Reply to Thread

Post a reply to the thread: SAIGON THUỞ ẤY ...

Your Message

Viết bằng chữ trong ô trống kết quả của năm mươi trừ hai mươi

 

Additional Options

  • Will turn www.example.com into [URL]http://www.example.com[/URL].

Topic Review (Newest First)

  • 25-05-2017, 10:35 AM
    Tran Truong

    A Thousand Tears Falling !!!

    Mấy tháng sau Tết Mậu Thân, Hải Vân thường vắng nhà, và lúc nào cũng có vẻ suy tư. Mỗi lần tôi thắc mắc hỏi nó đang lo lắng chuyện ǵ, nó nói:

    - Em lo chuyện tương lai của em, chớ em không nhớ tới con bé nào đâu, đừng có ṭ ṃ lộn xộn.

    Thằng nhỏ trả lời cộc lốc mỗi lần tôi hỏi:

    - Cưng nghĩ cái ǵ ?

    Em tôi c̣n hăm he trước, là nó sẽ không để cho gia đ́nh ngăn trở những quyết định quan trọng sắp tới của nó. Một vài lần tôi hỏi có phải Hải Vân là con trai duy nhứt trong gia đ́nh, nên có thể được miễn quân dịch nếu nó tiếp tục đi học không? Hải Vân hậm hực trả lời:

    - Không có ai được miễn phục vụ gia đ́nh, th́ làm sao ḿnh được miễn phục vụ đất nước?

    Dù Hải Vân là con, là em trong gia đ́nh, những em được mọi người kính nể v́ Hải Vân xứng đáng được như vậy. Có lần nó tâm sự với tôi:

    - Trước khúc quanh của đời người, hoàn cảnh không những thay đổi con người ḿnh, mà c̣n ảnh hưởng tới t́nh của ḿnh với cha mẹ. Chị đă quyết định cho cuộc đời chị, bây giờ chị phải giúp em. Chị phải thuyết phục má, để mà tin là em thương má, mà em cũng thương em.
    Tội nghiệp em tôi quá ! Nó bị giằng co giữa bổn phận làm con của má và bổn phận người trai yêu nước trong thời loạn ly. Một lần nó nói:

    - Trong đời, em đă có nhiều lần làm cho má vui, má hănh diện về thằng con của má. Nhưng em chỉ có một dịp làm tṛn bổn phận của người trai thôi. Bây giờ, là dịp đó tới với em rồi đó.

    Hải Vân đă quyết định gia nhập không quân. Tôi không ngạc nhiên, v́ đă nhiều lần tôi nghe em nói chuyện với John về máy bay. Em tôi ít nhắc tới người đi xa; vậy mà trong thời gian gần đây nó nghĩ hoài tới ba và anh Khôi. Có lần em nói với tôi:

    - Chừng em bay được rồi, em sẽ bỏ bom hết mấy thằng Việt Cộng ḅ từ ngoài Bắc vô đây. Vái trời cho bom của em không trúng ba với anh Khôi.

    Khi Hải Vân đang dự lớp huấn luyện ở Quang Trung, tôi được tin em được gia nhập không quân nhưng không được bay. Cũng như má, con của má tôi không người nào chịu thua hay bỏ cuộc nửa chừng. Hải Vân đi t́m con của cậu Hai Định, đại tá không quân Nguyễn Hồng Tuyển. Chúng tôi có mối ngại, là chỉ sợ anh Ba không thèm nh́n chúng tôi, v́ chúng tôi nhỏ bé, trong khi anh là một “ông lớn” trong không quân. Nhưng má tôi rầy, là chúng tôi chỉ lo sợ vẩn vơ. Má nói, anh Ba có đi đâu cũng không quên bà con gia đ́nh. Má hỏi Hải Vân, chắc chắn là muốn đi bay không, chớ đừng bồng bột, rồi mai mốt đổi ư th́ không được.

    Hải Vân nói giấc mơ làm phi công mạnh đến nỗi trong chiêm bao thấy được làm phi công, chớ không phải đó là giây phút bồng bột. Đêm đêm, nó mơ thấy nó được lái trực thăng. Nó rất thích trực thăng, nên nghiên cứu am hiểu nhiều về loại máy bay. Nghe tiếng động cơ trên trời, nó có thể đoán biết loại trực thăng nào đang bay. Nó thích được làm phi công lái Huey.

    Tôi khuyên Hải Vân đừng vội thất vọng, v́ chính tôi cũng đă từng bị cơ quan t́nh báo làm khó làm dễ. Thôi th́ đành làm sĩ quan không quân “ḅ” cũng được, không sợ chết sớm. Em không chịu, nhất quyết phải được bay.

    Biết không thể lay chuyển nổi ư muốn của Hải Vân, tôi khuyên nó nên đi t́m anh Ba Tuyển để biết nguyên nhân tại sao nó không được vô trường bay. Anh Ba Tuyển cho biết hồ sơ của Hải Vân bị An ninh quân đội giữ lại. Anh hứa anh sẽ đi gặp đại tá Nguyễn Ngọc Loan. Là con nít ke từ Cần Thơ lên, chị em tôi nào có biết ông Nguyễn Ngọc Loan là ai, nên nghe lời anh Ba. Nhắc tới An ninh quân đội, chúng tôi liền nghĩ ngay tới đại uư Trần Duy Bính. Nhưng không biết ông đă lên chức ǵ, và đổi đi đâu sau một thời gian lâu; chúng tôi dọn lên Sài g̣n, rồi ít có dịp gặp lại ông. Con của người tập kết, làm ǵ dám gặp An ninh quân đội, nếu không có chuyện dính líu tới an ninh ḿnh.

    - Ông Bính có lên đến chức ông Trời, chị cũng phải giúp em gặp ổng.

    Ḍ hỏi, chúng tôi biết ông vẫn c̣n ở Cần Thơ, và lên chức trung tá. Hải Vân vội về Cần Thơ đi t́m trung tá Bính. Ông trung tá Bính kiên nhẫn nghe em tôi tŕnh bày trường hợp của em, rồi một lần nữa, ông lại giúp con của má tôi ra khỏi cái ṿng lẩn quẩn của An ninh quân đội.

    Hải Vân được vào Không quân, được vào trường bay. Mộng của em đă thành. Cả nhà hănh diện vui lây với em, mà quên hết những hiểm nguy của người phi công trong thời chiến.

    Chuyện nước, chuyện nhà đi xong, bấy giờ đến chuyện của tôi. Ngày 20 tháng 3 năm 1968, John sẽ hết nhiệm kỳ 18 tháng ở Việt Nam. Anh muốn làm đám cưới với tôi trước khi về Mỹ. Sau nhiều đêm suy nghĩ, chuyện này nó không giản dị như chuyện một người con gái khác đi lấy chồng, v́ cưới xong tôi sẽ phải theo anh về Mỹ. Lúc đó, tôi sẽ phải xa má và các em; xa nửa ṿng trái đất. Đêm nằm, tôi hát nho nhỏ bài ru em xa lắc xa lơ: “Em ơi, con chim đa đa đậu nhánh đa đa, chồng gần không lấy, đi lấy chồng xa. Một mai cha yếu, mẹ già … Chén cơm đôi đũa, bộ kư trà ai dưng”. Hồi xưa, hát ru em như con két hát. Nhưng bây giờ nghe lại, thậ̣t là đau xót trong ḷng. Rồi ai săn sóc hai đứa em con nhỏ quá!

    Tôi đă chứng kiến cạnh chia ĺa của ba má. Má can đảm chịu đựng nuôi chúng tôi thành người. Tôi đă không rời má suốt bao nhiêu năm trời vui buồn, đầy đủ, thiếu thốn có nhau. Bây giờ tôi để má lại, đi theo một người đàn ông khác họ, khác ṇi giống, khác hết, mà đi xa cả 10 ngàn dặm: t́nh có đậm, có nồng, th́ cũng vừa thôi, chớ làm ǵ bỏ má ḿnh đi. Đâu có người đàn ông trên đời này xứng để cho tôi bỏ má tôi đi xa như vậy! Anh hết nhiệm kỳ th́ về Mỹ, c̣n tôi, t́nh tôi đối với má, với gia đ́nh, đâu có nhiệm kỳ nào hết. Nó là t́nh bất diệt mà.

    Má th́ khuyên, lớn lên ai cũng đi lấy chồng, sống gần hay xa gia đ́nh không phải là điều quan trọng để quyết định cuộc hôn nhân, mà có thương nhau đủ để dám đi xa với chồng không, mới là suy nghĩ đúng.

    Cuối cùng, tôi khuyên John nên đi trước, v́ vấn đề lư lịch của tôi vẫn c̣n rắc rối. Tôi không c̣n mặt mũi nào mà cầu viện trung tá Bính nữa. Theo tôi đoán trước, nếu John cưới tôi trước khi trở về Mỹ, anh có thể bị rắc rối với Hải quân; nhẹ cũng vĩnh viến không được bay, mà nặng th́ có thể mất chức hay bị gán lấy con gái của cán bộ Cộng sản. Giải pháp hay nhất, John trở về Mỹ, tôi sẽ t́m cách sang sau, và hẹn sẽ gặp anh ở California v́ hai chị của tôi đang ở Monterey, California.

    Chắc có bàn tay sắp đất của ông Trời, chớ làm sao mà hai người từ hai phương trời xa lạ, bỗng gặp nhau rồi hợp tánh hợp t́nh, gắn bó với nhau, rồi nên duyên chồng vợ.

    Mà khuyên tôi nên bắt đầu lo giấy tờ xuất ngoại. Đang lẽ tôi phải mừng lắm, nhưng tôi cảm thấy ḿnh tội lỗi v́ toan tính xa má khi gia đ́nh mới thoát khỏi những khó khăn, vừa mới được chút thoải mái. Hay v́ đứng trước sự rộng lượng vô biên , ḷng can đảm của má khiến tôi mủi ḷng? Tôi quyết định viết thơ cho John, huỷ bỏ cuộc hôn nhân. Tôi chỉ viết vài câu vắn tắt để anh hiểu, là tôi không thể bỏ má tôi ở lại một ḿnh. Tôi cảm ơn anh đă cho tôi biết t́nh yêu, cho tôi yêu, và cho tôi được yêu. Nếu chết tôi cũng măn nguyện, nhưng tôi chưa có chết đâu, v́ tôi phải sống cho má tôi và em tôi. Tôi mong anh thông cảm, cả hiểu giùm phong tục của gia đ́nh tôi, là quá gần gũi với mẹ ḿnh bởi v́ mẹ đă sống cô đơn với chúng tôi.

    Viết thơ xong, tôi để vô hộc tủ, không gởi đi, rồi khóc suốt một tuần. Khi có ai trong gia đ́nh hỏi tại sao khóc, tôi c̣n khóc dữ hơn nữa. Một buổi tối, đi làm về, tôi không ăn như mọi bữa, chui ngay lên giường ngủ. Má dựng tôi dậy để nói chuyện. Tôi khai ra đủ các thứ bịnh, má đều không tin, cuối cùng tôi phải theo má xuống bếp để nói chuyện. Má tôi nói mấy câu, mà tôi tan nát cả cơi ḷng:

    - Con à, cách đây mấy năm, một người bạn học của má nói là má có bông mà không có b́nh để chưng bông; nhớ câu nói đó má buồn lắm. Mấy lần con có bạn, tụi nó biết ba con đi tập kết nó sợ thấy bà. Thằng John nó khôn, nó hiểu, nó không sợ. Lấy chồng khôn, đừng lấy chồng dại, khổ thân con lắm.

    Tôi ôm mặt khóc v́ má tôi nói trúng tim đen của tôi. Hai lần bạn trai, vừa nghe tôi nói ba tôi đi tập kết, một anh cắn môi suy nghĩ, anh khác th́ khuyên đừng nhắc tới ba với anh ấy …

    - Con biết thằng John là người tốt, th́ lấy nó đi con. Con được hạnh phúc, má rnừng, má biết má làm tṛn bổn phận của người mẹ!

    Rồi ngày ra đi chờ tôi bên ngạch cửa. Hàng xóm tới chúc tôi “thượng lộ b́nh an”. Mấy ông Tàu Đại Loan chặn đường chúc tôi may mắn. Ngay cả chú Hai đạp xích lô cho tôi đi làm hàng ngày cũng nhắn nhủ: “Cô Hai đi Mỹ đừng quên tui nhen!”. Làm sao tôi quên được người chở tôi đi làm khi tôi dậy trễ. Chú phải chạy như bay cho tôi đến sở đúng giờ. Chị Mùi bán bánh ḿ thịt ở nhà tôi cũng nói: “Cô Hai đi Mỹ đừng quên bánh ḿ xá xiếu của em nhen”. Tôi làm sao quên được, bánh ḿ xá xiếu ngon nhứt đường Nguyễn Văn Sâm của chị.

    Lúc ấy tôi như cái xác không hồn. Cho đến nay, tôi không c̣n nhớ phút chia tay với má ra sao. Mỗi lần nghĩ lại buổi tiễn biệt ấy, tôi chỉ c̣n giữ lại được h́nh ảnh má bịn rịn nâng vạt áo lên quẹt mắt, rồi vội vă chạy lên lầu. Tôi cũng chỉ nhớ em tôi ngồi taxi với tôi, mà không nhớ có ai nói ǵ không. Bây giờ, hồi tưởng lại, chuyến ra đi ấy như một cuốn phim quay lẹ, không c̣n đủ chi tiết. Trên máy bay, tôi ngồi bên cạnh cửa sổi, âm thầm khóc cho đến lúc mệt th́ ngủ thiếp đi, khi bên ngoài đă tối đen như mực. Khi thức dậy, tôi ngỡ ngàng thấy đă sáng, mà máy bay vẫn c̣n bay trên những cụm mây trắng, tôi hốt hoảng nhận ra rằng tôi đă xa má và các em tôi đúng nửa ṿng trái đất.

    Hồi tôi c̣n nhỏ, ít có chuyện ǵ làm tôi sợ, trừ sợ ma, v́ ba thường kể chuyện ma hay lắm. Mỗi lần ông kể, nhiều cán bộ trẻ c̣n sợ, nói chi tôi, một đứa con nít. Có anh phải đốt đuốc để về cơ quan, có anh nhát quá, xin ngủ lại qua đêm. Rắn rết quanh nhà, ai cũng sợ, chỉ có tôi là không. Có lần tôi đă một ḿnh đập chết một con, v́ nó nuốt con gà của d́ Bảy. Vậy mà tôi rất sợ cô đơn. Giờ đây, tôi đă xa tất cả mọi người trong gia đ́nh. Tôi xa những ǵ tôi đă biết, đă quen, tŕu mến , yêu thương, gắn liền với đời tôi 23 năm qua.
    Tôi nh́n qua vai, cố h́nh dung lại những kỷ niệm đă qua mà tôi bỏ lại đằng sau bên kia bờ đại dương trong đó có gia đ́nh tôi, có dân tộc Việt Nam mến yêu, và có nơi chôn rau cắt rún của tôi. Rồi tôi thầm tự hỏi, không biết “người nhà quê lên tỉnh” này sẽ sống thế nào ở một nước mà hầu hết bà con gịng họ của tôi gọi nó là kẻ thù của dân tộc?


    Còn tiếp ...
  • 24-05-2017, 09:21 PM
    Tran Truong

    A Thousand Tears Falling !!!

    Tiếng pháo kích rền trời, không một ai biết đâu là đâu , mà có biết súng bắn từ đâu, cũng phải nằm sát đất, cũng phải chun dưới gầm ghế lánh nạn. Tôi thấy ḿnh bất lực, thấy ḿnh nhỏ nhoi như con kiến, khi nằm dưới sàn, giữa ḥn tên mũi đạn.

    - Rủi tao chết v́ pháo kích, mày phải bắt chị Thảo thường nhen. - Tôi nói nhỏ với Hải Vân.

    Má liền nạt tôi, khiến đám con nít cười khúc khích. D́ Mận nói:

    - Miệng ăn mắm ăn muối nói bậy, không nên Dung à.

    Tôi v́ sợ quá nên nói bậy nói bạ cho quên sợ. Tôi lại kêu Hải Vân: “Tụi ḿnh đi thay quần lót mới đi, rủi có chết, vô nhà xác người ta không cười ḿnh.

    D́ Dẽ giận cái miệng mắm ăn muối của tôi lắm. Các em tôi khóc thút thit, trong khi Hải Vân và tôi cứ nói lớn miệng cho đỡ sợ. Bỗng một tiếng nổ dữ dội phát ra từ bên kia của khu phố nhà tôi, cạnh rạp hát Kim Châu. Hải Vân liền ra ban công để quan sát. Má nắm áo nó lôi lại, những không kịp. Khi chạy trở lại, nó nói lớn:

    - Chưa sập hotel.

    Cách nhà tôi chừng 400 thước có cái hotel đang xây cất. Hotel này cất để cho Mỹ mướn làm BEQ cho hạ sĩ quan Mỹ.
    Người hàng xóm của chúng tôi, một ông thượng sĩ không quân, tới nhà, căn dặn chúng tôi đừng ra đường, vừa có lịnh giới nghiêm. Ali nóng ḷng muốn về chùa Bà Lai. Nó nói rằng giới nghiêm hay không nó cũng phải về để ba má nó khỏi lo, người hàng xóm c̣n nói thêm, là không phải đảo chánh, mà Việt Cộng tấn công.

    Hải Vân liền vọt miệng nói:

    - Đảo chánh sướng hơn!

    - Cái nào cũng chết dân hết, cháu ơi! - Ông hàng xóm than.
    Hải Vân nói nhỏ đủ cho tôi nghe:

    - Đảo chánh ḿnh c̣n tự do, Việt Cộng mà thắng th́ ḿnh chết.

    Tiếng súng thưa dần khi mặt trời ló dạng. Dưới đường, tiếng xe, tiếng người kêu réo nhau inh ỏi. Hàng xóm của chúng tôi phần đông là người Bắc, người Hong Kong, người Đài Loan, nhốn nháo nhưng không ai biết đi đâu, về đâu, hay lánh nạn ǵ?

    Những người sống trên cái lầu này, đi làm ở các nhà ngân hàng trên đường Hàm Nghi. Chợ Cũ, bến Chương Dương. Họ là những người sống trên đất Sài g̣n mà chiến tranh hay chánh trị không bao giờ bén mảng tới thềm nhà của họ. Họ sống trong hoa che chở của người lính Việt Nam Cộng hoà. Họ là những người có tiền , gởi con trai ở tuổi lính đi Hong Kong, đi Đài Loan, để trốn quân dịch. Họ là những người có tiền đi lính kiếng, và là những người đă một lần bỏ chạy vô Nam lánh nạn cộng sản.

    Khi tiếng súng thưa dần, có mấy người ở lâu một lên, hỏi em tôi:

    - Cậu Vân ơi, chuyện ǵ xảy ra vậy? Lại đảo chánh, phải không?

    Hải Vân cho biết là Việt Cộng đă xâm nhập trung tâm thành. Ai nấy đều sợ hăi, chạy vội về nhà, đóng kín cửa.
    Má tôi sang nhà kế bên, nhà của bà Tơ và ông Tọong để hỏi tin tức. Hết nhà tôi tám người, kéo nhau đi theo má, v́ không ai muốn ở nhà một ḿnh. Má quay lại nh́n cái đuôi dài, nở nụ cười khoan dung, rồi má cho theo má. Nhà bà Tơ chật cứng con nít. Có đứa sợ cắn vạt áo, có đứa ôm b́nh sữa khóc tức tưởi, lại có đứa cười khúc khích với Hải Vân.

    Đến gần 7 giờ sáng, phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ lên đài phát thanh báo cho dân chúng biết cộng sản đă tấn công vô thành phố Sài g̣n. Chúng tôi trở về nhà quây quần bên má. Chúng tôi dồn dập hỏi mà:

    - Bây giờ ḿnh phải làm cái ǵ?

    - Rủi Việt Cộng chun vô nhà ḿnh th́ làm sao?

    - Đóng kín cửa, khoá chặt lại, và cứ b́nh tĩnh. - Má tôi dặn đi dặn lại.

    Một lần có tiếng đại bác vọng tới, cái tủ kiếng rung rinh. Con chim cúc-cu trong cái đồng hồ chun ra kêu cúc-cu, rồi lại chun trở về.
    Thấy t́nh h́nh có mòi quan trọng, má tôi thu dọn mấy thứ quư giá cất vô cái túi bằng nhung xanh. H́nh cháu Christina, con chị Cương, h́nh ông bà ngoại tôi và cậu Năm Sắc trên bàn, h́nh má tôi chụp chung với anh Khôi, chị Kim, chị Cương gửi ra Côn Đảo cho ba tôi vào những năm 1940 đến 1945, đó là những kỷ vật quư báu của má tôi.
    Ai cũng lo, cũng sợ mà giữ hết những điều quan trọng cần thiết trong đời sống. Hải Vân nghĩ tới việc trữ nước và đồ ăn, v́ chúng tôi ở lầu ba, mỗi ngày người giữ máy bơm nước phải bơm mấy tiếng đồng hồ mới đủ cho mọi người trên lầu một và lầu hai có nước xài. Hải Vân vội đi t́m bà Hai bơm nước, nhưng bà không đi làm. Hải Vân phải lấy cưa để cưa ống khoá mới mở máy bơm được. Sau đó, nó chạy lên cả hai lầu, khuyên mọi nhà nên trữ nước. Mọi người mừng rỡ, cảm ơn “Chú Vân”.

    Việt Cộng tưởng kế hoạch tấn công trong ba ngày Tết sẽ làm tê liệt Sài g̣n, nhưng dân Sài g̣n giỏi tháo vát, nên lướt qua được những khó khăn mà chúng gây nên vào mấy ngày đó. Riêng gia đ́nh tôi, nhờ bọn chúng tôi đ̣i ăn Tết lớn, nên đồ ăn trong nhà c̣n nhiều. Nguyên món dưa hấu, chúng tôi có 10 trái. Ngoài ra, nào bánh ít, bánh tét, bánh chưng, thịt heo kho, thịt ḅ kho, ca thu kho … c̣n nguyên vẹn cả nồi. Bốn con gà cồ, c̣n nhốt trong lồng. Nếu Việt Cộng chun dưới ống cống của thành phố cả nửa tháng, dân Sài g̣n vẫn chẳng có ai chết đói.

    Chúng tôi ngồi quây quần bên nhau, b́nh tĩnh vui cẻ, Hải Vân trêu má tôi, hỏi:

    - Việt Cộng làm tiêu cái Tết của ḿnh, như vậy có phải suốt năm ḿnh bị tiêu tùng hả má?
    Má tôi cười buồn:

    - Họ làm ḿnh tiêu tùng 14 năm nay, chớ đâu đợi mùng một Tết Mậu Thân, con.

    Tôi sực nhớ là tôi phải đi làm ca chiều, từ một giờ rưỡi tới chín giờ rưỡi tối. Nhưng, vừa giới nghiêm vừa đạn bay súng nổ không biết có cô thâu ngân nào dám đến sở làm sáng nay không? Cả những người làm bếp, hầu bàn, quét dọn … chắc cũng kẹt ở nhà luôn. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ ḿnh có trách nhiệm với sở, với chủ, với khách hàng. Tôi nhớ lại hồi khách sạn Brink bị Việt Cộng đặt ḿn, có những dân sự người Mỹ không biết tuỳ cơ ứng biến, họ cứ tưởng rằng mặt trời mọc riêng cho họ.

    Dưới lầu của nhà bị ḿn, người ta chưa quét dọn xong, mà khách đă bắt tôi phải cho họ gặp ông chủ, để trách là cầu thang máy chạy chậm, máy lạnh ở pḥng ăn không đủ lạnh, nên họ vừa ăn vừa toát mồ hôi. Tôi không dám nói thẳng với họ, chỉ day qua người bạn làm cùng: “Biểu Mỹ đánh tan Việt Cộng đi, máy lạnh sẽ chạy lạnh hơn”. Không biết hôm nay mấy người Mỹ ấy sẽ nghĩ ǵ khi thấy cái chết gần kề?

    Lúc này này muốn liên lạc với bên ngoài, chỉ có điện thoại. Má không cho chúng tôi có điện thoại, v́ má nói nhà ḿnh không cần điện thoại, chỉ có con gái của má cần điện thoại để nói chuyện với con trai thôi. Rốt cuộc, nhà không có điện thoại khi có việc cần.
    Trước cửa rạp hát Kim Châu có nhà hàng Hồng Mai. Tiệm này có điện thoại. Tôi ra balcon nh́n sang nhà hàng, chờ ông chủ người Tàu nh́n lên. Ông hay nh́n lên balcon nhà tôi, v́ nhà tôi rơ đông con gái. Rồi khi ông vừa ngước nh́n lên, tôi liền hỏi to:

    - Ông chủ ơi! Điện thoại của ông xài được hông? - Tôi vừa nói vừa ra dấu.
    Ông gật đầu, vui vẻ đáp với giọng lơ lớ:

    - Giới nghiêm cô Hai à. Đi qua lộ người ta cấm mà!

    Tôi vội thay quần áo, rồi phóng qua bên kia đường. Tôi muốn hỏi xếp có cần tôi không? Nếu có, làm sao tôi có thể đến sở vào giờ giới nghiêm này? Đi khơi khơi giữa đường, quốc gia không bắn th́ Việt Cộng cũng cho phơi thây. Nếu tôi bị Việt Cộng chấm dứt cuộc đời son trẻ, chị Thảo sẽ khóc và kể là tôi đă chết cho cách mạng. Trời ơi! Nếu tôi chết, th́ tôi chỉ chết v́ miếng cơm manh áo cho gia đ́nh, v́ tinh thần trách nhiệm đối với sở làm, mà đó là sở Mỹ, chớ tôi không phải đặc công hay ǵ ráo !

    Tôi liện hệ được với ông Lugent, ông cho biết cả 150 nhân viên Việt Nam không có ai vô sở. Hiện ông và ba ông thượng sĩ Mỹ đang ở trong bếp để nấu cho tất cả các sĩ quan đang ở trong Splendid. Rồi sau đó họ sẽ làm đồ ăn gởi tới một vài nơi khác. Tôi liền đề nghị ông cho MP đến đón tôi, tôi sẵn sàng giúp một tay. Mới đầu ông tỏ vẻ ngần ngại, nhưng rồi ông đổi ư. Hoà B́nh, em tôi, c̣n đi học, chỉ làm thâu ngân viên bán thời gian trong sở tôi. Tôi hỏi em có dám đi làm với chị không? Em đáp:

    - Má cho th́ em theo chị !

    Hai chị em tôi cho má biết chúng tôi sẽ đi làm. Lúc đầu má không bằng ḷng, nhưng chúng tôi đă thuyết phục được má. Chúng tôi nói rằng tất cả 150 nhân viên người Việt không đến làm việc. Má đă dậy chị em tôi có tinh thần trách nhiệm. Chúng tôi đă học bài học ăn cây nào rào cây nấy. Chắc chắn người Mỹ đủ phương tiện đảm bảo an ninh bảo vệ cho ḿnh. Má tuy không hài ḷng mấy, nhưng cuối cùng má cho hai chị em tôi đi làm

    Khi hai người lính quân cảnh Mỹ đậu xe Jeep trước rạp hát Kim Châu, người nào cũng mặc áo giáp và mang súng. Má tôi buồn lắm, miễn cưỡng xuống bếp lấy cho chị em tôi bánh ít, rồi dặn đến đó nếu thấy “không êm” phải xin quân cảnh đưa về liền. Tôi hứa sẽ về thăm nhà, nội trong ngày hôm đó. Hai quân cảnh đưa cho chúng tôi hai cái nón sắt, và bắt chúng tôi phải cúi thật thấp, dù xe đă kéo mui kín mít.
    Xe phóng như bay trên những con đường vắng như nghĩa địa. Khoảng 10 phút, chúng tôi đến sở làm. Trước cửa sở, những bao cát chất cao từ đất lên tới nóc nhà, bên ngoài lại có thêm mấy ṿng giây kẽm gai giữ an ninh cho căn cứ. Cửa ra vào có hai quân cảnh đứng gác, ngoài súng M-16, họ đều đeo súng lục và giắt lựu đạn trên dây lưng. Trước khi vô trong, hai chị em tôi trả nón sắt cho quân cảnh.

    Ông xếp giao việc giữ két cho em tôi, c̣n tôi phải lao vào bếp để lo việc nấu ăn. Khoảng 4 giờ chiều, ông Lugent nhớ đến việc mở cửa bar, v́ có nhiều sĩ quan uống rượu trong giờ cơm. Ông đẩy tôi ra bàn rượu. Mà tôi có biết chai rượu nào với chai rượu nào đâu mà bán. Đi ngang qua chỗ Hoà B́nh ngồi giữ cash, tôi vừa cười vừa nói với em tôi:

    - Bấy giờ tao đi bán bar.

    Hai chị em tôi cười rũ rượi.
    Khi ông Lugent mở cửa bar, mấy chục sĩ quan mừng lắm, vỗ tay vang dội, rồi tràn vô. Nhưng tôi th́ lúng túng, v́ tôi đâu biết pha rượu. Ông Lugent phải chỉ dẫn giúp tôi chừng 15 phút đầu tiên. Sau đó, một ḿnh tôi phải tự lo lấy. Để công việc trôi chạy nhanh chóng mà các sĩ quan không phải chờ đợi lâu, tôi cho biết tôi chỉ có thể bán bia, rượu rum pha với coke, Gin và Tonic, rượu Whisky và rượu chát.
    Tôi yêu cầu khách hăy thật thà tự động bỏ tiền vô một cái hộp cho tôi, v́ tôi không có th́ giờ thu tiền. Ngoài việc pha rượu tôi c̣n phải vô kho lấy thêm rượu, và lấy thêm chanh, muối, nước đá … Hai chị em tôi làm việc liên miên quên cả ăn trưa; đến chiều th́ bắt đầu mệt mỏi ră rời, trong khi đó trong nhà bếp, chỉ có 4 người, mà làm công việc của 10 nhân viên.

    Buổi tối, sau khi pḥng ăn đóng cửa, đáng lẽ quân cảnh lại đưa tôi về nhà thăm má để má yên tâm, rồi sáng hôm sau đến đón chúng tôi, nhưng chúng tôi thấy việc đi về trong t́nh h́nh này rất nguy hiểm, như giỡn mặt với tử thần, nên chúng tôi xin phép má cho chúng tôi ở lại sở làm; khi t́nh h́nh bớt nguy hiểm, chúng tôi sẽ về thăm nhà. Nói vậy th́ nói, chúng tôi cũng nhớ Hải Vân. Minh Tâm lắm, nhứt là trong lúc loạn lạc này. V́ thế mỗi khi có dịp, chúng tôi lại nhờ mấy ông quân cảnh đưa xe về thăm nhà. Họ cũng chiều chị em tôi, nên sẵn sàng chở đi. Khi về thăm nhà lần thứ ba, chúng tôi kêu quân cảnh chạy chậm để chúng tôi có thể quan sát hai bên đường.
    Thật là ghê sợ, không thể tưởng tượng được! Trên đường Công Lư, từ góc Lê Lợi tới Hàm Nghi, có nhiều nhà bị trúng đạn và người chết nằm rải rác trên lề đường. Hàng cây me cũng bị đạn, có cây đổ nghiêng, có cây gẫy nhiều cành.
    Nhưng chúng tôi chú ư nhất đến hai cha con người dân An Lộc tỵ nạn lên Sài g̣n từ mấy tuần trước. Sau cuộc chiến An Lộc, gia đ́nh này gồm ba người, hai vợ chồng và đứa con gái, chạy lên Sài g̣n. Cả ba đều bị thương nên phải vô bệnh viện Sài g̣n, trước chợ Bến Thành, chữa trị. Người chồng và đứa con gái bị thương nhẹ nên được ra viện sớm.

    Hai cha con không có họ hàng thân thích ǵ ở Sài g̣n phải dựng một túp lều bên hàng rào của một biệt thự dưới một cây bông giấy mầu tím trên đường Công Lư, giữa Hàm Nghi và Lê Lợi. Thấy họ quá nghèo khổ, mỗi khi đi làm, chúng tôi đều ghé thăm để giúp đỡ, lúc th́ tiền bạc, lúc th́ đồ ăn. Khi cuộc Tết Mậu Thân bùng nổ, họ không biết trốn đi đâu, nên đành ở đó chịu trận. Xác của hai cha con bị văng tứ tung trước cổng biệt thự. Cái chân đang bị bó bột bắn ra giữa đường. Xác đứa con gái nằm úp mặt trên vũng máu khô. Trong khi đó, Sài g̣n vẫn ầm tiếng súng, lúc gần lúc xa; thần chết vẫn c̣n đang ŕnh rập nơi đây. Tôi bấm bàn tay để coi đây là mộng hay đây là thật.

    Đây là thật. Tôi đi giữa đổ nát và chết chóc. Tôi trách ông trời sao không bảo vệ được người ta. Nhưng cũng không quên cám ơn ông trời, cho gia đ́nh tôi được b́nh yên.

    Chỉ mới có một đêm không về nhà, không được ăn cơm nhà, vừa nhớ nhà vừa thèm mấy món ăn của ngày Tết. Nào nước thịt dim nước dừa ăn với dưa cái; cả lóc kho tiêu kiểu của d́ Dẻ vừa ngọt, có tiêu sọ nguyên hạt, d́ kho đặc kẹo. Không ai kho cá lóc ngon bằng d́ Dẻ … Tôi thầm tự hỏi, nếu sau này đi xa, không có nước mắm, không có những món ăn Việt Nam, làm ǵ tôi sống nổi đây?

    Về nhà, hai chị em tôi không những ăn cho đă thèm, mà c̣n trấn an được má. Suốt từ lúc chúng tôi rời khỏi nhà, má đứng ngồi không yên. Má thuật lại, là trước đó một ngày, lúc 9 giờ sáng, không c̣n giới nghiêm nữa, Hải Vân liền chạy ra chùa Bà Lai gặp Ali, rồi hai đứa đi giúp đỡ người dân bị nạn. Hải Vân có vẻ căm thù cộng sản lắm. Nó tuyên bố nhứt định vào không quân, để đi diệt Cộng. Nó cho biết, chưa bao giờ nó thấy Việt Cộng tàn ác như bây giờ. Nó thấy người chết dưới nhiều h́nh thức, chớ không phải chết v́ súng đạn.

    V́ giờ giới nghiêm đă giảm bớt, dân chúng bắt đầu đi lại, mặc dù tiếng súng của hai bên vẫn c̣n át cả tiếng xe chạy trong thành nhỏ. Kể từ lúc Hải Vân quyết định vô không quân, má có vẻ buồn, nhưng không nói một lời. Thấy má buồn, chúng tôi cũng không vui, nên bàn nhau không ngủ lại sở làm nữa. Tết chưa kịp đón, mà mấy ngày đầu năm đă có nhiều lộn xộn, không một chút hứa hẹn một năm mới được “An khang thịnh vượng”.


    Còn tiếp ...
  • 24-05-2017, 09:13 AM
    Tran Truong

    A Thousand Tears Falling !!!

    Tết năm nay là năm tuổi của chị Thuận. Chị cầm tinh con khỉ, tuổi thân. Tôi thường chọc chị là “Tuổi thân Con khỉ ở hiền, trèo qua trèo lại té liền xuống sông”. Ước ǵ chị chưa có chồng để được tự do lên Sài g̣n sắm Tết. Nhưng, cuộc đời chị đă đi vào một khúc quẹo buồn thương. Từ ngày lấy chồng, chị gặp những phản ứng của cả hai bên gia đ́nh. Phía bên gia đ́nh tôi, d́ Bảy và mấy chị con cậu Tư không nh́n chị nữa, v́ chồng chị sinh trưởng trong gia đ́nh “cường hào ác bá”.
    Trong khi , bên chồng chị, người ta ghét chị, v́ gia đ́nh chị theo Việt Cộng. Chị không phải là người họ coi là “môn đăng hộ đối”. V́ vậy, vợ chồng chị và đứa con gái sống trong sự ghẻ lạnh của cả hai phía, rất nghèo, nghèo cả t́nh thương lẫn vật chất.

    Tết năm nay gia đ́nh tôi cũng có nhiều thay đổi. Mấy tháng trước, chị Cương theo chồng con đi Mỹ. Rồi đến lượt chị Kim cũng đi Mỹ luôn. Chị dậy tiếng Việt cho quân đội trong Bộ quốc pḥng Mỹ. Gia đ́nh tôi c̣n má, ba đứa em và tôi. Chúng tôi sống cheo leo trên đất Sài g̣n, không một người bà con ruột thịt. Cho đỡ cô đơn, chị em chúng tôi tính ăn Tết thật lớn, như chưa bao giờ ăn Tết.
    Hải Vân mua pháo. Tôi đi chợ bông Nguyễn Huệ ở Sài g̣n với má, không nhớ là mấy lần, bánh kẹo đầy bàn từ dưới bếp đi lên nhà trên, ở đâu cũng có mặt của Tết. Tôi và má rinh về nhà hai cây mai để hai bên cửa, để được may mắn suốt năm. Hải Vân đ̣i dì Dẽ và con Vân, con Sang làm dưa củ kiệu và phải nhớ mua tôm khô cho nó. Hải Vân mua bia, nhưng giấu không cho má biết. Chờ má ngủ, chị em tôi xuống bếp khoá cửa lại, uống bia, ăn củ kiệu và tôm khô.

    Con Vân, con Sang ngồi cắt một thau củ kiệu, khiến tay nhăn nheo và đỏ rát v́ nước phèn chua. Nhưng, làm cho anh Hải Vân ăn, th́ có lở bàn tay, hai đứa “học tṛ” của Hải Vân cũng bằng ḷng. Hải Vân bắt hai đứa giúp việc nhà phải biết đọc, tập viết, biết tính toán. Con Vân hiếu học, c̣n con Sáng th́ thường viện cớ phải làm công chuyện để trốn học. Nào là “cô Tám kêu em”, nào là “em phải ủi quần áo cho mấy chị”, v.v… Con Vân rất giỏi toán; con Sang th́ vươn cổ cọp bài của bạn. Có khi nó c̣n nhờ cô Tám làm bài giùm.
    Có lần, Hải Vân la con Sang: “Mù chữ th́ con trai biết chữ không thèm ngó tới”. Con Sang cứng đầu nói ngay: “Vậy em lấy thằng mù chữ cũng được”. Hải Vân bèn doạ: “Má không gả mày cho mấy thằng mù chữ đâu”. D́ Dẻ không biết chữ, nhưng d́ là em bà con cô cậu ruột của má, nên Hải Vân kính nể, không dám bắt d́ học.

    Tết này, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho dân chúng đốt pháo mấy ngày Tết. Hải Vân và tôi thích nhứt là không có giới nghiêm. Tết này, chúng tôi có nhiều bạn bè tới họp rất vui vẻ, cả John cũng tới nữa. Đây là lần đầu tiên anh ăn Tết Việt Nam. Từ ngày ba tôi đi tập kết, đây là cái Tết đầu tiên tôi không nh́n ra cửa với tia hy vọng, như tôi đă từng làm cả chục năm qua, nhắm mắt lại vài giây, mở ra sẽ thấy ba đứng ngoài cửa sổ. Nhưng tôi đâu có ngờ, ba tôi về trong một h́nh thức khác.

    Mười một giờ khuya, John và tôi phải đưa Hạnh, một người bạn tôi, về Hoà Hưng để kịp có mặt ở nhà trước giờ giao thừa. Bạn của Hải Vân cũng từ từ ra về hết, chỉ c̣n một ḿnh cậu bạ Ali uống hết nửa chai bia, say nằm trên divan. V́ Hạnh thích đi xe mui trần, John gỡ cái mui xe Jeep xuống. Trên đường đi, chúng tôi nói cười vui vẻ. Tôi nghe ḷng rộn ră mỗi khi tiếng pháo nổ ran ở chung quanh. Tôi bỗng thấy yêu đời, v́ được tự do đi trong đêm khuya, không có giới nghiêm. Tôi thầm tự hỏi, phải chăng đất nước từ đây sẽ thanh b́nh, và người dân sẽ được sống trong hạnh phúc, b́nh an.

    Khi chúng tôi tới Hoà Hưng, Hạnh chỉ đường cho John chạy tới hẻm nhà Hạnh. Nhưng chúng tôi không vô hẻm được, v́ ở ngay đầu hẻm, trước mũi xe có đám con nít và vài người lớn vây kín một toán lính mặc đồng phục kaki. Họ chặn đường hẻm và chặn đường trước mặt chúng tôi nữa. Lúc đầu, tôi tưởng đám đông là người trong xóm ra đường đốt pháo. Khi nh́n kỹ, tôi thấy mấy người lính đeo súng AK và đội nón cối. H́nh ảnh người bộ đội của tiểu đoàn 307 hiện ra trước mắt tôi. Tôi rùng ḿnh. Hạnh và tôi kêu trời, rồi nó nhảy vội xuống xe, cúi gầm mặt chạy biến vô hẻm.

    Trong khi đó, toán lính đeo AK chặn đầu xe, khiến John phải bấm kèn inh ỏi, rồi cho xe chạy từ từ. Toán lính và bọn con nít phải dạt sang hai bên, để nhường lối cho xe đi qua. Riêng tôi, lúc đó tôi nhắm mắt, v́ tưởng sẽ bị lính Bắc Việt ria cho một tràng súng. Nhưng rồi tôi mở mắt, run quá, tôi đánh ḅ cạp hỏi John:

    - Có phải hai đứa ḿnh thấy …

    - Đúng là tụi nó rồi cưng ơi !

    Anh từ từ lái chiếc Jeep ra khỏi đám đông. Khi chúng tôi đă ra tới đường cái, anh cho xe chạy như bay trong bóng đêm.
    Trên đường về nhà ở đường Nguyễn Văn Sâm, chúng tôi giữ im lặng. Tôi th́ bối rối tự hỏi làm sao bộ đội Bắc Việt đă vào trung tâm Sài g̣n mà không có một tiếng súng nổ ? John im lặng, vẻ mặt lo lắng, căng thẳng. Khi tới nhà, anh dắt tay tôi lên lầu, dặn tôi khoá cửa thật kỹ và đừng đốt pháo, đừng ra đường. Trước khi từ biệt, anh còn chúc: “Happy Tet!”. Tôi ra balcon nh́n hút theo anh , khuất ở ngă tư Lê Công Kiều, mong cho anh trở về BOQ b́nh yên.

    Bạn bè về nhà hết, đem theo cả tiếng nói tiếng cười. Nhà chỉ c̣n Ali nằm ngủ trên divan. Má ngồi với Hải Vân ở dưới bếp, nh́n nó ăn chè đậu xanh cho giă rượu. Tôi cũng cố đi cho thẳng thớm để má không biết tôi cũng say như hai thằng nhỏ kia. Thói quen trong gia đ́nh, là khi nói tới Việt Cộng, chúng tôi thấp giọng xuống. Tôi ngồi xuống cạnh má, rồi nói thật nhỏ, đủ để má và Hải Vân nghe thôi:

    - Con không có nói xàm, nói bậy, nhen. Hồi năy tụi con thấy lính Bắc Việt đứng trước hẻm vô nhà con Hạnh.

    Má, Hải Vân cùng nh́n tôi bằng đôi mắt nghi ngờ. Trong khi má đưa cho tôi một chén chè đậu xanh : “mày cũng cần chén chè này nữa, con gái mà uống rượu, tao buồn hai đứa bay lắm!” Hải Vân nói:

    - Chị giầu tưởng tượng quá !
    Tôi khoát tay, nói với má:

    - Con không có say như mấy thằng này. Để dành chè cho tụi nó. Thiệt mà má, con thấy lính Bắc Việt bận đồ kaki rơ ràng; đồ lính này giống y như đồ của bộ đội hồi xưa vậy đó !
    Hải Vân ngước đầu lên, mắt lim dim:

    - Chị tưởng tượng rồi !

    - Không tin, mai hỏi John đi. Anh cũng điếng hồn luôn. - Tôi trả lời.
    Hải Vân ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:

    - Trời ơi, em nhớ rồi. Tháng trước chị Thảo lên đây, chị nói trước sẽ có một biến cố lớn trong dịp Tết này, nhớ chưa? Chị dặn tụi ḿnh đừng đi đâu xa ba ngày Tết, về Cần Thơ cũng không được, ai ở nhà nấy, đừng ra ngoài đường. Chị dặn tích trữ đồ ăn để pḥng hờ, nhớ chưa?

    Bấy giờ má và tôi mới nhớ ra, hôm chị Thảo lên Sài g̣n để đi bác sĩ khám mắt. Chị dặn ḍ nhiều lắm, nhưng bọn tôi nghe rồi bỏ qua, v́ gia đ́nh này cũng “không nghe những ǵ cộng sản nói”, mà c̣n nghĩ chị Thảo nghe lời Việt Cộng, gây lo sợ, hoang mang trong ḷng người dân đang sống trong b́nh yên.

    Bất th́nh ĺnh, một tiếng nổ long trời ngay đâu đây, rồi sau đó là những tràng súng liên thanh, át cả những tiếng pháo đ́ đẹt. Như đă được huấn luyện trước, chúng tôi vội nằm xuống sàn nhà. Con Vân ḅ quưnh quáng tới ôm má tôi, run sợ khóc:

    - D́ Tám ơi, đừng để con chết không thấy mặt má con, d́ Tám ơi.
    Tôi nói lớn:

    - Bây giờ tin tui thấy lính Bắc Việt chưa ?
    Hải Vân lên tiếng:

    - Mà tại sao mấy thằng lính Bắc Việt nh́n chị mà không làm ǵ hết ? Mà, sao nó không bắn anh John? Chắc tụi nó c̣n chờ chỉ thị. Thấy nó bắt chết là phải chết, cho sống mới được sống. Chị có nghe tụi nó bị xiềng vô trong xe thiết giáp, đánh tới hơi thở cuối cùng không? Biết đâu số mạng anh phi công của chị được sống lâu hơn một chút, là nhờ kỷ luật của ba ḿnh. Chờ cho hết trận này, rồi chị coi xem, em đoán có đúng không nhen.

    Vừa nói Hải Vân vừa lấy tô chè đậu xanh ăn tiếp . Má tôi chạy lên nhà trên, v́ hai đứa em đang ở nhà trên. Bà ra dấu cho tụi tôi giữ im lặng để nghe tiếng súng gần xa từ hướng nào bắn tới. Tiếng súng máy bắn bên kia đường Lê Công Kiều.


    Còn tiếp ...
  • 23-05-2017, 07:23 PM
    Tran Truong

    A Thousand Tears Falling !!!

    Tôi ngồi trên xe Jeep mà cứ phấp phỏrng sợ người quen bắt gặp. Nhưng tôi lại nhớ ngay ra rằng, ở cái đất Sài g̣n này tôi có quen ai đâu mà sợ. Rồi tôi lại nghĩ tới các em tôi. Rủi Hải Vân trông thấy tôi ngồi cạnh một sĩ quan Mỹ th́ sao? Có thể nhỏ sẽ đ̣i hối lộ: “Chị biểu anh chàng sĩ quan Mỹ practice tiếng Anh với em đi”. “Không được, cưng ơi. Chị chỉ đi ăn trưa bữa nay thôi để cứu mạng anh ta, không có lần thứ hai đâu. Kiếm thằng Mỹ khác để practice tiếng Anh cưng nhe”. Đại uư John Krall vừa lái xe vừa bắt tay tôi, rồi từ giới thiệu:

    - John, John Krall.

    Tôi đang ngầm nổi sung, cũng không biết tại sao lại nổi sung. Tôi cầm thẻ của sở Mỹ đưa lên cho John biết tên tôi. Ông liền nói:

    - I already know your name. Cô Dung.
    Ông phát âm tên tôi thật đúng. Tôi liền hỏi:

    - Tại sao ông nói tên tôi đúng quá vậy?

    - Biết mà. - Ông trả lời bằng tiếng Việt lơ lớ.

    Tôi nói một tràng tiếng Việt, v́ nghĩ rằng ông cũng giỏi như người học tṛ cũ của tôi là Richard Satter trước kia. Nhưng John lắc đầu tỏ vẻ không hiểu. Ông đề nghị tôi gặp ông hàng ngày và dậy ông tiếng Việt. Tôi trả lời liền: “Không có chuyện đó ông ơi”. Nhưng ông không hiểu.

    Xe vừa tới cổng Cercle Sportif th́ tôi cảm thấy bực ḿnh, v́ tôi ghét cái ǵ có dính líu tới thằng Tây. Ở cái thủ đô Việt Nam này, hết chỗ ăn trưa sao, mà lại chui đầu vô tiệm của thằng Tây. Nhưng ngay sau đó, tôi lại nghĩ rằng, thà chui đầu vô đây c̣n hơn là chạy dông dài ngoài đường phố. Tôi đă từng thấy nhiều cô gái Việt đi với Mỹ. Họ ngồi đầy trong các nhà hàng, như tiệm Đô Thành trên đường Hàm Nghi, hay tiệm Mỹ Cảnh bên bờ sông Sài g̣n.

    Sau lần ăn trưa hôm đó, t́nh cảm của tôi đối với đại uư phi công John Krall đă thay đổi rất nhiều. V́ thế, tôi nghĩ rằng John có mua hai ổ bánh ḿ thịt, rồi rủ nhau ra ngoài đồng cỏ ngồi ăn, tôi cũng sẽ đi theo ông hết ngày này qua ngày nọ.

    Vào mùa thu năm 1967, Hải Vân bỗng trở thành phát ngôn viên của trái tim tôi. Nó tuyên bố:

    - Chị Dung yêu rồi. Đừng có ai lo chị ế chồng nữa . Chị làm cách mạng, yêu một anh chàng Mỹ mắt xanh. Em ghét Mỹ lắm, nhưng cái anh chàng Mỹ này là phi công, nên cũng OK.

    Về tôi lúc này, John chỉ biết sơ gia đ́nh tôi, v́ mỗi lần anh hỏi, tôi lại nói lảng sang chuyện khác. Nhưng tôi biết, đă đến lúc tôi phải, hoặc là nói thật về ba tôi, hoặc là tôi cắt đứt hoàn toàn với John. Đằng nào th́ mối t́nh này cũng phải chết yểu. Có thể anh đại uư phi công Mỹ sẽ hết hồn, khi biết ba tôi là một cán bộ cộng sản. Không chừng anh xin về Mỹ sớm hơn thời hạn. Nhưng làm sao tôi có thể nói dối với người tôi yêu được. Th́ thôi, phó mặc cho ông trời; tôi không nên ôm cái bí mật này nữa. Tôi quen với John cũng gần một năm rồi, chớ đâu phải mới hôm qua hôm kia!

    Hôm đó, tối thứ sáu, John đến nhà rước tôi đi ăn ở nhà hàng La Cigale, trên đường Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao. Chúng tôi vui vẻ nói cười suốt buổi. John c̣n lên yêu cầu cô nhạc sĩ đàn cho tôi nghe bài Greensleave. Trong lúc chúng tôi ngồi chờ ăn tráng miệng. John nh́n thẳng vào mắt tôi rồi nói:

    - Cô không bao giờ nói về ba cô cho tôi nghe?

    Tim tôi thắt lại. Bây giờ phải nói ǵ đây? John vô cùng quan trọng đối với tôi. Nhưng tôi không trả lời anh ngay mà xin phép vào toilet rửa tay. Đóng cửa lại, tôi nh́n tôi trên kiếng, t́m một câu trả lời. Tôi nhớ, đă có lần một người trong gia đ́nh cho là tôi “muốn chết”, v́ tôi nhứt định không bao giờ chịu nói ba tôi chết, khi ai hỏi tới Người. Các chị tôi nói “ba chết” một cách dễ dàng. Bây giờ , khoảng cách giữa tôi và câu trả lời đó chỉ có một bức tường. Chắc là tôi sẽ chết thiệ̣t chớ không phải “muốn chết”, v́ tôi không thể nói dối được với John.

    Khi tôi trở về bàn, John đứng dậy kéo ghế cho tôi. Anh im lặng chờ tôi trả lời. Khi băo tố nổi lên trong ḷng tôi, th́ vẻ mặt anh cũng tươi vui như đứa con nít trong ba ngày Tết. Tôi bối rối cầm ly rượu chát uống cạn, rồi vội vàng nói thật nhanh:

    - Ba tôi hiện đang ở ngoài Hà Nội. Ông là đảng viên cao cấp Đảng cộng sản. Nếu anh không muốn gặp tôi nữa, tôi sẽ hiểu.
    John b́nh tĩnh vừa cười vừa nói:

    - Tại sao tôi lại muốn làm cái việc dại như vậy?

    Rồi anh hôn lên ngón tay trỏ của anh, đặt ngón tay đó lên trán tôi. Đó là một cử chỉ quen thuộc anh vẫn thường làm, khi anh gặp tôi ở sở, trước mặt đông người.

    Đám mây đen bao phù thế giới nhỏ bé của tôi từ lâu, hôm nay bỗng tan biến nhanh chóng. Tôi say sưa nói về ba tôi. Từ 1954 cho tới năm 1967, tôi không kể cho ai nghe về ba tôi và anh Khôi. Nhưng tối nay, một đại uư phi công Mỹ có đôi mắt như biển Thái B́nh, phải ngồi im lặng nghe tôi nói! Thỉnh thoảng, trong khi kể, tôi ngừng lại, t́m trong mắt anh một tia nghi ngờ, nhưng không thấy. Anh chăm chú nghe như nghe một chuyện thần thoại, một chuyện khó tin nhưng có thật. Mà nghe th́ cứ nghe, c̣n có dám chấp nhận không lại là chuyện khác. Chấp nhận, có nghĩa là tiếp tục đi bên cạnh tôi suốt cuộc đời này.

    Với anh John, tôi có thể vui cười, nghiêm trang, bướng bỉnh, hay ngây thơ một cách tự nhiên. Bây giờ, ngoài An ninh quân đội, chỉ có anh biết về gia đ́nh tôi, mà tôi không sợ bị phán đoán hoặc nghi ngờ, hoặc bị vu oan cho cái tội làm tay sai cho Việt Cộng, đặc công, nằm vùng.

    Tôi chợt nhớ tới lời em trai tôi có lần đă nói: “Anh Mỹ kiểu này thông minh hơn em, chị ơi”. Thỉnh thoảng tôi thấy John giảng toán, lư, hoá cho nó. Th́ ra hai người đă thích nhau nhưng tôi không biết. Có một lần, hai chị em đi chơi với John Hải Vân hỏi mượn xe Jeep của John để “chạy thử một ṿng”. Tôi biết em tôi chưa biết lái xe. Tôi nh́n nó, th́ nó nói nó không biết lái xe cho nên nó mới mượn xe để học lái. Nửa tiếng đồng hồ sau, Hải Vân trở lại, mắt sáng trưng “em lái được rồi đó”. Lúc đó John mới hiểu, và mới hết hồn v́ đă đưa xe của nhà binh cho thằng nhỏ chưa biết lái xe. Tôi không dám kể lại cho má chuyện này, mà Hải Vân cũng không méc tôi đi chơi với John.

    Đêm đó, John và tôi là hai người khách cuối cùng của nhà hàng La Cigale. Vợ chồng ông Tây đi tới bàn chào chúng tôi để họ đóng cửa. John vội nâng ly, nói:

    - Tôi sẽ không đi hỏi cưới ông bố cộng sản của cô, nhưng tôi rất muốn cưới con gái của ông. Làm ơn “dạ“ cho tôi nhờ.

    Tôi không rơ anh đă học được ở đâu cái câu nói đó. Đêm hôm đó và nhiều đêm tiếp theo, tôi thức giấc khuya, rồi băn khoăn tự hỏi: “Đây là thật hay là mộng”. Rồi tôi tự trả lời: “Mà dù cho là mộng, rồi nó cũng sẽ biến thành sự thật ”. Tôi tin như vậy, v́ nhiều mộng của tôi đă thành sự thật. Nhưng tôi là con người lệ thuộc gia đ́nh rất nhiều, v́ thế tôi không thể không hỏi ư kiến má, dù má lúc nào cũng sẵn sàng cho chúng tôi tự do quyết định cuộc đời ḿnh.

    Vào một buổi trưa nóng nực của mùa xuân Sài g̣n, má và tôi ngồi nói chuyện trên bậc thêm trước nhà, trong khi mọi người đang ngủ trưa. Hai mẹ con nói đủ mọi thứ chuyện, bắt đầu từ chuyện thời tiết, so sánh giữa Sài g̣n với Cần Thơ. Rồi chuyển sang chuyện chánh trị. Mà chánh trị là thể nào cũng có ba tôi. Má nhắc lại lời của ông ngoại, cho rằng các cậu và ba tôi bị Hồ Chí Minh và đàn em của ông ta lừa gạt.
    Các cậu và ba đều những người yêu nước, thật thà, chỉ biết chống Tây để giành độc lập cho nước nhà. Cũng theo ông ngoại, cộng sản phá vỡ mọi luân lư gia đ́nh, rồi sẽ đưa Việt Nam đến suy tàn … Má cũng biết Hải Vân có ư định gia nhập Không quân. Khi tôi đang loay hoay t́m cách đổi hướng câu chuyện sang vấn đề hôn nhân giữa tôi và John, nói ḷng ṿng mà không nói được hết ư trong ḷng ḿnh, má tôi nhẹ nhàng nói:

    - Con lập gia đ́nh với ai cũng được, miễn đừng có lấy chồng v́ tiền, th́ ba không trách ai được.


    Còn tiếp ...
  • 23-05-2017, 08:20 AM
    Tran Truong

    A Thousand Tears Falling !!!

    Sau bốn tháng làm việc trong văn pḥng ở Rex, tôi được sở đổi qua làm cho Brink BOQ. Ông xếp ở Brink là một trung uư hải quân Mỹ trẻ tuổi, tên là Richard Salter. Ông Salter đă được học tiếng Việt trước khi sang Việt Nam, nên khi làm việc tại Brink ông quyết định nói tiếng Việt với hơn sáu chục nhân viên người Việt. Tiếng Việt của ông có tiếng bể, tiếng gẫy, thiếu sót rất nhiều. Tôi nói với những người làm chung sở rằng có lẽ khi ngủ mơ ông cũng nói tiếng Việt. Nhân viên Việt Nam ít người hiểu ông, v́ ông đă dùng sai chữ, lại phát âm không đúng, người ta không kiên nhẫn để t́m hiểu ông định nói ǵ. Khi nào pḥng ăn vắng khách, ông lại trước quầy thu ngân để nhờ tôi dậy thêm tiếng Việt. Rồi tôi trở thành cô giáo của ông xếp.

    Trung uư Salter là một học tṛ ngang bướng, lúc nào cũng thích ra lịnh, dù ông làm học tṛ. Học tiếng Việt và cai quản câu lạc bộ, đối với ông đều quan trọng như nhau. Là nhân viên của ông, lại nhỏ hơn ông một tuổi, nên tôi đành chịu lép vế. V́ vậy, làm cô giáo mà tôi chẳng có một chút quyền hành ǵ với học tṛ. Nhưng tôi cũng có một niềm vui, là ông “học tṛ” này rất thông minh và có khiếu về sinh ngữ, học tới đâu nhớ ngay tới đó. Ông thường t́m hiểu nguồn gốc của mỗi chữ, hay mỗi câu nói, hoặc tiếng địa phương. Chẳng hạn, tại sao có người nói là “về”, lại có người “d́a”. Tại sao có người nói “vâng”, lại có người “dạ”. “ “muỗng” lại là “th́a” v.v…

    Có lần tôi dậy bài học đi chợ, ông bắt tôi phải đi chợ với ông ngay. Tôi đành phải đưa ông đi chợ Sài g̣n, để ông thực hành bài vừa học. Đến khu bán cá, ông hùng hồn nói: “Tôi muốn mua thằng cá lóc”. Mọi người cười rộ lên. Người ta nh́n tôi chằm chặp, làm tôi mắc cở muốn độn thổ. Nào có ai biết tôi là cô giáo của ông; tôi nghĩ người ta tưởng tôi là bạn gái của anh chàng lố bịch này. Tôi vội đứng xích ra xa, ông trung uư kêu tôi lại gần, để dậy ông cách trả giá. Chỉ tiếc tôi chưa kịp “hành nghề” cô giáo, bà già bán cá đă khen ông học tṛ của tôi là dễ thưong, và tặng không ông hai con cá. Ông Salter tức lắm, v́ không được thi thố tài năng. Đến khi chúng tôi sắp ra khỏi chợ , ông bỗng gọi một người đang đi vô, để cho hai con cá, quay ngược trở lại hàng cá. Tôi không chịu theo ông, viện cớ ông đă nói giỏi tiếng Việt, có thể mua bán một ḿnh. Tôi đợi ông ở ngoài cửa chợ. Nửa giờ sau, ông trở ra, mỗi tay xách một “ông gà” và một “con gà”.

    Không biết bỏ hai con gà này vô đâu, tôi đành đề nghị đem đến nhà tôi cho d́ giúp việc làm thịt. Nhưng về đến nhà , tôi mới biết ư kiến này sai bét; v́ ông đi theo tôi về nhà, khiến đám con nít hàng xóm bu lại nói chuyện với “ông Mỹ”.

    Rồi từ đó ông Salter trở thành người bạn của gia đ́nh tôi. Khi nhớ nhà, ông lại tới nhà tôi cho khuây khoả. Gia đ́nh ông ở Hampshire bên Mỹ, nên về cuối năm ông thường nhắc đến tuyết . Tuyết khắp mọi nơi: trên nóc nhà, trên đồi, trên sân cỏ, và nơi ông truợt tuyết. Khi nhắc đến quê hương, mắt ông mơ màng nh́n vào xa xôi. Đôi khi tôi ngầm ganh tỵ với ông, khi tôi bằng ông cũng trạc tuổi tôi, mà sao ông có tuổi thơ tươi đẹp trong khi tôi lận đận đủ mọi bề. Tôi mơ ước được đi học lại, cũng như ông trung uư Mỹ mong cho hết nhiệm kỳ ở Việt Nam để trở về New Hampshire tiếp tục học đại học.

    Cuối năm 1966, Hải quân bàn giao tất cả câu lạc bộ cho lục quân quản trị; ông xếp của tôi được về Mỹ. Tôi mất ông học tṛ, Brink BOQ cũng mất đi bầu không khí vui vẻ, sang trọng của hải quân. Vào dịp đó, BOQ Splendid có chỗ trống, tôi liền xin đổi đến đó để được gần nhà hơn một chút.

    Xếp mới của chúng tôi là một ông chuẩn uư chừng 45 tuổi. Ông làm việc không ngừng. Ông lại nghĩ là ông có bổn phận phải “quản” nữ nhân viên trẻ chúng tôi. Ông cấm chúng tôi đi chơi với sĩ quan Mỹ. Ông nhắc nhở chúng tôi: đi với họ rồi hết hạn trở về Mỹ, các cô ở lại một ḿnh. Lỡ có cô nào mang một “bầu tâm sự”, th́ thật là một tai hoạ. Ông cấm nhân viên dưới quyền không được nhờ các sĩ quan mua hàng trong PX.

    - Nếu các cô muốn ǵ trong PX cứ ra chợ trời là có hết. - Ông mỉa mai.

    Nhân viên đều kính trọng và tuân lệnh của ông. Ông rất tử tế và thành thật với tất cả mọi người. Tôi c̣n độc thân, lại khá tiếng Anh hơn những người cùng làm; ông xếp thay đổi giờ làm việc của tôi mấy lần, để đáp ứng nhu cầu của những người có gia đ́nh, bận bịu con cái. Cuối cùng ông cho tôi làm supervisor của 5 có giữ két.

    Một trong những việc làm của tôi, là bán phiếu cho sĩ quan để họ dùng phiếu đó trả tiền ăn uống. Tất cả các câu lạc bộ Mỹ vào thời đó không xài tiền Mỹ kim, v́ nạn chợ đen. Suốt hai tuần lễ liền, một đại uư Hải quân trẻ, ngày nào cũng ghé qua quầy tôi mua phiếu 10 Mỹ kim, đi thẳng vào bar uống rượu, rồi không thấy ông ghé pḥng ăn bao giờ. Ngày qua ngày, ông đại uư ốm đi. Bộ đồ bay của ông mỗi ngày một rộng hơn. Tôi thắc mắc, không ăn, chỉ uống rượu thôi, làm sao có đủ sức khoẻ để bay.

    Một hôm, ông lại mua một phiếu 10 đồng để uống rượu. Tôi cất 10 Mỹ kim vô tủ, nhưng không đưa phiếu cho ông, mà nói:

    - Ông đi ăn trước đi, rồi tôi sẽ đưa phiếu cho ông đi uống rượu.
    Đôi mắt xanh như nước biển Thái B́nh của ông nh́n vào mắt tôi, làm tôi choáng váng, vội nh́n xuống bàn. Ông nói:

    - Tôi không thích ăn một ḿnh.

    - Th́ ông nói mấy bạn nhậu của ông đi ăn với ông.

    - Ồ, mấy thằng đó xấu như ma. Nếu cô hứa mai đi ăn trưa với tôi, chiều nay tôi sẽ vào pḥng ăn ngay cho cô vui.
    Ông vừa nói vừa nh́n chằm chặp vô mắt tôi, hai bàn tay đặt nhẹ lên bàn, như hối thúc tôi phải trả lời ngay. Tôi lúng túng đáp:

    - Tôi không thể đi ăn với ông được.

    - Tại sao?

    - Tôi không được phép đi ra đường với người Mỹ.

    - Lịnh của ai?
    Vừa lúc đó, ông chuẩn uư Lugent, xếp của tôi, vô pḥng và đi lại bực cashier của tôi. Tôi chỉ ông, đáp:

    - Lịnh của ông này.
    Ông đại uư bèn nh́n thẳng mặt ông Lugent, rồi đột ngột nói:

    - Ngày mai, ông cho phép cô này đi ăn trưa với tôi nhen? Tôi hứa sẽ trả cô về đây an toàn và nguyên vẹn.
    Ông Lugent cười, đưa tay sửa cặp kiếng cận thị dầy cui của ông, và có vẻ hơi lúng túng, đáp:

    - Đại uư Krall cứ hỏi thẳng cô ấy coi !
    Đại uư Krall trịnh trọng nói:

    - Tôi có thể sẽ nhịn đói cho tới khi cô chịu đi ăn với tôi. Bấy giờ, xin cô đưa phiếu cho tôi.

    Tôi lúng túng không biết nên phản ứng thế nào. Đại uư Krall làm cho ông xếp của tôi khó chịu, lại vừa làm tôi sượng người. Giá lúc ấy có thể độn thổ được, tôi đă chui ngay xuống đất. Tôi lúng túng nói để ông đi cho khuất mắt:

    - Sợ chết đói, tôi nhận lời đi ăn trưa với ông, ngày mai.

    Hôm sau, tôi đến sở sớm 2 tiếng, mặc cái áo đẹp hơn áo đi làm hàng ngày. Tôi vừa bước chân lên thềm của BOQ Splendid, đại uư Krall đă đứng khoanh tay dựa lưng ở cửa, một chân dựa vách tường, một chân dưới đất. Ông nhanh nhẹn dẫn tôi lại gần xe Jeep mui trần đậu ngay trước cửa, gần chỗ người quân cảnh Mỹ đứng gác. Mặt tôi nóng hơn vỉa hè buổi trưa nắng đó. Tôi vừa bối rối, vừa vui vừa sợ, vừa tự trách ḿnh đă nhận lời đi với người lạ, ngang hơn cua. Rồi tôi thầm tự hỏi, tại sao ḿnh mặc đẹp, trong khi người ta chỉ mặc bộ đồ phi công rộng thùng th́nh? Nhưng dù thế nào, tôi vẫn nghĩ đến cặp mắt xanh như Thái B́nh Dương. Đôi mắt làm cho mặt ông sáng rỡ lạ kỳ.


    Còn tiếp ...
  • 22-05-2017, 09:08 PM
    Tran Truong

    A Thousand Tears Falling !!!

    Vốn liếng Anh văn của tôi chỉ đủ để coi phim câm của Mỹ, vậy mà chị Kim, chị Cương của tôi cứ khuyên tôi, hay nói đúng hơn là ép tôi, phải xin việc ở một sở Mỹ. Thật ra, cả nhà sợ tôi ngồi không lâu th́ chán Sài g̣n, rồi lại bỏ đi lần nữa. Mà đúng vậy, chỉ mới ở có mấy ngày, tôi đă bắt đầu chê Sài g̣n đủ thứ. Nào là nóng nực, nào là bụi bặm, nào là ồn ào quá … Người bán hàng ở chợ Sài g̣n dữ dằn quá, khiến tôi không dám đi chợ một ḿnh, sợ không biết trả giá, sẽ mua lầm, hoặc trả giá thấp quá bị nghe chửi. Tôi không ưa Sài g̣n chút nào, nhưng tôi lại không muốn xa má tôi. V́ vậy, tôi đành phải kiếm việc làm.

    Chị tôi giới thiệu cho tôi một lớp học Anh văn, học phí chừng 1.500 đồng, thời gian học khoảng ba hay bốn tháng. Tôi cho chị biết: “Em không có 1.500 đồng đâu, mà cũng không có ba tháng để học”. Hai chị hứa sẽ cho tôi học phí, và khuyên tôi nên dành th́ giờ để học, v́ ba bốn tháng qua đi rất mau.

    Vào thời gian đó, chị Kim có người bạn trai: đó là thầy Võ Hoàng. Thầy Hoàng dậy Anh văn ở một trường trung học. Chị Kim nhờ thầy kèm thêm cho tôi và Hải Vân ở nhà. V́ chị Kim, thầy đồng ư dậy tôi sau giờ tan trường của thầy. Rồi thời gian học Anh văn qua mau. Thầy Hoàng là một giáo sư tuyệt vời; tôi tiến bộ rất nhanh. Chỉ tiếc rằng sau này, khi đi làm cho Mỹ, tôi mới biết giọng của thầy là giọng Anh, hơi khác chút ít với giọng Mỹ. Thật ra, sự khác biệt này cũng chẳng có ǵ quan trọng. Nếu tôi t́m không thấy WC, cứ vô đại Toilet hay Bathroom cũng xong. Nói cho ngay, tôi thích giọng Anh của thầy Hoàng hơn.

    Học Anh văn của thầy, tôi c̣n học được chút giọng Bắc kỳ của thầy nữa. Tôi không quên ơn thầy Hoàng, nên khi biến cố 30-4-1975 xảy ra, tôi đă đi kiếm thầy ở nhiều nơi như Guam, Wake, Phi Luật Tan, những mãi cho đến bây giờ tôi vẫn chưa biết thầy ở đâu. Sau bốn tháng học Anh văn, tôi theo chị Kim đến sở việc làm. Chị dẫn tôi đến pḥng nhân viên trong Chợ Lớn. Chị phải điền giùm tôi cả chục tờ giấy, trong khi tôi ngồi thừ ra như người ngoài cuộc. Làm đơn xong, chúng tôi phải tới nơi khác để lăn tay, để lập hồ sơ điều tra lư lịch. Tôi phải công nhận rằng chị Kim rất kiên nhẫn, nên tôi cứ phải xin lỗi chị đă mất nhiều th́ giờ cho tôi, trong khi bụng tôi nguội ngắt, chẳng hứng thú ǵ khi nghĩ tới đi làm sở Mỹ. Chắc chị vừa thông cảm cho một đứa em thất nghiệp, vừa muốn chiều một đứa em nhơng nhẽo, nên không phàn nàn, trách móc ǵ.

    Sau khi lăn tay và nộp đơn, tôi được biết họ sẽ điều tra lư lịch: quyết định có mướn tôi hay không. Nh́n cô thơ kư nhận đơn, tôi đă thấy chán. Tôi nói với chị tôi là thể nào cô thơ kư cũng lấy đơn của tôi để lót ghế ngồi. Thơ kư ǵ mà vừa tiếp khách vừa nhai kẹo cao su, vừa giũa móng tay dài đỏ chói. Chị cười:

    - Cưng không mê đi làm sở Mỹ, nên chê nọ chê kia.
    Tôi liền đáp:

    - Tại em tốn cả ngày trời lo làm đơn, th́ ít nhứt con nhỏ cũng phải sốt sắng nh́n đơn của em chớ.
    Chị Kim cười vị tha.

    Nhưng nói vậy th́ nói, tôi cũng phải lo đến chuyện điều tra lư lịch. Tôi từng đi làm cho Quân đoàn IV, tôi được đại uư Nguyễn Đạt Thịnh nâng đỡ. Bây giờ tôi không quen một ai ở cái đất Sài g̣n này ngoài hai chị của tôi và thầy Hoàng. Làm sao tôi có thể qua mặt của t́nh báo Mỹ được? Tôi vụt nhớ tới đại uư Trần Duy Bính, người đă giúp tôi giữ được việc ở pḥng V. Nếu lư lịch của tôi được đại uư Trần Duy Bính thông qua, chắc không một nhân viên t́nh báo Mỹ nào mà không chấp thuận. Tôi cũng c̣n nhớ, trước khi rời Cần Thơ, tôi có đến sở 4 chào từ biệt đại uư Bính. Ông rất vui vẻ và tiếp đón tôi niềm nở.
    Ông c̣n cho tôi địa chỉ em trai ông là trung uư Trần Duy Hinh, đang làm việc ở Sài g̣n. Ông dặn tôi nên liên lạc với trung uư Hinh khi có chuyện cần. Nhớ tới đây, tôi lên tinh thần, v́ tôi tin rằng lư lịch của tôi mà do anh em của thiếu tá B́nh cung cấp th́ thằng Mỹ nào cũng sẽ tin tôi là một công dân gương mẫu của Việt Nam Cộng hoà.

    Hôm sau, tôi đi taxi đến Cục An ninh quân đội trên đường Trần Hưng Đạo để gặp trung uư Hinh. Một người lính quân cảnh đưa tôi vào pḥng đợi ở cạnh văn pḥng của trung uư. Chắc ông Hinh không bao giờ có khách, nên tất cả các ghế bằng nhựa mầu da cam trong pḥng chờ đợi đều phủ một lớp bụi dầy.

    Một người đàn ông, mặc áo sơ mi trắng ngắn tay, vẻ nghiêm nghị, bước ra đón tiếp tôi. Vừa thấy nụ cười của ông, tôi biết ngay ông là em thiếu tá Trần Duy Bình. Sau khi tôi tự giới thiệu, trung uư Hinh mời tôi vô văn pḥng, rồi hỏi tôi cần ông giúp việc ǵ? Tôi cho ông biết về chuyện điều tra lư lịch, v́ tôi đang xin việc ở sở Mỹ. Tôi cũng nói thêm, rằng anh của ông ở Cần Thơ biết rất rơ về trường hợp của tôi. Nghe tôi nói xong, trung uư Hinh không hỏi thêm chi tiết ǵ nữa, đưa cho tôi một tờ giấy, để tôi ghi tên tuổi tôi, và sở Mỹ mà tôi đang xin việc làm. Trước khi chia tay, ông cho biết ông sẽ gọi xuống Cần Thơ để nói chuyện với ông Bình, và nếu không có ǵ trục trặc, ông sẽ giúp tôi có đầy đủ giấy tờ điều tra lư lịch. Tôi đi về, nhớ giọng nói Bắc kỳ trầm ấm quyến rũ của ông trung uư, và hy vọng ông sẽ gọi anh của ông ở Cần Thơ cho tôi.

    Ba tuần sau, tôi được biết cuộc điều tra lư lịch đă hoàn tất. Rồi tôi được pḥng nhân viên của sở Mỹ gửi đến khách sạn để phỏng vấn. Khách sạn Rex có một pḥng là câu lạc bộ hải quân Mỹ. Tại đây, tôi gặp ông Hiệp, người phỏng vấn tôi. Nhưng ông đă làm tôi thất vọng, v́ ông cho biết hiện câu lạc bộ không tuyển người làm việc. Tôi rất ngạc nhiên, v́ pḥng nhân viên trong Chợ Lớn đă cho biết câu lạc bộ Rex đang cần một người làm cashier, và một người phụ văn pḥng kế toán. Nhưng rồi mấy tuần sau đó, ông Hiệp gọi tôi lại, cho việc làm trong pḥng kế toán.

    Đúng là “ghét của nào trời trao của đó”. Tôi vốn dốt toán nên sợ toán, ghét toán. Khi c̣n đi học, đêm đêm, ác mộng của tôi là những bài toán. Bây giờ đi làm, tôi lại làm ngay nơi phải dùng đến toán. Hàng ngày, tôi ngồi bên cuốn sổ dầy cui, rồi công, trừ, nhơn, chia … Nào tiền lương của nhân viên, nào tiền thu, tiền chi ra … Những con số cứ nhảy loạn, cứ múa may trước mắt tôi. Chúng c̣n theo tôi vào cả những giấc ngủ ban đêm nữa. Nhưng nhờ có nó tôi mới được lănh lương mỗi tháng hai lần.

    Tôi nhớ, mỗi lần tôi than thở khi gặp khó khăn rắc tôi, ông ngoại tôi lại khuyến khích tôi bằng câu: “Làm người khó, làm chó dễ, cháu muốn làm ǵ?”. Vậy mà cũng có lần, v́ làm biếng, sợ khó khăn, tôi đă liều nói với ông tôi: “Thôi, bữa nay ông cho cháu làm chó đi”. Ông nh́n tôi một lúc, tỏ vẻ thất vọng, rồi dịu dàng nói: “Hễ muốn làm chó, cháu phải đi bốn chưn, rồi được ăn, được ngủ, được vui chơi, khỏi học bài, khỏi làm việc trong nhà, chị em và cả ông bà hầu hạ suốt ngày”. Tôi mắc cở không dám đ̣i làm chó nữa.

    Nhớ lại lời ông ngoại, tôi không c̣n thắc mắc về chuyện đi làm khó khăn nữa. Tôi tự an ủi rằng đi làm sở Mỹ để sống, chớ không phải sống để đi làm cho Mỹ, rồi thứ sáu lănh lương. Việc làm không có lư tưởng chút nào.

    Năm 1966, má tôi 50 tuổi. Nhiều đêm, tôi xót xa nghĩ đến cảnh cô đơn của má. Tôi nh́n lại quăng đời của má, từ ngày ba má có anh Khôi cho tới ngày ba đi tập kết, tôi không nhớ , má có bao giờ được vui trọn một ngày không? Rồi từ khi má đau, phải đi bệnh viện Cần Thơ, cho đến ngày cả gia đ́nh chuyển hết lên Sài g̣n, tôi không thấy má vui như những người bạn của má. Vậy mà má không hề than thở một lời, hay oán trách hoàn cảnh, hay giận hờn ba. Th́ thôi, chị em tôi cũng phải tế nhị, không trách móc ông già trước mặt má.

    Sau nhiều năm chị em tôi sống xa cách nhau, nay mới được xum họp, chúng tôi muốn tận hưởng niềm vui ấm cúng của sự xum họp này. Cuối tuần, trước khi đi chơi với bạn, hai chị tôi dẫn tôi đi ăn sáng, rồi về nhà quây quần bên cạnh má. Không khí gia đ́nh thật êm đềm.

    Tôi tiếp tục đi làm sở Mỹ. Hải Vân mua được chiếc xe Honda, có tiền đóng học phí lớp Nhu đạo. Em học trường Bồ Đề. Bạn thân của em là mấy cậu nhỏ ở gần trường bên chùa Bà Lai. Ali là bạn thân nhứt của em. Ali thường chuyền từ nóc nhà này sang nóc nhà khác, trong đó có cả nóc chùa và rạp hát Kim Châu, để tới gặp Hải Vân.
    Nhưng chỉ có tiếng cười, tiếng vui đùa của năm đứa con gái, tiếng đàn guitar của Hải Vân, làm cho má tôi vui thôi.


    Còn tiếp ...
  • 22-05-2017, 10:14 AM
    Tran Truong

    A Thousand Tears Falling !!!

    Lúc c̣n đi học, Mai Bắc Kỳ và tôi bị bạn bè trong lớp đặt tên “Trưởng ban lục lạo”. Các thầy cô mới từ Sài g̣n hay tỉnh khác đổi về muốn t́m nhà trọ, đều phải nhờ hai đứa tôi. Ngay cả những sĩ quan, hay lính tráng cũng vậy. Bây giờ trở về Cần Thơ, tôi tới ngay một nhà trọ ở gần sân banh. Mới đầu, bà vợ không nhận cho tôi ở trọ, viện cớ bà chỉ cho mấy ông sĩ quan thuê thôi; “nam nữ thọ thọ bất thân”. Bà Năm suy nghĩ như thế, nhưng tôi hứa sẽ khoá cửa kỹ lưỡng, sẽ nh́n trước ngó sau trước khi vào pḥng của tôi, vả lại, tôi chỉ là đứa con nít, ai mà để ư. Con gái bà Năm nói: “Em ơi, em chưa biết mấy ông đàn ông đó nhá”. Cuối cùng chị thuyết phục ba má chị cho tôi ở, rồi biểu hết sức trông chừng tôi.

    Bà Năm chủ nhà trọ trạc ngoài 60, tướng cao ráo, có dáng đi phong lưu. Bà mang kiếng gọng đen, tóc muối tiêu.

    Tiếng cười của bà trong vắt và trẻ trung như tiếng cười của một người con gái. Bà ăn trầu, nhổ nước cốt trầu vào cái ống nhổ bằng đồng. Ông Năm hơi thấp hơn bà một chút, và lớn hơn bà Năm ba tuổi, ông mạnh khoẻ, tráng kiện; mỗi bước đi của ông chắc nịch, đi như có mục đích. Ông Năm hút thuốc liền tay. Lúc bận sửa xe, ông để điếu thuốc ở gần, thỉnh thoảng ngưng tay, kéo một hơi dài, rồi nheo mắt tận hưởng khói thuốc.

    Gia đ́nh ông bà Năm ở trong một nhà Tây làm, có garage sửa xe. Những căn cho thuê, là nhà cao cẳng mới cất thêm ở phía sau. Dưới những căn nhà này có vườn rau, và sân sau có cả mấy chục sợi dây phơi quần áo. Bà Năm chỉ cho tôi nhà tắm của người trọ, nhưng chị Hai , con gái của bà kêu tôi đừng xài những nhà tắm đó, mà xài nhà tắm của gia đ́nh. Chị chỉ cho tôi chỗ giặt quần áo và cái bếp khổng lồ. Tôi có thể h́nh dung ra được cảnh tấp nập vào buổi chiều. Cái bếp đó làm cơm cho hai chục người, gồm mười bốn dân ở trọ và sáu người của gia đ́nh ông bà Năm. Ở chung với ông bà có vợ chồng người con gái, người rể và hai đứa cháu ngoại.

    Bà Năm cho tôi ở căn pḥng ngay đầu cầu thang, bà cho biết không ai chịu ở pḥng này, v́ người ta đi lên đi xuống đều đi ngang qua đó. Bà lại nói như để an ủi tôi:

    - Pḥng này “chắc ăn nhứt” v́ ở ngay phía ngoài, không ai dám chọc ghẹo con.

    Nhưng bà đâu biết, tôi tuy là gái Cần Thơ mà cũng dữ như sư tử Hà Đông; ai mà dám chọc ghẹo tôi. Pḥng tôi nhỏ xíu, vuông vắn chừng 4 thước; cửa sổ nh́n xuống vườn rau. Giường nằm nhỏ như cái băng-ca, thể nào cũng có đêm tôi sẽ lọt xuống sàn nhà. Cái bàn viết chân cao chân thấp rung rinh. Cái tủ để quần áo cao hơn đầu tôi, nên tôi chỉ dùng hai ngăn dưới cùng. Tôi miễn cưỡng nhận căn pḥng này làm nhà.

    Tôi ngả lưng xuống chiếc “băng ca”, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết, cho đến khi chị làm bếp gơ cửa cho hay đă tới giờ cơm chiều. Tỉnh dậy, trong khoảnh khắc tôi không biết ḿnh đang ở đâu.

    Người Mỹ có câu danh ngôn: “You can't go home again”. Câu này thật đúng cho hoàn cảnh tôi lúc này. Tôi trở lại Cần Thơ trong buồn bă, trơ trọi, v́ bạn bè đă đi hết. Thằng Tiểng đi lính. Hai người em bà con của tôi là Hàn Quang Truyền và Hàn Quang Thoạt, lên Sài g̣n làm việc cho nhà thương Cơ Đốc. Lê Thị Bạch Tuyết lấy chồng Không quân, cũng đă lên Sài g̣n rồi.

    Cô giáo Thái Lan được đổi về Sài g̣n, nên cả gia đ́nh con Mai Bắc kỳ cũng dọn đi luôn. Chị Thuận về làm dâu nhà Huỳnh Vơ. Chị lấy Thanh, con trai thứ năm của gia đ́nh này. Bây giờ tôi phải kêu “thằng nhỏ” này bằng anh rể. Thế là “thằng nhỏ” lên “chức”, có phước lấy được chị tôi rất hiền lành, chung thuỷ. Chỉ có một điều là cộng sản luôn luôn có thành kiến với thành phần tư sản, nên d́ Bảy của tôi không chấp nhận cuộc hôn nhân này. Ngày chị tôi về nhà chồng không có xe hoa, không có bà con hai họ.

    Tôi rất buồn, khi trở về Cần Thơ mới biết tin này, v́ sau ngày vu quy, chị bị d́ Bảy ruồng bỏ, chị Thảo của chị muốn gặp em th́ lén lút d́ Bảy. Lúc mới về, tôi cũng không biết chị ở đâu. C̣n chị Thảo, chị của chị Thuận, lại quyết tâm theo gót cha, đem hết tuổi dâng cho cách mạng.

    Hồi đi học, tôi nuôi mộng trở thành một tráng sĩ, hoặc một nhà văn. C̣n mộng ước của chị Thuận rất khiêm nhường và giản dị. Chị chỉ muốn làm một người vợ hiền, một người mẹ hết ḷng v́ con. Hồi c̣n đi học, chị hay giành ủi những cái áo cưới mầu hồng, mầu đỏ trong tiệm may của má, rồi chị mơ ước ngày đám cưới của chị, má tôi sẽ là người may áo cưới. Nhưng rồi Việt Cộng làm tan vỡ mộng ước của người con gái mồ côi cả cha lẫn mẹ này.

    Trong căn pḥng nhỏ xíu, yên lặng, tôi nghe tiếng thằn lằn chặc lưỡi. Tôi ghét thằn lằn cũng v́ cái tiếng chặc lưỡi , kêu than buồn đứt ruột của nó, lại thêm những cục cứt tí tẹo, đen rơi vung văi trên giường. Tôi lấy sợi dây thun bắn lên trần nhà, con thằn lằn rớt xuống đất một cái “độp”. Tôi không dám nh́n kỹ nó, chỉ lấy miếng giấy túm nó liệng ra cửa sổ.

    Chiều thứ sáu, nằm một ḿnh ở đây, tôi nhớ gia đ́nh trên Sài g̣n . Nhà tôi ở trên lầu, cạnh rạp hát Kim Châu trên đường Nguyễn Văn Sâm. Chắc giờ này má và Minh Tâm ra đứng ngoài balcon nh́n xuống đường xem người đi coi hát qua lại dập d́u.

    Từ ngày ba tôi đi tập kết, má tôi khép ḿnh không tiệc tùng, không ăn tiệc cưới, không đi coi hát. Mà chỉ ở nhà chờ ba về, nên khi ở Sài g̣n, má tôi hay đứng ngoài balcon nh́n người đi kẻ lại , má cũng đủ vui rồi. Chắc giờ này, hai chị của tôi đi chơi với bạn trai. Tôi không biết Hoà B́nh đang làm ǵ, nhưng tôi biết Hải Vân đang tập tạ. Tôi biết em lúc nào cũng mơ ước hai việc: học giỏi và có một thân h́nh tráng kiện. Nhà không nhiều tiền, nhưng Hải Vân được đi học Nhu đạo, được đi học vẽ. Vào buổi chiều thứ sáu quạnh hiu này, tôi cũng nhớ đến ba và anh Khôi. Nhưng tôi không h́nh dung được cái thế giới xa vời, sâu thẳm đó. Chúng tôi không những cách nhau v́ con sông Bến Hải, mà c̣n khác biệt cả về tư tưởng lẫn đời sống.

    Có một điều tôi biết rơ về ba tôi: ông là một người yêu nước thương ṇi, và lăng mạn. Ḷng chung thuỷ của ông với má tôi không thua ḷng chung thuỷ của ông với Hồ Chí Minh. Ba tôi chưa bao giờ ra lịnh hay khuyên nhủ con cái làm điều ǵ, nhưng ông lúc nào cũng nêu gương sáng của một người đàn ông yêu nước. Ông quyến rũ không biết bao nhiêu thanh thiếu niên đi vào con đường của xă hội chủ nghĩa. Có lần tôi đến thăm bác Chín của tôi, người anh cùng cha khác mẹ của ba tôi. Trên giường bịnh, bác Chín cho tôi biết con nhà họ Đặng chúng tôi , ai cũng yêu quê hương xứ sở, và tha thiết với gia đ́nh.

    Anh em nhà họ Đặng khắng khít yêu thương nhau. Bác cũng cho rằng bác yêu và quư người “em Việt Minh” của bác lắm. Tuy nhiên, bác không chấp nhận sự lựa chọn của người em yêu quư này, sau khi em bác theo Cộng sản. Rồi bác nắm tay tôi và khuyên: “Bác không biết con theo bên nào, những con phải để t́nh phụ tử trên hết. Có như vậy, con mới nhận thức được sự khác biệt rắc rối trong gia tộc của ḿnh.

    Một buổi trưa thứ Bảy, năm tháng sau ngày đến ở trọ nhà ông bà Năm, tôi ra sân sau phơi quần áo, bất ngờ thấy bà Năm nằm bất tỉnh dưới đất. Lúc đó ông Năm đi vắng, chị Từ nấu ăn vừa mới đi ra chợ Tham Tướng. V́ là ngày thứ Bảy, nhà vắng vẻ, các ông sĩ quan ở trọ đều về Sài g̣n thăm gia đ́nh, chỉ c̣n lại bà Năm và tôi. Có muốn cầu cứu cũng chẳng biết kêu ai lúc này, tôi đành luồn tay ôm lấy bà, bồng thẳng ra đường. Rất may là bên đường, dưới bóng cây xơ-ri, một ông già ngồi ngủ bên chiếc xe lôi. Đến lúc đó, tôi bỗng thấm mệt và mỏi tay, đành phải đặt bà Năm xuống, rồi kêu xe lôi inh ỏi. Ông già lái xe ôm tỉnh giấc, vội chạy về phía chúng tôi, ông giúp tôi bồng bà Năm lên xe.

    Bà Năm bị đứt gân máu. Kết quả là bà bị bán thân bất toại và cấm khẩu. Không có bà quản lư, ông Năm quyết định đóng cửa nhà trọ. Nhưng ông và con của ông vẫn muốn tôi ở lại. Họ coi tôi như người ơn của gia đ́nh, nên không nhận tiền cơm tháng cũng như tiền trọ. Tôi cảm thấy áy náy không yên, về pḥng ngồi và nghĩ miên man, chợt nhớ tới má tôi. Tánh đặc biệt của má, là không làm phiền hay nhờ vả ai. Người thích tự lập và rất ṣng phẳng. Nếu má biết tôi ăn và ở nhà ông bà Năm mà khỏi trả tiền, bà không bằng ḷng. Tôi xuống nhà gặp ông Năm để cảm ơn lời đề nghị của ông.

    Tạm thời tôi vẫn ở đó, chờ t́m một nơi trọ khác. Mỗi lần đi làm về, tôi vào thăm bà Năm. Tôi có cảm tưởng như bà vẫn chờ. Tôi thầm tự hỏi, không biết bà chờ đợi cái ǵ ? Chờ đợi một phép lạ làm cho cơ thể bà hồi phục như xưa? Hay bà chờ đợi tử thần đưa bà đi, để bà thoát khỏi cái kiếp tàn phế buồn tủi. Đôi lúc tôi lại tự hỏi, nếu trưa thứ bảy ấy tôi không ra phơi quần áo ở sân sau, bà Năm có chết không? Cuộc đời của một con người mong manh quá ! Bà đă gục ngă khi không một người ruột thịt nào ở gần. Rồi tôi nghĩ đến má tôi. Người mẹ đă lớn tuổi, đau ốm bất thường. Tôi nhớ tới cái đêm má tôi phải vô nhà thương Cần Thơ. Bất cứ lúc nào má cũng có thể bị lại. Rủi chị tôi không có nhà, em tôi đi học … th́ ai sẽ lo cho má đây. Những cái “rủi” ấy làm tôi lo sợ. Thế là tôi quyết định trở về sống bên má.

    Hôm sau, tôi cho pḥng V biết trước một tháng, là tôi lên Sài g̣n. Tôi nói cho ông Năm biết tại sao tôi về Sài g̣n. Ông Năm cảm thông mà nói:

    - Con đi th́ ông nhớ; con về ở với má con là phải.

    Rồi tới ngày tôi thu xếp để về với gia đ́nh trên Sài g̣n. Một buổi tối, tôi bỗng có linh cảm rằng tôi sẽ không bao giờ trở lại Cần Thơ nữa. Tôi không giải thích được tại sao tôi lại có linh cảm như vậy. Nếu không trở lại Cần Thơ, chắc tôi cũng vĩnh viễn phải xa Bang Thạch. Suốt đêm hôm đó, tôi trằn trọc, bồi hồi nghĩ tới mảnh vườn của ông bà ngoại tôi.

    Tôi phải về Bang Thạch một lần nữa, trước khi lên Sài g̣n với gia đ́nh. Rủi mai này xa cách ngàn trùng, tôi cũng c̣n giữ được những kỷ niệm ấm áp của quê cha đất tổ trong tâm hồn. Tôi phải về thăm mả của ông bà ngoại, của cậu Nam Sắc, cậu Út Thế. Sẽ phải leo lên cây ổi gần mả của bà Mười một lần nữa coi có c̣n bị ma chó cắn không ? Lần nào trèo lên cây ổi đó cũng bị ma chó cắn bầm hai cái đùi; cả trăm lần như vậy. Tôi không sợ cộng sản có thể bắt hồn tôi được, nhưng tôi lại tin có ma chó cắn chân tôi.

    Sau khi chia tay với các nhân viên pḥng V, tôi lên đường đi Bang Thạch bằng xe đ̣. Đến bót 18, tôi xuống xe. Cảnh quen thuộc đầu tiên mà tôi gặp, là cây cầu ván dẫn vô chợ Bang Thạch. Cái cây cầu quen thuộc trong trí nhớ. Hồi nhỏ, mỗi lần về thăm bà ngoại, chị em chúng tôi đều chơi tṛ của tôi. Tôi bắt chị Thuận hay chị Thảo lấy khăn bịt mắt tôi lại trước khi bước lên cầu. Hai chị nắm tay tôi dẫn đi trong chợ̣. Tôi nghe đượ̣c những tiếng nói, mùi hương quen thuộc. Trong chợ có ba tiệm hàng xén, nhưng tiệm của ông Sau Èm có mùi đường the nặc nồng, và mùi cá mặn nghe mà chảy nước miếng. Hai tiệm kia th́ cá mặn ở phía trong, đi ngang không nghe mùi cá. Chị Thảo dẫn tôi tới một ngôi nhà mà tôi nhận ra ngay, v́ sờ vô vách, tay liền đụng mấy lỗ mắt cáo; đó là Nhà Việc, nơi cậ̣u Hai Trứ làm xă trưởng. Chị Thảo bắt tôi mở khăn ra, rồi cả đám con nít vào Nhà Việc chào cậu Hai.

    Tôi ghé qua tiệm ông Sáu Èm mua gói đường cát cho d́ Bảy. Có mấy người trong tiệm nhận ra tôi là con gái cô Tám Phàm cũng đon đả hỏi thăm sức khoẻ má tôi. Ông Sáu Èm chờ khách hàng ra khỏi tiệm , mới hạ giọng hỏi nhỏ: “Có tin ǵ của ba không cháu?”. Câu trả lời của tôi làm ông chau mày thất vọ̣ng.

    Khi vừa bước khỏi chợ Bang Thạch, tôi có cảm tưởng một nửa khung trời vừa sụp đổ trước tôi. Cây cầu ván bắc từ chợ qua đồn 18 không c̣n nữa. Bây giờ chỉ có cây cầu khỉ lắc lư với ba khúc tre nối đuôi nhau làm tay vịn. Cái đồn kiên cố đă bị sụp đổ tan tành, không c̣n người lính gác cầu, gác chợ như trước kia. Tôi nín thở đi qua cây cầu khỉ. Bên dưới nước ṛng, nên tôi thấy được bóng tôi, vừa đi vừa sợ té xuống śnh. Hai bên đường đất trước kia cây cối xanh tươi, bây giờ cây khô trụi lá, có mầu vàng. Chiến tranh đă lan rộng khắp nước, nhưng có bao giờ thành phố biết được chiến tranh đă tàn phá xóm làng của ḿnh như thế nào không ?

    Trời ơi ! Bang Thạch trong điêu tàn khiến ḷng tôi tan nát, c̣n đâu những vườn trái cây xanh mướt, ngọt ngào ! Bang Thạch của thời thơ ấu nay c̣n đâu.


    Còn tiếp ...
  • 21-05-2017, 08:21 PM
    Tran Truong

    A Thousand Tears Falling !!!

    Chị Kim, chị Cương ở lại Cần Thơ một tuần để săn sóc má, tôi biết má đang ở trong t́nh cảnh đơn chiếc, những mà lại muốn các chị lên Sài g̣n làm việc để lo cho tương lai, hơn là ở với má; má không muốn hai chị nối nghiệp nghề thợ may của má. Hai chị về ở lâu mới hiểu rơ cuộc sinh hoạt của gia đ́nh, thấy tận mắt má cực khổ, gian lao như thế nào, để trông nom tiệm may vá , lớp dậy may. Má giao cho tôi việc t́m thêm học tṛ, giao hàng, trả hàng và cung cấp kim chỉ, vải vóc, dụng cụ cho tiệm may …

    Trong một buổi cơm vào ngày Chúa Nhựt, ngày mà học tṛ của má về quê thăm nhà, chị tôi bàn với má, là cả nhà dọn lên Sài g̣n. Hai chị em đi làm, tiền lương cộng lại, tài chánh sẽ rộng răi, má nên nghỉ nghề may. Suốt ngày hôm đó, mọi người đều bàn “lên Sài g̣n” nhiều lần.

    Ḷng tôi náo nức không yên khi nghĩ đến chuyện bỏ Cần Thơ mà ở hẳn trên Sài g̣n. Dù cho chuyện đó là chuyện rất hay, nên nữa, để má tôi được nghỉ ngơi, nhưng tôi vẫn quyến luyến Cần Thơ nơi chôn nhau cắt rún. Tôi vẫn nghĩ rằng Cần Thơ là của tôi hay ngược lại, tôi là của Cần Thơ. Đă vậy, tôi đang có việc làm yêu thích đến mức độ thỉnh thoảng lại tự hỏi đây là thiệt hay mộng.
    Việc làm rất vừa ư tôi; lương lại cao hơn một cô giáo. Phải công nhận rằng tôi đă được người Quốc gia tin tưởng, điều mà tôi mong mỏi, có gắng để đạt được trong xă hội đó. Không phải v́ đồng lương không, mà nó là một sự lựa chọn lư tưởng, để bà con của tôi biết, tôi chọn đứng về phía Quốc gia. Nghĩ đi th́ như vậy, nghĩ lại th́ một ḿnh tôi và lư tưởng không thể gánh vác nổi gia đ́nh. Không lẽ để má tôi vất vả cực khổ. Cả nhà bàn đi tán lại mà chưa đi đến một quyết định. Má tôi hứa với hai chị là sẽ suy nghĩ kỹ.

    Ông bà không c̣n, về thăm lăng mộ ông bà cũng không dám về, ban tối th́ Việt Cộng chiếm, sáng th́ Quốc gia đi bố, má tôi mới quyết định dọn lên Sài g̣n ở với hai chị.

    Trước khi từ biệt nơi chôn nhau cắt rún, tôi đi qua tất cả con đường của Cần Thơ để nh́n nó lần cuối. Tôi cũng muốn về thăm mộ ông bà ngoại, để hưởng lại chút hơi ấm của mảnh vườn đă nuôi sống má và chị em tôi khi chúng tôi mới từ trong bưng biền trở về vùng quốc gia. Những d́ Bảy đă cấm không cho tôi về, khi d́ biết tôi làm cho pḥng V quân đoàn 4 và hiến máu cho một thương binh quốc gia.

    Hồi mới về Bang Thạch với ông bà ngoại, mỗi lần nhớ ba và anh Khôi, tôi lại nhắc tới những vùng đă sống trong bưng biền như: Ong Vèo, Ba Ngọn, Kim Qui, Cảng Chú Hàng … Thấy tôi nhắc hoài tới những địa danh đó, ông ngoại tôi khuyên tôi không nên sống trong dĩ văng, mà hăy để dĩ văng sống trong ḷng ḿnh. Sau này tôi mới hiểu lời khuyên đó. Nhờ vậy mà tôi thấy ḿnh minh mẫn; tôi nhớ chuyện đă qua, nhưng không tiếc nuối những gì đă đánh mất trong đời. Tôi nghĩ ḿnh không có mất cái ǵ hết, ngược lại, dĩ văng đó làm cho đời sống của ḿnh thêm phong phú.

    Tôi gặp đám bạn trước khi chia tay. Họ tặng tôi một món quà trong hộp thiếc bọc giấy đỏ. Bạn tôi ai cũng biết tôi thích mầu đỏ. Tôi thích mặc áo mầu đỏ; tập vở phải có b́a đỏ; ngay thước trong cặp tôi cũng sơn mầu đỏ. Họ trêu tôi là “Việt Cộng” v́ mầu đỏ, những họ biết ư nghĩa mầu đỏ của tôi. Sở dĩ tôi thích mặc áo mầu đỏ là v́ tôi tưởng niệm mấy người cũng trường chết trận. Rồi từ đó, mầu đỏ đối với tôi có ư những giòng máu chảy trên quê hương của người lính Việt Nam Cộng hoà.

    Về nhà, tôi mở hộp thiếc, mới biết các bạn tôi tặng tôi hộp đất lấy ở liếp vườn bông mà hồi học đệ thất chúng tôi vun xới.


    Nhà thờ Đức Bà ở Sài g̣n là nơi tôi hay đến, t́m một nơi yên lặng để suy nghĩ. Tôi không phải là một tín đồ Công giáo, cũng không phải là một Phật tử. Tôi chẳng theo một tín ngưỡng nào, trong khi hàng ngày phải đối diện với biết bao nhiêu thực tế phũ phàng, nào chiến tranh, nào chết chóc, luôn luôn ám ảnh mọi người, nên cũng không biết đặt niềm tin tôn giáo vào đâu. Dù không có một ḷng tin như những tín đồ Thiên Chúa giáo; mỗi lần bước vô ngôi nhà thiêng liêng này, tôi bỗng cảm thấy an tâm rất nhiều. Nơi đây, tôi có thể nói ra và nghe được hết những ǵ chứa chất trong ḷng tôi: những mong ước, t́nh thương cho gia đ́nh, cho đất nước.

    Đôi khi tôi giận cả ông Trời, v́ ông đă ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi đau thương, cực khổ của người dân Việt Nam. Thỉnh thoảng, tôi nh́n lên tượng Chúa Jesus trên cây thánh giá thâm khấn:

    - Xin Chúa bảo vệ ba và anh Khôi con …

    Không bao giờ tôi cầu xin Chúa cho hoà b́nh trở lại, hay đưa ba tôi về gia đ́nh, v́ ông ngoại tôi đă nhiều lần nhắc nhở: Trời đất hiền lành lắm, không có xía vô việc chánh trị v́ chánh trị là tàn ác, lừa dối, xảo trá.

    Một chiều thứ sáu, tôi đến nhà thờ Đức Bà, thấy các con chiên ngoan đạo đang đứng sắp hàng chờ xưng tội. Tôi không có cái ǵ để xưng, mà chỉ muốn xin Chúa cho tôi có đủ can đảm và sức mạnh quyết định một việc có thể làm phật ḷng má tôi và gia đ́nh. Tôi biết tôi đă làm má tôi buồn ḷng nhiều lần như hồi tôi c̣n đi học . Vào những đêm trăng sáng chị Thuận và tôi chui khỏi mùng khi mọi người đă ngủ yên. Chúng tôi ra để ngồi nói chuyện với con Mai Bắc Kỳ, con Lê và thằng Tiểng hàng xóm, rồi c̣n bắc ghế cho Tiểng bẻ mận của nhà hàng xóm. Có lần Mai và tôi dám đổi ổi để lấy vú sữa trên bàn thờ của nhà nội Tiểng.

    Nhưng đó chỉ là những chuyện ranh con nghịch ngợm, bỏ qua được. Bây giờ là chuyện người lớn, chuyện làm ăn đàng hoàng. Từ ngày lên Sài g̣n, tôi thấy cuộc sống thành thị khó khăn hơn sức của tôi. Thành đô náo nhiệt, ồn quá, tôi không chịu được, nên muốn trở về Cần Thơ để đi làm cho pḥng V. Chị tôi đă xin cho tôi vào làm nhà in Đông Nam Á, lương thấp không đủ chung phần với các chị trong “công ty” của gia đ́nh. Đă vậy, tôi lại không thích làm việc dưới quyền ông già quan liêu, khó tánh. Sau nhiều lần t́m việc khác không được, tôi đă ngỏ ư muốn trở về Cần Thơ, nhưng má tôi không yên tâm cho tôi ra khỏi nhà một ḿnh. Tôi năn nỉ:

    - Cần Thơ là đất của ḿnh; nếu ở đó không yên, th́ c̣n chỗ nào yên ổn hơn được?

    Hai chị tôi hậm hực cho biết, nếu tôi trở về Cần Thơ là phụ ḷng hai chị. Nhưng nếu v́ hai chị mà tôi ở lại Sài g̣n, th́ tôi sẽ sống trong buồn bực, và lúc nào cũng bị mặc cảm, v́ làm lương không đủ phụ với gia đ́nh. Tôi quen sống nơi tỉnh nhỏ không ồn ào náo nhiệt, không thích ứng được với đời sống nơi đô thị ồn ào, chụp giựt. Thế nào tôi cũng phải trở lại Cần Thơ. Dù sao tôi hiểu rơ Cần Thơ hơn Sài g̣n. Đời sống ở Sài g̣n có muôn h́nh vạn trạng. Kẻ giầu người nghèo , quá chênh lệch. Có những nhà sang trọng, cao chót vót. Trong khi đó, không thiếu những cái cḥi cất tạm của những người nghèo từ dưới tỉnh chạy loạn lên.
    Dân Sài g̣n ăn hối lộ như cơm bữa. Kiếm được việc phải mất tháng lương đầu tiên cho người giới thiệu … Biết không thể sống được ở cái đất Sài g̣n đầy dối trá, lưu manh, tôi quyết định trở về Cần Thơ, rồi mỗi tháng lănh lương, sẽ gởi về cho giáo sư. Tôi đă sống nhiều năm bên má để giúp đỡ má phần nào, bây giờ tới phiên hai chị tôi lo cho má.

    Tôi rời nhà thờ Đức Bà, ghé mua hai chục hột vịt lộn đem về nhà “ăn lấy hên”. Trong bữa cơm, tôi nói với má và hai chị:

    - Hồi chiều, đi làm về, c̣n tới nhà thờ Đức Bà …

    Mới nghe tới đây, hai chị tôi mắt sáng lên, v́ tưởng tôi nghe lời hai chị mà vô đạo. Tôi mỉm cười nói tiếp:

    - Con hỏi Chúa về quyết định của con và Chúa đă phán cứ làm theo ư muốn của con. V́ vậy, con sẽ trở về Cần Thơ.

    Má và các chị đều giữ im lặng trước giọng nói cương quyết của tôi. Mấy ngày sau đó, má tôi đi chợ mua thức ăn , làm bữa cơm tiễn chân tôi. Hôm ấy có đủ mặt chị em trong nhà, nhưng nhiều tiếng cười, tiếng giỡn của mọi người. Hôm tôi chia tay với mọi người, con chó của Hải Vân bỗng tru lên, khiến ai cũng ngạc nhiên.

    Về đến Cần Thơ, tôi gặp may mắn liền, v́ được đại uư Chánh nhận lại làm việc ở pḥng V . Sợ ông đổi ư, sáng hôm sau, tôi đi làm liền. Nhưng tôi lại gặp khó khăn trong việc t́m chỗ ở. Má muốn tôi ở nhà chị Yến và chị Hồng Nga trên đường Ngô Quyền. Tôi không muốn ở đó, v́ tôi biết chị Hồng Nga là Việt Cộng. Chị là con gái thứ ba của cậu Tư. Người yêu của chị là anh một cán bộ Việt Cộng, chết cách đây 5 năm. Chị không nghĩ đến chuyện chồng con nữa, mà dành hết cuộc đời cho ư thức hệ .
    Trong gia đ́nh tôi, chị em bà con rất thương yêu nhau. Chị Hồng Nga sẵn sàng cho tôi ở với chị. Các chị không từ bỏ đứa em nào, dù cho đứa đó không theo Việt Cộng, làm việc cho Quốc gia. T́nh máu mủ trước sau như một. Chỉ có d́ Bảy là người không tha thứ, không chấp nhận đứa cháu nào từ chối phục vụ cho Mặt trận. Hồi tôi c̣n nhỏ, chị đă dậy tôi thêu thùa, làm thủ công, khi tôi học lớp nữ công gia chánh ở trường Đoàn Thị Điểm. Nhưng làm sao tôi có thể ở với chị được, khi tôi làm việc cho quân đội Việt Nam Cộng hoà, c̣n chị “Chống Mỹ cứu nước” !!!


    Còn tiếp ...
  • 21-05-2017, 07:04 AM
    Tran Truong

    A Thousand Tears Falling !!!

    Hai giờ sáng, trời không trăng, tối đen như mực. Nhờ ngọn đèn đường leo lét dọc đường Vơ Tánh, tôi chạy hết con đường dài mà t́m không được một chiếc xe lôi nào. Tôi đành liều đập cửa nhà chú “Đức xe lôi” trong hẻm ông Cả Đài, để xin chú đưa má tôi vô nhà thương. Khi chú c̣n lui cui đi t́m đôi dép, tôi phải chạy bay về nhà, dặn ḍ chị Thuận nhớ cho hai đưa em ăn đúng giờ để kịp đi học. Sau cùng, tôi viết mấy chữ nhờ một học tṛ của má trong nom giùm khi má phải nằm nhà thương. Má tôi đau bụng, nhắm mắt, nằm rên khe khẽ, hai tay ôm chai nước nóng trên bụng, c̣n chai thuốc cốm trị bao tử cũng nằm lăn lóc trên giường.

    Luật lệ nhà thương không cho “con nít” vô pḥng khám. Tôi đành đứng chờ bên ngoài, trong bụng nóng như lửa đốt. Đầu tiên tôi giận ba tôi. Bây giờ ba ở đâu? Ba “chống Mỹ cứu nước”, bỏ mặc vợ con sống lay lắt. Trong cơn nguy ngập, tôi ước ǵ có ba ở cạnh má, ba sẽ biết cách xoa dịu nỗi đau đớn của má. Tôi nhớ hồi năm tuổi, tôi chơi dao rồi bị đứt tay thật sâu, thịt ḷi ra, vậy mà tôi không khóc, chỉ v́ ba xức thuốc đỏ lên vết thương, băng lại rồi hun lên ngón tay tôi một nụ hun dài. Nhờ nụ hun này, vết thương lành rất nhanh mà lại không có thẹ̣o . Tôi nhớ hoài nụ hun đó. Sao bây giờ ba không ở bên cạnh má, để má qua khỏi cơn đau ngặt nghèo này?

    Tôi đứng ngồi không yên ngoài hành lang, chỉ cách má tôi có một cái cửa, mà sao tôi thấy xa vời vợi như hai miền Nam-Bắc cách nhau con sông Bến Hải. Mỗi lần nghe tiếng má rên, tôi nôn nóng muốn nhào vô, bất chấp cả luật lệ nhà thương, tôi phải tự kềm chế, không thôi người ta ghét lấy qua bịnh nhân. Tôi phải đợi một hồi rất lâu; cửa pḥng mở lớn, hai cô y tá đẩy một cái giường sắt, má tôi nằm trên. Vừa thấy họ, tôi hoảng hốt tưởng má tôi đă “làm sao”. Những khi định thần nh́n kỹ thấy tấm mền trắng chỉ đắp tới ngực, chớ không che kín mặt. Lúc đó tôi mới hoàn hồn. Vội chạy theo má, nắm lấy tay bà, gọi khẽ:

    - Má, con nè, má! Má có nghe tiếng con không?

    Má tôi chỉ đáp lại bằng một tiếng rên khẽ. Hai cô y tá đưa má vào một pḥng khác, rồi chuyển má sang một chiếc giường nhỏ hơn, không có bánh xe. Trước khi bỏ đi, một người chỉ cái nút bấm trên tường, nói:

    - Chỉ nhấn nút này chừng nào má đau dữ dội thôi nhen.

    Tôi tự hỏi: “Còn trận đau nào dữ dội như trận đau hồi khuya nữa”. Tôi vái trời cho tôi khỏi phải dùng tới cái nút này. Họ đi đến, rồi đẩy cái giường cũ ra khỏi pḥng.
    Má tôi nằm thiêm thiếp, nhưng tay chân động đây không yên, miệng nói mê sảng không thành tiếng. Tôi nắm tay má, rồi nói:

    - Má, má c̣n đau lắm không?

    Má vừa rên rỉ vừa nói:

    - Má sợ quá, con ơi.

    Giây phút đó, tôi tưởng như cái cột trụ cuối cùng của nhà tôi trở thành một đống gạch vụn. Từ ngày bà tôi ra đi, chị em chúng tôi hoàn toàn trông cậy vào má. Má là người can đảm, chẳng bao giờ than thở, chẳng sợ bất cứ ai, vừa làm cha vừa làm mẹ, nuôi con thơ, cho ăn học nên người. Bấy giờ má nằm nhà thương, đau đớn đâu v́ cơn bịnh, và lo sợ cho mạng của chính ḿnh. Má tôi nói, giọng khàn khàn yếu ớt:

    - Con đánh dây thép cho chị Kim, chị Cương, Hải Vân hay má đau.

    Hai chị của tôi mới sang được căn phố trên lầu rạp hát Kim Châu. Bác Phạm Ngọc Thảo là đồng chí cũ của ba tôi, nên đă nhiệt t́nh giúp đă cho hai chị được nhận vào làm cho Ngân hàng quốc gia Việt Nam. Việt Cộng đă vỡ mộng về tôi, nên sau đó họ nhằm vào Hải Vân. Đă nhiều lần các cán bộ Việt Cộng nửa khuyên, nửa ép Hải Vân vô bưng đi học. “Để có một đứa con nối dơi anh Quang”, họ nói như vậy. Nhưng má tôi phản ứng ngược lại. Sau đó, má cho Hải Vân lên Sài g̣n ở với hai chị Kim, Cương.

    Tôi quỳ xuống đất, kề miệng, nói nhỏ bên tai má tôi:

    - Má phải mạnh. Lát nữa con vô sở, xin lănh lương sớm hơn để thuốc thang cho má.
    Mắt nhắm nghiền, má đưa tay sờ soạng kiếm tay tôi, nắm chặt:

    - Con phải coi sóc tiệm may, đừng để mấy chị học tṛ phải gánh vác hết, tội nghiệp người ta.

    - Má đừng lo cái tiệm, con biết coi trong coi ngoài; con săn sóc mấy đứa nhỏ nữa, má yên tâm.

    Lúc đó, tôi sẵn sàng hứa bất cứ cái ǵ cho má tôi yên ḷng. Nhưng má tôi có đ̣i hỏi ǵ nhiều đâu.
    Rồi cơn đau trở lại. Người má tôi cong lên, hai đầu gối co lên ngực. Nhưng má tôi cắn môi chịu đựng, không rên rỉ. Tôi ấn nút chuông nhiều lần; chừng năm phút sau, một cô y tá nhanh nhẹn bước vô. Cô bắt mạch, rồi chích cho má tôi một mũi thuốc. Trước khi ra khỏi pḥng, cô khuyên tôi đừng quá lo; sáng bác sĩ sẽ vô coi bịnh cho má.

    Chỉ mấy phút sau, má tôi ngủ thiếp đi, hơi thở điều hoà. Tôi đoán người ta vừa chích thuốc giảm đau cho má. Tôi thở ra nhẹ nhơm, ngồi dựa lưng vô vách tường cạnh chân giường. Tôi nhớ lại những lời dặn ḍ của ông ngoại lúc ông c̣n sống: “Các cháu phải nghe lời má, phải săn sóc má thay ông”. Chị em chúng tôi nhiều lần hứa với ông là chúng tôi sẽ vâng lời. Nhưng giờ tôi muốn nói lại với ông: “Ngoại ơi, bây giờ chỉ có ông trời mới giúp được nổi má cháu thôi!

    Ngày xưa mỗi lần đi công tác xa, ba tôi dặn anh Khôi, chị Kim, chị Cương phải “săn sóc má cho tới ngày ba đi công tác về”. Bấy giờ, chỉ có ḿnh tôi với má, tôi biết làm sao đây?

    Hừng sáng hôm sau, dưới đường Bă Đậu, tiếng xe cộ qua lại tấp nập, ồn ào; tiếng người vang lên cũng không đánh thức má tôi dậy được. Đến giờ làm việc, tôi phải xuống văn pḥng làm tờ nhập viện cho má. Trước khi rồi khỏi pḥng, tôi đưa cái tay lên mũi má nghe ngóng. Tôi mừng khi thấy má thở đều. Tôi an tâm ra đi. Tôi không tới văn pḥng bịnh viện ngay, đến bà bạn học cũ của má tôi, hiện đang làm y tá ở đây. Trong khi đau ốm phải vào nhà thương, mà có bạn làm y tá, c̣n hay hơn có bạn làm tổng thống. Tôi đi thẳng tới nơi làm việc của cô Tám Quan, y tá trưởng. Khi biết má tôi mới nhập viện đêm qua, cô hứa lo hết mọi việc cho má tôi.

    Tôi an tâm chạy ra bưu điện gởi điện tín cho hai chị tôi. Từ khi các chị xa gia đ́nh, tôi gởi điện tín hai lần, hai lần đều báo hung tin hết. Lần thứ nhứt, ông ngoại tôi qua đời. Lần thứ hai bà tôi ốm nặng, sắp mất. Lần này là lần thứ ba, báo tin má tôi nằm bệnh viện. Chắc chắn sẽ làm hai chị lo lắm. Tôi viết: “Má đau nặng, tụi em cần hai chị về gấp”.

    Chị Kim, chị Cương và Hải Vân về tới Cần Thơ chiều hôm sau. Hai chị và em của tôi đâu có biết họ là vị cứu tinh của tôi trong những ngày đó. Mấy tháng trước, một người quen của má tôi bị xuất huyết trong bao tử, tưởng là không có ǵ quan trọng, ai dè mấy tháng sau bà chết. Khi má tôi bị đau bao tử, cái chết của bà ám ảnh tôi hoài, suốt ngày đêm, nhưng tôi không dám cho ai biết, sợ bị quở là nghĩ bậy. Trong khi đó, Hoà B́nh cứ đ̣i nó và Minh Tâm vô thăm má, nhưng tôi sợ hai đứa c̣n nhỏ quá, thấy má đau lại vô t́nh nói những lời xui xẻo. Nhưng tôi không cho vô, hai đứa lại càng nghi ngờ má đă chết rồi. Đă làm chị, tôi phải b́nh tĩnh và can đảm để làm gương cho lũ em, nhưng tôi cũng lúng túng, yếu mềm như con mèo ướt.
    Trong hai ngày vừa qua, mỗi lần thấy hai đứa nhỏ khóc, tôi lại bí mật đi chỗ khác để giấu nước mắt. Mỗi lần hai đứa nhỏ hỏi: “Má chết phải không chị?”, tôi nghẹn ngào không biết trả lời ra sao. Mà chính những câu hỏi đó cũng thỉnh thoảng hiện ra trong óc tôi. Hoà B́nh khóc hoài, rồi không chịu đi học.

    Khi hai chị tôi về, mọi việc được thu xếp tạm ổn định. Hoà B́nh buông tôi ra mà đeo theo chị Kim, v́ chị là thần tượng của nó thuở nhỏ. Chị Cương kiên nhẫn, dịu dàng với Minh Tâm, nó vui lên mà tạm quên má. Tối hôm đó, hai chị ở nhà với em, tôi vô nhà thương mướn cái ghế bố , ngủ cạnh má. V́ tôi không có kinh nghiệm ǵ về việc nuôi người bịnh, cách làm của bác sĩ và y tá trong nhà thương. Cô Tám Quan cho biết má tôi có sạn ở mật. Họ cho má tôi uống thuốc giảm đau bao tử, và đă lấy máu để thử nghiệm. Bao giờ có kết quả mới biết chắc bịnh ǵ. Có Tám Quan kề tai tôi nói nhỏ:

    - Yên tâm. Cô có đây, người ta săn sóc má con chu đáo lắm. Má con có bề ǵ, khi ba con về ông bắt thường cô th́ cô chết!

    Đêm thứ tư trong nhà thương, má tôi ngủ yên nhứt, không c̣n nghe tiếng rên rỉ nữa. C̣n tôi th́ cũng mệt quá nên ngủ như chết. Đến nửa đêm mà tôi kéo áo đánh thức tôi dậy, rồi vừa cười vừa nói:

    - Đức Mẹ nói má sẽ hết bịnh con ơi. Đức Mẹ để tay lên bụng má, rồi chỗ đau biến mất.

    Má tôi chỉ tay lên tường, nơi có treo h́nh Đức Mẹ Maria, mấy hôm rày tôi không để ư. Tôi ngái ngủ, nói:

    - Con mong chiêm bao của má thành sự thật.
    Má tôi tin tưởng, đáp:

    - Thiệt con ạ. Không phải chiêm bao đâu.

    Sáng hôm sau, tôi không đi mà chạy xuống cầu thang, nhảy lên xe lôi, về nhà báo tin lành cho gia đ́nh biết, đặc biệt là hai chị Kim, chị Cương, v́ từ lâu hai chị đặt hết ḷng tin vào Đức mẹ Maria. Khi tôi kể xong, hai chị liền quỳ xuống, làm dấu thánh và đọc kinh Kính Mừng.

    Bác sĩ nói rằng má tôi hết bịnh là một sự “mầu nhiệm”, chính ông cũng không hiểu tại sao. Má tôi phải nằm thêm hai ngày nữa mới được về nhà. Trước khi rời pḥng, má tôi bước tới vách tường để tay lên h́nh Đức Mẹ, rồi nói:

    - Cảm ơn Đức Mẹ.

    Hai chị tôi đồng t́nh nh́n nhau.


    Còn tiếp ...
  • 20-05-2017, 08:11 PM
    Tran Truong

    A Thousand Tears Falling !!!

    Đại uư Bính trạc ngoài 30 tuổi. Tóc ông chải brillantine đen mượt. Bộ quân phục của ông được ủi thẳng nếp, ngay ngắn, không nhàu nát như bộ quân phục của thiếu uư Nam, ông xếp tôi. Tôi nghe thoáng mùi nước hoa cologne đặc biệt và mùi thuốc thơrn. Một tay cầm ống điếu, một tay ông đưa ra bắt tay khi tôi vừa bước vào pḥng. Cặp mắt sáng của ông làm tôi hơi bối rối. Nhưng ông cười nói cởi mở, làm cho bầu không khí bớt căng thẳng ngay. Sau mấy câu xă giao, tôi đi thẳng vào vấn đề :

    - Thưa đại uư, tôi tin là đại uư biết tôi đang bị điều tra.
    Ông trả lời:

    - Tôi chưa được báo cáo kết quả.
    Giọng Bắc của ông nghe hay hơn giọng Bắc của trung uư Chương. Là dân Nam kỳ nên tôi không biết ai ở tỉnh nào xứ Bắc.
    Tôi cố hết sức b́nh tĩnh nói:

    - Thưa đại uư, theo ư tôi, cuộc điều tra này không giống như những cuộc điều tra lư lịch nhân viên khác trong pḥng V.

    Thật ra, tôi cũng không nghe nói có nhân viên nào cùng làm việc với tôi bị điều tra cả, những cứ nói liều để chứng tỏ tôi bị đối xử khác biệt.
    Đại uư Bính chậm răi trả lời:

    - Trung uư Chương cho tôi biết là ông ta sẽ hỏi cô về ba cô.

    - Thưa đại uư, ông ấy biết về ba tôi nhiều hơn tôi biết về ba tôi, nhưng thật sự ông không điều tra ba tôi, mà có ư buộc tôi về cái tội nằm vùng! Điều đó rơ ràng cố t́m cách vu cáo và doạ nạt.

    Tôi nói bằng một giọng trách móc, giận hờn, khiến đại uư Bính có vẻ khó chịu. Nhưng tôi nghĩ rằng có thể ông hiểu người Nam chúng tôi là những người thật thà, chất phác và ngay thẳng, nghĩ ǵ cứ nói toạc ra hết. V́ vậy, tôi nói tiếp:

    - Thua đại uư, đây là xứ sở của chúng tôi, nơi chôn nhau cắt rún của người miền Nam. Tôi là con dân của đất Cần Thơ, Chánh phủ quốc gia có bổn phận phải tôn trọng quyền làm dân của tôi chứ. V́ vậy, không nên khơi khơi kết tội mà không có một bằng chứng cụ thể nào, như trung uư C'hương đang làm. Đó là một hành động ăn hiếp dân hiền lành vô tội như tôi trong mấy hôm nay.

    - Trần Thị Tố Loan có phải bà con của cô không? - Bất ngờ đại uư Bính hỏi, tôi b́nh tĩnh trả lời:

    - Dạ, chị ấy là bà con cô cậu của tôi.

    - Tôi có gặp cô ấy sau khi cổ bị bắt. Một người con gái quá ĺ lợm! - đại uư Bính lắc đầu.

    - Chị tôi bị kêu ăn 5 năm tù!
    Tôi nh́n thẳng vào mặt ông, rồi chậm răi nói:

    - Thưa đại uư, tôi tin rằng qua các cuộc điều tra và các hồ sơ An ninh đang có, đại uư đủ biết hết về gia đ́nh, bà con của tôi. Tôi xin cam đoan với đại uư là tôi vô tội. Tôi không phải Việt Cộng mà tôi cũng không phải là tay sai của cộng sản. Vậy, xin đại uư giúp tôi.

    Tôi nói vừa thầm khấn Trời, Phật phù hộ cho tôi. Đại uư Bính yên lặng nghe tôi nói, rồi chợt hỏi:

    - Cô có thích việc làm của cô ở Pḥng V không?

    Tôi không dám nói thật dù thích muốn chết, sợ người ta nghi ngờ, mà nói một tiếng “dạ” không thôi th́ lại sợ không đủ, rủi họ đề nghị làm việc khác th́ sao? Nhưng tôi biết nói ǵ bấy giờ? Tôi c̣n nhỏ quá, mà hành trang vào đời của tôi lại nhẹ tâng, chỉ có mấy lời giáo huấn của ông bà tôi, ba má tôi … Nào là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, nào là ḷng ái quốc, nào là cách cư xử với bà con trong làng Bang Thạch …

    - Cô có c̣n tin tưởng ở Quốc gia sau khi chị cô bị bắt không? - Đại uư Bính hỏi.
    Tôi đáp ngay:

    - Thưa đại uư, tôi thương chị tôi lắm, nhưng tôi biết, thời gian trong tù chỉ là một trở ngại nhỏ cho bước đi lớn của chị. Đối với tôi, chị là chị Tố Loan, mà tôi vẫn là tôi, người tin ở Quốc gia.
    Ông đứng dậy trong khi tôi vẫn ngồi yên trên ghế :

    - Được rồi, tôi sẽ nói chuyện với trung uư Chương.

    Đại uư Bính tiễn tôi ra cửa. Ra khỏi sở An ninh quân đội II tôi thấy đời thật đáng yêu, đáng sống; ḷng tôi nhẹ như được cất cánh. Tôi vội vàng về nhà báo tin mừng cho má hay. Trước khi gặp đại uư Trần Duy Bính, tôi cứ tưởng ông công an nào cũng có nanh, có vuốt. Ngược lại, đại uư Bính có hàm răng trắng thật đẹp và nụ cười thật hiền.
    Sáng hôm sau, khi tôi vừa bước chân vô sở, đă thấy thiếu uư Nam có mặt trước mọi người như thường lệ. Sự có mặt rất sớm của ông khiến tôi đôi khi thắc mắc, không biết ông có về nhà ngủ, hay ông ngủ luôn trong văn pḥng v́ có máy lạnh.

    Vừa thấy mặt tôi, thiếu uư Nam đưa cho tôi một tờ giấy hồng. Khỏi nói, tôi cũng biết cái ǵ đang chờ đợi tôi từ sáng tới giờ. Đó là lệnh “tŕnh diện tại văn pḥng trung uư Chương ngay lập tức!”. Chữ viết tay của đại uư Chánh. Buổi gặp đại uư Bính khiến tôi bạo dạn ngồi xếp tờ giấy mầu hồng thành chiếc máy bay, rồi cho bay vô thùng rác. Thiếu uư Nam trợn mắt nh́n tôi, nói:

    - Con trai của Chúa Jesus đ̣i gặp cô mà!
    Tôi dí dỏm đáp:

    - Nhưng con gái của Chúa Jesus hôm nay bận việc.
    Tôi vừa nói vừa nh́n vào chồng tin tức mà thiếu uư Nam lấy từ bên trung tâm hành quân về, rồi tiếp:

    - Con trai của Chúa đành phải chờ bữa khác vậy.
    Thiếu uư Nam ngạc nhiên nh́n tôi một lát, rồi lắc đầu, trở về bàn làm việc của ông.
    Những ai trong văn pḥng biết chuyện tôi đang bị điều tra hồi hộp chờ xem tôi lăn lóc trong băo tố, rồi sẽ trôi giạt đến đâu. C̣n tôi, tôi cũng mệt lả người, nên suốt ngày hôm đó tôi không tập trung được tư tưởng. Ngoài mặt tôi giả bộ b́nh thản, nhưng trong bụng, tôi cũng hồi hộp chờ chiếc xe thùng mầu đen đến hốt tôi đi. Nhưng ngày đi qua, đi qua một cách êm ả như tỉnh nhỏ Cần Thơ. Rồi tới những ngày sau cũng không có chuyện ǵ xảy ra.
    Cuộc sống trở lại b́nh thường; trung uư Chương vẫn mang lon trung uư.

    Một hôm, tôi cùng trung uư Phước tới câu lạc bộ, thấy trung uư Chương đang ngồi ở đó. Nhưng vừa thấy tôi, ông liền bỏ đi ngay. Tôi nhớ câu nói của Hải Vân: “Sau cơn mưa, trời lại sáng”.
    Mà trờ sáng thật. Mỗi khi đi ngang qua pḥng nh́, tim tôi không c̣n đập như trống làng nữa. Rồi h́nh ảnh trung uư Chương cũng mờ dần. “Con ma” Chương không c̣n theo ám ảnh tôi nữa.


    Còn tiếp ...
This thread has more than 10 replies. Click here to review the whole thread.

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •