốn cộng hai

 

Additional Options

  • Will turn www.example.com into [URL]http://www.example.com[/URL].

Topic Review (Newest First)

  • 20-09-2018, 09:09 PM
    tran truong

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    Những người cùng làm đốc học trường quận với ông, thấp hơn ông ở lại đều đă vinh thăng như ông Đốc Ninh ở Thanh Phú, ông Đốc Trinh ở Ba Tri, ông Đốc Chỉ ở Mỏ Cày. Ông Mười là một bậc trí thức đâu phải là có “nhiều lắm” trong kháng chiến và trong hàng ngũ Cách Mạng. Mà chúng nó khinh miệt bỏ bê làm vậy?

    Một hôm ông Mười có ư tốt đối với tôi. Ông có đứa con gái tên là Vân Thanh rất duyên dáng mặn ṃi, bọn Nam Kỳ gấm ghé nhưng không đứa nào dám v́ ông nghiêm khắc lắm. Hơn thế nữa, ông đă rào trước:

    – Con nhỏ c̣n đang học trường Miền Nam. Nó c̣n nhỏ !

    Nhưng ông Mười có trông thấy chỗ khác và nhờ người ta làm mối cho thằng cháu đồng hương. Do đó mà tôi có dịp đến căn nhà “Việt Pháp Hữu Nghị” của ông. Đó là cái ga-ra bên cạnh cái villa nhỏ mà người ta căng tấm bảng ở cửa ngỏ “Association Vietnam-France”. Trong cái ga-ra của ông có một cái giường nát và cái bếp ở xó hóc lạnh tanh. Tường cũ loang lỗ, gạch dưới nền ṃn khuyết lồi lên những gân xi măng.

    Ngậm ngùi, chua xót quá đỗi, tôi cũng tạm ngồi uống trà và hỏi thăm ông:

    – Bác ăn cơm ở đâu bác Mười?

    – Đằng hợp tác xă công nhân xe lửa.

    Tôi cũng đă từng ăn ở đó nhưng đông quá , món ăn kém, không thể ăn được nên chuồn đi chỗ khác. Bạn ơi ! Bạn đừng tưởng có tiền là xách đít đi đâu ăn cũng được nghe. Muốn ghi tên vào Hợp tác xă bạn phải được xét lư lịch như trước khi vô đảng đấy.

    – Chen lấn lănh cơm có bữa muốn rách áo cháu à !

    Đó là câu nói nặng nề nhất về chế độ mà tôi được nghe từ miệng ông Mười.

    – Rồi bác ăn ở đâu?

    – Bác nhờ con Hai chủ quán nấu. Con nó đem lại cho bác ở đằng đó.

    Tôi nh́n cánh tay yếu của ông mà ái ngại vô cùng. Già vậy mà ở một ḿnh, rủi đau ốm bất thường rồi lấy ai mà cậy nhờ? Đọc được ư nghĩ đó của tôi ông nói:

    – Bác có thằng cháu y tá. Lâu lâu nó có ghé qua.

    Tôi tưởng rằng nhà của ông Tổng Thư Kư Hội Việt Pháp khá hơn nhà tôi, nhưng khi ngó lên nóc thấy một lỗ lớn, tôi chưa kịp nói ǵ th́ ông cắt nghĩa:

    – Bác đă dời chiếc giường tránh chỗ dột. Mưa nho nhỏ không sao. C̣n mưa lớn th́ bác mở cửa lên nhà trên ngồi chờ hết mưa th́ xuống.

    Tôi không dám hỏi tới: “Sao bác không ở trên nhà trên.” v́ sợ câu trả lời sẽ làm đau ḷng cả bác lẫn cháu, nên thôi, bèn nói lảng:

    – Nhà của cháu hễ trời mưa th́ cháu với thằng Sáng ngồi trùm ni-lông chong ngóc.

    – Kệ nó cháu, ráng ráng thử coi.

    Ư bác nói là ráng sống để lết về xứ. Tôi t́m hiểu thử xem những người trụ cột của tỉnh Bến Tre có ai được trọng dụng không?

    – Chú Hai Sách bây giờ ở đâu bác?

    Hai Sách là Trưởng Ty Công An sau cùng của Bến Tre.

    – Nó làm Phó Ty Thái B́nh. Mà h́nh như là Phó Ty Thương Binh th́ phải.

    – C̣n chú Mười Kinh?

    – Nó làm ǵ ở Bộ Nội Vụ. Chết rồi, cháu không hay sao? Nó đi đón Việt kiều ở Tân Đảo về, trật chân trên tàu rơi xuống biển. Không hiểu sao tại Cảng Hải Pḥng mà không vớt được?

    – C̣n bác Nguyễn Tẩu?

    – Làm cái ǵ ở Sở Nhà Cửa. Ôi thôi tản lạc hết cháu ơi ! Bây giờ cháu đang viết cái ǵ ?

    – Dạ đi cà nhỏng chớ có viết được cái ǵ đâu bác. Một năm ba bài bút kư đăng báo thôi.

    – Chuyện kháng chiến ḿnh hay quá không viết được sao?

    – Dạ không ..

    – Tại sao vậy cháu?

    – Dạ không hiểu tại sao nữa. Cứ ngồi lại th́ nhợn rồi buông bút bỏ đi đạp xe chạy rong ngoài đường bác à !

    – Vừa rồi thương binh Nam Bộ làm loạn ở tỉnh Thái B́nh không biết thằng Sách có đối phó nổi không?

    Vâng, chuyện kháng chiến chống Pháp đẹp quá mà không ai muốn nhắc lại. V́ nhắc lại chỉ thêm đau ḷng. Tôi nhớ hồi c̣n ở tỉnh nhà, cán bộ được coi như thần thánh, kháng chiến chống Pháp là một vinh quang. Thanh niên không ai ở nhà. Không bộ đội th́ cán bộ, không cán bộ này cũng cán bộ kia, đến đỗi con cháu Hội Đồng, Cai Tổng cũng bỏ nhà đi. Không đi là có tội. C̣n bây giờ th́ ai cũng thấy “giá đừng đi”!

    Thời đó ông Mười cũng đă trên năm mươi. Ông là Chủ Tịch Tỉnh, không có Phó Chủ Tịch và cũng không có ai thay thế nếu ông hi sinh. Ông mặc bộ đồ lụa Ba Tri cổ đứng đi dép cao su, đội nón mây rộng vành, loại nón của người Tàu, ông đi bộ khi dời cơ quan, tự mang ba lô lấy, nếu trời mưa th́ ông chống gậy. Thanh Niên Cứu Quốc của anh Mạch Văn Tư, Phụ Nữ Cứu Quốc của chị Ba Định, Nhân Dân Cứu Quốc của ông Trọng Già đều bu chung quanh Ủy Ban Tỉnh để dễ bề ăn ké máy đánh chữ, pơ-luya hoặc nhờ nhỏi ghe xuồng cùng các thứ khác.

    Hồi đó chị Ba Định cũng khờ ịt chớ đâu có trí óc ǵ bao nhiêu, nhờ ông Mười dạy dỗ cho nên được làm Đoàn Trưởng Phụ Nữ Cứu Quốc tỉnh. Chỉ đâu có nói chuyện được trước đám đông. Hễ có mít tinh th́ chị Hồng Yến vợ anh Phan Minh Triều viết diễn văn cho chỉ đọc vậy mà c̣n đọc trật lất: Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa chỉ đọc thành Việt Nam Dân Chủ Cộng Hào, c̣n “thân ái chào quí đồng chí” th́ chỉ rặn ra là “thâm ấy chà quí đồng chí“.

    Thấy cậu tôi ngồi nghe mà sắc mặt không vui nên tôi không muốn kể thêm. Cậu thở dài, chê trách Cách Mạng th́ có lẽ cậu không nỡ. V́ cuộc kháng chiến chống Pháp tự nó là một cuộc chiến đấu đẹp đẽ và cao quí. Nào ai có biết đảng là ǵ. Cho nên cứ nhắm mắt đi theo, đến khi mở mắt ra th́ đi đă quá sâu, không có can đảm trở lại nữa.

    Cậu ngồi đó, có lẽ trong đầu cậu hiện lên những nẻo đường kháng chiến từ Cù Lao Minh sang Cù Lao Bảo, Sóc Sải, Thành Triệu, bang Tra, Ba Vát, Mỏ Cày, Phước Hiệp, Định Thủy, B́nh Khánh, An Định, Tân Trung, Minh Đức, Hương Mỹ, Thành Phú, Giồng Luông, Giồng ớt, Giồng Băi, An Qui, Thành Phong, Cồn Chim, Cồn Diệp…

    Thanh niên trai tráng tới đâu, ông Mười đi tới đó. Chữ kư của ông chân phương có những ṿng bán nguyệt bao bọc chung quanh như mây khói. Mà mây khói thật, như cuộc đời của ông. Đi với Pháp quyền cao lộc cả xe hơi nhà lầu, lại bỏ đi theo “Cách Mạng” để được phát cho cái ga-ra nát.

    Đó là ông Mười Huệ ở Miền Bắc. “Giải Phóng” MiềnNam rồi, ông cựu Chủ Tịch Tỉnh từ Hà Nội trở về làng, về tỉnh nhà , không phải với chiếc áo gấm như những ông Nghè bái tổ vinh qui mà với chiếc áo bà ba bạc màu, gậy chống đi từng bước, bàn tay chuột rút treo trên cổ như một mối hận chưa trả xong. Ông lần về tận quê . Không c̣n ǵ, ngoài một quả núi tro trong ḷng mà cách mạng đă dựng lên cho ông từ ngày ra Bắc. Không có ǵ ngoài dăm ba nụ cười gượng mà bọn tỉnh ủy – một lũ con nít khi ông đă là lănh tụ tối cao của tỉnh này – dành cho ông như cái hạnh phúc hồi hương tưởng không bao giờ có.

    Về tới xứ hôm trước, hôm sau ông ra chợ Mỹ Lồng ngồi chồm hổm tự thưởng cho ḿnh, cũng c̣n có nghĩa là cám ơn cách mạng bằng một tô cháo ḷng heo. Đúng là cháo ḷng heo ! Nhưng thôi, so với hằng trăm người Bến Tre khác đă nằm lại nghĩa trang Mai Dịch, Văn Điển, th́ ông Mười c̣n sướng hơn nhiều.

    Một ông chủ tịch tỉnh đi tập kết về ăn cháo ḷng ở tại nơi ḿnh từng làm đốc học. Trí thức bị hạ xuống làm dân phu phen kéo xe, quét chợ, c̣n những tên kéo xe quét chợ, thợ hồ, chăn trâu chăn vịt, cạo mủ cao su th́ lại đóng vai tṛ chủ tịch quận, chủ tịch tỉnh thậm chí chủ tịch nước. Ông Mười về được xứ chắc là thỏa nguyện rồi. V́ lúc ở ngoài Bắc ông có ước mong ǵ nữa đâu. Nhưng bi kịch của ông Mười không dừng lại ở đó.

    Màn cuối c̣n thê thảm hơn nhiều.

    Số là ông có một chàng rể tên là Phát, có lẽ tên Tây nên gọi là Phát Nê (René). Trong kháng chiến Phát Nê đă làm đến đại đội phó. Có lẽ v́ thành phần không cơ bản nên không được tiếp tục cuộc đời binh nghiệp, bị lột áo lính ngay khi ra Bắc và làm một việc ǵ không khá lắm ở Bộ Công Nghiệp. Thỉnh thoảng tôi có gặp anh ta ăn mặc đỏm dáng phóng xe đạp Bờ Rô đến thăm ông già vợ. Khi về Nam, con trai của Phát Nê đă lớn và làm tới đại úy Hải Quân (Ngụy).
    Phát Nê tỏ ra ḿnh rặc với Cách Mạng nên về Bến Tre gặp ḍng họ th́ kênh mặt như một ông Nghè đỏ. Ông đại úy con trai của Phát Nê đang chuẩn bị cưới vợ, con gái của một dân biểu hay tư sản ǵ đó của tỉnh nhà. Phát Nê về tới là “ách” lại cái rụp. Không có “ḥa hợp ḥa giải” ǵ với thằng con đại úy Ngụy cả. .

    Thằng bé mang ḍng máu “Ngụy” không thèm căi lập trường với ông bố giải phóng mà vào buồng khóa trái bắn súng lục vào đầu. Kết quả như thế nào cho ngoại nó, các d́, các cô nó và cả gia đ́nh bên vợ nó, nhất là đối với vợ sắp cưới của nó, ai cũng có thể đoán ra.

    Nhưng đối với mẹ ruột của nó, người đă nuôi nó, cho nó ăn học thành tài, trong lúc bố nó cà nhỏng xây dựng xă hội chủ nghĩa Bắc Kỳ rởm, chắc khó ai đoán được.

    Bà vợ Phát Nê điên. Bà làm sao đẻ được nữa mà không điên. Bà đi lang thang ngoài chợ kêu tên con suốt ngày. Bà đă trở thành một người mất trí sau phát súng của thằng con trai duy nhất. C̣n ông Mười sau cái tai nạn trời giáng đó, ông càng rủ xuống. Và qua đời.


    Mai tiếp ....
  • 19-09-2018, 08:42 PM
    tran truong

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    Vậy là xong con ngựa trời. Vừa nghỉ dưỡng sức vừa đi sưu tầm tài liệu ở xă nhà, tôi nghĩ dần cái dàn bài cho tiểu thuyết Đồng Khởi. Lúc bấy giờ trực thăng thường đổ chụp phía bên Cù Lao Bảo, cho nên tôi ở Cù Lao Minh bên này cũng khá yên ổn. Một hôm cô Hai bảo tôi:

    – Cô cho cháu cái đề tài hay lắm.

    – Đề tài ǵ vậy cô?

    – Bà Điên. Bả điên nhưng nói toàn chuyện Cách Mạng mà bằng thơ lục bát chớ không nói chuyện như ḿnh. Ví dụ như: Ngày ngày bắt ốc hái rau, ngày mai ta sẽ lên lầu vinh quang, hoặc là Bao giờ thằng ngốc làm vua, Tổng Y sẽ rụi Tổng Cường lên ngôi !

    – Ngôi ǵ, cô?

    – Đă bảo là bả điên mà ! Tổng Y nghe câu đó cho lính tới bắt vô bót đập cho một trận , nhưng về nhà vẫn đọc thơ chửi rủa Tổng Y, và càng điên hơn trước.

    Tôi thích lắm. Định bụng sẽ xây dựng bà Điên thành nhân vật rất lư thú. Trong vở kịch “Lu Ba” của Liên Xô mô tả Cách Mạng Tháng Mười, được Hà Nội cơng về dịch ra rồi mời đạo diễn Liên Xô qua dạy, diễn triền miên ở Nhà Hát Tây, có một nhân vật khùng khùng rất xuất sắc do kép Đào Mộng Long đóng , hay đến đỗi không ai thay được. Bây giờ Cách Mạng Đồng Khởi cũng có thua ǵ. Tôi đi t́m gặp bà Điên ngay.

    Trước kia vào thời Pháp, cặp hai bên rạch Tân Hương là hai con lộ. Dân chúng đi lại rất dễ dàng. Bây giờ lộ bị đào xới , rào rắp , cắm bảng tử địa từng chặng một, không ai dám đi, chỉ để du kích. Dân phải đi đường ở sau ruộng. Đó là những bờ ranh, được giải phóng gọi là Lộ Mới, nhỏ hẹp bất tiện hơn lộ làng bội phần.

    Từ nhà bà cụ tôi muốn đi chợ Tân Hương phải qua nhà ngoại tôi. Rồi từ chợ băng đồng đến nhà bà Điên.

    Muốn đến chợ phải đi qua một chiếc cầu sắt. Tuy không có xe hơi qua lại, nhưng chiếc cầu rất chắc chắn. Nhà bà đề tài Điên ở gần vườn Mù U của ông Cả Hóa, một điền chủ lớn trong làng, có người con trai tên Nh́ Ưu cùng đi học với cậu Bảy tôi ở trường Phú Xuân ngoài Huế. Lúc nhỏ tôi và cậu Tám tôi thường đến đây hớt cá lia thia về nuôi. Cá ở vườn này nổi tiếng là loại cá chiến, đá bền và rất dữ.

    Bây giờ trở lại đây, tôi không c̣n thấy ngôi nhà xưa vĩ đại núp trong khu vườn sầm uất nữa. Đây là một nhà giàu xưa, tiền đầy cả rương xe, nhưng không xài phí, chỉ có đám con phá của. Gia đ́nh này bỏ lên thành, không tham gia kháng chiến.
    Ngôi nhà cũng bị phá hoại thời kháng Pháp và giải phóng cạp sạch sau Đồng Khởi như nhà ngoại tôi. C̣n vườn Mù U th́ mạnh ai nấy đốn nên không c̣n một gốc. Tôi gặp bà Điên ở trong một ngôi cḥi lụp xụp của con dâu bà. Bà không c̣n ra người. Tôi muốn khai thác ngay điểm đó, nên vô đề ngay:

    – Nghe nói bà cụ bị lính Tổng Y đánh bệnh nặng…

    Người con dâu không đợi tôi dứt lời, nói ngay:

    – Ổng đâu có đánh đập ǵ. Ổng nghe đồn má tôi mắc bịnh như vậy, ông cho lính bắt đem về hốt thuốc cho uống, rước thầy pháp ếm đối, nhưng không hết. Ổng c̣n cho mấy trăm về nhà chạy thầy.

    Tôi bị hẫng, nên lái sang chuyện khác:

    – Bà cụ bịnh từ hồi nào vậy chị?

    – Hồi trước 45 lận mà . Nhưng hồi đó c̣n nhẹ , rồi nặng lần lần. Hồi Đồng Khởi ḿnh đánh trống đánh mơ suốt đêm ngày nên má tôi mất trí luôn đó, chớ đâu có ai đánh đập làm chi một bà già.

    Thế là tôi bị cụt hứng, như cái đề tài ngựa trời.

    Một buổi chiều tôi ngồi ở mé sông xem địa thế pḥng khi có chụp dù , th́ dông ngả nào cho tiện. Tôi tưởng ông cán Mùa Thu về th́ được săn đón hoan hô ngất trời, nhưng không có ma nào thèm ngó tới. Nếu không có gia đ́nh nội, ngoại tôi th́ tôi không biết nương tựa nơi ai.

    Th́nh lình đ̣ máy đỗ lại. Đây là con đ̣ không bến. Chỗ nào có khách lên khách xuống th́ nó tắp vào rồi khách cứ chịu khó lội, chớ không có chỗ nào nhất định.

    Bỗng một tiếng kêu:

    – Triết.

    Tôi nh́n xuống mũi đ̣ nơi khách đang lúm xúm chuẩn bị vọt lên, thấy một người tóc bạc. Phải mất mấy giây đồng hồ tôi mới nhận ra cậu Bảy tôi. Tôi như bị ngọng, kêu lên mà không rơ tiếng. Như một giấc chiêm bao. Trên mười năm xa cách, kể từ ḥa b́nh lập lại tới nay. Tôi đi theo cậu về nhà ngoại.

    – Sao cậu biết con về ?

    – D́ Năm lên Sài G̣n gọi cậu.

    Tôi buột miệng hỏi liền.

    – Sao cậu không ở nhà mà đi lên trển?

    – Chính ngoại cũng không muốn cậu ở nhà.

    Tôi đă biết ngay tại sao, nên không đá động tới việc đó nữa. Cậu hận v́ cái chết của đứa em trai. Hận kháng chiến, hận đủ thứ. Không người kháng chiến nào, dù c̣n theo đuổi hay bỏ về thành, mà không hận kháng chiến.
    Năm 1950 lúc ở miền Tây, tôi cũng đă chèo xuồng ra thành rồi. Rủi thay gặp thằng bạn chí thân chận lại nghe nó than một câu: “Mày đi rồi tao chơi với ai ?” mà trở lại. Cậu tôi là một trí thức lại càng hận kháng chiến tràn đầy. Ngoại tôi gặp hai cậu cháu tôi cùng một lúc th́ mừng lắm, làm thịt cả một con vịt. Ngoại tôi rưng rưng nước mắt, bảo:

    – Cậu cháu có nói ǵ th́ nói cho hết đêm nay đi, khuya xuống đ̣ trở lên trển.

    Tôi biết ngoại tôi càng hận về cái chết của cậu Tám tôi. Ngồi trước mặt người cậu thân yêu, tôi như thấy lại tôi hai chục năm trước, một học sinh tập tễnh đi theo Cách Mạng với tất cả ḷng yêu nước hồn nhiên như trong một bài hát của dân tộc Pháp..

    Mère Patrie renaîtra! (Tổ Quốc sẽ tái sinh!)

    Thiệt sung sướng và tự hào cho người kháng chiến. Thời đó ai ở nhà là cảm thấy có tội với Tổ Quốc. Cậu tôi dắt tôi đi cho tôi vào trường huấn luyện cán bộ Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh lúc tôi chưa thành niên. Rời trường đó, tôi xa cậu tôi như chim đủ lông cánh bay khắp trời. Cậu hỏi.

    – Cháu ra ngoài có gặp bà con Bến Tre ḿnh không?

    – Có gặp đủ hết cậu à .

    – Họ công tác có phấn khởi không?

    – Dạ được.

    – Như ai kể cho cậu nghe để cậu mừng.

    Tôi đă nói láo về cái Miền Bắc xă hội chủ nghĩa ôn dịch với biết bao nhiêu người tôi gặp trên đường từ R về đến đây êm xuôi trót lọt, chỉ có lần bị một cậu giao liên ở Vàm Cỏ Đông chơi vô bảng họng thôi.
    Bây giờ tôi có thể nào dối gạt cậu tôi? Tôi không có can đảm. Hơn nữa cậu tôi không phải là người dễ nghe tuyên truyền. Chính cậu từng là Trưởng Ban Tuyên Huấn Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh thời anh Mạch Văn Tư làm Tỉnh Đoàn Trưởng.

    Tôi không nghĩ ngợi ǵ hết, bắt đầu kể về ông Nguyễn Văn Huệ, tức ông Mười Huệ, tức ông Đốc Huệ ở Giồng Trôm từng làm Chủ Tịch Tỉnh suốt chín năm. Tôi nói:

    – Dân Nam Kỳ hi sinh không để làm ǵ hết cậu à !

    Cậu tôi ngồi điềm nhiên không tỏ vẻ ǵ hết khi nghe câu chuyện của tôi.

    Ở Miền Bắc tôi từng gặp nhiều người Bến Tre trong đó có những chú bác từng lănh đạo cơ quan đoàn thể ở tỉnh nhà trong chín năm Nam Bộ Kháng Chiến như ông Mười tức bác Mười Huệ chủ tịch tỉnh, ông Đỗ Phát Quan đại biểu Quốc Hội năm 46, người B́nh Khánh; ông Nguyễn Tẩu, Ty Trưởng Công An; ông Nguyễn Văn Kinh Tổng Thư Kư Ủy Ban; Phan Thêm, chủ nhiệm Việt Minh; Nguyễn Thanh Thế, Giám Đốc trường tư thục Duy Minh; ông Tư Minh, ủy viên huấn luyện Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh v.v…

    Trừ ông Phan Thêm là được Hà Nội coi trọng. Ông này được cho làm Phó Ban Tổ Chức Trung ương dưới quyền Lê Đức Thọ v́ hắn không phải là dân Nam Kỳ !

    Tôi xin nói thêm về những điều mắt thấy tai nghe mà không một ai có thể tưởng tượng nổi. Ở trong Nam cứ cắm đầu lạy “ơn Bác ơn Đảng” và bỏ vợ bỏ con nhảy xuống tàu ra Bắc để:

    Mười năm dồn lại một ngày
    Là ngày tay mẹ cầm tay Bác Hồ!

    (Thơ Xuân Vũ năm 1954 đăng trên báo Văn Nghệ Hà Nội).

    Khi ra đó vài tháng rồi, chàng thanh niên tên Xuân Vũ này lại cũng mần thơ, nhưng không dám đăng báo.

    Mười năm rơ mặt bác Hồ
    Là con quái vật miệng hô mắt lồi.

    Một trong những người Bến Tre tôi kính phục và gần gũi nhất là ông Mười Huệ . Lúc bấy giờ có lẽ ông đă sáu mươi, râu tóc bạc phơ, bệnh hoạn và bị hất hủi như con chó già.
    Xin lỗi ông Mười, cháu xin nói thật, nói thẳng bằng một danh từ không mấy thanh cao. Bọn lưu manh có thanh cao ǵ !. Nhưng đó là cảm nghĩ thật , mỗi khi tôi gặp ông Mười. Tôi hết biết nói ǵ. Ông Mười là Chủ Tịch Ủy Ban Kháng Chiến Hành Chánh suốt chín năm của tỉnh nhà . Lúc đó tôi chỉ là Thiếu Nhi Cứu Quốc nhưng mê kháng chiến vô cùng v́ tưởng là nước ḿnh sẽ được như nước Pháp mà tôi đang học lịch sử ở trường.

    Vinh quang thay, những kẻ hi sinh cho Tổ Quốc…
    T́nh yêu thiêng liêng của Tổ Quốc…

    Miền Bắc Việt Nam mà tôi đụng vào đă thành một cái tổ C̣, mà con c̣ già bất hạnh nhất là ông Mười. Ông được phong cho chức “Tổng Thư Kư Hội Việt Pháp Hữu Nghị” trụ sở ở đường Lư Thường Kiệt gần ngă tư Phan Bội Châu. Cái hội này “quan trọng” đến nỗi không có ai tới lui hết, không làm ǵ hết và cũng không biết ai lập nó ra.

    Nếu có làm ǵ chăng nữa th́ ở đâu làm , không phải ông Mười. V́ ông chỉ là Tổng Thư Kư thôi. Chủ Tịch h́nh như là Phạm Huy Thông một thạc sĩ làm tay sai cho một trưởng ban tuyên huấn học chưa hết trung học để được yên thân.
    Nhưng ông Mười cũng cứ ở đó như một loại ông Từ giữ chùa. Ông không ở nhà chính mà lại ở trong cái ga-ra. Hai bác cháu tập kết sao mà giống nhau như hệt: ở ga-ra.

    Tôi ở cách đó không xa, cũng trong một cái ga-ra nhưng cái của tôi th́ quá đỗi tồi tàn, dột nát và gần sát một cầu tiêu thùng. Tôi ở chung với Nguyễn Quang Sáng, bây giờ là Tổng Thư Kư Hội Nhà Văn. Hằng ngày tôi đến Đài Phát Thanh Tiếng Nói Việt Nam làm việc ở 54 Quán Sứ trước Viện Ung Thư, bên cạnh Chùa Quán Sứ, th́ đi ngang số 7 Phan Bội Châu.
    Đây là một cái quán hai tầng của một gia đ́nh người Tàu. Tầng dưới th́ buôn bán, tầng trên gia đ́nh cư ngụ và cho mướn. Ông Mười vẫn thường đến đây uống trà, hoặc sáng hoặc chiều, không thành cữ nhất định.

    Cái quán này là nơi thân mến của dân Nam Kỳ quốc. Phía bên kia đường là nhà máy nước đá của một bà tư sản góa chồng rất đẹp. Đó là mục tiêu rửa mắt của khách ẩm trà trong quán này. Bà tư sản h́nh như cũng bén lắm nên mỗi lần chúng tôi uống trà và nói chuyện râm ran bên này th́ bà ra đứng ở cửa bẹo h́nh bẹo dạng. Sau này có thằng bạn tôi trẻ hơn bả có mười tuổi bị dính vô và bị kiểm thảo trần ai suưt tụt lon thiếu tá.

    Khi nào ngồi quán mà thấy tôi đi ngang, ông Mười cũng ngoắc:

    – Xuân Vũ, vô làm vài chung cho ấm rồi đi làm, cháu !

    Râu tóc ông Mười đă bạc phơ, mắt không lúc nào rời cặp kiếng trắng, quần áo vải ta trắng bèo nhèo, chân mang guốc vông ṃn hết gót, tay không có đồng hồ, túi không có bút máy, không có ǵ ráo trơn, ngoài tấm thân già bệnh hoạn. Tay trái của ông bị “chuột rút” đơ đơ không cử động b́nh thường được nhưng khổ thay, ông lại không có tiêu chuẩn vào Bệnh Viện Việt Xô . Cho nên rót nước châm trà, hay rót trà ra chung ông Mười chỉ dùng một tay.

    Ba hào một b́nh trà. Nói cho ngay trà ở quán chị Hai không phải trà cau khô. Có lẽ chị ưu đăi tụi dân Nam Kỳ này nên đem ra trà thiệt th́ không rơ. Ở các quán cà chớn th́ xác trà ngâm nước cau khô phục vụ khách.
    Dân ghiền, lúc đờm sắp trào lên cổ th́ thứ ǵ chát chát là nuốt càn, sá ǵ nước cau khô ? Một b́nh trà năm, sáu mạng uống như quỉ sứ cả giờ đồng hồ, ba bốn “phuưch” nước sôi. Chị Hai vẫn vui vẻ không sốt ruột như các chủ quán khác.

    Do đó dân Nam Kỳ chúng tôi coi đây như là trụ sở của ḿnh. Có chuyện ǵ vui buồn cũng ra đó nói cho nhau nghe. C̣n ông Mười th́ coi đó như văn pḥng thứ hai của Hội Việt Pháp Hữu Nghị vậy. Lắm khi bọn tôi kiếm được gói trà Chính Xuân, Ba Đ́nh, Hồng Đào, nhớ ông Mười th́ cũng đi thỉnh ông đến chủ tọa ở quán chị Hai.

    Có lần Phan Vân, nhạc sĩ của đài phát thanh, một chàng thanh niên tuấn tú khôi ngô của Sài Thành không biết theo ai mà ra Khu 8 của Trần Văn Trà rồi lọt xuống miền Tây ở chung với tôi trong pḥng chính trị. Hắn làm nhạc, tôi làm lời, lấy làm tâm đắc lắm. Thỉnh thoảng hai đứa lén ra rừng, hắn sô-lô cho tôi nghe bản “Những Cánh Hoa Đời” của hắn làm ở Sài G̣n.

    – Ê, mày Xuân Vũ, ngă mặn vậy đủ chưa? Mai mốt ra đồng tao hát bài “Tiếng C̣i Trong Sương Đêm” Tango Melodic của Lê Trực cho mày rụng rún.

    Phan Vân cộng tác chung với tôi ở Pḥng Chính Trị Khu 9 mấy tháng , rồi cùng về Cần Thơ vài năm. Hắn là người chỉ hợp với đường phố, những vũ trường và sân khấu nhưng không hiểu sao hắn lại đi kháng chiến.
    Tôi với hắn thường hợp tác đi lao động sản xuất để chui vô cḥi vịt làm nhạc. Có lần cơ quan được lệnh sản xuất thêm để lấy tiền cứu trợ miền Đông bị băo lụt. Tôi và hắn đi cắm câu ở gần Kinh Xáng Cụt. Hai đứa t́m nơi ngủ cho đă rồi sáng ngày thức dậy mua cá của nông dân về nộp cho cơ quan bán lấy tiền cứu trợ. Và được chấm điểm cao.

    Trong số bản nhạc của Phan Vân-Xuân Vũ có một bài được giải nhất Giải Cửu Long năm 1950. Ngoài ra c̣n một bài thơ của tôi được hắn phổ nhạc và rất được phổ biến trong hai khu 8 và khu 9 lúc bấy giờ.

    Em lớn lên

    Em ăn rau và cải
    Trồng trên đống tro tàn
    Trên nền nhà rụi cháy
    Hàng cột ngă thành than.

    Cơm em ăn mỗi ngày
    Đều có dính máu Tây
    V́ mùa khô mùa nước
    Tây phơi xác ruộng này.

    Nhà em Tây nó đốt
    Em ra ngủ ngoài vườn
    Khác ǵ anh chiến sĩ
    Quen lạnh lẽo gió sương.

    Bây giờ em c̣n bé
    Em gắng tập súng cây
    Ngày mai em sẽ lớn
    Cầm súng thiệt đánh Tây.

    Em lớn lên trong kháng chiến.

    (1947)

    Ra Hà Nội, nhớ bà vợ lai Nhựt Bổn đẹp quá trời, Phan Vân phát khùng lên. Một hôm hắn vô đại Văn Pḥng Ban Giám Đốc Đài Phát Thanh do ông Huỳnh Văn Tiểng làm Phó Giám Đốc, sừng sộ:

    – Ê ! Anh Tư, anh cho tôi về Nam đi ! Tôi chán quá rồi.

    – Đi sao được mà đi ... đồng chí !

    Lúc đó tôi vừa bị kiểm thảo xong về vụ lên Ủy Ban Quốc Tế xin về Nam.

    Phan Vân liền rút con dao rọc giấy ở trên bàn, vung lên. Huỳnh Văn Tiếng vốn phục phịch to con nên không chạy kịp, cũng không la. Nhưng Phan Vân không chơi anh Tư , mà cởi nút áo sơ-mi tay manchette, đưa trước mặt anh Tư, đâm một phát, rút dao ra ném trên bàn rồi để cho máu nhỏ giọt xuống gạch và bảo:

    – Anh coi nè!

    Huỳnh Văn Tiểng ớn quá , nhưng lúng túng không biết phải đối phó cách nào c̣n Phan Vân th́ trợn mắt nói tiếp:

    – Vợ các anh là l… người ta , c̣n vợ tôi là l… ḅ hả?

    – Đừng nói vậy đồng chí… Cách Mạng…

    Phan Vân không nói ǵ thêm bỏ đi xuống và cuốc một mạch tới quán chị Hai, cánh tay c̣n ṛng ṛng máu. Tôi là người thân nhất của Phan Vân ở đây nên hỏi ngay. Phan Vân kể lại câu chuyện đă xảy ra. Có mặt ông Mười ở đó, ông khuyên can:

    – Cháu không nên làm vậy, chẳng có ích ǵ.

    Ông luôn luôn tỏ ra là bậc cha chú và là một trí thức đă từng trải trong cuộc sống với tụi Hà Nội. Không bao giờ tôi nghe ông nói một câu bất măn hoặc góp vào những chuyện bất măn. Nhưng tôi biết ông chán ngán, ê ẩm vô cùng. Đă lỡ ... tay trót đă nhúng chàm. Dại rồi c̣n biết khôn làm sao đây. Bô bô cái mồm sẽ bị cắt phiếu.


    Mai tiếp ....
  • 19-09-2018, 01:13 AM
    tran truong
    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    Một hôm nhân lúc cô Hai đi họp về ghé qua. Cô tích cực thấy mà ngán. Cô có con nhỏ, cô bế lội mương lội xẻo đi họp, đi “chỉ đạo công tác” hằng ngày, không mấy khi cô có mặt ở nhà. Bà cụ tôi bảo:

    – Nó làm kiểu đó, con nó lên ba là nói chính trị nghe mà mệt cho coi.

    Cô vào nhà vừa để bé lên vơng, tôi nói ngay:

    – Cô cho cháu hỏi thăm vài vấn đề địa phương chút cô Hai.

    – Ừ hỏi th́ hỏi đi. Cô nói cho nghe mặc t́nh mà viết. .

    – Ở ngoài Bắc cháu có nghe chuyện đấu tranh của đạo quân đầu tóc của Tạ Thị Kiều.

    Cô ngơ ngác:

    – Tạ Thị Kiều nào?

    – Dạ Tạ Thị Kiều anh hùng quân đội.

    – Hồi nào?

    – Dạ trước khi cháu về Nam, cháu có dự một hội nghị “anh hùng giải phóng” trong đó có cô Kiều.

    – Sao cô không biết? Quê cô ta ở đâu?

    – Ở An Thành, là xă có Mả ông Hàm Văn gần Thom.

    – Cô đi họp huyện ủy hoài sao cô không biết? Nếu có người trong huyện đi ra Bắc th́ phải thông qua huyện ủy chớ. Cô ta chừng bao nhiêu tuổi? H́nh dáng ra sao?

    – Dạ cổ chừng hai mươi lăm, nghe nói là chưa có chồng . Cổ rất sợ chó con. Hễ thấy chó con là chết ngất. Cổ báo cáo chiến thuật đoạt bót của cổ bằng con khỉ.

    – Chuyện ǵ lạ vậy, cô không biết ǵ hết!

    – Cổ báo cáo rằng cổ dùng con khỉ nhử tụi lính ra khỏi lô-cốt và ḥ du kích xung phong lấy lô-cốt.

    – Cô không biết chuyện nào trong huyện như vậy hết. Nếu có là cô phải biết.

    Tôi bèn hỏi sang đạo quân đầu tóc. Cô nói:

    – Có thể ở đâu trên Phước Hiệp, Định Thủy ǵ đó, chớ ở dưới này, Minh Đức, Hương Mỹ, Tân Trung, Ngăi Đăng, Cẩm Sơn, An Định, Thành Thới, An Thới do cô phụ trách th́ không có quân nào gọi là quân đầu tóc.

    Tôi mới vỡ lẽ ra cô là huyện ủy viên.

    – Vậy sao ở ngoài cháu nghe chính tên các xă cô vừa kể là xuất phát điểm của quân đầu tóc. Báo kể chính danh các xă ḿnh cháu mừng muốn chết đây mà ! Quê hương ḿnh anh dũng như vậy cho nên cháu mới lặn lội về đây để “viết báo”.

    Thấy cô ngồi lặng thinh có vẻ bối rối, tôi hiểu ngay cái nghiệp báo của nhà ḿnh nên tôi lảng sang vấn đề khác.

    – C̣n ba cây súng ngựa trời như thế nào, cô?

    – Cái đó th́ có. Hầm chông, lựu đạn gài cũng có. Để cô viết cho miếng giấy giới thiệu cháu với mấy đồng chí có trách nhiệm hồi đó. Nhưng cháu phải chịu khó móc họ ra chớ bây giờ họ cầu an bảo mạng không chịu làm ǵ nữa hết. Có nhiều người muốn ra vùng meo đóng vai lem nhem.

    – Nghĩa là sao cô?

    – Là ở trong này bom đạn ác liệt quá, họ không chịu nổi nên men ra vùng trái độn, mặc áo trắng, gặp lính như dân chợ. Thời buổi này mà mặc áo trắng là đầu hàng địch rồi cháu ạ. Cháu sẽ thấy. Số này không ít đâu. Chi bộ họp đề ra nhiều biện pháp kỷ luật nhưng vẫn không kết quả.

    Buổi nói chuyện đầu tiên không mấy ǵ mỹ măn cho cả cô lẫn cháu. Cô bất măn, c̣n cháu hoang mang.

    Tôi hơi thối chí. V́ tôi biết đây là cái ngón của Ban Tuyên Huấn Trung ương. Tố Hữu bẽm mép phi thường. Cả ngàn văn nghệ sĩ dưới quyền chỉ huy của hắn, hắn xoay bề nào phải chịu bề nấy. Trước đây, khi Ḥa B́nh vừa lập lại, bộ đội Nam Bộ tập kết ra Bắc, có mấy chiến sĩ được chọn và trao tặng danh hiệu “Anh Hùng Quân Đội”.

    Tôi là nhà văn Nam Bộ duy nhất được “danh dự” (!) mời ra Hà Nội để viết về thành tích của Anh Hùng Sơn Ton người Miên lai thuộc bộ đội địa phương Sóc Trăng. Điều tra xong, tôi báo cáo lên cấp trên rằng đây không phải là một anh hùng.
    Nếu Sơn Ton là anh hùng quân đội th́ bất cứ chiến sĩ nào cũng có thể là anh hùng quân đội được cả. Trước khi chia tay tôi cổ hỏi Sơn Ton tại sao như vậy? Sơn Ton nói rằng “Ở trên Ban Thi Đua Trung Đoàn đem cả thành tích của huyện Long Phú đắp vào cho tôi!”

    Chuyện này tôi viết lên báo Việt ngữ hải ngoại một vài lần rồi, nhưng quên cho anh ta đi “song ca” với chiến sĩ gái Tạ Thị Kiều. Nay bỗng dưng nhớ lại.

    Lúc ở ngoài Bắc tôi có được “danh dự”, cũng danh dự, gặp nữ anh hùng Tạ Thị Kiều mà Trung ương đặt ngang hàng với Nguyễn Thị Chiến của Miền Bắc. Cô đă lên diễn đàn kể chuyện dùng chiến thuật con khỉ chiếm ba lô-cốt một lúc, làm thính giả gồm có cả đại tướng khâm phục vỗ tay rần rần. Các nhà báo chớp ảnh nháy lia, ghi chép đă đời.
    Tôi nữa, tôi quơ ngay tài liệu đem về thức đêm “sáng tạo” ra cái truyện kư “Lửa Quê Hương” đăng báo Văn Nghệ được độc giả lẫn ở trên khen kịch liệt.

    Cái ngọn Lửa Quê Hương nhen nhúm suốt con đường Trường Sơn, tưởng thành hỏa diệm sơn, nào ngờ về đến Quê Hương th́ lửa kia tắt rụi. Nhưng chưa hết, sau đó ít lâu, tôi ṃ tới tận nhà vị “nữ anh hùng” tác giả chiến thuật khỉ kia. Tôi chẳng hiểu như thế nào cả . Nhưng cũng c̣n hi vọng ở nhiều nguồn tài liệu khác.

    Tôi được cô Hai cho tiếp xúc với mấy người đă từng biết hoặc xử dụng súng ngựa trời. Đây cũng lại là một thần thoại do báo Nhân Dân sáng tác nên. Súng ngựa trời đă từng là một loại vũ khí giúp cho giải phóng quân “chiến thắng oanh liệt, đánh cho quân Mỹ Ngụy những trận xiểng niểng ”.

    Hỗ trợ cho cây súng thần thông này là chông ba lá, lựu đạn gài, ong ṿ vẽ và kèn trận làm bằng tàu đu đủ. Tôi đă từng đọc một câu thơ từ Miền Nam gởi ra, mô tả chiến công của giải phóng quân, mà c̣n nhớ tới bây giờ.

    … Thổi kèn đu đủ mà đồn rút lui.

    Nghĩ ghê gớm thật. Báo Nhân Dân là một tờ báo nói láo nhất thế giới mà Ban Tuyên Huấn Trung Ương của Tố Hữu là một ban bầu cua xảo quyệt lừa đảo phi thường.

    Bạn đọc chắc ít ai biết cuốn sách “kể tội Mỹ Ngụy” mang tên “Từ Tuyến Đầu Tổ Quốc”. Trên hai trăm năm chục trang sách đặc nghẹt những cảnh rùng rợn “chỉ có thể xảy ra ở Miền Nam ” thôi:

    Một binh sĩ Sài G̣n tên Hoàng Văn Đáp đi trận về gặp con chết bó chiếu đem chôn, những cảnh lính Sài G̣n bắt một thanh niên mổ bụng lấy gan xào ăn, anh thanh niên được thả ra chạy hoảng rồi ngă xuống chết v.v… viết dưới h́nh thức những bức thư ngây ngô ngắn gọn xử dụng triệt để ngôn ngữ Nam Bộ . Mỗi bài đều kư tên bà X, ông A, chị B… là những người trong cảnh hoặc từng mục kích những cảnh hăi hùng đó.

    Nhưng nào ai biết được tác giả những bức thư là sáng kiến của Tố Hữu được thực hành bởi một đám gốc dưa hấu làm việc ở Ban Thống Nhất của tướng Nguyễn Văn Vịnh. Vịnh thực hành “sáng kiến” đó. Một thằng bạn của tôi phụ trách việc này cho biết như thế, mà không cần hắn cho biết chuyện đó, tôi cũng đoán được.

    Tôi hỏi hắn sao không nhờ Hội Nhà Văn? Hắn nói thẳng:

    – Nhà văn tụi mày hay trở cờ lắm, vả lại đám tay ngang viết càng ngô nghê, càng trật cú pháp càng làm cho độc giả dễ tin.

    Sẵn đây tôi cũng kể luôn vài vụ bịp na ná như vậy. Đâu khoảng 58-59 ǵ đó, đài Hà Nội và báo Nhân Dân đưa tin vụ “thảm sát Phú Lợi” bảo:

    – Ngô Đ́nh Diệm đă bỏ thuốc độc giết trên hai ngàn tù nhân ở Phú Lợi.

    Thế là cả Miền Bắc vang lên tiếng hô “đả đảo”. Rồi Trung ương ra lệnh cho dân biểu t́nh tuần hành ở Hà Nội và các thành phố Nam Định, Hải Pḥng, Hà Đông, Thanh Hóa… “chống Ngô Đ́nh Diệm!”

    Cũng Tố Hữu bày ra “thức đêm sáng tác gây căm thù” và làm bài “Thù muôn đời muôn kiếp không tan” trước tiên trên báo Nhân Dân. Kế đó là Chế Lan Viên, Xuân Diệu, v.v.. thức đêm làm thơ ! Thơ quá hay nên tôi chẳng c̣n nhớ câu nào. Khi tôi về Sài G̣n, tôi cố ư t́m hiểu vụ này , nên đă đi đến tận nơi vùng đất có cái tên là Phú Lợi. Tôi bí mật điều tra th́ chẳng ai biết đó là ǵ.

    Rồi đến vụ “Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi”. Văn nghệ sĩ lại phải một đêm không ngủ . Nhất là họa sĩ và các nhà quay phim. Những ngă tư lớn của Hà Nội đều có treo áp phích “Nguyễn Văn Trỗi trước lưỡi lê”. Lại cũng Tố Hữu đi đầu với bài thơ “Hăy Nhớ Lấy Lời Tôi”. Trong đó có câu:

    “Phút thiêng liêng anh gọi bác ba lần”.

    Dân có biệt tài nói lái Nam Kỳ bảo:

    – Chính anh Trỗi gọi bác “bốn lần”.

    Măi đến khi ra hải ngoại, tôi mới đọc một bài, nếu tôi không lầm th́ tác giả là một luật sư, nói về những phút cuối cùng của vị “anh hùng” đó. Anh ta đái cả ra quần và không c̣n biết ǵ trước khi được áp giải ra băi bắn, lại chửi:

    – Quân đỉ chó nó lừa tao.

    C̣n về toàn cuộc Trỗi đặt ḿn trên cầu Công Lư là cả một chuyện mỉa mai cho vong hồn Trỗi. Lúc đó Trỗi mới cưới vợ, cô vợ có nhan sắc. Tổ trưởng đặc công của Trỗi đâu phải là thằng mù . Đă không mù lại càng sáng ... mắt sáng hơn nữa.

    Lúc tôi về trên R tôi có nghe một vài tiếng x́ xầm, bảo rằng có một thâm ư, một dă tâm, ở đằng sau vụ đặt ḿn này. Trỗi ôm nguyên “trái ḿn” bỏ vợ mới cưới là do sự chỉ huy sáng suốt của đồng chí tổ trưởng.
    Một vụ Nguyễn B́nh tái diễn. Chỉ khác một điều là B́nh không có vợ. Tôi muốn phăng tới ngọn nguồn, nhưng người ta bảo tôi hăy đọc quyển “Sống Như Anh”, dân Hà Nội chế diễu đọc là “Không Sống Như Anh!”, của Trần Đ́nh Vân th́ rơ.

    Chính các đồng chí giai cấp công nhân đă bố trí cho Trỗi lên chức “anh hùng” này. Tội nghiệp cô Quyên góa bụa suốt đời v́ cô không thể sánh duyên cùng các bác, mà các bác không ham làm kẻ đến sau. C̣n các cậu thanh niên th́ chẳng dám hoặc chẳng dại ǵ mó tới. Bác Nguyễn Chí Thanh ơi, vong hồn bác có linh thiêng xin hăy giúp cho đứa “cháu gái” yêu quí mà bác cưng như vàng hồi c̣n mồ ma bác!

    Tôi ngon trớn dắt độc giả đi hơi xa đạo quân đầu tóc và súng ngựa trời, nhưng không lạc đề. Tôi muốn nói rơ một vấn đề: Cộng Sản nói ra là bịp. Chúng bịp nhân dân trong nước, nhân dân thế giới là sự thường. Chúng bịp lẫn nhau. Như trường hợp “nữ anh hùng” Tạ Thị Kiều tôi vừa kể trên. Như vụ Nguyễn B́nh chống Pháp và vụ Nguyễn Văn Trỗi thời chống Mỹ .

    Khi nghe tên cô nàng ở ngoài Bắc, tôi đă chíp trong bụng, dự định sẽ sáng tạo cô thành nhân vật chính của truyện nhưng bây giờ th́ cái sườn đă lung lay.

    Tôi đi t́m hiểu “súng ngựa trời”. Phải mất năm ngày đi tới đi lui tôi mới được chú Bảy Măn người chôn giấu con ngựa trời, dắt cho đi xem. Tôi phải theo chân băng đồng khá vất vả. Cánh đồng này thuở bé tôi đă từng bắt ốc ṃ cua thả diều, chơi dế, bây giờ tôi không nh́n ra. Chỉ c̣n đám cây xanh ngắt là c̣n đứng nguyên tại chỗ.

    Đó là cảnh chùa Phật Oai Linh Tự sau nhà ngoại tôi. Từ đó tôi có thể t́m ra phía lộ đá Cầu Mống Giồng Luồng th́ thấy hai mảnh mặt trời mọc. Đó là nóc nhà của ông Phủ Kiểng, suôi gia của Hội Đồng Trạch, và nóc nhà của ông Phó Hoài, hai vị đại điền chủ lừng lanh này được dân kính nể và cử tên, gọi là ông Phủ Cảnh và ông Phó Huời. Người ta đồn nóc nhà lợp bằng ngói mua bên Tây nên không đóng rêu, cứ đỏ như mặt trời.

    Gia đ́nh chú Bảy Măn là tá điền cũ của ông cụ tôi nên cô Hai tôi sai khiến dễ dàng. Bảy Măn mới ngoài bốn mươi, nhưng ông để râu tóc bồm xồm coi như tuổi sáu mươi. Để khi bị lính quốc gia bắt th́ giơ cái tuổi già ra mà chạy tội và hy vọng sẽ được tha.

    Bảy Măn dắt tôi ra một cái đ́a ở giữa đồng rồi nhảy xuống nước lặn hồi lâu mới trồi lên. Tôi hỏi:

    – Được không chú ?

    Chú vuốt mặt và lắc đầu.

    – Chú không nhớ chỗ giấu à ?

    – Lính ruồng kỳ trước tôi xách nó ra đạp xuống đây, không biết nó lạc đi đâu?

    Bảy Măn lại tiếp tục lặn. Hai ba lượt mới lôi được con ngựa trời lên đưa cho tôi. Tôi đă thấy ngựa trời đứng hiên ngang ở Viện Bảo Tàng Cách Mạng Hà Nội với ḍng chữ:

    “Khẩu súng này đă đánh tan một đại đội giặc ruồng vào xă Phước Hiệp, Quận Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. “

    V́ những địa danh này thuộc tỉnh tôi nên tôi khắc ghi trong ḷng. Định khi về sẽ t́m đến nơi để lấy tài liệu. Xă Phước Hiệp cách đây không xa. Có ngày tôi sẽ đến đó.

    Tạm thời bây giờ xem đỡ con ngựa này cũng được. Tội nghiệp chú ngựa xưa kia chức có sắc lông màu lửa của cuộc Đồng Khởi vĩ đại bây giờ bị đạp lút dưới đất cái nên hóa ra ngựa ô.

    Tôi nâng cái bảo vật Cách Mạng đặt lên g̣ đ́a trong khi chú Bảy Măn leo lên bờ đứng run run. Với hai hàm răng khua lặp cặp, chú nói:

    – Cậu Hai xem mau mau dùm chút.

    – Để tôi rửa sạch đă.

    – Hay cậu cứ giữ lấy hoặc đem đi đâu th́ đem.

    – Tôi giữ làm ǵ?

    – Vậy cậu coi mau mau để tôi bỏ xuống để người ta trông thấy.

    Tôi lấy làm lạ tại sao y sợ như vậy. Vả lại ngó qua là tôi đă “chụp” được h́nh nó rồi. Cần ǵ phải xem lâu. Ở ngoài Hà Nội tôi c̣n phịa nổi truyện Lửa Quê Hương kia mà, huống chi đă về đến quê hương rồi ! Tôi bảo Bảy Măn:

    – Chú vùi trở lại đi !

    Bảy Măn nhanh nhẹn chụp lấy chú ngựa ô nhảy xuống đ́a lặn một hơi rồi trồi lên dặn tôi:

    – Cậu Hai nhớ chỗ này. Khi cần cậu cứ đến móc nó lên, không cần hỏi tôi nữa.

    – Bộ chú tính không xài nữa hay sao mà đạp kỹ vậy?

    Bảy Măn không nói ǵ leo lên bờ rồi cun cút lủi đi , không nói thêm tiếng nào. Tôi phải đuổi theo bảo chú nói về cách xử dụng và đạn dược ra sao, những trận đánh nào ngựa đă khạc lửa. Nhưng chú xua tay:

    – Cậu về hỏi cô Hai, cổ rành hơn ! Tôi quên hết rồi.

    Rồi chú biến nhanh như sợ người khác trông thấy cái việc vừa làm của ḿnh. Về nhà tôi hỏi cô Hai, th́ cô nói:

    – Mấy thằng cha đó bây giờ “sọc dưa” hết rồi.

    – Hồi Đồng Khởi chú có tham gia không?

    – Th́ thằng chả đi lấy kiểu đâu trên Phước Hiệp Định Thủy ǵ về bắt mấy ông ḷ rèn làm đó chớ ai.

    – Sao bây giờ chú sợ người ta thấy?

    – Sau Đồng Khởi chẳng ngờ Quốc Gia nó mạnh như vậy. Rút bao nhiêu đồn nó đều đóng trở lại mà c̣n lấn thêm. Mấy ông nội có dính dáng tới Đồng Khởi bây giờ bôi mặt lem lem để sống cho yên thân. Nghĩa là không muốn chiến đấu nữa, nên t́m cách lân la với địch và mong nó quên cho cái dĩ văng.

    Tôi hỏi qua con ngựa trời. Cô nói:

    – Th́ nó như cháu thấy đó .

    – Không có ǵ nữa à ?

    – Chỉ bấy nhiêu thôi.

    – Rồi đạn dược làm bằng ǵ?

    – Miểng sành, sắt vụn, hộp lon cắt nhỏ ra, dồn vào nện chắc, bên ngoài đổ sáp.

    – C̣n thuốc nổ?

    – Cô không rơ , để bữa nào cô giới thiệu cho mấy người rành vụ đó .

    Tôi lấy giấy vẽ ra h́nh thù con ngựa và hỏi:

    – Có phải nó như thế này không cô ?

    – Ừ, chắc là như vậy.

    – Trong xă ḿnh có xử dụng nó lần nào chưa cô?

    – Có một lần phục kích ở Ngă Ba Lộ Chùa. Chùa Tuyên Linh đường vô Cầu Mống chớ không phải Chùa Oai Linh ở sau đồng.

    – Kết quả ra sao cô?

    – Bắn không nổ. Dưới Giồng Lượng có Tổng Y. Trên Cầu Mống có Tổng Cường là dượng rể của cháu. Nhưng Tổng Y có lính, thường đi ruồng miệt Cải Bần có khi thọc tới trên ranh Minh Đức, c̣n Tổng Cường th́ nhát lắm không dám ra khỏi chợ Cầu Mống. Trận đó du kích bị lính rượt chạy suưt chết. Mất một cây, c̣n một cây, y đem về nhận luôn xuống đ́a tới bây giờ không nhắc tới nữa.

    Bạn đọc muốn biết món vũ khí “thần thông” này ư? Đó là một cái ống trúm bằng sắt to nhỏ tùy sự sáng tạo. Ở trước đầu có hai cái chân chỏi nó ngước họng lên. Miệng nó dồn loại đạn đặc biệt như bà Huyện ủy vừa mô tả. Thuốc nổ nhét sau đuôi. Cái kim hỏa nện vào hột nổ bằng một sợi dây thun căng thẳng.
    Chỉ có thế. Chắc chắn trên thế giới không có loại vũ khí nào đơn sơ hơn cây súng “Ngựa Trời” . Vậy mà đánh cho Mỹ Ngụy những đ̣n xiêng niểng !!!



    Mai tiếp ....
  • 17-09-2018, 08:17 PM
    tran truong

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    – Anh lên Mỹ Tho học c̣n tôi ở nhà, cha mẹ bắt lấy chồng. Trên ba chục năm tôi đâu có gặp đứa bạn nào. Nay gặp anh là người đầu tiên học chung trường hồi đó.

    Tôi hỏi vài tên người bạn cũ, chị nói một hơi rồi tiếp:

    – Về làm dâu ở đây gần hai chục năm rồi. Nhà cha mẹ ruột trong đó mà có khi vài năm mới về được một lần, c̣n từ Đồng Khởi tới giờ biệt luôn. Bom đạn bời bời đâu có dám rời miệng hầm. Sao anh ở ngoải có vui không?

    – Vui chớ chị.

    – Anh Hai của tôi cũng đi cán bộ đâu trên quận trên tỉnh ǵ đó .

    – Vậy hả chị?

    – Ảnh vừa cưới một bà cán bộ phụ nữ, hai ông bà dắt đi có cặp. Ba tôi la quá trời mà ổng đâu có nghe. Lỡ cưới rồi làm sao được.

    – Cán bộ th́ cũng tốt thôi, chớ có sao đâu chị.

    – Ủa mà quên, ảnh học trên tôi với anh hai lớp. Anh nhớ không?

    – Bây giờ th́ tôi nhớ rồi. Nhớ ra tất cả rồi. Nhớ cả anh Trung nữa.

    – Ảnh thứ hai, tôi thứ tư, c̣n một đứa em gái thứ sáu ở trên Sài G̣n. C̣n nhỏ ngộ lắm chớ không phải ma lem như tôi đâu.

    Chị cười thân mật.

    – Bất ngờ tôi gặp anh đây thiệt là lạ. Hổng chừng trời đất . Chị ngưng ngang :

    – Hèn chi hôm qua có con chim khách đậu trên cây dừa ở mé sông kêu hoài.

    Tôi hỏi thăm những ông thầy cũ chị nói:

    – Thầy Ba th́ bịnh già rồi chết. Con của thầy là chị Huỳnh Thị Ngọc Anh học chung lớp với ḿnh th́ có chồng ở đâu trong Đập, c̣n thầy Nh́ bỏ nhà lên ở Bến Tre. Hai người con của thầy là anh Tiến và anh Sĩ cũng lên đó.

    – Chị có gặp thầy không?

    – Tôi chỉ nghe nói thôi chớ làm sao mà gặp được, thời buổi bây giờ không có ai dám đi thăm ai.

    – Tại sao vậy chị?

    – Anh không nhớ hồi đầu kháng chiến, người ta bắn hụt thầy Nh́ à? Làng ḿnh vỡ lỡ ra v́ chuyện đó.

    – Ờ ... ờ tôi nhớ ra rồi. Nhưng tới bây giờ tôi không hiểu tại sao người ta lại làm như vậy. Thầy có lỗi ǵ!

    Thằng em tôi xách mấy cặp dừa nạo vào. Chị Nhuận mời tôi uống:

    – Anh ra Bắc lâu vậy, c̣n nhớ chặt dừa ba dao hay vạt mặt nữa không? Tôi biếu anh chục cam đó. Tiền bạc ǵ.

    Chị vừa nói vừa bảo thằng em tôi.

    – Chú lấy khăn túm cho gọn. Mà quên nữa. Chú dắt anh Triết qua đây bằng cách nào?

    – Dạ, lội sông.

    – Trời đất! Thôi, cũng được. Kỳ này chịu khó lội về. Kỳ sau có muốn qua th́ hú một tiếng tôi biểu thằng nhỏ phóng xuồng qua cho.

    – Bên kia hú bên này đâu có nghe chị Tư. Cây cối rậm ri như rừng !

    Chị Tư ngập ngừng một chút rồi nói:

    – Tôi có thằng con trai, nó muốn đi bộ đội. Tôi không cho. Vậy anh cho nó đi theo được không?

    – Công việc của tôi khác với người ta lắm chị Tư à. Nó theo tôi đâu có việc ǵ làm.

    Thằng em tôi tiếp:

    – Ảnh viết báo đó chị Tư.

    – Ảnh viết báo th́ dạy cho nó viết với.

    – Để tôi xem.

    – Anh cứ đem nó theo đỡ tay đỡ chân anh. Đừng ngại ǵ. Để nó theo bộ đội, tôi với ba nó lo lắm.

    Tôi kiếu từ chị ra về. Đến mé sông, thằng em tôi hỏi:

    – Anh coi được không?

    Tôi lắc đầu. Nó dậm chân:

    – Con người ta như vậy mà anh chê cái nỗi ǵ?

    – Anh đâu có chê.

    – Bộ anh có hứa với ai ngoài Bắc hả?

    – Có ai mà hứa !

    – Gia đ́nh này không thích giải phóng mà cũng không theo quốc gia. Anh vô cái là họ ngă theo ḿnh liền.

    Tôi vẫn lắc. Thằng em cứ càu nhàu:

    – Không sớm th́ muộn, d́ Sáu nó ở Sài G̣n sẽ về đem nó lên trển đó anh.

    – Sao em biết?

    – Em biết. D́ Sáu học nữ công ở nhà ḿnh một năm.

    – Bao lâu rồi?

    – Đâu cả chục năm trước. D́ nó đẹp và khéo nữa.

    – Nhưng mà… không được đâu!

    – Tại sao vậy?

    – Dân thành đâu có hợp với anh.

    Hai anh em lại lội sông về . Tôi không cho nó biết Nhuận là bạn học cũ của tôi. Cho nên nó cứ bứt rứt trách móc tôi hoài, nhưng tôi cứ lảng ra mà không nêu lư do ǵ hết.

    Việc quan trọng nhất của tôi về đây là viết tiểu thuyết Đồng Khởi. Ở trên đă giao phó cho tôi cái công việc đó trong một chỉ thị “bất thành văn” của R lẫn Trung ương.Và tôi cũng đă nhận “sứ mạng” đó. Bây giờ về ngay đây, làng Minh Đức, một trong những xă hàng đầu của Đồng Khởi và có cả một số đội viên đội quân Đầu Tóc(*) nữa, tha hồ mà nhặt hái những bó tài liệu quư.

    (*) Bây giờ Việt Cộng đổi lại là “Đạo quân tóc dài” cho dễ nghe hơn.

    Muốn viết được tiểu thuyết đó để gởi ra Bắc, phải tốn cơm tốn gạo chớ không phải dễ . Hồi ở ngoài Bắc tôi có đọc tập kư của Trần Hiếu Minh, tức NguyễnVăn Bỗng, ủy viên Ban Chấp Hành Hội Nhà Văn Hà Nội viết về Bến Tre. Tôi nôn nao lắm, muốn về mau mau. Bây giờ về đến rồi phải tính tới chuyện viết.

    Nhưng trước nhất là phải lo cái hầm bí mật để sống cái đă. Hồi ở trong trường “vác gạch” tướng Nguyễn Văn Vịnh vô nói toàn chuyện phấn khởi để cho đám gà mờ chánh trị này phấn khởi:

    – Các đồng chí về trong đó th́ t́nh h́nh đă khá hơn nhiều rồi. Hiện giờ khu giải phóng rộng hơn thời kháng chiến. Bộ đội hành quân toàn bằng đ̣ máy.

    Nghe mà mê rụng rún con ṇng nọc. Sống chết cũng ḅ về. Có nhiều cụ trên năm mươi cũng nằng nặc đ̣i về cho được. Rồi chết dọc đường như rạ.

    Bây giờ tôi về đến, th́ vùng giải phóng có bằng chiếc đệm của tá điền đồng Nọc Nạn, vừa bé lại vừa rách không xoay trở được. Bất cứ chỗ nào pháo cũng bắn tới. Đó là chưa nói đến trực thăng. Chỉ trong ṿng mười lăm phút là tới nơi, một thời gian đủ cho giải phóng rút xuống hầm bí mật. Cho nên cái hầm là điều sinh tử.

    Thời kháng Pháp khoẻ như đi dạo, mười năm chỉ bị ruồng vài lần. Tàu Tây c̣n cách năm mươi cây số đă chạy rồi. Đâu có thấy thằng Tây mồm ngang miệng dọc ra sao. Bây giờ cứ mỗi sáng thức dậy sớm ăn cơm rồi ngồi nghe ngóng động tịnh để bỏ vó hùm. Ở trên R tuy sợ B52 nhưng ngoài B52 không sợ ǵ khác. C̣n xuống đây sợ đủ thứ cả B52. Loại máy bay thả dưa hấu này đă bắt đầu xuất hiện ở Mỹ Tho, th́ cái Quê Hương Đồng Khởi này sức mấy mà nó tha cho.

    Khi c̣n ở trên R tôi tưởng dễ lắm. Bây giờ đụng vào thực tế rồi mới biết là khó. Làm sao t́m một cái nắp. Hai trăm đồng một cái. Nhưng phải là tay thợ mộc mới đóng được chứ đâu phải như cái nắp mái nắp soong.

    Ở trong nhà ngoại tôi hơi gần đồn bót, cả hai mặt tính từ đồn quận Cầu Mống ra, lính từ Giồng Luông lên bất cứ lúc nào. Cho nên tôi phải lùi ra phía vàm Rạch Tân Hương mà đóng đô ở nhà bà cụ của tôi, tức là cô ruột của ông nội tôi. Bà cụ không có con trai. Chỉ có ba người con gái. Bà thứ Năm ở trên thành lại có con làm quận trưởng quốc gia, nên không thể nhờ cậy ǵ được, trái lại tôi c̣n trốn lánh.
    Bà thứ Ba th́ có nhà ở gần nhà cụ. Bà Ba có người con gái tôi gọi bằng cô Hai đang làm chi ủy viên, và người em, tôi gọi bằng bà Bảy đang làm đảng ủy viên. Bà Bảy tuy vai lớn nhưng chỉ hơn tôi chừng năm sáu tuổi, có chồng tập kết làm giáo sư Đại Học có sang Liên Xô tu nghiệp. Như vậy tôi dựa vào gia đ́nh cụ tôi là đúng lập trường hoàn toàn.

    Thằng em tôi ở đây chăm sóc bà cụ tôi thường xuyên. Bà cụ đă ngoài tám mươi nhưng rất khỏe mạnh. Bà cụ đi vườn tét tàu dừa trồng rau nấu cơm, nấu nước may vá như thường. Ngôi nhà ngói xưa của cụ cũng tan biến đi đâu mất chỉ để lại một dấu vết: đó là bộ ván gơ. Ngoài ra không c̣n một tấm ngói. Hồi nhỏ tôi đă từng đến nhà này, điều làm tôi ngạc nhiên nhất là hai cái “Thọ” để dành cho ông cụ bà cụ đường già. Bây giờ hai cái Thọ đó đă nằm dưới mương, v́ sợ bom bỏ cháy nhà . Cháy món ǵ cháy chứ c̣n hai cái Thọ th́ phải bảo vệ cho nguyên.

    Tôi về đấy cả nhà đều mừng rỡ, v́ tôi là cháu ruột của ḍng họ Bùi. Cụ thường tự ví ḿnh là bà Địch Thiên Kim, cô ruột của Địch Thanh vậy.

    Tôi t́m măi không ra một ông thợ mộc thuê đóng nắp hầm. Cuối cùng thằng em tôi cho tôi một cái. Tôi hỏi ở đâu nó có. Nó bảo của chi ủy làm rồi không xài. Mà nó cũng không dám xài. Hễ có chuyện ǵ th́ nó chạy cà c̣ng như nai trên rừng chớ không dám chui hang.

    Nó dắt tôi đi xem. Ở tận ngoài lùm rậm ở sát mé sông. Nghe nói tới hầm bí mật trên báo hồi kháng chiến, mà tới bây giờ mới thấy nó trên thực địa. Sau này khi lên Củ Chi tôi mới nếm mùi cả Hầm Bí Mật lẫn Địa Đạo.

    Thằng em moi móc một lúc mới t́m được cái nắp và lôi bật nó lên. Tôi nh́n thấy hỡi ôi. Nước đầy tới mép miệng hầm. Biết tôi không hài ḷng, nó bảo:

    – Coi vậy chớ ḿnh cũng xuống được lúc nước ṛng. C̣n nếu rủi nó chụp vào lúc nước lớn th́ ḿnh lặn xuống sông đội lục b́nh.

    Tôi thất vọng hoàn toàn về cái vùng giải phóng bao gồm bốn phần năm miền Nam của Nguyễn Hữu Thọ. Mẹ kiếp thằng Nam Kỳ này đạp cứt Trung ương rau muống hay bị Trung ương cho ăn bùa mê mà cũng bày đặt nói láo bịp gà nhà.

    Thực tế th́ tôi không thể nào dám xuống một cái hầm thuộc loại siêu như vậy, nhưng về mặt tâm lư th́ tôi thấy như đă có một cái bửu bối ǵ che chở cho ḿnh, nên cũng yên tâm mà sưu tầm tài liệu để viết về Đồng Khởi.

    Tôi bỏ qua việc kiếm vợ để lo “việc nước”, tức là sáng tác. Lúc bấy giờ ở Hà Nội, báo Văn Nghệ lâu lâu mới nhận được bài của Anh Đức hay Giang Nam. Chúng nó nói toàn chuyện lên mây gỡ vảy rồng, xuống biển xỏ mũi ḱnh ngư.
    Nhưng khi tôi về đến R th́ thấy chúng nằm chèo queo rên hừ hừ. Thằng Đức th́ c̣n đi được một chuyến xuống tới Rạch Giá quơ được tài liệu mồm rồi phịa ra cái Ḥn Đất, do nhà xuất bản Văn Nghệ in.
    Tố Hữu bắt bác sĩ Trần Hữu Tước, chủ nhiệm khoa Tai, Mũi, Họng Bệnh Viện Bạch Mai, dịch ra tiếng Pháp để bịp thế giới. Tôi có liếc sơ vài trang th́ thấy nó rất đúng lập trường chống Mỹ của đảng. Tôi không bao giờ đọc hết một trang của anh bạn văn này v́ tôi thấy nó viết bằng lập trường hơn là cảm xúc.

    Bây giờ đến phiên tôi phịa ra một cái tiểu thuyết Đồng Khởi kiểu Ḥn Đất.

    Tôi bắt đầu t́m tài liệu ngay trong gia đ́nh bà cụ tôi, nơi cô Hai chi ủy và bà Bảy đảng ủy. Cô Hai bằng tuổi tôi. Hồi đầu kháng chiến trong lúc cô đội nón rơm, mặc đồ tây, lưng đeo dao găm ḥ hét thiếu nhi đi nhịp “một hai” và hát “Lên Đàng” th́ ở trong Cầu Mống tôi cũng làm như vậy. Sau hai chục năm gặp lại nhau, một người làm chi ủy, một người tập kết mới về.

    C̣n bà Bảy tôi, thật t́nh tôi không hiểu tại sao bà vô đảng và làm tới đảng ủy? Bà học chữ nho nơi ông cụ tôi, từ nhỏ không đến trường, khuê môn bất xuất chuyên theo bốn chữ công, dung, ngôn, hạnh, thêu thùa rất khéo nổi tiếng cả một vùng, mở lớp dạy học tṛ tại gia. Một người con gái đọc chữ nho ron rót lại vô đảng. Ai dám giới thiệu? Thế mà bà đă vô.


    Mai tiếp ...
  • 16-09-2018, 09:38 PM
    tran truong

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    Tôi chờ gặp lại má tôi. Tôi biết má tôi vẫn ở ngoài vườn tại nhà cũ của tôi. Nếu bỏ đi bọn cướp chi ủy và tổ trưởng đảng ăn hết. C̣n ba tôi th́ vô chợ ở, dạy cho một trường trung học dân lập. Ông không ưa Việt Minh từ đầu 45 . Ông chơi với bọn Đồng Văn Cống, Trần Văn Trà, tiếp đăi bọn này như thượng khách, cơm gà cá gỏi đều đều, nhưng không đi theo Cách Mạng. Tỉnh, quận mời ông, bạn bè đi kháng chiến cũng rủ ông, nhưng ông từ chối khéo:

    – Tôi không ngủ ở đâu được ngoài cái giường của tôi !

    Đó là sự thực. Từ khi tôi lớn lên ông không đi làm. Có đi tiệc tùng trong làng th́ dù khuya mấy cũng về nhà , không ngủ ở nhà lạ. Nhưng bây giờ ông phải bỏ nhà vô quận lỵ Cầu Mống ở, xa má tôi, để nuôi nội tôi đang được người cô thứ Chín của tôi bảo bọc.

    Năm 45 khi tôi thoát ly gia đ́nh, ông buồn lắm, nhưng không cản, v́ biết tôi yêu nước mà đi chứ chẳng phải chơi bời lêu lổng ǵ. Khi đ́nh chiến, má tôi vào miền Tây để rước tôi về ông nhắn:

    – Ḥa b́nh rồi, về nhà, không đi đâu nữa !

    Nhưng tôi hăng quá, chí tang bồng hồ thỉ, đi hai năm cho biết đó biết đây, coi cái Hồ Gươm, cái Tháp Rùa, đường Cổ Ngư quê hương Xuân Tóc Đỏ ra sao. Hai năm hóa hai mươi năm. Bây giờ quay về. Má tôi tóc đă hoa râm. Đứa em gái độc nhất không lấy chồng, ở vậy nuôi mẹ . C̣n tôi..“vợ c̣n chưa có, hỏi chi con!”

    Chuyện “chữa cháy” đầu tiên của má tôi là đi kiếm vợ cho tôi. Ở nhà má tôi đă đi “làm suôi” với người ta vài ba chỗ . Hai năm không thấy ǵ, người con gái này đi lấy chồng, lại hai năm nữa trôi qua vẫn không thấy ǵ, người con gái khác đi Sài G̣n. Má tôi không c̣n tin ở con số hai đó, nhưng vẫn bền tâm đi “làm suôi” thêm vài chỗ nữa. Vẫn biền biệt tin đứa con trai!

    Bây giờ gặp được đây, mẫu tử trùng phùng nhưng không c̣n ai để làm suôi nữa ! Má và ngoại tôi ngồi bàn, t́m kiếm, nhưng không c̣n ai. Người ta đă bỏ cái xứ Đồng Khởi gai góc này mà đi t́m chỗ dung thân. Ở đâu cũng sống dễ dàng, làm ăn cũng khá hơn ở cái quê hương này: Vũng Tàu, Tây Ninh, Sài G̣n. Đâu đâu cũng là đất lành đất tốt. Cho nên khắp một vùng năm bảy xă là phạm vi giao thiệp của gia đ́nh, và nội ngoại tôi mà chẳng có một mống “nữ nhi” nào khả dĩ sánh đôi cùng ông cán K54 Mùa Thu không thuộc thành phần bần cố này.

    Bỗng một tia hy vọng, có một cô thợ may con nhà khá giả bên sông. Con sông đó là Rạch Tân Hương, một ḍng nước đỏ thắm phù sa như một ống huyết quản nhỏ chạy suốt bề ngang Cù Lao Minh nối liền hai nhánh lớn Cửu Long là Hàm Lưông và Cổ Chiên.

    Con rạch này là nơi ghi dấu biết bao nhiêu kỷ niệm của thời thơ ấu tôi. Từ nhà tôi ra đây, tôi thường được đưa đi bằng xuồng bơi. Tôi được dịp thọc tay qua be xuồng dọc nước, được dịp đi ngang qua chợ Tân Hương nh́n ngó những chiếc ghe chài to lớn lạ lùng. Được dịp biết ngă ba Cầu Quán mà tôi thường nghe ngoại dọa là nơi có “ma da” rút người, để cho tôi sợ mà không dám tắm sông. Bây giờ có thể con rạch đó trở thành thân yêu hơn đối với tôi chăng?

    Đây là một gia đ́nh gốc Hương Mỹ. Cô gái có chồng về đây, má tôi có nghe nói nhưng không quen. Do đó không thể đường đột đến xem mắt con người ta. Giao trách nhiệm cho thằng em con chú Sáu tôi hướng đạo. Cậu thanh niên này làm y tá xă. Nó không dám ở gần quận lỵ Hương Mỹ nên tản cư ra công tác ở xă này.

    Một buổi sáng, sau khi ăn cơm sớm, hai anh em ngồi nói chuyện t́nh h́nh bên nội để chờ “ráo phèn” rồi sẽ xuất hành. “Ráo phèn” có nghĩa là sau mười giờ sáng mà không nghe đầm già “cảo đùng”, nhại theo tiếng rốc kết bắn, như nhại tiếng “cắc bùm” của mút-cơ-tông thời Pháp, không thấy trực thăng vần vũ, không nghe pháo bắn dọn băi ở đâu th́ coi như bữa đó chín mươi phần trăm yên tĩnh, không có đổ quân chụp dù hoặc ruồng bố. Dân Mùa Thu mới về chưa hiểu qui luật bị nạn luôn.

    Thấy t́nh h́nh êm chúng tôi khởi hành. Mười năm trên đất Bắc, tôi không “cấy su hào” v́ tôi luôn luôn t́m đường trốn về Nam, cấy rồi ai gặt? Ngoài ra, tôi rất khoẻ mạnh, như con heo được bác đảng nuôi cho mập, sớm muộn ǵ cũng đút ḷ Trường Sơn. Do đó tôi không kư tờ sống chung thân với ai cả, mà đợi ta về ta tắm ao ta.

    Đường sá không c̣n nữa, con rạch không có ghe xuồng đi lại, nên có những quăng , lục b́nh kẹt bít làm nghẽn cả cây số. Cầu ngang không ai bắc, có bắc th́ cũng chỉ vài hôm là bị pháo hoặc trực thăng bắn gục. Pháo người ta có bản đồ ghi tọa độ cố định, nên bắn đâu trúng đó không phải pháo Việt Cộng bắn hoặc vào nhà đồng bào, tệ hơn, vào trường học. Do đó mà chúng tôi chỉ có một cách là mặc quần tiều và cầm quần áo lội xốc đứng qua sông.
    Tuy rằng chuyện đó hơi kỳ cục nhưng hăy c̣n đẹp gấp mấy ở Trường Sơn, mấy bà mấy cô có kinh mà phải lội suối cả ngày.

    Lên bờ lá hai anh em lấy khăn rằn chị Ba Định lau chùi khô ráo không sót chỗ nào rồi mặc quần áo vào, lấy lược cào sơ cái đầu xong rồi thong dong thả bộ như các đấng đại quân tử đi dạo miền quê.

    Thằng em tôi, lúc tôi ra đi hăy c̣n ẵm nách, bây giờ nó đă hỏi vợ xong cũng gần nhà cô thợ may này, nên nó rành đường không sợ vướng lựu đạn.

    – Quân ta không giết được quân nó mà lại giết quân ḿnh luôn. Tụi nó đi bẻ dừa trộm, bị chủ nhà bắt được, chủ nhà không dám nói ǵ, nhưng chúng nó oán bèn đem gài trước cửa người ta.

    – Chánh quyền ở đâu?

    – Th́ chánh quyền là tụi nó chớ c̣n ai nữa anh !

    Trước khi quẹo vào nhà đối tượng, thằng em dặn nhỏ:

    – Trong nhà này hễ anh thấy đứa con gái ngồi may th́ là “đó” nghen !

    Tôi cười thầm, đi coi vợ kiểu này th́ chỉ có Việt Cộng !

    Nó dặn tiếp.

    – Ḿnh làm bộ mua cam. Đâu có ai biết là ḿnh đến để làm ǵ. Anh thấy là anh chịu liền. Ở đây thanh niên vô không nổi, nên mới c̣n đó. Nó có bà d́ ở trên Sài G̣n muốn đem nó lên trển nhưng má nó không cho.

    Vừa quẹo vô mối đường một chút th́ gặp một anh nông dân đội nón lá rách te tua đi ra. Thằng em tôi hỏi.

    – Có chị Tư ở nhà không anh Tư?

    – Có!

    – Tôi đem cho chị một ít thuốc . Hôm qua chị nhắn mà tôi bận quá.

    – Chú cứ vô nhà. Tôi đi ruộng đắp bờ giữ nước. T́nh h́nh găng quá, êm chút nào làm chút nấy.

    Anh Tư vừa qua khỏi thằng em rỉ tai tôi:

    – Ông già con nhỏ đó anh Hai !

    Tôi giật nẩy người. Như vậy tôi kêu bằng ông nhạc sao vô ? Nhưng đă trót phải trét. Cứ liều ḿnh xông tới thử xem sao. Bố vợ Vơ Nguyên Giáp đâu có lớn hơn chàng rể mấy tuổi. Ông Quyết ủy Viên Trung ương lấy con gái nuôi. Bác Ba Duẩn cũng học một sách đó vẫn hiên ngang như thường.

    Vào đến nhà, thằng em tôi lên tiếng trước:

    – Chị Tư có nhà không? Khách tới !

    Một người đàn bà từ trong bếp bước ra. Nó hỏi tiếp.

    – Tôi cần một chục cam biếu bà già vợ. Cam nhà c̣n không chị?

    – C̣n. Nhưng chưa chín lắm.

    – Kệ nó, chị hái cho tôi một chục có đầu.

    – Đầu đuôi ǵ. Để lêu lêu trên cây đó, ông đi qua bà đi lại nó biến hết hồi nào không hay, biếu cho chú c̣n có nghĩa hơn.

    Người đàn bà nước da trắng, dáng quen quen không biết tôi đă gặp ở đâu. Bà ta cũng ngó tôi với cặp mắt ngờ ngợ rồi vào bếp lấy rổ trở ra. Thằng em tôi hỏi:

    – Cô thợ may có nhà không chị?

    Trời đất! Nếu thành chuyện th́ nó phải kêu bà ta bằng bác mà bây giờ nó chỉ phong chức “chị” cho bà ta thôi.

    – Nó đang may trong buồng.

    – Ông cán bộ này muốn đặt may cái vỏ radiô Sony.

    Quả thật ngoại cho tôi tiền gởi mua radiô trên Bến Tre. Sáng đ̣ đi chiều đ̣ về th́ có ! Tôi bắt đầu sống theo kiểu các ông cán địa phương: lưng mang ba lô, vai đeo xắc-cốt, vai đeo radiô vừa đi vừa vặn nghe lén vọng cổ đài Sàig̣n, đài BBC, VOA v.v…

    – Ờ được, để tôi biểu nó may. Chú mời ảnh uống nước dùm tôi, tôi đi hái cam cho. Thời buổi này cái ǵ cũng phải vừa làm vừa chạy như vậy mà c̣n không kịp với trực thăng.

    Bà chủ nhà nói xong rồi tất tả chạy ra vườn. Chúng tôi vừa ngồi th́ một bàn tay trắng, ngón mũi viết khoát nhẹ tấm màn bằng vải bông, rồi một người con gái bước ra.

    Gương mặt giống mẹ như đúc. Cô nàng cúi đầu chào tôi rồi đứng ở bẹ cửa vui vẻ hỏi thằng em tôi:

    – Anh y tá mới mua radiô hả?

    – Không! của anh Hai tôi, ảnh ở ngoài Bắc mới về.

    Cô nàng hỏi thằng em tôi, mặc dù nó nói là cái radiô của tôi.

    – Anh muốn may kiểu nào?

    – Y như cái cô may cho tôi hôm trước.

    – Anh đem vải tới hay vải của tôi?

    – Cô may bằng ni-lông dầu dùm tôi đi. Công cán vải vóc tính chung tôi trả cho.

    – Ít lắm cũng một tuần mới xong.

    – Bao lâu cũng được. Bao nhiêu cũng được. May cho khéo làm nghĩa nghe cô !

    Cô gái buông tấm cửa buồng như để chấm dứt câu chuyện giá cả, nhưng bỗng cô lại tái xuất hiện.

    – Chừng nào anh cho đám thanh nữ chúng tôi uống rượu đó?

    – Cũng gần rồi. C̣n rắc rối một chút.

    – Rắc rối làm sao đó anh?

    – Người anh ruột cô ta làm phi công ở Sài G̣n chưa đồng ư v́ tôi là dân giải phóng.

    – Như vậy anh phải làm sao?

    – Tôi chờ chừng nào ảnh cưới vợ vùng giải phóng tôi sẽ xúi anh vợ ảnh không đồng ư lại trừ.

    Cô gái cười, cặp môi và hàm răng nở như hoa, rồi vừa nói vừa buông màn:

    – Anh chờ tới cóc mọc râu.

    Thằng em tôi quay sang tôi thầm th́:

    – Anh coi được chưa? Mấy điểm Liên Xô nào?

    Ở trong này cũng bày đặt cho điểm theo Liên Xô . Năm điểm là cao nhất. Tôi đang moi óc t́m xem người đàn bà kia là ai, từng gặp ở đâu, nên không chú ư đến câu hỏi của thằng em. Bỗng người đàn bà trở vào với rổ cam trên tay.

    – Cam này tôi định hái bán trên Bến Tre đấy chú em.

    Thằng em tôi cũng khá nhạy cảm, đáp:

    – Ở đây cũng có giá vậy chị Tư, cần ǵ phải đi xa cho bầm dập!

    Người đàn bà để rổ cam trên bàn rồi hỏi tôi:

    – Xin lỗi anh là người ở làng này hay ở đâu đến?

    Thằng em đáp.

    – Dạ, ảnh đi tập kết mới về.

    Tôi đáp.

    – Tôi ở trong Cầu Mống!

    – Anh là anh Triết phải không?

    Bà ta nói trúng ngay tên gốc của tôi. Tôi gật đầu đáp:

    – Phải, c̣n chị chắc không phải là người làng này?

    – Dạ, tôi cũng ở trong Cầu Mống có chồng về đây.

    – Sao chị biết tôi? .

    – Anh quên mau vậy?

    – Tôi nhớ có gặp chị mà không biết gặp ở đâu, năy giờ tôi suy nghĩ hoài mà không nhớ ra.

    Người đàn bà cười chúm chím.

    – Gặp hằng ngày mà không nhớ. Đâu anh thử t́m coi.

    Người đàn bà quay sang thằng em.

    – Chú ngồi chơi tôi đi móc dừa nạo uống nước.

    Thằng em tôi đứng dậy bảo:

    – Chị chỉ tôi móc cho. Nói xong nó đi ra cửa sau.

    Người đàn bà nói theo:

    – Chú coi cây nào có dừa nạo th́ móc.

    Chị ngồi trên ghế đối diện với tôi. Hai người chỉ cách có cái mặt bàn tṛn. Chị cười thân mật đặt tay lên ngực:

    – Nhuận nè, nhớ chưa?

    Thấy tôi nh́n chị trân trân, chị lại cười:

    – Nhuận học thầy Ba, thầy Nh́ nhớ chưa? Anh ngồi bàn sau làm đổ mực trên áo của tôi, tôi khóc bắt đền đó.

    Một kư văng xa xôi bừng dậy trong tôi. Ngôi trường làng hiện lên trong đầu, một gian nhà ngói ba căn, nền đúc cao, lớp nhất ở giữa, lớp ba bên phải, lớp nh́ bên trái. Tôi học lớp ba chung với nàng. Lên lớp nh́ rồi lớp nhất cũng c̣n là bạn học. . .


    Mai tiếp ....
  • 15-09-2018, 10:05 PM
    tran truong

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................





    Khi tôi về đến nhà gặp ngoại tôi th́ tôi mới thấy bộ mặt thật của đảng, hi sinh dân Nam Kỳ đến người cuối cùng để thống trị họ. Riêng tôi, tôi cảm thấy ḿnh ngu. Cái ngu của một thằng học tṛ ba chớp ba nháng đang đi học lại bỏ trường để nhào theo Việt Minh hát Tiến Quân Ca. Nhưng không phải một ḿnh tôi mà toàn dân Nam Kỳ quốc.

    Bây giờ, 1993, th́ tất cả nam phụ lăo ấu xứ Nam Kỳ đều thấy rơ điều đó rồi. Đă muộn! Dọc đường Trường Sơn và khi về R, tôi thường mở đài Sàig̣n. Thỉnh thoảng nghe tên những thằng bạn học. Chúng đang làm Tổng Giám Đốc, Giám Đốc, Kỹ Sư, có thằng làm tướng. Mẹ kiếp, c̣n ḿnh đi theo Việt Minh hai mươi năm chỉ được cái danh hiệu tên ăn trộm, chui luồn ngơ hẹp.

    Tôi nh́n ngoại tôi mà hết biết nói năng ǵ. Ngoại đứng cho vịt ăn , bên mái cḥi lụp sụp chỉ xô một cái là đổ ngang. Ngoại nh́n tôi. Ngoại nh́n ông cán lạ mặt mang súng ngắn một giây rồi hỏi:

    – Cậu là ai?

    – Dạ, cháu là…

    Tôi bật lên tiếng khóc và chạy tới ôm lấy ngoại, không nói nên lời. Ngoại tôi vẫn ngạc nhiên không hiểu.

    – Con là thằng Triết nè ngoại ?

    – Ủa, con đó hả Triết?

    Ngoại tôi cũng khóc theo và buông xụi vùa lúa xuống đất . Tôi đi thẳng vào cḥi. Trời đất ! Sao chiếc bàn thờ bằng gỗ trắc lại đặt ở trong cḥi vịt. Chiếc bàn thờ chạm trổ. Thuở nhỏ tôi vói tay nhón gót mới lấy được bánh trái cúng trên đó ... bây giờ sao lại dời xuống đây? C̣n nhà cửa đâu?

    Ngoại tôi chậm chạp đi vào mắt cứ nh́n tôi trân trân như chưa tin tôi đă về tới nhà. Ngoại quệt mắt:

    – Nếu ngoại biết con ở đâu th́ ngoại đă đi t́m rồi. Hai chục năm nay ngoại có biết con ở đâu?

    Chia ly, nước mắt. Sum họp, cũng nước mắt. Cả hai ḍng nước mắt đều đắng cay, hờn tủi. Ngôi nhà ngói xưa , năm căn rộng và một ngôi nhà dài dính liền h́nh chữ Đinh đủ sức chứa hai trăm người đă biến mất. Ngày xưa khi cái gọi là Cách Mạng Tháng Tám vừa nổi lên, đây là nơi đóng quân, đóng cơ quan liên tục. Lúa trong bồ xúc ra tha hồ ăn, nước mưa tha hồ uống, trái cây ngoài vườn tha hồ hái.
    Trần Văn Trà, Đồng Văn Cống nào có lạ ǵ ngôi nhà này.

    Tất cả, bây giờ chỉ c̣n lại cái cḥi vịt, một chiếc bàn thờ ba chân và một ḿnh ngoại. Tôi nh́n lên thấy h́nh cậu tôi, người cậu thứ Tám tôi yêu quí nhất, chỉ lớn hơn tôi năm, sáu tuổi, tôi coi như một người bạn thuở ấu thơ.

    – Cậu Tám sao vậy ngoại?

    Như một bọc nước mắt bị gai châm, ngoại ̣a lên khóc.
    Tôi nghe trong tiếng khóc của ngoại hàm chứa một sự u uất khác thường, nhưng chưa đoán được nguyên do. Có lẽ ngoại không muốn để cho đứa cháu đi biền biệt mấy chục năm nay mới trở về buồn ... nên ngoại lại quệt nước mắt, rồi đi nấu cơm.
    Tôi trút ba lô xuống giường, lột súng máng trên đầu cột . Tôi ngó quanh nhà, ngó đến đâu kinh hoàng tới đó. Tôi không ngờ quê hương tan nát và nhà cửa của ngoại tôi trở thành cái cḥi như thế này, một cái cḥi cất trên bờ chuối mà hai hàng cột bia cắm dưới mương , v́ mặt bờ không đủ rộng.

    Cái cḥi có vách lá sơ sài te tua bao bọc chung quanh , c̣n bên trong th́ không có vách ngăn. Phía trước là chiếc bàn thờ, dựa lưng vào bàn thờ là giường ngủ chung quanh là thùng, hũ, nia, sàng, đồ rách, chai lọ lớp bể lớp c̣n nguyên như chiếc thúng tản cư thời chạy Tây, hai mươi năm trước. Trời ơi ! Thời đó Tây nó không đốt nhà ngoại để bây giờ bọn cán bộ chi ủy tổ trưởng đảng, du kích, rút rỉa ăn hết, từ cây cột, chiếc đ̣n tay, cục gạch, tấm ngói, không chừa một thứ ǵ c̣n lại , có thể chứng minh rằng nơi đây từng là một ngôi nhà ngói xưa.

    Ngoại tôi đi ra bàn thờ rút một cây nhang và bảo tôi:

    – Đốt nhang trên bàn thờ đi con!

    Tôi đang lớ ngớ không biết làm ǵ, th́ câu nói của ngoại làm tôi tỉnh lại. Mấy chục năm nay, tôi bất biết nhà cửa, ông bà cha mẹ. Bất biết cúng quải là ǵ. Cách mạng làm cho người ta quên nguồn cội, bắt đầu từ những chuyện tưởng-như-nhỏ này, thực t́nh là không nhỏ. Có quên ông bà th́ mới thờ phượng được Mác - Lê - Mao. Có quên cha mẹ th́ mới gào “Hồ Chí Minh muôn năm” được. Rồi từ đó mới quay lại đấu tố cha mẹ ông bà.

    Tôi cặm cây nhang trên bàn thờ mà không biết van vái những ǵ. Ngoại bảo:

    – Vái vong hồn cậu con về pḥ hộ con.

    Tôi hỏi ngoại:

    – Cậu Bảy đâu ngoại?

    – Cậu Bảy con ở trên Sài G̣n.

    – D́ Năm đâu ngoại?

    – D́ Năm đi ở đợ cho người ta cũng ở trên Sài G̣n.

    Tôi không hỏi d́ Tư tôi. V́ tôi biết d́ đang ở đâu. Trên đường về từ Phước Hiệp tới đây, tôi đă nghe danh dượng Tư. Ông là Cai Tổng. Chợ làng tôi đă trở thành thị trấn. Quận Mỏ Cày chia thành hai quận. Trên có Quận Trưởng, dưới có Cai Tổng. Tôi không dám nói tới những tên tuổi thân yêu v́ sợ đụng tới cái lập trường của ḿnh. Cách mạng là như thế đó . Cách mạng quái gỡ như thế đó . Không rơ ai bày đặt ra mà dân ta phải theo như thế này. Giá đừng có cái tháng Tám trong cuốn lịch th́ dân ta đỡ hơn nhiều.

    Tôi hỏi ngoại:

    – Ngoại ở nhà có một ḿnh vầy sao ngoại. Rồi có máy bay hoặc cà nông ngoại làm sao?

    Ngoại chỉ cái hầm ở sau cḥi.

    – Chun vô đó.

    Cách Mạng đă biến nhân dân thành những con chuột ở hang. Suốt từ Vàm Cỏ Đông về đến đây, tôi đến đâu cũng dớn dác t́m hầm. Khi thấy được cái hầm rồi mới yên tâm mắc vơng nghỉ hoặc làm việc ǵ khác.

    Ngoại nói:

    – Ngoại mướn người ta làm hết năm giạ lúa..

    Nghe nói tới tiếng “lúa” tôi nhớ tới lúa ruộng, nhưng cũng không dám hỏi. V́ lại sợ mất lập trường.

    Ở ngoài Bắc, tôi từng nghe các ông lớn khoe rằng sau Đồng Khởi giai cấp địa chủ đă đầu hàng nhân dân vô điều kiện. Nhiều nơi địa chủ không nhận lúa ruộng hoặc chỉ lấy lúa ruộng tượng trưng một lon sữa ḅ. Và: Địa chủ trong Nam tiến bộ hơn địa chủ ngoài Bắc. Không cần học tập, không đợi đưa ra đấu trường mà đă giác ngộ Cách Mạng. Trong lúc Ban Chấp Hành Trung ương Đảng th́ lại trở thành địa chủ khoác áo bần cố nông, mới đáng nực cười.

    Ngoại tôi bảo:

    – Để ngoại kêu em Sơn của con vô cho má con hay.

    – Em Sơn nào ngoại?

    – Con gái của d́ Năm con.

    Bỗng một cô bé chừng mười một mười hai tuổi bế em đi vô cḥi. Ngoại bảo:

    – Con đi đằng xóm coi chừng có máy bay, cà nông thụt chạy về không kịp.

    Cô bé hỏi.

    – Ai vậy ngoại?

    Ngoại bảo:

    – Anh Hai mày đó.

    – Con đâu có anh Hai như vầy.

    Ngoại giải thích cho cô bé.

    – Con của d́ Hai mày. Anh Hai con đi Cách Mạng hồi con chưa có. Đi lại mừng anh Hai đi con.

    Cô bé đến cúi đầu. Ngoại bảo:

    – Con đi lên nhà chị Sơn kêu nó đi vô Cầu Mống cho d́ Hai con hay.

    – Hay ǵ ngoại?

    Ngoại bảo cô bé đưa em cho tôi. Tôi bồng bé gái ba tuổi mà rung động cả tim gan: ḿnh đi xa nhà quá lâu. Ngoại giải thích tiếp:

    – Em Sơn, con của d́ Năm con, đẻ hồi 45. Khi con đi lên tỉnh với cậu Bảy con , th́ nó chưa dứt sữa. Bây giờ con của nó đă lớn chừng đó. Con hôn cậu Hai đi con.

    Đứa bé biết máu mủ , hôn tôi và ôm cổ tôi. Tôi không ngờ tôi được một đứa cháu xinh xắn ngộ nghĩnh như vậy. Bao nhiêu gian lao chết chóc vượt Trường Sơn băng ĐồngTháp Mười tưởng chừng như tan biến trong phút chốc. Tôi hôn hít nựng nịu liên hồi. Bấy lâu nay chỉ hôn khính con cháu người ta.

    Chập sau mẹ nó tới, một cô gái xinh đẹp, nước da trắng như bông bưởi, giống hệt d́ Năm tôi, bước vô cḥi, kêu:

    – Anh Hai !

    Ngoại tôi trêu:

    – Ai là anh Hai của mày, coi kỹ lại coi !

    Nó bỗng ̣a lên khóc. Ngoại tôi nói:

    – Cha nó hi sinh đâu ở dưới miền Tây trước đ́nh chiến. D́ con đi t́m mà không ra tông tích.

    Gia đ́nh ngoại tôi đang sống trong thảm cảnh, ly tán hoàn toàn. Không c̣n ǵ hết. Trên bảy mươi tuổi, sống trên hai mươi năm trong vùng Việt Minh kiểm soát, nay thành một bà cụ trơ trọi cô đơn và nghèo nàn tột bực .
    Dượng Năm tôi là một nhà Cách Mạng bị tù Côn Đảo. D́ Năm tôi là cán bộ Phụ Nữ tỉnh, đă đào tạo nhiều lớp cán bộ Phụ Nữ Cứu Quốc dưới thời bà Ba Định, cậu Bảy tôi là Trưởng Ban Huấn Luyện Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh, có bằng Brevet Supérieur, từng được chọn đi học Đông Âu năm 1947 nhưng cậu “không đi” với lư do ngoại tôi già yếu. Ruộng đất bị Cách Mạng tịch thu, vẫn vui ḷng. Nhà cửa được Cách Mạng ở dùm. Vẫn cứ vui ḷng. Ngoại tôi âm thầm chịu đựng, một tiếng bất măn cũng không thốt ra.

    Thế mà cậu Tám tôi bị chúng giết trong Đồng Khởi. Có ǵ đâu Chúng mời cậu đi học tập chánh sách. Cậu không đi Cậu bảo:

    – Tụi chăn trâu chăn ḅ dạy ai mà học?

    Chỉ có thế thôi. Nửa đêm chúng đến “mời” ... và cậu không về nữa.
    Bọn tá điền và lũ chăn trâu dùng búa đập đầu cậu Nhưng c̣n tàn nhẫn hơn, chúng không cho ngoại tôi xin xác.

    Nghe tôi về, có mang “Colt”, chúng nó sợ lắm. Một tên tá điền cũ của ngoại tôi đến ngay tối hôm đó năn nỉ tôi. Hắn nói:

    – Cậu có đ̣i th́ tôi xin đong đủ số lúa ruộng.

    Tôi bảo:

    – Tôi không cần.

    Vài hôm sau tên Trưởng Ty Công An, vốn là bạn học cũ của tôi ở trường Quận, cho người mang thơ đến trao tận tay tôi. Xem thơ xong, tôi mới tá hỏa tam tinh. Chẳng những Cách Mạng giết cậu tôi, mà chúng c̣n giết cả cô tôi nữa.

    Cô bị mấy thằng tổ trưởng, chi ủy đảng ve văn, cô mắng chúng là đồ chăn trâu. Chỉ có thế. Chúng giết xong cũng không cho nội tôi xin xác , cũng không nói là tội ǵ. Bức thư của ông bạn vàng Trưởng Ty Công An cố ư giải thích cho tôi về trường hợp cậu và cô tôi, và xin lỗi (!) tôi.

    Chuyện đă như vậy rồi, c̣n nói ǵ được nữa. Cho nên tôi đành làm thinh. Nếu nổi giận chúng sẽ giết tới gia đ́nh tôi và cả tôi nữa , rồi đổ thừa cho biệt kích th́ ai làm ǵ được, khi bọn côn đồ đă có dao găm và lựu đạn trong tay.

    Trong lúc em Sơn đi vô Hương Mỹ, giáp ranh với làng Minh Đức, để cho má tôi hay th́ ngoại tôi dọn cơm cho tôi ăn. Đáng lẽ bữa cơm sum họp đầu tiên là bữa cơm ngon đầy ư nghĩa, nhưng tôi nuốt không vô. Tôi lại hỏi ngoại:

    – Cậu Bảy, d́ Năm làm ǵ ở trên Sài G̣n, ngoại?

    – D́ Năm con th́ ở đợ cho người ta.

    Tôi kêu lên một tiếng như chim bị đạn. Đôi đũa trong tay tôi rơi xuống bàn. Ngoại tiếp:

    – Con nhớ con Tám hồi trước bán bánh bèo ở chợ không? Ư mà không phải con Tám. Má nó mới bán bánh bèo c̣n nó hồi đó c̣n nhỏ. Tụi đó bỏ nhà lên Sài G̣n lâu rồi. Lên Sài G̣n nó vẫn bán bánh bèo mà làm giàu. Kỳ vừa rồi nó về thăm quê, nó có đến đây. Nó thấy d́ Năm con sống cơ khổ quá, nó mới nhờ lên coi nhà dùm cho vợ chồng nó ra Vũng Tàu nghỉ mát hay t́m mối làm ăn ǵ đó.

    Tôi nói để chữa thẹn:

    – Vậy đâu phải ở đợ, ngoại.

    – Ừ, không phải ở đợ th́ thôi.

    – Chừng nào ở hoài th́ mới gọi là ở đợ ngoại à ! Chớ c̣n coi nhà giùm người quen…

    Ngoại tôi cười:

    – Vậy lâu nay ngoại tưởng là ở đợ đó con à !

    Tôi đau đớn không tả nổi từng câu. Tôi hỏi tiếp về cậu Bảy tôi, th́ ngoại nói:

    – Cậu Bảy con đi làm công ǵ cho người ta ở trển, ngoại không rơ, lâu lâu mới về một lần. Hồi Ḥa B́nh nó không ở nhà được v́ lọ mặt kháng chiến, xóm làng đều biết, không trốn được nên phải đi xa. Chẳng ngờ lên trên đó th́ bị đồng chí của nó chỉ chỗ cho mật thám bắt.

    Tôi thấy bị chạm tự ái v́ hai tiếng “đồng chí”.

    – Đồng chí nào vậy ngoại?

    Ngoại nói:

    – Th́ cũng mấy ông đi chung với nó trong chín năm. Lúc Ḥa B́nh thằng kia bị bắt bỏ tù, khi ra tù th́ làm tai mắt chỉ chọc cho mật thám. Ngoại với d́ Năm con khóc hết nước mắt con ơi! D́ Năm con đi t́m qua không biết bao nhiêu nhà tù. Nhưng cũng khá, người ta bỏ tù có sáu tháng rồi thả ra, cho phép đi làm ăn với điều kiện không được làm Cách Mạng nữa. Cậu Bảy con định cạo đầu lập Am tu niệm, nhưng d́ Năm con bảo: “Em là trai, c̣n mẹ già phụng dưỡng.” Do đó nó đi Sài G̣n làm ăn nguôi ngoai.

    – C̣n mợ Bảy?

    – Cũng ở trển lo nuôi mấy đứa con đi học. Cậu con có được hai trai ba gái. Thằng lớn sắp đỗ tú tài. Con em nó cũng học giỏi lắm. Vào dịp băi trường chúng nó thường về đây chơi.


    Mai tiếp ....
  • 14-09-2018, 09:18 PM
    tran truong
    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    Cuộc ra đi theo cách mạng của tôi khởi đầu từ đây và cũng chấm dứt ở mảnh đất này. Khi tôi nh́n thấy ngoại tôi th́ tôi rụng rời hết tay chân và trời đất dường như sụp đổ. Hồ chủ tịch, Trung ương đảng, Hà Nội, cách mạng là ǵ?

    Đột nhiên tôi tự hỏi. Và đây không phải là lần đầu.

    Giải phóng là cái ǵ ? Ai giải phóng và ai được giải phóng? Giá tôi đừng về để nh́n thấy bộ mặt giải phóng. Tất cả đều là một sự giả dối, lừa bịp, tàn bạo và ngu muội. Bọn Cộng Sản bất lương chẳng những đă phá nát Quê Hương, Tổ Quốc mà c̣n tàn phá cả TÂM HỒN DÂN TỘC VIỆT NAM. Tôi sẽ để tất cả th́ giờ trong những năm c̣n lại của đời tôi để chứng minh cho kỳ được điều này.

    Sài G̣n 1974
    Hoa Kỳ Tháng Năm 1989


    Đón xem quyển cuối:
    ĐỒNG BẰNG GAI GÓC

    Một quê hương tan nát, một cuồng vọng tiêu ma. Đồng khởi thực sự là cái ǵ ? Có giải phóng ba phần tư đất đai và bốn phần năm dân chúng không? Súng ngựa trời có tác dụng như đài Hà Nội rêu rao không? Đạo Quân Đầu Tóc có được mấy người và do ai chỉ huy ? Nữ tướng Ba Định làm ǵ trong kháng chiến chống Pháp, và trong chiến tranh chống Mỹ? Tại sao Nguyễn Chí Thanh bốc mụ ta lên đặt trên đầu bọn trí thức hùa và đám cán ngố Bắc Kỳ? Trần Văn Trà bị rượt chạy suưt chết v́ mưu toan sát nhập bộ đội Hai Phải vào các đơn vị dưới quyền chỉ huy của y.

    Ông Đốc Huệ, Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, học giả Ca văn Thỉnh và các vị trí thức khác được Cộng Sản xử dụng ra sao ?

    V́ quyển IV Đến Mà Không Đến hơi dầy nên tác giả sẽ đưa các vấn đề sau đây vào quyển Đồng Bằng Gai Góc:

    Cái chết của Tư Trang, Thái Trần Trọng Nghĩa, Quách Vũ, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Chí Thanh và các vấn đề khác chưa nêu lên trong quyển IV, như Lưu Hữu Phước làm con bài hiếu hỉ, hai thứ Trưởng Bộ Văn Hóa của Chánh Phủ ma nuôi gà giỏi cỡ nào và bị bọn Giải Phóng khinh miệt ra sao? Tác giả căi lộn với cấp chỉ huy và viết thơ cho Trần Bạch Đằng trước khi hồi chánh. Khi tác giả hồi chánh về Sài g̣n được Chánh phủ, đồng nghiệp và bạn bè cũ đón tiếp niềm nở ra sao.

    Mời bạn đọc đón xem tập cuối Đồng Bằng Gai Góc do Xuân Thu ấn hành năm 1993.

    Xuân Vũ
  • 13-09-2018, 08:59 PM
    tran truong

    ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    Cuối cùng rồi tôi cũng về tới Bến Tre. Mảnh đất đầu tiên tôi đặt chân lên là Thành Triệu hay Phú Túc ǵ đó. Lại phải vượt thêm một lần nữa sông Cửu Long. Bây giờ hết sông suối rồi nhưng gặp bom đạn tua tủa.
    Ngay buổi sáng, chúng tôi được chào mừng bằng một trận bom. Hai thằng chui đại xuống một cái hầm hoang ven đường khi phản lực đă trút loạt bom thứ nhất, tiếng miểng đạn bay veo véo bên tai. Tư Mô cũng như tôi không có kinh nghiệm trốn bom. Kháng chiến chống Pháp có bị trận nào. Nay bất ngờ nên lúng túng và chui ẩu. May mà có chỗ để chui. Ngồi dưới hầm nước ngập, tôi không hiểu ǵ cả. Cái h́nh ảnh một ông già Nam Kỳ lội Trường Sơn kiệt sức được đồng đội khiêng về đến ranh Nam Bộ th́ tắt thở – hiện lên trong đầu tôi.

    Khi dứt trận bom chúng tôi lóp ngóp ḅ lên. Mấy trái bom vàng lườm như cam Bố Hạ nằm lăn lóc trước miệng hầm. Nếu chúng không lười biếng, chịu khó lăn vài thước nữa ắt bơ cái công từ Mỹ được chuyên chở sang đây. Hai đứa chạy tránh ra. Anh giao liên, một cậu thanh niên non nhẽo cũng đă chui lên từ hang hố nào không rơ la thét trong màn khói:

    – Coi chừng bom bi. Coi chừng bom bi !

    Bom ǵ cũng coi chừng, đâu phải chỉ coi chừng bom bi ? Tôi đă biết loại bom này ở Trường Sơn rồi. Nó be bé xinh xinh như một món đồ chơi. Hai anh lính thấy một quả mắc trên cành, một anh lấy cây thọc xuống một anh đưa tay hứng như hái cam. Bom vừa rụng xuống cụp cánh lại và nổ. Bây giờ lại thấy cái thứ đồ chơi đó ở đây, không treo lủng lẳng trên cành cây mà lại nằm lăn lóc dưới đất.
    Hú vía! Trận bom b́nh thường. Nghĩa là kéo dài độ nửa tiếng đồng hồ. Không biết nó thấy cái ǵ dưới đất mà h́ hục đánh dữ vầy.

    Khi theo chân giao liên đi tới một quăng nữa th́ thấy một chiếc cầu xi măng sụp. Bên cạnh đó là một chiếc đ̣ máy đang cháy và ch́m dần xuống nước, khói bốc đen cả một khúc đường. Cảm giác đầu tiên của tôi khi đặt chân lên đất Bến Tre quê nhà là Hà Nội nói láo, Trung ương nói láo, Mặt Trận nói phét.

    Trước khi đi, ông Nguyễn Văn Vịnh, chủ nhiệm ủy Ban Thống Nhứt, đến nói chuyện th́ nghe rất xôm, nào ta đă giải phóng ba phần tư dân chúng, bốn phần năm đất đai. Bộ đội đi hành quân toàn bằng đ̣ máy.
    Từ R xuống đây toàn chui rúc trong rừng. Chỉ có một cái xóm nho nhỏ bán dăm bảy món hàng đón gió cho khách đi đường ở vùng Mỏ Vẹt, nhưng lại ở bên đất Miên. Khách đến đó mua sắm đồ vật chút đỉnh – chính yếu là kẹo bánh và gạo, cá khô, mắm để giằn bao tử- rồi mau mau trở về đất ḿnh v́ sợ tụi lính Miên bắt được tịch thu. Rơ là một lũ ăn trộm. Từ Hà Nội vô đây, tên họ cũng dấu kín, mua đồ cũng lén lút.


    Cuộc kháng chiến chống Mỹ ngày nay không giống thời chống Pháp, bộ đội và cán bộ đi đến đâu đồng bào đón tiếp ŕnh rang, đăi đằng như đám giỗ. Bây giờ bộ đội cán bộ đi đến đâu nhà không vườn trống tới đó. Suốt hai ngày, tôi qua những trạm giao liên toàn đóng trong nhà hoang. Dân chúng lẩn tránh Giải Phóng. V́ Giải Phóng đi tới đâu phi cơ đại bác đến đó.

    Tôi đi qua những làng mà trong kháng chiến tôi từng đến. An Thành, Thành Thới, An Thới, An Định, B́nh Khánh, Phước Hiệp rồi Tân Trung.

    Thời kháng chiến tôi đóng vai tṛ cán bộ tuyên truyền, lúc đó mới mười bảy tuổi mà hăng vô cùng, nói chuyện trước đồng bào cứ tưởng ḿnh là đại diễn giả, v́ luôn luôn được vỗ tay. Tôi học nghệ thuật diễn thuyết từ trại huấn luyện của Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh của các anh Mạch Văn Tư, Trần Bá Hậu, Nguyễn Duy Hưng (cậu tôi). Bước chân lên tỉnh nhà th́ tôi nhớ ngay đến các vị này, những người thầy chính trị và nghệ thuật đầu tiên của tôi. Không biết bây giờ họ ở đâu. Từ ngày Le Roy chiếm toàn tỉnh Bến Tre, dân tôi lưu lạc xuống miền Tây tới bây giờ tôi không c̣n nghe ai nhắc nhở tới họ nữa.

    Những trang sử vẻ vang của tỉnh nhà đă được viết thêm nữa chăng? Tôi thấy niềm vui được trở lại quê hương thật là vô tận. Tôi nhớ những đồng hương bây giờ c̣n kẹt ở lại ngoài Bắc, nôn nả muốn về mà không được về , hoặc không về được.
    Hai năm như một giấc chiêm bao dài vô tận. Hiện lên trong tôi h́nh dáng xơ xác của ông chủ tịch tỉnh Bến Tre: ông Đốc Huệ ở Giồng Trôm. Khi biết tôi sắp vô Trường Sơn, ông khóc và bảo: “Tao chắc nằm lạ̣i ngoài.”
    Đi mấy ngày liền, gặp cán bộ cũng đông trên đường dây, nhưng không có một người quen. H́nh như không ai c̣n sống. Lớp chết đạn bom lớp tù tộ̣i, lớp chết trên đường về.

    Thôi, được về tới đây là hạnh phúc rồi !

    Khi anh giao liên dắt đoàn khách đi ngang ngă tư Cái Quao th́ tôi nhớ thời đi học Mỏ Cày vô cùng. Những hàng me ngày xưa không c̣n. Thằng bạn học cũ không biết bây giờ ở đâu? Không thấy nó đi kháng chiến. Từ đây mà lên Mỏ Cày có sáu cây số, thế mà không đi được.
    Đi một quăng nữa th́ tới chợ Cái Quao. Anh giao liên bảo đây là cái chợ Giải Phóng nhưng không ai dám tới đây mua bán ǵ. Chỉ vài ba mái lá xiêu vẹo, bên mấy cây me cháy nám đen và nhựa xám napalm dính đầy cành. Khách định ghé lại mua dăm món đồ dùng nhưng giao liên muốn bảo vệ khách nên giục đi mau.

    Đây là mảnh đất Giải Phóng nằm trong cái diện tích của Mặt Trận Giải Phóng kiểm soát đây chăng? Suốt trên đường đi tôi không thấy cái nhà nào c̣n nguyên. Những nhà giàu bị phá hoại thời trước không dựng lại được đă đành, nhà mới cất cũng không có, nhất là nhà vách gạch, nền đúc. Dân ḿnh mạt rệp luôn từ sau 45 không ai c̣n có thể cất loại nhà đó nữa.

    Đi ngang qua B́nh Khánh, tới nhà ông Đỗ Phát Quan, nghị sĩ Quốc Hội, nhớ nhà ông huyện Nghĩa và ông Chủ Xạ, những ngôi nhà vĩ đại nhất trong vùng mà ngày xưa tôi có đến chơi với con cháu của họ bạn học trường quận với tôi. Tất cả đều chỉ c̣n trơ lại những cái nền.
    Trong kháng chiến , Việt Minh phá nát, bây giờ Giải Phóng chui vào đống gạch vụn để trốn. Ngày xưa khi anh Mạch Văn Tư lên Thanh Niên Cứu Quốc Nam Bộ, anh Cao Thái Tôn lên thay th́ cơ quan Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh dời về đây, đóng muôn năm trong vùng này để anh bào chế thuốc Nam bán lấy tiền nuôi cơ quan. Bây giờ tôi không t́m thấy vùng đất đó nữa.

    Đúng là một cuộc bể dâu.
    Qua B́nh Khánh đến Phước Hiệp. Ở đây có thằng bạn học trường quận, nghe nói nay nó làm tới tỉnh ủy. Anh nó là Xôi từng là cán bộ Thanh Niên Cứu Quốc, đi tập kết nhưng tôi không gặp.

    Qua hết Phước Hiệp đến Tân Trung. Tân Trung là làng cuối cùng trước khi tôi đặt bước chân lên quê ngoại. Đây là một làng nhỏ nhưng lại có nhiều người làm quan. Bước chân tới đây, người tôi gặp đầu tiên là một nàng độ chừng hai mươi tuổi. Tôi nhận ra ngay và kêu đúng tên.

    Hồi đi học trường quận tôi ăn trọ một nhà gần chợ, th́ cô bé mới biết đi lẩm đẩm. Hai mươi mấy năm qua… bây giờ tôi vẫn nhận ra một cách dễ dàng. Cô bé rất ngạc nhiên. Tôi bèn kể lai lịch cho cô nghe. Cô càng ngạc nhiên hơn nữa. Tôi hỏi thăm cha mẹ cô th́ mới hay ông bà đă qua đời. Hai mươi năm dù không có chiến tranh th́ cuộc đời cũng thay đổi nhiều , nữa là chiến tranh liên tục. Những con đường cái ngày xưa tôi đi không c̣n nữa. Tôi đi trên bờ ranh, trên lối ṃn, nhảy mương và lội ruộng.

    Đến trạm Giồng Cui th́ Tư Mô ở lại. Đây là mé sông Hàm Luông, một ngánh sông Cửu Long chảy qua tỉnh Bến Tre đổ ra biển. Trong ngôi cḥi xơ xác ở ven sông, Tư Mô trỏ đường nước cuồn cuộn chảy mà lắc đầu:

    – Tôi lại phải qua sông Cửu Long lần nữa.

    – Tôi ghé lại thăm nhà ít ngày rồi qua sau. Tôi phải qua tŕnh giấy giới thiệu của R cho tỉnh.

    – Thôi chú đi về nhà nhé. Gặp lại gia đ́nh xem sao. Gởi lời tôi thăm già Hưng.

    Chúng tôi bắt tay nhau sơ sịa nhưng ḷng thật ngậm ngùi. Tư Mô nh́n theo tôi bảo:

    – Rồi ḿnh sẽ gặp nhau, để bàn kế hoạch sáng tác.

    Ven sông là rừng rậm rạp không nhà cửa. Ngày xưa bọn ăn trộm trâu ở những làng Minh Đức, Hương Mỹ, Cẩm Sơn đều đem trâu ra đây giấu để sau đó làm thịt hoặc bán cho bọn lái ở bên Cù Lao Ốc. Người chủ bị mất trâu thường t́m được ở đây những tấm da.

    Bây giờ cách mạng dùng dăy đất này để làm căn cứ. Vô h́nh trung cách mạng gần với bọn trộm cướp hoặc đi trùng dấu của chúng nó.
    Từ mé sông vào đến giữa làng tôi phải đi trên một con đường vắng teo, rợn người. Mỗi bước chân đi như dẫm lên một kỷ niệm, mỗi hơi thở hít vào như nghe những ngày xưa làm rộn rực cả ḷng. Hai bên đường không c̣n nhà cửa.
    Dân tản ra ngoài đồng ở rải rác xa xa một cái nhà. Do đó ít khi tới lui và cũng do đó không c̣n t́nh lân xóm nữa. Ngay cả sự đi lại b́nh thường cũng không c̣n. Hễ ra đường là người ta dớn dác, hối hả như sợ việc không may xảy ra cho ḿnh.

    Tôi đi một chập lâu th́ đến một gân đường phóng qua ruộng về phía Cái Quao. Tôi sực nhớ ra đây là lộ Thợ Điếc. Ngày trước khi ở cơ quan Thanh Niên về thăm nhà tôi thường đi đường này. Nó rộng lớn xe ḅ đi được, bây giờ chỉ là một bờ ranh. Cách đó không xa là ngă ba Tân Trung. Ở đây đă từng xảy ra một trận đánh phục kích của phân đội Nguyễn Thái Học, giết hai Pháp, ba Việt gian. Vậy mà bản tin in trên tờ thông tin tỉnh tôi đă chép lại từng chữ một để đi tuyên truyền.

    Những cây c̣ng sum suê hai bên đường từng mang những thông cáo cách mạng ra lệnh bất hợp tác với giặc Pháp, kư tên chi đội trưởng chi đội 19 Đồng Văn Cống.

    Tất cả đều không c̣n. Thời oanh liệt của dân vùng này đă biến mất. Cỏ cây như ngậm ngùi trong vắng lặng mênh mông. Lâu lâu mới nghe một tiếng gà đơn độc như nhắc cho tôi rằng trong cái chết vẫn c̣n sự sống.

    Ngày xưa ở tại ngă ba này có nhà xe ngựa của ông Ba Đệ. Mỗi lần tôi từ nhà ra thăm ngoại tôi th́ tôi thường được đi cùng cậu tôi lên thăm bà cụ ngoại tôi trên làng Cẩm Sơn. Tôi chỉ phải đi bộ một khúc ngắn từ nhà lên đến đây, rồi ngồi xe ngựa chạy toong toong trên đường đá đỏ. Chỉ chừng bốn cây số thôi nhưng quả là một cuộc du lịch kỳ thú.
    Bà cụ ngoại tôi đă tám mươi tuổi nhưng c̣n đọc được chữ mà không mang kiếng. Bao giờ tôi lên thăm cụ cũng cho tôi ít nhất là một đồng bạc trắng hoặc năm, sáu đồng hai mươi xu gọi là “góc tư.” Tôi túm vào khăn mù-soa xoắn lại và cầm bo bo trong tay. Với số tiền to lớn đó , tôi và cậu tôi thừa sức thuê một cỗ xe ngựa khác về nhà.

    Gần ngă ba, ở phía trong vườn là nhà dượng tôi. Hồi đó ông làm thôn trưởng. Tôi khéo léo hỏi ḍ anh giao liên th́ được biết hiện giờ ông đang làm cai tổng, gọi là Tổng Cường. Nhưng tôi không nôn nao v́ tôi có hai mươi năm thâm niên cách mạng. Nó đủ bảo đảm cho lập trường của tôi. Tuy vậy tôi cũng tự nhủ thầm: Sao người thân của ḿnh mà ḿnh thấy xa cách ?

    Càng đi vào mảnh đất quê hương yêu dấu tôi càng ngẩn ngơ. Không c̣n ǵ cả. Cả ngôi nhà thờ đồ sộ ngày xưa tôi vẫn thường đến đọc kinh cũng đă biến mất. Cách đó không xa là hai cái ḷ rèn ở ngay đầu cầu gọi là Cầu Vĩ bắc ngang qua rạch Tân Huề. Hồi cách mạng mới nổi lên, hai cái ḷ rèn này đă sản xuất vô số dao găm, phi tiêu, đoản kiếm cho dân quân cách mạng. Bây giờ cũng không c̣n thấy nữa.

    Tôi phải khó khăn lắm mới t́m được lối đi . Ở đầu cầu này năm 1946 anh Hoàng Trọng Liễn, một cán bộ xuất sắc của Thanh Niên Cứu Quốc quận Mỏ Cày, em ruột của giáo sư Hoàng Ngọc Bích đă bị Pháp đuổi bắn chết. Cách đó không xa , là nhà của ông Lâm Thiên Tứ, một đại địa chủ trong vùng cũng đă bị tên đội Định ở bốt Cầu Mống bắt cùng với người con trai là Lâm Thiên Trường đem về chợ Cầu Mống trói vào gốc cây bắn chết và không cho gia đ́nh lấy xác. . .

    Những cái chết vô cùng oanh liệt ấy đă mở đường cho cách mạng tiến lên. Tôi đă rời xa con đường đó từ thời thiếu nhi đến bây giờ mới quay về được. Bao nhiêu kỷ niệm ấu thơ lẫn kỷ niệm kháng chiến bừng dậy trong đầu. Chân run rẩy bước nhanh, mắt phóng nh́n bốn phía vườn hoang. Không một bóng người thấp thoáng. Ngôi chợ làng không c̣n một cửa tiệm nào. Tất cả đều hoang tàn lạnh lẽo. Ngôi chợ đầy kỷ niệm ấu thơ của tôi chính là ngôi chợ Tân Hương này.

    Ở đây có ông Chệt già tên là Thầy Thẹo. Ông là người bạn thân của tôi và cậu tôi. Ông lùn tịt, có cặp mắt kèm nhèm ti hí như không bao giờ mở rộng ra nhưng không bao giờ để lọt một đồng xu hay một hạt đậu. Cái đầu của ông trông như một chiếc gáo dừa gọt nhẵn, c̣n cái trán mang những nếp nhăn như một mảnh ruộng bừa và ở giữa có một vết cắt to bằng trái ớt sừng trâu dựng đứng.
    Ông vừa bán tạp hóa lạ̣i vừa bắt mạch hốt thuốc Bắc. Những kệ tủ của ông đen đúa dơ bẩn và cũ x́ chứng tỏ rằng ông đến đây lập nghiệp đă lâu. Vừa mang thẹ̣o lại vừa hốt thuốc Bắc, nên ông được người ta gọi là Thầy Thẹ̣o. Hồi c̣n bé thơ, có lẽ không ngày nào là tôi không đến chợ này. Đi mua nước mắm dầu lửa, mua đậu phộng, đậu xanh, mua nhang, đèn cầy, đặc biệt là giấy bạ̣ch và nhợ̣ để thả diều. Ở chợ cũng có nhiều tiệ̣m khác, nhưng tôi và cậ̣u tôi chỉ đến tiệm Thầy Thẹ̣o.

    Mỗi lần thấy tôi, ông đều xoa đầu khen đáo để. Bất cứ tôi mua ǵ ông cũng bán rẻ hơn người khác, và lần nào tôi cũng được ông thưởng cho một cục kẹo dừa, tôi lộ̣t ra ngay ngậ̣m về đường.
    Ở kế tiệm Thầy Thẹo là tiệm của một ông Chệt trẻ , hiệu là Anh Kư. Không biết tại sao có lần tiệm này phát cháy , nhưng nhờ ở gần mé sông nên chữa lửa dễ dàng. Nhà lồng chợ, nhà việc, bến sông đều rất thân mến đối với tôi. Những buổi sáng đang ngủ bỗng nghe trống và phèng la văng vẳng, tôi và cậu tôi vùng dậy vừa dụi mắt vừa chạy sang chợ. Biết bao nhiêu tṛ mị thuật kỳ thú , tôi được xem ở ngôi chợ làng này.

    Một lần tôi được xem gánh Tiểu Lực Sĩ. Tiểu Lực Sĩ không làm tṛ mà chỉ biểu diễn bắp thịt gọi là luyện nội công. Ông hót bụng vô và đưa tay chẹn ngang eo ếch , th́ những đầu ngón tay vừa đụng nhau. Ông hít thở ph́nh ngực rồi vận chuyển bắp thịt con chuột chạy ra phần trước của cánh tay, rồi cho nó chạy trở lại chỗ cũ. Xong lại chuyển vận bắp thịt ngực, làm cặp vú vun lên như vú đàn bà và nhúc nhích. Cả bọn con nít lẫn người lớn đều cười khoái trá.

    Nhưng chưa hết, ông c̣n bẻ sắt. Những cọng sắt dài hai tấc to bằng ngón tay út được ông cầm lên và bóp cong lại thành h́nh chữ U rồi đưa cho mọi người xem có phải là sắt thiệt hay không.
    Ông lại c̣n bịt vải một đầu que sắt rồi đút vào răng, nạy cong rồi bóp, ném xuống đất nghe leng keng. Ông Tiểu Lực Sĩ c̣n cho biết ở Vĩnh Long ông đă từng nằm trên đường cho chiếc xe hơi chở ba mươi người cán ngang ngực ông. Để chứng tỏ phần nào về sức chịu ghê gớm của bộ ngực, Tiểu Lực Sĩ dùng một thanh sắt dẹp đập liên tiếp năm, sáu phát vào ngực làm cho thanh sắt cong ṿng.

    Những hồi trống chiêng của những gánh Sơn Đông Măi Vơ ngày xưa như c̣n vang đâu đây hay trong ḷng tôi. Cứ mỗi bước chân đi .... tôi lại như bắt gặp một kỷ niệm ngày xưa hiện về. Mặt đất không c̣n ǵ nữa ngoài cỏ rậm và những hố bom, vết đạn, nhưng ḷng tôi cứ tươi non như một tàu lá chuối xanh. Tôi bắt gặp lại Tôi vài chục năm trước.

    Chiếc cầu sắt gần chợ vẫn c̣n đứng đó như bộ xương con khủng long ngă gục xiêu vẹo. Nhịp giữa bị cách mạng đánh đứt ngang hồi đầu thời kỳ chống Pháp nay được thay thế bằng một thân cây dừa cũng mang nhiều vết đạn. Ngày xưa ở dốc cầu này có một bà cụ ngồi bán những trầu cau , vôi , thuốc , bánh ít , bánh tét trong một cái quán nghèo nàn.

    Tôi không bao giờ chú ư hoặc ghé lại đây mua bất cứ món ǵ, nhưng bây giờ chiếc quán và bà cụ lại hiện rơ lên trong đầu tôi. Giá chiếc quán c̣n đây tôi sẽ ghé lại mua bánh ăn và xin nước uống.

    Cỏ mọc lên quá lưng quần, tôi phải đưa tay rẽ lấy lối. Không có ai lai văng quanh đây. Tôi như con trâu bị kẻ trộm mang đi xa .... sút dây trở về chuồng cũ, nên vẫn c̣n nhớ đường. Tôi phải khó khăn lắm mới đi qua nhịp cầu giữa được v́ tay vịn không c̣n nguyên. Nó đă bị một viên đạn hay một mảnh bom nào xén ngang găy ĺa c̣n nằm lung lơ, mỗi bên một khúc.

    Bên kia đầu cầu là một bụi tầm vông to um tùm che cả cái quán cóc của ông Tám Cần. Cái quán này phong phú hơn cái quán của bà cụ v́ nó nằm ở ngă ba đi về làng Hương Mỹ quê tôi. Ở đây tôi thường mua những miếng đu đủ chín hoặc dưa hấu vừa đi vừa ăn. Đây là mảnh đất tưới đầy nước mắt của tôi và có lẽ bụi tầm vông kia xanh tươi là nhờ những ḍng nước mắt đó. Mỗi lần băi trường, tôi ra nhà ngoại tôi chơi, đến lúc về, th́ ngoại tôi theo tôi đến đây, bịn rịn măi mới để tôi đi.

    Bây giờ ngôi quán kia và bụi tầm vông không c̣n để lại dấu vết ǵ ! Con đường đất nối liền hai làng Minh Đức và Hương Mỹ từng in dấu chân tôi nay đă trở thành rừng hoang. Tôi cứ đi thuộc ḷng. Tim tôi như ḥn than bừng đỏ . Sự nóng ḷng thấy lại cảnh nhà ngoại tôi làm cho tôi tuôn bờ lướt bụi bất kể gai góc.

    Tôi ra đi kháng chiến từ đây và bây giờ tôi trở lại nơi đây , như một tên cường đạo hoàn lương với tội lỗi được chính ḿnh nh́n nhận. Tôi tưởng tôi đi trên mảnh đất nào khác không phải quê hương ḿnh.

    Không c̣n nhớ ... đó là vào buổi chiều hay buổi sáng nữa. Tôi đă gặp lạ̣i ngoại tôi đứng trước một căn cḥi lụp xụp thấp lè tè như một cái chuồng vịt hẫng. Tôi kêu lên:

    “Ngoại!”


    Mai tiếp ....
  • 12-09-2018, 08:21 PM
    tran truong

    ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    – Không biết ai nằm ở đó?

    – Ở đâu ?

    – Dưới mương cau !

    – Chắc không ai thấy.

    – Có thấy cũng không làm ǵ được!

    – Không biết mùa Thu hay mùa Đông?

    – Tôi gặp thiếu ǵ “ca” như vậy ở Trường Sơn ! C̣n ác hơn nữa cơ ! Nó leo lên cây treo vơng nằm rồi đi luôn, không có ai biết.

    – Người ḿnh sống thảm mà chết cũng thảm.

    Đến chiều chúng tôi tới trạm. Đúng lúc khách sửa soạn vượt qua lộ Đông Dương. Chừng mười người. Quân dân chánh đủ hạng. Anh giao liên với một giọng không vui vẻ chút nào đứng trên một thềm nhà hoang nói:

    – Nó mới phục kích đoàn trước. Chúng tôi định cắt đường mới, nhưng t́m không ra khúc nào vắng, thành thử cứ đi đường cũ.

    Mấy ông dân chánh nhát gan ở lại muốn chờ có đường mới bớt nguy hiểm hơn sẽ đi, nhưng các cha quân sự th́ hầm hầm bảo: “Bi nhiêu bi cũng phải qua cho khỏi lộ trong đêm nay.” Thế là đi.

    Tôi ngỏ ư với Tư Mô nên nằm lại nghỉ một chuyến v́ tôi biết cái phong cách qua lộ Đông Dương từ hồi kháng chiến chống Pháp rồi. Không phải chỉ vọt qua lộ là xong đâu. Vọt qua được rồi phải đâm đầu phóng bạt mạng không c̣n nhớ tên tuổi ǵ hết, đến chân vườn mới được ngừng. Với cặp gị đầy thương tích làm sao chạy? Giao liên nghe bèn quát:

    – Các đồng chí phải đi. Chúng tôi không nhận ai ở lại trạm hết. Chúng tôi sẽ dời trạm nội đêm nay.

    Đêm tối ngửa bàn tay không thấy. Cứ ṃ mẩm mà đi như những thằng mù. Giao liên đă dặn gắt gao: không được đứt đuôi. Không kêu la hoặc làm tiếng động, không hút thuốc. Như chiến sĩ ra trận, người ngậm thẻ, ngựa không đeo lạc. Cứ đi một chốc lại được lệnh ngừng. Hoặc ngồi xuống. Đây có lẽ là ấp chiến lược. Nên nhà nào cũng treo đèn trước cửa đề pḥng “ăn trộm.” Thỉnh thoảng lại nghe tiếng mơ cốc cốc, không biết là mơ của ai ? Đánh để làm ǵ .

    Đi cà lắc cà lắc như vậy cho tới khuya th́ được lệnh:

    – Chuẩn bị !

    Chỉ một tiếng đó thôi cũng làm cho tôi nổi da gà. Qua lộ bạc đầu. Qua cầu giảm kỷ là đây ! Nh́n ra phía trước thấy một làn gân đen vắt ngang nền trời xám xịt th́ biết đó là cái tử điểm ḿnh phải vượt qua: Lộ Đông Dương.

    Chỉ qua một lần thôi mà đă run đến phát rét c̣n giao liên th́ đi ra đi vào gần như hằng ngày. Đụng phục kích đưa ngực hứng đạn là cái chắc. Kháng chiến thành công, giao liên lùi vào bóng tối. Chỉ một vài nhạc sĩ nhớ tới họ thôi. Thời kháng Pháp, nhạc sĩ Hoàng Lưu có làm một bài “Anh Chín Giao Liên” rất hay:

    Ai có đến Trường Thành (Bà Đầm) có qua Cái Tắc (Thát Lác) đường về Đông Sơn (Long Nia).
    Thấy anh Chín liên lạc người ôm ốm đen đen, độ hai mươi ngoài đầu hớt chải cao.
    Mấy năm trời kháng chiến, gian khổ ḷng không nao.
    Mấy năm trời kháng chiến, anh dốc ḷng thi đua.
    Đêm tối gió mưa, trên chiếc xuồng ba lá
    Đầy công văn, anh chống, anh chèo, anh hát, anh ḥ
    Ngập t́nh yêu nước non
    Bàn tay anh chai ngắt, anh giết hết quân thù
    Mặt mày anh sạm nắng, cả đồng bào yêu anh
    Kia bốt, kia đồn, trầm chiếc thân cô đơn
    Vượt lộ băng ngàn, . . .


    Ngày xưa con lộ này không đến nỗi nguy hiểm như bây giờ. Thời đó, c̣n trẻ tuổi, tôi coi mỗi lần vượt lộ là một lần lập chiến công. Tôi đă từng qua lộ Cầu Trắng, từng đẩy xuồng chui qua cầu B́nh Thân (cũng là tuyến lộ Đông Dương) tuy có nguy hiểm, nhưng vui vui. Bây giờ th́ không. V́ tủy trong xương sống đă cạn, đầu gối đă khô chất nhờn, nhất là vừa qua Đồng Chó Ngáp.
    Xe trên lộ chạy không ngớt. Xe ở đâu mà dữ vậy? Cứ chiếc này qua, chiếc kia tới, đèn pha cứ vượt tới sáng ḷa trước mặt. Ngồi quan sát mà đái trong quần hồi nào không hay.

    Bỗng được lệnh tiến lên. Đám người nhổm dậy đi kḥm kḥm. Đúng là một lũ ăn trộm. Trên Trường Sơn th́ thay tên đổi họ, xuống đồng bằng th́ đi ŕnh ṃ ban đêm. Giao liên không c̣n ra lệnh nữa. Cứ sờ vào lưng người trước, hễ thấy họ đi th́ đi, họ dừng th́ dừng. Gốc rạ khua rào rào dưới chân.

    Dế gáy ren ren trong những mô đất. Bờ cỏ đă ướt sương. Mạng ai nấy lo, hồn ai nấy giữ. Thấy người trước vọt chạy, tôi cũng phóng theo. Tôi trườn lên bờ và phóng chừng bốn, năm bước. Gan bàn chân chưa kịp có cảm giác ấm lạnh dường nào th́ đă tới bên kia, rồi nhào xuống ruộng. Chẳng ngờ chạy được ít bước th́ súng nổ.

    Cái lô cốt ở gần đó bắn vét dọc ven lộ. Đạn đi như tàn đuốc. Tôi đang rối loạn thần kinh th́ có tiếng kêu ở ven bờ: “Chú Hai.” Tôi quay lại. Trong ánh sáng mờ mờ, tôi thấy Tư Mô đang ở dưới mương. Không biết anh thấy không xong nhảy xuống đó để tránh đạn và kêu tôi nhảy xuống cho chắc ăn, hay anh trật chân té xuống mương, nhưng dù thế nào tôi cũng như cái máy đang chạy không “phanh” lại được. Tôi chạy thẳng một mạch vô vườn. Cũng may, lính ở lô cốt chỉ bắn chứ không đuổi theo. Nếu nó đuổi theo th́ nguy to.

    Độ gần sáng tôi mới gặp lại Tư Mô.

    Tôi hỏi:

    – Anh xuống mương làm ǵ ?

    – Tôi bị lọt xuống đó. Tôi đưa tay cho chú kéo lên mà chú chạy tuốt. Bộ không thấy tôi sao ?

    – Có thấy chớ. Nhưng tôi tưởng anh kêu tôi xuống để tránh đạn.

    – Tôi không thấy đường nên nhảy xuống đó. Bị bông súng quấn lên không được.

    – Tôi hoảng quá. Đâu c̣n hồn phách ǵ mà nghĩ tới việc cứu anh.

    Hai anh em ṃ mẫm đi bậy trong xóm. Té ra giao liên phía bên kia mép lộ không có sang qua bên này. Anh ta dắt khách ra gần đến đường, chỉ hướng rồi xua khách chạy qua. Mạnh ai nấy chạy đến chân vườn phía bên này th́ có người rước. Bây giờ lại không có ai rước cả. Có lẽ nghe súng, anh ta lẩn trốn ở đâu đây ?

    – Đạn nó bắn rớt trước mặt nghe ớn quá, chú.

    – Tôi đâu có để ư ǵ. Cứ chạy thả ga thôi.

    – Coi có mất giống ǵ không ?

    – Kệ nó, mất ǵ mất, miễn ḿnh c̣n th́ thôi.

    Cũng may, chập sau anh giao liên tới gom chúng tôi lại rồi dắt đi. Vừa đi, Tư Mô nói:

    – Tử sanh hữu mạng thiệt chú ạ!

    – Sao vậy?

    – Nếu ḿnh chậm chân th́ bị nó bắn vét rồi . Anh dừng lại rỉ tai tôi :

    – Chắc có vài cậu “nằm đường.”

    Chiều hôm đó đến bờ sông Cửu Long. Xuồng đă đến đây đậu sẵn hồi nào không rơ. Máy đuôi tôm hẳn hoi. Nước lớn ngập mé bờ. Nước đỏ au, cuồn cuộn chảy. Những giề lục b́nh trôi phăng phăng như những bầy thủy quái sút xiềng trồi lên mặt nước đi phá phách dân gian.
    Tôi bỗng nhận ra một anh bạn quen. Phát ! Phát ở xưởng phim Hà Nội. Tội nghiệp nó không phải người quay phim, không phải đạo diễn cũng không phải diễn viên xi-nê. Nó chỉ là thằng quản lư lo cơm áo gạo tiền cho đoàn quay phim mỗi khi đi quay bên ngoài. Vậy đưa nó về làm ǵ, tôi cũng không hiểu nổi.

    Mọi người đă ngồi dưới xuồng chờ nổ máy, nhưng hắn cứ đứng chết trân trên bờ. Anh giao liên thúc giục cách mấy hắn cũng không nhúc nhích. Trông nét mặt th́ biết hắn sợ. Hắn chưa lấy lại tinh thần v́ chết hụt đêm qua.

    Cái sợ của nó lây sang tôi. Anh giao liên hơi cáu trước thái độ của Phát:

    – Nếu đồng chí không đi th́ đồng chí cứ ở lại một ḿnh, tôi không chịu trách nhiệm.

    Phát đáp không chút suy nghĩ:

    – Đồng chí cứ đi !

    Thấy t́nh thế gay go, tôi bước lên bờ.

    – Thôi đi xuống ông nội ơi ! Làm ǵ mà sọc dưa vậy?

    – Ai đi cứ đi tôi ở lại chuyến sau.

    Hắn đi tới miền Tây. Tôi biết vậy. Từ đây về đó nếu không may th́ bỏ xác dọc đường như chơi. Càng về đồng bằng càng lội vào gai góc. Lúc nào cũng thấy cái chết chờn vờn trước mặt. Khách dưới xuồng mỗi người một tiếng, kẻ th́ thúc giục, người lại chê bai nhưng Phát không lay chuyển. Đang dang ca bỗng có tiếng máy x́nh xịch trên sông càng lúc càng gần. Anh giao liên quát:

    – Ho bo, hô bo !

    Mọi người ngơ ngác. Các ông cán mùa Thu có lẽ không biết hô bo là cái ǵ, nhưng thấy mấy người kia nhảy lên bờ th́ cũng nhảy theo và chạy tản vô vườn. Chập sau, tiếng máy xa dần. Anh giao liên mặt mày cắt không được hột máu, lắp bắp:

    – Nó đi tuần sông đó !

    Tư Mô hỏi:

    – Nó đi thường xuyên hay lâu lâu mới đi, đồng chí?

    – Không chừng, không đổi ǵ ! Nó muốn đi th́ nó đi.

    Một ông cán đeo K54 hỏi:

    – Không qui luật ǵ hết à?

    – Qui rùa ǵ đâu !

    – Không nắm được qui luật mà hành quân th́ ớn quá !

    – Nắm ǵ được mà nắm ?

    – Vậy cứ đi liều à?

    – Liều không liều, nhưng chắc th́ không chắc.

    – Trời đất! ông cán quân sự kêu lên :

    – Đi vậy khác ǵ chỉ mành treo chuông. Nếu ông kia không dùng dằng, ḿnh qua sông th́ đụng rồi.

    Anh giao liên nói tỉnh bơ:

    – Th́ vậy thôi !

    – Vậy sao được đồng chí !

    – Hô bo nó chạy lướt trên mặt nước nhanh như máy bay. Nó tới ḿnh không có né kịp.

    Tư Mô nói:

    – Nó vừa qua, ḿnh tém đuôi nó được không đồng chí ?

    – Tém th́ tém. Cái ǵ cũng may rủi hết.

    – Không có ai làm hiệu ở ngoài sông à?

    – Hiệu ǵ mà hiệu. Nó núp trong những lùm bần rậm, dùng ống ḍm canh chừng mà. Ḿnh lú ra là nó chơi. Có lần nó quào luôn một xuồng lớp bắt sống lớp chết. Ư mà thôi, nói tới nói lui tôi cũng nhợn quá ! Có đi th́ xuống xuồng. Ăn thua chỉ mười lăm phút thôi !

    Vâng! Mười lăm phút đó có phép làm cho đám ăn trộm này hăy c̣n là một đám ma bùn trên dương thế hay thành một lũ quỉ dưới đáy sông. Cuộc sống như treo dưới lưỡi gươm máy.

    Hồi kháng chiến, con sông này cũng đă bao phen nhuộm máu những người cán bộ lưu động: Bác sĩ Nguyễn Thiện Thành đă từng bị tàu Pháp bắn ch́m ghe trên sông này. Ông ta đeo be ghe. Tàu tới. Một tên Pháp giơ súng định bắn. Ông la lên: “Tôi là bác sĩ.” Tên Pháp ngừng tay và vớt ông lên đem về thành. Sau đó ông lại lén trở ra khu chống Pháp.

    Cuối cùng rồi chiếc đuôi tôm của giao liên vẫn chở khách tách bến. Không ai nói một lời nào. Tôi ngồi sau lưng Tư Mô nh́n thấy nét lo âu khủng khiếp trên nét mặt anh. Tấm lưng c̣m cơi của anh phập phồng. Chiếc cần cổ teo tóp của anh rụt xuống. Hai tay giăng ra nắm con ghe. Không ai nói ǵ. Mắt trố ra nh́n, dáo dác.

    Có lẽ không ai trông thấy ǵ ngoài những cây bần ngâm ḿnh dưới nước. Máy chạy êm ru. Xuồng từ trong khém đâm ra sông rộng. Anh giao liên bảo:

    – Mấy đồng chí ngồi trước ngó sang phải, mấy đồng chí ngồi sau ngó sang trái. Hễ thấy nước tỏa trắng đó là hô bo th́ cho tôi hay ngay. Không ai được lao chao. Chờ lệnh tôi.

    Anh ta chỉ lo việc lái xuồng. Ḍng sông hiện ra trước mặt, đỏ như pha máu.

    Ai đă từng đi qua sông Cửu Long Giang
    Cửu Long Giang sông trào nước xoáy
    Ai đă từng nghe tiếng tiểu đoàn
    Tiếng tiểu đoàn ba trăm lẻ bảy

    Mọi người mặc quần tiều cởi trần trong tư thế nhảy xuống sông lặn. Bao nhiêu dũng khí của thời kháng Pháp bị rơi rớt trên Đồng Chó Ngáp cả rồi. Tôi nh́n mút mắt. Chỉ thấy những chiếc ghe buôn trên sông. Ước ǵ ḿnh được đi thảnh thơi như họ.

    Tôi nói:

    – Chắc nó đi thẳng rồi đồng chí !

    Anh giao liên nói:

    – Nếu nó đi thẳng th́ nói làm chi. Sợ nó quay lại hoặc có chiếc sau đi tới.

    Chiếc xuồng vẫn nghếch mũi phóng sang bờ bên kia. Không xa lắm. Hàng bần ven sông hiện ra càng lúc càng rơ nét. Trong cái màu xanh kia đang ẩn núp những họng súng, có thể lắm. Chúng thừa biết chẳng có ghe xuồng nào đi như vậy. Chúng vừa uống bia với tôm khô vừa chờ chúng tôi ra giữa sông mới xả súng bắn rồi chạy hô bo tới xách ót từng tên lên.

    Tôi là bác sĩ . Tiếng la của bác sĩ Thành vang lên trong tâm khảm tôi. Bỗng anh giao liên chửi thề. Tôi không biết chuyện ǵ. Th́ ra máy hỏng. Cái đuôi tôm đang quay như gió bỗng chậm lại rồi ngừng hẳn như con cá bị chặt đuôi. Một luồng gió lạnh buốt tâm tư chạy khắp đoàn khách. Anh giao liên quát:

    – Lấy dầm bơi ! Rồi bật đuôi tôm lên quay ngược gác ra phía trước.

    Anh đóng cột chèo và tra chèo vào trong lúc đám khách quơ những cây bụp lá lót dưới ghe làm dầm bơi lia lịa. Chiếc xuồng loay hoay một lúc rồi tiếp tục trườn tới với tốc độ rùa ḅ. Sóng bắt đầu vỗ mạnh vào mạn xuồng v́ đă ra giữa ḍng nước xoáy. Thằng Phát ngồi chết trân. Hai tay nó ôm gối, đầu nó gục xuống không muốn nh́n ǵ hết. Nó lâm râm khấn vái. Không nghe rơ nó kêu ai phù hộ: Chúa, Phật, hay đức Huỳnh Giáo Chủ.
    Có lẽ đây là Vương quốc của Ḥa Hảo. Hồi 1948 tôi theo bộ đội vượt sông này ở khúc Cần Thơ để xuống miền Tây và bị bộ đội Ḥa Hảo chận đánh ở Bù Hút. Vị đại đội trưởng bị dân làng chém chết bằng dao trong trận đó.

    Thấy ghe đi chậm mọi người tự động dùng tay bơi tiếp. Tốc độ không tăng mà chiếc ghe lại cḥng chành. Sóng tạt ướt mặt. Nước vào từng chập. Một người ngồi gần lái cầm miếng bẹ chuối tát xành xạch như một thứ nhịp trường canh hướng về cuộc sống.

    Bỗng… Rắc ùm!

    Cây chèo trái của anh giao liên găy ngang. Anh chúi lủi thay v́ nhảy trên lưng khách anh lại nhào xuống sông. Loay hoay một lúc anh mới leo lên được. Và tiếp tục chèo một chèo. Anh chửi thề:

    – Đ.m. chèo mục, xui quá ? Rồi quát :

    – Bơi riết lên !

    Những chiếc dầm tay lại thọc xuống nước. Bỗng anh giao liên kêu lên:

    – Quên rồi !

    – Quên ǵ đồng chí ? Đám khách lao nhao hỏi .

    Anh ta không đáp, buông chèo ngồi xuống giở sạp lái rút lên một chiếc thùng móp méo. Anh mở nút rồi đổ vào máy. Th́ ra cái thùng xăng. Anh quay máy ra sau rồi giật. Máy nổ. Xuồng phóng nhanh. Đám khách cười ré lên. Một người nói:

    – Trời ngó lại !

    – Nhờ tôi van vái năy giờ ! Phát bảo.

    Tính lại thử xem, đến nay, trên đường qui cố hương, tôi đă qua bao nhiêu con sông, lạch suối ? Suối sông vô danh th́ không nhớ hết. Bên cạnh đó, những con sông hữu danh th́ bây giờ nh́n lại bản đồ mới thấy: Sông Bé, Sông Đồng Nai Thượng, Đồng Nai Hạ, Vàm Cỏ Đông, Sông Cửu Long.
    Thời kháng chiến có câu: Qua sông bạc đầu, qua cầu giảm kỷ. Tôi đă qua bằng ấy con sông với phương tiện vô cùng “hiện đại” như vừa thấy ở trên, nhưng hăy c̣n khá hơn những chặng đường Trường Sơn lắm khi chết hụt. Và tôi đă từng trông thấy một anh lính miền Bắc chết đuối , đồng đội không vớt được v́ không ai biết bơi.


    Mai tiếp....
  • 11-09-2018, 08:36 PM
    tran truong

    ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    Nhưng đó là một sự cố ư. Không biết ở đây giao liên có thực sự lạc đường không? Tôi cạch hỏi, th́ anh ta bảo:

    – Ai mà biết được. Nhưng chuyến đó ba chục khách bị bắt, một số chạy bị bắn chết.

    – Rồi thằng dắt đường đi đâu?

    – Đi đâu ai biết đi đâu !

    Anh giao liên đáp cộc lốc nên tôi không dám hỏi phăng tới nữa. Chờ măi không thấy bóng dáng trạm dưới đưa khách lên, anh ta càu nhàu:

    – Kiểu này th́ bỏ mạng rồi !

    – Ở dưới bị chụp hả đồng chí?

    – Chắc là vậy rồi !

    – Mỗi khi gặp sự bất thường ở dưới không cho trên này ám hiệu ǵ hết sao đồng chí?

    – Ám ǵ được mà ám. Phải như ở bờ sông bên này với bờ sông bên kia th́ c̣n quơ khăn được c̣n đây cách nhau cả “triệu” cây số mà làm sao quơ ?

    Vài loạt cà nông nổ xa xa, làm mọi người giật ḿnh. Anh giao liên bảo:

    – Đó là cà-nông Đồng Tâm. Mỹ Tho ở hướng đó đó.

    Nghe hai tiếng Mỹ Tho tôi thấy ḿnh gần lại quê nhà vô cùng. Hồi c̣n đi học hễ về tới Mỹ Tho qua Bắc Rạch Miễu là tới đất Bên Tre rồi. Bây giờ nghe nói đó mà không biết chừng nào mới lết tới. Chờ thêm một tiếng đồng hồ nữa vẫn không thấy tăm hơi của trạm dưới, anh giao liên bảo:

    – Bà con ḿnh chuẩn bị đi trở về.

    – Đi trở về hả đồng chí ?

    – Chắc là nó không lên được rồi.

    – Chờ chút nữa xem sao đồng chí.

    – Chờ th́ được, nhưng sợ sáng ḿnh bị ḷi lưng trực thăng nó xớt, thủy phi thuyền nó gắp như c̣ gắp cá cạn.

    – Rồi mai phải trở lại à, đồng chí !

    – Chớ c̣n cách nào nữa! Ai muốn đi về th́ về. Ai muốn ở th́ cứ ở ! . Anh ta nói xẳng giọng rồi lội đi.

    Khách lao nhao một lúc rồi cũng lội theo. Ai mà dám ở lại thi gan cùng bù nốc và phi thuyền. Đi ngang chỗ gần bờ lúc năy th́ thấy chị cán bộ c̣n ở đấy. Chị đă ngồi dậy. Anh giao liên ra lệnh:

    – Đồng chí nào khỏe th́ kè chị ấy. C̣n một đồng chí vác ba lô giùm.

    Nói vậy thôi, anh ta không cần biết có ai thi hành lệnh hay không. Thi hành hay không cũng đều không phải trách nhiệm của anh ta. Tôi cũng không quan- tâm đến việc đó nữa. V́ tôi cũng là kẻ không có trách nhiệm trong việc chị đi, chị nằm hay chị chết ở đó. Cũng như Nguyệt vậy. Nàng bị cây ngă đè, nhưng các ông Bộ Chỉ Huy ở ngay cạnh đó có trách nhiệm ǵ đâu. Ngay cả một lời chia buồn cũng không mà !

    Tôi và Tư Mô lại nằm ăn hút bên bờ sông Vàm Cỏ được vài ngày th́ có lệnh đi. Lần này th́ mọi việc suông sẻ nghĩa là hai trạm trên dưới gặp nhau tại cái nền nhà hoang giữa đồng. Chúng tôi đi theo anh giao liên để về Mỹ Tho. Thay v́ lội một lần Đồng Chó Ngáp th́ chúng tôi lội hai lần. Tinh thần cách mạng càng cao, chớ sao !

    Quê hương gần hơn trên đường đất. Tôi bắt đầu thấy xóm dừa và ruộng lúa. Nhưng sức đă kiệt. Lội suốt một đêm dầm ḿnh dưới nước phèn và nước mưa. Da móp như vỏ ṣ, chân bước lên ngọn năn nhọn không c̣n biết đau. Ở Trường Sơn có một chặng , lấy đường thủy làm đường bộ suốt một ngày. Con đường đó so với cái Đồng Chó Ngáp này, không biết cái nào ác hơn.
    Tư Mô c̣n dẻo gị cứ khuyến khích tôi: “Ráng lên chú. Chút nữa ḿnh nghỉ!” "Mắt tôi đă thấy lá dừa xanh ngăn ngắt kia rồi. " Ráng lên chú. Ở ngoài đồng ḷi lưng trực thăng đến nguy lắm."

    Tôi vẫn biết vậy, nhưng cặp gị đâu c̣n nghe theo ư chí của ḿnh. C̣n chừng vài bước nữa th́ tới mé vườn, nhưng tôi không tài nào lết được. Tư Mô coi lơ mơ vậy mà khoẻ hơn tôi. Anh bảo:

    – Chú cứ đi tà tà, để tôi vô trước lo cơm nước.

    Tôi ngă khuỵu xuống ngọn năn không cần biết ǵ nữa. B́nh nước đă cạn, sức cũng kiệt theo. Những người giỏi gị đă vô tới chân vườn từ lâu. Có lẽ họ đă cơm nước xong treo vơng nghỉ ngơi. Mặc kệ họ, tôi không cần. Nhưng ngọn năn đă mẹp xuống, lưng tôi chạm nước, thứ nước phèn bị nắng nung sắc lại chạm vào da rát như muối. Có một kinh nghiệm tôi được Đăng Vi Trùng phổ biến là khi cần nghỉ ở giữa đồng th́ lấy ní-lông trải ra rồi nằm trên đó. Người ḿnh sẽ lún xuống như nằm trong cái chảo, không bị ướt.

    Nhưng tôi không c̣n nhớ cái kinh nghiệm đó nữa. Đă ngâm nước suốt đêm rồi, bây giờ thêm chút nữa cũng chả sao. Nhưng ngọn năn yếu không đủ sức giữ tôi, cả người tôi bị ngập dần trong nước. Bạn có từng thấy ai ngủ dưới nước chưa? Nếu có th́ đó là nhà văn hồi kết Xuân Vũ.

    Tôi giật ḿnh thức dậy th́ thấy nước đă ngập tới cổ. Tôi đă ngủ một giấc thần kỳ. Trời nắng chang chang. Mặt trời lên cao mú. Da thịt xốn xang lạ lùng. Tôi cố nắm gốc năn ngồi bật dậy. Tôi sực nhớ cái kinh nghiệm và rút tấm ni lông trải trên đầu ngọn năn rồi gieo ḿnh lên đó. Như vậy, cứ yên chí lớn nằm phểnh ra ở giữa đồng, ḷi lưng nguy hiểm vô cùng. Chắc không ai có gan nằm như tôi vậy. Trực thăng qua lại, nếu trông thấy th́ sà xuống xớt như diều xớt gà. Tôi lấy tay lôi quặp những mớ năn ngụy trang lấy lệ. Mặc kệ, năm ăn năm thua.

    Vừa nằm tịnh dưỡng bắp thịt được một chút th́ lại nghe nước ngập lưng. Tôi ngồi quàng dậy. Một trũng nước đục và tanh ŕnh. Tôi quyết định một cách anh dũng không thèm nghỉ nữa, cuộn ni-lông và nhắm chân vườn trực chỉ .

    Đúng là cái Đồng Chó Ngáp. Chó ngáp mà cả người cũng hả họng. Tôi cố gắng tối đa. Tôi dùng tay nhổ chân lên và nhắc tới từng bước. Nghĩa là nếu không có tay, chân lún śnh không rút lên nổi. Và cứ thế mà trở thành Đường Thế Dân sa lầy. Bằng cách đó, tôi lết tới chân vườn th́ thấy Tư Mô ngồi trên vơng. Anh lột ba lô tôi xuống lấy vơng mắc ngay cho tôi ngả lưng. Trà đă châm sẵn trong bi đông. Anh bao giờ cũng thủ một chút pḥng thân chớ không như tôi khát là nốc hết. Anh nhường vơng, rót nước cho tôi. Tôi nốc một hơi rồi bật ra vơng mặc kệ tất cả, kể cả chụp dù. Nhưng Tư Mô bảo:

    – Nghỉ chút rồi đi !

    – Hả? Tôi la lên.

    Viết tới đây tôi nhớ Hoàng Việt, người bạn đường của tôi từ Hà Nội đến R. Giữa Trường Sơn lắm lúc đi không kịp đoàn, phát cáu, anh đứng lại, gục xuống gậy quát:

    – Ê mày Xuân Vũ ! Mày bảo tụi nó đứng lại chờ tao ! Tao không phải là súc vật mà đi không cho nghỉ, nghe chưa?

    Nếu anh lội Đồng Chó Ngáp chắc anh c̣n la to hơn. V́ ở Trường Sơn tuy vất vả nhưng có chỗ ngồi và chỉ có một con đường ṃn. Muốn nghỉ th́ cứ ngồi phệt xuống mà nghỉ rồi lọ mọ cũng tới nơi, không mấy khi lạc đường. C̣n ở đồng này, ngồi không được, đứng im th́ đỉa vắt c̣n nếu lọt lại sau th́ không biết đường đi, lạc loài giữa đêm tối, thật hăi hùng.
    Tư Mô nói tiếp:

    – Chú coi quanh đây, dấu chụp dù c̣n ràng ràng!

    – Hả? Tôi lại la lên.

    – Nó chụp hôm qua !

    Tôi tỉnh người ngay. Tư Mô nói:

    – Tụi ḿnh vậy mà may. Nều đi chuyến trước th́ xuống tới đây đụng tụi nó rồi.

    Tôi đâm ra sợ sệt: Về chưa tới nơi, bỏ xác dọc đường ! Dám lắm ! Thiếu ǵ người. Tôi hỏi:

    – Giao liên đâu?

    – Nó đi trước rồi.

    – Sao kỳ vậy ?

    – Nó đă bảo mà ! Chặng đường này nó không dừng lại chờ ai hết. Vừa đến đây nó thấy dấu “chụp” nó dắt khách đi tới điểm mới.

    – Rồi ḿnh làm sao?

    – Cứ ṃ đi.

    – Tôi hết đi nổi rồi.

    – Tôi cũng vậy. Nhưng phải rời khỏi chỗ này ngay.

    – Đây là đâu?

    – Chắc là Kiến Tường hay Mỹ Tho ǵ đó. Giao liên bảo là sau khi chụp, nó thường chơi pháo. Đôi khi nó chụp phát nữa. Tôi có hỏi đường tới điểm mới.

    – Xa không?

    – Giao liên bảo là cứ thẳng vô xóm nhưng xóm không có người. Quẹo trái hai phát rồi quẹo mặt. Thấy cây cầu găy th́ lội qua sông. Trạm ở bên kia sông.

    – Sông ǵ ?

    – Ai biết sông ǵ.

    Tuy muốn nằm vạ ở đây nhưng nghe nói, tôi cũng nổi da gà, nên không dám liều nữa. Uống thêm miếng trà rồi lom khom đi tiếp. Đường đi dọc theo một bờ cau. Những cây cau tơ bị thương nát ḿnh. Vết thương c̣n mới. Một miếng giấy dán trên thân cau bên đường. Tôi đưa tay gỡ lấy đưa lên mắt đọc: “Đù má Việt Cộng,” một quăng nữa, “Đả đảo Minh Râu” và “Hoan hô thằng chủ tịch hăm con nít. “ Tư Mô hỏi:

    – Giấy ǵ đó?

    – Tụi nó chửi ḿnh !

    – Chửi ǵ ?

    Tôi làm thinh, đưa mẩu giấy cho Tư Mô. Tư Mô không cầm v́ anh đang cúi xuống nhặt một bao thuốc Ruby Queen và bảo:

    – Thuốc chú ạ ! Tụi nó hủy của quá ! Hút mới nửa bao mà ném đi !

    Vừa dứt lời lại kêu lên:

    – Cái hộp quẹt Zippo!

    – Đâu nào?

    – Ở bờ mương ḱa. Chú giỏi gị nhảy qua lấy!

    Tôi tụt ba lô nhảy phốc cái qua liền, nhưng tôi khựng lại. Bên mương kế một xác người nằm dưới nước. Sợi thắt lưng bị đạn đứt đôi máu đỏ một vùng nước. Tôi nhảy trở qua, nói cho Tư Mô nghe.

    – Tử sanh hữu mạng chú ạ !

    Tôi cứ giật ḿnh mạng ḿnh lớn lắm. Nếu ông bà không cầm chân ḿnh ở lại trạm trên th́ bây giờ ḿnh nằm ở mương cau này hoặc vô khám lớn rồi.
    Như hai thằng què cô độc, tôi và Tư Mô không biết sợ ǵ nữa, cứ đi ẩu, tới đâu tới. Xóm thôn vắng ngắt.

    – Đây có phải là Ấp Bắc không anh ?

    – Không biết.

    – Hồi ở ngoài đó tôi có nghe Nguyễn Ngọc Tấn về tận Ấp Bắc để lấy tài liệu viết, tôi nôn quá! Kế đó lại nghe Nguyễn Văn Bổng đi tận Bến Tre ḿnh.

    – Đừng có nôn ! Xuống đó rồi lo mà nhảy nai chứ nôn ǵ !

    Hai bàn chân bị củi tràm lục đâm nát như xâm mứt, giày dép tuột mất hết, chỉ c̣n hai bàn chân trơn, bước trên đất khô lởm chởm, đau thốn tới óc, nhưng phải bặm môi mà đi, ngồi ở đây một phút chết một phút.


    Mai tiếp ....
This thread has more than 10 replies. Click here to review the whole thread.

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •