+ Reply to Thread
Page 1 of 24 1234511 ... LastLast
Results 1 to 10 of 231

Thread: ANH HÙNG BẮC CƯƠNG

  1. #1
    Member
    Join Date
    27-09-2011
    Location
    Hà Nội -Việt Nam
    Posts
    1,669

    ANH HÙNG BẮC CƯƠNG

    ANH HÙNG BẮC CƯƠNG









    Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
    Anh Hùng Bắc Cương
    (Tiếp theo Thuận Thiên Di Sử )

    Lời nói đầu




    I-Trước khi vào truyện



    1. Thầy tăng Mở nước đă xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ mười hai, để chỉ chư vị tăng ni hồi đó biến đổi Phật-giáo từ Ấn-độ, Trung-quốc qua, thành một Phật-giáo dân tộc. Nhân ở hoàn cảnh mất nước lâu dài trong gần ngh́n năm, các ngài đă lồng đạo pháp đức Thế-tôn với chủ đạo tộc Việt thời vua Hùng, vua An-Dương vua Trưng làm một. Bởi vậy mới có câu:
    Đạo pháp bất dị quốc đạo".
    V́ nước mất đă lâu, nay các ngài dựng lại được, nên người đương thời dùng câu Thầy tăng mở nước để ghi nhớ công ơn.
    Đạo-pháp, dân tộc là một không có nghĩa toàn thể tộc Việt phải sống trong đạo Phật, mà có nghĩa: Đem đạo pháp của đức Thế-Tôn ra giúp dân tộc. Đem đức từ bi, hỷ xả làm căn bản trong việc trị dân.
    Giai đoạn hai, chỉ rơ một Phật-tử trong ngôi vị hoàng đế, đem đạo pháp ra trị nước, làm cho dân chúng ấm no, sung sướng như thời vua Hùng, vua Trưng. So sánh với Trung-nguyên bấy giờ hoàn toàn dùng Nho, khác hẳn. Thế nhưng không có ma sao có Phật? Bởi vậy trong triều Thuận-Thiên hoàng đế (Lư Thái-tổ) quên ăn, quên ngủ lo cho dân, th́ ma qủi hiện ra dưới lớp Hồng-thiết giáo. Lại có những con ma, con quỷ đội lốt tăng ni như Nguyên-Hạnh, Hoàng-Liên, Thạch-Phụng.
    2. Đến giai đoạn ba thời đại Tiêu-sơn biến sang một nét mới, thuật công cuộc pḥng ngự biên cương phía Bắc của 207 khê động, tức các bộ lạc dân tộc thiểu số. Suốt mấy ngh́n năm, cho đến nay, các khê động như hàng rào, bảo vệ Bắc-cương Đại-Việt.
    Vào thời vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng, lănh thổ nước ta tới hồ Động-đ́nh. Riêng lĩnh địa quận Giao-chỉ gồm lưu vực sông Hồng tức Bắc-Việt ngày nay và vùng lưu vực sông Tả-giang, Hữu-giang tức vùng Nam Trung-quốc như : Lộc-xuân, Nguyên-dương, Khâu-bắc, Văn-sơn, Phú-định (thuộc Vân-Nam). Một phần phía Tây-Nam sông Tả-giang như Điền-lâm, Bách-sắc, Điền-dương, Điền-Đông, Sùng-tả, Bồ-Bắc, Nhạc-xuyên thuộc Quảng-Tây.
    Những năm 1981-1982-1983 khi công tác cho Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (Coopérative Européenne Pharmaceutique, viết tắt là CEP), Ủy-ban trao đổi Y-học Pháp-Hoa (Comité Médical Franco-Chinois, viết tắt là CMFC) du hành sưu khảo trong các vùng trên, tôi đă được phỏng vấn trước sau gần năm mươi gịng họ trong vùng này. Có tới bốn mươi ba gịng cho biết gia phả chép rằng, tổ tiên họ vào thời Tống c̣n là người Việt. Tôi cũng ṃ mẫm vào bảo tàng viện địa phương, cơ quan bảo tồn di tích cấp xă để nghiên cứu về kết quả những cuộc khai quật trong các vùng nói trên.
    Một số mộ t́m thấy những viên gạch trên nắp quan tài ghi tên người quá cố với những niên hiệu của:
    _ Vua Lê-đại-Hành như Thiên-Phúc (980-988) Hưng-thống (989-993) Ứng-thiên (994-1005),
    _ Vua Lư Thái-Tổ như Thuận-Thiên (1010-1028), Lư Thái-Tông như Thiên-Thành (1028-1033) Thông-Thụy (1034-1037).
    _ Di tích gần nhất là ngôi mộ gịng họ Quách ở vùng Điền-Đông thuộc Quảng-Tây ghi:
    Quách công húy Tuần. Thụy Minh-Mẫn
    Chung ư thập tam nhật, thập nhị nguyệt, Tư thời
    Kim vương Đại-Định, bát niên, Ất-Măo
    Nghĩa là: Ông họ Quách tên là Tuần, tên thụy là Minh-Mẫn, từ trần giờ Tư ngày mười ba, tháng chạp. Nhằm niên hiệu đức vua Đại-Định năm thứ tám, tức năm Ất-Măo. Tra trong sử, Đại-Định là niên hiệu của vua Lư Anh-Tông. Năm thứ tám là năm 1147.
    Tại Khâu-bắc, Văn-sơn, Phúc-định thuộc Vân-Nam c̣n có đền, miếu thờ công chúa Bảo-Ḥa, nhưng không biết công chúa Bảo-Ḥa Lư hay Thân. Người ta đă khai quật nhiều mộ người Việt, ghi lại những di tích đời Trần với niên hiệu vua Trần Thái-Tông, Nhân-tông.
    Giữa hai vùng đồng bằng Tả-giang, Hữu-giang với Trung-châu Bắc-Việt chia cách nhau bằng khu rừng núi Bắc-biên ngày nay. Trong đám rừng núi này có 207 nhóm sắc tộc Mèo, Thái, Mán, Nùng, Tày, Mường. Sử gia Trung-quốc gọi họ là Man-dân, hoặc Khê-động. Sự thực những khê-động là di tích của các Lạc-ấp thời vua Văn-lang, Âu-lạc, Lĩnh-Nam c̣n sót lại.
    Khi Mă Viện chiếm trọn Lĩnh-Nam. Y trồng một cột Đồng-trụ ở biên giới Giao-chỉ, Quế-lâm, Tượng-quận. Nếu vậy, đồng trụ phải nằm ở khu tứ giác Nam-ninh, Liễu-châu, Bắc-sắc, Nam-đơn, chứ không thể nằm trong lănh thổ Bắc-Việt.
    Thời vua Ngô đánh quân Nam-Hán, ngài chỉ đuổi chúng khỏi trung châu Bắc-Việt, tới vùng núi non Bắc-cương ngày nay, tức đuổi khỏi phần lưu vực sông Hồng, chứ không đuổi khỏi lĩnh địa Giao-chỉ cũ. Từ đấy biên cương Hoa-Việt ngăn cách nhau bằng khu núi non Bắc-cương với 207 Khê-động.
    Trong thời gian Bắc-thuộc, các khê-động và biên cương không đặt ra. V́ người Hoa coi toàn thể lănh thổ ta thuộc Thiên-hạ tức đất của họ.
    Lúc vua Lê Đại-Hành đánh Nam-Hán, cũng không chiếm lại lănh thổ Lĩnh-Nam cũ đă đành, mà không đ̣i lại toàn vẹn cố thổ Gia-chỉ. Thành ra các khê-động khi ta mạnh theo ta, khi Tầu mạnh theo Tầu.
    Đến đời Lư, Đại-Việt giầu mạnh, triều đ́nh mới nghĩ đến việc chiếm lại 207 khê động, v́ biết ḿnh ở gần, Tống ở xa.
    Việc đầu tiên, vua Lư Thái-Tổ (Thuận-Thiên hoàng đế) phong cho Thân Thiệu-Anh thống lĩnh 207 khê-động. Ngài gả công chúa thứ nh́ cho con Thiệu-Anh là Thừa-Qúy, với sắc phong Lĩnh-Nam bảo-quốc, hoà dân công chúa, gọi tắt là công chúa Bảo-Ḥa. Hai người ra sức tranh dành thống nhất các khê động nhưng không thành.
    Con của công-chúa Bảo-Ḥa cùng pḥ mă Thân Thừa-Quư là Thân Thiệu-Thái lại được vua Lư Thái-Tông gả công chúa B́nh-Dương cho. Chính công chúa B́nh-Dương, cùng pḥ mă Thân Thiệu-Thái đă thành công trong việc chiếm lại toàn vẹn 207 khê động, thống nhất thành nước Bắc-biên. Hai vị c̣n tiến lên phía Bắc vùng núi đi vào vùng lưu vực Tả, Hữu-giang.
    Bộ sách này thuật giai đoạn chiến tranh đó. Giai đoạn dành cố thổ trong thời đại Tiêu-sơn mang tên B́nh-Dương ngoại sử, B́nh-Dương ngoại truyện hoặc Anh-hùng Bắc-cương.
    Tiếc thay, vùng đất đồng bằng phía Bắc của 207 khê-động, vào thời Lê giặc Mạc Đăng-Dung hiến cho quân Minh, và vào thời Pháp thuộc người Pháp cắt phần nữa cho Trung-hoa dân quốc. Đau hơn, gần đây cuộc chiến tranh Hoa-Việt. Việt bị mất 56 xă thuộc vùng Cao-lạng . Sau cuộc chiến, phía Việt quên, không nhắc nhở ǵ tới đ̣i lại.
    3. Huyền sử kể rằng quốc tổ Kinh-Dương kết hôn với công chúa con vua Động-đ́nh. Rồi quốc tổ Lạc-Long kết hôn với công chúa Âu-Cơ. Sau khi kết hôn cả hai vị quốc tổ đều đưa quốc mẫu lên núi Tam-sơn trên hồ Động-đ́nh hưởng thanh phúc ba năm. Khi các vị lên núi Chín vạn hoa tầm xuân nở. Sau này, vào thời Lĩnh-Nam, anh hùng cũng đại hội trên núi Tam-sơn tuyên cáo khởi binh. Tiếp theo, có hai trận đánh kinh thiên động địa xẩy ra tại đây.
    Phía Nam hồ Động-đ́nh là sông Tương chảy theo hướng Bắc về Nam, qua Hồ-Nam, Quảng-Tây. Bên hữu ngạn sông Tương có ngọn núi Thiên-đài là nơi vua Đế-Minh lập đàn tế cáo trời đất, phong cho con trưởng làm vua phương Bắc (nay là Trung-quốc) tức vua Nghi; con thứ làm vua phương Nam (nay là Việt-Nam) tức vua Kinh-Dương. Di tích đó nay vẫn c̣n.
    Huyền sử ghi rằng: Lạc-Long quân chia trăm con đi khắp nơi qui dân lập ấp, mỗi năm hội nhau tại cánh đồng Tương một lần.
    V́ những lư do đó, đầu năm 1981, tôi lấy máy bay đi Bắc-kinh, đổi máy bay từ Bắc-kinh đi Trường-sa. Từ Trường-sa tôi dùng xe đi lên Nhạc-dương trấn, rồi thuê xuồng thăm hồ Động-đ́nh, núi Tam-sơn, Quân-sơn. Tôi quan sát chi tiết phong cảnh, hoa cỏ vào tiết Xuân để tường thuật cuộc khởi nghiă cùng hai trận đánh vào thời vua Trưng cho đúng.
    Sau đó tôi đi thăm Tương-đài, ba cánh đồng Tương: Tương-Nam, Tương-trung, Tương-Âu và Thiên-đài.
    Trong bộ Anh-hùng Bắc-cương này, tôi sẽ thuật chi tiết những sự kiện đó.
    Xin kính mời quư độc giả đọc Anh-hùng Bắc-cương, để thấy tổ tiên ta anh hùng như thế nào.
    Viết tại Paris ngày giỗ tổ Hùng-vương năm Tân-Mùi (1991).
    Yên-tử cư-sĩ Trần-đại-Sỹ.
    Last edited by Hắc Y Hiệp Nữ; 07-11-2011 at 06:27 AM.

  2. #2
    Member
    Join Date
    27-09-2011
    Location
    Hà Nội -Việt Nam
    Posts
    1,669
    II Nguồn gốc dân tộc Việt-Nam :


    Đại cương mỗi bộ sử đều chép rất giản lược về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam sau :
    « Vua Minh cháu bốn đời vua Thần-Nông, nhân đi tuần thú phương nam, đến núi Ngũ-lĩnh, kết hôn với một nàng tiên hạ sinh một con trai tên Lộc-Tục. Vua lập đài, tế cáo trời đất, phong cho con trưởng làm vua phương Bắc, tức vua Nghi, phong con thứ là Lộc-Tục làm vua phương Nam. Ngài dạy hai thái tử rằng :
    « Nghi làm vua phương Bắc, Tục làm vua phương Nam, lấy núi Ngũ-lĩnh làm cương giới. Hai người làm vua hai nước nhưng vốn cùng gốc ở ta, phải lấy điều hiếu hoà mà ở với nhau. Tuyệt đối Nam không xâm Bắc, Bắc chẳng chiếm Nam. Kẻ nào trái lời, sẽ bị tuyệt tử, tuyệt tôn ».
    Xét triều đại Thần-Nông, khởi từ năm 3118 trước Tây lịch, đến đây th́ chia làm hai :

    1. Thần-Nông Bắc :

    Vua Nghi (2889-2884 trước Tây lịch)
    Vua Lai (2843-2794 trước Tây lịch)
    Vua Ly (2795-2751 trưước Tây-lịch)
    Vua Du-Vơng (2752-2696 trước Tây-lịch).

    Đến đây triều đại Thần-Nông Bắc chấm dứt, đổi sang triều đại Hoàng-đế từ năm giáp Tư (2697 trước Tây-lịch). Các nhà chép sử Trung-quốc lấy thời đại Hoàng-đế làm kỷ nguyên. Trong bộ Sử-kư, Tư-mă Thiên khởi chép quyển một là Ngũ-đế bản kỷ, coi Hoàng-đế là Quốc-tổ Trung-quốc, không chép về thời đại Thần-Nông.

    2. Triều đại Thần-Nông Nam :

    Thái-tử Lộc-Tục lên làm vua năm Nhâm-Tuất (2879 trước Tây-lịch) hiệu là Kinh-Dương, lúc mười tuổi. Sau người Việt lấy năm này làm kỷ nguyên lập quốc. Nếu cộng chung cho đến nay (1991) là 4870 năm, v́ vậy người Việt tự hào rằng đă có năm ngh́n năm văn hiến. (1)

    Nội dung bài diễn văn hôm nay, tôi chỉ bàn đến diễn biến chính trị, lịch sử, văn hóa, địa lư của dân tộc -Trung-hoa, và dân tộc Việt-Nam trong khoảng thời gian 4870 năm từ năm 2879 trước Tây-lịch cho đến năm nay 1991. C̣n như đi xa hơn về những thời tiền cổ, thời đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, quá phức tạp, quá dài, tôi không luận đến ở đây.

    Xét về cương giới cổ sử chép :

    « Thái-tử Lộc-Tục lên ngôi lấy hiệu là Kinh-Dương(2), đặt tên nước là Xích-quỷ, đóng đô ở Phong-châu nay thuộc Sơn-Tây. Vua Kinh-Dương lấy con gái vua Động-đ́nh là Long-nữơ đẻ ra Thái-tử Sùng-Lăm. Thái-tử Sùng-Lăm lại kết hôn với công chúa Âu-Cơ con vua Đế-Lai(3). Khi vua Kinh-Dương băng hà thái-tử Sùng-Lăm lên nối ngôi vua, tức vua Lạc-Long, đổi tên nước là Văn-Lang. Nước Văn-Lang Bắc tới hồ Động-đ́nh, Nam giáp nước Hồ-tôn, tây giáp Ba-thục, đông giáp biển Đông-hải.)

    Cổ sử đến đây, không có ǵ nghi ngờ, nhưng tiếp theo lại chép :

    « Vua Lạc-Long lấy công chúa Âu-Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở ra trăm con. Ngài truyền cho các hoàng tử đi bốn phương lập ấp, tổ chức cai trị giáo hóa dân chúng. Mỗi vị lập một ấp theo lối cha truyền con nối .
    Hoàng-tử thứ nhất tới thứ mười lập ra vùng hồ Động-đ́nh.(Nay là Hồ-Nam, Quư-châu, Trung-quốc.)
    Hoàng-tử thứ mười một tới thứ hai mươi lập ra vùng Tượng-quận.(Nay là Vân-Nam và một phần Quảng-Tây, Tứ-xuyên thuộc Trung-quốc.)
    Hoàng-tử thứ ba mươi mốt tới bốn mươi lập ra vùng Chiêm-thành.(Nay thuộc Việt-Nam, từ Thanh-hóa đến Đồng-nai.)
    Hoàng-tử thứ bốn mươi mốt tới năm mươi lập ra vùng Lăo-qua.(Nay là nước Lào và một phần Bắc Thái-lan.)
    Hoàng-tử thứ năm mươi mốt tới sáu mươi lập ra vùng Nam-hải. (Nay là Quảng-đông, và một phần Phúc-kiến, Trung-quốc.)
    Hoàng-tử thứ sáu mươi mốt tới bảy mươi lập ra vùng Quế-lâm.(Nay thuộc Quảng-tây, Trung-quốc.)
    Hoàng-tử thứ bảy mươi mốt tới tám mươi lập ra vùng Nhật-nam.(Nay thuộc Việt-Nam từ Nghệ-an tới Quảng-b́nh.)
    Hoàng-tử thứ tám mươi mốt tới chín mươi lập ra vùng Cửu-chân.(Nay thuộc Việt-Nam từ Ninh-b́nh tới Thanh-hóa, Nghệ-an, Hà-tĩnh)
    Hoàng tử thứ chín mươi mốt tới một trăm lập ra vùng Giao-chỉ.(Nay là Bắc Việt-Nam và một phần tỉnh Quảng-tây, Vân-Nam thuộc Trung-quốc.)
    Ngài hẹn rằng : Mỗi năm các hoàng-tử phải về cánh đồng Tương vào ngày Tết, để chầu hầu phụ mẫu ».

  3. #3
    Member
    Join Date
    27-09-2011
    Location
    Hà Nội -Việt Nam
    Posts
    1,669
    Một huyền sử khác lại thuật :

    Vua Lạc-Long nói với Âu-Cơ rằng :
    « Ta là Rồng, nàng là loài Tiên ở với nhau lâu không được. Nay ta đem năm mươi con xuống nước, nàng đem năm mươi con lên rừng. Mỗi năm gặp nhau tại cánh đồng Tương một lần »

    Các sử gia người Việt lấy năm vua Kinh-Dương lên làm vua là năm Nhâm-tuất (2879 trước Tây-lịch), nhưng không tôn vua Kinh-Dương với Công-chúa con vua Động-đ́nh làm Quốc-tổ, Quốc-mẫu, mà lại tôn vua Lạc-Long làm Quốc-tổ và Công-chúa Âu-Cơ làm Quốc-mẫu. Cho đến nay Quư-vị hỏi trăm người Việt ở hải ngoại rằng tổ là ai, họ đều tự hào :

    « Chúng tôi là con Rồng, cháu Tiên. Quốc-tổ tên Lạc-Long, Quốc-mẫu tên Âu-Cơ ».

    Chủ đạo của tộc Việt bắt nguồn từ niềm tin này.

    Ghi chú của Tăng Hồng Minh :

    Kư giả chuyên về Văn-minh Đông-á Jean Marc Decourtenet hỏi về đoạn này như sau:
    « Thưa Giáo-sư, hiện Việt-Nam là nước theo chế độ Cộng-sản, liệu người Việt trong nước họ có cùng một niềm tin như người Việt hồi 1945 về trước cũng như người Việt hải ngoại hay không ? »

    Trả lời :

    « Những nhà lănh đạo đảng Cộng-sản Việt-Nam suốt từ năm 1930 đến giờ, không một người nào muốn dùng triết lư Marxisme, Léninisme để xóa bỏ niềm tin con Rồng cháu Tiên. Trái lại họ c̣n dùng niềm tin này để quy phục nhân tâm. V́ niềm tin này đăơ ăn sâu vào tâm năo người Việt. Những người lănh đạo chính trị Việt cả hai miền Nam-Bắc trong thời gian nội chiến 1945-1975 cũng không ai dám, không ai muốn, không ai đủ khả năng xóa bỏ niềm tin này. Người Việt có niềm tin vào Chủ-đạo của ḿnh. Họ xây đền thờ các vua Hùng ở Phú-thọ dường như đă hơn ngh́n năm. Hằng năm cứ đến ngày 10 tháng 3 âm lịch là người người đều tụ tập về đây để tưởng nhớ công ơn các vua Hùng đă dựng nước. Trong thời gian chiến tranh (1945-1975) v́ t́nh h́nh an ninh di chuyển khó khăn, v́ t́nh h́nh kinh tế không cho phép, số người hành hương có giảm thiểu. Nhưng từ sau 1987, số người hành hương tăng vọt. Ngay ở ngoại quốc, người Việt lưu lạc khắp nơi, nhưng hằng năm đến ngày 10 tháng 3, lịch Á-châu, nơi nào họ cũng tổ chức giỗ tổ rất thành kính.
    Các lănh tụ của đảng Cộng-sản Việt-Nam như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười v.v. đều hành hương đền thờ vua Hùng, và đọc diễn văn ca ngợi công đức Quốc-tổ như một hành động thu phục nhân tâm. Kết lại dù ở trong nước hay ngoại quốc, hiện người Việt vẫn cùng một niềm tin như nhau."

    Ghi chú của Tăng Hồng Minh dành cho người Việt :

    Theo sự t́m hiểu của Tăng Hồng Minh tôi, các lănh tụ của đảng Cộng-sản Việt-Nam, đă viếng đền Hùng là :
    _ Chủ-tịch Hồ Chí Minh, ngày 19-9-1954 , 19-8-1962.
    _ Tổng bí thư Lê Duẩn, 5-5-1977.
    _ Chủ tịch nhà nước Trường Chinh 6-2-1959 , 5-2-1978.
    _ Thủ tướng Phạm Văn Đồng 6-2-1969 , 27-8-1978.
    _ Tổng bí thư Đỗ Mười 27-4-1993.

    Tôi xin trở lại với đầu đề,

    3. Triều đ́nh , dân tộc :

    Tôi đă tŕnh bầy với Quư-vị về hai triều đại đầu tiên cai trị vùng Á-châu Thái-b́nh dương : Phía Bắc sông Trường-giang sau thành Trung-quốc. Phía Nam sông Trường-giang tới vịnh Thái-lan, sau thành Đại-Việt.
    Hai triều đại Thần-Nông Nam-Bắc cai trị dân chúng :

    _ Không có nghĩa là dân chúng cùng một chủng tộc ;
    _ Không có nghĩa là tộc Hoa, tộc Việt là một;
    _ Cũng không có nghĩa tất cả dân chúng tộc Hoa, tộc Việt đều là huyết tộc của vua Thần-Nông.
    có hà_ Trung-quốc, Đại-Việt là anh em về phương diện chính trị. Gịng Thần-Nông cai trị vùng đất Trung-quốc, Đại-Việt là anh em, nhưng dân chúng không hoàn toàn là anh em. Dân chúng hai nước bao gồm nhiều tộc khác nhau như Mongoloid, Malanésien, Indonésien, Australoid, và cả Négro-Australoid...v.v.
    _ Người Hoa, người Việt nhân triều đại Nam-Bắc Thần-Nông tổ chức cai trị, lập thành nước, mà tôn làm tổ mà thôi. Chứ hai vùng hồi đó ng ngh́n, hàng vạn bộ tộc khác nhau, ngôn ngữ khác nhau, văn hóa khác nhau.

    Sau này các văn nhân người Hoa ở vùng lưu vực Hoàng-hà, lưu vực sông Hán, nhân có chữ viết, lại không đi ra ngoài, rồi tưởng tượng mà viết thành sách, tự cho ḿnh là con trời, tự trời mà xuống; sau đó đem văn minh, truyền bá ra khắp thế giới (Thiên-hạ), người sau lấy làm chủ đạo của họ. Tôi sẽ bàn đến ở dưới.
    Tôi xin cử một tỷ dụ, để Quư-vị nh́n rơ hơn. Ông Washington là vị Tổng-thống đầu tiên lập ra nước Hoa-kỳ, chứ ông không phải là tổ của các sắc dân đến từ châu Phi, châu Âu, cũng như dân bản xứ. Hai vị vua Nghi, vua Kinh Dương không phải là tổ huyết tộc của người Hoa, người Việt. Hai ngài chỉ là tổ về chính trị mà thôi.

    II. CHỦ ĐẠO TRUNG QUỐC , VIỆT-NAM :

    Như Quư-vị đă thấy, mỗi dân tộc đều có một chủ đạo, cùng một biểu hiệu. Người Pháp cho rằng tổ tiên là người Gaulois, con vật tượng trưng là con gà trống. Người Anh lấy biểu hiệu là con sư-tử. Người Hoa-kỳ lấy biểu hiệu là con chim ưng. Người Trung-hoa lấy biểu hiệu là con Rồng. Người Việt lấy biểu hiệu là con Rồng và con chim Âu. Gốc biểu hiệu này lấy từ huyền sử vua Lạc-Long là loài rồng, công-chúa Âu-Cơ là loài chim.
    Người Do-thái họ tự tin rằng họ là giống dân linh, được Chúa chọn. V́ vậy, sau hai ngh́n năm mất nước, họ vẫn không bị đồng hóa. Khi tái lập quốc, với dân số bằng một phần trăm khối Ả-rập, nhưng họ vẫn đủ khả năng chống với bao cuộc tấn công để tồn tại. Đó là nhờ niềm tin họ thuộc sắc dân được Chúa chọn.
    Tôi xin nói rơ về chủ đạo của Trung-quốc và Việt-Nam. Như Quư-vị đều biết, hiện Trung-quốc, Việt-Nam đều là những nước theo chủ nghĩa Cộng-sản, đặt căn bản trên thuyết của Karl Marx, Friedrich Engels. Chủ thuyết này đến Trung-quốc, Chủ-tịch Mao Trạch Đông biến thể đi thành Maoisme. Tại Việt-Nam, người mang chủ thuyết Marx, Engels vào là Chủ-tịch Hồ Chí Minh ; ông được đào tạo tại Liên-sô, v́ vậy chủ thuyết của ông phảng phất Léninisme, pha thêm Việt-tính do ông tạo ra. Dường như hiện nay trên khắp thế giới, kể cả Liên-bang Sô-viết chỉ Việt-Nam là quốc gia duy nhất c̣n duy tŕ tượng Lénine tại một công viên lớn của Thủ-đô (Hà-nội).

    Tôi thấy Trung-quốc trở lại quá mau, quá mạnh. Con rồng Trung-quốc mà Hoàng-đế Napoléon bảo rằng hăy để nguyên cho nó ngủ. Bằng như nó thức dậy, nó sẽ làm rung chuyển thế giới. Thưa Quư-vị, con rồng Trung-quốc đă thức dậy rồi, nhưng nó chưa làm rung động thế giới!

    Ghi chú của Tăng Hồng Minh (ngày 19-8-2000, nhân đọc lại bài này)

    .

  4. #4
    Member
    Join Date
    27-09-2011
    Location
    Hà Nội -Việt Nam
    Posts
    1,669
    III Chủ đạo của Việt-Nam :

    Như trên đă tŕnh bầy, với nguồn gốc lập quốc, người Việt có niềm tin ḿnh là con của Rồng, cháu của Tiên, cho nên người Việt có một sức bảo vệ quốc gia cực mạnh. Truyền thống sang thế kỷ thứ 2 trước Tây-lịch lại thêm vào tinh thần của vua An-Dương. Sang đầu thế kỷ thứ nhất, nổ ra cuộc khởi nghĩa của một phụ nữ, và 162 anh hùng, trong đó có hơn trăm là nữ. Cuộc khởi nghĩa đuổi ngoại xâm Trung-hoa, lập lên triều đại Lĩnh-Nam. Phụ nữ đó làø vua Trưng. Nối tiếp mỗi thời đại đều có tinh thần riêng, tạo thành niềm tin vững chắc. Tộc Việt đă chiến đấu không ngừng để chống lại cuộc Nam tiến liên miên trong hai ngh́n năm của người Hoa. Bất cứ thời nào, người Việt dù bị phân hóa đến đâu, nhưng khi bị ngoại xâm, họ lập tức ngồi lại với nhau để bảo vệ quốc gia. Trong những lớp phế hưng của lịch sử Việt, hễ ai dựa theo chủ đạo tộc Việt, đều thành công trong việc giữ được quyền cai trị dân. Gần đây nhất, người Việt bị các thế lực Quốc-tế, gây ra cuộc chiến tranh tương tàn khủng khiếp (1945-1975). Nhưng nay, Việt-Nam đang trên đà phục hưng chủ đạo. Ư tôi muốn nói sự cố gắng phi thường của hơn hai triệu người Việt ở ngoài lănh thổ Việt-Nam, đă là bó đước sáng chuyển chủ đạo trở về nước ḿnh.
    Trong thời gian 1954-1975, miền Bắc theo chế độ Cộng-sản, theo chủ thuyết Quốc-tế. Nhưng họ biết khai thác cái chủ đạo của Việt-Nam, họ huy động được tinh thần yêu nước của dân tộc, nên cuối cùng họ chiến thắng.
    Cũng tiếc thay, những người cầm quyền miền Nam từ 1963-1975, không biết khai thác ḷng yêu nước của dân tộc, lại chấp nhận cho quân đội Hoa-kỳ và đồng minh nhảy vào ṿng chiến, việc này có khác ǵ quỳ gối, trao ngọn cờ chính nghĩa cho miền Bắc ? Tôi nghĩ những người lănh đạo miền Nam như ông Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm, cho đến giờ này (1992) chưa từng biết ǵ về kho tàng ḷng yêu nước của người Việt, lại cũng chưa từng nghe, từng nói đến chữ chủ đạo tộc Việt bao giờ.

    Trước họ, cố Tổng-thống Ngô Đ́nh Diệm (1954-1963), v́ biết rơ chủ đạo tộc Việt. Ngài từ chối không cho Hoa-kỳ đổ quân vào Việt Nam, mà đang là một đồng minh của Hoa-kỳ, Ngài đă trở thành kẻ thù của Hoa-kỳ, bị Hoa-kỳ giết hết sức thảm khốc.

    III. ĐI T̀M LẠI NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT :

    Năm trước đồng nghiệp của tôi đă giảng cho các bạn sinh viên hiện diện các giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, bao gồm :

    1.- Thuyết của giáo sư Léonard Aurousseau về cuộc di cư của người Ư-Việt hay Ngô-Việt sang Âu-Lạc.

    2.- Thuyết của Claude Madroll về cuộc di cư của người Mân-Việt sang Âu-Lạc.

    3.- Thuyết của học giả Đào Duy-Anh, Hồ Hữu-Tường về cuộc di cư do thời tiết của người Việt từ Bắc xuống Nam.
    Tất cả các thuyết này đều căn cứ vào những thư tịch cổ Trung-quốc, Việt-Nam. Mà những thư tịch này không có một biện chứng khoa học nào cả.
    Cuối cùng các giáo sư đồng nghiệp đă nhận định rằng : Nhờ vào khoa khảo cổ, nhờ vào hệ thống khoa học DNA, từ nay không c̣n những giả thuyết về nguồn gốc tộc Việt nữa, mà chỉ c̣n lại công cuộc nghiên cứu của tôi, rồi kết luận :

    « Thoạt kỳ thủy, trên vùng đất thuộc lănh thổ Trung-quốc, Việt-Nam hiện tại: Giống người đă từ châu Phi đến bằng hai đường. Một là đường Nam-á, đến Đông Nam-á, ngược lên vùng Hoa Nam. Hai là từ châu Phi, tới châu Âu, rồi sang Bắc Trung-quốc. Cuối cùng cả hai giống người ḥa lẫn với nhau trên lănh thổ Trung-quốc.
    C̣n trong ṿng 5000 năm trước Tây lịch cho đến nay, th́ tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải rác từ phía nam sông Trường-giang, Đông tới biển, Tây tới Tứ-xuyên, Nam tới vịnh Thái-lan. Người Việt từ Ngô-Việt di cư xuống phương Nam. Người Mân-Việt đi xuống Giao-chỉ. Người Việt di cư từ nam sông Trường-giang tránh lạnh xuống Bắc-Việt đều đúng. Đó là những cuộc di cư của tộc Việt trong lănh thổ của họ, như cuộc di cư từ Bắc vào Nam năm 1954 ; chứ không phải họ là người Trung-quốc di cư xuống Nam, lập ra nước Việt. »

    Chính v́ lư do dùng hệ thống ADN biện biệt tộc Hoa, tộc Việt, nên tôi được mời đến đây đọc bài diễn văn khai mạc niên khóa này. Sau đây tôi tŕnh bầy sơ lược về công tŕnh nghiên cứu đó. Tôi xin nhắc lại, tôi chỉ là một bác sĩ y-khoa, cho nên những nghiên cứu của tôi đặt trên lư luận thực nghiệm, cùng lư luận y-khoa, nó hơi khác với những ǵ mà các bạn đă học.

  5. #5
    Member
    Join Date
    27-09-2011
    Location
    Hà Nội -Việt Nam
    Posts
    1,669
    IV. KẾT LUẬN :

    Thưa Quư-vị

    Quư-vị đă cùng tôi đi vào những chi tiết từ huyền thoại, huyền sử, cổ sử, cùng triết học, cho tới tin học, y học để t́m về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, về biên giới cổ của tộc Việt.
    Trong chính sử Trung-quốc, Việt-Nam đều ghi rơ ràng nguồn gốc tộc Việt, nhưng cái nguồn gốc đó căn cứ vào cổ thư của người Trung-hoa, nên hoàn toàn sai lạc. Bởi cổ thư cho rằng người Trung-hoa tự sinh ra, rằng người Việt chẳng qua do những người Trung-hoa di chuyển xuống lưu ngụ. Sự thực nhờ hệ thống ADN, chúng ta biết rằng chính những người ở châu Phi đến Đông Nam-á trước, rồi di chuyển lên Hoa-Nam. Tại Hoa-Nam giống người này lại hợp với giống người từ châu Phi sang châu Âu, rồi từ châu Âu vào Trung-á, hợp với người ở Hoa-Nam mà thành tộc Hán.
    Nhưng ngược lại, do cổ thư Trung, Việt, hay do ADN, chúng ta cũng biết rất rơ biên cương nước Việt thời mới lập quốc.
    Hồi thơ ấu, tôi sống bên cạnh những nhà Nho, chỉ đọc sách chữ Hán của người Hoa, người Việt viết. Mà những sách này đều chép rằng tộc Việt gồm có trăm họ khác nhau, mang tên Bách-Việt. Những tên Âu-Việt, Lạc-Việt, Đông-Việt, Nam-Việt, Việt-Thường đều thuộc Bách-Việt cả. Cái tên trăm họ hay trăm Việt (Bách-Việt) phát xuất từ huyền thọai vua Lạc-Long sinh ra trăm con. Trăm có nghĩa là toàn thể, tất cả, chứ không hoàn toàn là con số như ta tưởng ngày nay (14).

    Các vị cổ học, học cổ sử, rồi coi lĩnh địa tộc Việt bao gồm phía Nam sông Trường-giang lấy mốc là hồ Động-đ́nh với sông Tương, núi Ngũ-lĩnh là đương nhiên. Chính hồi nhỏ, khi học tại trường Pháp, vào thời kỳ 13-14 tuổi, tôi chỉ được học vài trang ngắn ngủi về nguồn gốc tộc Việt, trong khi đó gia đ́nh cho tôi đọc mấy bộ sử dài hàng mấy chục ngh́n trang của Hoa, của Việt (Nếu dịch sang chữ Việt số trang gấp bốn, sang Pháp, Anh văn số trang gấp năm sáu). Chính tôi cũng nh́n nguồn gốc tộc Việt, lĩnh thổ tộc Việt tương tự như các nhà cổ học. Nay tôi mới chứng minh được.

    Phải chờ cho đến khi tôi ra trường (1964). Bấy giờ giáo sư Vũ Văn-Mẫu thạc-sĩ luật khoa nhờ Hoàng triều tiến-sỹ Nguyễn Sỹ-Giác sưu tầm tài liệu cổ luật. Cụ Giác học theo lối cổ, không biết những phương pháp quy nạp, tổng hợp nên giới thiệu giáo sư Mẫu với tôi. Ngay từ lần đầu gặp nhau, mà một già, một trẻ đă có hai cái nh́n khác biệt. Giáo sư Mẫu trên 50 tuổi mà lại có một cái nh́n rất trẻ, tôi mới có 25 tuổi lại có cái nh́n rất già về nguồn gốc tộc Việt. Qua cuộc trao đổi sơ khởi, bấy giờ tôi mới biết có rất nhiều truyền thuyết nói về nguồn gốc dân tộc Việt, mà các tác giả thiếu cái học sâu xa về cổ học Hoa-Việt đưa ra. V́ vậy tôi đă sưu tầm tất cả những ǵ trong thư tịch cổ, giúp giáo sư Mẫu đem viết thành tài liệu giảng dạy. Nhưng sự sưu tầm đó không đầy đủ, v́ chỉ căn cứ trên thư tịch cổ. Nay tôi mới biết có quá nhiều sai lầm, tôi xin lỗi các đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi Quư-vị.
    Hồi bấy giờ tôi sống ở Sài-g̣n, thuộc Việt-Nam cộng-ḥa đang là nước chống Cộng, nên tôi không thể sang Trung-Quốc, cũng như về Bắc t́m kiếm thêm tài liệu. Phải chờ đến năm 1976 làm việc cho CMFC, hàng năm dẫn các đồng nghiệp sang Trung-Quốc nghiên cứu, trao đổi y học, tôi mới có dịp t́m kiếm lại di tích xưa trong thư viện, trong bảo tàng viện, trên bia đá cùng miếu mạo, đền chùa và nhất là đến tại chỗ nghiên cứu. Gần đây nhờ các đồng nghiệp dùng hệ thống ADN, tôi mới biện biệt được nguồn gốc tộc Việt, biên cương thời lập quốc của tộc Việt.
    Hôm nay tôi xin kết luận với các bạn rằng :

    _ Người Trung-hoa không phải là con trời như những văn gia cổ của họ viết, dù ngày nay họ c̣n nghĩ như vậy.
    _ Họ cũng không tự sinh ra, rồi tản đi tứ phương.
    _ Không hề có việc người Trung-hoa trốn lạnh hay v́ lư do chính trị di cư xuống vùng đất hoang, tạo thành nước Việt. Trong lịch sử quả có một số người Trung-hoa di cư sang Việt-Nam sau những biến cố chính trị. Như ngày nay người Việt di cư đi sống khắp thế giới.
    _ Lại càng không có việc người Việt gốc từ ḍng giống Mă-lai như một vài người ngố ngếch đưa ra.
    _ Theo sự nghiên cứu bắng hệ thống ADN, từ cổ, giống người Trung-hoa, do giống người từ Đông Nam-á di lên. Những người Đông Nam-á lại đến từ châu Phi qua ngả Nam-á vào thời gian hơn 20.000 năm trước.
    _ Người châu Phi đến Bắc Trung-hoa do ngả Âu-châu rồi vào Trung-á, khoảng 15.000 năm. Rồi hai giống người này tạo thành tộc Hoa.
    _ Tộc Việt sống rải rác từ phía Nam sông Trường-giang, xuống măi vịnh Thái-lan.
    _ Biên giới nước Việt thủa lập quốc gồm từ Nam sông Trường giang đến vịnh Thái-lan, Đông tới biển. Tây tới Tứ-xuyên của Trung-quốc ngày nay.

    Đến đây tôi xin phép các vị giáo sư, quư khách, các sinh viên cho tôi ngừng lời. Xin hẹn lại quư vị đến tháng 11-92 tôi sẽ tŕnh bày trước qúy vị về nguồn gốc triết Việt.

    Trân trọng kính chào quư vị.
    Giáo-sư Trần Đại-Sỹ,

  6. #6
    Member
    Join Date
    27-09-2011
    Location
    Hà Nội -Việt Nam
    Posts
    1,669

    Anh Hùng Bắc Cương- Hồi 1 : Phật tính, Ma tính






    Anh Hùng Bắc Cương

    Hồi 1

    Phật tính, Ma tính -

    Nhật-Hồ lăo nhân hướng Minh-Thiên chắp tay:
    - Đại sư! Năm nay lăo phu đúng một trăm tuổi. Không biết đại sư niên kỷ đă bao nhiêu?
    Minh-Thiên đáp lễ:
    - So về tuổi tác, khi tiên sinh thành danh, cùng với Đông-Nhật lăo nhân lập lên nhà Hán, lúc ấy tiểu tăng chưa ra đời. Năm nay tiểu tăng sáu mươi tuổi.
    Minh-Thiên lại vái liền hai vái:
    - Tiểu tăng nghĩ niên kỷ, đức độ đă kém, đâu dám so với tiên sinh? Nhưng v́ có lệnh của B́nh-Nam vương, tiểu tăng đành cam thất lễ.
    Nhật-Hồ lăo nhân vui vẻ:
    - Lăo phu vắng bóng trên giang hồ hơn hai chục năm nay, bây giờ mới xử dụng lại vơ công, không biết có chịu nổi mười chiêu của cao tăng đắc đạo không. Nhưng v́ thể diện đất nước, lăo phu đâu dám sợ nguy hiểm. Hôm nay, lăo phu là chủ, đại sư là khách, lăo phu xin nhường đại sư ra chiêu trước.
    Tự-Mai nói nhỏ với Tôn Đản:
    - Lăo này thực đáng sợ. Cứ nghe lời nói cùng hành xử của lăo, rơ ra đại tôn sư vơ nghệ, đạo cao đức trọng. Có ai dám ngờ lăo là một đại ma đầu, giết người không gớm tay. Kể cả Trung-quốc, Đại-Việt, số người mà Hồng-thiết giáo của lăo giết, thây chất ắt cao hơn mấy chục ngọn Hoàng-liên sơn.
    Trần Kiệt gật đầu:
    - Suốt cuộc đời lăo, lúc nào lăo cũng ngọt ngào, từ ái, khoan thai. Kể cả lúc lăo xử tử người ta, lăo cũng nhỏ nhẹ như vậy. Thành ra nhiều người lầm lẫn, chết v́ cái ngọt của lăo.
    Quảng trường im lặng đến không một tiếng động. V́ vơ lâm đều muốn nghe, muốn kiến thức đại tôn sư của hai nước giao đấu.
    Minh-Thiên biết, với thân phận của Nhật-Hồ, lăo không thể xuất chiêu trước. Ông chắp tay:
    - Xin thất lễ.
    Tay phải nắm thành quyền. Tay trái x̣e thành chưởng. Ông quay tṛn đẩy về trước một chưởng. Chưởng chưa phát ra hết, mà mọi người trên đài muốn nghẹt thở.
    Nhật-Hồ lăo nhân khum tay như ưng vồ mồi, đẩy về trước một chưởng. Ầm một tiếng. Cả hai lảo đảo lui lại. Đại tôn sư của bang Hồng-hà Sử Canh. Bang Đông-hải Hùng Cơ. Phái Phật-thệ Chế Ma Thanh. Phái Vạn-tượng Phủ Văn. Phái Cửu-long Kim Sinh, v́ công lực kém, phải nhảy xuống đài, để tránh áp lực làm bị thương.
    Nhật-Hồ cất tiếng khen:
    - Kim-cương ban nhược chưởng của phái Thiếu-lâm quả danh bất hư truyền.
    Qua một chiêu đầu Minh-Thiên cảm thấy công lực của Nhật-Hồ thực khủng khiếp. Trong nhu có cương, trong cương có nhu. Trong chính có tà. Trong tà có chính. Bảo rằng tinh diệu cũng thực tinh diệu. Bảo rằng dũng mănh cũng thực dũng mănh. Trong tâm ông kinh hăi:
    - Trước đây Đông-Nhật lăo nhân Lưu Trí-Viễn, đơn chưởng qui tụ đệ tử lập ra nhà Hán, vang bóng một thời. Anh hùng Trung-Quốc không ai địch nổi. Thế mà lăo già này lại là sư phụ của Trí-Viễn, quả thực lăo không tầm thường.
    Minh-Thiên tấn công liền bảy chiêu. Mỗi chiêu biến thành bẩy nữa hoá ra bốn mươi chín chiêu. Đây là một tuyệt kỹ đệ nhất của phái Thiếu-lâm, Minh-Thiên thắng khắp anh hùng thiên hạ nhờ chiêu này. Mỗi chiêu đánh ra, chưởng phong cực kỳ trầm trọng.
    Nhật-Hồ lăo nhân từng giao đấu với đủ hạng người Hoa, Việt. Tuy chưa biết chiêu chưởng này. Nhưng lăo chỉ đỡ chiêu đầu đă hiểu được nguyên lư. Lập tức lăo không đỡ nữa, mà phát ra bẩy chiêu cực kỳ thô kệch. Cứ mỗi chiêu lăo phát ra, chạm vào chưởng phong của Minh-Thiên, lại bật lên tiếng ầm. Minh-Thiên phải lui một bước.
    Khi hết bẩy chiêu, Nhật-Hồ quay tṛn người, chưởng phong hai tay lăo hóa ra thành đồng vách sắt. Minh-Thiên ngơ ngác, v́ trên đời ông chưa từng thấy thứ vơ công này bao giờ. Nhật-Hồ vừa quay tṛn, vừa tiến lại, bất đắc dĩ ông phải đẩy một chiêu Kim-cương ban nhược chưởng vào người lăo. Nhưng chưởng vừa ra, lập tức ḱnh phong của ông, hợp với ḱnh phong của lăo hoá thành lớp chân khí mới đẩy ngược lại ông. Kinh hoàng ông vội thu chân khí lại, lăo đă sát người ông. Ông phi thân lên cao, tránh thế tấn công kỳ quái. Ở trên cao, ông đá gió một cái, người rơi xuống giữa đài.
    Dưới dài, Thanh-Mai hỏi Đỗ Lệ-Thanh:
    - Đỗ phu nhân, vơ công này phải chăng nằm trong Hồng-thiết kinh?
    Đỗ Lệ-Thanh gật đầu:
    - Thưa cô nương đúng thế. Chiêu vừa rồi gọi là Cuồng phong đại tuyết. Nguyên bên xứ Tây-vực, hàng năm tuyết rơi đến năm tháng. Khi tuyết rơi, gặp gió, thường biến thành lốc tuyết. Nếu Minh-Thiên đánh thẳng vào đó, sẽ bị khí hàn lănh nhập cơ thể, chân tay tê liệt mà mất mạng. Chiêu này gồm năm biến. Nhật-Hồ mới xử dụng có bốn biến.
    Trên đài Minh-Thiên đă phản công. Kim-cương ban nhược chưởng lấy yếu chỉ trong kinh Kim-cương thuộc Vô-nhân tướng thiền công. Nguyên Thiền-công nhà Phật có ba lọai gồm Vô-nhân tướng, Vô-ngă tướng, Vô-chúng sinh tướng. Cả ba hợp lại thành Vô-ngă tướng.
    Khi xưa đức Thích-ca Mâu-ni, khi ngồi dưới gốc cây Bồ-đề t́m lẽ giải thoát, có không biết muôn vàn ma vương, quỷ dữ mà ngài mắc nợ với chúng từ bao kiếp trước kéo đến đ̣i nợ. Ngài đă t́m ra phép Thiền, để giải những nghiệp dĩ đó, rồi đi tới vô thượng chính đẳng chính giác tức đắc đạo. Sau ngài truyền cho đệ tử là Ma-ha Ca-Diếp. Từ Ma-ha Ca-diếp, truyền đến đời thứ tám là ngài Tăng-Giả Nan-Đà.
    Ngài Tăng-giả Nan-Đà đến Lĩnh-Nam hoằng dương đạo pháp, truyền cho công chúa Trần Năng, Phật-Nguyệt và Trần Thị Phương-Chi trong khi bốn bà đang dự trận hồ Động-Đ́nh. Từ sau trận đánh Hằng-sơn, Phật-Nguyệt với Trần Thị Phương-Chi bỏ đi tu rồi tuyệt tích. C̣n Trần Năng, khi Bắc-b́nh vương Đào Kỳ với vương phi Phương-Dung tuẫn quốc, bà cùng Hùng Bảo bỏ vào Cửu-chân kháng chiến. Lúc thế nước tuyệt vọng. Bà đem khắc hết Vô-ngă tướng thiền công vào trong động Xuân-đài, về sau Bố-cái Đại-vương học được. Nay Khai-Quốc vương với Tự-Mai vô t́nh t́m ra, luyện nhưng chưa thành tựu.
    Thiền-công Vô-ngă tướng c̣n chép trong bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, mà Mỹ-Linh đă luyện thành.
    Hai loại thiền công này vẫn tồn tại. Trong khi tại Tây-trúc đă tuyệt tích. Kể từ Phật Thích-ca, đến đời thứ hai mươi tám bên Tây-trúc, ngài Bồ-đề Đạt-ma cỡi thuyền đến Lĩnh-Nam truyền đạo. Ngài Bồ-đề Đạt-Ma lại chỉ học được loại thiền công Vô-nhân tướng. Sau khi ở Lĩnh-Nam ít lâu, ngài sang Trung-nguyên, lập ra phái Thiếu-lâm. Cho nên yếu chỉ thiền công mà Minh-Thiên dùng tức Vô-nhân tướng công. Về sau tổ thứ ba của phái Thiếu-lâm tên Tăng-Sán, đă nhân luyện thiền, rút yếu chỉ trong kinh Kim-cương, chế ra ba mươi sáu chiêu Kim-cương ban nhược chưởng.
    Cứ b́nh tâm mà xét, bất cứ cao thủ của phái nào, dù cao đến đâu, cũng không thể đấu với Nhật-Hồ lăo nhân. Bởi v́ lăo thành một thiên tài vơ học. Hơn nữa lăo đă có một trăm năm công lực. Vơ công của lăo vốn rút từ Hồng-thiết kinh, một kinh của tà ma bên Tây-thiên. Với công lực đó, từ mấy chục năm nay, không ai đỡ nổi của lăo mười chiêu. Trước đây, chỉ có Vạn-Hạnh thiền sư đấu ngang tay được với lăo mà thôi. Nay thêm Minh-Thiên chịu được mấy chục chiêu, đă tạo một kỳ tích. V́ Thiền-công của ông thuộc Phật gia, có thừa tính chất hoá giải bất cứ ma nghiệp, ma công nào. Cho nên mỗi chiêu Nhật-Hồ đánh ra, đều bị Kim-cương chưởng hoá giải hết.
    Những cao thủ nh́n cuộc đấu, đều nhận thấy công lực, chiêu số của Nhật-Hồ tinh diệu, hùng mạnh hơn Minh-Thiên nhiều. Mỗi chiêu lăo đánh ra như núi lở, như thành nghiêng, nhưng chạm vào chưởng Minh-Thiên, lại biến mất.
    Đấu được hơn trăm hiệp, th́nh ĺnh Nhật-Hồ lăo nhân đánh ra một chiêu rất hung hiểm. Đám cao thủ phái Tản-viên la lớn:
    - Ác ngưu nan độ.
    B́nh một tiếng. Minh-Thiên bật lui liền ba bước, mặt đỏ gay. Trong khi Nhật-Hồ lăo nhân thản nhiên như không. Thấy thành công, lăo tỉnh ngộ, phát chiêu nữa đến vù một cái. Minh-Thiên nghiến răng đỡ. Ầm một tiếng, ông bật lui liền ba bước, người lảo đảo.
    Đám đệ tử phái Mê-linh lại kêu lên:
    - Thiết ḱnh phi chưởng.
    Nguyên Nhật-Hồ lăo nhân có rất nhiều giáo chúng thuộc đủ mọi môn phái qui phục. Trong khi đàm luận, lăo học được một số chiêu thức vơ công Đại-Việt. Bây giờ vô t́nh lăo đem xử dụng lại thắng thế.
    Lăo nghĩ thầm:
    - Chưởng của ḿnh do hai vị thánh Mă-Mặc, Lệ-Anh chế ra không thể thắng nổi Kim-cương ban-nhược chưởng của bọn tà ma Phật từ Tây-trúc truyền qua. Trong khi chưởng của Lĩnh-Nam, lại thắng dễ dàng là tại sao? À phải rồi, tất cả vơ công cổ của Lĩnh-Nam đều do ḷng tin vào thần quyền nhảm nhí tức một loại tà ma. Ta xử dụng mà đắc thế chẳng qua lấy tà chọi tà.
    Nhật-Hồ lăo nhân theo Hồng-thiết giáo từ nhỏ. Lăo tin tưởng tuyệt đối vào tôn giáo của ḿnh. Mà quan niệm của Hồng-thiết giáo, tất cả tôn giáo khác đều thuộc tà ma ngoại đạo, phải giết hết. Ai càng giết nhiều giáo chúng ngoài Hồng-thiết giáo, khi chết về với thế giới Mă-Mặc, Lệ-Anh sẽ càng mau trở thành thần, thành thánh. Lăo u mê như vậy, nên lăo giết người lại coi như một nhiệm vụ.
    Hôm nay, lăo thấy vơ công Hồng-thiết của ḿnh rơ ràng cực kỳ cao thâm. Cực kỳ tinh diệu, lại không thắng nổi Kim-cương ban-nhược chưởng. Trong khi lăo chỉ dùng mấy chiêu tạp nhạp của Đại-Việt lại thắng Minh-Thiên dễ dàng. Lăo quy vào Hồng-thiết là vơ công Thánh không thể thắng vơ công nhà Phật, một thứ vơ công tà ma. Phải dùng vơ công Lĩnh-Nam, cũng một thứ tà ma mới thành công. Tức dĩ độc, trị độc.
    Lăo tiếp tục phát những chiêu thức lẻ tẻ của các phái, bằng công lực cực kỳ cao thâm. Đến chiêu thứ mười, Minh-Thiên bay tung xuống đài. Ông oẹ một tiếng, miệng phun ra máu. Ông nghiến răng, ngồi dậy, điều tức, mửa ra một búng máu nữa. Là cao tăng đắc đạo, thắng bại đối với ông không quan trọng. Ông khoan thai lên đài chắp tay:
    - Lăo nhân! Bần tăng chịu thua lăo nhân.
    Nói rồi ông định bước xuống đài. Bỗng thấp thoáng, một người từ dưới đài nhảy lên, chính là Thiếu-Mai. Nàng móc trong bọc một b́nh thuốc, đổ ra bốn viên, hai tay dâng lên cho Minh-Thiên:
    - Đại sư! Tiểu nữ xin cúng dàng bốn viên thuốc này. Đại sư dùng ngay đi, e không bị nội thương nặng.
    Minh-Thiên cầm lấy mấy viên thuốc bỏ vào miệng. Ông chắp tay tạ Thiếu-Mai:
    - Đa tạ tiểu cô nương.
    Ông xuống đài, tư thái nhẹ nhàng, tựa như không thiết tha đến sự thua được vừa rồi. Qua cuộc đấu, rơ ràng ông chiến đấu v́ Tống, có hại cho Đại-Việt. Nhưng tư thái đạo mạo, thanh thản của một cao tăng đắc đạo đă khuất phục quần hùng.
    Sư thái Tịnh-Tuệ hướng vào Triệu Thành:
    - Triệu thí chủ. Khi thí chủ nhận cho hai bên Tống, Việt đấu ba trận. Nếu bên Việt thắng hai, sứ đoàn phải quỳ gối làm lễ đủ tám lễ trước bàn thờ anh hùng đất Việt. Sau nữa không được bàn đến việc niên hiệu, quốc danh nữa. Nay Đại-Việt thắng, xin các vị giữ lời hứa cho.
    Mặt Triệu Thành xám như tro. Y vẫy tay gọi thủ hạ lên đài. Trần Tự-An, Đoàn Huy thắp hương trao cho sứ đoàn. Triệu Thành cùng cả bọn quỳ gối lễ đủ tám lễ. Lễ xong y nói:
    - Khi xưa ngài Đào Kỳ được vua Quang-Vũ nhà Hán phong tước Hán-trung vương. Nay tại hạ được phong B́nh-Nam vương, thuộc hàng con cháu. Hán-trung vương làm đại công thần nhà Hán. Tại hạ lễ trước bàn thờ ngài để tỏ ḷng hiếu kính bậc tiền bối. Hy vọng sau này đất Giao-chỉ sẽ c̣n nhiều anh hùng v́ Trung-quốc ra sức, để tiếp nối sự nghiệp của Hán-trung vương.
    Sư thái Tịnh-Huyền nói:
    - Bần ni nhân danh vơ lâm Đại-Việt kính mời các vị ở lại thụ lộc, uống chén rượu nhạt. Không biết các vị có nhận cho không?
    Triệu Thành lắc đầu. Y nói với Nhật-Hồ:
    - Tiên sinh! Văn bối xin phép tiên sinh được nói mấy câu với Nam-b́nh vương Lư Công-Uẩn.
    Nhật-Hồ lăo nhân gật đầu:
    - Dĩ nhiên được. Triệu đại hiệp không thể nhân đanh B́nh-Nam vương ra lệnh cho vơ lâm Đại-Việt. Nhưng vẫn có thể nhân danh sứ thần triều Tống, nói với Đại-Việt hoàng đế.
    Triệu Thành vận khí vào đơn điền nói lớn:
    - Nam-B́nh vương gia. Khi vua Thái-tông bản triều c̣n tại thế, người hằng băn khoăn về đất Giao-chỉ này, nơi rồng nằm hổ phục. Niên hiệu Thiên-phúc thứ nh́ (981), thiên triều nghe lời sàm tấu của bọn biên thần, sai Hầu Nhân-Bảo, Tôn Toàn-Hưng, Quách Quân-Biện mang quân sang đánh Giao-chỉ. V́ vậy mới xẩy ra trận Bạch-đằng, Chi-lăng. Sau người cho điều tra, biết rằng bị sàm tấu, đă ra lệnh chém bọn chúng, rồi sắc phong cho Lê Hoàn làm Giao-chỉ quận vương. Suốt bao năm, Lê Hoàn trấn phương Nam, làm cho dân chúng ấm no, giặc cướp không c̣n. Hàng năm sai sứ sang triều kiến, lễ số không thiếu. V́ vậy tiên hoàng không ngớt lời khen y, gia phong chức tước.
    Ngừng lại một lúc, y tiếp:
    - Công đức của Lê Hoàn khiến tiên hoàng dự định cải Giao-chỉ thành nước An-Nam. Đến đời Chân-tông niên hiệu Cảnh-đức thứ nh́ (1005) giữa lúc triều đ́nh định sai sứ sang sách phong, th́ Lê-Hoàn chết. Sau đó các con tranh nhau. Cuối cùng Ngoạ-triều lên nối ngôi, tàn ác quá đáng, nên Thiên-triều không thể phong cho làm vua một nước.
    Y hắng rặng một tiếng, rồi tiếp:
    - Long-Đĩnh chết. Bấy giờ vương gia đang làm Tả-thân vệ điện tiền chỉ huy sứ, tự lên kế ngôi thay Long-Đĩnh. Thiên-triều nhiều lần sai sứ sang dục vương gia t́m con cháu nhà Lê tái lập chính thống. Nhưng vương gia đều thượng biểu rằng con cháu nhà Lê không c̣n ai. Thiên triều cũng tin vậy, phong cho vương gia tước Nam-B́nh vương, tạm quyền trị nước. Thế mà vương gia tiếm xưng đế hiệu Thuận-Thiên, quốc hiệu Đại-Việt. Như vậy thực quá lắm.
    Y chỉ vào Hồng-Sơn đại phu:
    - Năm trước đây, Thiên-Thánh hoàng-đế cử tiểu vương đi sứ, mục đích t́m con cháu nhà Lê. Hay đâu trời không phụ ḷng người, tiểu vương t́m được Nam-Quốc vương Lê Long-Mang, chính là nhân vật kỳ vĩ, vơ công vô địch thiên hạ, ơn đức trải khắp Hoa-Việt. Tiểu vương về tâu lại, ắt hẳn Thiên-triều sẽ phong cho Nam-Quốc vương làm hoàng đế, quốc hiệu vẫn c̣n tên Đại-Việt. Niên hiệu tùy Nam-Quốc vương chọn.
    Y ngừng lại nghỉ để thở mấy hơi rồi tiếp:
    - Vậy tiểu vương nghĩ Nam-B́nh vương nên trả ngôi chính thống cho họ Lê. Vạn nhất vương không trả, cái ǵ sẽ xẩy ra? Vơ lâm Giao-chỉ sẽ nổi dậy chống vương. Phái Sài-sơn dĩ nhiên chống vương. Phái Đông-a đă hai đời thân Lê. Đương kim Thiên-trường ngũ kiệt vốn bạn cũ của Hồng-Sơn đại phu, ắt phái Đông-a thành đạo quân chính kéo về Thăng-long. Chiêm-thành, Chân-lap, Lăo-qua sẽ đem quân vào. Đại quân Thiên-triều ở hai lộ Quảng hơn trăm vạn vượt biên tiến sang. Như vậy liệu vương gia có giữ nổi không? Việc đó tùy vương gia xử trí.
    Triệu Thành để ư, thấy Hồng-Sơn đại phu có vẻ rửng rưng với lời nói của y. Y chửi thầm:
    - Thằng Lê Long-Mang này kiến thức không tầm thường, lại thêm con vợ đẹp như tiên của nó luôn công kích Thiên-triều. Có khi y đổi ư kiến cũng nên. Đă vậy ta bốc lăo già hiếu danh Nhật-Hồ lên cho bọn Nam-man đánh nhau chơi, có như thế ta mới tiến quân sang được.
    Nghĩ vậy y cúi đầu trước bàn thờ lễ tám lễ rồi tiếp:
    - Thưa các vị anh hùng con cháu Bắc-b́nh vương. Qua ba trận đấu vừa rồi, tiểu vương thấy vơ công Giao-chỉ thịnh hơn bao giờ hết. Giao-chỉ xứng đáng thành Đại-Việt. Người cai trị Đại-Việt không phải quận vương, mà phải thành hoàng đế. Đại-Việt hoàng đế chỉ có thể là Nam-Quốc vương. Nếu v́ lư do nào đó, các vị không tin tưởng vào Nam-Quốc vương, phải cử lấy một vị đại tôn sư vơ lâm lên thay. Thiên-triều cũng sẽ phong làm Đại-Việt hoàng đế, và tránh khỏi chiến tranh. Thôi, tiểu vương xin lui. Sau hai ngày nữa, tiểu vương sẽ đến Cổ-loa xem duyệt binh, chờ kết quả quyết định của Nam-B́nh vương cùng các vị tôn sư vơ lâm.
    Nói rồi y định xuống đài, thấp thoáng bóng xanh, Thanh-Mai nhảy lên, đứng cạnh y. Y giật ḿnh lùi lại, miệng lắp bắp:
    - Trần cô nương. Từ Thiên-trường cách biệt, cô nương vẫn mạnh chứ?
    Miệng nói, mà tim y đập rộn ràng. Dưới ánh nắng hè, da mặt Thanh-Mai hồng hào, tươi đẹp như một bông hoa lan mới nở, đang khoe sắc. Quần hùng thấy thế khinh thân của nàng vừa mau, vừa nhẹ, tỏ ra nội công thâm hậu vô cùng. Khi nh́n rơ thấy vẻ đẹp sắc sảo của nàng, giới trẻ bật lên những tiếng suưt xoa. Thanh-Mai chắp tay thi lễ:
    - Tiểu nữ Trần Thanh-Mai, đệ tử phái Sài-sơn, xin kính cẩn ra mắt Triệu vương gia.
    Triệu Thành kinh ngạc:
    - Trần cô nương! Rơ ràng cô nương thuộc phái Đông-a, hơn nữa là ái nữ của vị chưởng môn danh trấn thiên hạ, cớ sao lại xưng làm đệ tử phái Sài-sơn?
    Thanh-Mai cười rất tươi:
    - Dĩ nhiên, gia nghiêm làm chưởng môn phái Đông-a. Nhưng tiểu nữ được Hồng-Sơn đại phu ưu ái thu làm đệ tử. Không những thu làm đệ tử, mà được coi như ái đồ của người. Vương gia có biết tại sao không? Trong mười đại đệ tử của người, tiểu nữ vốn nhỏ tuổi nhất, v́ vậy cũng được sư phụ cưng chiều.
    Triệu Thành thấy Thanh-Mai lên đài, y biết thế nào cô gái xinh đep cũng gây sự với ḿnh chứ không sai.
    Last edited by Hắc Y Hiệp Nữ; 07-11-2011 at 07:06 AM.

  7. #7
    Member
    Join Date
    27-09-2011
    Location
    Hà Nội -Việt Nam
    Posts
    1,669
    Y hỏi:


    - Không biết cô nương có điều chi dạy bảo? Kể từ ngày gặp gỡ cô nương lần đầu, tại hạ thấy không gian như thu hẹp lại, trăm hoa kém tươi. Tại hạ những tưởng về Trung-nguyên, cử mai mối, đem xe vàng đón cô nương làm vương phi. Thế nhưng... thế nhưng cô nương cứ theo làm khó dễ tại hạ hoài, đạo lư ở chỗ nào?


    Thanh-Mai dơng dạc nói:


    - Triệu vương gia ơi, tiểu nữ không hề làm khó dễ vương gia. B́nh tâm mà xét, trong thiên hạ, vương gia chỉ ngồi dưới có Thiên-Thánh hoàng-đế, mà ngồi trên trăm triệu người, uy quyền biết mấy. Vơ công kiến thức vương gia lại xuất chúng. Đương nhiên vương gia trở thành nguồn ước mơ của các thiếu nữ thiên hạ. Khi vương gia mới gặp tiểu nữ. Vương gia đă tỏ ư cầu thân. Tiểu nữ có phải gỗ đâu mà không cảm động?


    Nàng ngừng lại chỉ vào Hồng-Sơn đại phu:


    - Huống hồ cứ như lời vương gia nói, vương gia sang đây mục đích v́ sư phụ của tiểu nữ, hưng diệt, kế tuyệt. Vương gia đă đến Vạn-thảo sơn trang cùng Thiên-trường tặng lễ vật lớn cho sư phụ cùng gia nghiêm tiểu nữ. Với bằng ấy lư do, đời nào tiểu nữ dám vô phép với vương gia, mà vương gia bảo rằng tiểu nữ làm khó dễ?


    Nàng đưa mắt nh́n Đoàn Huy, rồi tiếp:


    - Có điều tiểu nữ sinh làm gái Việt. Vương gia ơi, gái Trung-quốc lấy chồng, chỉ biết có chồng. Chồng là nhất. Nhưng gái Việt lại khác. Gái Việt yêu nước hơn yêu chồng. Chồng đứng thứ tư, sau nước, sau sư phụ, và sau song thân.


    Cả quảng trường vỗ tay vang dội, hết tràng này đến tràng khác.


    Người người tán tụng:


    - Đệ tử danh gia có khác. Nói năng đúng đạo lư. Hành xử đâu ra đấy.


    - Truyện! Một kiến thức của ông bố đă làm nghiêng thiên hạ rồi. Huống hồ thêm kiến thức của Hồng-Sơn đại phu!


    - Người ta đồn nàng là một trong Thuận-Thiên cửu hùng th́ phải. Em kết nghĩa của Khai-Quốc vương. Nghe đâu Thuận-Thiên hoàng đế định phong làm Vương phi Khai-Quốc vương đấy.


    - Nếu hoàng-cung có một Vương-phi như vậy thực phúc đức quá. Nghe đâu phen này Hồng-Sơn đại phu được Thiên-trường đại hiệp hỗ trợ về đ̣i lại ngôi vua. Thế không biết nàng theo sư phụ với bố hay theo nghĩa huynh.


    - Chắc theo sư phụ. Nàng vừa nói: Gái Việt coi trọng nhất nước thứ đến sư phụ. Chồng đứng thứ tư kia mà.


    - Cứ chờ xem!


    Thanh-Mai đợi cho tiếng vỗ tay ngưng, nàng tiếp:


    - Suốt hơn năm qua, mỗi bước chân đi của vương gia, tiểu nữ hằng theo dơi. V́ vậy, hôm nay vương gia tới đây, ngỏ lời với anh hùng về ngôi chính thống của Đại-Việt, tiểu nữ bắt buộc phải lên tiếng.


    Triệu Thành kinh hoảng:


    - Con nhỏ này kiến thức thực bao la, trí mưu không thua ai. Ḿnh không cẩn thận e nguy với nó. Bất cứ nó nói ǵ, ta cứ chối biến là xong.


    Y làm ra vẻ đa t́nh:


    - Tại hạ xin rửa tai nghe lời vàng ngọc của cô nương.


    Thanh-Mai mỉm cười chỉ vào bọn Triệu Anh:


    - Ngày mười tư tháng hai năm trước, tiểu nữ theo bổn sư vào Thanh-hoá dự lễ Lệ-Hải bà vương. Trên đường đi tiểu nữ gặp Tung-sơn tan kiệt cùng Quách Quỳ. Các vị ỷ lớn hiếp nhỏ, toan giết một thiếu niên thôn dă. Rồi đêm đến vào đập phá đền thờ Tương-Liệt đại vương.


    Nàng vẫy tay, Tôn Đản từ dưới đài bước lên. Nó thuật tỷ mỉ cuộc đấu vơ giữa nó với Quách Quỳ, sau đó bọn Triệu Thành đột nhập đền thờ Nguyễn Thành-Công phá tượng t́m di thư như thế nào một lựơt, không bỏ một chi tiết nhỏ.


    Triệu Thành biết không chối được. Y tự biện lư:


    - Việc đó do Tung-sơn tam kiệt tự tác. Bản nhân đă nộp vàng tại trấn Thanh-hóa theo luật Giao-chỉ để chuộc tội rồi.


    Quần hào đồng lên tiếng nguyền rủa. Thanh-Mai đợi cho tiếng nguyền rủa của dứt. Nàng tiếp:


    - Lần đầu tiên tiểu nữ gặp Vương-gia trên núi Chung-chinh, vào ngày hôm sau, tức rằm tháng hai năm trước. Vương gia cùng với tất cả các vị tùy ṭng đây không ngớt xỉ mạ vơ công Đại-Việt là thứ vơ công học lóm của Trung-quốc. Vương gia không hề nói đến việc t́m con cháu nhà Lê. Vương gia dụ dỗ bọn thiếu niên để chúng chỉ động Xuân-đài t́m nơi cất vơ công thời Lĩnh-Nam. Trong đêm đó, vương gia dùng độc chất của Hồng-thiết giáo Trung-quốc, mưu hại đại ca của tại hạ, nhưng không thành.
    Last edited by Hắc Y Hiệp Nữ; 07-11-2011 at 07:07 AM.

  8. #8
    Member
    Join Date
    27-09-2011
    Location
    Hà Nội -Việt Nam
    Posts
    1,669
    Nàng vẫy tay, Tôn Trung-Luận lên đài:


    - Vị tiền bối này bấy giờ đang làm ông từ giữ đền Tương-Liệt đại vương làm chứng. Ngày mười bẩy tháng hai, Vương gia cùng sứ đoàn đến lục xét đền thờ Tương-Liệt đại vương lần nữa, bắt trói ông từ tra khảo nơi cất vơ kinh.


    Tôn Trung-Luận tường thuật tỷ mỷ những việc xẩy ra hồi ấy. Nhưng ông cố ư lờ vụ anh em Đàm Toái-Trạng, Đàm An-Hoà phản quốc làm gian tế cho Tống, v́ Khu-mật viện muốn việc bọn họ Đàm phản quốc chưa đến lúc công bố.


    Nàng hướng vào công chúa Lĩnh-Nam Bảo-quốc Hoà-dân, đang ngồi trên ghế của vua Bà Bắc-biên:


    - Ngày hai mươi mốt tháng hai, trong lúc chúng tôi tế Lệ-Hải Bà-vương, Đông-Sơn lăo nhân, Địch Thanh, Lư Tự xuất hiện, mưu giết công chúa B́nh-Dương, cùng phá đại hội. Giữa lúc đó vua Bà Bắc-biên xuất hiện, kể tội trạng nguyên Địch Thanh ăn trộm vàng của công khố Đại-Việt.


    Công-chúa Lĩnh-Nam Bảo-Ḥa đứng lên kể chi tiết vụ Lư Tự toan giết Mỹ-Linh cùng việc bọn Đông-Sơn lăo nhân, Địch Thanh xâm nhập Bắc-biên dụ dỗ các khê động theo Tống, ăn cắp vàng của công khố Đại-Việt. Sau đó âm thầm đi Thiên-trường, rồi vào Thanh-hoá.


    Đợi công chúa Lĩnh-Nam Bảo-Ḥa kể xong, Thanh-Mai thuật chi tiết bọn Tung-sơn tam kiệt cùng với Vệ-vương Đinh Toàn t́m hầm đá, chép bộ Linh-Nam vũ kinh vào cuốn sử của Mỹ-Linh. Sau đó hủy những tấm bia kia đi.


    Thanh-Mai thuật đến đây, quảng trường ồn ào hẳn lên bàn tán. Quần hùng căm phẫn sứ đoàn đến cùng tận.


    Nguyên từ khi thành lập nước Việt cho đến thời Lư, chưa bao giờ vơ học lại phồn thịnh như thời Lĩnh-Nam. Sau khi vua Trưng tuẫn quốc, các phái phải qui ẩn, bí mật thu dụng đệ tử. V́ vậy trải hơn ngh́n năm Bắc thuộc, vơ công bị mai một đi rất nhiều. Cho đến khi vua Ngô lập lại tự chủ, các gia, các phái mới hoạt động trở lại. Nhưng vơ học thời Lĩnh-Nam, mười phần, thất lạc đến tám chín. Các đại tôn sư chỉ biết than ngắn thở dài. Trong gần một trăm năm qua, vơ lâm Trung-quốc, Đại-Việt, Đại-lư, Chiêm-thành, Lăo-qua thi nhau t́m di tích bộ Lĩnh-Nam vơ kinh, nhưng tuyệt vô âm tín. Người ta cho rằng, ai t́m thấy bộ vơ kinh đó, sẽ trở thành anh hùng vô địch, vơ lâm đại đế.


    Bây giờ họ nghe Thanh-Mai nói bọn Triệu Thành được Vệ-vương Đinh Toàn chỉ cho chỗ cất dấu di thư. Sau khi chép xong, bọn y phá hủy bia đá đi. Quần hùng thấy rằng, muốn t́m lại vơ thuật thời Lĩnh-Nam, phải tranh dành với sứ đoàn Triệu Thành. Nhưng phái nào cũng cảm thấy e dè, v́ bọn Triệu-Thành tuy ít người, nhưng gồm toàn những đại đao thủ. V́ vậy không ai muốn ra mặt gây hấn. Họ im lặng, t́m kế vạn toàn.


    Thanh-Mai thuật tiếp việc bọn Tung-sơn tam kiệt bắt nàng cùng Mỹ-Linh, Bảo-Ḥa đi Vạn-hoa sơn trang, Vạn-thảo sơn trang. Cùng những việc xẩy ra trong Vạn-thảo sơn trang. Nàng kết luận:


    - Cho đến lúc này, vương gia mới biết sư phụ của tôi là Nam-quốc vương. Vương gia không ngần ngại ǵ ném Vệ-vương Đinh Toàn vào hồ nước. Tại sao? V́ Vệ-vương thân cô, thế cô, vơ công lại không cao. Trong khi sư phụ tôi vơ công vô địch thiên hạ. Ơn đức trải khắp lê dân. Thế mà vương gia bảo Thiên-Thánh hoàng-đế cử vương gia sang Đại-Việt hưng diệt, kế tuyệt, t́m con cháu nhà Lê! Ai mà tin được. Tôi xin mời một nhân vật tối ư quan trọng lên làm chứng. Nhân chứng ấy chính là sư mẫu tôi.


    Từ chỗ phái Sài-sơn, một thiếu phụ, cực kỳ xinh đẹp trong lớp áo lụa đỏ, quần đen, dây lưng xanh, cổ choàng khăn xanh, khoan thai lên đài. Dưới ánh nắng chói chang, nước da trắng hồng, mái tóc đen nhánh óng ánh. Mỗi bước đi của nàng như muôn ngàn bông hoa trổ sắc. Người đó chính là Lâm Huệ-Phương. Quảng trường có hàng mấy vạn người, mà không một tiếng động. Muôn con mắt đều đổ vào Huệ-Phương. Không ai có thể ngờ, tạo hoá lại nặn ra con người đẹp đến như vậy.


    Huệ-Phương lên đài, hướng vào bàn thờ Bắc-b́nh vương lễ tám lễ, rồi nàng tường thuật chi tiết việc Triệu Thành tới Vạn-thảo sơn trang thuyết phục Hồng-Sơn đại phu khởi binh cũng như thái độ trở mặt của Triệu Thành với Đinh Toàn. Huệ-Phương đă xinh đẹp, tiếng nói lại ngọt ngào, ai nghe cũng phải xiêu ḷng.


    Trước đây Thuận-Thiên hoàng-đế cùng ba vị hoàng hậu, tốn không biết bao nhiêu công phu mới tuyển được Huệ-Phương cho Khai-Quốc vương, với hy vọng Vương vừa ư, sau đó phong nàng làm Vương-phi. Bẵng đi hơn năm, trong ngày hội yến ở điện Long-hoa, hoàng-đế cũng như hoàng-hậu không thấy Huệ-Phương đến chầu. Các ngài cật vấn Vương. Vương im lặng chịu tội. Hôm sau, các ngài tới vương phủ điều tra, mới biết vương đă đem nàng trả cho Hồng-Sơn đại phu. Long tâm nổi giận vô cùng. V́ ngài cho rằng sự hy sinh của Khai-Quốc vương vô ích. Theo các ngài nghĩ Huệ-Phương ắt hùa theo Hồng-Sơn đại phu, khi việc thành, nàng đương nhiên trở thành hoàng-hậu. Chứ tội ǵ giúp họ Lư.


    Hôm nay, trong lúc nguy nan, trước áp lực của Tống, của quần hùng, ngai vàng rung rinh, Huệ-Phương xuất hiện. Nàng không những không hùa theo giúp Hồng-Sơn đại phu mà lại thẳng thắn tố cáo âm mưu của Tống. Bất giác ngài đưa mắt nh́n Khai-Quốc vương. Trong khi Vương như ngây như dại, ngắm nh́n Huệ-Phương đắm đuối.


    Huệ-Phương kết luận:


    - Triệu vương gia. Tiểu nữ đa tạ vương gia đă chiếu cố tới phu quân của tiểu nữ. Xây đựng lại đại nghiệp của tổ tiên, ai mà chẳng muốn, chẳng cầu? Huống hồ phu quân của tiểu nữ. Tiểu nữ là gái Việt. Lấy chồng, chồng đứng hàng tư trên đời. Đạo lư Lĩnh-Nam định rằng, lấy chồng, phải gánh vác giang sơn nhà chồng. Đúng ra tiểu nữ phải nhất tâm, nhất dạ cùng đại phu lo lập lại chính thống Lê triều. Nhưng giữa chính thống Lê triều với việc an nguy xă tắc mấy ngàn năm của gịng Việt lại không thể cùng đứng trong trường hợp này.


    Tiếng vỗ tay khắp quăng trường vang dội. Pháo thăng thiên tung lên nổ khắp bầu trời. Ban nhạc Hồng-thiết giáo, Sài-sơn cử bài Xuân Việt-nữ chiến Trường-an của Nguyễn Giao-Chi thời Lĩnh-Nam.


    Đợi cho bản nhạc dứt, Triệu Thành chỉ vào Huệ-Phương hỏi Hồng-Sơn đại phu:


    - Nam-Quốc vương gia! Vương gia thuộc gịng dơi chính thống của triều Lê. Xin vương gia quyết cho một điều, rằng vương gia muốn lập lại Lê triều hay không? Không lẽ vương gia quên mất sự nghiệp của tiên vương đă tốn không biết bao nhiêu tâm huyết xây dựng? C̣n vị nữ lưu này có phải quư phu nhân không? Dù nàng có phải quư phu nhân, những ǵ nàng nói, có phải ư vương gia không?


    Hồng-Sơn đại phu đứng dậy khoan thai nói:


    - Dĩ nhiên nàng là tiện nội. Những điều nàng nói, nàng nhân danh con dân Đại-Việt. Xin vương gia đối thoại với nàng.


    Huệ-Phương hướng về phía phái Sài-sơn, chỗ Hồng-Sơn đại phu ngồi:


    - Hồi năy, Trần tiểu thư đă nói: Gái Việt yêu nước hơn yêu chồng. Tiện nữ đành lỗi đạo với phu quân, đặt sự an nguy trăm họ lên trên hạnh phúc vợ chồng. Đặt sự nghiệp của Lê triều, sau sự nghiệp mấy ngh́n năm của vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng. Hiện nay phía Bắc, Thiên-triều mắc vạ với Khất-đan. Phía Tây gặp Tây-hạ binh hùng tướng mạnh. Thiên-triều đành hướng xuống Nam mưu tính Đại-Việt, Chiêm-thành, Chân-lạp, Lăo-qua. Sau đó đến Đại-lư. Bấy giờ có đủ lương thực, quân lính, tiến chiếm Liêu, Tây-hạ. Muốn tính Đại-Việt nhưng Thiên triều thấy đống xương ở Chi-lăng cao hơn núi, xác lấp sông Bạch-đằng chưa thông. V́ vậy phải làm cho người Việt đánh nhau. Khi cuộc nội chiến chấm dứt, vơ lâm chia rẽ, tinh lực kiệt quệ, bấy giờ mới khiến Chiêm-thành từ dưới đánh lên. Lăo-qua từ Tây đánh vào. Quân thiên triều từ Lưỡng-Quảng theo đường bộ tràn sang. Thủy quân Mân-Việt đổ vào vùng Thiên-trường. Sau khi chiếm được Đại-Việt, ắt Chiêm-thành, Chân-lạp, Lăo-qua không đánh cũng phải qui hàng.


    Triệu Thành cười ha hả, rồi nói:


    - Nam-quốc vương phi. Những lời vương phi nói đó chẳng qua là lư luận. Chứ thực sự thiên triều chỉ muốn lập lại gịng giống trung thành mà thôi. Xin vương phi cho biết chứng cớ ở đâu?


    Huệ-Phương mỉm cười:


    - Chứng cớ ư? Ở đây có rất nhiều. Tôi để Trần tiểu thư nói ra. V́ Trần tiểu thư là một trong nạn nhân của vương gia.


    Thanh-Mai vận nội lực, nói lớn:


    - Triệu vương gia ơi! Triệu vương gia tài th́ có tài. Nhưng phải cái vương gia khinh địch, coi Đại-Việt không người, nên việc làm của vương gia bị lộ hết rồi. Sau khi rời Vạn-thảo sơn trang, vương gia âm thầm đi Thanh-hóa, đến họp ở Hồng-hương mật cốc, phía sau chùa Sơn-tĩnh. Bọn tại hạ theo dơi biết hết.


    Triệu Thành cười hả hả đánh trống lảng:


    - Trần tiểu thư ái nữ của Côi-sơn đại hiệp, không lo học văn, luyện vơ, mà theo dơi bọn tại hạ. Như vậy cô nương làm việc cho Khu-mật viện của họ Lư ư?


    Thanh-Mai lắc đầu:


    - Triệu vương gia lại quên rằng gái Việt yêu nước hơn yêu thầy, yêu cha mẹ, yêu chồng con. Khi tiểu nữ biết vương gia ẩn ẩn hiện hiện mưu hại Đại-Việt, tiểu nữ cần theo dơi. Việc pḥng vệ đất nước đâu phải của Khu-mật viện, mà của tất cả con dân Đại-Việt.


    Quảng trường vỗ tay vang dội. Thanh-Mai tiếp:


    - Trong đêm họp ở Hồng-hương mật cốc, có bằng này người: Vương gia với các vị tùy tùng. Phía Chiêm-quốc có chưởng môn phái Phật-thệ Chế Ma-Thanh, phu nhân Mỵ-Thu, đại tướng quân Ngô Đà. Phía Lăo-qua có hoàng thúc Phủ Văn cùng vương phi Nàng Chay. Phía phái Tiêu-sơn có Nguyên-Hạnh đại sư cùng phu nhân tên Cao Thạch-Phụng.


    Cả quảng trường ồ lên đồng loạt, đưa mắt nh́n vào Minh-Không thiền sư. Phái Tiêu-sơn, nơi xuất thân của vua Lê Đại-Hành, của đương kim thiên tử, nơi tượng trưng cho tinh thần quốc gia. Nguyên-Hạnh là cao tăng đắc đạo, đệ tử của Bố-Đại hoà thượng. Suốt bao năm qua uy tín chùa Sơn-tĩnh muốn ngang với Tiêu-sơn. Bây giờ Thanh-Mai tố đích danh Nguyên-Hạnh họp với Tống, hơn nữa tố rơ Nguyên-Hạnh có vợ tên Cao Thạch-Phụng. Hỏi ai không kinh hoàng?


    Thanh-Mai chỉ vào Phủ Văn, với Chế Ma Thanh:


    - Triệu vương gia cho người dụ dỗ Phủ vương gia giết cháu, đoạt ngôi vua, sau đó đem quân đánh vào phía Tây Đại-Việt. Dụ dỗ hoàng-đệ Chế Ma Thanh chiếm ngôi vua của anh, rồi đem quân đánh vào phía Nam Đại-Việt. Vương gia lầm lẫn mất rồi. Vương gia quên rằng Quốc-tổ, Quốc-mẫu cho các hoàng tử thứ ba mươi mốt tới bốn mươi vào Nam. Hoàng tử thứ bốn mươi mốt tới năm mươi vượt núi, sang phía Tây qui dân lập ấp. V́ vậy người Chàm, người Lào, người Việt đều thuộc gịng giống Việt-thường. Hoàng thúc Phủ Văn, hoàng đệ Chế Ma Thanh một mặt giả chấp thuận đề nghị của thiên triều. Một mặt cho người báo cho Khu-mật viện Đại-Việt biết hết mọi tin tức của cuộc họp này.


    Quần hùng vỗ tay hoan hô vang dội.


    Thực sự ra không phải vậy. Phủ Văn, Chế Ma Thanh muốn mượn thế Tống, giết chúa lên làm vua. Chúng hối lộ vàng bạc cho Triệu Thành để được phong chức tước. Không ngờ Mỹ-Linh, Thiệu-Thái biết rơ âm mưu này, báo về cho Khai-Quốc vương. Nhân khi bọn Tống đi từ Thiên-trường về Thăng-long, bị Thanh-Mai cho người trộm hết vàng bạc, thư tín.


    Khai-Quốc vương nhân đó tương kế tựu kế. Khi hai phái Phật-thệ, Vạn-tượng về Thăng-long họp anh hùng đại hội, mưu cùng với bọn Nguyên-Hạnh, cùng phái Sài-sơn, Đông-a ép Thuận-Thiên hoàng-đế thoái vị, để cho Hồng-Sơn đại phu lên ngôi, hầu thực hiện kế hoạch của Tống. Đang đêm, Khai-Quốc vương gửi Huệ-Sinh tới gặp Phủ Văn. Nùng-Sơn tử gặp Chế Ma Thanh, nói rơ cho chúng biết rằng kế hoạch đă bại lộ. Nếu hai người thuận làm theo Khu-mật viện ngôi vị vẫn được giữa nguyên. Bằng chống lại, bao nhiêu thư tín của chúng viết cho Tống đều được gửi cho vua Chiêm, vua Lào, hai người không có đường về. Gia quyến sẽ bị xử tử. Hai người líu ríu vâng lời.


    Lúc Thuận-Thiên hoàng-đế lên đài tặng quà cho hai người. Khai-Quốc vương lấy nguyên số lễ vật của hai người tặng Triệu Thành, mà tặng lại cho. Hai người nhận quà mà trong ḷng phát ớn lạnh.


    Bây giờ nghe Thanh-Mai tố cáo, hai người cùng đứng dậy hướng vào quần hùng chắp tay hành lễ, nhận lời hoan hô, nhưng mặt đỏ lên v́ ngượng ngùng. Phủ Văn móc trong túi ra trục giấy, đưa cho mọi người xem. Y chuyển vào tay Đoàn Huy, nhờ ông đọc dùm. Đoàn Huy cầm giấy xem, rồi nói:


    - Trong trục giấy này là chiếu chỉ của Thiên-Thánh hoàng-đế phong cho hoàng thúc Phủ Văn làm Thái-tử thái bảo, phó đô nguyên soái. Nam phương trung thành tĩnh lự công thần. Lăo-qua quận vương. Thực ấp vạn hộ. Thực phong tam thiên hộ. Vương phi được phong An-tĩnh quận chúa.


    Không đừng được, Chế Ma Thanh cũng đưa ra trục giấy. Đoàn Huy đọc:


    - Trong trục giấy này, là chiếu chỉ của Thiên-Thánh hoàng-đế phong cho hoàng đệ Chế Ma Thanh làm Kiểm hiệu thái sư, tĩnh hải tiết độ sứ, đồng b́nh chương sự. Suy thành thuận hoá công thần. Chiêm-thành quận vương. Thực ấp vạn hộ. Thực phong ngũ thiên hộ. Vương phi Mỵ-Thu được phong Khâm-linh quận chúa. Đại tướng Ngô Đà làm Nội điện chỉ huy sứ, tước Ma-linh hầu. Thực ấp nhị thiên hộ. Thực phong nhất thiên hộ.


    Thanh-Mai đỡ lấy hai cuốn trục, trao cho Triệu Thành:


    - Vương gia lầm lẫn quá nhiều. Các vị đây, người hoàng-thúc, kẻ hoàng-đệ. Khi không ai dại ǵ mà giết chúa, để lĩnh lấy hai tờ giấy vô giá trị của vương gia?


    Th́nh ĺnh Thanh-Mai từ trên đài vọt ḿnh lên cao, nhấp nhô mấy cái, đă đến phía sau khán đài phái Tiêu-sơn. Nàng quát lớn:


    - Nguyên-Hạnh! Đứng lại, mi trốn đâu cho thoát!


    Nàng vừa đáp xuống, xung quanh Nguyên-Hạnh đă có bốn vị sư bao vây, đó là Sùng-Văn, Sùng-Đức, Sùng-Tín, Sùng-Không. Bốn vị cùng cung kính nói:


    - Sự thể thế nào xin phương trượng lên đài trả lời Trần tiểu thư, chứ có đâu bỏ chạy?


    Mặt Nguyên-Hạnh tái nhợt. Y đành lên đài, đứng đối diện với Thanh-Mai. Thanh-Mai tiếp:


    - Triệu vương gia. Vị này có tên Dương Bá, thực ra họ Hồ. Nguyên xuất thân đệ tử của bang trưởng bang Nhật-hồ Trung-quốc, tức Hồng-thiết giáo ẩn danh. Khi quân Tống bao vây, diệt tổng đàn Nhật-Hồ bắt được đệ tử của bang trưởng là Hồ Dương-Bá cùng con gái tên Đỗ Lệ-Thanh. Hai người lạy van xin dung tha. Khu-mật viện Tống triều bèn đem tất cả thân thuộc họ Đỗ về Biện-kinh an trí. Một mặt cho hai người sang Đại-Việt t́m cách ẩn thân, hầu sau này quân Tống sang, c̣n làm nội ứng.


    Thế rồi nàng thuật hết việc Hồ Dương-Bá, Đỗ Lệ-Thanh sang Đại-Việt, ẩn thân vào làm đệ tử chùa Tiêu-sơn, gây dựng cơ sở như thế nào. Nguyên-Hạnh làm đệ tử Bố-Đại hoà thượng. Y giam Đỗ Lệ-Thanh cùng bồ tát Bố-Đại, Sùng-Phạm trong Hồng-hương mật cốc ra sao. Nguyên-Hạnh tổ chức thiếu niên Hồng-hương, mưu làm nội ứng thế nào...Cùng bắt giam thiếu nữ để hành lạc trong Hồng-hương mật cốc. Cho đến khi Mỹ-Linh, Thiệu-Thái khám phá ra...


    Mặt Nguyên-Hạnh vẫn trơ ra:


    - Trần cô nương! Người bịa ra nhiều truyện hoang đường quá, ai mà tin được? Cô nương bảo bần tăng có vợ, có con. Chứng cớ ở đâu?


    Y căi gượng gạo.


    Lập tức Đỗ Lệ-Thanh từ dưới đài bước lên. Mụ chỉ tay vào mặt Hồ Dương-Bá:


    - Sư huynh! Người với ta là sư huynh, sư đệ. Thân phụ ta thương người, gả ta cho người. Thế rồi khi chúng ta hàng Tống, cùng mật ước rằng âm thầm dùng Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng, dần dần không chế triều Tống, lập lại nhà Chu. Khu-mật viện triều Tống sai chúng ta sang Đại-Việt đái tội lập công. Người với ta cùng thề sẽ có ngày trốn về Trung-nguyên. Khi người trở thành phương trượng chùa Sơn-tĩnh, người giam sư phụ Bố-Đại, sư thúc Sùng-Phạm, ép hai vị dạy cho thuật xuất hồn. Người đâu biết rằng người đi tu đắc đạo mới xuất được hồn, chứ nào có truyền cho nhau được?


    Quảng trường ồn lên những tiếng bàn tán. V́ Sùng-Phạm, một vị Bồ-tát đắc đạo. Ngài nổi tiếng cùng một lúc với Vạn-Hạnh thiền sư. Gần đây không ai biết ngài đi đâu. Nào ngờ ngài bị Nguyên-Hạnh bắt giam. C̣n Bố-Đại hoà thượng, dân chúng tin rằng ngài là Phật Di-Lặc giáng sinh. Cho nên khi Đỗ Lệ-Thanh nhắc đến hai ngài, khiến người người đều chú ư lắng tai nghe.


    Bà nghiến răng vào nhau:


    - Sau khi ta khám phá ra mi gian dâm với Cao Thạch-Phụng. Mi giam tra khảo bắt ta khai ra Hồng-thiết tâm pháp cùng thuốc giải Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Ta nhất định không khai. V́ ta biết, nếu ta khai ra người sẽ giết ta. Hơn mười năm, đêm đêm người hành lạc với con tiện nhân Cao Thạch-Phụng. Mi trói ta, bắt ta phải nh́n tṛ bỉ ổi của mi.


    Bà chỉ vào Mỹ-Linh:


    - Cho đến khi công chúa B́nh-Dương cùng thế tử Thân Thiệu-Thái khám phá ra Hồng-hương mật cốc. Mi giam hai người vào trong hang với ta.


    Tiếp theo bà thuật việc Bố-Đại cũng như Sùng-Phạm dư sức bẻ song sắt thát ra. Nhưng hai ngài muốn ở tù để giải hết nghiệp. Khi gặp Thiệu-Thái, Sùng-Phạm truyền cho chàng một trăm năm công lực, rồi viên tịch. Thiệu-Thái, Mỹ-Linh bẻ song sắt cứu bà, đốt xác Hồng-hương thiếu niên trốn đi hầu đánh lừa Nguyên-Hạnh. Sau cùng với sự xuất hiện của Chu An-B́nh, Chu An-Khôi, Chu An-Việt v.v.


    Bà hướng vào phía đệ tử của Sơn-tĩnh gọi:


    - Hạnh-Chân, Hạnh-Như. Hai con đâu?


    Hai nhà sư trẻ từ dưới đài bước lên, quỳ gối lạy Đỗ Lệ-Thanh:


    - Mẫu thân.


    Đỗ Lệ-Thanh ôm lấy hai con, mặt đầy nước mắt. Bà nói với Nguyên-Hạnh:


    - Khi ta được công chúa B́nh-Dương cùng thế tử Thân Thiệu-Thái cứu ra. Ta đă t́m thăm hai đứa con, cho chúng biết ta vẫn c̣n tại thế, dặn chúng phải có mặt hôm nay làm chứng. Mi c̣n chối nữa hay không?


    Thanh-Mai đưa ra cuốn trục:


    - Đây, sắc phong cho Hồ Dương-Bá làm Đô nguyên soái, Long-biên quốc công, Giao-chỉ kinh lược sứ. C̣n đây sắc phong thứ nh́ cho Hồ Dương-Bá làm Quốc sư thông huyền Bồ-tát Và phu nhân Cao-thạch-Phụng làm Túc không quan âm.


    Nàng hướng vào Minh-Không thiền sư:


    - A-di-đà Phật! Xin Quốc sư dạy cho một lời.


    Minh-Không đáp:


    - Nghiệp dĩ Nguyên-Hạnh nặng quá. Tội của người xin để cho luật lệ Đại-Việt xử.


    Thanh-Mai hỏi Minh-Không:


    - Minh-Không đại sư! Xin đại sư cho biết gă Hồ Dương-Bá này có c̣n liên hệ với phải Tiêu-sơn nữa không?


    Minh-Không đáp:


    - Y dối sư phụ xin qui y, xin thọ giới. Như vậy cả qui y lẫn thọ giới đều không thực. Y hết c̣n tư cách đệ tử phái Tiêu-sơn.


    Đỗ Lệ-Thanh quỳ gối trước Tự-An:


    - Cách đây hơn năm, tiểu tỳ đến trang Thiên-trường, được đại hiệp hứa đứng ra chủ tŕ công đạo cho vụ này. Hôm nay kẻ thù trước mắt, xin đại hiệp ra tay cho.


    Tự-An phẩy tay cho bà đứng dậy:


    - Phu nhân b́nh tâm. Ta đă hứa tất làm.


    Ông bảo Thanh-Mai:


    - Nếu y là đại sư Nguyên-Hạnh, bố phải ra tay. C̣n y trở lại thành Hồ Dương-Bá, con dạy dỗ y mấy chiêu được rồi.


    Th́nh ĺnh Nguyên-Hạnh phóng chưởng tấn công Thanh-Mai. Trong ư nghĩ, y phải giết nàng, nên y vận đủ mười thành công lực. Chiêu chưởng đánh ra như vũ băo. Trong chưởng có mùi hôi tanh nồng nặc.


    Thanh-Mai phản ứng rất nhanh. Nàng lùi một bước, trả lại bằng một chiêu Đông-a chưởng. Binh một tiếng, Nguyên-Hạnh rùng ḿnh lùi lại một bước. Trong khi Thanh-Mai thản nhiên như không.


    Tự-An quát lớn:


    - Khoan!


    Ông nói với Hồ Dương-Bá:


    - Hồ nguyên soái. Người lập công lớn với triều Tống, tước đă phong tới hầu, chức tới Đô nguyên-soái. Trong đẳng trật vơ quan triều Tống, Đô nguyên-soái lớn cực phẩm. Đấy nói về quan chức. C̣n nói về vơ công, dường như người chỉ thua có quốc sư Minh-Không. Chúng ta khám phá ra người ẩn ở Đại-Việt, người có tội với Đại-Việt. C̣n đối với Tống triều người thành đại công thần. Tại sao người không giám nhận cái danh dự của ḿnh?


    Nghe Tự-An nói vậy, Triệu Thành nghĩ rất nhanh:


    - Tên Trần Tự-An quả xứng danh Côi-sơn đại hiệp. Ta những tưởng chối biến việc Khu-mật viên sai Nguyên-Hạnh sang Đại-Việt. Như vậy vẫn tiếp tục dùng bọn Lê Long-Mang được. Y dồn Nguyên-Hạnh đến chỗ chết, rồi lại khai ra con đường thoát thân bằng cách nhận tội. Nếu Nguyên-Hạnh nhận hết tội, đương nhiên ta cứu y thoát chết, nhưng mưu đồ e hỏng bét.


    Nghĩ vậy y nháy mắt cho Nguyên-Hạnh tỏ ư bảo, đừng nhận.


    Nhưng Nguyên-Hạnh lại nghĩ khác:


    - Ta nhận hết, như vậy chắc chắn thoát chết. Vương gia có giận cũng chẳng đi đến

  9. #9
    Member
    Join Date
    27-09-2011
    Location
    Hà Nội -Việt Nam
    Posts
    1,669

    Anh Hùng Bắc Cương- Hồi 2 : Thượng Giới Hồng-xà

    Anh Hùng Bắc Cương


    Hồi 2 :

    Thượng Giới Hồng-xà




    Y đến trước Triệu Thành quỳ gối:


    - Vương gia! Tiểu tướng làm không tṛn nhiệm vụ, hỏng đại kế của triều đ́nh. Tiểu tướng xin chịu tội với vương gia.


    Triệu Thành nguyền rủa thầm Nguyên-Hạnh, nhưng y vẫn hướng vào Thuận-Thiên hoàng-đế:


    - Nam-B́nh vương. Hồ nguyên-soái là đại công thần của thiên triều. Vương gia không thể bắt tội được. Vương gia đừng quên rằng vương gia nhận chức tước phong của thiên triều. Vương gia thành đồng liêu với Hồ nguyên soái.


    Thanh-Mai biết Thuận-Thiên hoàng-đế khó có thể đối đáp trong vụ này. Nàng chỉ vào Nguyên-Hạnh:


    - B́nh-Nam vương công nhận Hồ Dương-Bá, được phong Đô nguyên-soái, đại công-thần thiên triều. Như vậy vương gia công nhận thiên triều chuẩn bị đánh Đại-Việt.


    Nàng chắp tay hướng vào quần hùng:


    - Thưa các vị anh hùng. B́nh-Nam vương nhà Đại-Tống hiện giữ trọng trách việc binh bị đă công nhận rằng nhà Tống chuẩn bị đánh chiếm Đại-Việt. Vấn đề đă rơ ràng. Các vị nghĩ xem, chúng ta nên đánh hay hàng?


    Hàng mấy vạn người cùng rút kiếm ra hô lớn:


    - Đánh! Diệt bọn chó Ngô.


    Đợi cho tiếng nguyền rủa bớt, nàng tiếp:


    - Thuận-Thiên hoàng-đế dĩ nhiên không bắt tội Dương-Bá v́ việc y giam công-chúa B́nh-Dương, thế tử Thiệu-Thái. Bởi khi Dương-Bá làm việc đó v́ bảo vệ cơ mật cuộc họp ở Hồng-hương cốc, v́ Tống, v́ thi hành nhiệm vụ. Vậy xin Triệu vương gia cho biết việc y giam Đỗ Lệ-Thanh thuộc truyện riêng của y hay cũng của triều Tống?


    Triệu Thành lắc đầu:


    - Dĩ nhiên đó thuộc truyện riêng của Hồ


    nguyên soái.


    Đại-sư Sùng-Đức, viện trưởng viện giới luật chùa Sơn-tĩnh bước lên đài, hướng vào Nguyên-Hạnh:


    - A-di-đà Phật. Phương trượng! Người làm nhục bản tự quá đáng. Chiếu giới luật, mong phương trượng thụ h́nh, để giải bớt nghiệp quả.


    Hồ Dương-Bá lộ mặt thực ra:


    - Hồ mỗ nguyên làm đại thần Tống triều. Mỗ chỉ mượn quư tự để ẩn thân. Mỗ không hề làm cao tăng. Đă không cao tăng, th́ tam qui, ngũ giới hay thất bát, hay vạn giới đối với mỗ chẳng là cái đéo ǵ cả. Mỗ có quyền lấy vợ, có con. Mỗ nói cho đại sư biết, trong thời gian ở Sơn-tĩnh, mỗi tháng mỗ ăn thịt một con chó. Đêm nào mỗ cũng hành lạc với trinh nữ. Mỗi tháng mỗ hút kinh nguyệt của hai thiếu nữ để luyện Hồng-thiết công. Mỗi ngày mỗ uống nước tiểu của thiếu nữ để điều khí. Đại sư đừng đem giới luật ra dọa mỗ nữa.


    Sùng-Văn quát lên một tiếng. Ông phát chưởng tấn công Dương-Bá. Dương-Bá lùi một bước, trả lại một chưởng. So vai vế, Sùng-Văn ngang vai với sư phụ Nguyên-Hạnh, ông lớn tuổi hơn, nhập môn trước. V́ vậy công lực cao thâm hơn Nguyên-Hạnh nhiều. Chưởng phong của ông hùng hậu vô cùng.


    B́nh, b́nh, b́nh, Hồ Dương-Bá bật lui liền ba bước. Y trả lại một chưởng rất thô kệch. Chưởng của y có mùi tanh hôi không thể tưởng tượng được. Đỗ Lệ-Thanh kêu lên:


    - Chu-sa nhật hồ độc chưởng.


    Sùng-Văn tránh, không giám đỡ vào chưởng của y. Ông lùi bước, rồi trả lại một chưởng. Bây giờ Nguyên-Hạnh mới phản công được mấy chiêu. Mỗi chưởng của y đánh ra, có mùi tanh hôi khủng khiếp.


    Quần hùng quan sát cuộc đấu đều nghĩ thầm:


    - Tên Hồ Dương-Bá này quả xứng thiên tài vơ học. Y dâm đăng như vậy, mà công lực đến dường này, có thua ǵ Đại-Việt ngũ long?


    Chính Nhật-Hồ lăo nhân đứng cạnh cũng phải kinh ngạc. Lăo chửi thầm:


    - Tên Nguyên-Hạnh này học vơ công của bang Nhật-hồ Trung-quốc. Y lại bái Bố-Đại hoà thượng làm thầy. Y khéo léo phối hợp được nội công hai phái, thành một thứ nội công mới. V́ vậy tuổi y c̣n nhỏ, mà đâu có thua ǵ bọn trưởng lăo của ḿnh. Nếu y thất bại, ḿnh phải cứu y, thu dụng y làm đệ tử, lợi biết bao?


    Cuộc đấu vẫn bất phân thắng bại. Công lực Sùng-Văn cao thâm, nhưng không giám đối chưởng với Nguyên-Hạnh. Ngược lại Nguyên-Hạnh t́m đủ cách để hai chưởng chạm vào nhau, khiến Sùng-Văn bị trúng độc. Nguyên-Hạnh đánh liền mười chưởng, Sùng-Văn đều tránh được. Đến chưởng thứ mười một hai chưởng giao nhau. Bộp một tiếng. Hai chưởng dính liền. Thế là trở thành cuộc đấu nội lực.


    Khoảng nhai dập miếng trầu, Nguyên-Hạnh cảm thấy nguy cơ gần kề. V́ Sùng-Văn dồn chân khí sang người hắn cuồn cuộn. Hắn nghiến răng chịu đựng được một lát, châm tay bủn rủn, mắt hoa đầu váng.


    Nhật-Hồ đứng cạnh, y nghĩ thầm:


    - Tên Nguyên-Hạnh quên mất rằng trong máu y đầy chất độc. Y chỉ cần phun một búng vào mặt Sùng-Văn, Sùng-Văn chịu sao thấu?


    Nghĩ vậy y nhắc:


    - Dùng máu cứu mạng, nguy cơ ǵ cũng qua.


    Nguyên-Hạnh tỉnh ngộ, hắn nghiến răng cắn môi, máu chảy ra đầy miệng. Th́nh ĺnh hắn phun vào mặt Sùng-Văn. Hai người đứng quá gần nhau. Vả Sùng-Văn không bao giờ ngờ một người như Nguyên-Hạnh lại phun nước miếng vào mặt ông. Tẹt một tiếng, mặt Sùng-Văn đầy nước bọt, máu.


    Sùng-Văn cảm thấy ngứa ngáy khó chịu, rồi bắp thịt co giật, chân khí muốn tuyệt. Ông vội thu tay, nhảy lùi lại. Nguyên-Hạnh được thoát chết. Y đứng thẳng, hít một hơi chân khí, điều hoà nội tức, rồi nói:


    - Sùng-Văn, người trúng Nhật-hồ độc thủ của ta rồi. Ta không đấu với người nữa.


    Hai bóng vàng thấp thoáng, Sùng-Đức, Sùng-Minh đại sư lên đài đỡ Sùng-Văn. Sùng-Đức chỉ mặt Nguyên-Hạnh:


    - Người... người thực mặt dầy. Người dùng...


    Nguyên-Hạnh thản nhiên:


    - Theo luật lệ Sơn-tĩnh, khi một người thắng viện trưởng giới luật viện coi như sạch tội. Ta đă thắng Sùng-Văn. Vậy bọn Sơn-tĩnh các người không thể gây rắc rối với ta nữa.


    Sùng-Văn run lẩy bẩy, tỏ vẻ đau đớn vô cùng. Nguyên-Hạnh hướng vào Minh-Không đại sư:


    - Đại sư! Nếu đại sư muốn tại hạ trao thuốc giải Chu-sa độc chưởng cứu đại sư Sùng-Văn, xin đại sư tha cho tại hạ rời khỏi nơi đây. Tại hạ xin nói trước thuốc giải Chu-sa độc chưởng Trung-quốc khác hẳn với Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng Đại-Việt. V́ vậy thuốc giải của Hồng-thiết giáo Đại-Việt vô dụng.


    Minh-Không đưa mắt nh́n Sùng-Văn đang đau đớn. Ngài chưa quyết định, Đỗ Lệ-Thanh lên đài cười nhạt:


    - Dương-Bá! Một đời mi sảo quyệt chưa đủ sao mà mi c̣n dối người. Nếu mi biết chế thuốc giải Chu-sa độc chưởng, mi đâu có giam ta mười năm? Mi không có thuốc giải, mà lại nói có. Mi định lừa Minh-Không đại sư, nhưng ta đă chết đâu?


    Dương-Bá bị vợ lột mặt nạ. Y giận quá, th́nh ĺnh phát chiêu hướng Đỗ Lệ-Thanh. Binh một tiếng, bà bị bay tung lên cao, rơi xuống đài. Quần hùng la hoảng lên. Thanh-Mai lại bên bà bắt mạch. Bà lắc đầu, miệng phun máu có ṿi, nói với Tự-An:


    - Đại hiệp! Tiểu tỳ muốn nh́n thấy y đền tội.


    Tự-An giận run lên. Trước đây ông đă hứa với Đỗ Lệ-Thanh rằng ông sẽ đứng chủ tŕ công đạo, trừng phạt Nguyên-Hạnh. Nay ông chưa ra tay, y lại giết vợ. Ông nói với Triệu Thành:


    - Triệu vương gia! Trần mỗ không phải vua quan Đại-Việt, nên dù Nguyên-Hạnh có làm tam công, thượng thư Tống triều, mỗ cũng phải giết y. Mà dù ngay y có phải Ngọc-Hoàng đại đế, Diêm-La, mỗ cũng không tha.


    Ông vận khí, định trong một hai chiêu đập chết y, th́ Thanh-Mai đă tấn công Dương-Bá. Dương-Bá cười thầm:


    - Vơ công con nhỏ này ḿnh đă biết rồi. Y thị từng bị bọn Tung-sơn tam kiệt bắt sống, dẫn đi khắp trấn Thanh-hóa. Không biết y thị có điên không, mà giám ra tay tấn công ḿnh?


    Y phát chiêu đánh trả. B́nh một tiếng, y cảm thấy trời đất đảo lộn, lồng ngực muốn nổ tung ra. Tai kêu o o kéo đài vô tận. Y kinh hăi:


    - Rơ ràng chưởng của con nhỏ vừa rồi không có ḱnh lực. Tại sao chạm vào chưởng ḿnh lại mạnh như vậy?


    Y lùi lại đánh ra một chiêu Chu-sa độc chưởng. Thanh-Mai thấy mùi tanh hôi, nàng cười thầm:


    - Đối với ai mi dùng độc chưởng được, chứ đối với ta e vô dụng.


    Nàng nhàn tản trả lại một chiêu rất b́nh thường. B́nh, Nguyên-Hạnh cảm thấy tay ê ê. Y phát chiêu khác.


    Nhật-Hồ đứng cạnh, thấy Thanh-Mai đối chưởng với Nguyên-Hạnh, ông kinh hăi nghĩ thầm:


    - Chu-sa độc chưởng khi phát ra, ai chạm vào, chỉ mấy khắc sau đau đớn vô cùng, rồi mất hết ḱnh lực. Nay sao con nhỏ này trúng đến bốn chưởng mà vẫn vô sự. Ngược lại dường như Dương-Bá tỏ vẻ đau đớn th́ phải.


    Nguyên cách đây ít lâu, trong dịp viếng Thiên-trường, Đỗ Lệ-Thanh đề nghị Tự-An nghiên cứu ra một thứ vơ công khắc chế Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Đỗ đă giúp Tự-An một phần. Tự-An phối hợp thiền công, cùng nội công Đông-a, học thuyết kinh-ạc của y học, hoàn thành. Thiền-công vận ra ba kinh âm hoá giải độc chất cùng ḱnh lực đối thủ. C̣n nội công Đông-a phát ra ba kinh dương tấn công. Sau đó ông dạy cho các sư đệ cùng đệ tử, Bảo-Hoà, Mỹ-Linh.


    Hôm nay Thanh-Mai đem ra áp dụng đấu với Nguyên-Hạnh, nên y tấn công, nàng đỡ, mà y cảm thấy đau đớn. V́ khi nàng đỡ, trong cái thủ có cái công.


    Thuận-Thiên hoàng-đế cùng Khai-Quốc vương ngồi trên đài, thấy mỗi chiêu Thanh-Mai đánh ra mạnh muốn nghiêng trời lệch đất, cả hai đều kinh ngạc đến ngẩn người ra:


    - Mới hôm nào, trong Long-hoa cung, công lực nàng tuy có cao, nhưng đâu có thể đến tŕnh độ này?


    Cả hai người không hiểu là phải. Nguyên Thanh-Mai được phụ thân dạy, công lực đă tới tŕnh độ hiếm có. Tuy vậy hồi gặp Tung-sơn tam kiệt, nàng vẫn không phải đối thủ của chúng. Trên đường đi, nàng được Huệ-Sinh dạy cho cách khai thông, hoà hợp thủy hỏa, nàng tiến tới chỗ không thua ǵ các sư thúc. Khi đến Vạn-thảo sơn trang, được Hồng-sơn đại phu dạy học thuyết kinh lạc, nàng tự đả thông kinh mạch, nên công lực tiến tới chỗ sâu vô cùng. Khi trở về Thiên-trường lại được thân phụ dạy cho cách đả thông hết kỳ kinh bát mạch. Đến đây nàng trở thành đại cao thủ.


    Tại Long-hoa đường, nàng trị bệnh cho Đoàn Huy, vô t́nh hút hết nội lực của một đại cao thủ bậc nhất Đại-lư. Đến đây công lực của nàng cao thâm khôn lường. Rồi Thiệu-Thái, Huệ-Sinh vận công trị bệnh, cũng truyền công lực cho nàng. Thành ra trong người nàng nội tức muốn nổ tung ra.


    Nguyên-Hạnh càng đấu càng kinh sợ, v́ y cảm thấy vơ công của Thanh-Mai khắc chế với y. Y lùi lại đánh ra một chưởng hết sức vũ dũng. Thanh-Mai hít một hơi nói lớn:


    - Đỗ phu nhân! Hăy nh́n cháu trả thù cho phu nhân đây.


    Nàng đánh ngay vào giữa chưởng Nguyên-Hạnh. B́nh một tiếng, người y bay bổng lên cao, rồi rơi xuống đài. Y nghiến răng, cố gắng ḅ dậy, nhưng rồi lại ngă xuống. Y hộc lên một tiếng, miệng phun máu có ṿi.


    Đỗ Lệ-Thanh cố gắng đến gần Thanh-Mai lạy bốn lạy:


    - Đa tạ vương phi chu toàn cho tiểu tỳ.


    Không ai hiểu tại sao Đỗ Lệ-Thanh lại gọi Thanh-Mai bằng vương phi. Chỉ duy bọn Thuận-Thiên cửu hùng biết rơ nguyên ủy. Thanh-Mai kinh ngạc, v́ rơ ràng Đỗ Lệ-Thanh trúng chưởng của Nguyên-Hạnh đến không ngồi dậy được, mà sao nay bà có thể hành lễ dễ dàng. Chợt nàng hiểu ra:


    - Dù sao Đỗ phu nhân cũng từng là đệ tử Hồng-thiết giáo. Mà Hồng-thiết giáo toàn một bọn dối trá đă quen. Nhân thấy Nguyên-Hạnh tấn công. Bà có thể đỡ được, mà không đỡ, đành vận công chịu đ̣n, gây căm phẫn cho bố con ḿnh, đễ ḿnh ra tay trừ Nguyên-Hạnh.


    Hạnh-Chân, Hạnh-Như thấy Nguyên-Hạnh bị trúng đ̣n. Hai đứa chạy lại vực y lên, miệng gọi:


    - Gia gia! Gia gia có sao không?


    Th́nh ĺnh Nguyên-Hạnh vọt dậy. Y chuyển động một cái, hai tay kẹp Hạnh-Chân, Hạnh-Như vào hai nách. Y nhảy lùi lại quát lớn:


    - Minh-Không! Nếu người không mở đường cho ra rời khỏi nơi đây. Ta kẹp nách một cái, hai đứa trẻ này chết liền.


    Nguyên Hồ Dương-Bá vốn đại xảo quyệt. Y nghĩ muốn thoát thân, thực muôn vàn khó khăn. V́ vậy y nghiến răng chịu một chưởng của Thanh-Mai rồi bắt hai con như tín vật, hầu làm mộc cứu mạng.


    Đỗ Lệ-Thanh thét lên:


    - Dương-Bá, mi nhẫn tâm hại hai con mi ư?


    Hồ Dương-Bá lạnh lùng, không lên tiếng.


    Minh-Không đại sư nói với Trần Tự-An:


    - Trần đại hiệp. Xin đại hiệp v́ hai sinh mạng trẻ thơ, tha cho Hồ thí chủ rời khỏi nơi này.


    Hồ Dương-Bá thản nhiên cặp hai đứa con vào nách, nhảy xuống đài, chạy thẳng một mạch.


    Đỗ Lệ-Thanh đến trước Triệu Thành. Bà thủng thẳng nói:


    - Vương gia, tiểu tỳ cùng Hồ Dương-Bá vốn người của Khu-mật viện sai sang Đại-Việt hành sự. Nhưng bây giờ v́ hoàn cảnh, tiểu tỳ không c̣n của Tống nữa. Khi tiểu tỳ bị giam, đă hứa rằng nếu ai cứu thoát tiểu tỳ khỏi ṿng lao lư, nguyện trọn đời làm nô bộc để đền ơn. Tiểu tỳ được Thân thế tử cứu thoát khỏi nhà tù, v́ vậy tiểu tỳ xin từ giă vương gia ở đây.


    Bà cúi lạy Triệu Thành bốn lạy, rồi xuống đài.


    Triệu Thành bị Thanh-Mai cùng quần hùng lôi bộ mặt gian xảo, giả trá ra. Tuy biết không c̣n hy vọng ǵ nữa, y vẫn nói cứng:


    - Nam-B́nh vương gia. Tôi xin nhắc lại với vương gia rằng thiên triều đă nhất quyết hưng diệt, kế tuyệt. Một, lập lại nhà Lê. Hai, để một vị đại tôn sư vơ lâm lên ngôi, mới có quốc danh Đại-Việt, mới có hoàng-đế với niên hiệu. Bằng không mảnh đất này vẫn mang tên Giao-chỉ, và người đứng đầu vẫn tước Giao-chỉ quận vương. Quân thiên triều sẽ tiến sang.


    Nói rồi y hô bộ hạ, cùng lên ngựa, rời quảng trường.


    Lập tức cả quảng trường ồn lên những tiếng bàn tán. Huệ-Phương hướng vào quần hùng:


    - Thưa các vị vơ lâm anh hùng. Các vị thấy rơ ràng rằng bọn Triệu Thành sang đây không với mục đích t́m con cháu nhà Lê, mà với ư đồ chuẩn bị xâm lăng Đại-Việt. Đất nước chúng ta, phải do người Việt tự cai trị. Dù Đinh, dù Lê, dù Lư cũng vậy. Ai đem lại hạnh phúc cho dân, người đó chính thống, minh quân, anh hùng. Người nào gây cho dân đói khổ, người đó thành giặc nước, hôn quân, trộm cướp.


    Dương Ẩn hỏi Huệ-Phương:


    - Nam-Quốc vương-phi. Nhưng lời vương-phi nói đó dường như ám chỉ đến một số người. Số người tốt thuộc họ Lư. Số người xấu, thuộc họ Lê. Vương-phi từ cô gái b́nh thường, một thoáng trở thành vợ một đại vơ lâm cao thủ, hơn nữa Nam-Quốc vương của triều Lê đă từng có chiến công đánh Tống, b́nh Chiêm. Đáng lẽ vương-phi phải hết tâm bênh vực danh dự cho nhà chồng, cùng chồng đ̣i lại ngôi báu, bị cường thần tiếm vị. Đây vương-phi chống lại chí phục hưng của chồng đă là điều không tha thứ. Vương-phi c̣n bêu xấu tiên-vương bản triều. Đạo lư ở chỗ nào?


    Huệ-Phương vẫn cười tươi:


    - Lê tiền bối! Tiền bối dạy như vậy e sai.


    Dương Ẩn quát lớn:


    - Này Nam-Quốc vương-phi. Ta gọi người bằng vương-phi. Th́ ít ra người cũng không thể quên rằng ta ngồi trên ghế tôn sư phái Sài-sơn, sư thúc của Nam-Quốc vương. Vương-phi không thể gọi ta bằng tiền bối, mà phải gọi bằng sư thúc.


    Huệ-Phương định đem việc Dương Ẩn bắt giam Vũ Thiếu-Nhung làm cây thuốc cho Nhật-Hồ ra, để lột mặt nạ y. Nhưng tiếng Hồng-Sơn đại phu dùng Lăng-không truyền ngữ nói như rót vào tai:


    - Huệ-Phương! Em đừng lột mặt nạ y vội. Cứ để cho y đóng kịch. Khi nào tối cần thiết, ta hăy đem ra.


    Huệ-Phương nghe chồng nói, nàng đánh trống lảng:


    - Lê tiền bối! Tôi biết chút ít về tướng mệnh. Tôi thấy tướng mệnh của tiền bối giống như con mèo ngủ, ŕnh vồ chuột. Tôi tin rằng tiền bối đă làm điều ǵ không xứng đáng với vai sư thúc của phu quân tôi. V́ thế tôi mới không gọi tiền bối bằng sư thúc.


    Nghe Huệ-Phương nói, Dương Ẩn kinh hồn động phách:


    - Ta làm trưởng lăo Hồng-thiết giáo, chỉ đệ tử thân tín cùng các vị trưởng lăo biết. Con nhỏ này làm sao rơ được. Có lẽ nó đoán ṃ mà thôi.


    Nghĩ vậy y nói:


    - Nếu phu nhân cùng bất cứ đệ tử bản phái nào chứng minh được ta có hành vi trái với vơ đạo phái Sài-sơn. Ta xin tự xử bằng cách rời môn phái.


    Huệ-Phương chửi thầm:


    - Mi tự trói ḿnh, đừng trách ai nhé.


    Nàng chắp tay:


    - Nếu như vậy tiện nữ xin sư thúc đại xá cho. C̣n việc sư thúc bảo tiểu nữ phải hết sức cùng chồng lo đ̣i lại ngôi báu. Điều này tiện nữ nào dám trễ nải. Có điều đ̣i lại ngôi vua bằng danh chính ngôn thuận nhất định chúng ta phải làm. Chứ đ̣i lại ngôi vua do bọn Tống áp lực, gây nội chiến, rồi đi đến mất nước, thà đừng đ̣i.


    Dương Ẩn đứng dậy, chỉ tay vào mặt Huệ-Phương:


    - Huệ-Phương! Người không phải chính thất của Hồng-Sơn đại phu. Người không có tư cách ǵ đại diện cho họ Lê. Người lại chẳng phải đệ tử bản phái, nên càng không có quyền nhân danh phái Sài-sơn. Lời người nói hoàn toàn vô giá trị. Ở đây chỉ ḿnh ta mới có quyền đại diện bản phái. Ḿnh Hồng-Sơn đại phu có quyền đại diện họ Lê.


    Huệ-Phương thấy Dương Ẩn nổi nóng, mất b́nh tĩnh, nàng càng trêu già:

  10. #10
    Member
    Join Date
    27-09-2011
    Location
    Hà Nội -Việt Nam
    Posts
    1,669
    - Sư thúc ơi! Tiện nữ không hề nhân danh họ Lê, cũng không hề nhân danh phái Sài-sơn. Tiện nữ chỉ nhân danh một con dân Đại-Việt mà thôi.


    Sư thái Tịnh-Tuệ xá Dương Ẩn, Huệ-Phương:


    - Xin Dương đạo sư với Hồng-Sơn phu nhân tạm gác việc tranh luận lại. Chúng ta có nhiều điều phải làm ngay. Thứ nhất định rơ ngôi vua Đại-Việt, mà họ Lư tạm cầm bấy lâu nay.


    Hoàng Liên ngồi trên ghế tôn sư phái Mê-linh. Mụ nạt:


    - Tịnh-Tuệ, B́nh-Nam vương Thiên-triều nói rằng người chờ kết quả quyết định của tôn sư vơ lâm. Mi không phải tôn sư bản phái. Mi không có quyền bàn truyện này.


    Tịnh-Tuệ chỉ vào Hoàng Liên:


    - Thưa chư vị anh hùng. Vị sư thúc của bần ni đă nhận sắc phong của Tống triều, chuẩn bi cướp ngôi chưởng môn phái Mê-linh, hầu làm nội ứng cho giặc. V́ vậy phái Mê-linh không công nhận người ngồi trên ghế tôn sư nữa. Người mau rời ghế này.


    Hoàng Liên cười the thé:


    - Trước đây, Hoa-Minh thần ni định rằng, khi chỉ định người kế vị làm chưởng môn, sẽ dùng vơ công định đoạt. Vậy Tịnh-Tuệ, người có dám cùng ta chiết chiêu không?


    Sư thái Tịnh-Tuệ mỉm cười:


    - Sư thúc. Ai làm chưởng môn là truyện nội bộ của bản phái. Vơ đạo bản phái gốc lấy tinh thần vị quốc từ vua Trưng cùng các anh hùng thời Lĩnh-Nam. Đúng ra sư thúc làm gian tế cho giặc, bản phái có bổn phận thanh lư môn hộ. Nhưng xét lại, sư thúc tuổi đă cao, miễn cho khoản đó.


    Hoàng Liên ngửa mặt lên trời cười lớn:


    - Tịnh-Tuệ. Mi chưa giao đấu mà đă cụp đuôi, c̣n dám xưng nào chưởng môn, nào Đại-Việt ngũ long nữa không?


    Mụ rút kiếm chĩa vào ngực sư thái Tịnh-Tuệ phóng một chiêu cực kỳ dũng mănh. Sư thái Tịnh-Tuệ thản nhiên như không biết. Quần hùng thấy vậy kinh hoảng la lớn lên.


    Nhưng người ta chỉ thấy bóng vàng thấp thoáng, Tịnh-Tuệ đă đứng sau Hoàng Liên. Quần hùng vỗ tay vang dội hoan hô.


    Hoàng Liên xuất chiêu th́nh ĺnh, mà không đạt được kết quả. Y thị thẹn quá, chuyển thân quay tṛn kiếm đánh ra một chiêu thần tốc. Tịnh-Tuệ không những không tránh, bà lại lao đầu vào người y thị. Kiếm sượt qua hông bà. Tay phải bà ấn vào vai Hoàng Liên, rồi người bà bay ra sau y thị.


    Hoàng Liên lạ lùng suy nghĩ:


    - Trước đây bản lĩnh của sư phụ của mụ là Duyên-Tịnh c̣n thua ta xa. Th́ ta có coi y thị ra ǵ? Hai chiêu vừa rồi tại sao ta lại không biết nhỉ? Hay nó đă âm thầm học được của cao nhân nào? Nhưng không phải, v́ từ cách vận công đến phát chiêu đều nằm trong khuôn khổ vơ công Mê-linh. Như vậy có thể ngày trước Hoa-Minh sư phụ ta thiên vị, dấu một số chiêu thức truyền cho Duyên-Tịnh, rồi Duyên-Tịnh truyền cho y thị.


    Sự thực không phải thế. Khi sư thái Duyên-Tịnh biết ḿnh sắp viên tịch. Bà gọi Tịnh-Tuệ, Tịnh-Huyền tới dặn rằng:


    - Trong tất cả các đệ tử của ta, chỉ có hai con xuất gia. Sau khi ta viên tịch, Tịnh-Tuệ thay ta làm chưởng môn. Suốt cuộc đời, ta dồn tâm huyết để cố tổng hợp vơ công Cửu-chân, Long-biên, Hoa-lư làm một. Nhưng chưa hoàn tất, thân thể ta đă mục. Trong ba loại vơ công, th́ Long-biên, với Cửu-chân cùng một tổ Vạn-Tín hầu chế ra. Xưa kia Bắc-B́nh vương Đào Kỳ nhân biết học thuyết âm dương mà hợp được vơ công dương của Cửu-chân với âm nhu của Long-biên. Sau khi người tuẫn quốc thuật này bị thất truyền. Cho đến nay, ngay vơ công Long-biên, hay Cửu-chân cũng không c̣n đầy đủ, c̣n mong ǵ tổng hợp.


    Bà ngừng lại, rồi tiếp:


    - Phái Mê-linh thành lập đă ba đời. Sau ba đời, căn bản vơ đạo khá vững. Bây giờ cần phát triển vơ công. Người xưa sáng chế ra được, chúng ta cũng sáng chế ra được. Suốt cuộc đời, ta đă tổng hợp được một phần nội công Cửu-chân với Long-biên. Sau đó sáng chế ra một thứ nội công mới. Chiêu thức, ta cũng lấy tinh hoa của hai thứ vơ công hỗn hợp quyền, kiếm, chưởng. Hôm nay, ta truyền cho hai con.


    Bà giảng:


    - Về ngoại công, ta sáng chế ra những chiêu thức khắc chế với chiêu thức cổ. Sau đó trộn lẫn đi. Tỷ dụ một chiêu vơ công Cửu-chân đánh thẳng ra, tiếp theo một chiêu gạt ngang. Như vậy một người chúng ta hoá làm hai.


    Thế rồi bà diễn từng chiêu một. Tịnh-Tuệ, Tịnh-Huyền cố gắng ghi nhận. Khoảng hơn tuần th́ làu thông.


    Sau khi Duyên-Tịnh viên tịch, Tịnh-Tuệ, Tịnh-Huyền cố gắng cùng nhau tổng hợp, sáng chế những ǵ sư phụ bỏ dở. Chỉ cần năm năm, hai bà đă làm xong công việc đó. Nhờ vậy sư thái Tịnh-Tuệ trở thành một trong Đại-Việt ngũ-long. C̣n Tịnh-Huyền, vân du nay đây, mai đó thuyết pháp. Hai chiêu mà Tịnh-Tuệ dùng để đối phó với Hoàng Liên chính là pho vơ công mới tổng hợp sáng chế ấy.

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 4
    Last Post: 29-10-2012, 07:45 PM
  2. MUỐN ĂN GẮP BỎ CHO NGƯỜI GẮP QUA GẮP LẠI thái san
    By ttv2007 in forum Thơ Văn Tự Sáng Tác
    Replies: 0
    Last Post: 09-02-2012, 09:20 AM
  3. CHẾ ĐỘ TRUNG CỘNG CHẮC CHẮN SẼ SỤP ĐỔ
    By nguoibatcao in forum Tin Việt Nam
    Replies: 1
    Last Post: 27-06-2011, 11:12 AM
  4. Replies: 54
    Last Post: 20-12-2010, 02:27 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •