+ Reply to Thread
Results 1 to 9 of 9

Thread: Để trả lời một câu hỏi ...

  1. #1
    Tran Truong
    Khách

    Để trả lời một câu hỏi ...

    Quần đảo Hoàng Sa, còn được gọi là Quần đảo Xisha (西沙群島; Xīshā Qúndǎo) hay Tây sa theo Trung Quốc , và gọi Quần đảo Hoàng Sa trong tiếng Việt, nằm cách bờ biển của CHND Trung Quốc và Việt Nam khoảng 200 hải lư . Đa phần không dân cư sinh sống , sở hữu của quần đảo này đă bị tranh chấp kể từ đầu thế kỷ 20.


    Description
    English: Paracel Islands belonged to Vietnam, included in the atlas produced by Belgian geographer Philippe Vandermaelen (1795-1869), published in 1827 in Belgium.
    Date 1827
    Source http://thanhniennews.com/politics/vi...hip-26288.html
    Author Philippe Vandermaelen .


    The Royal Ordinance issued by Emperor Minh Mạng, 1835.


    Các quần đảo Hoàng Sa (黄沙) và Trường Sa (tức Vạn lư Trường Sa, 萬里長沙) được thể hiện trong Đại Nam nhất thống toàn đồ (năm 1834-1840).


    1880 German map of Southeast Asia, locating the Paracel Islands as part of "Annam" (Vietnam)

    Trung Quốc lần đầu tiên khẳng định chủ quyền các ḥn đảo Biển Đông khi chính thức phản đối những nỗ lực của Pháp để đưa chúng vào Đông Dương thuộc Pháp , trong Chiến tranh Trung-Pháp (1884-1885). Với Việt Nam , đời Chúa Nguyễn đã có tổ chức hải đội Hoàng sa ra thăm thú và gìn giữ đảo .



    18th century European map showing the Paracel Islands as part of Cochinchina (Vietnam)

  2. #2
    Tran truong
    Khách

    Để trả lời một câu hỏi ...

    Ban đầu, Pháp công nhận chủ quyền nhà Thanh với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để đổi lấy sự công nhận của Trung Quốc ===> Việt Nam như một lănh thổ của Pháp. Bản đồ Trung Quốc kể từ đó đă liên tục cho thấy các cải sửa , trước hết là vẽ đường một nét và sau đó thay bằng nhiều đường đứt đoạn .

    Năm 1932, một năm sau khi Đế chế Nhật xâm chiếm Đông Bắc Trung Quốc, Pháp chính thức tuyên bố cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Pháp . Trung Quốc và Nhật Bản đều phản đối. Pháp cho xây một số trạm khí tượng trên đảo Hoàng sa _ Pattle Island _ vào năm đó và năm 1933 .

    Năm 1933, Pháp công bố việc sát nhập chính thức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào Đông Dương thuộc Pháp. Cho xây cất thêm trạm phát thanh và hải đăng trên đảo Hoàng sa vào năm 1937 .

    Đến năm 1938, Nhật Bản chiếm lại các ḥn đảo từ Pháp, và xây dựng một căn cứ tàu ngầm ở đảo Itu Aba (nay là đảo Taiping / 太平) , tức đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường sa của Việt Nam . Năm 1941, Đế Chế Nhật Bản đă gọi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc về Đài Loan, và dưới sự cai trị của Nhật .

    Năm 1945, thể theo Hoà ước Cairo và Potsdam và với sự trợ giúp của Mỹ ,Trung hoa dân Quốc chấp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật đóng ở Đài Loan, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nam Kinh sau đó tuyên bố cả hai quần đảo này là một phần của tỉnh Quảng Đông.

    Năm 1946, Trung Hoa Dân Quốc đóng quân trên đảo Woody (nay là Yongxing / 永兴) tức đảo Phú Lâm của Việt Nam ở Hoàng Sa và đảo Taiping , tức đảo Ba Bình của Việt Nam thuộc Trường Sa.

    Pháp ngay lập tức phản đối. Người Pháp đă cố gắng nhưng không thành công trong việc trục xuất quân đội Trung hoa dân Quốc khỏi Đảo Yongxing (ḥn đảo duy nhất có dân sinh sống trong quần đảo Hoàng Sa), nhưng Pháp đă thiết lập một đồn binh trên đảo Pattle tức đảo Hoàng sa của Việt Nam (tên Tàu gọi là Shanhu / 珊瑚) ở phía tây nam của quần đảo này.

    Vào năm 1950, sau khi Tưởng giới Thạch rút khỏi đảo Hải Nam ,Trung Hoa Dân Quốc rút quân khỏi cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lui về Đài Loan.

    _ 1952 - Nhật Bản tuyên bố từ bỏ mọi chủ quyền đối với Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa theo Điều 2 (f) của Hiệp ước Ḥa b́nh San Francisco, nhưng không chỉ định nước thụ hưởng kế thừa.


    _ 1954 - Hiệp định Giơ-ne-vơ, mà Mao trạch Đông kư kết, đă giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương đầu tiên. Đông Dương thuộc Pháp được chia thành 3 quốc gia: Lào, Campuchia và Việt Nam.

    Việt Nam bị chia hai , cắt theo vĩ tuyến 17. Từ vĩ tuyến 17 trở lên Ải Nam Quan thuộc về cộng sản VN . Từ vĩ tuyến 17 trở xuống Mũi Cà Mau ,Phú Quốc ; thuộc về Việt Nam Cộng Hoà . Vào ngày 26 tháng 10 năm 1955, nước Việt Nam Cộng hoà thay thế cái gọi là nhà nước Cộng hoà Việt Nam và thừa kế mọi chức năng của nó .

    Không có ǵ nói rơ ràng về các quần đảo ngoài khơi, vốn đă được quan tâm rất ít vào thời điểm đó, nhưng các bên đều hiểu rơ rằng : Việt Nam Cộng hoà đă thừa hưởng tất cả các lănh thổ Việt Nam của Pháp ở Đông Dương dưới vĩ tuyến thứ 17. V́ Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (nằm dưới vĩ tuyến 17) là một phần của Đông Dương thuộc Pháp kể từ năm 1933, là một phần của lănh thổ "Nam Việt Nam".

    _ 1956 - Cộng sản Bắc Việt chính thức chấp nhận rằng , các ḥn đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước đây thuộc Trung Quốc.







    Đảo Hoàng sa hay Shanhu hay Pattle Island


    Cũng trong năm đó, Nam Việt Nam cho mở lại doanh trại Pháp trên đảo Hoàng sa _ Shanhu _ trong quần đảo Hoàng Sa và tuyên bố rằng quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa thuộc về lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hoà.



    Decree no.174-NV from the presidency of Ngô Đ́nh Diệm, Republic of Vietnam (VNCH), redistricting the Paracel Islands as part of Quảng Nam Province effective 07-13-1961. Paracels were previously part of Thừa Thiên (Huế) Province since 03-30-1938, when redistricted by the government of French Indochina. Decree dated 07-13-61.


    Cùng thời gian trên, Mao trạch Đông cho quân ra đóng trên đảo Phú Lâm _ Yongxing _ thuộc quần đảo Hoàng Sa Việt Nam.
    Và Trung Hoa Dân Quốc , Tưởng giới Thạch (Đài Loan) đưa quân đội trở lại đảo Ba Bình _ Taiping _ thuộc quần đảo Trường Sa Việt Nam .



    Còn tiếp ...

  3. #3
    grantevil
    Khách
    Cảm ơn chủ Top về thông tin bổ ích này

  4. #4
    Tran Truong
    Khách

    Để trả lời một câu hỏi ...

    Năm 1956, Cloma , người Phi luật Tân là một nhà kinh doanh , vừa là luật sư . Ông ta tuyên bố thành lập một quốc gia mới "Freedomland" ở Quần đảo Trường Sa. Chức năng duy nhất của Freedomland được lập ra với mục đích chính là phát hành tem (bưu chính ) cho người chơi tem sưu tầm .

    Thông báo của Cloma về Freedomland đă gây ra cho cả Bắc Kinh và Đài Bắc lên tiếng , nhắc lại tuyên bố của họ đối với Trường Sa.
    Đài Bắc đă cho quân đội đuổi Cloma ra xa khỏi đảo Ba Bình _Taiping _ và tiếp tục duy trì quân trú phòng trên đảo ,vào ngày 24 tháng 9 năm 1956 ,kể từ khi TGT rút quân khỏi hai quần đảo Trường sa & Hoàng sa năm 1950 .


    Lời tuyên bố của Cloma về Freedomland là hợp pháp tại Philippines , bởi v́ Manila đã không có phản ứng gì đối với các cuộc biểu t́nh chống lại hành động của Cloma từ Bắc Kinh, Sài G̣n và Đài Bắc . Philippines đă không tuyên bố chủ quyền của ḿnh đối với Trường Sa.

    Ngày 4 tháng 9 năm 1958 - Trung cộng công bố "Tuyên bố của Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về Lănh hải được công bố vào ngày 4 tháng 9 năm 1958" mô tả ḍng 9-dotted trên Biển Nam Trung Hoa cho thế giới biết .





    _ 14 tháng 9 năm 1958 - Thủ tướng Cộng sản Việt Nam Phạm văn Đồng gửi cho Zhou Enlai , thủ tướng Trung cộng một thông điệp ngoại giao chính thức để tôn trọng quyết định của Trung cộng trên Biển Đông.

    _ 1970 - Trung cộng chiếm Amphitrite Group của quần đảo Hoàng Sa

    _ 1971 - Philippines tuyên bố chủ quyền với các ḥn đảo nằm liền kề lănh thổ của họ ở quần đảo Trường Sa, gọi là Kalayaan, chính thức được đưa vào tỉnh Palawan vào năm 1972. Tổng thống Philippines Marcos tuyên bố sau khi quân đội Đài Loan tấn công và bắn vào một thuyền đánh cá Philippine trên đảo Itu Aba.

    _ 1972 - Cục Khảo sát và Bản đồ thuộc Văn pḥng Thủ tướng của Việt Nam xuất bản "Atlas thế giới" cho biết "Chuỗi đảo từ quần đảo Nam Sa và Tây sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, quần đảo Penghu và quần đảo Zhoushan .. . có h́nh cánh cung , tạo thành một bức trường thành bảo vệ lãnh thổ Trung quốc ".

    _ 1974 - Miền Nam Việt Nam đă thực hiện chủ quyền của mình bằng cách đưa những người định cư vào quần đảo Trường Sa và cố gắng trục xuất những " ngư dân Trung cộng " trá hình ra khỏi vùng Tây Nam quần đảo Hoàng Sa _ Paracels.




    Lá thư chia buồn cùng gia đình tử sĩ trong trận đánh Hoàng sa của tư lệnh hải quân VNCH .



    Còn tiếp ...

  5. #5
    Tran Truong
    Khách
    Trong trận hải chiến ngày 19 tháng 1 năm 1974 tại đảo Shanhu, Trung cộng đánh bại hải quân Việt Nam Cộng Hoà . Từ đấy Bắc Kinh mở rộng quyền kiểm soát đối với toàn bộ quần đảo Hoàng sa , nơi mà nó không còn ai thách thức hay chống đối . Trung Quốc lấn chiếm toàn bộ Crescent Group of the Paracel Islands sau Trận chiến Hoàng Sa.


    Aerial photo of the Crescent Group ,nhóm đảo Lưỡi liềm , trong có đảo Hoàng sa _ Pattle _



    Location of Paracel Islands relative to the coastlines of China and Vietnam . Toàn bộ quần đảo Hoàng sa .


    Việt Nam Cộng Hoà đã dùng hết sức mình bảo vệ quần đảo Hoàng Sa . Dù với lực lượng không cân xứng , đã giáng lên đầu bọn Tàu cộng xâm lược những đòn chí tử , với những thiệt hại to lớn và quan trọng về nhân mạng , tiêu diệt hầu như toàn bộ Bộ Chỉ Huy địch .

    Dù rằng một mặt phải đương đầu với cuộc chiến vệ quốc ,chống lại bọn tay sai của Liên sô - Trung cộng , cuồng điên mơ nhuộm đỏ Đông dương . Hải quân VNCH vẫn oai hùng nã đạn thù lên đầu bọn cướp nước , trong lúc hiệp định Paris bị csVN xé bỏ , coi như giấy lộn ; cùng lúc Đồng Minh không thực thi những cam kết trợ giúp đã ghi . Lịch sử sang trang !!

    http://www.vietlist.us/VietHistory/h...nhoangsa.shtml

    Bài viết đã vạch rõ những tình tiết éo le của lịch sử , một thời tranh tối tranh sáng . Thế chiến thứ hai vừa dứt , ảnh hưởng tới VN thế nào . Tiếp theo là TGT chạy ra Đài loan 1949 , kéo theo trận chiến Triều Tiên 1950-1953 .... và hiệp định Geneve 1954 ,vận mệnh Việt Nam bị xâu xé và quyết định bởi nước ngoài : Tầu cộng và Pháp , Mỹ .

    Từ đó khai sinh Việt Nam Cộng Hoà và cs VN . Sau khi đại thắng , đuổi họ Tưởng khỏi lục địa . Mao gánh nỗi lo sói đầu , hơn triệu quân của Tưởng vừa tù binh vừa rã ngũ , đầu hàng .... cộng thêm biết bao vũ khí còn lại sau thế chiến đánh Nhật .

    Mao phải nghĩ kế trừ hậu hoạn , mượn tay người ngoài giết quân Tưởng còn lại ... và xử dụng số vũ khí dư thừa .Vì thế mới có trận chiến Triều Tiên .

    Vào ngày 21 /12/1978 csVN xua quân chiếm Campuchia , cũng chỉ là học và hành , bài của Mao chủ tịch mà thôi . Sau khi nhốt hết Quân , Cán chính vào cái hộp cải tạo 10 ngày ... vẫn chưa đủ an tâm . Trận chiến 10 năm 1979-1989 phải khơi ngòi , nổ ra ... để trừ diệt hậu hoạn ... đám con cháu , đám binh lính miền Nam còn lại _ người Việt cùng máu đỏ da vàng _ hãy qua Campuchia và chết ở đó .

    Đó mới là điều cần và đáng nói , còn chuyện Đài Loan off and on ở đảo Ba Bình chỉ là chuyện tôm tép , lẻ tẻ ... đừng hỏi tại sao ?

  6. #6
    Tran truong
    Khách
    Quote Originally Posted by Tran Truong View Post
    Năm 1956, Cloma , người Phi luật Tân là một nhà kinh doanh , vừa là luật sư . Ông ta tuyên bố thành lập một quốc gia mới "Freedomland" ở Quần đảo Trường Sa. Chức năng duy nhất của Freedomland được lập ra với mục đích chính là phát hành tem (bưu chính ) cho người chơi tem sưu tầm .

    Thông báo của Cloma về Freedomland đă gây ra cho cả Bắc Kinh và Đài Bắc lên tiếng , nhắc lại tuyên bố của họ đối với Trường Sa.
    Đài Bắc đă cho quân đội đuổi Cloma ra xa khỏi đảo Ba Bình _Taiping _ và tiếp tục duy trì quân trú phòng trên đảo ,vào ngày 24 tháng 9 năm 1956 ,kể từ khi TGT rút quân khỏi hai quần đảo Trường sa & Hoàng sa năm 1950 .


    Lời tuyên bố của Cloma về Freedomland là hợp pháp tại Philippines , bởi v́ Manila đã không có phản ứng gì đối với các cuộc biểu t́nh chống lại hành động của Cloma từ Bắc Kinh, Sài G̣n và Đài Bắc . Philippines đă không tuyên bố chủ quyền của ḿnh đối với Trường Sa.

    Ngày 4 tháng 9 năm 1958 - Trung cộng công bố "Tuyên bố của Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về Lănh hải được công bố vào ngày 4 tháng 9 năm 1958" mô tả ḍng 9-dotted trên Biển Nam Trung Hoa cho thế giới biết .





    _ 14 tháng 9 năm 1958 - Thủ tướng Cộng sản Việt Nam Phạm văn Đồng gửi cho Zhou Enlai , thủ tướng Trung cộng một thông điệp ngoại giao chính thức để tôn trọng quyết định của Trung cộng trên Biển Đông.

    _ 1970 - Trung cộng chiếm Amphitrite Group của quần đảo Hoàng Sa

    _ 1971 - Philippines tuyên bố chủ quyền với các ḥn đảo nằm liền kề lănh thổ của họ ở quần đảo Trường Sa, gọi là Kalayaan, chính thức được đưa vào tỉnh Palawan vào năm 1972. Tổng thống Philippines Marcos tuyên bố sau khi quân đội Đài Loan tấn công và bắn vào một thuyền đánh cá Philippine trên đảo Itu Aba.

    _ 1972 - Cục Khảo sát và Bản đồ thuộc Văn pḥng Thủ tướng của Việt Nam xuất bản "Atlas thế giới" cho biết "Chuỗi đảo từ quần đảo Nam Sa và Tây sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, quần đảo Penghu và quần đảo Zhoushan .. . có h́nh cánh cung , tạo thành một bức trường thành bảo vệ lãnh thổ Trung quốc ".

    _ 1974 - Miền Nam Việt Nam đă thực hiện chủ quyền của mình bằng cách đưa những người định cư vào quần đảo Trường Sa và cố gắng trục xuất những " ngư dân Trung cộng " trá hình ra khỏi vùng Tây Nam quần đảo Hoàng Sa _ Paracels.




    Lá thư chia buồn cùng gia đình tử sĩ trong trận đánh Hoàng sa của tư lệnh hải quân VNCH .



    Còn tiếp ...

    Xin được nhuận chính lại phần chữ màu đỏ : _ 1972 - Cục Khảo sát và Bản đồ thuộc Văn pḥng Thủ tướng csVN xuất bản "Atlas thế giới" đã viết "Chuỗi đảo từ quần đảo Nam Sa và Tây sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, quần đảo Penghu và quần đảo Zhoushan .. . có h́nh cánh cung , tạo thành một bức trường thành bảo vệ lãnh thổ Trung quốc ".

  7. #7
    Member Sydney's Avatar
    Join Date
    13-08-2010
    Posts
    2,881

    Chung quanh công hàm Phạm Văn Đồng



    Vào đầu tháng 5 vừa qua, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 đến đặt tại vùng biển gần đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa, mà Trung Quốc đă đánh chiếm của Việt Nam Cộng Ḥa ngày-19-1-1974. Sự xuất hiện giàn khoan nầy làm rộ lên trở lại dư luận trong và ngoài nước vấn đề công hàm ngày 14-9-1958 của Phạm Văn Đồng, thủ tướng Bắc Việt Nam trước đây.

    1. Tuyên bố của Trung Quốc Từ 24-2 đến 29-4-1958, các thành viên Liên Hiệp Quốc (LHQ) họp tại Genève bàn về luật biển. Hội nghị kư kết bốn quy ước về luật biển. Riêng quy ước về hải phận mỗi nước, có 3 đề nghị: 3 hải lư, 12 hải lư và 200 hải lư. Không đề nghị nào hội đủ túc số 2/3, nên LHQ chưa có quyết định thống nhất. Lúc đó, Trung Quốc và hai miền Nam và Bắc Việt Nam không phải là thành viên LHQ nên không tham dự hội nghị nầy.

    Trước cuộc tranh căi về hải phận, ngày 28-6-1958, Mao Trạch Đông tuyên bố với nhóm tướng lănh thân cận: “Ngày nay, Thái B́nh Dương không yên ổn. Thái B́nh Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó.” (Jung Chang and JonHalliday, MAO: The Unknown Story, New York: Alfred A. Knopf, 2005, tr. 426.) Tiếp đó, ngày 4-9-1958, Trung Quốc đưa ra bản tuyên bố về hải phận gồm 4 điểm, trong đó điểm 1 và điểm 4 được dịch như sau:

    (1) Bề rộng lănh hải của nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lư. Điều lệ nầy áp dụng cho toàn lănh thổ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa [Xisha tức Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [Nansha tức Trường Sa], và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
    .................
    (4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu [Bành Hồ], quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc... (Nguồn:://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm>).

    Mục đích của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 nhằm xác định hải phận của Trung Quốc là 12 hải lư. Tuy nhiên điểm 1 và điểm 4 của bản tuyên bố cố ư lập lại và mặc nhiên khẳng định chắc chắn rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (vốn của Việt Nam) thuộc chủ quyền của Trung Quốc và gọi theo tên Trung Quốc là Xisha [Tây Sa tức Hoàng Sa] và Nansha [Nam Sa tức Trường Sa].

    Điểm cần chú ư là Trung Quốc lúc đó chưa phải là thành viên Liên Hiệp Quốc và không thể dùng diễn đàn của Liên Hiệp Quốc để bày tỏ quan điểm và chủ trương của ḿnh, nên Trung Quốc đơn phương đưa ra bản tuyên bố nầy, thông báo quyết định về lănh hải của Trung Quốc. V́ vậy các nước không nhất thiết là phải trả lời bản tuyên bố của Trung Quốc, nhưng riêng Bắc Việt Nam lại tự ư đáp ứng ngay.

    2. Công hàm bắc Việt

    Trước khi kư kết hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai đất nước, đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản Việt Nam) đă sắp đặt trước kế hoạch tiếp tục chiến tranh đánh miền Nam. Chủ trương nầy được đưa ra rơ nét tại hội nghị Liễu Châu (Liuzhou) thuộc tỉnh Quảng Tây (Guangxi), từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954 giữa Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai.

    Sau khi đất nước bị chia hai, Bắc Việt nằm dưới chế độ cộng sản do Hồ Chí Minh và đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản Việt Nam) lănh đạo. Muốn đánh miền Nam, th́ Bắc Việt cần được các nước ngoài viện trợ, nhất là Liên Xô và Trung Quốc. V́ vậy, khi Trung Quốc đơn phương đưa ra bản tuyên bố về lănh hải ngày 4-9-1958, chẳng cần tham khảo ư kiến Bắc Việt, th́ “không gọi mà dạ”, Phạm Văn Đồng, thủ tướng Bắc Việt, lại hưởng ứng ngay, kư công hàm ngày 14-9-1958, tán thành quyết định về hải phận của Trung Quốc để lấy ḷng chính phủ Trung Quốc.

    Mở đầu bản công hàm, Phạm Văn Đồng viết: “Thưa Đồng chí Tổng lư”. Kết thúc bản công hàm là câu: “Chúng tôi xin kính gởi Đồng chí Tổng lư lời chào rất trân trọng.” Gọi nhau đồng chí là ngôn ngữ giao thiệp giữa đảng với đảng trong cùng một hệ thống cộng sản quốc tế, khác với ngôn ngữ ngoại giao thông thường. Nội dung bản công hàm Phạm Văn Đồng nguyên văn như sau:

    “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc, quyết định về hải phận của Trung Quốc.
    Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lư của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.”

    Chắc chắn bản công hàm nầy được Hồ Chí Minh và Bộ chính trị đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản) chuẩn thuận và được gởi thẳng cho Trung Quốc mà không tham khảo ư kiến hay thông qua quốc hội Bắc Việt. Quốc hội Bắc Việt lúc đó nguyên là quốc hội được bầu ngày 6-1-1946, gọi là quốc hội Khóa I. Sau chiến tranh 1946-1954, đất nước bị chia hai. Nhà nước Bắc Việt triệu tập những dân biểu cộng sản c̣n sống ở Bắc Việt vào tháng 9-1955, tiếp tục hoạt động cho đến ngày 8-5-1960, Bắc Việt mới tổ chức bầu lại quốc hội khóa II, khai mạc phiên họp đầu tiên tại Hà Nội ngày 6-7-1960.

    3. Trung Quốc biện minh

    Khi tự động đem giàn khoan 981 đặt trong vùng biển Hoàng Sa, vi phạm lănh hải Việt Nam, Trung Quốc liền bị dân chúng Việt Nam biểu t́nh phản đối mạnh mẽ và dư luận quốc tế lên án, th́ nhà cầm quyền Trung Quốc cho người sử dụng công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 để nói chuyện.

    Cùng ngày 20-5, hai nhân vật Trung Quốc đă lên tiếng biện minh cho hành động của Trung Quốc. Dĩ nhiên họ được lệnh của nhà nước Bắc Kinh mới được quyền lên tiếng.

    Thứ nhứt, đại biện lâm thời Trung Quốc ở Indonesia, ông Lưu Hồng Dương, có bài đăng trên báo Jakarta Post(Indonesia), xác định rằng quân đảo Tây Sa [tức Hoàng Sa] là lănh thổ của Trung Quốc. Bài báo viết: “Trong tuyên bố ngày 14-9-1958, thay mặt chính phủ Việt Nam khi đó, Phạm Văn Đồng, công khai thừa nhận quần đảo Tây Sa và các đảo khác ở Nam Hải là lănh thổ Trung Quốc.” Lưu Hồng Dương, tác giả bài báo, c̣n viết: “Việt Nam rơ ràng vi phạm nguyên tắc “estoppels”. [không được nói ngược].

    Người thứ hai là tiến sĩ Ngô Sĩ Tồn, giám đốc Viện Nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc, trả lời phỏng vấn hăng tin Deutsch Welle (DW) của Đức, được đưa lên Net ngày 20-5. Ông nầy nói như sau: “Năm 1958, thủ tướng Việt Nam khi đó là Phạm Văn Đồng đă công nhận chủ quyền Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa trong công hàm gửi thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai... Hà Nội chỉ thay đổi lập trường sau khi đất nước thống nhất năm 1975. Nhưng theo nguyên tắc estoppel, Trung Quốc không tin rằng Việt Nam có thể thay đổi lập trường về vấn đề chủ quyền.”
    Last edited by Sydney; 27-10-2017 at 10:25 AM.

  8. #8
    Member Sydney's Avatar
    Join Date
    13-08-2010
    Posts
    2,881
    4. Cộng sản Việt Nam chống chế

    Trả lời những cáo buộc trên đây của Trung Quốc, trong cuộc họp báo ngày 23-5-2014 tại Hà Nội, ông Trần Duy Hải, phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia, cho rằng công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 không có giá trị pháp lư về vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam.

    Ông Hải nói: “Việt Nam tôn trọng vấn đề 12 hải lư nêu trong công thư chứ không đề cập tới Hoàng Sa, Trường Sa, v́ thế đương nhiên không có giá trị pháp lư với Hoàng Sa và Trường Sa... Bạn không thể cho ai thứ mà bạn chưa có quyền sở hữu, quản lư được. Vậy điều đó càng khẳng định công văn của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lư...”

    Ngoài ra, c̣n có đại sứ của hai phía Trung Cộng và Việt Cộng ở Hoa Kỳ tham gia cuộc tranh căi, lên tiếng bênh vực lập trường của chính phủ ḿnh. Báo chí hai nước cũng đưa tin và b́nh luận cáo buộc đối phương mà trước đây ít khi thấy. Lời qua tiếng lại c̣n nhiều, nhưng đại khái lập trường hai bên là như vậy.
    5. Hiểu cách nào

    Bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đưa ra hai chủ điểm: 1) Xác định hải phận của Trung Quốc là 12 hải lư. 2) Mặc nhiên xác nhận chủ quyền của Trung Quốc trên một số quần đảo trên Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vốn của Việt Nam từ lâu đời.

    Dầu công hàm Phạm Văn Đồng không có chữ Hoàng Sa và Trường Sa như ông Trần Duy Hải nói, nhưng công hàm Phạm Văn Đồng “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc”, có nghĩa là nhà nước Bắc Việt cộng sản công nhận hai chủ điểm của bản tuyên bố của Trung Quốc.

    Trần Duy Hải c̣n nhấn mạnh rằng sau hiệp định Genève, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lư của Việt Nam Cộng Ḥa và “Bạn không thể cho ai thứ mà bạn chưa có quyền sở hữu, quản lư được.” Ông Hải nói chuyện lạ lùng như một người nước ngoài. Nếu Nam Việt không phải là một phần của Việt Nam, th́ tại sao Bắc Việt lại đ̣i “Chống Mỹ cứu nước” hay “Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.”? Khi xâm lăng Nam Việt, th́ Bắc Việt nhận Nam Việt là một phần của Việt Nam. Khi cần xin viện trợ th́ Bắc Việt bảo rằng đó là của Nam Việt, rồi Bắc Việt dùng để trao đổi với nước ngoài? (Một giải thích lạ lùng hơn nữa là bà Nguyễn Thị Thụy Nga (Bảy Vân), vợ Lê Duẫn, trả lời trong cuộc phỏng vấn năm 2008 của đài BBC rằng “ngụy nó đóng ở đó nên giao cho Trung Quốc quản lư Hoàng Sa.” (CTV Danlambao -danlambaovn.blogspot.com)

    Một nhà nghiên cứu trong nước c̣n nói rằng công hàm Phạm Văn Đồng không thông qua quốc hội nên không có giá trị pháp lư trong bang giao quốc tế. (BBC Tiếng Việt 21-5-2014, “Hoàn cảnh lịch sử công hàm 1958”).
    Khái niệm nầy chỉ đúng với các nước tự do dân chủ. Trong các nước tự do dân chủ, tam quyền phân lập rơ ràng. Những quyết định của hành pháp phải được lập pháp thông qua, nhất là những hiệp ước về lănh thổ, lănh hải phải có sự đồng ư của quốc hội. Tuy nhiên dưới chế độ cộng sản, cộng sản không cai trị theo luật pháp, mà cộng sản thống trị theo nghị quyết của đảng cộng sản. Với cộng sản, tam quyền không phân lập mà tam quyền đồng quy vào trong tay đảng CS, nên CS chẳng cần đến quốc hội. Chủ trương nầy được đưa vào điều 4 hiến pháp cộng sản mà ai cũng biết.

    Trung Quốc là một nước cộng sản từ năm 1949. Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng thống trị đất nước họ như đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN). V́ vậy, giữa hai nước cộng sản với nhau, Trung Quốc rất am hiểu truyền thống của nhau, am hiểu ngôn ngữ cộng sản với nhau. Chính công hàm của Phạm Văn Đồng cũng viết theo ngôn ngữ cộng sản: “Thưa Đồng chí Tổng lư”. V́ vậy, Trung Quốc hiểu công hàm Phạm Văn Đồng theo cách thống trị đất nước của nhà nước cộng sản, nghĩa là quyết định của đảng cộng sản là quyết định tối hậu, trên tất cả, chẳng cần ǵ phải có chuyện quốc hội phê chuẩn.

    Hồ Chí Minh và đảng Lao Động (tức đảng CSVN ngày nay) ủng hộ hay không ủng hộ bản tuyên bố về hải phận của Trung Quốc, dân chúng Việt Nam không cần quan tâm. Tuy nhiên, đối với dân chúng Việt Nam, chuyện Phạm Văn Đồng cùng Hồ Chí Minh và đảng Lao Động tán thành “quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa],... quần đảo Nam Sa [Trường Sa],... thuộc Trung Quốc” là một hành vi bán nước và phản quốc.


    6. Liên minh quân sự

    Trước hiểm họa Trung Quốc đe dọa ngày nay, v́ Việt Nam không đủ sức chống lại Trung Quốc nên có ư kiến cho rằng nhà nước CSVN cần phải liên minh với nước ngoài để chống Trung Quốc. Ví dụ liên minh với Hoa Kỳ hay với khối ASEAN chẳng hạn.

    Tuy nhiên, trong cuộc họp báo tại Bắc Kinh vào ngày 25-8-2010, trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Quốc pḥng CSVN đă đưa ra chủ trương “ba không” của đảng CS và nhà nước CSVN là: Không tham gia liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự và không cùng một nước khác chống lại nước thứ ba. (Xem Internet: chủ trương ba không của CSVN.)

    Về phía Hoa Kỳ, th́ vừa qua, ngày 28-5-2014, trong bài diễn văn tŕnh bày tại lễ tốt nghiệp Học viện Quân sự WestPoint, New York, tổng thống Obama đưa ra nét căn bản về chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ: “Hoa Kỳ sẽ sử dụng quân đội, đơn phương nếu cần thiết, nếu cần cho lợi ích cốt lơi của chúng ta - trong trường hợp người dân chúng ta bị đe dọa, nguồn sống chúng ta gặp nguy hiểm hay an ninh của các nước đồng minh bị thách thức...” (BBC Tiếng Việt, 29-5-2014.)

    Chủ trương sử dụng sức mạnh để bảo vệ lợi ích cốt lơi của nước ḿnh không phải là chủ trương riêng của Hoa Kỳ hay của một nước nào mà là chủ trương chung của tất cả các nước trên thế giới. Nước nào cũng v́ quyền lợi của nước ḿnh mà thôi. Vậy thử hỏi Hoa Kỳ có quyền lợi ǵ khi giúp Việt Nam (90 triệu dân) nhằm đổi lại với việc Hoa Kỳ giao thương với Trung Quốc (hơn 1 tỷ dân)? Ngoài ra, Hoa Kỳ khó trở thành đồng minh của Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ v́ một lư do đơn giản là CHXHCNVN là một nước cộng sản vi phạm nhân quyền một cách trầm trọng.

    Hơn nữa, Hoa Kỳ mới liên minh trở lại với Phi Luật Tân để ngăn chận Trung Quốc từ xa. V́ Phi Luật Tân ở xa, nằm phía bên kia bờ Biển Đông phân cách Phi Luật Tân với lục địa Trung Quốc, nên an toàn hơn cho Hoa Kỳ. V́ vậy, Hoa Kỳ có cần liên minh với CSVN hay không?

    Các nước trong khối ASEAN cũng không khác ǵ Hoa Kỳ, tập họp với nhau v́ quyền lợi kinh tế của mỗi nước. Có nước chẳng ưa thích ǵ Việt Nam như Cambodia, Lào v́ truyền thống lâu đời. Có nước chẳng có quyền lợi ǵ trong vấn đề Việt Nam và Biển Đông như Miến Điện, Mă Lai. Đó là chưa nói hầu như các nước ASEAN đều quan ngại thế lực của Trung Quốc về nhiều mặt và các nước ASEAN c̣n muốn Việt Nam luôn luôn ở thế yếu kém, bị động để đừng quay qua bắt nạt các nước láng giềng.

    Như thế, chỉ là ảo tưởng nếu nghĩ rằng nhà nước CSVN có thể liên minh với bất cứ nước nào để chống Trung Quốc. Trung Quốc dư biết điều đó. Cộng sản Việt Nam phải tự ḿnh giải quyết lấy bài toán của ḿnh do những sai lầm của Hồ Chí Minh và đảng CSVN gây ra. Nhờ Trung Quốc đánh Pháp chẳng khác ǵ nhờ một tên ăn cướp đuổi một kẻ ăn trộm. C̣n nhờ Trung Quốc chống Mỹ không phải là giải pháp để cứu nước mà là con đường dẫn đến mối nguy mất nước...

  9. #9
    Member Sydney's Avatar
    Join Date
    13-08-2010
    Posts
    2,881


    7. Phải quyết định

    Lịch sử cho thấy từ bao đời nay, dân tộc Việt Nam luôn luôn chiến đấu để bảo vệ lănh thổ, chống lại các cuộc xâm lăng của nước ngoài. Ngược lại, từ giữa thế kỷ 20, đảng CSVN cướp được chính quyền năm 1945, đă dùng đất đai do tổ tiên để lại như một vật trao đổi nhằm mưu cầu quyền lực, mà công hàm Phạm Văn Đồng là một ví dụ điển h́nh.

    Muốn thoát khỏi tấn bi kịch hiện nay, một trong những việc đầu tiên là phải vô hiệu hóa công hàm Phạm Văn Đồng, chấm dứt sự thừa nhận của Phạm Văn Đồng và đảng Lao Động tức đảng CSVN đối với tuyên bố của Trung Quốc.

    Muốn vô hiệu hóa công hàm Phạm Văn Đồng th́ phải vô hiệu hóa chính phủ đă kư công hàm. Phạm Văn Đồng đă chết. Chính phủ Phạm Văn Đồng không c̣n. Tuy nhiên, chính phủ thừa kế chính phủ Phạm Văn Đồng c̣n đó ở Hà Nội. Vậy chỉ c̣n cách giải thể nhà nước cộng sản hiện nay ở Hà Nội mới có thể vô hiệu hóa công hàm Phạm Văn Đồng. Có hai cách giải thể:

    Thứ nhứt, đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay, hậu thân của đảng Lao Động trước đây, thừa kế chính thức của nhà nước do Phạm Văn Đồng làm thủ tướng, phải t́m cách tự lột xác như ve sầu lột xác (kim thiền thoát xác), mới phủ nhận những điều do nhà cầm quyền cũ kư kết. Trên thế giới, đă có hai đảng cộng sản theo thế kim thiền thoát xác là trường hợp Cộng sản Liên Xô với Yeltsin và cộng sản Cambodia với Hun Sen.

    Vấn đề là những nhà lănh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay có v́ sự sống c̣n của đất nước, có chịu hy sinh quyền lợi của đảng CS, có chịu giải thể đảng CS như Yeltsin đă làm ở Liên Xô, để cùng dân tộc tranh đấu bảo vệ non sông?

    Thứ hai, nếu những nhà lănh đạo cộng sản vẫn cương quyết bám lấy quyền lực, cương quyết duy tŕ đảng CSVN, th́ chỉ c̣n con đường duy nhứt là toàn dân Việt Nam phải tranh đấu lật đổ chế độ cộng sản. Cuộc tranh đấu sẽ rất cam go, khó khăn, nhưng hiện nay đất nước chúng ta đang đứng bên bờ vực thẳm, đang lâm vào thế cùng. Cùng đường th́ phải tranh đấu để biến đổi và tự cứu ḿnh.

    Vậy chỉ c̣n con đường duy nhứt là chấm dứt chế độ CSVN để chấm dứt công hàm Phạm Văn Đồng, đồng thời chấm dứt luôn những mật ước giữa đảng CSVN với đảng Cộng Sản Trung Quốc từ thời Hồ Chí Minh cầu viện, qua thời Thành Đô và cho đến hiện nay.

    Đă đến lúc phải quyết định dứt khoát: Hoặc CSVN theo thế “ve sâu lột xác”, hoặc CSVN phải bị lật đổ mà thôi. Nếu không, hiểm họa một thời kỳ Hán thuộc mới đang chờ đợi Việt Nam.

    (Toronto, 5-6-2014)
    Trần Gia Phụng
    danlambaovn.blogspot.com


    * SOURCE: http://danlambaovn.blogspot.com.au/2...m-van-ong.html

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •