Reply to Thread

Post a reply to the thread: Tuổi trẻ Việt Nam nghĩ gì ?

Your Message

Viết bằng số trong ô trống kết quả của hai trăm cộng tám mươi tám

 

Additional Options

  • Will turn www.example.com into [URL]http://www.example.com[/URL].

Topic Review (Newest First)

  • 11-07-2018, 03:00 AM
    nguoi gia
    Quote Originally Posted by Sig Sauer View Post
    Khi viết về trận Thượng Đức không ai viết qua ông Phạm Bạch Dương của khóa Bất Khuất Hồi Tưởng Chiến Trường 1062. Chỉ có bài viết của ông đó mới lột được cái nét kinh hoàng của cuộc chiến. Bộ chỉ huy của 1 Tiểu Đoàn Dù thường được mệnh danh là "hoàng cung" để nói lên mức độ an toàn trên chiến trường, v́ muốn đánh vào đó th́ phải đánh qua 4 đại đội tác chiến chưa kể đại đội chỉ huy. Người lính nào nằm gần "hoàng cung" th́ coi như được đi nghỉ phép. Nhưng trong trận Thượng Đức th́ hoàng cung cũng không an toàn v́ sơn pháo của tụi nó.

    Trong cuộc chiến VN, có hai trận chiến mà VC giờ vẫn c̣n nhớ. Thứ nhất là Quảng Trị với gịng sông Thạch Hăn, nơi mà tụi nó có hai câu thơ (tôi quên) nói lên số quân chết tại Cổ Thành. Đại ư là số người chết nhiều đến nổi nước sông chảy không được. Trận thứ hai là trận Thượng Đức. Ở VN c̣n khá nhiều những cựu quân nhân tham dự trận đó của hai phe. Phe VNCH th́ không thấy nói nhiều ngoài những người tại Hải Ngoại viết hồi kư. C̣n bên VN th́ cũng có mấy cựu chiến binh VC viết. Tuy nhiên, rất ít có người viết một cách trung thật. Họ viết với ư đồ tuyên truyền nhiều hơn.

    Ah..quên nữa. Ông Trung Tá VC khi xưa cũng không tiếc lời khen TD 79 Biệt Động Quân. "Thằng 79 Biệt Động Quân đánh rất ch́."
    Người trong nước gửi cho:
    BÀI THƠ CUỐI ĐỜI CỦA NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN
    Ai? Tôi!
    Chế Lan Viên
    Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
    Chỉ một đêm, c̣n sống có 30
    Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?
    Tôi!
    Tôi - người viết những câu thơ cổ vơ
    Ca tụng người không tiếc mạng ḿnh
    trong mọi cuộc xung phong.
    Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
    Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
    Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ,
    Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
    Ai chịu trách nhiệm vậy?
    Lại chính là tôi!
    Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời,
    Tôi ú ớ.
    Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
    Mà tôi xấu hổ.
    Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
    Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
    Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười
    (Rút trong sổ tay thơ tập 5 của tác giả)
  • 10-07-2018, 10:27 PM
    Sig Sauer
    Quote Originally Posted by tran truong View Post


    Trích ra đọc chơi thôi . Chứ ai mà không biết nói láo như vẹm . Sử gì mà ngày , tháng , năm còn sai toẹt ; nhưng cứ xoen xoét : tôi tuyến đầu , tôi tham dự ....

    Tuy nhiên cái chính của trận chiến , nó khủng khiếp tới mức độ nào , quí vị có thể tưởng tượng nổi ... khi mà nhà dzăng xã nghĩa , sợ không dám viết ra . Nay bớt sợ , đặt bút đắn đo , thương vay khóc mướn , viết ra những thiệt hại to lớn , không thể chìm trong quên lãng .... thì đủ biết .... thiệt hại đó nó tới mức độ nào !!!!

    Nhớ rằng vào thời điểm quân lực VNCH không còn viện trợ quân sự cũng như kinh tế , trong khi cộng quân thừa mứa vũ khí , quân lương của Nga + Tàu và các nước cộng sản Đông Âu , Nam Mỹ .
    Chiến trường bị thắt lưng buộc bụng , nhỏ giọt .... từ pháo yểm đến phi vụ , đều bị cắt giảm tới tận cùng . Thương thay cho miền Nam , tội thay cho Việt Nam tôi !!!!
    Khi viết về trận Thượng Đức không ai viết qua ông Phạm Bạch Dương của khóa Bất Khuất Hồi Tưởng Chiến Trường 1062. Chỉ có bài viết của ông đó mới lột được cái nét kinh hoàng của cuộc chiến. Bộ chỉ huy của 1 Tiểu Đoàn Dù thường được mệnh danh là "hoàng cung" để nói lên mức độ an toàn trên chiến trường, v́ muốn đánh vào đó th́ phải đánh qua 4 đại đội tác chiến chưa kể đại đội chỉ huy. Người lính nào nằm gần "hoàng cung" th́ coi như được đi nghỉ phép. Nhưng trong trận Thượng Đức th́ hoàng cung cũng không an toàn v́ sơn pháo của tụi nó.

    Trong cuộc chiến VN, có hai trận chiến mà VC giờ vẫn c̣n nhớ. Thứ nhất là Quảng Trị với gịng sông Thạch Hăn, nơi mà tụi nó có hai câu thơ (tôi quên) nói lên số quân chết tại Cổ Thành. Đại ư là số người chết nhiều đến nổi nước sông chảy không được. Trận thứ hai là trận Thượng Đức. Ở VN c̣n khá nhiều những cựu quân nhân tham dự trận đó của hai phe. Phe VNCH th́ không thấy nói nhiều ngoài những người tại Hải Ngoại viết hồi kư. C̣n bên VN th́ cũng có mấy cựu chiến binh VC viết. Tuy nhiên, rất ít có người viết một cách trung thật. Họ viết với ư đồ tuyên truyền nhiều hơn.

    Ah..quên nữa. Ông Trung Tá VC khi xưa cũng không tiếc lời khen TD 79 Biệt Động Quân. "Thằng 79 Biệt Động Quân đánh rất ch́."
  • 10-07-2018, 09:49 PM
    tran truong
    Nếu ngay hồi đó viết đúng sự thật có thể người ta không in hoặc có bản thân tôi có thể bị liên lụy tới.
    Đến giai đoạn này là thời điểm thích hợp dựng được một cách trung thực nhất về thời điểm lịch sử có ư nghĩa đó. Với vị trí lănh đạo như tôi , th́ việc viết thực sự không có nhiều thời gian. Tôi có thời gian cho cuốn “Thượng Đức” này là nhân dịp tham gia hai trại sáng tác do nhà xuất bản Quân Đội tổ chức tại Quảng Ninh và Đại Lải trong thời gian 40 ngày.



    Trích ra đọc chơi thôi . Chứ ai mà không biết nói láo như vẹm . Sử gì mà ngày , tháng , năm còn sai toẹt ; nhưng cứ xoen xoét : tôi tuyến đầu , tôi tham dự ....

    Tuy nhiên cái chính của trận chiến , nó khủng khiếp tới mức độ nào , quí vị có thể tưởng tượng nổi ... khi mà nhà dzăng xã nghĩa , sợ không dám viết ra . Nay bớt sợ , đặt bút đắn đo , thương vay khóc mướn , viết ra những thiệt hại to lớn , không thể chìm trong quên lãng .... thì đủ biết .... thiệt hại đó nó tới mức độ nào !!!!

    Nhớ rằng vào thời điểm quân lực VNCH không còn viện trợ quân sự cũng như kinh tế , trong khi cộng quân thừa mứa vũ khí , quân lương của Nga + Tàu và các nước cộng sản Đông Âu , Nam Mỹ .
    Chiến trường bị thắt lưng buộc bụng , nhỏ giọt .... từ pháo yểm đến phi vụ , đều bị cắt giảm tới tận cùng . Thương thay cho miền Nam , tội thay cho Việt Nam tôi !!!!
  • 10-07-2018, 02:10 PM
    Sig Sauer
    Quote Originally Posted by tran truong View Post
    Thượng Đức - Tâm sự của một phóng viên chiến trường



    Nhà văn, đại tá Nguyễn Bảo. Ảnh: Bích Ngọc.
    Nói chuyện với VC không xài tiếng Đan Mạch cũng khó. 1 thằng Đại Tá khuya môi múa mỏ viết sách hai ba lần, mà cái ngày viết trật đến 3 năm th́ thử hỏi cuốn sách của nó có bao nhiêu giá trị?

    Sau Hiệp định Paris , trận Thượng Đức có ư nghĩa là một trận trinh sát chiến lược xem chủ lực của Ngụy sau khi Mỹ rút có chọi nổi với lực của ta hay không. Và nếu ḿnh chiến thắng Thượng Đức - cửa ngơ vào Đà Nẵng th́ liệu Mỹ c̣n quay lại để dành đất. Sau này Mỹ huy động quân dù, quân tinh nhuệ nhất cùng lính Nguỵ tái chiếm, sư 304 bị thiệt hại nặng nề.
    Đọc vào là thấy NGU rồi. Mỹ nào c̣n ở đây vào những năm tháng cuối năm 74? Mỹ huy động quân Dù? Rồi quân tinh nhuệ nhất cùng lính Ngụy tái chiếm? Ăn nói như một thằng dốt. Đơn vị tham chiến cơ bản mang cấp bậc là đại tá mà nói cũng không ra hồn.

    Trận quân khu 5, trận Thượng Đức quân Ngụy nổi tiếng v́ sự phản trắc và gian ngoan của kẻ địch. Đó là trận đánh , ta huy động quân chủ lực của miền Bắc, quân khu 5 và Quảng Nam – Đà Nẵng để đánh.
    Đó là trận đánh hy vọng nhất, sẽ thành công sớm nhất v́ có quân chủ lực của Bộ, tin tưởng vào thắng lợi.

    Không ngờ trận đó diễn ra cực kỳ khó khăn, dai dẳng, phải hy sinh quá nhiều. Lần đầu do chủ quan, lần hai do sai lầm chiến thuật, hy sinh nhiều. Ngỡ sẽ không có cách thắng nhưng do ḿnh kiên tŕ và quyết tâm sau trận đánh lần 3, chúng ta đă chiến thắng.
    Nguyên sư đoàn 304 và những đơn vị phụ thay phiên nhau đánh với hai Lữ Đoàn Dù với số quân căn bản là 6 tiểu đoàn. 1 trong 6 tiểu đoàn trưởng đó là ông cậu ruột của tôi. Nếu không v́ trận Ban Mê Thuột mất th́ c̣n lâu Trương Công Phê (Tư Lệnh Sư Đoàn 304) mới giữ nổi Thượng Đức. Ngày Nhảy Dù xuôi Nam, Bắc Quân c̣n không tin là Dù rút đi. Nhưng khi Dù rút th́ tụi nó biết rút không phải v́ không chiếm nổi mà v́ BMT vừa mất. Trương Công Phê mừng thí mẹ.

    Tại 1 trại cải tạo MB vào khoảng năm 77, một cựu trung tá VC có lính lái xe jeep (VC gọi là xe ríp) tới tận chỗ 1 TDT Dù đang cuốc đất để xem mặt người Tiểu Đoàn Trưởng đă chiếm đồi 1062 cách 3 năm về trước. Người Trung Tá VC này cũng là người có nghĩa khí. Ông ta không đá kẻ ngă ngựa, mà chỉ muốn ngồi nói chuyện t́m hiểu về Nhảy Dù tại trận đó. Hai người nói chuyện khá lâu, ông ta c̣n mời người Tiểu Đoàn Trưởng Dù thuốc "3 con 5 :))" và hỏi về cá nhân cũng như cách hành quân phong cách của Dù.

    Sau cùng ông ta có hỏi một câu đại khái như thế này.

    --Dù có bao nhiêu sư đoàn?

    -- 1 thôi. Chúng tôi có 12 tiểu đoàn, nhưng thật ra chỉ có 9 tiểu đoàn tác chiến. 3 tiểu đoàn c̣n lại mới thành lập. Trận TD chỉ có 6 tiểu đoàn lâm chiến.

    --Ngày 30/4 tại sao anh không chạy theo Thiệu, Kỳ, Khiêm?

    --Tôi là sinh viên Sĩ Quan Trường Vỏ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Trường Vơ Bị Đà Lạt chưa dạy cho tôi chạy; binh chủng Nhảy Dù cũng chưa cho phép tôi chạy. Cho nên tôi không biết chạy. (Lúc đó ông TDT nghĩ thầm bất quá mày cho tao 1 viên là xong chứ ǵ. Nhưng không, ông Trung Tá VC chỉ cười)

    --Hảnh diện nhỉ?


    Sau đó th́ ông TDT được chuyện sang khu nuôi heo, thay v́ phải đi đốn cây rừng như trước. Chắc đó cũng là một ân huệ.


    Cách đây chừng 5 năm, VC có cái site gọi là "Quân Sử VN," trong đó có nguyên cái thread dài viết về trận Thượng Đức. Đám nhóc lớn lên đâu biết con mịa ǵ, cả đám chỉ biết ḥ hét nói theo điều sách vở dạy. Thỉnh thoảng có 1 vài đứa lên tiếng hỏi những điều phi lư mà đám viết sử VC viết ra th́ lập tức có cả chục đứa vào chưởi là phản động. Nhưng tôi nhớ nhất là câu chuyện tôi và thằng VC tự xưng là lính của Trung Đoàn 66 thuộc sư đoàn 304. Nó khoe là 1 tiểu đội nó nằm trên đỉnh 1062 và đă "tiếp" cả nguyên "Sư Dù" (Sư Đoàn Dù). Tôi nhảy vào cải th́ bị cha con tụi nó ban mất bài viết và mất luôn cái nick.

    C̣n cha đại tá Vẹm bên trên là 1 thằng xạo. Không biết nó dám có mặt tại ngọn "đồi Ma Suối Máu" đó không chứ đừng nói là nghiên cứu viết sách.


    (*) Tôi biết danh xưng "đồi Ma Suối Máu" này là từ Hạ Lào. Nhưng theo những người tôi biết tham dự cả hai th́ Thượng Đức c̣n hơn cả Đồi Ma Suối Máu của Hạ Lào nhiều.
  • 10-07-2018, 03:07 AM
    tran truong

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!

    Thượng Đức - Tâm sự của một phóng viên chiến trường



    Nhà văn, đại tá Nguyễn Bảo. Ảnh: Bích Ngọc.



    - “Thượng Đức” là cái tên giản dị mà nhà văn, đại tá - Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội Nguyễn Bảo làm tiêu đề cho cuốn tiểu thuyết sử thi vừa nhận Tặng thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2006. Nói về cuốn tiểu thuyết, cũng như nói về những mất mát, hy sinh của quân ta trong trận Thượng Đức tại Quảng Nam - Đà Nẵng, ông không giấu được những xúc cảm nhân dịp kỷ niệm 32 năm ngày chiến thắng lịch sử 30/4 đang tới.


    “Thượng Đức” là một bản hùng ca bi tráng của quân ta trong trận chiến tại Thượng Đức. Ông đă dồn bao nhiêu tâm huyết cho cuốn tiểu thuyết này?


    Cuốn “Thượng Đức” dày hơn 600 trang là tâm huyết của tôi trong suốt hơn 30 năm qua. Đây là cuốn tiểu thuyết sử thi tôi viết cho dự án sử thi của Bộ Quốc Pḥng với sự tham gia của 28 nhà văn.


    Sở dĩ tôi phải mất từng đó thời gian để viết bởi tiểu thuyết này mô tả trận đánh tổn thất, dai dẳng tại Thượng Đức vào tháng 4/1971. Nếu ngay hồi đó viết đúng sự thật có thể người ta không in hoặc có bản thân tôi có thể bị liên lụy tới.
    Đến giai đoạn này là thời điểm thích hợp dựng được một cách trung thực nhất về thời điểm lịch sử có ư nghĩa đó. Với vị trí lănh đạo như tôi , th́ việc viết thực sự không có nhiều thời gian. Tôi có thời gian cho cuốn “Thượng Đức” này là nhân dịp tham gia hai trại sáng tác do nhà xuất bản Quân Đội tổ chức tại Quảng Ninh và Đại Lải trong thời gian 40 ngày.

    Trận Thượng Đức có ư nghĩa thế nào với quân ta vào chiến thắng lịch sử 30/4 năm đó?

    Sau Hiệp định Paris , trận Thượng Đức có ư nghĩa là một trận trinh sát chiến lược xem chủ lực của Ngụy sau khi Mỹ rút có chọi nổi với lực của ta hay không. Và nếu ḿnh chiến thắng Thượng Đức - cửa ngơ vào Đà Nẵng th́ liệu Mỹ c̣n quay lại để dành đất. Sau này Mỹ huy động quân dù, quân tinh nhuệ nhất cùng lính Nguỵ tái chiếm, sư 304 bị thiệt hại nặng nề.


    Trận quân khu 5, trận Thượng Đức quân Ngụy nổi tiếng v́ sự phản trắc và gian ngoan của kẻ địch. Đó là trận đánh , ta huy động quân chủ lực của miền Bắc, quân khu 5 và Quảng Nam – Đà Nẵng để đánh.
    Đó là trận đánh hy vọng nhất, sẽ thành công sớm nhất v́ có quân chủ lực của Bộ, tin tưởng vào thắng lợi.

    Không ngờ trận đó diễn ra cực kỳ khó khăn, dai dẳng, phải hy sinh quá nhiều. Lần đầu do chủ quan, lần hai do sai lầm chiến thuật, hy sinh nhiều. Ngỡ sẽ không có cách thắng nhưng do ḿnh kiên tŕ và quyết tâm sau trận đánh lần 3, chúng ta đă chiến thắng.

    Là một phóng viên chiến trường, nghiệp viết đă vận vào thân từ khi nào?

    Tôi đang theo học năm thứ 3 khoa Văn – Đại học Tổng hợp th́ có lớp đào tạo phóng viên chiến trường gần 1 năm. Tháng 4/1971 vào chiến trường khu 5 và theo trận đánh Thượng Đức. Lúc đó vừa chiến đấu, vừa trồng bắp để tự cung, tự cấp, vừa phải ghi chép cho Tạp chí Quân Giải phóng Trung Trung Bộ.

    Sáng tác đầu tay của tôi là truyện ngắn “Kỷ niệm một người bạn”, và sau đó đi với đại đội đặc công, được nghe đọc trên đài phát thanh để cổ vũ tinh thần chiến sĩ. Đó là kỷ niệm khó quên v́ đó là sáng tác đầu tay là nguồn kích thích cho tôi có thêm tự tin để đi theo nghiệp viết.

    Tôi đă có thành tựu ít nhất là 10 cuốn truyện, tiểu thuyết và kư với những cái tên “Thượng Đức”, “Người ở thượng nguồn”, “Những cuộc t́nh đi qua”, “Giám định của đất”... Trong đó có những tiểu thuyết ngấp nghé dựng thành phim. Nhưng có lẽ v́ nó quá tốn kém nên vẫn đang nằm trong dự án.


    Sau chiến tranh, dường như ông không tập trung vào đề tài hoà b́nh mà vẫn thấm đẫm đề tài về chiến tranh?

    Có những lúc tôi cũng nghĩ chỉ phản ánh cuộc sống người lính thời b́nh với đời sống, làm ăn kinh tế của họ. Tôi cũng không định tập trung về đề tài chiến tranh nhưng mảng sống chiến trường vẫn đậm đặc trong tôi. Chỉ có duy nhất “Đất đang reo” là một sáng tác nói về chiến sĩ sau hoà b́nh đi làm ăn kinh tế.

    Có thể nói tôi tham gia vào chiến tranh không dài, nhưng càng viết mới thấy hóa ra vốn sống kỹ lưỡng nhất, dồi dào, sinh động mênh mông nhất là thời chiến tranh, là một ḍng sông không bao giờ vơi cạn.


    Theo ông, “Thượng Đức” được đánh giá cao trong giải thưởng của Hội Nhà văn ở điểm ǵ?


    Tôi nghĩ đó là tái hiện lại đúng số phận của nhân vật tham gia vào trận đánh đó. Với tư cách là người chứng kiến, thu thập tài liệu và giữ vốn sống đó trong suốt 30 năm qua khiến cho cuốn tiểu thuyết này viết theo tinh thần dựng lại sự thật.


    Viết trong thời điểm này có cái thuận lợi là viết khách quan, không đề cao địch nhưng cũng không hạ thấp địch. Nếu viết cách đây nhiều năm th́ phũ phàng quá, toàn thấy mất mát, đau thương và những hy sinh của quân ta. Ḿnh phải chấp nhận thực tế đó, phản ánh sự thật đó không có nghĩa là ca ngợi địch và ca ngợi ta. Nếu chỉ viết anh hùng, tốt đẹp th́ phiến diện, không khách quan.

    Toàn bộ tiểu thuyết sử thi, toàn bộ khung cảnh chiến dịch, thời gian là trung thành với nó. Nhân vật giữ hầu như trung thành với các cán bộ cấp cao, chính ủy sư đoàn, tư lệnh sư doàn. Phần hư cấu trong tiểu thuyết này không đáng kể.


    “Thượng Đức” mới lột tả được sự mất mát và những hy sinh của quân ta trong trận đánh lịch sử đó, ông có ấp ủ viết tiếp cuốn thứ hai nói về chiến thắng Thượng Đức?


    Sau Thượng Đức tôi không ở lại với Sư đoàn 304, quân đoàn 2 nữa. Tôi theo chân tiểu đoàn 6, Lữ đoàn 52 của anh Phạm Văn Thánh vào chiến trường miền Nam và ghi chép giai đoạn lịch sử hào hùng đó. Nhưng với vốn sống có được từ trận chiến mất mát đó, cùng với việc sưu tầm tài liệu cho cuốn “Thượng Đức” này, tôi cũng đă nghĩ đến viết tiếp cuốn thứ hai nói về chiến thắng Thượng Đức oanh liệt.


    Tiểu thuyết thứ hai sẽ viết về điểm cao 1062, chỗ thuận lợi nhất để có thể quan sát Thượng Đức và nh́n ra tận Huế. Cứ khi địch chiếm đóng được th́ giao cho Nguỵ , ta lại đánh chiếm lại. Cuốn thứ 2 tôi đă gặp được những người chứng kiến lịch sử, toàn bộ tướng lĩnh tham gia trận đánh và kể cả những lính dù. Tôi cũng có dịp vào Đà Nẵng gặp sĩ quan dù đánh trận 1062. Tôi hy vọng sẽ sớm cho ra mắt cuốn tiểu thuyết sử thi “Thượng Đức” thứ hai.


    Xin cảm ơn ông!

    Thiên Lam (thực hiện)

    ....................

    Ối giào , sử thi cuả nhà dzăng xã hội chủ nghĩa . Sai cả tháng lẫn năm !!! Nhưng cứ xưng xưng là " thời gian chân thật " , nào là ta chiến thắng .... Tuy nhiên cũng nên bỏ qua , những sai lầm về thời gian , năm tháng . Mà tụ điểm là sự tổn thất nặng nề của quân đội nhăn răng , khi cố chiếm Thường Đức , để thử lửa và đánh giá Mỹ có thực thi cam kết với VNCH hay không .

    Sau Thường Đức là KonTum _ Pleiku rồi Ban Mê Thuột .... Biết chắc Mỹ bỏ rơi VNCH . Cộng quân không cần che dấu , phom phom vượt dòng Bến Hải , thẳng tuột .... đến tận Sài Gòn .

    Vì thế tôi có đề tựa : Thường Đức : mồ chôn nước Việt !! . Hôm nay chỉ chờ cái quốc hội bù nhìn XHCN VN thông qua Luật bán nước cho Tàu , trá hình bằng cách gọi luật thuê ba Đặc Khu .

    Đã thông qua luật an ninh mạng , sớm muộn các đại gia Google , Facebook cũng bị đá văng khỏi Việt Nam . Tàu Khựa sẽ điền vào chỗ trống cho hợp lý . Weibo , Tencents , Alibaba .... trám chỗ , chỉ là vấn đề thời gian .
  • 09-07-2018, 01:31 AM
    tran truong

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!

    Thiếu Tá Vân nghe tiếng Đ/U Đàng hét trong máy xin pháo binh và phi cơ bắn lên đỉnh đồi, v́ địch đă tràn ngập! Hai bên phải đánh cận chiến bằng lưỡi lê và lựu đạn, nhưng địch nhiều quá, cứ liều chết nhào tới tấn công.

    Đ/U Đàng và anh em trong đại đội cầm cự, xông xáo, tả xung hữu đột, người nào trên ḿnh cũng bị nhiều vết thương, áo ướt đầy máu. Đàng nguyên là sĩ quan cận vệ của Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh.

    BCH Tiểu đoàn gọi 3 phi tuần khu trục dội bom Napalm xuống đốt cháy sườn đồi. Sau đó, từng đợt pháo binh bắn hỏa tập trợ chiến. Sau khi pháo dứt, những cán binh Bắc Việt lại tràn lên thấy Đàng bị thương nặng c̣n ngất ngư v́ trúng nhiều mảnh, anh dùng hơi tàn rút súng định tự sát, th́ người anh bị đạn ghim như lông nhím. Đàng ngồi chết trân mà đôi mắt hăy c̣n trợn trừng không khuất phục.

    Đại Đội 34 của Trung Úy Vơ Thiện Thư, lên tiếp ứng th́ gặp địch tràn tới đánh tơi bời thật hung hiểm vô cùng! Địch hô: "Hàng sống chống chết," nhưng Thư cứ hăng máu lấy M16 quạt và kêu pháo binh bắn đạn nổ chụp lên đầu để cùng chết chung với 5 phần địch 1 phần bạn.

    Một ḿnh Tiểu Đoàn 3 ND mà phải cầm cự với cả trung đoàn của Sư Đoàn 304, địch cho các đơn vị thay phiên tấn công gần một ngày. Các sĩ quan dũng mănh của Tiểu Đoàn 3 ND như Trung Úy Vơ Thiện Thư, Thiếu Úy Tô Văn Nhị đă gọi pháo binh bắn lên đầu để cùng chết chung với hằng trăm xác địch.
    Do áp lực địch quá mạnh, lực lượng pḥng thủ 1062 của Nhảy Dù phải rút khỏi cứ điểm nầy (2 ĐĐ 31ND, ĐĐT là Đ/U Ngụy Văn Đàng và 34ND, ĐĐT là Trung Úy Vơ Thiện Thư cùng 7 Sỉ Quan Trung Đội Trưởng và trên 140 HSQ&BS bị hy sinh v́ pháo địch ).
    Mặc dù có những công sự do Cộng quân đă chuẩn bị các "lô cốt" bằng những khúc cây kiên cố, tuy nhiên địch quân quá đông, phía Nhảy Dù rút lui để cho dụ địch tập trung vào đỉnh 1062, sau đó dùng "hỏa công" đốt cháy toàn khu ác liệt nầy bằng bom Napalm và bằng các viên đạn lửa bắn vào băi lau sậy.

    Ngày 1/11/1974, CSBV tái chiếm đỉnh đồi 1062. Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù được lịnh vào vùng tiếp ứng cho TĐ3ND. Tiểu Đoàn 9 dàn quân thành hai mũi ĐĐ93 của Đ/U Đinh Văn Tường và ĐĐ 92 của Trung Úy Nhơn tấn công từ trên cao đánh xuống. Trong lúc đó, bên sườn dốc đứng phía dưới, Trung Tá Nhỏ cùng Đại Úy Trần Ngọc Chỉ bày trận thế nghi binh để cho địch quân tưởng là ta tấn công mặt nầy.

    Địch quân dùng giàn thung bắn thư rơi khiêu chiến “ Thách ngụy Dù lên đánh”.
    V́ biết địch quân lợi dụng hầm hố kiên cố trên đỉnh 1062, pháo binh của ta không làm ǵ được, Đại Úy Tường cho phóng lựu đạn cay lên buộc địch quân phải chui ra khỏi hầm , sau đó gọi phi pháo thả bom Napalm hỏa thiêu đỉnh đồi 1062 đồng thời xua quân bao vây nguồn tiếp tế và nước. khiến địch quân chịu không nổi phải bỏ chạy.

    Ta và địch giằng co đỉnh đồi nầy nhiều lần, quân số đôi bên đều bị tiêu hao nhiều. Trung Úy Nhơn bị thương cả hai chân v́ đạp phải ḿn hơi.
    Ngày 8/11/1974 lực lượng Nhảy Dù phản công tái chiếm lại 1062 và lập tuyến pḥng thủ quanh sườn núi.
    Dẹp tan các chốt lẻ tẻ cuả địch và thu nhặt xác các quân nhân Nhảy Dù bị tử trận trong thời gian trước đó. Nhờ thời tiết giá lạnh nên các xác không bị hư hủy..

    Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù sau hai tuần nghỉ ngơi và chỉnh trang lại , được đưa vào vùng phía Bắc của 1062, Thiếu Tá Phú (biệt hiệu Phú "đen") sử dụng tối đa các phi tuần A-37 oanh kích tối đa mục tiêu và áp dụng chiến thuật đánh địch bất ngờ và kín đáo bằng cách tung hai Đại Đội 11 & 15 , dựa theo đường thông thủy , tiến ṿng lên phía Bắc thay v́ đi theo yên ngựa , rồi bất thần quay lại tấn công chớp nhoáng vào D1 và D2.

    V́ hướng tấn công ngoài sự tiên liệu, Bắc quân chỉ chú trọng pḥng thủ hướng về 1062, nên chỉ tới trưa là Đại Đội 15 thanh toán xong D1 và Đại Đội 11 chiếm xong D2 với tổn thất nhẹ, Đại Đội 15 bắt sống 2 tù binh, tịch thu 2 thượng liên, và một số súng cá nhân. Đại Đội 11 thu được 1 súng cối 61 ly và một số súng cá nhân.

    Sau đó Bắc quân tháo lui v́ chịu không nổi phi pháo của Việt Nam Cộng Ḥa , ngày đêm dập vào các điểm trú quân của họ. Bộ chỉ huy cộng quân thấy khó giữ 1062, nên ra lệnh rút lui trong đêm tối, rồi bọc qua sông Vu Gia, đánh bất ngờ vào Bộ Chỉ Huy của Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù đóng gần Hà Nha.
    Thiếu Tá Trần Công Hạnh tân Tiểu Đoàn Trưởng, cùng Tiểu Đoàn trừ đóng ở làng Hà Nha 1. C̣n Thiếu Tá Nguyễn Văn Phương (Tiểu Đoàn Phó), chỉ huy 2 đại đội ở bên kia sông, phải tả xung hữu đột mới phá được ṿng vây.

    Sáng hôm sau, Thiếu Tá Phương cho các Đại Đội tung ra lục soát, Chuẩn Úy Tạ Thái Bảo dẫn Trung Đội tiến chiếm vị trí chốt mà địch đă đặt thượng liên bắn vào Tiểu Đoàn 2.
    Vừa báo cáo chiếm chốt xong th́ nghe tiếng "Ầm," tiếp theo là bụi cát bay mù nơi anh vừa chiếm. Chuẩn Úy Bảo hy sinh bởi quả đạn pháo kích từ đỉnh đồi cao , gần chân đèo Thường Đức.

    Thiếu Tá Phương phái Thiếu Úy Tăng Thành-Lân chỉ huy trung đội chiếm lại chốt trên đồi nhỏ đó. Lân gọi pháo binh bắn nát rồi dẫn quân xung phong tiêu diệt toàn bộ địch trên cao địa nầy. Anh chuẩn bị lại hầm hố cẩn thận đề pḥng địch phản công.
    Nhưng khoảng 20 phút sau, địch lại bắn sơn pháo ngay đồi và Thiếu Úy Lân cũng bị hy sinh. Thiếu Tá Phương lập tức kêu phi pháo đánh vào điểm đặt súng của địch, hai bên giằng co nhưng không ai đến vùng tử địa đó nữa.

    Vài hôm sau, khi Tiểu Đoàn 2 được lệnh chiếm đỉnh 126 để bảo vệ đèo Thường Đức và gặp sự kháng cự mạnh mẽ của Bắc quân đang bám trụ tại đây. Sau nhiều đợt xung phong của các chiến sĩ Tiểu Đoàn 2, địch đành phải rút chạy bỏ lại hàng chục vũ khí đủ loại.
    Phía bên Nhảy Dù cũng bị hy sinh ba sĩ quan tài giỏi là Trung Úy Thịnh, Thiếu Úy Trần Đại Thanh, và Thiếu Úy Lê Hải Bằng. Sau đó Thiếu Tá Trần Công Hạnh lên làm Tiểu đoàn trưởng thực thụ và bạn cùng khóa 20 là Trần Tấn Ḥa về làm Tiểu Đoàn Phó.

    Tiểu Đoàn 7 ND do Thiếu Tá Nguyễn Lô (Tiểu Đoàn Trưởng), và Thiếu Tá Nguyễn Văn Quư, từ Tiểu Đoàn 1 trở về, làm Tiểu Đoàn Phó, được lệnh nửa đêm cấp tốc tiến đánh suối Ba Khe.
    Các chiến sĩ Nhảy Dù dùng chiến thuật dương Đông kích Tây , cho chủ lực đánh bọc phía sau lưng khiến địch rối loạn hàng ngũ, rút chạy chém vè, để lại hơn 200 vũ khí đủ loại, hậu cần bị phá hủy, và toàn bộ tiểu đoàn bị tiêu diệt.

    Đại Úy Tú Trinh, người hùng diệt tăng ở Quảng Trị, đă bị thương trong trận này. Trước đó , Nguyễn Lô đă đứng trên đỉnh Đông Lâm thuộc dăy Sơn Gà tuyên bố nhất định chiến thắng để mừng Tết và anh đă thực hiện lời nói một cách quá xuất sắc. Tiểu Đoàn 11 ND tiến lên đỉnh 1062 thay cho Tiểu Đoàn 9 rút về Non Nước dưỡng quân và tái trang bị.

    Đến cuối năm 1974 th́ Sư Đoàn Nhảy Dù rút quân về quận Đại Lộc nghĩ ngơi, bổ sung thiệt hại và chuẩn bị cho chiến dịch kế tiếp, chỉ để lại Tiểu Đoàn 1 và 7 Dù đóng ở khu vực Đồi 52 và núi Đông Lâm cách Đồi 1062 khoảng 4 km về phía đông, thường xuyên đưa các toán tuần tiểu vào khu vực Đồi 1062 và sử dụng hỏa lực pháo binh để ngăn chận sự xâm nhập của Cộng quân.
    Kể từ đây,t́nh h́nh quân sự tại cả hai phía Nam và Bắc đèo Hải Vân hoàn toàn yên tỉnh cho đến khi SĐND bắt đầu rút quân khỏi Quân Khu I khoảng trung tuần tháng 3/1975.

    Tổng Kết tổn thất trong 3 tháng giao tranh :

    Từ khi khởi đầu chiến dịch Thường Đức vào ngày 15 tháng 8 liên tục trong ba tháng chiến đấu ác liệt quanh khu vực đồi 1062, các đơn vị Nhảy Dù đă bị thiệt hại đến 50 phần trăm quân số, với gần 500 chết và 2,000 bị thương. Sư Đoàn Nhảy Dù sử dụng luân phiên tổng cộng 7 Tiểu Đoàn trong chiến dịch này, và đến giữa tháng 11 có đến 6 tiểu đoàn hoạt động trong khu vực Đồi 1062.

    Ba trung đoàn CSBV (24, 29, 66) gần như bị xóa tên với 2,000 bộ đội chết và 5,000 bị thương. Cả hai bên đều kiệt sức sau một chiến dịch đẫm máu ..

    Nhảy Dù : 500 chiến sỉ hy sinh 2000 bị thương.

    Cộng Sản Bắc Việt : 2000 chết, 5000 bị thương ( tài liệu :Col.William E. Le Gro trong VietNam from Cease Fire to Capitulation )

    Tài liệu tham khảo:
    - Đời Chiến Binh của Trương Dưởng xuất bản tại California ngày 15/5/1999
    - Chiến Tranh Việt Nam toàn tập của Nguyễn Đức Phương Làng Văn Canada xuất bản 2001
    - Bạo Lực Cách Mạng Và Chiến Dịch Đột Kích Chiến Lược Năm 1974 của Mê Kông trên trang nhà vietnam.ictglobal.net
    - Phỏng vấn các chiến hữu Nhảy Dù.
    Đại Úy Vơ Trung Tín
    Tiểu Đoàn Truyền Tin SĐND – 714-856-9202
    Đại Úy Nguyễn Hữu Viên
    Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù – 714-724-8933

    Sưu tầm (Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưu VNCH)

    ...........................

    Ngày mai , xin quí vị cùng các anh các chị xem tường thuật của phía bên kia . Để đối chiếu và suy ngẫm về những con số được " lãnh đạo " cho phép đưa ra trước công chúng .
  • 08-07-2018, 01:53 AM
    tran truong

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!

    Thiếu Tá Ngô Tùng Châu (Tiểu Đoàn Trưởng) bảo Quư:

    - Nếu thấy không được th́ bảo Quang rút về, đừng hy sinh nhiều, ta sẽ t́m cách khác.

    Nhưng Quang không nghe lệnh (hoặc không thể nghe lệnh!). Hai Trung Đội đột kích của Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù đă gặp sự kháng cự phản công quá mănh liệt, quân số địch rất đông.
    Từ đỉnh cao, khe núi, và các địa đạo trong rừng cây ùa ra như đàn ong vỡ tổ! Lính Nhảy Dù ria bắn không nghỉ tay. Trước khi gần hết đạn, Quang gọi Thiếu Tá Quư phải kêu Pháo Binh bắn đạn nổ chụp ngay trên đầu thí quân, quyết liều sống chết với quân Cộng Sản Bắc Việt (CSBV).

    T/U Quang đă tập trung đạn của các binh sĩ bị thương, bảo họ rút, c̣n Quang ở lại bắn tới hết đạn và anh dũng hy sinh trên mục tiêu D. Đáng phục thay một Sĩ-Quan can trường, biết hy sinh bảo vệ thuộc cấp và làm tṛn bổn phận với núi sông.

    Các đạn pháo CVT đă sát hại 10 phần địch và 3 phần quân bạn. Xác địch và ta nằm ngổn ngang trên đỉnh đồi 1062. Trung Đội của Thiếu Úy Quang có 15 chiến sỉ anh dũng hy sinh.
    Đại Đội 14 của Trung Úy Vệ bị kẹt cứng ở yên ngựa nhỏ hẹp giữa mục tiêu C và mục tiêu D, hỏa lực Việt Cộng phủ kín từ D và 1062. Đại Đội 14 tổn thất mỗi lúc một nhiều mà không tiến được bước nào. Pháo Binh Dù được sử dụng tối đa nhưng địa thế núi cao cây rậm , Pháo Binh phải bắn góc độ cao mới "gõ" vào 1062 được, nhưng với độ chính xác thật ít.

    Thiếu Tá Quư lại dùng kế cũ, dương đông kích tây, đẩy Đại Đội 11 về Tây để tấn công 1062 từ chính Nam nhằm giải tỏa áp lực Đại Đội 14 như trường hợp đánh mục tiêu C.
    Nhưng lần này sự việc không như lần trước, Đại Đội 11 vừa mới đến triền núi phía Nam của 1062 th́ địch dùng súng cối 82 ly từ góc đồi phía Tây bắn một cách dữ dội, Đại Đội 11 bị hy sinh một tiền sát viên và 4 binh sĩ , chưa kể một số bị thương.

    Rạng sáng, sau khi sử dụng Pháo Binh và súng cối 81 ly tối đa tối đa, Đại Đội 11 dàn 3 trung đội tấn công 1062 từ chính Nam. Hai bên quần thảo gần 6 tiếng đồng hồ, cuối cùng Đại Đội 11 chiếm được đỉnh 1062. Nhưng chưa đầy 10 phút, quân Bắc Việt đă từ D1 và D2 đồng loạt khai hỏa bằng đủ loại vũ khí phủ trùm 1062. May nhờ hệ thống giao thông hào của địch để lại nên cũng giảm bớt phần nào tổn thất.

    Thượng liên Cộng quân bắn liên hồi từ nhiều vị trí, và nhất là đạn súng cối 61 ly của địch. Ngay đợt pháo đầu Thiếu Úy Huệ đă bị thương. Đỉnh 1062 trước đó đă bị phi pháo quần nát từ rậm rạp nay chỉ c̣n lại một đồi trọc với đất cát vàng , cày xới tung tóe. Đại Đội 11 không chịu nổi phải rút về triền núi phía Nam, Huệ kéo xuống được , c̣n xác Thiếu Úy Quang bị cháy đen..

    Tổn thất Đại Đội 11: Thiếu Úy Quang và 15 binh sĩ hy sinh. Ba mươi bảy bị thương trong đó có hai Sỉ Quan Trung Đội Trưởng là Thiếu Úy Huệ và Thiếu Úy Quách An.

    Trong khi đó Đại Đội 14 cũng cố gắng xuyên thủng chốt địch trong hốc đá ở yên ngựa để lên 1062 bắt tay với Đại Đội 11, nhưng mọi dự tính không thành.
    Trung Úy Vệ bị thương, Trung Úy Bằng, Đại Đội Phó Đại Đội 11 qua thay, hai ngày sau cũng bị tử thương v́ lựu đạn địch. Eo yên ngựa giống như một khúc xương kẹt ngay cổ họng, thật khó nuốt vô cùng.

    Riêng Đại Đội 12 của Trung Úy Thọ và Đại Đội 15 của Đại Úy Lộc đi với Thiếu Tá Ngô Tùng Châu vẫn lục soát và làm thành phần trừ bị ở Đông Lâm. Trung Úy Thọ bị thương do pháo kích, Trung Úy Khánh (Truyền Tin) ra thay cũng bị tử thương. Vài hôm sau, Tiểu Đoàn 8 của Thiếu Tá Vân vào thay. Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù rút về Hà Nha dưỡng quân và bổ sung quân số.

    Theo kế hoạch, Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù được điều động lên thay thế Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù để tiếp tục đánh chiếm 1062. Cuộc chiến trở nên khốc liệt hơn khi Tiểu Đoàn 8 bỏ Hà Nha, chuyển lên núi để thay thế cho đơn vị bạn tấn công địch quân trên các cao điểm.

    Địch vào trận với lợi thế trên sân nhà, họ lợi dụng tối đa địa thế, địa h́nh. Khi quân ta vừa băng qua một trảng trống , th́ bị địch nghênh cản rất mạnh mẽ, nếu nh́n chung quanh có những tảng đá lớn chênh vênh trên sườn núi th́ đừng có dại dột chạy vào ẩn nấp, sau lưng tảng đá là một băi ḿn gài sẵn. Địch từ vị trí thuận lợi trên cao nh́n xuống thấy rơ từng người lính đang hút thuốc, đang nấu nướng, địch dùng súng cối 61 ly bắn vào quân ta.

    Khi TĐ8ND lên thay thế TĐ1ND để tiến chiếm cao điểm 1062, sức lực của đơn vị cũng đă sứt mẻ phần nào, c̣n lại bao nhiêu sinh lực ta dồn vào cú chót, được ăn cả ngả về không.
    Đỉnh 1062 là một nấm mộ tập thể khổng lồ, chôn không biết bao nhiêu sinh mạng của cả hai bên. Mỗi khi quân ta vừa chiếm được 1062, th́ lập tức địch dội pháo, điên cuồng xông lên quyết chiếm lại cho bằng được. Cả hai bên mất đi dành lại đỉnh 1062 nhiều lần, cứ như hai gă thanh niên cùng tranh dành một cô gái thơm như múi mít, bên nào cũng đ̣i quyền sở hữu em gái, không ai chịu nhường ai.

    Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Quang Vân, cho Đại Đội 84 của Minh và 83 của Hiệu làm 2 mũi dùi tấn công sườn phải phía Đông 1062.
    Chờ phi pháo dập nát đỉnh đồi, rồi trời vừa chợp sáng , Thiếu Tá Vân dẫn Đại Đội 81 của Đại Úy Vơ Thế Hùng và Đại Đội 82 của Trung Úy Đỗ Việt Hùng (Hùng ốm), xuất phát từ chân đèo Thường Đức leo lên dọc theo đường đỉnh về hướng Bắc, mục tiêu là đồi 1062.

    Các binh sĩ Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù leo dốc đứng (độ nghiêng 70 độ) đồng loạt tiến về mục tiêu.
    Đứng trên 1062, ta thấy có 5 đỉnh nhỏ nằm gần nhau, làm thành h́nh tṛn theo thế liên hoàn; mặt hướng về Tỉnh Lộ 4 th́ dốc thẳng đứng, rất khó leo.

    Cộng quân thường dùng giàn thung , ném một lần hàng chục quả lựu đạn xuống , mỗi khi quân ta tấn công vào mặt này. C̣n các hướng khác th́ có 4 đỉnh nhỏ che chở , nên 1062 quả là một địa thế dễ thủ khó công.

    Từ Tỉnh Lộ 4 muốn leo lên 1062 phải qua những đỉnh nhỏ 126, 383, xuyên qua những yên ngựa chập chùng như sóng gợn.
    Hai Đại Đội 83 và 84 do Thiếu Tá Trần Toán chỉ huy đi băng qua khu vực Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù , tới mục tiêu C của Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, bọc ṿng lên đỉnh cao bên dăy Sơn Gà để từ mục tiêu C băng qua yên ngựa đánh lên 1062.

    Đại đội 81 của Đại Úy Hùng và 82 của Trung Úy Hùng ốm lợi dụng đêm tối , ḅ lên đánh vào sườn dốc đứng (v́ mặt này địch chỉ pḥng thủ hời hợt ) chúng cho là ta không thể nào dám vào hướng nầy, v́ sẽ làm mồi cho lựu đạn.

    Ba giờ khuya xuất phát tấn công, sau khi cho phi pháo dập nát đỉnh đồi, Hiệu, Minh, và Hùng dẫn đầu các cánh quân trèo lên ngọn 1062, Đại Đội 82 của Trung Úy Hùng "ốm" làm thành phần trừ bị.
    Đoạn đường gai góc hiểm trở, những binh sĩ Dù dùng kế dương đông kích tây, lợi dụng địch đang phân tán vì bị phi pháo dập liên tục, Hùng, Minh, và Hiệu chia từng tổ 3 người , ḅ lên đỉnh núi, diệt từng chốt nhỏ, rồi leo lên.

    Đây là những giây phút đùa với tử thần, mà cái chết đến với họ bất cứ lúc nào. Nếu một trái lựu đạn của địch thả trúng, hay bị trượt chân xuống, họ có thể chết tan xác.
    Trèo lên vách đá dựng đứng, cao hàng trăm thước, trước khi tới miệng hầm, họ dùng lựu đạn tiêu diệt các chốt địch.

    Những người binh sĩ Nhảy Dù gan dạ, anh hùng của các Đại Đội 81,82, 83, và 84 nầy đă phải tránh được từ 5 đến hàng chục quả lựu đạn do địch từ trên cao ném xuống. Muốn sống, muốn chiếm được đồi 1062, họ phải vừa quan sát, vừa trèo, và vừa tránh né, làm sao để những trái lựu đạn đừng nổ trên nón sắt hay nổ ở lưng chừng núi.

    Không phải ai cũng được b́nh an lên tới đỉnh núi. Một quả lựu đạn đă rơi trúng nơi trú ẩn của Thiếu Úy Đoàn Tấn và Chuẩn Úy Đến thuộc Đại Đội 81 khiến hai anh thương vong.
    Lúc quả lựu đạn vừa rơi tới, Thiếu Úy Tấn định nhào lại , lấy thân ḿnh che cho đồng đội, nhưng không kịp nữa. Quả lựu đạn đă tung nổ, khiến hai người bị trúng nhiều mảnh vào chỗ hiểm. Riêng Trung Úy Thạch và Thiếu Úy Hà Mai Trường, thuộc Đại Đội 84 của Minh, v́ hăng hái leo lên nên cũng bị thương.

    "Cái giá" để chiếm được đồi 1062 thực sự là một cái giá rất cao, cao nhất của chiến trận mà các chiến sĩ Dù đă gặp phải từ trước tới nay. Năm tiểu đoàn Dù bị tổn thất nặng, nặng nhất là Tiểu Đoàn 3 của Thiếu Tá Vơ Thanh Đồng, quân số hao hụt gần 50 phần trăm.

    Đại Úy Hiệu dẫn đại đội 83 xuyên qua Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù, tiến về mục tiêu C , thay thế Đại Đội 11 của Đại Úy Trần Văn Thể. Thể bảo Hiệu:

    - Sư Đoàn Điện Biên 304 đó, phải cẩn thận v́ địch có lợi thế cao và hầm hố kiên cố.

    Trên trục tiến quân có rất nhiều chướng ngại vật, cây cối um tùm, và địch đă gài nhiều ḿn bẫy. Cộng quân dùng giàn ná phóng hàng chục quả lựu đạn xuống thật nguy hiểm vô cùng.
    Địch cũng bắn trực xạ bằng đại bác hoặc sơn pháo, v́ thế các Đại Đội 81 (cánh trái), Đại Đội 84 (cánh phải), cùng Đại Đội 83 đă thử đột kích đêm nhưng không kết quả.

    Địch chỉ ngồi trên cao đạp những tảng đá và liệng lựu đạn chày xuống , làm những chốt đóng gần bị thương hằng ngày.
    Quân số các đại đội cứ hao hụt dần. Thiếu Tá Nguyễn Quang Vân thường gọi máy đốc thúc nhưng v́ địa thế quá hiểm trở nên các đại đội cứ dậm chân tại chỗ.

    Sang ngày thứ 4 , sau ngày thay Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, v́ không thể theo đường đỉnh yên ngựa tấn công, nên lợi dụng ban ngày địch không chú ư, Đại Úy Hiệu dẫn quân tiến theo đường thông thủy giữa 2 đỉnh 1062 và đồi Không Tên ở phía Nam 1062. Khi tiền quân Đại Đội 83 tiến c̣n cách 1062 khoảng 50 thước th́ địch nghe động , nhưng không phát giác là có nguyên đại đội.

    Cộng quân bắn dọa (v́ không ngờ quân ta dám leo dốc cao) xuống thung lũng với thượng liên, B-40, nhưng vô hiệu , nhờ các tảng đá lớn 2 bên sườn núi che chở, và đồng thời các Đại Đội 81, Đại Đội 84 bắn yểm trợ , khiến địch phải phân tán mỏng để pḥng thủ.

    Vị trí đóng quân giữa TĐ8ND và địch quân chỉ cách nhau khoảng 50m, đôi bên giữ thế cài răng lược , gờm nhau đă suốt 2 tuần lể, chờ cho đối phương sơ hở là thịt ngay. Tinh thần mọi người luôn căng thẳng, chỉ sơ suất một giây lát là vong mạng.

    Lúc 8.30 tối, Cộng quân từ cao điểm hai ngọn đồi 1062 bất thần tấn công xuống 2 mặt, các chiến sĩ Nhảy Dù phản công quyết liệt, và gọi Pháo Binh tác xạ cận pḥng dội ngay lên đầu địch.
    Quân CS thấy Nhảy Dù chống trả quyết liệt và pháo binh tác xạ dữ dội nên chúng rút lui.

    Sáng hôm sau , địch quân tấn công ban ngày, v́ biết Nhảy Dù ở sát nách, chúng cần phải bứng gốc , mới mong giữ được 1062. Các Đại Đội 81,83 và 84 cho các chốt bung rộng ra và bám sát tuyến địch. Tất cả các tuyến đều chạm địch. Trung Úy Vũ Đức Tiềm, một Trung Đội Trưởng bị tử thương. Đại Úy Đồng Văn Minh và Trung Úy Hà Mai Trường bị thương nặng phải di tản.

    Gần 1 tháng quần thảo Ta và địch đều bị tổn thất nặng quanh đỉnh 1062. Chiếm xong lại mất, mất rồi th́ chiếm lại bằng mọi giá. Ngày 19/9/1974 LĐ1ND quyết định tấn chiếm đỉnh đồi 1062, ra lịnh cho các đơn vị lui lại 200m để phi cơ và pháo binh tác xạ liên tục từ 6:00 đến 7:30 , cho địch quân không ngóc đầu nổi.

    Sau đó tất cả đơn vị xung kích Nhảy Dù xung phong tràn lên mục tiêu. Một số lớn cộng quân run rẩy qùy lạy đầu hàng. Họ được đối xử tử tế, băng bó vết thương, cho ăn uống và thuốc hút. Họ nói “chúng tôi nghe tuyên truyền rằng lính Dù các anh ác ôn hung dữ lắm, sao hôm nay các Anh đối xử tốt với chúng tôi quá vậy?”

    Sau đó TĐ8ND bung rộng ra lục soát quanh đỉnh đồi , t́m thấy trên 300 xác giặc , bắt sống thêm 7 tù binh , tịch thu gần 200 khẩu súng đủ loại… Sau khi thu dọn chiến trường, TĐ8ND phối trí các đơn vị chiếm giữ các cao điểm và cho binh sĩ bố pḥng , chuẩn bị địch quân tấn công trả đũa. Nhờ vào địa thế cộng quân làm sẵn các công sự , nên các chiến sỉ Dù cũng đở phải vất vả.

    Khoảng 2.00 giờ chiều, địch quân bắt đầu pháo tập dữ dội vào 1062 cho đến chiều tối, sau đó tung 3 Trung Đoàn 29, 24 và 66 của SĐ Điện Biên, đơn vị thiện chiến số một của Tướng Giáp, tăng cường Trung Đoàn 31 thuộc SĐ2 CSBV quyết tâm tràn ngập và chiếm lại cứ điểm 1062, khắp các tiền đồn đều chạm địch.

    Đến 1:00 giờ đêm ngày 20/9, Cộng quân ào ạt tấn công vào 1062. Nhờ chuẩn bị trước, TĐ8ND gọi pháo binh tác xạ vào các điểm hỏa tập tiên liệu cận pḥng nên các chiến sỉ Tiểu Đoàn 8 vẫn giữ vững pḥng tuyến.
    Đến 4 giờ chiều, Trung Đoàn Sông Hồng tung thêm lực lượng trừ bị cuối cùng vào trận chiến. Vào giờ nầy, lực lượng địch bu quanh 1062 dầy đặc như ruồi bu quanh viên kẹo.

    Lữ Đoàn 1ND ra lịnh TĐ8ND lui binh về sau khoảng 200 thuớc, dùng phi pháo tiêu diệt địch quân đang bao quanh đỉnh 1062 đông như kiến.
    Sau các phi vụ oanh kích của Không Quân VNCH, TĐ8ND trở lại tấn kích tái chiếm ngọn đồi chiến lược nầy, đồng thời tung thêm các đơn vị Đa Năng và Trinh sát xâm nhập sâu vào các hốc đá, khe núi chỉ điểm các vị trí đặt pháo của địch , nên pháo binh và không quân phản pháo chính xác tiêu diệt được Bộ chỉ huy Trung Đoàn Sông Hồng đầu não của VC tại phía Đông Bắc của đồi 1062 khiến địch quân phải tháo lui, bỏ lại chiến trường trên 200 xác chết, nhiều súng cộng đồng và cá nhân, bắt sống 40 tù binh thuộc Trung Đoàn Sông Hồng.

    Ngày 2/10/1974 quân CSBV dự định thêm một lần nữa tấn công biển người để tái chiếm căn cứ 1062 nhưng bị Không quân VNCH và pháo binh ND yểm trợ hoả tập kịp thời và chính xác vào các ngọn đồi 383 và 126 gây tổn thất cho địch trên 250 nhân mạng.

    Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù tham chiến :

    Sau đó, áp dụng chiến thuật xa luân chiến, Tiểu Đoàn 3 ND do Trung Tá Vơ Thanh Đồng (Tiểu Đoàn Trưởng) và Thiếu Tá Trương Văn Vân (Tiểu Đoàn Phó), được lệnh vào thay Tiểu Đoàn 8.
    Vừa ở đồi 1062 khoảng một vài ngày th́ Tiểu Đoàn 3 ND bị địch trở lại phản công ào ạt. Phía Bắc Việt định tái chiếm đồi nầy bằng chiến thuật tiền pháo hậu xung. Một số sơn pháo của họ bắn trực xạ từ sườn núi đối diện.

    Ngày 29/10/1974, chiều hôm đó trận địa im tiếng súng, t́nh h́nh các nơi yên tĩnh, nhưng binh sĩ canh gác tiền đồn thấy nhiều lá cây di động trông rất khả nghi.
    Thiếu Tá Vân ra lịnh cho các đơn vị trực thuộc báo động đề cao cảnh giác, kiểm soát các tuyến pḥng thủ, gài ḿn Claymore và canh gác cẩn thận, sẵn sàng tư thế đề pḥng địch tấn công bất ngờ.

    Bỗng súng nổ liên hồi ở khu vực của Đại Đội 31 của Đ/U Ngụy Văn Đàng. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đứng trên đỉnh 1062 theo dơi chăm chú trận đánh. Cối 75 ly và sơn pháo của địch từ những cao độ phía Tây Bắc bắn từng nhịp 4 trái , và bộ đội Bắc Việt từ hướng đó đồng loạt tiến vào.

    color=red]Cộng quân dùng chiến thuật biển người, chẳng điều động, ẩn núp ǵ cả. Lính Nhảy Dù đồng đứng dậy khỏi giao thông hào bắn trả mănh liệt. Súng bắn không cần nhắm, lựu đạn ném không cần lấy đà. Hàng hàng lớp lớp cộng quân rơi rụng.[/color]

    Cuộc tấn công kéo dài nhiều đợt. Bộ đội Bắc Việt đồng loạt tấn công vào tuyến pḥng thủ của Đại Đội 31 đang đóng tiền đồn tại đỉnh yên ngựa 1062 và ngọn đồi không tên.
    Hằng trăm lính của Sư Đoàn Điện Biên cùng ào lên 1062 một lượt. Họ giành giật trên mảnh đất cằn cỗi, tan hoang để t́m kiếm thức ăn. Họ t́m những bịch gạo sấy, thịt hộp, C Ration, cuối đường của giải phóng "Mỹ ngụy" là sự tranh giành những hộp thịt được làm tại Mỹ!


    Còn tiếp ....
  • 06-07-2018, 06:16 AM
    tran truong

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!

    Địch đă xây dựng hệ thống pḥng thủ này từ lâu lắm rồi. Họ đă khống chế toàn vùng từ khuya, nhưng vẫn để cho con đường độc đạo này thông thương qua lại, dân chúng vẫn ra vào, quân ta vẫn đi lại lui tới tưởng như vô sự. Nhưng nếu thử tung một toán trinh sát lấn sâu sang bên lộ thử xem, địch quân đang nằm trong đó. Cho nên khi địch lật úp bàn tay th́ toàn bộ lực lượng Sư đoàn 3BB và Biệt Động Quân tan tác trong nháy mắt.
    Vị sĩ quan Đại đội trưởng ĐĐ/BĐQ trấn thủ đồi 52 khi chạy thoát về gặp Nhảy Dù, chỉ c̣n có một người lính mang máy PRC-25 đi theo, ông ta vẫn chưa kịp hoàn hồn. Cách Liên Tỉnh Lộ 4 khoảng 6 km về phía Bắc, đồi 1235 nằm ở phía đông Thường Đức là đỉnh cao nhất, trong khi Đồi 1062 cách đó khoảng 2 km về phía Nam có vị trí chiến lược quan trọng có thể quan sát khống chế toàn bộ khu vực Liên Tỉnh Lộ 4 và thung lũng sông Vu Gia từ Thường Đức kéo dài cho đến Đại Lộc.

    Theo con đường độc đạo ngoằn ngoèo, những toán quân của Sư Đoàn 3 Bộ Binh, của Biệt Động Quân đang nhớn nhác di tản từ Thường Đức ra. Nương theo đoàn binh lính là những dân lành, gồng gánh bồng bế nhau t́m đường thoát hiểm.
    Những loạt đại bác 130 ly của địch từ núi sâu bắn rải theo đoàn người dọc trên mặt lộ. Mỗi khi một cụm khói bốc lên, đoàn người lại ngă xô xuống. Khi cụm khói tan đi, có dáng người loạng choạng đứng lên lê lết bước, có dáng người vẫn nằm yên một chỗ phơi thây trên mặt đường.

    Trung Đoàn 29 CSBV đă đóng chốt trên những ngọn đồi nằm sát Liên Tỉnh Lộ 4 và đă thiết lập một đài quan sát pháo binh ở trên đỉnh 1062 để có thể pháo chính xác vào các vị trí của Việt Nam Cộng Ḥa trong khu vực Đại Lộc và kiểm soát tất cả mọi chuyển động trên Tỉnh lộ 4.
    Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù được giao cho nhiệm vụ chiếm lại đồi 1062 cùng các ngọn đồi lân cận tiếp giáp với Liên Tỉnh Lộ 4 trong khi Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù bảo vệ Đà Nẵng ở hướng Tây qua quận Hiếu Đức.
    Các Tiểu Đoàn Nhảy Dù thay phiên nhổ từng chốt Cộng quân bám chặt trong những hốc núi trong suốt một tháng trời, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù tiến dần lên Đồi 1062.
    Sau khi các cánh quân của Nhảy Dù đă vào tuyến xuất phát. Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lịnh SĐND cho các đơn vị tiến dọc theo đường đỉnh dăy núi Sơn Gà rồi trực chỉ Thường Đức. Nỗ lực chính là Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù. Trong khi đó Lữ đoàn 3 lục soát xung quanh thung lũng Đại Lộc, và làm thành phần trừ bị sẵn sàng tiếp ứng.



    Thuong Duc 1970 - Trại LLĐB A-109 by manhhai, on Flickr
    Từ trại LLĐB cũ nhìn xuống sông Vu Gia



    Giai đoạn I của cuộc hành quân:

    Ngày 18/8/1974 Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù bắt đầu xung trận, tuyến xuất phát khởi từ làng Hà Nha. Hà Nha là một dải đồng bằng hẹp, bên trái là con đường độc đạo dẫn vào Thường Đức, bên phải giáp với chân của rặng Sơn Ya ( c̣n gọi là Sơn Gà) cao ngất trời xanh.
    Các đơn vị Nhảy Dù chia thành từng toán nhỏ đeo bám trên các sườn núi để diệt các chốt Cộng Sản bằng lựu đạn, vừa vượt tuyến xuất phát khoảng 1 cây số, th́ chạm mạnh với đich quân, họ phải giành giựt từng ngôi nhà, từng gốc cây trên con đường độc đạo dẫn vào quận Thường Đức.
    Đoạn đường 5 cây số vô cùng gian nan hiểm trở, với nhiều bẫy và pháo tập gài sẵn của địch. Đoàn quân Nhảy Dù súng hờm trên tay, cẩn trọng trải rộng đội h́nh dấn bước vào ḷ lửa đang sôi sục Đây quả thật là một thử thách, đo lường sự can đảm, kinh nghiệm và kỹ thuật chiến đấu của các chiến sĩ Nhảy Dù , trước khi họ thực sự tham dự một trận đánh để đời quanh ngọn đồi đẫm máu 1062.

    Về phía CSBV,Trung Đoàn 29 bị tổn thất quá nặng phải lùi dần về sau , nên Quân Khu 5 Cộng Sản phải điều động Trung Đoàn 31 của Sư Đoàn 2 CSBV vào thay cho Trung Đoàn 66 đang giữ Thường Đức để đơn vị này ra tăng cường cho Trung Đoàn 29 hầu làm chậm lại bước tiến của Nhảy Dù. Cộng quân cũng đă đưa Trung Đoàn 24 của Sư Đoàn 304 từ Quảng Trị vào chiến trường vào đầu tháng 9/1974 tăng cường cho mặt trận.
    Sáng ngày 18/8, ba Tiểu Đoàn 1ND, 8ND và 9ND vượt tuyến xuất phát, BTL/SĐ Nhảy Dù cũng đă tung các đơn vị Đại Đội 19, 21 và 27 Đa-Năng hoạt động để đánh lạc hướng t́nh báo địch.( 12 Đại Đội Đa Năng là những Đại Đội thiện chiến ưu tú của SĐND, được tổ chức ngoài bảng cấp số. Quân số rút ra từ các đơn vị thông thuộc và được huấn luyện khả năng tác chiến như một Đại Đội độc lập).

    Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh, LĐT/LĐIND ra lệnh Tiểu Đoàn 8 tiến theo Tỉnh Lộ 4, dọc bờ sông Vu-Già bảo vệ cánh trái trục tiến quân tiến chiếm làng Hà Nha 1 và Hà Nha 2 ở phía Đông đồn Địa Phương Quân cũ (trên cao điểm 52). Thiếu Tá Nguyễn Quang Vân, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 8 chuyển lệnh cho Đ/U Phạm Văn Hiệu dàn Đại Đội 83 xung phong thần tốc tấn công thẳng vào làng Hà Nha để giải tỏa đồn Địa Phương Quân.

    Khi Trung đội 1/83, Trung Đội Trưởng là Thiếu Úy Hoàng Văn Tiến vào gần tới bờ làng th́ quân CS Bắc Việt đồng loạt khai hỏa. Các binh sĩ Dù bắn trả mănh liệt. Trung Đội 2 do Thiếu Úy Nghiêm Sỉ Thành chỉ huy nhào vô cứu bồ vừa bắn vừa hô xung phong vang rền làm địch hoảng hốt bỏ chạy hết. Nhờ đó tổ khinh binh của Tiến nhảy vào chiếm được bờ làng, Đại Úy Hiệu bảo Thành ngưng tác xạ, và Thiếu Úy Tiến dẫn toàn bộ Trung Đội vào mục tiêu và bung rộng về phía Tây bờ làng.

    Sau 40 phút giao tranh, Đại Đội 83 hoàn toàn làm chủ làng Hà Nha. Đ/U Hiệu cho bố trí, binh sĩ canh gác cẩn mật, đào hầm hố củng cố vị trí chiến đấu. Kết quả tịch thu vài súng cá nhân v́ quân số địch cỡ một trung đội, Cộng quân chỉ chống trả yếu v́ thấy các binh sĩ Dù đánh giặc hăng hái và bị nhiều mặt tấn công.
    Địch tức giận thua trận nên dùng đại bác không giật từ các cao điểm bên kia bờ sông bắn trực xạ vào làng Hà Nha. Xạ trường quan sát của địch thật là chính xác.

    Trong khi binh sĩ Đại Đội 83 đào hầm hố, gài ḿn Claymore, ḿn chiếu sáng, đặt lính gác giặc, Đ/U Phạm Văn Hiệu điều chỉnh hỏa tập cận pḥng với sĩ quan tiền sát, anh cận vệ dọn cơm cho Hiệu ăn ở cái bàn nhỏ trước một ngôi nhà tranh. Hiệu thấy trời sáng trăng, sợ địch ở đỉnh cao bên kia sông trông thấy, nên bảo dọn vào nhà.
    Vừa ăn được nửa chén cơm th́ nghe "đùng" một tiếng, cái bàn gỗ trước nhà bị nguyên một trái SKZ-57 ly không giật. Hiệu giật ḿnh! Nếu sớm chừng 5 phút th́ nguyên tổ chỉ huy của Đại Đội 83 đă tan tành.

    Sau đó địch khai hỏa tứ phía, sơn pháo trực xạ từ các đỉnh núi bên kia sông, hỏa tiễn 122 ly, đại bác 130 ly liên tục pháo kích vào làng Hà Nha. Dứt tiếng pháo th́ cả tiểu đoàn địch đồng loạt tấn công biển người vào Đại đội 83.
    Nhờ đă chuẩn bị hố chiến đấu vững chắc, các binh sĩ Nhảy Dù đă bắn trả mănh liệt. Hiệu cho súng cối 60 ly bắn yểm trợ sơ khởi, sĩ quan tiền sát gọi bắn các hỏa tập cận pḥng. Thiếu Úy Hoàng Văn Tiến và Thiếu Úy Nghiêm Sĩ Thành ra lệnh bấm ḿn claymore, hàng loạt địch ngă gục, súng đại liên M-60 và súng cá nhân AR-15 bắn tới tấp. Hết lớp này tới lớp khác, quân CS Bắc Việt cứ nhào tới định tràn ngập mục tiêu làng Hà Nha.

    Tiến và Thành thật can đảm, hai sĩ quan nầy ra ngay tuyến ngoài đốc thúc binh sĩ chống cự. Nhưng những loạt đạn vô t́nh đă kết liễu đời hai người hùng trai trẻ của Đại Đội 83. Đây là hai sĩ quan đầu tiên của Tiểu đoàn 8 ND ngă xuống trên mặt trận Thường Đức, mở đường cho năm sĩ quan Trung Đội Trưởng sau đó theo chân Tiến , Thành ra đi không hẹn ngày về.
    Đ/U Hiệu điều động Trung Đội 3 của Thiếu Úy Lê Mậu Sức qua trám lỗ hổng, nhưng Sức cũng bị thương nặng (phải di tản). Chỉ c̣n Chuẩn úy Thạch Huôn và Đại Úy Hiệu đốc thúc các binh sĩ Dù cố thủ. Cầm cự đến trời sáng th́ địch rút lui để lại rất nhiều vũ khí, xác địch và một số tù binh.

    Trong lúc đó, Tiểu Đoàn 1 do Thiếu Tá Ngô Tùng Châu chỉ huy, đi cánh phải của Lữ Đoàn, tiến chiếm mục tiêu đầu là cao điểm Đông Lâm, rồi theo đường đỉnh dăy Sơn Ya tiến về hướng Tây tới 1062. Đây là một đồn bót cũ, địa thế xung quanh trống trải, dọc dài xuống tận chân núi. Các đại đội tiến quân dưới cơn mưa pháo của quân CS Bắc Việt, họ phải xung phong thần tốc bám sát và đánh cận chiến , để địch không sử dụng được các băi pháo mà họ đă chuẩn bị sẵn.
    Thiếu Tá Nguyễn Văn Quư (Tiểu Đoàn Phó) chỉ huy 2 Đại Đội thanh toán các tổ cảm tử quân Việt Cộng đang đóng chốt trên những điểm cao, những hốc đá cheo leo dọc theo dăy Sơn Gà. Một trở lực lớn là quá nhiều ḿn bẫy (thuộc loại "ḿn hơi" làm bằng nhựa nhỏ cỡ hộp thịt ba lát). Loại ḿn này có thể hủy diệt 2 chân nếu dẫm phải. Tại đây Đại Đội 11 bị tổn thất 2 chiến sĩ v́ ḿn hơi này.


    Hôm sau, Lữ Đoàn phải tăng phái toán rà ḿn của Đại Đội 1 Công Binh Dù để mở đường. Mục tiêu Đông Lâm được chiếm lĩnh dễ dàng v́ không có lực lượng pḥng ngự của địch. Tuy nhiên các chiến sĩ Dù vẫn gặp khó khăn trước những tấn công lẻ tẻ bằng súng đại bác không giật từ những hốc đá. Một toán tiền quân của Đại Đội 11 đă diệt được toán tiền sát viên pháo binh của địch gồm 2 người đă chết do cụt chân v́ ḿn hơi và một người c̣n sống với đầy đủ máy truyền tin, bản đồ, và địa bàn.
    Từ đó vị trí các lực lượng bạn không c̣n bị pháo kích chính xác nữa. Sau khi chiếm được Đông Lâm, hai Đại Đội 11 và 14 trực chỉ tới mục tiêu B.

    Tiểu Đoàn 9 ND giữ trục chính, đi dọc theo cánh đồng rộng phía Bắc sông Vu Gia, chiếm lĩnh dăy đồi thấp có rừng chồi che phủ. Từ dăy đồi thấp phía Nam dăy Sơn Gà, Trung Úy Nhơn, Đại Đội Trưởng Đại Đội 92, Trung Úy Thăng, Đại Đội Trưởng Đại Đội 94, Đại Úy Trọng, Đại Đội Trưởng Đại Đội 91, cùng Đại Đội 93 của Đại Úy Tường phải băng qua một cánh rừng tràm để đến đồi 383 rồi mới tiến sát tới đỉnh 1062 .
    Các chiến sĩ của Tiểu Đoàn 9 không sao qua được b́a rừng dưới chân núi Đông Lâm, v́ hỏa lực từ cứ điểm B1 trên sườn núi chế ngự. Cứ điểm này vô cùng kiên cố, vừa ở cao, vừa được che chở bởi các tảng đá lớn chồng lên nhau. Tiểu Đoàn 9 đă dùng rất nhiều phi pháo nhưng vẫn không tiêu diệt được. Đại Úy Tửu bị thương chân nên Đại Úy Đinh Văn Tường (Tức Tường Ruby) từ Đại Đội 90 ra thay thế.

    Từ đỉnh Đông Lâm, Tiểu Đoàn 1 nhờ lợi thế hơn 2 cánh quân bạn, nên tiến quân tốc độ cũng nhanh hơn. Do đó Tiểu Đoàn 1 từ cao điểm đă bảo vệ hữu hiệu sườn phải cho Lữ Đoàn. Qua sự phối hợp hàng ngang với Tiểu Đoàn 9, Tiểu Đoàn 1 đă cho lệnh Đại Đội 11 đánh bọc hậu phía sau xuống cứ điểm B1, nơi địch đang cầm chân tiền quân của Tiểu Đoàn 9.

    Xuyên qua thung lũng, Đại Úy Thể dẫn quân tấn công vào phía sau B1 một cách bất ngờ ở ngay sau lưng địch. Đối diện với Cộng quân là Tiểu Đoàn 9 Dù , đang bị cầm chân ở tại dốc đá. Nhờ lợi thế cao, Đại Đội 11 để lại một trung đội ở B để đóng chốt và giữ ba lô cho các trung đội khác. Thành phần c̣n lại tập trung hỏa lực, xung phong đánh thần tốc và tràn ngập cứ điểm B1.
    Quân CS Bắc Việt hoảng hốt xả chốt chạy tán loạn, chỉ trong ṿng 2 tiếng đồng hồ, Đại Đội 11 đă kiểm soát hoàn toàn các đỉnh đá ở phía Nam của B. Chốt B1 được giải tỏa dễ dàng với chiến lợi phẩm là 1 súng cối 61 ly, 1 thượng liên, 7 súng AK, 4 khẩu B-40, 1 điện thoại, một số đạn 72 ly nhưng không t́m được súng. Sau này Tiểu Đoàn 11 của Trung Tá Lê Văn Mễ dùng nơi đây làm chỗ đóng quân tạm thời cho Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn.

    Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù tấn công 1062 :

    Trời sẩm tối, chờ bắt tay với Tiểu Đoàn 9 không được, Đại Đội 11 phải tạm đóng quân đêm tại B và B1. Đêm đó, đặc công địch ḅ trở lại đột kích B1 bằng B-40 rồi bỏ chạy. Chuẩn Úy Tuyến Trung Đội Trưởng hy sinh. Sáng hôm sau 20/8/1974, địch pháo kích mãnh liệt bằng đạn 122 ly vào B và B1 nhưng không chính xác nên không gây tổn thất. Khoảng 11 giờ trưa, Thiếu Tá Quư và Đại Đội 14 bắt tay với Tiểu Đoàn 9 , cùng xuất hiện và đóng chốt tại B2.

    Kế đó, TĐ1ND tiếp tục tiến về cứ điểm C, một tiền đồn mạnh mẽ của quân CS Bắc Việt. Đại Đội 14 đi đầu và chạm địch. Thiếu Tá Nguyễn Văn Quư đi với cánh quân bọc hậu là Đại Đội 11 của Đại Úy Thể. Một phần v́ địa thế hiểm trở, thêm vào đó yếu tố bất ngờ không c̣n nữa. Địch đă chuẩn bị sẵn sàng với hầm hố kiên cố để đón Đại Đội 14. Lại thêm rừng cây cổ thụ cao lớn, ta sử dụng pháo binh rất khó v́ sợ đạn chạm ngọn cây nổ từ cao gây thương tích cho quân bạn.

    Suốt 3 ngày cầm cự, Đại Đội 14 không thể tiến lên được đành phải án binh tại chỗ. Thiếu Tá Quư đẩy Đại Đội 11 thọc sâu về phía Tây rồi từ đó tiến đánh C bằng hướng Nam. Quân Bắc Việt trên cao, quân ta dưới thấp, nhưng nhờ hốc đá nên Đại Đội 11 bám sát tiến lần vào cách mục tiêu C khoảng 200 thước, và phải dừng lại v́ sợ lọt vào tầm lựu đạn. Tiểu Đoàn 1 sử dụng đại bác 57 ly và súng cối 81 ly để có thể bắn chính xác vào mục tiêu. Thiếu Tá Quư cho tập trung 5 khẩu đại liên M-60 chờ cho Tiểu Đoàn bắn hơi cay để địch chạy ra khỏi hầm trú ẩn, th́ tập trung hỏa lực mạnh mẽ bắn phủ đầu địch.

    Đại Đội 14 bất thần xuyên nhanh qua yên ngựa để chiếm C, từng tổ 3 người ḅ dưới hỏa lực tiến vào mục tiêu dùng lựu đạn ném vào pḥng tuyến địch, rồi lập tức xung phong chiếm hầm hố địch làm đầu cầu. Kế đó họ bung rộng ra đánh chiếm từng hầm một. Thừa thắng Thiếu Tá Quư đẩy Đại Đội 14 qua thẳng 1062, nhưng mọi dự tính không xảy ra như mong muốn, và cũng từ đó Đại Đội 11 và Đại Đội 14 phải trả giá rất đắt.

    Sau khi địch tháo chạy v́ sự tấn công quá dũng mănh của các chiến sĩ thiện chiến Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, hai Đại Đội 11 và 14 chia nhau bố trí lập vị trí pḥng thủ sơ khởi để ngăn ngừa địch phản công. Một trận mưa cối sơn pháo 120 ly của Bắc quân bủa xuống, tiếng nổ vang khắp rừng già, khói phủ mù mịt trận địa. Nhờ bung rộng và hầm hố kiên cố của địch để lại, nên binh sĩ ta tránh được thiệt hại nặng nề bởi trận mưa pháo tập trung và chính xác này.

    Càng tiến gần về 1062, địa thế càng hiểm trở, rừng rậm hơn, cây to nhiều hơn, sườn càng dốc đứng hơn.
    Từ cứ điểm C nh́n lên mục tiêu, ở cao hơn 2 ṿng cao độ (theo bản đồ quân sự tương đương 20 thước). Cách xa chừng 150 thước, ta thấy rơ địch đang lố nhố chạy tới chạy lui tăng cường pḥng thủ. Thiếu Tá Quư gọi xin pháo binh bắn "cắm chỉ" lên mục tiêu đó ngày và đêm. Đây được gọi là mục tiêu D, một trong 5 đỉnh của 1062.
    Giữa C và D là một thung lũng (eo yên ngựa) sâu khoảng hơn 20 thước. Như vậy quân ta nếu tấn công mục tiêu D, ít nhất phải vượt lên một dốc đứng cao tới hơn 40 thước. Từ D, địch thỉnh thoảng bắn trực xạ bằng đại bác và thượng liên xuống mục tiêu C, nhưng không gây thiệt hại đáng kể nào cho quân bạn.

    Lúc nầy Tiểu Đoàn 8 và 9 c̣n cách quá xa 1062, chỉ có Tiểu Đoàn 1 là gần và đang ở cao địa, không ai bảo vệ cạnh sườn để tiếp ứng kịp thời. Địa thế địch hiểm trở dễ thủ khó công. Địch chuẩn bị chiến trường đợi ta với những trận địa pháo và hầm hố kiên cố.

    Đỉnh 1062, có 5 đỉnh nhỏ. Năm đỉnh nhỏ này nằm theo thế liên hoàn, yểm trợ cho nhau bằng hỏa lực dễ dàng. Diện tích rộng khoảng 2 đại đội mới bao phủ nổi. Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù quyết định đột kích đêm và lợi dụng gió Đông làm một trận hỏa công. Lực lượng xung kích gồm 2 Trung Đội với Thiếu Úy Lê Văn Bá chỉ huy một Trung Đội thuộc Đại Đội 14 và Thiếu Úy Trần Thanh Quang chỉ huy một Trung Đội của Đại Đội 11.
    Đây là 2 Sĩ Quan xuất sắc đă từng lập nhiều thành tích chiến thắng cho Tiểu Đoàn. Đại Đội 11 làm thành phần trừ bị sẵn sàng tiếp ứng kịp thời cho lực lượng tấn công. Tần số liên lạc thuộc nội bộ của Đại Đội 11 do Thiếu Tá Quư trực tiếp chỉ huy. Hỏa lực yểm trợ gồm súng cối 60 ly và 81 ly đă được chuẩn bị yếu tố tác xạ sẵn sàng.

    Sáu giờ chiều, ánh sáng mặt trời trong rừng già đă tắt hẳn. Hai Trung Đội bắt đầu xuất phát. Thiếu Úy Quang dẫn trung đội đi bên trái, trung đội Thiếu Úy Bá bên phải. Họ giữ đội h́nh đi song song và cách nhau khoảng từ 30 đến 40 thước. Pháo Binh 105 ly của ta vẫn đều đều bắn cắm chỉ trên mục tiêu để địch lo trốn trong hầm, không ngóc đầu lên quan sát quân ta đang di chuyển. Một giờ, hai giờ, rồi 3 giờ trôi qua. T́nh h́nh vẫn yên tĩnh, một thứ im lặng ngộp thở, v́ mọi người đều lo cho số phận của đồng đội của ḿnh. Hệ thống liên lạc vẫn tốt, Thiếu Úy Quang th́ thầm trong máy:

    - Rất gần địch, tiếng chửi thề của chúng nó nghe rơ mồn một, đích thân.

    - Được! Cẩn thận nghe Quang! Thiếu Tá Quư trả lời nho nhỏ trong máy với giọng Huế chay.

    Bỗng nghe một loạt đạn nổ bên phải rồi im lặng. Pháo Binh ngưng tác xạ, hai cánh quân vừa bắn vừa hô xung phong vang rền cả núi rừng hoang vu. Lửa bắt đầu cháy trên mục tiêu, nhiều nhất là bên cánh Thiếu Úy Quang. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù xin Pháo Binh chuyển tác xạ về hướng Tây để bắn chận quân địch. Tiếng của Quang vang trong máy:

    - Chiếm được đỉnh rồi đích thân! Hầm quá nhiều và kiên cố, làm toàn bằng cây to. Mấy đứa con đang bung rộng chờ cánh quân bên phải!

    Trời tối đen như mực, vẫn chưa liên lạc được Thiếu Úy Bá. Mười lăm phút sau, Thiếu Tá Quư đứng dưới mục tiêu C thấy trên D có từng cụm lửa lóe lên chen lẫn trận địa pháo bằng súng cối sơn pháo 120 ly của địch.
    Tiếng của Quang vang lên trong máy:

    - Chúng pháo dữ quá đích thân, nhưng hầm hố kiên cố, không sao!

    Rồi hàng loạt tiếng đạn AK-47 kêu rít, tiếng Quang hét trong máy:

    - Chúng nó phản công, đông lắm! Cho Pháo Binh bắn trên đầu tôi, tụi nó đông như kiến! Mau lên! Pháo! Pháo mau lên!

    Ban đêm trời tối, Đại Đội 11 trừ bị cho Quang và Bá đang ở lưng đồi yên ngựa. Trung đội Thiếu Úy Bá th́ không liên lạc được ngay từ loạt đạn đầu, sau này mới biết được Bá và 4 binh sĩ đă hy sinh v́ ḿn claymore (Việt Cộng lấy của Sư Đoàn 3 Bộ Binh) ngay từ lúc đó.



    Còn tiếp ....
  • 04-07-2018, 09:39 PM
    tran truong

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!

    Sau hơn một tháng vật lộn với con đường, đêm 17 tháng 7/1974, các xe pháo của cộng quân đă bí mật kéo vào tập trung ở thôn Hiên. Các đại pháo 122 mm của Sư Đoàn 304 được bố trí trong các làng bản không có người ở, v́ dân đă bỏ đi từ lâu, nay biến thành rừng.
    Cối 160 mm vào tới vị trí an toàn cách căn cứ Thường Đức 3 km. Bộ đội và dân công lại đưa pháo 85 mm vượt qua một băi śnh lầy lên điểm cao 118 để bắn trực tiếp vào Thường Đức.

    Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 304 đặt tại phía Đông Nam núi Hà Sống, tại đây có thể quan sát rơ bộ binh xung phong lên Thường Đức. Sư Đoàn 304 chia thành ba mũi tiến công vào Thường Đức:
    _ Trung Đoàn 66 với Tiểu Đoàn 7,8 và 9 tấn công vào các vị trí VNCH ở trung tâm chi khu quận lỵ .

    _ Bộ đội địa phương, dân quân du kích tấn công vào các thôn xung quanh quận lỵ.

    _ Trung Đoàn 29 của Sư Đoàn 324 chiếm lĩnh các cao điểm ngăn chận viện binh ở ṿng ngoài dọc theo phía Bắc LTL 4.



    Quận lỵ THƯỜNG ĐỨC, tỉnh QUẢNG NAM 1970 - Cầu Hà Tân qua sông Côn by manhhai, on Flickr



    Vi trí Chi Khu Thường Đức
    Lực lượng bạn :
    - Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân Biên Pḥng, Thiếu Tá Hà Văn Lầu Tiểu Đoàn Trưởng và Đại Úy Trương Đ́nh Sinh TĐP.
    - Hai Đại Đội Địa Phương Quân,
    - Một Đại Đội Cảnh Sát Dă Chiến,
    - Một Trung Đội Viễn Thám
    - 16 Trung Đội Nghĩa Quân

    Sau khi Thường Đức rơi vào tay địch , sư đoàn 3 cử 1 trung đoàn lên giải cứu , nhưng không cách nào tiến tới , vì trân địa pháo của địch , cũng như các chốt chặn kiên cố , được bảo vệ bởi địa hình và pháo địch .
    Nhảy Dù phải vào giải toả . Hai lữ đoàn dùng xa luân chiến , giao tranh ngày đêm không ngừng nghỉ :
    - LĐIND do Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh làm Lữ Đoàn Trưởng gồm 3 Tiểu Đoàn 1,8,9 ND và TĐ1PBND :

    * Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, Thiếu Tá Ngô Tùng Châu làm Tiểu Đoàn Trưởng
    * Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù , Thiếu Tá Nguyễn Quang Vân làm Tiểu Đoàn Trưởng
    * Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù, Thiếu Tá Nguyển Văn Nhỏ làm Tiểu Đoàn Trưởng
    * Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù , Thiếu Tá Nguyễn Bá Trí làm Tiểu Đoàn Trưởng.

    - LĐ3ND do Trung Tá Lê Văn Phát làm Lữ Đoàn Trưởng gồm 3 Tiểu Đoàn 2,3,6 ND và TĐ3PBND :
    * Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù, Thiếu Tá Trần Công Hạnh làm Tiểu Đoàn Trưởng
    * Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù, Thiếu Tá Vơ Thanh Đồng làm Tiểu Đoàn Trưởng
    * Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, Thiếu Tá Nguyển Hửu Thành làm Tiểu Đoàn Trưởng
    * Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù Thiếu Tá Nguyển Văn Thông làm Tiểu Đoàn Trưởng

    Diển Tiến :
    Trước khi tấn công Thường Đức, vào trưa ngày 18.7.1974 Cộng quân tung Trung Đoàn 36 / Sư Đoàn 308 CSBV với sự tăng cường của 2 tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 2 CSBV và Tiểu Đoàn 10 Đặc Công tấn chiếm Nông Sơn, nằm hai bên bờ sông Tỉnh Yên, cách quận lỵ Đại Lộc chỉ 16 cây số do Tiểu Đoàn 78 BĐQ trấn giữ.
    Cộng quân đă tràn ngập căn cứ Nông Sơn. Sư Đoàn 3 VNCH liền đưa Trung Đoàn 2, một pháo đội 155 ly, một pháo đội 175 ly và một chi đoàn của Thiết Đoàn 11 Kỵ Binh đánh chiếm lại, nhưng thất bại và bị thiệt hại nặng. Bộ Tư Lệnh QĐ1 phải điều động Liên Đoàn 12 BĐQ (gồm ba tiểu đoàn 21, 37 và 39) vào thay Trung Đoàn 2 mới tái chiếm được.

    Ngày 29/7/1974 Cộng Quân mở cuộc tấn công vào quận Đức Dục do Tiểu Đoàn 21 BĐQ trấn giữ và bắn hoả tiển vào phi trường Đà Nẳng, cùng lúc cho Trung Đoàn 29 tấn công và pháo kích vào Chi Khu Thường Đức.
    Khởi sự Cộng quân đă pháo kích , triệt hạ các công sự pḥng thủ bên trong Chi Khu và tấn công các vị trí tiền đồn của Tiểu Đoàn 79 BĐQ trấn giữ. Kho đạn của quận lỵ bị bốc cháy .

    Chi Khu Thượng Đức mất liên lạc với ba vị trí tiền đồn của Nghĩa Quân, Điạ Phương Quân và hai vị trí tiền đồn của Biệt Động Quân nhưng pháo binh từ Đồi 52 gần Đại Lộc yểm trợ hữu hiệu, gây nhiều thiệt hại cho quân Cộng quân.

    Sau đó, Trung Đoàn 66 CSBV tấn công trực diện vào hướng chính của Chi Khu, dùng bộc phá mở hàng rào, Tiểu Đoàn 7 CSBV bị một Trung Đội ĐPQ chận đứng với một khẩu đại liên 50 (đại liên 12.7 mm) ở Trúc Hà. Cộng quân dùng pháo 85 ly bắn trực xạ diệt được khẩu đại liên 50 của trung đội ĐPQ, Tiểu Đoàn 7 CSBV tiếp tục khai triển đưa lực lượng vào đột phá nhưng cũng không thành công.

    Hướng Tiểu Đoàn 9 CSBV, mặc dù chiến đấu rất dữ dội, nhưng mở đến hàng rào thứ tư th́ bị lính BĐQ đánh trả mạnh mẽ. Cộng quân bị thương vong quá nhiều phải dừng lại. Phía VNCH phản ứng rất nhanh, Không Quân VNCH từ Đà Nẵng bay lên đă ném bom chính xác vào ngay hàng rào.
    Khi Bắc quân bắn nát từng lô cốt và chuyển sang lô cốt khác, TĐ79 BĐQ lập tức đưa quân bám lấy lô cốt sập, bắn chận không cho quân Bắc Việt tiến lên.

    Sáng sớm hôm sau, ngày 30/7/1974 CSBV pháo dử dội và tấn công vào chi khu Thượng Đức, Chi Khu Trưởng bị thương nặng do đạn pháo , nhưng quân ta vẫn giữ vững được pḥng tuyến, các binh sĩ VNCH tiếp tục đánh bật các đợt tấn công của Bắc quân.
    Phi cơ quan sát của VNCH phát hiện một đoàn quân xa và pháo binh của VC di chuyển trên liên Tỉnh Lộ số 4 phiá Tây Thường Đức, Không quân VNCH từ Đà Nẵng đă được gọi đến oanh kich tiêu diệt được 3 chiến xa và nhiều quân xa địch.







    Đây là trận đánh hiệp đồng binh chủng cường tập rất mạnh của Trung Đoàn 66 CSBV .Sau nhiều đợt mưa pháo ,sau nhiều đợt bộ binh tấn công , nhưng vẫn không thành công trước sự chống trả vô cùng anh dũng, quyết liệt của những người lính VNCH được Không Quân từ Đà Nẳng bay lên yểm trợ đắc lực.

    Sau hai ngày đêm tấn công quyết tử , Trung Đoàn 66 vẫn không “mở cửa” được , trái lại bị thiệt hại nặng nề, phải dừng quân cũng cố đội h́nh. Đêm 30/07 Nguyễn Chánh, Tư lịnh phó Quân Khu 5, phải ra mặt trận để chấn chỉnh đội ngũ và quyết định đưa pháo vào gần hơn để bắn trực xạ.

    Ngày 31/7/1974 sau những đợt pháo tập khủng khiếp, Trung Đoàn 66 CSBV liên tục đưa lực lượng tiến sát ṿng đai pḥng thủ , nhưng Tiểu Đoàn 79 BĐQ cùng ĐPQ/NQ Thường Đức chống trả kiêu hùng , khiến cộng quân bị thương vong rất nhiều mà hàng rào quận lỵ vẫn chưa mở được.

    Thiếu Tá Hà Văn Lầu, Tiểu Đoàn Trưởng 79 BĐQ yêu cầu dội pháo ngay lên hầm chỉ huy của ông. Các công sự pḥng thủ cũng như hệ thống giao thông hào đều sụp đổ dưới những đợt mưa pháo kích của CSBV , nhưng lính mũ nâu vẫn giữ vững căn cứ ; cuối cùng Cộng quân cũng chiếm được bãi đáp trực thăng phiá ngoài , đồng thời bố trí quân trên các cao điểm để chế ngự Tỉnh lộ 4 ở phía Đông Thường Đức chờ VNCH phản công , theo đúng chiến thuật "đánh điểm diệt viện."
    Trước sự thiệt hại nặng nề của Trung Đoàn 66, Sư Đoàn 304 phải ra lệnh cho Trung đoàn ngừng tiến công và chuyển sang pḥng ngự giữ bàn đạp đă chiếm được.



    THƯỜNG ĐỨC 1970 - Trại Lực Lượng Đặc Biệt A-109 by manhhai, on Flickr



    Trong ngày nầy quân cộng sản cũng pháo vào các vị trí của Trung Đoàn 2 BB và Pháo Binh đóng tại Đại Lộc. Sau khi tổn thất nặng ở trận Đức Dục vài tuần trước , Trung Đoàn 2 BB đang được tái bổ sung và huấn luyện ở phía tây Đại Lộc, một pháo đội 175 ly được chuyển ra quận Hiếu Đức để yểm trợ cho Thường Đức.
    Sau đợt tấn công đầu tiên của quân CS, Trung Tá Quận Trưởng Nguyễn Quốc Hùng , bị thương găy chân nhưng vẫn báo cáo về Đà Nẵng là giữ được Thường Đức và yêu cầu tăng viện.
    Bộ Chỉ Huy Chi Khu Thường Đức ráo riết huy động binh lính củng cố các công sự pḥng thủ. Phát hiện lực lượng đang bao vây Thường Đức là bộ đội chủ lực CSBV vừa di chuyển từ Quảng Trị vào, Không Quân VNCH đă được gọi tới oanh kích dữ dội vào đội h́nh vây hãm của địch quân.

    Tại chi khu Thường Đức, tổn thất của Biệt Động Quân và các đơn vị trú pḥng ngày càng gia tăng trong khi việc tải thương không thực hiện được do hỏa lực pḥng không ác liệt của cộng quân. Tướng Trưởng điều động một Chi đoàn chiến xa M-48 từ Tân Mỹ phía Bắc Hải Vân vào Đà Nẵng làm trừ bị cho Tướng Hinh khi t́nh h́nh trở nên nghiêm trọng.

    Ngày 1/8/1974 để giải toả áp lực địch, Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lịnh Sư Đoàn 3 BB đă thành lập một Chiến đoàn đặc nhiệm gồm Trung Đoàn 2BB và Thiết Đoàn 11 Kỵ Binh từ Đại Lộc đi dọc Tỉnh lộ 4 tiến về Thượng Đức.

    Ngày 3/8/1974, Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 2BB bắt được một tù binh Bắc Việt ở phía Đông Thường Đức, theo cung từ cuả tù binh nầy cho biết Trung đoàn 29 CSBV đă chiếm giữ các cao điểm 1235 và 1062 để chế ngự tỉnh lộ 4 giữa Thường Đức và Đồi 52 ở phía Tây Đại Lộc, con đường tiếp liệu và tiếp việ̣n cho Thường Đức , trong khi Trung Đoàn 66 của Sư Đoàn 304 được tăng cường lực lượng chuẩn bị dứt điểm Thượng Đức.

    Bắt đầu đợt tấn công mới. Pháo binh CS, đă hạ ṇng bắn tập trung diệt từng lô cốt một của căn cứ. Không Quân VNCH đă gởi phi pháo đến yểm trợ và trọng pháo tác xạ dữ dội vào các vị trí quân CS.
    Nhưng rút được kinh nghiệm của đợt tấn công trước, đội h́nh bộ binh cộng quân áp sát mục tiêu hơn và có công sự chu đáo nên tránh được thương vong nặng như lần trước. Đạn pháo bắn thẳng phá tung những lô cốt c̣n lại, sau đó cối 160 mm , rơi như mưa vào khu trung tâm rồi pháo chuyển lần hướng , cho bộ đội tiến tới.

    Mặc dù được tăng cường Tiểu Đoàn 1/57, Chiến đoàn của Trung Đoàn 2 tiến rất chậm trước sự kháng cự của Trung Đoàn 29 CSBV và hỏa lực pháo binh hùng hậu của Cộng quân dọc theo các cao điểm 1235 và 1062 cạnh LTL4.
    Trong khi tại Thường Đức, t́nh h́nh trở nên nguy kịch khi lính Biệt Động Quân sắp cạn kiệt đạn dược cũng như lương thực. Không Quân VNCH cố gắng thả dù tiếp tế khẩn cấp vào ngày 5 tháng 8 nhưng do hỏa lực pḥng không ác liệt của Bắc Việt, tám kiện hàng tiếp tế đều rơi ngoài chu vi pḥng thủ.
    Một oanh tạc cơ A-37 bị bắn rớt khi định tiêu hủy các kiện hàng tiếp tế không may rơi vào khu vực do quân CSBV kiểm soát.


    Lo ngại về mối đe dọa nguy hiểm lớn cho Đà Nẵng từ hướng Tây của Đại Lộc, Tướng Trưởng khẩn cầu trực tiếp với Đại Tướng Cao Văn Viên cho Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù từ Sàig̣n ra tăng viện đồng thời ra lệnh cho Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù đang pḥng thủ phía tây Huế chuẩn bị di chuyển vào Quảng Nam, nhưng các hoạt động này đă không c̣n kịp để cứu văn t́nh thế cho Thượng Đức.

    Mặc dầu liên tục pháo vào Thường Đức từ ngày 29 tháng 7, cường độ pháo trong đêm 6 tháng 8 gia tăng với trên 1,200 đạn pháo. Ở hướng chính của căn cứ, Cộng quân dùng bộc phá liên tục để mở ngõ , nhưng binh sĩ VNCH trong hầm ngầm chui ra các lô cốt đă bị sập, bắn trả quyết liệt. Đến 7 giờ sáng ngày 6 tháng 8/1974, Địch quân vẫn chưa vào được quận lỵ.

    Suốt một ngày và đêm 6 tháng 8/1974 chiến đấu liên tục, Tiểu Đoàn 9 CSBV đă mở được cửa đột phá và đánh chiếm được một số lô cốt , tuyến chiến hào thứ nhất.
    Nhưng khi tiến vào trung tâm, các mũi công của Cộng quân bị khựng lại trước hệ thống hỏa lực dày đặc của Binh Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa. Tiểu Đoàn 79 BĐQ cùng lính Địa Phương Quân/Nghĩa Quân ở Thường Đức quyết không đầu hàng nên đă chiến đấu vô cùng quyết liệt, đánh trả các cuộc xung phong của CSBV đến người lính cuối cùng và đến viên đạn cuối cùng.

    Trên trời, máy bay A-37 , liên tục quần đảo bắn phá và bổ nhào trút bom , đánh ngay vào khu vực hàng rào căn cứ, giúp quân đồn trú ở Thường Đức giữ vững khu vực c̣n lại. Những người lính mũ nâu anh hùng của Tiểu Đoàn 79 BĐQ tiếp tục đẩy lui một đợt tấn công nữa vào đêm này.



    Vietnam war - by Wally Beddoe - Không ảnh Quận Thường Đức, tỉnh Quảng Nam by manhhai, on Flickr
    Góc trái phía trên là hậu cứ tiểu đoàn 79BĐBP - Trại LLĐB cũ



    Khoảng 1 giờ sáng ngày 7-8, cộng quân chuyển hướng tiến công của Tiểu Đoàn 9 thành hướng chủ yếu. Đến 5 giờ 30 phút ngày 7 tháng 8 năm 1974, sau khi củng cố lực lượng và bố trí lại đội h́nh, Trung Đoàn 66 mở đợt tấn công cuối cùng đánh chiếm quận lỵ Thượng Đức.
    Hỏa lực của pháo binh CS bắn chi viện cho Tiểu Đoàn 8 tiếp tục mở cửa. Bộc phá nổ cuốn theo lớp hàng rào cuối cùng. Những người lính BĐQ, ĐPQ và NQ c̣n lại rút vào lô cốt ngầm , bắn ra như mưa bão .

    Tiểu Đoàn 9 chiếm được khu Địa Phương Quân tiến xuống khu cảnh sát, quận lỵ. Tiểu Đoàn 7 từ hướng tây bắc đă sang hướng Tiểu Đoàn 9, đánh vào khu Biệt Động Quân. Lúc 8 giờ 30 phút ngày 7 tháng 8/1974, Sư Đoàn 304 đă tràn ngập cứ điểm Thượng Đức. Tiểu đoàn trưởng BĐQ báo cáo mở đường máu rút lui trước khi liên lạc bị mất vào trưa ngày 7 tháng 8.




    Trận Thượng Đức năm 1974 trong chiến tranh Việt Nam - Battle of Thuong Duc 1974 in Viet Nam war . Các binh sĩ tiểu đoàn 79 BĐQ chờ tản thương



    Thường Đức trở thành quận lỵ đầu tiên của Việt Nam Cộng Ḥa rơi vào tay quân Bắc Việt sau ngày ngừng bắn và một cơ hội cho Hà Nội đánh giá phản ứng và khả năng yểm trợ VNCH của Hoa Kỳ khi chiến sự bắt đầu leo thang.

    Do chủ quan về khả năng chiến đấu của chủ lực cơ động cùng pháo binh hùng hậu yểm trợ, Trung Đoàn 66 của Sư Đoàn 304 đă phải trả một giá đắt, thiệt hại nặng nề với 75% quân số thương vong .
    Tiểu Đoàn 79 BĐQ cùng các người lính ĐPQ/NQ và CSDC của chi khu Thường Đức kiêu hùng , cộng thêm yểm trợ tích cực và hữu hiệu của Không Quân từ phi trường Đà Nẳng đă chận đứng và đánh bật hàng loạt tấn công kéo dài suốt 9 ngày đêm.

    Các người lính VNCH đă không chịu đầu hàng mà chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng, cho đến giọt máu cuối cùng. Nhưng sự hy sinh anh dũng này đă đi vào quên lăng do địa thế hẻo lánh, không được nhiều người biết đến. Và bị nhiều biến cố khác xảy ra liên tục làm chiến công Thường Đức phai nhạt .

    Sư Đoàn Nhảy Dù tham chiến :

    Ngày 8/8/1974, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù cùng 3 Tiểu Đoàn trực thuộc 1, 8, & 9ND được khẩn cấp không vận đến vùng hành quân Đại Lộc bằng phi cơ C130, một ngày sau khi Thường Đức thất thủ, trong khi các thiết bị nặng như đại bác 105-ly và xe cộ , được đưa bằng tàu của Hải Quân.
    Sau khi nghỉ đêm tại Quận Hiếu Đức, sáng hôm sau Lữ Đoàn I ND di chuyển bằng GMC hướng về quận Đại Lộc, qua Ái Nghĩa, cầu Ch́m. Đoàn xe dừng tại đây, mọi người ba lô súng đạn gọn ghẽ, mở đội h́nh từ từ tiến vào vùng hành quân.

    Ngày 11/8/1974 Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù cùng 3 tiểu đoàn 2, 3 & 6 , di chuyển bằng phi cơ từ Phú Bài xuống phi trường Đà Nẵng, trách nhiệm án ngữ ở quận Hiếu Đức , sau khi bàn giao khu vực trách nhiệm cho Liên Đoàn 15 Biệt Động Quân / Quân Khu 1.

    Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù và Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng (Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù) cũng di chuyển đến Đà Nẵng đặt bản doanh tại phi trường Non Nước ở phía Nam Đà Nẵng.
    Trên vùng đồi núi chập chùng nằm phía bắc thung lũng sông Vu Gia, Liên Tỉnh Lộ 4 gồ ghề và ngoẳn nghèo nối liền Thường Đức với khu vực đồng bằng duyên hải, 2 bên trái phải là 2 dăy núi cao chót vót trùng điệp chạy chụm lại, 2 dăy núi gặp nhau tại một khe núi rất hẹp, có tên là Ba khe, với ngọn đồi 52 trọc đỏ ối nằm ngay yết hầu con đường độc đạo chạy từ Đại Lộc vào Thường Đức, sâu nữa là vùng Bến Giàng rồi Khâm Đức.

    Biết Quân Lực VNCH sẽ t́m cách chiếm lại Thường Đức . Địch quân đă có ư đồ từ lâu cho Trung đoàn 29 chiếm giữ những ngọn đồi ở phía Nam của dăy núi. Dọc hai bên sườn đồi, hầm hố được xây dựng rất kiên cố. Họ cưa cột nhà của dân chúng đem gác thành khung chữ A, tháo tôn trên mái nhà đặt lên mặt, rồi tấn đất cát chặt lên trên.
    Từng chiếc hầm kiên cố, nếu một quả đạn 105 ly có nổ trên nắp hầm cũng chả ăn thua ǵ, địch vẫn ngồi bên dưới ung dung kéo thuốc lào.



    Còn tiếp ....
  • 03-07-2018, 11:02 PM
    tran truong

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!

    Chiến trường ác liệt Thường Đức (18/8/1974 - 8/11/1974)





    Sau khi Hiệp Định Paris được kư kết vào cuối tháng 1/1973, t́nh h́nh chiến cuộc Việt Nam tạm lắng dịu. Hai sư đoàn Tổng trừ bị (Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến) vẫn c̣n bị lưu giữ tại Quân Khu 1. Lấy Quốc Lộ 1 làm ranh giới, Sư Đoàn Nhảy Dù trấn giữ phía Tây, dọc theo hành lang dăy Trường Sơn, và trách nhiệm luôn phần bảo vệ an ninh Quốc Lộ 1, từ cây số 17 ra tới bờ sông Thạch Hăn (tỉnh Quảng Trị).
    Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) trấn giữ phía Đông từ Quốc Lộ 1 ra đến bờ biển, và từ sông Mỹ Chánh ra đến tận Cổ Thành Quảng Trị ở phía Bắc.

    Các đơn vị thuộc Sư Đoàn Nhảy Dù chiếm những cao địa tới tận chân dăy Trường Sơn, các căn cứ Anne (Động Ông Đô), Barbara (đă giành lại được trong cuộc tổng phản công tái chiếm Quảng Trị). Đây là 2 căn cứ chiến lược chế ngự toàn vùng hành quân.

    Từ An Lổ, cây số 17 (căn cứ Hiệp Khánh, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù) về phía Nam là trách nhiệm của các đơn vị cơ hữu thuộc Quân Đoàn 1. Sư Đoàn 1 Bộ Binh trấn đóng ở phía Bắc đèo Hải Vân. Phía Nam là trách nhiệm của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 2 Bộ Binh. Cả hai khu vực Bắc và Nam đèo Hải Vân đều có các đơn vị Biệt Động Quân, Địa Phương Quân, và Nghĩa Quân trấn giữ.

    Đối đầu với Sư Đoàn Nhảy Dù là Sư Đoàn 325 Trị Thiên của Bắc Việt. Tuy danh xưng là Sư Đoàn Trị Thiên, nhưng thực ra bộ đội của sư đoàn này rất trẻ và nói toàn giọng Bắc.
    T́nh h́nh tổng quát tại Quân Khu 1 sau ngày kư hiệp định tương đối yên tĩnh.

    Vào những tháng cuối năm 1974, sau khi trao đổi tù binh với Hoa Kỳ xong xuôi, Bắc Việt không ngần ngại bắt đầu vi phạm Hiệp Định Ba Lê để thực hiện ư đồ xâm lăng thôn tính miền Nam bằng vơ lực.

    Qua các cuộc trắc nghiệm xem phản ứng của Hoa Kỳ bằng cách mở cuộc tấn công vào tỉnh Phước Long cuối năm 1974, và một số thị trấn khác thuộc Quân Khu 3.
    Thấy Hoa Kỳ không có phản ứng, Cộng Sản Bắc Việt bắt đầu tung các đơn vị chủ lực vào cuộc xâm lược Miền Nam Việt Nam.

    Bộ đội, pháo binh, cơ giới của họ ngang nhiên ào ạt di chuyển trên đường ṃn HCM vào các quân khu 2 và 3 , hàng hàng lớp lớp giữa ban ngày, không cần ngụy trang ẩn nấp như xưa.
    Song song với việc chuyển quân, Cộng Sản Bắc Việt mở mặt trận lớn đầu tiên tại Vùng 1 Chiến Thuật với ư đồ cầm chân các đơn vị tổng trừ bị của QL-VNCH. Hai sư đoàn 304 và 324 Bắc Việt, cùng các trung đoàn pháo, chiến xa bất thần đánh chiếm quận Thường Đức thuộc tỉnh Quảng Nam. Là một điểm chiến lược nhờ địa thế núi rừng hiểm trở.

    Thường Đức là một trong 9 quận của tỉnh Quảng Nam (Đức Dục, Quế Sơn, Thường Đức, Hiếu Đức, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Ḥa Vang và Hiếu Nhơn), được thành lập năm 1962, tách ra từ quận Đức Dục, nằm trong thung lũng Hà Tân, một khu vực nghèo nàn khô cằn sỏi đá ở phía Tây Nam Đà Nẵng , khoảng 60 cây số, và phía Tây là vùng rừng núi trùng điệp chạy dài tới biên giới Việt - Lào khoảng 50 cây số.
    Đây là tiền đồn chiến lược bảo vệ căn cứ quân sự và phi trường Đà Nẵng, một trong những căn cứ lớn nhất của VNCH.

    Năm 1974, Quân Đoàn I đă bố trí Sư Đoàn 3 Bộ Binh trấn giữ tỉnh Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Tín. Sư đoàn này có ba trung đoàn cơ hữu là Trung Đoàn 2, Trung Đoàn 56 và Trung Đoàn 57. Trung Đoàn 2 phụ trách khu vực G̣ Nồi và quận Đức Dục. Trung Đoàn 56 chịu trách nhiệm về hai quận Quế Sơn và Thăng B́nh. Trung Đoàn 57 là trung đoàn trừ bị.

    Hai nơi hiểm yếu và chịu áp lực nặng nhất là Nông Sơn và Thường Đức, được giao cho Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân. Liên đoàn này có 3 tiểu đoàn là 77, 78 và 79.
    Tiểu Đoàn 78 đóng ở Nông Sơn và Tiểu Đoàn 79 đóng ở Thường Đức. Thường nhật quận lỵ Thường Đức do hai Đại Đội Địa Phương Quân bảo vệ. Vào giữa tháng 6 năm 1974, khi được tin Cộng quân có thể tấn công Thường Đức, Tiểu Đoàn 79 mới được đưa từ Quảng Ngăi về trấn giữ vị trí này.





    Địa h́nh Thượng Đức rất hiểm yếu, ba bề là núi cao, có nhiều dốc dựng đứng. Phía Đông bằng phẳng, từ quận Điện Bàn trên giao điểm Quốc lộ 1, Liên tỉnh lộ 4 chạy dọc theo sông Vu Gia dẫn vào Thường Đức dài khoảng 40 cây số, đường sá rất hiểm trở.
    Quận lỵ Thường Đức nằm ngay ngă tư Liên tỉnh lộ 4 và Quốc lộ 14 và cũng là nơi hợp lưu của hai con sông Côn và sông Vu Gia nước sâu, chạ̣y dài từ Tây sang Đông. Chính phủ VNCH cho thành lập quận này nhằm cắt đứt con đường 14, không cho Cộng quân sử dụng để di chuyển vào Nam. Vùng chung quanh đường 14 có bộ lạc Katu sinh sống.


    THƯỜNG ĐỨC 1970 by manhhai, on Flickr


    Trước kia Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) Hoa Kỳ đă xây dựng và để lại một căn cứ pḥng thủ chiến lược với hệ thống giao thông hào liên hoàn trong căn cứ , cùng với 35 lô cốt nửa ch́m nửa nổi, mỗi lô cốt rộng bốn mét, xây dựng bằng xi măng cốt thép bao bọc hai lớp bao cát đặt ngang ở giữa, nhiều công sự có nắp và một hệ thống nhà hầm và hầm ngầm.

    Khu truyền tin, chỉ huy pháo binh, bệnh viện, kho đều nằm sâu trong ḷng đất. Trong khu vực nhà ngầm được chia thành nhiều pḥng. Lực lượng VNCH ở Thượng Đức có Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân Biên Pḥng, hai đại đội Địa Phương Quân, một đại đội Cảnh Sát Dă Chiến, một trung đội Viễn Thám và 16 trung đội Nghĩa Quân, tất cả đặt dưới sự chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Quốc Hùng, quận trưởng.

    Về mặt chiến lược Thường Đức c̣n là một vị trí quan trọng xuất phát các cuộc hành quân trinh sát, khống chế con đường tiếp liệu Trường Sơn Đông mà CSBV vừa mới khai dựng sau ngày kư hiệp định 27/1/1973.
    Từ phía Bắc quân dụng và chiến cụ theo đường ṃn HCM đưa từ A-Lưới đến A-Shau qua Trào đến Bến Giàng nằm trên LTL 4 cách Thường Đức không xa. Tại đây quân CSBV có những kho lẫm , tồn trữ quân dụng tiếp tế cho mặt trận Quân Khu Năm.

    Về chính trị, với việc chiếm đóng Thường Đức, Hà Nội có thể đánh giá được phản ứng của Hoa Kỳ và khả năng tăng viện trợ quân sự cho Sàig̣n. Về quân sự, Hà Nội có thể đánh giá khả năng phản kích, cơ động và hỏa lực yểm trợ của chủ lực VNCH ở Quân Khu 1, đặc biệt là lực lượng tổng trừ bị cơ động chiến lược (Nhảy Dù).

    Đối với Việt Nam Cộng Ḥa, trận chiến Thượng Đức đánh dấu việc vi phạm ngưng bắn của CSBV đă đến một mức độ nghiêm trọng mới. Thường Đức trở thành quận lỵ đầu tiên của VNCH rơi vào tay cộng sản sau ngày ngưng bắn. Đại Lộc và Đà Nẵng sẽ bị đe dọa nghiêm trọng từ hướng Tây chỉ cách thung lũng sông Vu Gia.


    Lực lượng địch tham chiến gồm có :

    - SĐ324B gồm các Trung Đoàn 29, Trung Đoàn 6 & Trung Đoàn 803 di chuyển từ phía Tây tỉnh Quảng Trị xuống tỉnh Quảng Nam

    - SĐ304 Điện Biên, Tư lệnh là Trương Công Phê, Chính ủy là Trần B́nh chỉ huy trực tiếp trận chiến, gồm 3 Trung Đoàn 66, 24 & 36 vừa tham gia trận đánh chiếm căn cứ Dak Pek ở phía Bắc tỉnh Kontum vào giữa tháng Năm đă bí mật di chuyển vào khu vực Thượng Đức.

    - Trung Đoàn 31 thuộc SĐ2 CSBV tăng viện vào lúc cuối trận chiến.

    - 2 Tiểu Đoàn bộ đội địa phương Quảng Đà

    - Một Trung đoàn Pháo và 3 chiếc Chiến Xa.

    Lực lượng địch quân tham gia tác chiến chủ yếu ở Thường Đức là Sư Đoàn 304 với Trung Đoàn 66 được tăng cường Trung Đoàn 29 (c̣n gọi là Trung Đoàn 3) /Sư Đoàn 324, Tiểu Đoàn 1/Lữ Đoàn 219 Công Binh, một đại đội tên lửa A72 (SA-7) và một đại đội tên lửa B72 (AT-3), tất cả từ Quân Đoàn 2 cùng hai tiểu đoàn bộ đội địa phương Quảng Đà.

    Các đơn vị của Quân Đoàn 2 CSBV đă được cơ giới trên con đường chiến lược mới mở Đông Trường Sơn , từ thung lũng Ba Ḷng (Quảng Trị) xuống. Riêng Trung Đoàn 3/ Sư Đoàn 324 vừa mới được cơ giới từ thung lũng A Shau (Thừa Thiên) xuống tham gia đánh trận Dak Pek, sau đó đă cơ động trở lại Quảng Nam đễ tham gia chiến dịch Thường Đức.

    SA-7 và AT-3 đều được gọi là "tên lửa" (hỏa tiển), nhưng công dụng khác nhau.
    SA-7 là hỏa tiển pḥng không, chống máy bay hoặc trực thăng, nhỏ gọn, dài khoảng 1.47 mét với đường kính 70mm nằm trong một ống phóng ngắn có thể bắn từ trên vai.
    AT-3 được chế tạo để chống thiết giáp (xe tăng, thiết vận xa) hoặc bắn vào các công sự chiến đấu kiên-cố.

    Trận Thường Đức do cán bộ Sư Đoàn 304CSBV trực tiếp chỉ huy. Trong cuộc họp chuẩn bị giữa Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 304 với bộ chỉ huy Quân Khu 5 CSBV, đă có việc trao đổi kinh nghiệm sử dụng pháo bắn thẳng có hiệu lực cao ở Nông Sơn.
    Tư lịnh Sư Đoàn 304 CS khẳng định sẽ tiêu diệt Thường Đức với hỏa lực hùng hậu của Bộ Tư Lệnh B5 yểm trợ gồm cấp số trang bị : pháo 85 ly và 105 ly gấp đôi của Sư Đoàn 2 CSBV , lại có thêm súng cối 160 ly có sức công phá lớn, yểm trợ đắc lực cho bộ binh xung phong.

    Quân Đoàn 2 CS tổ chức một bộ phận tiền phương đi cùng với Sư Đoàn 304 do Đại Tá VC Hoàng Đan, phó tư lệnh quân đoàn phụ trách.
    Với nhiệm vụ tấn công chi khu quận lỵ Thường Đức, thử thách quan trọng đối với Sư Đoàn 304 là việc chuyển vận đưa vũ khí đạn dược vào trận chiến.

    Hai tổ trinh sát từ hai hướng hoạt động gởi về báo cáo các kế-hoạch mở đường. Sau khi cân nhắc, cán bộ chỉ huy Quân Đoàn 2 CSBV và Sư Đoàn 304 quyết định mở đường từ Trào vào bến Hiên.
    Con đường này Cộng Sản Bắc Việt phải làm mới 45km, c̣n 21km dựa vào con đường VNCH làm dở dang đă bỏ từ lâu, sửa lại là xe pháo đi được, việc bảo đảm bí mật đưa lực lượng vào chiến dịch cũng tốt hơn. Ngoài việc ghép thuyền chở pháo, và các loại vũ khí , cộ̣ng quân c̣n đóng nhiều bè chuối, bè nứa để vận chuyển đạn và gạo vào chiến dịch .

    Đoạn đường từ bến Hiên vào Thượng Đức dài 17km, phía VNCH thường đưa thám báo ra phục kích, cộng quân chưa thể sửa ngay được. Giai đoạn đầu, cộng quân phải dùng thuyền, bè , chở pháo đạn xuôi sông Côn rồi dùng sức người đưa pháo lên chiếm lĩnh trận địa.
    Quân Đoàn 2 CSBV và Sư Đoàn 304 hạ quyết tâm đến ngày 20-7 phải làm xong đường để đưa các lực lượng chính yếu vào đánh chiếm Thường Đức.

    THUONG DUC 1970 by manhhai, on Flickr
    THUONG DUC 1970
    "CHIẾN DỊCH XUÂN ĐOÀN TỤ BIỂU HIỆN T̀NH THƯƠNG và CHÍNH NGHĨA," chữ trên băng-rôn trắng gần bờ sông, kêu gọi VC về hồi chánh. Photo by Jim Duffy


    Còn tiếp ...
This thread has more than 10 replies. Click here to review the whole thread.

Posting Permissions

  • You may post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •