Bài 8: Nội dung các điểm chính của 73 Sách Thánh trong Giáo hội Công Giáo.
(Tiếp theo Bài 8)
[B]III. Đại cương các điểm chính của 46 sách Cựu Ước[/B]
…..
[I][II]2. Các Sách Lịch Sử:[/I]
[B][6]. Sách Giô-suê (Joshua)[/B]
Các sách Xuất hành, Dân số và Đệ nhị luật trình bày cuộc hành trình của dân Chúa dưới sự lãnh đạo của ông Mô-sê [URL="http://classic.scriptures.lds.org/en/biblemaps/2?sr=1"]từ Ram-xết (Rameses) ở Ai cập đến vùng A-bên Sít-tim[/URL], ([URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Abila_(Peraea)"]Abel-shittim[/URL]), phía đông sông Gio-đan (Jordan) trong vương quốc Mô-áp (Moab).
Tiếp nối các sách Xuất hành, Dân số và Đệ nhị luật, sách Giô-suê (Joshua) trình bày cuộc hành trình của dân Chúa từ A-bên Sít-tim vượt sông Gio-đan, đánh chiếm Đất Hứa Ca-na-an (Canaan) rồi chia Đất Hứa cho các chi tộc Israel. Giai đoạn này dân Chúa được sự lãnh đạo của ông Giô-suê nên sách có tên là sách Giô-suê (Gs).
Ông Giô-suê (1355-1245 tCN), được Chúa chọn kế tục sự nghiệp của ông Mô-sê sau khi ông Mô-sê qua đời, thuộc chi tộc Ép-ra-im (Ephraim) sinh ở Ai cập, từng là người phụ tá của ông Mô-sê.
Thời gian đánh chiếm Ca-na-an xảy ra trong khoảng (1250-1200 tCN).
Sách Giô-suê được viết trong khoảng thế kỷ VII tCN.
Sách Giô-suê có thể được chia ra ba phần chính như sau:
[B]I. Vượt sông Gio-đan và đánh chiếm Ca-na-an, (Gs 1,1-12,24)[/B]:
[I]1. Chuyển giao nhiệm vụ lãnh đạo cho ông Giô-suê, (Gs 1,1-18):[/I]
a. Thiên Chúa giao nhiệm vụ tiến chiếm Ca-na-an cho ông Giô-suê, (Gs 1,1-9).
b. Giô-suê truyền lệnh cho dân Israel, (Gs 1,10-11).
c. Giô-suê chỉ thị cho các chi tộc đóng ở phía đông sông Gio-đan (Jordan) là Rưu-vên (Reuben), Gát (Gad) và nửa chi tộc Mơ-na-se (Manasseh), (Gs 1,12-18).
[I]2. Vượt sông Gio-đan tiến vào Ca-na-an, (Gs 2,1-5,15):[/I]
a. Từ Sít-tim (Shittim), ông Giô-suê sai người do thám Giê-ri-khô (Jericho); giao kèo giữa hai người do thám và kỹ nữ Ra-kháp (Rahab), (Gs 2,1-24).
b. Chuẩn bị vượt sông Gio-đan, (Gs 3,1-13).
c. Vượt sông Gio-đan: Hòm Bia Giao Ước dẫn đầu dân qua sông. Khi Hòm Bia đến bờ sông, nước sông Gio-đan được Thiên Chúa chặn lại làm sông khô cạn và Hòm Bia dừng lại để dân Israel đi qua sông. (Gs 3,14-17).
d. Mười hai chi tộc thực hiện 12 bia đá trên bờ sông kỷ niệm vượt sông, (Gs 4,1-24).
e. Đóng trại ở Ghin-gan (Gilgal), phía đông Giê-ri-khô. Dân Ca-na-an sợ hãi người Israel. Người Do thái sinh ra trong sa mạc chịu cắt bì ở Ghin-gan và cử hành lễ Vượt Qua. (Gs 5,1-12).
[I]3. Đánh chiếm Ca-na-an, (Gs 5,13-12,24):[/I]
a. Đánh chiếm và tru hiến[SUP][[COLOR="#FF0000"]1[/COLOR]][/SUP] (under the ban[SUP][[COLOR="#FF0000"]2[/COLOR]][/SUP]) Giê-ri-khô; Ra-kháp và gia quyến được an toàn. (Gs 5,13- 6,27).
b. A-khan (Achan) thuộc chi tộc Giu-đa lấy một số chiến lợi phẩm bị án biệt hiến[SUP][[COLOR="#FF0000"]1[/COLOR]][/SUP] (under the ban[SUP][[COLOR="#FF0000"]2[/COLOR]][/SUP]) thu được ở Giê-ri-khô nên Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ: Ít-ra-en bị đại bại khi đánh thành Ai (Ai). A-khan bị dân ném đá chết. Mưu của Giô-suê làm Ít-ra-en chiếm và tru diệt được thành Ai. (Gs 7,1-8,29).
c. Ông Giô-suê dựng bàn thờ kính Thiên Chúa trên núi Ê-van (Ebal), dâng hy lễ và đọc các luật về những lời chúc phúc và những lời nguyền rủa. (Gs 8,30-35).
d. Các vua Khết (Hittites), E-mô-ri (Amorites), Ca-na-an (Canaanites), Pơ-rít-di (Perizzites), Khi-vi (Hivites) và Giơ-vút (Jebusites) liên minh chống Ít-ra-en. (Gs 9,1-2).
e. Hiệp ước giữa Ít-ra-en và người Ghíp-ôn (Gibeon). Mưu của người Ghíp-ôn. Quy chế cho người Ghíp-ôn. (Gs 9,3-27).
f. Các chiến dịch ở miền nam Ca-na-an: Đánh bại liên minh của năm vua E-mô-ri (Amorites) là vua Giê-ru-sa-lem (Jerusalem), vua Khép-rôn (Hebron), vua Giác-mút (Jerimoth), vua La-khít (Lachis) và vua Éc-lon (Eglon); chiếm và phá hủy Mác-kê-đa (Maceda), Líp-na (Lebna), La-khít, Éc-lon, Khép-rôn, Ðơ-via (Dabir), và thậm chí đến Ga-da (Gaza). (Gs 10,1-43).
g. Các chiến dịch ở miền bắc Ca-na-an: Đánh thắng liên quân của các vua Kha-xo (Hazor), vua Ma-đôn (Madon), vua Ác-sáp (Achshaph), với các vua miền A-ra-va (Arabah), miền Sơ-phê-la (Shephelah) v.v…Chiếm lãnh toàn bộ Ca-na-an. (Gs 11,1-23).
h. Tổng kết về cuộc chiến thắng; Danh sách 33 vua bị đánh bại: hai vua ở phía đông sông Gio-đan và 31 vua ở phía tây sông Gio-đan, (Gs 12,1-24).
[B]II. Phân chia đất Ca-na-an cho các chi tộc, (Gs 13,1-21,45):[/B]
1. Chỉ dẫn của Thiên Chúa cho Giô-suê: những vùng đất còn phải chiếm và hãy chia đất cho các chi tộc, (Gs13,1-7).
2. Phần đất dành cho hai chi tộc Rưu-vên (Reuben), Gát (Gad) và nửa chi tộc Mơ-na-se (Manasseh) ở phía đông sông Gio-đan, (Gs13,8-33).
3. Phần đất dành cho ba chi tộc lớn ở phía tây sông Gio-đan: Giu-đa (Judah), Ép-ra-im (Ephraim) và nửa chi tộc Mơ-na-se (Manasseh), (Gs 14,1 -17,18).
4. Phần đất dành cho bảy chi tộc còn lại: Ben-gia-min (Benjamin), Si-mê-ôn (Simeon), Dơ-vu-lun (Zebulun), Ít-xa-kha (Issachar), A-se (Asher), Náp-ta-li (Naphtali) và Ðan (Dan), (Gs 18,1-19,51).
5. Sáu thành đặc biệt dành cho các phạm nhân phạm tội ngộ sát, (Gs 20,1-9).
6. Bốn mươi tám thành dành cho chi tộc Lê-vi; Phần dành cho các thị tộc con cái Cơ-hát (Kohath), Ghéc-sôn (Gershon) và Mơ-ra-ri (Merari). (Gs 21,1-42).
7. Kết luận về việc phân chia đất đai, (Gs 21,43-45).
[B]III. Ðưa quân các chi tộc Rưu-vên, Gát và nửa chi tộc Mơ-na-se trở về phía đông sông Gio-đan - Cuối đời ông Giô-suê, (Gs 22,1-24,33)[/B] :
1. Ðưa quân các chi tộc Rưu-vên, Gát và nửa chi tộc Mơ-na-se trở về phần đất đã chia cho họ ở phía đông sông Gio-đan và họ đã xây một bàn thờ bên sông Gio-đan. Bàn thờ của họ đã gây hiểu nhầm cho các chi tộc đã được chia đất ở phía tây sông Gio-đan. Các chi tộc phía đông sông Gio-đan tự biện hộ và đánh tan sự hiểu nhầm, (Gs 22,1-34).
2. Diễn từ cuối cùng của ông Giô-suê. Ông Giô-suê tóm kết công trình của mình, (Gs 23,1-16).
3. Ðại hội và giao ước Si-khem (Shechem): Giô-suê và tất cả mọi người giao ước chỉ chọn Chúa và chỉ phục vụ Ngài, (Gs 24,1–28).
4. Ông Giô-suê, tư tế E-la-da (Eleazar, con của A-ha-ron =Aaron) qua đời. Chôn cất hài cốt ông Giu-se (Joseph, con của Gia-cóp = Jacob) đã được đem theo từ Ai cập. (Gs 24,29–33).
(Còn tiếp)
[B]Chú thích[/B]:
[[COLOR="#FF0000"]1[/COLOR]]: Tru hiến, biệt hiến: Chú thích V, trước câu 17, chương 6, sách Giô-suê, bản dịch “[URL="http://kinhthanhchomoinguoi.org/ban-dich-kt/1/"]Kinh Thánh ấn bản 2011[/URL]” của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ:
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/KinhThanh/8-6TH_zpsgglzv3es.jpg[/IMG][/CENTER]
[[COLOR="#FF0000"]2[/COLOR]]: Under the ban:
• Theo [[URL="http://usccb.org/bible/joshua/6#06006018-1"]Joshua 6:18[/URL]] Under the ban: doomed to destruction; see notes on Lv 27:28; Nm 18:14; 21:3.
Under the ban = Tru hiến: Chịu số phận hủy diệt. [Xin xem câu ([URL="http://www.usccb.org/bible/jos/6:21#06006021"]Joshua 6, 21[/URL]): “Họ dùng lưỡi gươm mà thi hành án tru hiến mọi sự trong thành, từ đàn ông cho đến đàn bà, từ người trẻ cho đến người già, đến cả bò lừa và chiên cừu”.]
• Theo [[URL="http://www.usccb.org/bible/nm/18:14#04018014-1"]Numbers 18:14[/URL]] Under the ban: in Hebrew, herem, which means here “set aside from profane use and made sacred to the Lord.” Cf. Lv 27:21, 28.
Under the ban = Biệt hiến: tiếng Hebrew, herem, có nghĩa ở đây là "để riêng ra, tránh sử dụng phàm tục và dành riêng để thánh hiến cho Thiên Chúa”.
[CENTER]*
**[/CENTER]
[B]Bản văn sách Giô-suê[/B]:
Sách [URL="http://www.chungnhanduckito.net/kinhthanh/cuu%20uoc.htm"]Giô-suê theo bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ[/URL].
Sách Giô-suê hay [URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/yosua/yosua01.htm"]Yôsua theo bản dịch của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn, CSsR[/URL].
Sách Giô-suê hay [URL="http://www.usccb.org/bible/books-of-the-bible/index.cfm#Joshua"]Joshua theo bản dịch New American Bible Revised Edition của Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ[/URL].
[B]A-bên Sít-tim (Abel-shittim) và Giê-ri-khô (Jericho)[/B]
[CENTER][IMG]http://www.bibletrack.com/notes/image/Jericho.jpg[/IMG]
Từ [URL="http://www.britam.org/salverda/belerophonlycia.html"]A-bên Sít-tim[/URL], ông Giô-suê sai người do thám Giê-ri-khô, (Gs 2,1-24).[/CENTER]
[B]Vượt sông Gio-đan[/B]
[CENTER][IMG]https://kzlam36.files.wordpress.com/2010/12/jordan-crossing-by-joshua.jpg[/IMG]
[URL="https://kzlam36.wordpress.com/2010/12/07/end-times-church-countdown-heed-the-kairos-time/"]Hòm Bia Giao Ước dẫn đầu quân dân qua sông[/URL]. Khi Hòm Bia đến bờ sông, nước sông Gio-đan được Thiên Chúa chặn lại làm sông khô cạn và Hòm Bia dừng lại để dân Israel đi qua sông. (Gs 3,14-17).[/CENTER]
[B]Ranh giới đất Canaan theo sách Dân số (Numbers) và sách Ê-dê-ki-en (Ezekiel)[/B]
[CENTER][IMG]https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/c/cd/Map_Land_of_Israel.jpg[/IMG]
Ranh giới đất [URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Canaan"]Canaan[/URL] theo sách ([URL="http://www.usccb.org/bible/numbers/34"]Numbers 34:1–12[/URL]) có màu đỏ.
Ranh giới đất Canaan theo sách ([URL="http://www.usccb.org/bible/ez/47:13#33047013"]Ezekiel 47,13-20[/URL]) có màu xanh.[/CENTER]
[B]Bản đồ Israel vào thời lập quốc.[/B]
[CENTER][IMG]https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c2/12_Tribes_of_Israel_Map.svg/800px-12_Tribes_of_Israel_Map.svg.png[/IMG]
[URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Israelites"]Bản đồ 12 chi tộc Israel[/URL] được chia đất Canaan theo sách Giô-suê (trước khi chi tộc Dan di chuyển đến miền bắc).[/CENTER]
Bài 8: Nội dung các điểm chính của 73 Sách Thánh trong Giáo hội Công Giáo.
(Tiếp theo Bài 8)
[B]III. Đại cương các điểm chính của 46 sách Cựu Ước[/B]
…..
[I]2. Các Sách Lịch Sử:[/I]
.....
[B][7]. Sách Thủ lãnh (Judges)[/B]
[URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Book_of_Judges"]Tên của sách Thủ lãnh theo tiếng Do Thái[/URL] là שופטים טים (Sefer shoftim). Sefer có nghĩa là sách. Số ít của shoftim (שופטים) là shofet (שופט). [URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Biblical_judges"]Theo ý nghĩa dùng trong Kinh Thánh[/URL], shofet là "một người cai trị hay một nhà lãnh đạo quân sự, hay những người chủ trì các buổi điều trần về pháp luật”.
Tên Do Thái שופטים טים của sách Thủ lãnh được [URL="http://www.newadvent.org/cathen/08547a.htm"]Origen (184–253) dịch là Safateím, Thánh Jerome (340-420) dịch là Sophtim, bản LXX dịch là ì tôn kritôn bíblos hoặc tôn kritôn, các bản La tinh dịch là liber Judicum hoặc Judicum[/URL].
Các bản tiếng Anh dịch Sefer shoftim là Judges. Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ dịch là Thủ Lãnh, Lm. Nguyễn Thế Thuấn dịch là Các Thẩm Phán.
Trong phần “Dẫn Nhập Sách Thủ Lãnh”, Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ viết:
[I]“Các thủ lãnh là ai?
Nếu cuộc xuất hành xảy ra khoảng 1250-1230 tCN, thì thời các thủ lãnh kéo dài khoảng 120 năm, nghĩa là khoảng 1220-1100 tCN.
Người ta phân chia các thủ lãnh làm hai hạng:
– Sáu thủ lãnh “lớn”: Ót-ni-ên, Ê-hút, Ba-rắc (với Đơ-vô-ra), Ghít-ôn, Gíp-tác và Sam-sôn.
– Sáu thủ lãnh “nhỏ”: Sam-ga, Tô-la, Gia-ia, Íp-xan, Ê-lôn và Áp-đôn.
Các thủ lãnh “lớn” là những anh hùng hào kiệt, là những nhà giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của ngoại bang. Họ là những nhà lãnh đạo có đoàn sủng, nói theo kiểu Tân Ước, lãnh đạo quân sự. Còn các thủ lãnh “nhỏ” chỉ là những nhà lãnh đạo theo pháp lý, công chức được tuyển chọn. Thực ra phân chia hai hạng thủ lãnh như thế là không đúng”[/I].
Sách Thủ lãnh (Tl) được Sa-mu-en (Samuel), thủ lãnh cuối cùng của Israel, viết vào khoảng năm 625 tCN.
Sách Thủ lãnh có thể được chia ra ba phần chính:
[B]I. Nhập đề, (Tl 1,1-3,5)[/B]:
1. Lời dẫn thứ nhất: Tình hình ở Ca-na-an (Canaan) sau cuộc chinh phục của người Ít-ra-en: Giu-đa (Judah), Si-mê-ôn (Simeon) và Giu-se (Joseph) tiếp tục chinh phục người Ca-na-an; dân bản xứ Ca-na-an vẫn còn tồn tại trên đất Giu-đa, Mơ-na-se (Manasseh), Ép-ra-im (Ephraim), Dơ-vu-lun (Zebulun), A-Se (Asher), Náp-ta-li (Naphtali) và Đan (Dan). (Tl 1,1-36).
2. Lời dẫn thứ hai: Sau khi thế hệ của Giô-suê (Joshua) chết, người Ít-ra-en lìa bỏ Chúa và thờ tà thần. Mô hình của các sự kiện xãy ra theo chu kỳ: Một thế hệ mới sinh ra lìa bỏ Chúa và phục vụ tà thần - Chúa tức giận và phó mặc họ cho kẻ thù của Ít-ra-en - người Ít-ra-en kêu khóc và Chúa chọn thủ lãnh để cứu họ. (Tl 2,1-3,5).
[B]II. Sự tích các thủ lãnh, (Tl 3,1-16,31)[/B]:
Có 6 thủ lãnh lớn, 6 thủ lãnh nhỏ; thủ lãnh nổi tiếng nhất là ông Sam sôn (Samson). Ngoài 12 thủ lãnh lớn nhỏ còn có ông A-vi-me-léc (Abimelech) là người phản bội dân tộc Ít-ra-en.
1. Ông Ót-ni-ên (Othniel): Cu-san Rít-a-tha-gim (Cushan-Rishathaim), vua A-ram (Aram), áp bức Ít-ra-en trong tám năm. Chúa chọn Ót-ni-ên thuộc chi tộc Giu-đa, thị tộc Ca-lép (Caleb) để cứu Ít-ra-en. Ót-ni-ên tiêu diệt Cu-san Rít-a-tha-gim và lãnh thổ được bình an bốn mươi năm. (Tl 3:7-11).
2. Ông Ê-hút (Ehud) giết Éc-lon (Eglon), vua Mô-áp (Moab), người áp bức Ít-ra-en mười tám năm. Thủ lãnh Ê-hút thuộc bộ lạc Ben-gia-min dùng kế giết được Éc-lon. Ít-ra-en được bình an tám mươi năm. (Tl 3:12-30).
3. Ông Sam-ga (Shamgar) đã dùng gậy thúc bò đánh giết sáu trăm người Phi-li-tinh (Philistines). Ông cũng là một vị cứu tinh của Ít-ra-en. (Tl 3,31).
4. Bà Ðơ-vô-ra (Deborah) và Ông Ba-rắc (Barak), (Tl 4,1-5,31):
a. Bà Ðơ-vô-ra và ông Ba-rắc giải thoát Ít-ra-en khỏi sự đàn áp tàn bạo suốt hai mươi năm của vua Ca-na-an là Gia-vin (Jabin). Xi-xơ-ra (Sisera) tướng chỉ huy của Gia-vin bị đánh bại và bị giết chết. Ít-ra-en được giải thoát khỏi Gia-vin. (Tl 4,1-24).
b. Sau chiến thắng tướng Xi-xơ-ra và vua Gia-vin của Ca-na-an, bà Ðơ-vô-ra và Ba-rắc hát một bài ca chúc tụng Ðức Chúa, (Tl 5,1-31).
5. Ông Ghít-Ôn (Gideon) và ông A-Vi-Me-Léc (Abimelech), (Tl 6,1-9,7):
a. Thiên Chúa gọi ông Ghít-ôn, (Tl 6,1-40).
b. Ông Ghít-ôn với 300 quân nhưng nhờ mưu kế đã đánh thắng quân Ma-đi-an (Midian), A-ma-lếch (Amalek) và toàn quân Phương Ðông, (Tl 7,1-22).
c. Những người ủng hộ ông Ghít-Ôn, (Tl 7,23-8,3).
d. Những người chỉ trích ông Ghít-Ôn, (Tl 8,4-21).
e. Ông Ghít-ôn được dân đề nghị làm vua cai trị họ, nhưng ông nói: "Chính tôi sẽ không cai trị, mà con tôi cũng không cai trị anh em, nhưng Ðức Chúa sẽ cai trị anh em." (Tl 8,22-28).
f. Gia đình của ông Ghít-Ôn. Dưới thời Ghít-ôn, Ít-ra-en bình an bốn mươi năm. Sau khi Ghít-ôn mất, dân Ít-ra-en lại thờ thần Ba-an (Baals). (Tl 8, 29-35).
g. Vương triều của A-vi-me-léc: Là con ông Ghít-ôn, A-vi-me-léc giết 72 người con của ông Ghít-ôn và được người Ca-na-an ở Si-khem (Shechem) tôn lên làm vua. A-vi-me-léc cai trị và áp bức Ít-ra-en ba năm. Thiên Chúa gây một thần khí bất hoà giữa A-vi-me-léc và các thân hào Si-khem, khiến Si-khem chống lại ông. A-vi-me-léc nổi giận triệt hạ thành và tháp Si-khem. Sau đó A-vi-me-léc tấn công thành Tê-vết (Thebez) và bị giết chết. (Tl 9,12-7).
6. Ông Tô-la (Tola) người Ít-xa-kha (Issachar) làm thủ lãnh Ít-ra-en được hai mươi ba năm. (Tl 10,1-2).
7. Ông Gia-ia (Jair) người Ga-la-át (Gilead) làm thủ lãnh Ít-ra-en hai mươi hai năm, (Tl 10,3-5).
8. Ông Gíp-tác (Jephthah), (Tl 10,6-12-7):
a. Ít-ra-en bị người Am-mon (Ammonites) đàn áp tại Ga-la-át (Gilead), (Tl 10,6-18).
b. Các kỳ mục Ít-ra-en xin Gíp-tác đến chỉ huy giao chiến với người Am-mon. Ông Gíp-tác đặt điều kiện. Thiên Chúa gọi ông Gíp-tác (Tl 11,1-11).
c. Ông Gíp-tác khấn và thắng trận, (Tl 11,12-33).
d. Con gái duy nhất của ông Gíp-tác được dâng lên Thiên Chúa theo lễ toàn thiêu, do Gíp-tác đã khấn, (Tl 11,34-40).
e. Ông Gíp-tác bị người Ép-ra-im chỉ trích. Chiến tranh giữa Ép-ra-im và Ga-la-át. Ông Gíp-tác làm thủ lãnh Ít-ra-en sáu năm rồi qua đời, (Tl 12,1-7).
9. Ông Íp-xan (Ibzan), người Bê-lem (Bethlehem), làm thủ lãnh Ít-ra-en bảy năm, (Tl 12,8-10).
10. Ông Ê-lôn (Elon), người Dơ-vu-lun, làm thủ lãnh Ít-ra-en trong mười năm. (Tl 12,11-12).
11. Ông Áp-đôn (Abdon), người Pia-a-thôn (Pirathonite), làm thủ lãnh Ít-ra-en tám năm, (Tl 12,13-15).
12. Ông Sam-sôn (Samson) thuộc chi tộc Đan chống kẻ thù Phi-li-tinh, (Tl 13,1-16,31):
a. Ông Sam-sôn ra đời với lời khấn na-dia, (xin xem [URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/danso/danso06.htm"](Ds 6, 2-8)[/URL] và [URL="http://usccb.org/bible/judges/13#07013005-1"]nazir[/URL]) từ lòng mẹ, (Tl 13,1-25).
b. Ông Sam-sôn kết hôn với một phụ nữ người Phi-li-tinh. Ông Sam-sôn ra câu đố. Ông Sam-sôn đốt mùa màng của người Phi-li-tinh. (Tl 14,1-15,8).
c. Ông Sam-sôn dùng hàm lừa đánh chết một ngàn người Phi-li-tinh, (Tl 15,9-20).
d. Chuyện tình của Sam-sôn: Ông Sam-sôn yêu cô Ða-li-la (Delilah), bị Ða-li-la phản trắc cạo hết tóc trên đầu làm mất hết sức mạnh và rơi vào tay của người Phi-li-tinh, (Tl 16,1-22).
e. Ông Sam-sôn trả thù rồi chết sau khi làm thủ lãnh Ít-ra-en được hai mươi năm, (Tl 16,23-31).
[B]III. Phụ lục, (Tl 17,1-21,25)[/B]:
1. Nhà thờ của ông Mi-kha (Micah) và nhà thờ của họ Đan, (Tl 17,1-18,31):
a. Nhà thờ tư của ông Mi-kha: Mi-kha làm các ngẫu tượng và tự mình phong chức cho 1 thầy Lê-vi làm tư tế, (Tl 17,1-13).
b. Những người thuộc chi tộc Ðan đi kiếm đất và lập nhà thờ họ Đan, (Tl 18,1-31).
2. Tội ác của dân Ghíp-A. Chiến tranh chống Ben-gia-min (Benjamin), (Tl 19,1-21,25):
a. Người Lê-vi vùng Ép-ra-im và cô tỳ thiếp, (Tl 19,1-21).
b. Tội ác của dân Ghíp-a (Gibeah) thuộc bộ lạc Ben-gia-min, (Tl 19, 22-30).
c. Dân Ít-ra-en tập trung tấn công Ghíp-a, (Tl 20, 1-19).
d. Ít-ra-en chiến tranh với người Ben-gia-min, Ben-gia-min bại trận, (Tl 20, 20-48).
e. Đảm bảo một tương lai cho người Ben-gia-min, (Tl 21, 1-25).
(Còn tiếp)
[CENTER]*
**[/CENTER]
[B]Bản văn sách Thủ Lãnh[/B]:
Sách [URL="http://www.chungnhanduckito.net/kinhthanh/cuu%20uoc.htm"]Thủ Lãnh theo bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ[/URL].
Sách Thủ Lãnh hay [URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/thphan/thphan01.htm"]Các Thẩm Phán theo bản dịch của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn, CSsR[/URL].
Sách Thủ Lãnh hay [URL="http://www.usccb.org/bible/books-of-the-bible/index.cfm#Judges"]Judges theo bản dịch New American Bible Revised Edition của Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ[/URL].
[B]Vùng hoạt động của 6 thủ lãnh “lớn”[/B]
[CENTER][IMG]http://www.bible-history.com/maps/images/judges_twelve_tribes.jpg[/IMG]
[URL="http://www.bible-history.com/studybible/Judges/"]Vùng hoạt động của 6 thủ lãnh “lớn”[/URL].
[[B][COLOR="#0000CD"]Dan, Laish (Dan)[/COLOR][/B], ở phần trên của bản đồ, là đất mới của chi tộc Dan, (Tl 18,1-31).][/CENTER]
[B]Gideon tạ ơn Thiên Chúa vì phép lạ về những hạt sương[/B], ([URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/thphan/thphan06.htm"]Tl 6, 36-40[/URL])
[CENTER][IMG]https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/f7/Maarten_van_Heemskerck_024.jpg/320px-Maarten_van_Heemskerck_024.jpg[/IMG]
"[URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Book_of_Judges"]Gideon thanks God for the miracle of the dew[/URL]". Tranh của Maarten van Heemskerck (1498–1574).[/CENTER]
[B]Samson dùng tay không xé con sư tử ra như xé một con dê con[/B], ([URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/thphan/thphan14.htm"]Tl 14, 5-6[/URL])
[CENTER][IMG]http://3.bp.blogspot.com/-yFU2UuPAOcg/UYUspBx0JsI/AAAAAAAADJs/gRnLKUovbTY/s1600/samson.jpg[/IMG]
[URL="http://chatpilot-godisamyth.blogspot.com/2013/05/samsons-mission.html"]Samson dùng tay không xé con sư tử ra như xé một con dê con.[/URL][/CENTER]
[B]Ða-li-la chuẩn bị cạo hết tóc trên đầu Samson để ông mất hết sức mạnh[/B], ([URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/thphan/thphan16.htm"]Tl 16,19[/URL])
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/KinhThanh/7-sam1_zpsulij1okj.jpg[/IMG]
[URL="http://fineartamerica.com/featured/samson-and-delilah-jose-salome-pina.html"]“Samson and Delilah”[/URL]- tranh sơn dầu của Jose Salome Pina (1830-1909).[/CENTER]
Bài 8: Nội dung các điểm chính của 73 Sách Thánh trong Giáo hội Công Giáo.
(Tiếp theo Bài 8)
[B]III. Đại cương các điểm chính của 46 sách Cựu Ước[/B]
…..
[I]2. Các Sách Lịch Sử:[/I]
…..
[B][8]. Sách Rút (Ruth)[/B]
Sách Rút (R) kể câu chuyện về cô Rút, bà cố nội của vua David và là tổ tiên 31 đời của Chúa Giê-su. Chuyện xảy ra trong thời các Thủ Lãnh quản lý dân Ít-ra-el (Israel), tức khoảng 1200-1050 tCN. Sách kể về cô Rút (Ruth), người “nước ngoài” Mô-áp (Moab), chấp nhận Thiên Chúa của dân tộc Ít-ra-el là Thiên Chúa của mình và dân tộc Ít-ra-el là dân tộc của mình.
Tác giả sách Rút hoàn toàn vô danh. Sách được viết vào khoảng thế kỷ VI tCN hay sớm hơn.
Sách Rút có thể được chia ra bốn phần chính như sau, mỗi phần là một chương:
[B]I. Nạn đói, Mô-áp và những cái chết khiến bà Na-o-mi (Naomi) trở về lại quê hương, (R1,1-22)[/B]:
1. Vì có nạn đói, Ê-li-me-léc (Elimelech) và vợ Na-o-mi dẫn 2 con trai là Mác-lôn (Mahlon) và Kin-giôn (Chilion) bỏ xứ Bê-lem (Bethlehem) miền Giu-đa (Judah) đến ở Mô-áp. Rồi ông Ê-li-me-léc chết, Mác-lôn và Kin-giôn lấy 2 người vợ người Mô-áp là Rút và Oóc-pa (Orpah) theo thứ tự. Họ ở lại Mô-áp 10 năm. Rồi Mác-lôn và Kin-giôn cũng chết. (R1,1-5).
2. Bà Na-o-mi quyết định trở về Bê-lem vì bà nghe Thiên Chúa đã cho Bê-lem có bánh ăn. Bà không muốn 2 cô dâu theo bà. Oóc-pa trở về nhà cha mẹ ruột, nhưng Rút cứ khăng khăng bỏ Mô-áp theo bà đi Bê-lem. (R1,6-18).
3. Bà Na-o-mi và Rút trở về gặp lại bà con tại Bê-lem, (R1,19-22).
[B]II. Cô Rút và ông Bô-át (Boaz), người Bê-lem, gặp nhau lần đầu, (R2,1-23)[/B]:
1. Để có cái ăn cho mẹ chồng và mình, cô Rút đi mót lúa trong đồng ruộng của ông Bô-át, một người bà con bên chồng của bà Na-o-mi, (R2,1-3).
2. Ông Bô-át ra đồng trông chừng thợ gặt lúa, hỏi thợ gặt lúa cô Rút là ai, (R2,4-7).
3. Ông Bô-át gặp cô Rút, dặn thợ gặt để sót nhiều lúa cho cô Rút mót, (R2,8-17).
4. Cô Rút về nhà, trò chuyện với mẹ chồng về ông Bô-át, (2,18-23)
[B]III. Cô Rút và ông Bô-át gặp nhau theo kế hoạch của bà Na-o-mi, (R3,1-18)[/B]:
1. Bà Na-o-mi tính kế cho cô Rút chinh phục ông Bô-át, vì ông ấy là một trong những người bảo tồn dòng dõi của chồng bà Na-o-mi theo luật Lê-vi, (R3,1-5).
2. Cô Rút thực hiện kế hoạch của bà Na-o-mi bảo cô là “đến lật góc chăn phủ chân ông mà nằm xuống. Ông sẽ cho con biết con phải làm gì”. Đêm đã qua và không có chuyện gì xảy ra. Ông Bô-át hứa với Rút sẽ làm người bảo tồn dòng dõi, nếu người có quyền ưu tiên bảo tồn dòng dõi hơn ông không làm. Cô Rút không phải làm gì, nhưng ông Bô-át đong cho cô sáu đấu lúa mạch, (R3,6-15).
3. Cô Rút về nhà, kể chuyện với mẹ chồng và chờ đợi kết quả việc ông Bô-át sẽ làm, (R3,16-18).
[B]IV. Ông Bô-át cưới cô Rút và cô Rút sinh con trai, (R 4,1-22)[/B]:
1. Nhân cơ hội bà Na-o-mi định bán thửa ruộng của ông Ê-li-me-léc, ông Bô-át giải quyết vấn đề quyền bảo tồn nòi giống theo luật Lê-vi [xin xem ([URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/levi/levi25.htm"]Lv 25,25[/URL]), ([URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/thuluat/thuluat25.htm"]Thứ Luật 25,5-10[/URL]) và ([URL="http://www.usccb.org/bible/dt/25:5#05025005-1"]Levirate Marriage[/URL])] với một người bà con khác của ông Ê-li-me-léc, (R 4,1-8).
2. Sau khi một người bà con gần hơn với ông Ê-li-me-léc đã long trọng từ bỏ quyền ưu tiên của mình, ông Bô-át được các kỳ mục và dân thừa nhận quyền bảo tồn nòi giống của ông đối với bà Nao-mi, hay cô Rút, (R 4,9-12).
3. Ông Bô-át cưới cô Rút và cô Rút sinh con trai, đứa bé sẽ làm cho tên của ông Ê-li-me-léc tồn tại mãi mãi ở Israel. (Ông Bô-át có họ hàng với ông Ê-li-me-léc, chồng bà Nao-mi, nên theo luật Lê-vi, ông có thể cưới bà Nao-mi. Nhưng vì bà Nao-mi “quá già rồi, không còn tái giá được nữa”, ([URL="http://www.usccb.org/bible/ru/1:11#08001012"]R 1,12[/URL]), nên ông Bô-át cưới vợ góa của Mác-lôn, tức cô Rút, để kế thừa gia nghiệp của ông Ê-li-me-léc). (R4, 13-17).
4. Gia phả vua Ða-vít (David): Ông Bô-át và cô Rút sinh ra ông Ô-bết (Obed), ông nội của vua Ða-vít. Theo gia phả thì Chúa Giê-su thuộc phả hệ của vua Ða-vít: từ Ða-vít đến Chúa Giê-su là 28 đời (Xin xem [URL="http://www.vietlandnews.net/forum/showthread.php?t=27426&page=7"]post # 46[/URL]), (R4, 18-22).
(Còn tiếp)
[CENTER]*
**[/CENTER]
[B]Bản văn sách Rút[/B]:
Sách [URL="http://www.chungnhanduckito.net/kinhthanh/cuu%20uoc.htm"]Rút theo bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ[/URL].
Sách Rút hay [URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/rut/rut01.htm"]Sách Bà Rút theo bản dịch của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn, CSsR[/URL].
Sách Rút hay [URL="http://www.usccb.org/bible/books-of-the-bible/index.cfm#Ruth"]Ruth theo bản dịch New American Bible Revised Edition của Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ[/URL].
[B]Phả hệ từ Ruth đến David[/B], ([URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/rut/rut04.htm"]R4, 18-22[/URL]).
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/KinhThanh/8-r1c2_zpspeovvgdi.jpg[/IMG]
[URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Book_of_Ruth"]Phả hệ của David[/URL][/CENTER]
[B]Ông Elimelech cùng vợ và 2 con rời Bethlehem miền Judah đến ở trong cánh đồng Moab[/B], ([URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/rut/rut01.htm"]R1,1-3[/URL]).
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/KinhThanh/8-r1c_zpsj8z9sbyq.jpg [/IMG]
[URL="http://www.bible-history.com/maps/books.php"]Bethlehem miền Judah và Moab.[/URL]
Nếu đi theo đường màu xanh có 2 mũi tên, thì đoạn đường này dài khoảng 150 miles (241 cây số).[/CENTER]
[B]Bà Naomi không muốn 2 cô dâu theo bà về Bethlehem. Orpah trở về nhà cha mẹ ruột, nhưng Ruth cứ khăng khăng bỏ Moab theo bà đi Bethlehem[/B]. ([URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/rut/rut01.htm"]R 1,6-18[/URL]).
[CENTER][IMG]http://imgc.allpostersimages.com/images/P-473-488-90/15/1506/VE1BD00Z/posters/william-blake-naomi-entreating-ruth-and-orpah-to-return-to-the-land-of-moab.jpg[/IMG]
[URL="http://www.allposters.com/-sp/Naomi-Entreating-Ruth-and-Orpah-to-Return-to-the-Land-of-Moab-Posters_i1590989_.htm"]Naomi entreating Ruth and Orpah to return to the land of Moab[/URL] -Tranh của William Blake, 1795[/CENTER]
[B]Cô Ruth trong cánh đồng của ông Boaz[/B], ([URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/rut/rut02.htm"]R2,8-9[/URL]).
[CENTER][IMG]https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/35/Julius_Schnorr_von_Carolsfeld-_Ruth_im_Feld_des_Boaz.jpg/1024px-Julius_Schnorr_von_Carolsfeld-_Ruth_im_Feld_des_Boaz.jpg[/IMG]
[URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Book_of_Ruth"]Ruth in Boaz's Field[/URL]- Tranh của Julius Schnorr von Carolsfeld, 1828.[/CENTER]
Bài 8: Nội dung các điểm chính của 73 Sách Thánh trong Giáo hội Công Giáo.
(Tiếp theo Bài 8)
[B]III. Đại cương các điểm chính của 46 sách Cựu Ước[/B]
…..
[I]2. Các Sách Lịch Sử:[/I]
…..
[B][9]. Sách 1 Sa-mu-en (1 Samuel)[/B]
Là người thiết lập chế độ quân chủ theo yêu cầu của dân, vị thủ lãnh cuối cùng của Ít-ra-en là ông Sa-mu-en (Samuel) đã tấn phong Sa-un (Saul) làm vị vua đầu tiên của Ít-ra-en và của Vương Quốc Do Thái Thống Nhất. Sách 1 Sa-mu-en kể về các thủ lãnh cuối cùng của Ít-ra-en là Ê-li (Eli) và Sa-mu-en, về lịch sử của vua Sa-un, và về mối quan hệ giữa vua Sa-un và ông Ða-vít (David), rể của Sa-un.
Sách 1 Sa-mu-en được Samuel viết vào khoảng năm 625 tCN.
Sách 1 Sa-mu-en (1 Sm) có thể chia ra làm ba phần chính:
[B]I. Các thủ lãnh cuối cùng của Ít-ra-en: Ê-li và Sa-mu-en, (1 Sm 1-7)[/B]:
1. Bà An-na (Hannah) hiếm muộn phát nguyện với Thiên Chúa nếu cho bà một con trai, bà sẽ thánh hiến cho Thiên Chúa như một na-dia (xin xem Ds 6,1-21). Sa-mu-en được sinh ra. Bà An-na ca ngợi Thiên Chúa. (1 Sm 1,1-2,11).
2. Các con trai tư tế Ê-li là Khóp-ni (Hophni) và Pin-khát (Phinehas) làm nhiều điều tội lỗi. Thiên Chúa tưởng thưởng cho bà An-na sinh thêm con vì bà thánh hiến Sa-mu-en cho Thiên Chúa. Các lời khuyên nhủ vô ích của Ê-li với các con. Số phận nghiệt ngã sẽ dành cho gia đình tư tế Ê-li. (1 Sm 2,12-2,36).
3. Thiên Chúa gọi ông Sa-mu-en: Thiên Chúa mặc khải với Sa-mu-en trong đền Chúa ở Si-lô (Shiloh). Ít-ra-en nhận ông Sa-mu-en là ngôn sứ (Prophet), (1 Sm 3,1-21).
4. Hòm Bia Giao Ước bị người Phi-li-tinh chiếm đoạt, (1 Sm 4, 1-7,1):
a. Người Phi-li-tinh đánh bại Ít-ra-en và chiếm đoạt Hòm Bia Giao Ước tại E-ven Ha E-de (Ebenezer). Khóp-ni và Pin-khát bị giết. (1 Sm 4, 1-11).
b. Ông Ê-li qua đời, vợ Pin-khát chết khi nghe tin Hòm Bia Giao Ước đã bị chiếm đoạt, (1 Sm 4, 12-22).
c. Người Phi-li-tinh mang Hòm Bia Giao Ước đến đền thờ thần Ða-gôn (Dagon) của họ ở Át-đốt (Ashdod). Người Phi-li-tinh tại Át-đốt, Gát (Gath), và Éc-rôn (Ekron) bị khối u mọc khắp người do Chúa phạt. (1 Sm 5, 1-12).
d. Người Phi-li-tinh trả lại Hòm Bia Giao Ước tại Bết Se-mét (Beth-shemesh), (1 Sm 6, 1-19).
e. Hòm Bia được Ít-ra-en đưa đến Kia-giát Giơ-a-rim (Kiriath-jearim), (1 Sm 6, 20-7, 1).
5. Ông Sa-mu-en làm thủ lãnh và cứu dân. Phi-li-tinh tấn công người Do Thái tại Mít-pa (Mizpah, hay Mizpek). Sa-mu-en khẩn cầu Chúa, và người Do Thái đã lấy lại các thành mà người Phi-li-tinh đã chiếm của họ. (1 Sm 7,2-17).
[B]II. Ông Sa-mu-en và ông Sa-un, (1 Sm 8,1-15, 35)[/B]:
1. Thiết lập chế độ quân chủ, (1 Sm 8,1-12,25):
a. Dân yêu cầu Sa-mu-en lập vua cho Do Thái. Sa-mu-en cảnh báo họ về những bất tiện của chế độ quân chủ. Ðức Chúa phán với ông Sa-mu-en: "Hãy nghe theo tiếng chúng, và hãy đặt một vua cai trị chúng." (1 Sm 8,1-22).
b. Ông Sa-un đi tìm lừa của cha. Ông Sa-un gặp ông Sa-mu-en. Thiên Chúa mặc khải cho Sa-mu-en chọn Sa-un, thuộc chi tộc Ben-gia-min, làm người lãnh đạo cứu dân. Ông Sa-un được Sa-mu-en xức dầu phong vương. (1 Sm 9,1-10,8).
c. Ông Sa-un trở về nhà. Sa-mu-en cho dân chúng tụ tập ở Mít-pa để chọn vua bằng cách rút thăm và ông Sa-un trúng thăm làm vua.(1 Sm 10,9-27).
d. Người Am-mon (Ammon), bao vây thành Gia-vết (Jabesh), miền Ga-la-át (Gilead). Ông Sa-un đánh thắng người Am-mon và giải vây thành Gia-vết của Ít-ra-en. Ông Sa-un được dân Ít-ra-en tôn làm vua tại Ghin-gan (Gilgal). Ông Sa-mu-en nhường chỗ cho ông Sa-un. (1 Sm11,1-12,25).
2. Những năm đầu của triều đại Sa-un, (1 Sm13,1-15,35):
a. Cuộc chiến chống người Phi-li-tinh của vua Sa-un. Ông Sa-mu-en đoạn giao với vua Sa-un vì Sa-un tự mình dâng lễ toàn thiêu thay cho Sa-mu-en. Giô-na-than trái lệnh vua cha, bị kết án tử nhưng được dân cứu. Dân phạm lỗi về nghi thức. Tóm tắt về triều đại vua Sa-un: giao chiến với mọi kẻ thù tứ phía, nhất là với người Phi-li-tinh. (1 Sm13,1-14,52).
b. Thánh chiến chống người A-ma-lếch (Amalek) của vua Sa-un. Vua Sa-un không tuân theo lời Chúa tha chết cho vua A-gác (Agag) của A-ma-lếch và giữ lại một số bò lừa béo tốt để dâng lễ toàn thiêu. Sau hai lần không vâng lời Chúa, vua Sa-un bị Chúa từ bỏ. Vua Sa-un xin tha thứ nhưng không được. Sa-mu-en giết vua A-gác và ra đi nhưng Sa-mu-en khóc thương vua Sa-un. (1 Sm15,1- 35).
[B]III. Vua Sa-un và ông Ða-vít, (1 Sm 16-31)[/B]:
1. Ðức Chúa sai ông Sa-mu-en đến gặp các con trai ông Gie-sê (Jesse) ở Bê-lem để chọn một người Chúa muốn đặt làm vua. Ông Ða-vít được Sa-mu-en xức dầu phong vương theo lệnh của Thiên Chúa. Ông Ða-vít được gọi vào triều phục vụ vua Sa-un như là người gảy đàn hạc (harp) và là người mang chiến bào (armour-bearer) cho Sa-un. (1 Sm16,1-23).
2. Ông Ða-vít đánh thắng Go-li-át (Goliath): Chiến tranh giữa Ít-ra-en và Phi-li-tinh xãy ra. Người khổng lồ Go-li-át của Phi-li-tinh thách thức quân đội Ít-ra-en hãy chọn một người để chiến đấu tay đôi với y. Ông Ða-vít tình nguyện nhận lời thách thức và đánh thắng Go-li-át với ná bắn đá. Người Phi-li-tinh thấy người hùng của mình đã chết thì chạy trốn. Người Ít-ra-en đuổi theo và đánh thắng người Phi-li-tinh. (1 Sm17,1-58).
3. Ông Ða-vít cưới vợ: Ông Giô-na-than con vua Sa-un yêu mến Ða-vít như chính mình. Ða-vít được dân chúng ca ngợi. Vua Sa-un bắt đầu ghen tị với Ða-vít và toan giết chết ông. Ða-vít cưới Mi-khan (Michal), con gái của vua Sa-un làm vợ và “vua không đòi sính lễ nào khác ngoài một trăm bao quy đầu người Phi-li-tinh” với mục đích mượn tay người Phi-li-tinh giết chết Ða-vít.(1 Sm18,1-30).
4. Vua Sa-un nói với Giô-na-than và toàn thể triều thần về ý định giết ông Ða-vít. Ông Giô-na-than can thiệp với vua cho ông Ða-vít. Bà Mi-khan lập mưu giúp chồng Ða-vít trốn thoát đến nhà ông Sa-mu-en. Vua Sa-un đến tìm ông Ða-vít tại nhà ông Sa-mu-en để giết. Ông Giô-na-than giúp Ða-vít trốn thoát vua Sa-un. Ông Ða-vít chạy trốn đến Nốp (Nob) và gặp tư tế A-khi-me-léc (Ahimelech). A-khi-me-léc trao thanh gươm của Go-li-át đã bị Ða-vít giết cho Ða-vít. Bị người Phi-li-tinh phát hiện tại Gát (Gath), Ða-vít giả dạng làm một người điên. (1 Sm19,1-21,16).
5. Ông Ða-vít cầm đầu một bọn thủ hạ, (1 Sm 22-26):
a. Ông Ða-vít bắt đầu cuộc sống nay đây mai đó. Ðô-ếch (Doeg) phản bội A-khi-me-léc. Các tư tế thành Nốp bị Sa-un tàn sát vì đã giúp Ða-vít. Tư tế Ép-gia-tha (Abiathar), con tư tế A-khi-me-léc, thoát được. (1 Sm 22,1-23).
b. Ông Ða-vít đến cứu thành Cơ-i-la (Keilah) bị người Phi-li-tinh tấn công. Ông Giô-na-than tới gặp Ða-vít ở Khoóc-sa (Horesh). Ông Ða-vít thoát chết dưới tay vua Sa-un ở Ma-ôn (Maon). (1 Sm 23,1-28).
c. Ông Ða-vít tha chết cho vua Sa-un lần thứ nhất ở núi Ên Ghe-đi (Engedi). (1 Sm 24,1-23).
d. Ông Sa-mu-en qua đời. Chuyện ông Na-van (Nabal) và bà vợ A-vi-ga-gin (Abigail). Ông Na-van chết, Ða-vít cưới bà A-vi-ga-gin. Ða-vít cũng cưới bà A-khi-nô-am (Ahinoam), người Gít-rơ-en (Jezreel). Vua Sa-un đã gả bà Mi-khan, vợ đầu ông Ða-vít, cho người khác. (1 Sm 25,1-44).
e. Ông Ða-vít tha chết cho vua Sa-un lần thứ hai ở Kha-khi-la (Hachilah). (1 Sm 26,1-25).
6. Ông Ða-vít đến với người Phi-li-tinh, (1 Sm 27-30):
a. Ông Ða-vít tự nghĩ sẽ phải mất mạng bởi tay vua Sa-un nên thoát sang thành Gát của người Phi-li-tinh. Vua Gát là A-khít (Achish) cho ông Ða-vít thành Xích-lắc (Ziklag). Ông Ða-vít cướp phá vùng đất của người Gơ-sua (Geshurites), người Ghe-de (Girzites) và người A-ma-lếch (Amalekites), nhưng lại nói với A-khít là cướp phá ở vùng của Giu-đa trên Ít-ra-en. (1 Sm 27,1-12).
b. Người Phi-li-tinh đi đánh Ít-ra-en và A-khít chọn Ða-vít làm người hộ vệ. Vua Sa-un tuyệt vọng và nhờ bà đồng bóng tại Ên Ðo (Endor) gọi hồn ông Sa-mu-en. Sa-mu-en hiện về tiên báo vua Sa-un và các con sẽ bị giết chết. (1 Sm 28.1-25).
c. Người Phi-li-tinh tiến đánh Ít-ra-en ở Gít-rơ-en (Jezreel). Các chỉ huy Phi-li-tinh cho ông Ða-vít về lại Xích-lắc, vì biết gốc ông Ða-vít là người Ít-ra-en. (1 Sm 29,1-11).
d. Trở về từ Gít-rơ-en, Ða-vít mới biết người A-ma-lếch đã đánh và cướp phá Xích-lắc, bắt hai vợ ông cầm tù. Ông Ða-vít tiến đánh người A-ma-lếch, thu hồi của cải người A-ma-lếch đã lấy, giải thoát tù binh và ông gửi chiến lợi phẩm cho các kỳ mục Giu-đa và những người ở các thành khác. (1 Sm 30,1-31).
7. Vua Sa-un tử trận tại núi Ghin-bô-a (Gilboa), (1 Sm 31).
Vua Sa-un và các con bị người Phi-li-tinh giết chết trong trận trên núi Ghin-bô-a. Chúng bêu thi hài vua Sa-un ở tường thành Bết San (Beth-shan). Dân thành Gia-vết miền Ga-la-át đến lấy thi hài vua và các con khỏi thành Bết San đem về Gia-vết và thiêu tại đó. Họ chôn vua và các con ở Gia-vết, rồi ăn chay bảy ngày. (1 Sm 31,1-13).
(Còn tiếp)
[CENTER]*
**[/CENTER]
[B]Bản văn sách 1 Sa-mu-en[/B]:
Sách [URL="http://www.chungnhanduckito.net/kinhthanh/cuu%20uoc.htm"]1 Sa-mu-en theo bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ[/URL].
Sách 1 Sa-mu-en hay [URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/1samuel/1samuel01.htm"]Sách Samuel I theo bản dịch của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn, CSsR[/URL].
Sách 1 Sa-mu-en hay [URL="http://www.usccb.org/bible/books-of-the-bible/index.cfm#1 Samuel"]1 Samuel theo bản dịch New American Bible Revised Edition của Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ[/URL].
[B]Lộ trình của Hòm Bia Giao Ước từ Shiloh đến Kiriath Jearim[/B].
[CENTER][IMG]http://lh5.ggpht.com/--rsY0rg7ZKk/UO16DJWDnXI/AAAAAAAAHHM/gYDIz6s6RqA/IMG_7125_thumb%25255B11%25255D.jpg?imgmax=800[/IMG]
[URL="http://biblische.blogspot.com/2013_01_01_archive.html"]Hòm Bia Giao Ước bị người Phi-li-tin chiếm đoạt tại Ebenezer và trả lại tại Beth Shemesh, (1 Sm 4, 1-7,1)[/URL]. [/CENTER]
[B]David được chọn làm người gảy đàn hạc cho vua Saul[/B], (1 Sm 16,14-23).
[CENTER][IMG]https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/87/Julius_Kronberg_David_och_Saul_1885.jpg[/IMG]
[URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Saul"]David and Saul (1885) by Julius Kronberg[/URL].[/CENTER]
[B]David tạ ơn Thiên Chúa sau khi giết chết người khổng lồ Goliath[/B], (1 Sm 17,1-58).
[CENTER][IMG]https://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/a/a7/David_and_Goliath_-1700s.jpg[/IMG]
[URL="https://en.wikipedia.org/wiki/David"]"David Giving Thanks to God After the Death of Goliath" - Tranh của Charles Errard the Younger"[/URL][/CENTER]
Bài 8: Nội dung các điểm chính của 73 Sách Thánh trong Giáo hội Công Giáo.
(Tiếp theo Bài 8)
[B]III. Đại cương các điểm chính của 46 sách Cựu Ước[/B]
…..
[I]2. Các Sách Lịch Sử:[/I]
…..
[B][10]. Sách 2 Sa-mu-en (2 Samuel)[/B]
Sách 2 Sa-mu-en (2 Sm) là sách nối tiếp của sách 1 Sa-mu-en. Sách 2 Sa-mu-en kể về triều đại vua Đa-vít trị vì Giu-đa (Judah), trị vì vương quốc Ít-ra-en và Giu-đa thống nhất, và về gia đình Ða-vít.
Sách Sa-mu-en II có thể được chia ra làm hai phần chính, “Vua Ða-vít” và “Phụ lục”, với các số thứ tự được nối tiếp từ sách 1 Sa-mu-en.
[B]IV. Vua Ða-Vít, (2 Sm 1,1-20,26)[/B]:
1. Vua Ða-vít trị vì nhà Giu-đa ở phía nam, (2 Sm 1,1-4,12):
a. Ông Ða-vít nghe tin vua Sa-un chết, làm văn tế khóc vua Sa-un và Giô-na-than, con Sa-un. (2 Sm 1,1-27)
b. Ông Ða-vít được xức dầu làm vua nhà Giu-đa ở Khép-rôn (Hebron). Vua Ða-vít sai sứ giả đi Gia-vết (Jabesh) để tỏ lòng cảm kích với dân Gia-vết. (2 Sm 2,1-7).
c. Ông Áp-ne (Abner) tôn Ít-bô-sét (Isboseth hay Ishbaal), con trai của Sa-un, làm vua nhà Ít-ra-en ở phía bắc. Ít-bô-sét được công nhận bởi 11 bộ lạc ở phía bắc; chỉ có bộ lạc Judah theo David. Ít-bô-sét cai trị nhà Israel được hai năm. Ða-vít cai trị nhà Giu-đa bảy năm sáu tháng. (2 Sm 2,8-11).
d. Nhà Giu-đa ở phía nam và nhà Ít-ra-en ở phía bắc giao chiến, (2 Sm 2,2-32):
• Trận Ghíp-ôn (Gibeon) giữa Giu-đa và Ít-ra-en, (2 Sm 2,12-16).
• Cái chết của A-xa-hên (Asahel), tướng của vua Ða-vít, trong trận Ghíp-ôn (Gibeon). (2 Sm 2, 17-24).
• Thỏa ước ngưng chiến giữa Áp-ne, tướng của Ít-bô-sét, và Giô-áp (Joab), tướng của Ða-vít, (2 Sm 2, 25-32).
e. Sáu người con trai của vua Ða-vít được sinh ra ở Khép-rôn. Ông Áp-ne đoạn giao với vua Ít-bô-sét. Áp-ne điều đình với Ða-vít và bị tướng Giô-áp của vua Ða-vít giết. Vua Ða-vít khóc thương ông Áp-ne. (2 Sm 3,2-39)
f. Vua Ít-bô-sét bị ám sát bởi hai tướng của ông là Ba-a-na (Baanah) và Rê-kháp (Rechab); Ða-vít trừng phạt những kẻ giết Ít-bô-sét, (2 Sm 4,1-12).
2. Vua Ða-vít trị vì Giu-đa và Ít-ra-en, (2 Sm 5,1-8,18):
a. Vua Ða-vít của Giu-đa được xức dầu tấn phong làm vua Ít-ra-en, được công nhận bởi tất cả 12 bộ lạc. Vua Ða-vít chiếm Giê-ru-sa-lem. Vua Ða-vít sinh thêm 13 con trai tại Giê-ru-sa-lem. Vua Ða-vít chiến thắng quân Phi-li-tinh. (2 Sm 5,1-25).
b. Ða-vít rước Hòm Bia Giao Ước về Giê-ru-sa-lem - Vua Ða-vít muốn xây Đền Thờ cho Chúa. Lời sấm của ngôn sứ Na-than (Nathan): một người con của Ða-vít sẽ xây Đền Thờ - Vua Ða-vít cầu nguyện và tạ ơn Chúa. (2 Sm 6,1-7,29).
c. Các cuộc chiến tranh thời vua Ða-vít: đánh bại người Phi-li-tinh, A-ram, Mô-áp, Ê-đôm, Am-mon, đánh bại vua nước Xô-va (Zobah) và vua nước Kha-mát (Hamath). Danh sách các quan trong triều vua Ða-vít. (2 Sm 8,1-18).
3. Gia Ðình Vua Ða-Vít. Việc Kế Thừa Ngôi Vua. (2 Sm 9,1-20,26):
a. Lòng tốt của Ða-vít với Mơ-phi-bô-sét (Miphiboseth, hay Meribbaal), con trai bị bại hai chân của Giô-na-than (Jonathan); Ða-vít trả lại cho Mơ-phi-bô-sét tất cả ruộng đất của vua Sa-un. (2 Sm 9,1-13).
b. Chiến dịch đánh người Am-mon. Thắng quân A-ram. (2 Sm 10,1-19).
c. Từ sân thượng, Ða-vít thấy bà Bát Se-va (Bathsheba) đang tắm. Từ đó vua Ða-vít phạm các tội tày trời: gian dâm với bà Bát Se-va là vợ tướng U-ri-gia (Uriah) của vua Ða-vít, giết chết U-ri-gia rồi cưới bà làm vợ. (2 Sm 11,1-27).
d. Ngôn sứ Na-than trách vua Ða-vít về các tội khủng khiếp. Vua hối hận. Con đầu của bà Bát Se-va với vua Đa-vít chết. Sa-lô-môn chào đời. Ða-vít hạ thành Ráp-ba (Rabbah) của người Am-mon. (2 Sm 12,1-31).
e. Truyện về Áp-sa-lôm (Absalom), con trai của vua Ða-vít với bà Ma-a-kha (Maacah), (2 Sm 13,1-18,32):
• Am-nôn (Amnon[SUP][1][/SUP]), con đầu lòng của vua Đa-vít với bà A-khi-nô-am (Ahinoam), yêu và làm nhục em gái cùng cha khác mẹ là Ta-ma (Tamar) - Áp-sa-lôm[SUP][1][/SUP] anh ruột cùng cha cùng mẹ với Ta-ma, ám sát Am-nôn rồi trốn đến Gơ-sua (Geshur). Ông Giô-áp điều đình cho Áp-sa-lôm trở về. Áp-sa-lôm trở về và được vua tha thứ. (2 Sm 13,1-14,33).
• Áp-sa-lôm dùng thủ đoạn mua chuộc người Ít-ra-en và làm loạn chống vua cha. A-khi-thô-phen (Ahithophel), cố vấn của vua Ða-vít, theo phe Áp-sa-lôm. Vua Ða-vít chạy trốn khỏi Giê-ru-sa-lem. Hòm Bia ở lại Giê-ru-sa-lem. Vua Ða-vít nhờ ông Khu-sai (Hushai) giúp phá lời bàn của A-khi-thô-phen và báo cho vua mọi điều ông sẽ nghe được. (2 Sm 15,1-37).
• Ông Xi-va (Ziba), tôi tớ nhà Sa-un, tiếp tế cho vua Ða-vít trên đường trốn chạy. Sim-y (Shimei), cùng một thị tộc với nhà Sa-un, nguyền rủa và ném đá vua Ða-vít. Ông Khu-sai trá hàng đến với Áp-sa-lôm. Áp-sa-lôm nghe lời của A-khi-thô-phen và đến với các tỳ thiếp của vua cha Ða-vít để ở lại Giê-ru-sa-lem. (2 Sm 16, 1-23).
• Ông Khu-sai làm hỏng kế hoạch của A-khi-thô-phen. Ðược tin do Khu-sai mật báo, vua Ða-vít qua sông Gio-đan và dừng quân tại Ma-kha-na-gim (Mahanaim). Áp-sa-lôm và toàn thể quân binh Ít-ra-en qua sông Gio-đan đuổi theo Ða-vít. Vua Ða-vít được dân các thành quanh Mahanaim tiếp tế. (2 Sm 17, 1-29).
• Quân vua Ða-vít giao tranh và đánh bại quân Ít-ra-en của Áp-sa-lôm trong rừng thuộc Ép-ra-im (Ephraim) gần Mahanaim. Trái với lệnh vua Ða-vít, Áp-sa-lôm bị Giô-áp giết chết. Vua Ða-vít được tin Áp-sa-lôm chết. (2 Sm 18,1-32).
f. Vua Ða-vít khóc Áp-sa-lôm. Giô-áp quở trách vua Đa-vít thương mến kẻ thù của mình. Chuẩn bị đưa vua Ða-vít trở về. Sim-y thuộc nhà Sa-un đón vua Ða-vít và Ða-vít tha tội cho Sim-y. Giu-đa và Ít-ra-en tranh nhau đón vua trở về Giê-ru-sa-lem. (2 Sm 19,1-44).
g. Se-va (Sheba) xúi người Ít-ra-en làm loạn. Mọi người Ít-ra-en bỏ vua Ða-vít mà lên theo Se-va. Người Giu-đa trung thành với vua Ða-vít. Tướng Giô-áp đuổi theo Sheba. Sheba bị người trong thành A-vên Bết Ma-a-kha (Abel Beth-maacah) giết và cuộc nổi loạn của Se-va chấm dứt. Danh sách các quan các quan trong triều vua Ða-vít. (2 Sm 20,1-26).
[B]V. Phụ Lục, (2 Sm 21,1-24,25)[/B]:
1. Chúa cho vua Ða-vít biết do vua Sa-un đã giết người Ghíp-ôn (Gibeonites) nên mới có nạn đói dài ba năm ở Ít-ra-en. Người Ghíp-ôn xin, và Ða-vít nộp cho người Ghíp-ôn bảy người con cháu của Sa-un, để họ treo cổ chúng. Các anh hùng trong triều đại vua Ða-vít chống người Phi-li-tinh. (2 Sm 21,1-22).
2. Thánh vịnh của vua Ða-vít tạ ơn Thiên Chúa. Những lời cuối cùng của Ða-vít. Các dũng sĩ của Ða-vít. (2 Sm 22,1-23,39).
3. Vua Ða-vít cho điều tra dân số: Ít-ra-en có tám trăm ngàn chiến binh và Giu-đa có năm trăm ngàn. Ða-vít đã phạm tội khi cho điều tra dân số. Bệnh dịch hạch làm chết 70.000. Thiên Chúa tha thứ và dừng tay trừng phạt Ít-ra-en. Vua Ða-vít dựng bàn thờ ở Giơ-vút (Jebus) để dâng các lễ toàn thiêu và kỳ an hầu chấm dứt các tai ương. (2 Sm 24,1-25).
(Còn tiếp)
[CENTER]*
**[/CENTER]
[B]Bản văn sách 2 Sa-mu-en[/B]:
Sách [URL="http://www.chungnhanduckito.net/kinhthanh/cuu%20uoc.htm"]2 Sa-mu-en theo bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ[/URL].
Sách 2 Sa-mu-en hay [URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/2samuel/2samuel01.htm"]Sách Samuel II theo bản dịch của Lm. Nguyễn Thế Thuấn, CSsR[/URL].
Sách 2 Sa-mu-en hay [URL="http://usccb.org/bible/books-of-the-bible/index.cfm#2 Samuel"]2 Samuel theo bản dịch New American Bible Revised Edition của Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ[/URL].
[B] Chú thích[/B] [1]: Các vợ và con của vua David: tên các con trong [], tên con trai có đánh số theo thứ tự, tên 8 người vợ trước tên các con. (1Sbn 3, 1-9).
1. Được sinh ra ở Khép-rôn:
Mi-khan (Michal) [Không con],
A-khi-nô-am (Ahinoam) [Am-nôn (1 [B]Amnon[/B])],
A-vi-ga-gin (Abigail) [Ki-láp (2 Chileab) hay Đa-ni-ên (2 Daniel)],
Ma-a-kha (Maacah) [Áp-sa-lôm (3 [B]Absalom[/B]) và con gái Ta-ma ([B]Tamar[/B])],
Khác-ghít (Haggith) [A-đô-ni-gia (4 Adonijah)],
A-vi-tan (Abital) [Sơ-phát-gia (5 Shephatiah)],
Éc-la (Eglah) [Gít-rơ-am (6 Ithream)].
2. Được sinh ra ở Giê-ru-sa-lem:
a. Bát Su-a (Bathsheba) [(chết sau sinh 1 tuần), Sa-lô-môn (7 Solomon), Na-than (8 Nathan), Sim-a (9 Shimea) hay Sam-mu-a (9 Shammua), Sô-váp (10 Shobab)].
b. Ngoài ra còn có 9 con không rõ con ai: 11 Ibhar, 12 Elishua, 13 Elpelet, 14 Nogah,15 Nepheg, 16 Japhia, 17 Elishama, 18 Eliada và 19 Eliphelet.
[B]Vương Quốc Do Thái Thống Nhất, thế kỷ 11 tCN[/B]
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/KinhThanh/10-1_zpsvbq29b9n.jpg[/IMG]
[URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Kingdom_of_Israel_(united_monarchy)"] Vương Quốc được cai trị từ (1050-1010) tCN bởi Saul, từ (1010-1008) tCN bởi Isboseth còn có tên Ishbaal, từ (1008-970) tCN bởi David.[/URL][/CENTER]
[B]Vương quốc vua David trên Judah[/B], (2 Sm 1,1-4,12)
[CENTER][IMG]http://aisz.oromhirek.hu/Angol/Maps/Saul-David+Sol/DAVID'S%20KINGDOM%20OVER%20JUDAH.BMP[/IMG]
[URL="http://aisz.oromhirek.hu/"]David’s Kingdom over Judah[/URL][/CENTER]
David crowned king at Hebron = David được phong vua ở Hebron.
Men of Judah, to Gibeon = Quân binh của Judah tiến đến Gibeon.
Men of Israel, to Gibeon = Quân binh của Israel tiến đến Gibeon.
Conflit btw (between) Judah and Israel = Đụng độ giữa Judah và Israel.
Abner Travels to David = Ông Abner đến điều đình với vua David.
[URL="http://www.bible-history.com/maps/books.php"][B]Vương quốc vua David trên Judah[/B][/URL], (2 Sm 1,1-4,12)
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/KinhThanh/10-3_zpsgtm43boe.jpg[/IMG][/CENTER]
[B]Cuộc nổi loạn của Absalom[/B], (2 Sm 13,1-18,32)
[CENTER][IMG]http://aisz.oromhirek.hu/Angol/Maps/Saul-David+Sol/REBELLION%20OF%20ABSALOM.BMP[/IMG]
[URL="http://aisz.oromhirek.hu/"]Rebellion of Absalom[/URL][/CENTER]
Absalom Returns to Jerusalem = Absalom trở về Jerusalem.
Absalom Conspires at Hebron = Absalom mưu phản ở Hebron.
David Flees Jerusalem = David trốn khỏi Jerusalem.
Absalom Pursues David = Absalom truy đuổi David.
David Confronts Absalom = Đụng độ giữa David và Absalom.
[B]Nguyên nhân các tội tày trời của vua David[/B], (2 Sm 11,1-27)
[CENTER][IMG]https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/4c/David_and_Bathsheba_by_Artemisia_Gentileschi.jpg[/IMG]
[URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Books_of_Samuel"]David and Bathsheba, tranh của Artemisia Gentileschi[/URL].
Vua David đứng trên ban-công, góc trái phía trên, thấy bà Bathsheba đang tắm. (1Sm 11, 2).[/CENTER]
Bài 8: Nội dung các điểm chính của 73 Sách Thánh trong Giáo hội Công Giáo.
(Tiếp theo Bài 8)
[B]III. Đại cương các điểm chính của 46 sách Cựu Ước[/B]
…..
[I]2. Các Sách Lịch Sử:[/I]
…..
[B][11]. Sách 1 Vua (1 Kings)[/B]
Sách 1 Vua, là phần nối tiếp các sách 1 và 2 Sa-mu-en (Samuel), nói về lịch sử Vương Quốc Israel Thống Nhất từ sau khi vua Ða-vít (David) qua đời, sự lên ngôi của Sa-lô-môn (Solomon) và thời kỳ Vương Quốc Ít-ra-en ly khai với Vương Quốc Giu-đa (Judah). Sách 1 Vua còn nói về ngôn sứ Ê-li-a (Elijah).
Theo truyền thống Do Thái, sách 1 Vua và 2 Vua được ngôn sứ Giê-rê-mi-a (Jeremiah) viết vào khoảng năm 625 tCN.
Sách 1 Vua (1V) có thể được chia ra năm phần chính:
[B]I. Việc kế vị vua Ða-vít, (1V 1,1-2,46)[/B]:
1. Tuổi già của vua Ða-vít và cô A-vi-sác (Abishag). A-đô-ni-gia-hu (Adonijah), con trai của Ða-vít với bà Khác-ghít (Haggith), âm mưu lên làm vua. Bà Bát Se-va (Bathsheba), mẹ Sa-lô-môn, và ngôn sứ Na-than (Nathan) báo cho Ða-vít âm mưu của A-đô-ni-gia-hu. Vua Ða-vít chọn Sa-lô-môn lên kế vị ông. A-đô-ni-gia-hu khiếp sợ. (1V 1,1-53).
2. Trước khi qua đời, vua Ða-vít di chúc cho Sa-lô-môn là hãy đi trong đường lối của Chúa. Ða-vít còn dặn dò Sa-lô-môn xử lý tướng Giô-áp và Sim-y (Shimei). Vua Ða-vít qua đời sau khi trị vì Judah bảy năm tại Khép-rôn (Hebron) và Israel ba mươi ba năm tại Giê-ru-sa-lem (Jerusalem). Vua Sa-lô-môn giết A-đô-ni-gia-hu, tướng Giô-áp, ông Sim-y và cách chức tư tế của Ép-gia-tha. Sa-lô-môn nắm vững vương quyền trong tay. (1V2,1-46).
[B]II. Tiểu sử Sa-lô-môn đại đế, (1V3,1-11,43)[/B]:
1. Sa-lô-môn, con người khôn ngoan, (1V3,1-5,14):
a. Sa-lô-môn cưới công chúa vua Ai-cập. Vua Sa-lô-môn phân xử hai người đàn bà tranh dành đứa con còn sống. (1V3,1-28).
b. Các viên chức cao cấp và 12 trưởng vùng của Sa-lô-môn, (1V4,1-5,8).
c. Danh tiếng vua Sa-lô-môn. (1V 5,9-14).
2. Sa-lô-môn, con người xây cất, (1V5,15-9,25):
a. Chuẩn bị xây Ðền Thờ. Sa-lô-môn xây cất Ðền Thờ Giê-ru-sa-lem trong bảy năm. (1V5,15-6,38;7,40-51;9,25).
b. Sa-lô-môn xây cất cung điện của vua mất mười ba năm, (1V7,1-39).
c. Di chuyển Hòm Bia Giao Ước từ thành vua Ða-vít, tức là Xi-on (Zion), về Ðền Thờ ở Giê-ru-sa-lem. Vua Sa-lô-môn hiệu triệu dân rồi cầu nguyện. Lễ Cung hiến Ðền Thờ Giê-ru-sa-lem. (1V8,1-66).
d. Thiên Chúa lại hiện ra, hứa hẹn và cảnh báo vua Sa-lô-môn. Các công trình xây dựng khác của vua Sa-lô-môn. (1V9,1-25).
3. Vua Sa-lô-môn, nhà kinh doanh: Vua Sa-lô-môn tổ chức đoàn thuơng thuyền tại E-xi-ôn Ghe-ve (Ezion-Geber). Nữ hoàng nước Sơ-va (Sheba) ở miền Ả rập viếng thăm Sa-lô-môn. Sự giàu sang và khôn ngoan của Sa-lô-môn vượt hơn tất cả các vua trên trái đất. Xa mã (Chariots and Horses) của vua Sa-lô-môn. (1V9, 26-10,29).
4. Kết thúc triều đại Sa-lô-môn. (1V11,1-43):
a. Vua Sa-lô-môn mê nhiều bà ngoại bang. “Vua có bảy trăm bà vợ chính thức và ba trăm cung phi”, (1V11, 3). Các bà này làm cho Sa-lô-môn xa rời Thiên Chúa và thờ các tà thần. Thiên Chúa nổi giận, xui khiến những kẻ thù bên ngoài chống lại Sa-lô-môn. (1V11,1-25).
b. Gia-róp-am (Jeroboam), đã từng phục vụ vua Sa-lô-môn, nổi dậy chống vua. Ngôn sứ A-khi-gia (Ahijah) nói với Gia-róp-am: Thiên Chúa sẽ cho Gia-róp-am mười chi tộc và cho con của Sa-lô-môn [I]một chi tộc[/I][SUP][1][/SUP]. Vua Sa-lô-môn tìm cánh giết Gia-róp-am, nhưng Gia-róp-am trốn sang Ai-cập. (1V 11, 26-40).
c. Vua Sa-lô-môn trị vì Ít-ra-en bốn mươi năm rồi qua đời. Rơ-kháp-am (Rehoboam) lên ngôi kế vị vua cha Sa-lô-môn. (1V11,41-43).
[B]III. Cuộc ly khai về chính trị và tôn giáo của Vương Quốc Ít-ra-en với Vương Quốc Giu-đa, (1V 12,1-13,34)[/B]:
1. Tại đại hội Si-khem (Shechem), Gia-róp-am về từ Ai-cập, cầm đầu dân các bộ lạc phía bắc đòi vua Rơ-kháp-am giảm thuế. Rơ-kháp-am không nghe theo nên Gia-róp-am và dân các bộ lạc phía bắc rời bỏ đại hội về nhà, ly khai với Vương Quốc Giu-đa. (1V12,1-19).
2. Ly khai về chính trị: 10 bộ lạc ở phía bắc ủng hộ Gia-róp-am, tôn ông lên làm vua Gia-róp-am I và tạo thành Vương Quốc Ít-ra-en. [I]Chỉ còn một mình chi tộc Giu-đa[/I][SUP][1][/SUP] ở miền nam vẫn theo vua Rơ-kháp-am của Vương Quốc Giu-đa. (1V12, 20-25).
3. Ly khai về tôn giáo: Vua Gia-róp-am I cho làm hai con bò mộng bằng vàng đặt ở Bết Ên (Bethel) và Ðan (Dan) để con dân Vương Quốc Ít-ra-en thờ phượng. Gia-róp-am I tự mình đặt những người dân thường, không thuộc chi tộc Lê-vi, làm tư tế. Vị ngôn sứ đến từ Giu-đa kết án bàn thờ của Gia-róp-am I tại Bết Ên. (1V12, 26-13,34).
[B]IV. Lịch sử Vương Quốc Giu-đa và Vương Quốc Ít-ra-en cho tới thời ngôn sứ Ê-li-a, (1V 14,1-16,34)[/B]:
1. Triều đại vua Gia-róp-am I (931-910 tCN) ở Vương Quốc Ít-ra-en: Ngôn sứ A-khi-gia-hu (Ahijah, hay A-khi-gia) báo trước về sự suy tàn của triều đại Gia-róp-am I, về cái chết của hoàng tử A-vi-gia (Abijah, hay A-vi-gia-hu), về sự ly tán của con cái Vương Quốc Ít-ra-en do thờ ngẫu tượng. Vua Gia-róp-am I trị nước hai mươi hai năm rồi mất. Con là Na-đáp (Nadab) lên làm vua. (1V 14,1-20).
2. Triều đại vua Rơ-kháp-am (931-913 tCN) ở Vương Quốc Giu-đa: Giu-đa đã làm sự dữ trái mắt Ðức Chúa. Vua Ai-cập là Si-sắc (Shishak) tiến đánh Giê-ru-sa-lem. Ông chiếm đoạt các kho tàng của Ðền Thờ và của hoàng cung. Giữa Rơ-kháp-am và Gia-róp-am I luôn luôn có giao tranh. Vua Rơ-kháp-am trị vì Giu-đa mười bảy năm rồi mất. Con là A-vi-giam (Abijam hay Abijah) lên ngôi kế vị. (1V 14,21-31).
3. Triều đại các vua tại Vương Quốc Giu-đa: A-vi-giam (913-911 tCN) con vua Rơ-kháp-am, trị vì 3 năm; A-xa (Asa, 911-870 tCN) con A-vi-giam, trị vì 41 năm; Giơ-hô-sa-phát (Jehoshaphat, 876–848 tCN) con A-xa, trị vì 25 năm. Giữa các vua của Vương Quốc Giu-đa và Vương Quốc Ít-ra-en thường xuyên có chiến tranh. (1V15,1-24).
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/KinhThanh/11-1-0_zpsquo20bv8.jpg[/IMG][/CENTER]
4. Triều đại các vua tại Vương Quốc Ít-ra-en: Na-đáp (910-909 tCN) con Gia-róp-am I trị vì 2 năm; Ba-sa (Baasha, 909-886 tCN) thuộc nhà Ít-xa-kha (Issachar) giết vua Na-đáp và hạ sát tất cả nhà Gia-róp-am I, rồi lên làm vua trị vì 24 năm; Ê-la (Elah, 886-885 tCN) con vua Ba-sa trị vì 2 năm; Dim-ri (Zimri, 885 tCN) tướng của Ê-la tạo phản giết Ê-la rồi lên làm vua, trị vì 7 ngày; Om-ri (Omri, 885-874 tCN) tổng chỉ huy quân đội Ít-ra-en được dân tôn lên làm vua khi Dim-ri bị dân bao vây và tự thiêu, Om-ri trị vì 12 năm; A-kháp (Ahab, 874-853 tCN) con Om-ri, trị vì 22 năm. (1V15,25-16,34).
[B]V. Truyện về ngôn sứ Ê-li-a, (1V 17,1- 22,54)[/B]:
1. Cơn đại hạn, (1V 17,1- 18,46):
a. Ngôn sứ Ê-li-a loan báo với vua A-kháp của Vương Quốc Ít-ra-en một đại hạn, (1V 17,1- 24).
b. Ê-li-a gọi mưa từ trời xuống chấm dứt đại hạn, (1V18,1-46).
2. Ngôn sứ Ê-li-a chạy trốn lên núi Khô-rếp vì bà I-de-ven (Jezebel), vợ vua A-kháp, là người thờ thần Ba-an tìm cách giết ông. Tại Khô-rếp (Horeb) Ê-li-a xức dầu tấn phong Ê-li-sa (Elisha) làm ngôn sứ. (1V19,1-21).
3. Các cuộc chiến với người A-ram (Aram): Ít-ra-en đánh thắng Ben Ha-đát (Ben-hadad), vua A-ram, hai lần ở Sa-ma-ri (Samaria) và A-phếch (Aphek). Vua A-kháp ký hiệp ước với Ben Ha-đát, trả tự do cho ông ta trái với ý nuốn của Chúa, vi phạm luật tru hiến. (1V20,1-43).
4. Vườn nho của ông Na-Vốt (Naboth): Vua A-kháp của Ít-ra-en muốn mua vườn nho của ông Na-vốt, nhưng bị từ chối. Hoàng hậu I-de-ven sắp xếp màn đấu tố Na-vốt khiến Na-vốt bị ném đá chết. Ngôn sứ Ê-li-a tiên báo với vua: A-kháp, hoàng hậu I-de-ven và hậu duệ của họ sẽ bị xoá sạch. (1V21,1-29).
5. Lại giao tranh với người A-ram: Vua A-kháp của Ít-ra-en quyết định tấn công Ra-mốt Ga-la-át (Ramoth-gilead) của người A-ram. Ngôn sứ của A-kháp tiên báo thành công. Ngôn sứ Mi-kha-giơ-hu (Micaiah) báo trước thất trận. Vua A-kháp tử trận. (1V22,1-38).
6. Sau khi vua A-kháp qua đời, (1V22,39-54):
a. Kết thúc triều vua A-kháp của Ít-ra-en, con vua A-kháp là A-khát-gia-hu (Ahaziah, 853-852 tCN) lên ngôi kế vị vua cha, trị vì được hai năm. A-khát-gia-hu làm tôi tà thần Ba-an, y như thân phụ đã làm. (1V 22, 39-40; 2V 22, 52-54).
b. Triều đại vua Giơ-hô-sa-phát của Giu-đa (876-848 tCN): Vua Giơ-hô-sa-phát trị vì Giu-đa theo đường lối của Chúa được 25 năm thì mất. Con vua là Giơ-hô-ram (Jehoram, 848–841 tCN) lên ngôi kế vị. (1V 22, 41-51).
(Còn tiếp)
[CENTER]*
**[/CENTER]
[B]Chú thích[/B] [1]: Chú giải r của câu 32 chương 11 sách 1 Vua của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ: “[I]Một chi tộc [/I](Giu-đa) hay nói đúng hơn là hai chi tộc; chi tộc thứ hai có thể là chi tộc Ben-gia-min (12,21) hoặc chi tộc Si-mê-ôn (Gs 19,1)”.
[B]Bản văn sách 1 Vua [/B]:
Sách [URL="http://www.chungnhanduckito.net/kinhthanh/cuu%20uoc.htm"]1 Vua theo bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ[/URL].
Sách 1 Vua hay [URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/1vua/1vua01.htm"]Sách Các Vua I theo bản dịch của Lm. Nguyễn Thế Thuấn, CSsR[/URL].
Sách 1 Vua hay [URL="http://usccb.org/bible/books-of-the-bible/index.cfm#1 Kings"]1 Kings theo bản dịch New American Bible Revised Edition của Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ[/URL].
[URL="http://aisz.oromhirek.hu/"][B]Vương Quốc Israel Thống Nhất[/B][/URL]
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/KinhThanh/11-1f_zpsd7w0nwhh.jpg[/IMG][/CENTER]
[B]Cuộc ly khai của Vương Quốc Israel với Vương Quốc Judah[/B], (1V 12,1-13,34)
[CENTER][IMG]https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/bd/Kingdoms_of_Israel_and_Judah_map_830.svg/720px-Kingdoms_of_Israel_and_Judah_map_830.svg.png[/IMG]
[URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Solomon"]Vương Quốc Israel Thống Nhất bị chia ra thành Vương Quốc Israel (màu xanh nhạt) và Vương Quốc Judah (màu cam)[/URL][/CENTER]
[B]Vua Solomon phân xử hai người đàn bà tranh dành đứa con còn sống[/B], (1V 3,16-28)
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/KinhThanh/11-1e_zpstw3lkrqj.jpg[/IMG]
[URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Solomon"]The Judgment of Solomon, 1617 - Tranh của Peter Paul Rubens [/URL][/CENTER]
[B]Nữ hoàng nước Sheba viếng thăm Solomon[/B], (1V 10,1-13)
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/DA/11_zpshlktzzux.jpg[/IMG]
[URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Solomon"]Tranh của Edward Poynter, 1890.[/URL][/CENTER]
Bài 8: Nội dung các điểm chính của 73 Sách Thánh trong Giáo hội Công Giáo.
(Tiếp theo Bài 8)
[B]III. Đại cương các điểm chính của 46 sách Cựu Ước[/B]
…..
[I]2. Các Sách Lịch Sử:[/I]
…..
[B][12]. Sách 2 Vua (2 Kings)[/B]
Sách 2 Vua (2 V) là sách nối tiếp của sách 1 Vua: tiếp tục câu chuyện của hai Vương Quốc Giu-đa (Judah) và Ít-ra-en (Israel) cho đến khi hai vương quốc này sụp đổ.
Sách 2 Vua có thể được chia ra làm ba phần chính, với các số thứ tự được nối tiếp từ sách 1 Vua.
[B]VI. Truyện ông Ê-li-sa (Elisha), (2V2,1-13,25)[/B]:
1. Triều đại vua A-khát-gia-hu: trị vì Ít-ra-en 2 năm (tiếp theo 1 Vua). Ngôn sứ Ê-li-a (Elijah) được đem lên trời và được ông Ê-li-sa thay thế. Hai phép lạ của Ê-li-sa: biến nước độc hoá lành và hai con gấu từ trong rừng ra xé xác 42 đứa trẻ. (2V2,1-25).
2. Vua Mô-áp (Moab) nổi loạn chống lại Ít-ra-en. Vua Giô-ram, còn có tên Giơ-hô-ram, của Ít-ra-en kêu gọi vua Giơ-hô-sa-phát của Giu-đa liên minh đánh Mô-áp. Ê-li-sa hứa cung cấp nước và tiên đoán sẽ chiến thắng. Mô-áp bị liên minh đánh bại. (2V3,1-27).
3. Sáu phép lạ của Ê-li-sa: lọ dầu của bà góa, người phụ nữ Su-nêm, nồi cháo độc, hoá bánh ra nhiều, chửa phong hủi cho Na-a-man và lưỡi rìu sắt nổi lên khỏi sông. (2V4,1-6,7).
4. Chiến tranh với A-ram: Ông Ê-li-sa được Chúa cứu thoát khỏi quân A-ram. Nạn đói trong thành Sa-ma-ri bị vua A-ram là Ben Ha-đát (Ben-hadad) bao vây. Ê-li-sa tiên tri nạn đói sắp chấm dứt. Quân A-ram bỏ trại. Hết bị bao vây và hết nạn đói. Vua Giô-ram, còn có tên Giơ-hô-ram, (trùng tên với vua Giô-ram của Ít-ra-en) và vua A-khát-gia-hu cai trị Giu-đa và thờ tà thần. A-khát-gia-hu của Giu-đa qua Ít-ra-en thăm vua Giô-ram của Ít-ra-en đang bị bệnh. (2V6,8-8,29).
5. Truyện vua Giê-hu của Ít-ra-en: Ông Giê-hu, con ông Giơ-hô-sa-phát (Jehoshaphat), được xức dầu phong vương. Ông Giê-hu chuẩn bị tiếm quyền. Vua Giơ-hô-ram của Ít-ra-en, vua A-khát-gia-hu của Giu-đa, bà I-de-ven (Jezebel) vợ vua A-kháp của Ít-ra-en, các ông hoàng Giu-đa và hoàng tộc Ít-ra en bị Giê-hu sát hại. Giê-hu giết các tín đồ thần Ba-an và phá huỷ đền thờ Ba-an, nhưng tiếp tục thờ hai con bò vàng tại Bê-tên (Bethel) và Đan (Dan). Ông Giê-hu làm vua cai trị Ít-ra-en 28 năm rồi mất. Con vua là Giơ-hô-a-khát lên ngôi kế vị. (2V9,1-10,36).
6. Từ triều đại nữ hoàng A-than-gia (Athaliah) đến khi ông Ê-li-sa qua đời, (2V11,1-13,25):
a. Nữ hoàng A-than-gia cai trị Giu-đa: Bà A-than-gia là con vua A-kháp của Ít-ra-en và là vợ vua Giơ-hô-ram của Giu-đa. Sau khi con bà là vua A-khát-gia-hu của Giu-đa bị Giê-hu của Ít-ra-en giết, bà A-than-gia tiêu diệt tất cả hoàng tộc của vua A-khát-gia-hu, trừ một đứa bé 1 tuổi được chị của vua dấu, rồi lên ngôi nữ hoàng trị vì Giu-đa trong 6 năm. Bà bị những người đưa Giô-át, đứa con sống sót của vua A-khát-gia-hu, lên làm vua giết chết. (2V11,1-20).
b. Vua Giô-át (Joash, còn có tên Jehoash) cai trị Giu-đa trong 40 năm: Giô-át, con của vua A-khát-gia-hu, là đứa bé 1 tuổi sống sót khi A-than-gia tiêu diệt tất cả hoàng tộc của vua. Các thuộc hạ của vua Giô-át nổi loạn hạ sát vua Giô-át. Con vua là A-mát-gia lên ngôi kế vị vua cha. (2V12,1-22).
c. Vua Giơ-hô-a-khát, con vua Giê-hu, cai trị Ít-ra-en trong 17 năm. Vua đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa. (2V13,1-9).
d. Vua Giô-át (Joash, còn có tên Jehoash, trùng tên với vua Giô-át của Giu-đa), con vua Giơ-hô-a-khát, cai trị Ít-ra-en trong 16 năm. Ê-li-sa qua đời. Vua Giô-át đã đánh bại vua Ben Ha-đát của A-ram ba lần, như Ê-li-sa đã tiên báo, và thu hồi được các thành của Ít-ra-en đã mất về tay A-ram. (2V13,10-25).
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/DA/12a2_zpscvtcnchu.jpg[/IMG]
[URL="http://en.wikipedia.org/wiki/Kings_of_Israel_and_Judah_family_tree"]Các vua cai trị dân Do Thái thời mới dựng nước[/URL].[/CENTER]
[B]VII. Các vua cai trị hai vương quốc cho tới ngày Vương Quốc Ít-ra-en thất thủ, (2V14,1-17,41)[/B]:
1. Các vua cai trị hai vương quốc trước khi Vương Quốc Ít-ra-en thất thủ, (2V14, 1-16, 20):
a. Vua A-mát-gia-hu, hay A-mát-gia, con vua Giô-át, cai trị Giu-đa trong 16 năm, (2V14,1-22).
b. Vua Gia-róp-am II, con vua Giô-át, cai trị Ít-ra-en trong 41 năm, (2V14,23-29).
c. Vua A-dác-gia hay A-dác-gia-hu, con A-mát-gia-hu, cai trị Giu-đa trong 42 năm, (2V15, 1-7).
d. Vua Dơ-khác-gia, con vua Gia-róp-am II, cai trị Ít-ra-en trong 6 tháng, (2V15, 8-12).
e. Vua Sa-lum, con ông Gia-vết (Jabesh), cai trị Ít-ra-en trong 1 tháng, (2V15, (2V15, 13-16).
f. Vua Mơ-na-khêm, con ông Ga-đi (Gadi), cai trị Ít-ra-en trong 6 năm, (2V15, 17-22).
g. Vua Pơ-các-gia, con vua Mơ-na-khêm, cai trị Ít-ra-en trong 2 năm, (2V15, 23-26).
h. Vua Pe-các, con ông Rơ-man-gia-hu (Remaliah), cai trị Ít-ra-en trong 6 năm, (2V15, 27-31).
i. Vua Giô-tham, con vua Út-di-gia-hu cai trị Giu-đa trong 5 năm, (2V15, 32-38).
j. Vua A-khát cai trị Giu-đa trong 21 năm, (2V16, 1-20).
2. Vương quốc Ít-ra-en, hay Sa-ma-ri (Samaria), thất thủ, (2V17,1-41):
a. Vua Hô-sê, con ông Ê-la (Elah), vị vua cuối cùng của Ít-ra-en, cai trị 9 năm. Vua đã làm diều dữ trái mắt Ðức Chúa. Vua Át-sua (Assyria) cho bắt vua Hô-sê, xiềng lại và bỏ tù. (2V17,1-4).
b. Sa-ma-ri thất thủ: Vua Át-sua tiến đánh Sa-ma-ri và vây hãm thành này ba năm. Năm 721 tCN, vua Át-sua chiếm được Sa-ma-ri và đày dân 10 bộ lạc Ít-ra-en sang định cư ở Át-sua. (2V17,5-6).
c. Suy gẫm về Vương Quốc Ít-ra-en suy tàn: Con cái Ít-ra-en đã đi theo thần hư ảo, đắc tội với Ðức Chúa. (2V17,7-23).
d. Nguồn gốc người Sa-ma-ri: Vua Át-sua đã đưa người từ đế quốc Át-sua đến định cư ở các thành Ít-ra-en, thế vào chỗ con cái Ít-ra-en bị đi đày. (2V17,24-41).
[B]VIII. Những giai đoạn cuối cùng của Vương Quốc Giu-đa, (2V18,1-25,30)[/B]:
1. Vua Khít-ki-gia, ngôn sứ I-sai-a (Isaiah) và nước Át-sua: Dẫn nhập vào triều vua Khít-ki-gia, con vua A-khát, trị vì Giu-đa 29 năm. Cuộc xâm lăng Giu-đa của Xan-khê-ríp (Sennacherib), vua Át-sua. Quan chánh chước tửu của Át-sua hăm dọa vua Khít-ki-gia và toàn dân Giu-đa. Khít-ki-gia cầu nguyện, cầu cứu ngôn sứ I-sai-a và I-sai-a can thiệp. Vua Xan-khê-ríp bại trận rút về Ni-ni-vê (Nineveh). Các con Xan-khê-ríp dùng gươm đâm ông chết. Ngôn sứ I-sai-a tiên báo Ba-by-lon sẽ cướp phá cung điện và bắt triều đình Giu-đa đày sang Ba-by-lon. Kết thúc triều vua Khít-ki-gia. (2V18,1-20,21).
2. Hai vua bất trung cai trị Giu-đa, (2V21,1-26):
a. Vua Mơ-na-se, con vua Khít-ki-gia, cai trị Giu-đa trong 46 năm. Vua thờ thần Ba-an. “Vua làm lễ thiêu con trai mình, làm nghề chiêm tinh và phù thuỷ, lập ra cô đồng và thầy bói; vua làm nhiều điều dữ trái mắt Ðức Chúa để trêu giận Người”. (2V21,1-18).
b. Vua A-môn, con vua Mơ-na-se, cai trị Giu-đa trong 3 năm. Vua đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, như vua cha. Các thuộc hạ vua A-môn đã âm mưu chống lại vua và giết chết A-môn. (2V21,19-26).
3. Vua Giô-si-gia, con vua A-môn, với việc cải cách tôn giáo ở Giu-đa. Thượng tế Khin-ki-gia-hu (Hilkiah) tìm thấy sách Luật trong Đền Thờ. Thỉnh ý nữ ngôn sứ Khun-đa (Huldah) về những lời ghi chép trong sách đã tìm thấy. Vua đọc sách Luật cho dân nghe. Vua Giô-si-gia cho thanh tẩy Đền Thờ. Ngoài ra, vua Giô-si-gia còn khử trừ các cô đồng và thầy bói, các ngẫu tượng ở Giu-đa. Vua Ai-cập Nơ-khô (Neco) giết chết vua Giô-si-gia ở Mơ-ghít-đô (Megiddo). Dân trong xứ chọn con vua Giô-si-gia là Giơ-hô-a-khát lên kế vị. (2V22,1-23,30).
4. Vương quốc Giu-đa suy tàn. Giê-ru-sa-lem bị tàn phá. (2V23,31-25,30):
a. Vua Giơ-hô-a-khát, con vua Giô-si-gia, cai trị Giu-đa trong 3 tháng. Vua Ai-cập Nơ-khô bắt vua Giơ-hô-a-khát đưa sang Ai-cập và vua này chết tại đó. (2V23,31-35).
b. Vua Giơ-hô-gia-kim, con vua Giô-si-gia, cai trị Giu-đa trong 12 năm. Vua Ai-cập Nơ-khô đặt con vua Giô-si-gia là En-gia-kim làm vua kế vị vua cha là Giô-si-gia, và cho đổi tên En-gia-kim ra Giơ-hô-gia-kim. (2V23,36-24,7).
c. Dẫn vào triều vua Giơ-hô-gia-khin (Jehoiachin, còn có tên Jeconiah), con vua Giơ-hô-gia-kim, cai trị Giu-đa trong 3 tháng 10 ngày. Vua Ba-by-lon là Na-bu-cô-đô-nô-xo (Nebuchadnezzar) đánh Giê-ru-sa-lem.Vua Giơ-hô-gia-khin đầu hàng vua Ba-by-lon. Vua Ba-by-lon đày Giơ-hô-gia-khin, mẹ vua, các cung phi, các thái giám và tất cả các binh lính sang Ba-by-lon. Đây là cuộc lưu đày sang Ba-by-lon lần thứ nhất năm 598 tCN. (2V24,8-17).
d. Dẫn vào triều vua Xít-ki-gia-hu, chú của vua Giơ-hô-gia-khin, được vua Ba-by-lon đặt lên làm vua thay thế Giơ-hô-gia-khin. Xít-ki-gia-hu là vị vua cuối cùng của Giu-đa, trị vì trong 12 năm. Vua Xít-ki-gia-hu đã nổi loạn chống lại Ba-by-lon. Ba-by-lon đánh chiếm Giê-ru-sa-lem lần thứ hai. Vua Ba-by-lon đâm mù mắt vua Xít-ki-gia-hu, lấy hai dây xích đồng xiềng vua lại và điệu về Ba-by-lon. (2V24,18-25,7).
e. Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ bị Ba-by-lon cướp và phá hủy. Dân Giu-đa lại bị lưu đày sang Ba-by-lon lần thứ hai năm 587 tCN. Giu-đa trở thành một tỉnh của Ba-by-lon với ông Gơ-đan-gia-hu (Gedaliah) làm tổng trấn. Người thuộc hoàng tộc Giu-đa giết chết Gơ-đan-gia-hu. Vua Giơ-hô-gia-khin được Ba-by-lon ân xá. (2V25, 8-30).
(Còn tiếp)
[CENTER]*
**[/CENTER]
[B]Bản văn sách 2 Vua [/B]:
Sách [URL="http://www.chungnhanduckito.net/kinhthanh/cuu%20uoc.htm"]2 Vua theo bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ[/URL].
Sách 2 Vua hay [URL="http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible2/2vua/2vua01.htm"]Sách Các Vua II theo bản dịch của Lm. Nguyễn Thế Thuấn, CSsR[/URL].
Sách 2 Vua hay [URL="http://usccb.org/bible/books-of-the-bible/index.cfm#2 Kings"]2 Kings theo bản dịch New American Bible Revised Edition của Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ[/URL].
[B]Các vua cai trị dân Do Thái thời mới dựng nước[/B]
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/DA/123_zpsgbta67nh.jpg[/IMG][/CENTER]
[B][URL="http://www.bible-history.com/maps/images/2_kings_events_sites.jpg"]Địa danh các sự kiện được nói đến trong sách 2 Vua[/URL][/B].
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/DB/12g_zpskmfnusom.jpg[/IMG][/CENTER]
[B][URL="https://en.wikipedia.org/wiki/Assyrian_captivity_of_Israel"]Người Do Thái ở Vương Quốc Israel và Vương Quốc Judah bị lưu đày[/URL][/B]
[CENTER][IMG]http://i1137.photobucket.com/albums/n504/trucvo1475/DA/12ab_zps7fsoeihm.jpg[/IMG][/CENTER]