Page 4 of 7 FirstFirst 1234567 LastLast
Results 31 to 40 of 65

Thread: Vụ án “buôn vua” Việt Nam - Hồ Chí Minh - P1

  1. #31
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    T́m hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh "Hồ Chí Minh sinh b́nh khảo"
    Hồ Tuấn Hùng
    Kỳ 5
    Người dịch: Thái Vằn
    P3



    Trần Trọng Kim viết: “Nghe tin Đỗ Thị Lạc đă có một người con gái với Hồ Chí Minh nên có thể xem chuyện này là có thật”. Căn cứ vào “Hồ Chí Minh và Trung Quốc” trang 164 của giáo sư Hoàng Tranh có đoạn ghi chép về “Hồ Chí Minh và Đỗ Lệ Hoa”, tôi phỏng đoán, Đỗ Lệ Hoa chính là Đỗ Thị Lạc. Chuyện như sau: “Tháng 8 năm 1962, Hồ Chí Minh đến Trung Quốc, ở lại một thời gian, đă từng đến thăm phong cảnh nổi tiếng ‘Thạch Lâm” ở Vân Nam. Đoàn Văn công Vân Nam có nữ ca sĩ hát giọng nữ cao Đỗ Lệ Hoa tháp tùng chủ tịch Hồ Chí Minh tham quan. Bên cạnh Hồ Chí Minh, Đỗ tiểu thư đă có những giây phút vô cùng hạnh phúc. Trước đó một năm, Hồ Chí Minh đă từng quen biết Đỗ Lệ Hoa. Đó là năm 1961, Hồ Chí Minh cùng Đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam sang thăm Trung Quốc. Một ngày, tại Hoài Nhân Đường Bắc Kinh, Đoàn nghệ thuật chuẩn bị thăm Miến Điện, biểu diễn một buổi dành riêng cho các vị khách Việt Nam. Sau buổi biểu diễn, Hồ Chí Minh đặc biệt đề nghị Đỗ Lệ Hoa cùng ông và chủ tịch Mao Trạch Đông chụp chung một kiểu ảnh. Hồ Chí Minh cười hiền từ nh́n Đỗ Lệ Hoa rất lâu như muốn lưu giữ măi h́nh ảnh của cô. Lần này, khi đến nhà khách, Đỗ Lệ Hoa được thông báo, Hồ Chí Minh mời vợ chồng cô đến Thạch Lâm tham quan thắng cảnh. Đỗ Lệ Hoa vô cùng phấn chấn, ḷng thầm nghĩ, đă một năm qua rồi, không biết Hồ Chí Minh giờ đây thế nào, cô hận là không thể lập tức chạy ngay đến bên Hồ Chủ tịch. Khi Đỗ Lệ Hoa vừa đến nhà khách Thạch Lâm, Hồ Chí Minh đă chờ sẵn ở cửa trước, vừa nh́n thấy cô văn công, ông vội bước ra, thân mật gọi: “Tiểu thư Lệ Hoa, hoan nghênh cô đến, có nhớ năm trước chúng ta gặp nhau ở Bắc Kinh không?”. Đỗ Lệ Hoa phấn khởi nói: “Nhớ, Nhớ ạ”, rồi trân trọng trao tấm ảnh kỷ niệm đă được phóng to cho Hồ Chí Minh”.

    Từ việc ĐTL chết, độ tuổi của ĐLH, ĐLH đứng giữa MTĐ và HCM chụp ảnh kỷ niệm, đến cuộc gặp gỡ và t́nh cảm đặc biệt giữa ĐLH và HCM ở khu nghỉ mát Thạc Lâm, làm cho người ta khó nói ĐLH không phải là người t́nh của HCM.

    Mối t́nh của Hồ Chí Minh và Nông Thị Xuân.

    Trần Quốc Hoàn v́ v́ có công trong việc trấn áp các phần tử phản cách mạng mà thành danh, năm 1953 được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Công an. Năm 1955, một thiếu nữ là Nông Thị Xuân từ vùng biên giới tỉnh Cao Bằng được đưa về Hà Nội. Cô này khá xinh đẹp được chủ tịch Hồ Chí Minh để ư nên Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương đă bố trí làm y tá bên cạnh ông Hồ. Một năm sau, Nông Thị Xuân sinh với Hồ Chí Minh một bé trai. Đứa bé được bí mật gửi nuôi vài nơi, nhưng cuối cùng, thư kư riêng của Hồ Chí Minh là Vũ Kỳ đưa về nhà nhận làm con. Vào một ngày năm 1957, người ta phát hiện Nông Thị Xuân bị tai nạn ô tô chết bên đường chân Dốc Chèm. Không lâu sau, hai người em họ của cô Xuân cũng bị đột tử. Khi mới xảy ra sự kiện này rất ít người biết chuyện, nhưng nhiều năm sau, người chồng chưa cưới của một trong hai thiếu nữ, đă viết thư gửi lên Quốc hội, tố cáo Trần Quốc Hoàn cưỡng dâm Nông Thị Xuân rồi sát hại cô bằng một vụ tai nạn được công an dàn dựng. Anh ta nói rơ, Trần Quốc Hoàn sợ hai người em họ của Nông Thị Xuân tố cáo tội ác nên hắn đă cho mật vụ thủ tiêu cả hai chị em. Tất nhiên, sự kiện này bị ỉm đi và cũng không có bất cứ phiên ṭa nào đủ bản lĩnh đứng ra thụ lư vụ án trên. Trần Quốc Hoàn xem như vô can, tại Đại hội III, y c̣n được bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, những tin tức về vụ giết người bịt miệng dă man này đă được các cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam biết rơ, có điều tất cả đều ngậm miệng, bởi họ không lạ ǵ Cảnh Con (tên tục của Trần Quốc Hoàn ) vốn xuất thân từ dân đao búa, đă từng làm đủ nghề, từ cầm cờ đám ma, lưu manh trộm cắp đến lừa thầy phản bạn. Hồ Chí Minh có biết hay không sự kiện động trời này, mọi người đều không dám khẳng định, cho dù, ông mới là “chính danh thủ phạm” của vụ án thảm khốc cướp đi mạng sống của ba thiếu nữ xinh đẹp, vô tội.

    Mối t́nh của Hồ Chí Minh và Nông Thị Xuân được William J. Duiker ghi chép tại chương 9 “ Giữa hai lần chiến dịch”, trang 505-506 trong tác phẩm “Truyện Hồ Chí Minh”. Phần chú thích từ trang 63 đến 660, nội dung dẫn từ “Đêm giữa ban ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên (con trai cụ Vũ Đ́nh Huỳnh, từng là thư kư riêng cho Hồ Chí Minh thời kỳ 1946-1955). Nguyên văn bản tố cáo tội ác Trần Quốc Hoàn của vị hôn phu cô Nguyễn Thị Vàng đăng tải trong “Việt Nam lục”, mùa thu, tháng tám, năm 1997, trang 8-11.

    Trong “Thê thiếp và nhân t́nh của Hồ Chí Minh” của “ Lĩnh Nam di dân” cũng ghi chép về mối quan hệ luyến ái giữa Hồ Chí Minh và Nông Thị Xuân: “Ngày 20 tháng bảy năm 1954, sau Hiệp định Genève, Hồ Chí Minh trở về Hà Nội đảm nhiệm chức Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng ḥa. Năm 1955, Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương tuyển một thiếu nữ thuộc thành phần gia đ́nh cách mạng miền núi đưa về Hà Nội, phục vụ sinh hoạt cho Hồ Chí Minh. Cô gái là Nông Thị Xuân, dân tộc Nùng ( một chi nhánh của người Tráng Quảng Tây Trung Quốc, Việt Nam gọi là Nùng), nhà ở thôn Hà Ma, xă Hồng Việt, huyện Ḥa An, tỉnh Cao Bằng. Lúc ấy Hồ Chí Minh đă 65, Nông Thị Xuân mới gần 22. Ít lâu sau, hai cô khác, một tên Vàng, một tên Nguyệt là con người cậu Nông Thị Xuân cũng được chọn đưa về Hà Nội. Ba cô cùng ở trên gác hai ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông Nhuộm. V́ để mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh và Nông Thị Xuân không bị tiết lộ, mỗi lần cô Xuân đến Phủ Chủ tịch đều được Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn cho xe đến đón”.

    Những câu chuyện “Hồ Chí Minh và Đỗ Thị Lạc”, “ Hồ Chí Minh và Nông Thị Xuân”, cùng “Chuyện t́nh ái và những người con sinh ra trong bóng tối”, (cho đến nay, dân gian vẫn lưu truyền, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh là con rơi của Hồ Chí Minh) cũng như thân phận thật Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc, vẫn c̣n là những bí mật, chưa có câu trả lời thỏa đáng. Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân, thời gian ghi chép, địa điểm, nội dung, nguồn gốc tin tức…sự thật chỉ có một mà sự tô vẽ, phóng đại th́ rất nhiều bởi người đời làm cho sự việc ngày càng trở nên phức tạp, khó xác định chân tướng.

    Tổng kết về hôn nhân và t́nh ái trong cuộc đời Hồ Chí Minh.

    Khảo cứu về hôn nhân, t́nh ái của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh trong vô vàn sự kiện cũng như mối quan hệ phức tạp, phải nói rất khó khăn và tốn nhiều công sức. Tuy nhiên, cần phải tin chắc một điều, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh không phải là một người, cho nên chuyện hôn nhân và t́nh ái của họ cũng khác nhau. Trong khi tra cứu hồ sơ, t́m hiểu manh mối qua các nguồn tư liệu, ( người viết) cần có thái độ khách quan, tôn trọng chứng cứ mới těm ra được sự thật trong mớ tài liệu hỗn độn do lịch sử để lại, về quan hệ hôn nhân, t́nh ái của nhân vật đặc biệt này.

    Trước hết, cần phân biệt chuyện hôn nhân t́nh ái của Nguyễn Ái Quốc với Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Ái Quốc với Nguyễn Thị Minh Khai khác với hôn nhân t́nh ái giữa Hồ Chí Minh với Đỗ Thị Lạc, Hồ Chí Minh với Nông Thị Xuân, Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan. Từ đó có thể rút ra kết luận, quan hệ t́nh ái giữa Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai đều h́nh thành trong đấu tranh cách mạng một cách chân t́nh, nồng nhiệt. Những cuộc t́nh bắt nguồn từ khói lửa chiến loạn này rất đáng được ca ngợi, không cần phải giấu diếm, càng không nhất thiết có thái độ bôi nhọ.

    T́nh ái giữa Hồ Chí Minh và Đỗ Thị Lạc, Hồ Chí Minh và Nông Thị Xuân, Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan, trong đó hàm chứa những nỗi đau triền miên làm người đọc cảm động, tỏ thái độ đồng t́nh, đồng thời phản đối chiến tranh, phản đối bạo lực. Hy vọng rằng những t́nh cảm nam nữ chân thành này sớm được làm sáng tỏ để nhân gian có cái nh́n đúng đắn về nhân vật huyền thoại Hồ Chí Minh.

    Mùa hè năm 1959, Đảng Cộng sản Trung Quốc họp Hội Bộ Chính trị mở rộng tại Lư Sơn, cũng là lúc Hồ Chí Minh đến thăm Trung Quốc với tư cách cá nhân. Chiều ngày 8 tháng mười, Lưu Thiếu Kỳ cùng Vương Quang Mỹ, Chu Đức cùng Khang Khắc Thanh, Chu Ân Lai cùng Đặng Dĩnh Siêu, Lư Phú Xuân cùng Thái Sướng đến biệt thự 394. Hồ Chí Minh thấy nhiều bạn bè cũ đến thăm, chợt cao hứng hỏi Đặng Dĩnh Siêu: “Tiểu Siêu, nhiều khách quư thế này, hôm nay tôi phải lấy ǵ chiêu đăi?”. Một tiếng “Tiểu Siêu” làm Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu nhớ lại một thời đă qua. Dịp ấy vào năm 1925, Nguyễn Ái Quốc vừa từ Liên Xô về Quảng Châu, biết tin Chu Ân lai vừa được bổ nhiệm là Hiệu trưởng Trường Quân sự Hoàng Phố, ông ta đă đến tận pḥng ở của hai người chúc mừng. Lúc ấy, Chu Ân Lại gọi vào trong nhà: “Tiểu Siêu, mang đường ra đây”. Đă hơn ba mươi năm, Hồ Chí Minh đă trở thành ông già “cổ lai hy”, từ một chí sĩ vong quốc đến người đứng đầu nhà nướcViệt Nam, tất cả dường như chỉ mới hôm qua. Đặng Dĩnh Siêu đón tiếp Hồ Chí Minh, ánh mắt tươi rói, cười bảo: “Pha cà phê”.

    Chiều ngày 12 tháng tám, vào lúc 5 giờ, Dương Thượng Côn cùng Vương Giá Tường đến biệt thự 394 thăm Hồ Chí Minh. Một lúc sau có tiếng phụ nữ ồn ào từ ngoài vọng vào. Hồ Chí Minh quay đầu nh́n ra, chính là đội ngũ “nương tử quân” “giá đáo” gồm Thái Sướng, Đặng Dĩnh Siêu, Khang Khắc Thanh, Vương Quang Mỹ, ngoài ra c̣n một vài người chưa quen biết. Mọi người mời Hồ Chí Minh ở lại Lư Sơn thêm ít ngày.

    - Được thôi, sau này Việt Nam thống nhất tôi sẽ sang Lư Sơn ở hẳn một năm hoặc nửa năm.

    - Chúng tôi không mời riêng một ḿnh Chủ tịch ở lại đâu nhé! – Thái Sướng nói giọng đầy ẩn ư.

    - Đương nhiên, tôi biết, v́ thế, tôi sẽ mời một số đồng bào…

    - Không đâu, chỉ đề nghị Chủ tịch cùng phu nhân đến thôi.

    Hồ Chí Minh cười, chậm răi nói:

    - Được thôi, nhờ Tiểu Siêu đề đạt ư kiến với Hội Phụ nữ, không được th́ phải đền đấy.

    - Đúng vậy, Chủ tịch nên chọn một người vợ cách mạng, chẳng nên bắt đền chị Đặng.

    Các bà khách chẳng giữ ư tứ ǵ, nói năng thoải mái, cười khanh khách vang khắp nhà. Hồ Chí Minh luôn sống độc thân. Nhiều năm qua, Việt Nam và Trung Quốc quan tâm đến t́nh trạng hôn nhân của ông không ít, nhưng có lẽ, ngay từ thờ trai trẻ, ông đă chủ tâm lập chí, đất nước chưa độc lập, th́ chưa thành gia thất chăng?

    Các “nữ đồng bào” vẫn vui vẻ cười đùa:

    - Lần sau Chủ tịch đến đây chị em chúng tôi mong được ăn kẹo cưới.

    Hồ Chí Minh đứng lên, vẫy tay gọi vào trong:

    - Mời mang kẹo ra đây chiêu đăi khách quư

    - Loại kẹo này chúng tôi không ăn.

    - Vậy xin mời các phu nhân dùng cà phê.

    - Cà phê cũng không uống.

    Hồ Chí Minh cười:

    - Vậy tôi đọc một bài thơ được không?

    - Không yêu cầu Chủ tịch làm thơ. – Các vị khách đều biết Hồ Chí Minh sành làm thơ nên mới nói đùa vậy.

    Hồ Chí Minh là một người có tính cách đặc biệt, ông nhẹ nhàng nói, thời kỳ năm 1940, cơ cấu ban lănh đạo cách mạng Việt Nam được thành lập tại Côn Minh, để cổ vũ quần chúng, tôi có làm một số “du thi”, xin đọc một bài bài để các nữ đồng chí nghe:

    Tam tứ niên lai vọng đoạn trường

    Niệm lang lưu lạc tại tha hương

    Đồng tâm kết phát thùy thiếp kiên

    Cửu biệt lệ lưu thấp lang diện

    Quốc hận gia sầu lang vật vong

    Gia thường tỏa sự thiếp toàn đương

    Đăi lang diệt địch quy lai nhật

    Huề thủ đoàn viên lạc điền trang.


    Tạm dịch nghĩa:

    Ba bốn năm nay trông ngóng đến đứt ruột

    Nhớ chàng lưu lạc nơi quê người

    Dải tóc kết đồng tâm rủ xuống vai thiếp

    Ḍng lệ khi từ biệt thấm ướt mặt chàng

    Nợ nước thù nhà chàng không quên

    Công việc ở nhà thiếp gánh vác

    Đợi ngày chàng diệt địch trở về

    Dắt tay nhau vui vẻ sống cảnh điền viên.

    Các phu nhân chăm chú nghe Hồ Chí Minh đọc từng câu thơ với tâm trạng vô cùng xúc động. Ông biểu thị t́nh cảm sau sắc qua từng ngữ điệu, khiến các vị khách, sau khi rời biệt thự 394 ḷng đầy cảm thán: “Nếu như Việt Nam sớm độc lập, thống nhất, Hồ Chí Minh nhất định sẽ là người chồng mẫu mực, hết ḷng thương yêu vợ”. Trước lúc chia tay, các phu nhân c̣n tranh nhau đứng gần Hồ Chí Minh chụp ảnh kỷ niệm làm Dương Thượng Côn và Vương Giá Tường phải bật cười”.

    Bài viết trên là căn cứ vào “Hồ sơ Lư Sơn” của Mă Xă Hương, chương 4 “ Hồ Chí Minh bí mật đến Lư Sơn”, do Nhân dân xuất bản xă ấn hành tháng năm năm 2006. Căn cứ văn bản trên, tôi đặc biệt nghi ngờ Thái Sướng và Đặng Dĩnh Siêu. Có một tấm ảnh Hồ Chí Minh cầm tay Đặng dĩnh Siêu và Thái Sướng cười giữa một đoạn đường núi được Han Suyin chụp, Trương Liên Khang dịch trong cuốn “ Chu Ân Lai và Trung Quốc hiện đại”, trang 314. “Hồ sơ Lư Sơn, Hồ Chí Minh bí mật đến Lư Sơn”, kèm theo tấm ảnh, Hồ Chí Minh đứng giữa, bên phải cầm tay Đặng Dĩnh Siêu, bên trái cầm tay Thái Sướng, ba người tỏ ra rất thân mật (xem ảnh dưới). Tôi không tin việc Hồ Chí Minh, với tư cách Chủ tịch, lấy quốc gia làm trọng, vậy mà lại gọi phu nhân của Chu Ân Lai bằng cái tên “Tiểu Siêu”, Đặng Dĩnh Siêu chẳng những không phật ư mà c̣n vui vẻ mỉm cười. Lại nữa, Hồ Chí Minh trả lời các mệnh phụ phu nhân “Việt Nam thống nhất tôi sẽ sang Lư Sơn ở hẳn một năm hoặc nửa năm”. Thái Sướng nói giọng đầy ẩn ư: “Chúng tôi không mời riêng một ḿnh Chủ tịch ở lại đâu nhé!”. Những lời đối đáp có tính cợt nhả ấy đều vượt qua nghi lễ ngoại giao, thậm chí vượt qua cả t́nh cảm đồng chí, nhất là, khi ấy Đặng Dĩnh Siêu và Thái Sướng lại là cán bộ cao cấp lănh đạo Hội Phụ nữ Trung Quốc. Chuyện các vị nữ khách đề nghị Hồ Chí Minh đọc thơ t́nh cũng rất khó xảy ra. Người viết không tin là giữa Hồ Chí Minh và các phu nhân có bất kỳ mối quan hệ t́nh cảm mờ ám nào. Tôi đồ rằng, trong số các mệnh phụ phu nhân đến biệt thự 394 hôm ấy, có người ngấm ngầm muốn công khai bí mật thân phận thật của Hồ Chí Minh trước bàn dân thiên hạ. Chính v́ vậy, qua những lời nói khá t́nh cảm của Hồ Chí Minh và Đặng Dĩnh Siêu, làm tác giả Bùi Tín hiểu lầm là hai người đă từng yêu nhau.

    Trở lại năm 1926, Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh chính thức cử hành hôn lễ tại Quảng Châu, Đặng Dĩnh Siêu, Thái Sướng từng là người làm mối và chủ tŕ. Năm 1958, xảy ra vụ “Tăng Tuyết Minh hôn nhân xung đột song bào án kiện” (Vụ án kép những mâu thuẫn hôn nhân của Tăng Tuyết Minh”, Thái Sướng phải đứng ra giải quyết mới dẹp được sóng gió. Cũng năm 1958, Hồ Chí Minh v́ muốn hoàn thành tâm nguyện kết hôn cùng Lâm Y Lan nên đă nhờ Đào Chú, Chu Ân Lai giúp đỡ. Theo những bằng chứng đáng tin cậy, có thể thấy, Đặng Dĩnh Siêu, Thái Sướng biết rất rơ Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh không phải là một người, biết rơ Nguyễn Ái Quốc đă bị bệnh chết, càng rơ hơn, Hồ Chí Minh là kẻ bội bạc hôn nhân. Tuy nhiên, với Lâm Y Lan, Hồ Chí Minh lại đặc biệt dành t́nh cảm cho bà, khiến tôi vô cùng kính trọng và biểu đồng t́nh.

  2. #32
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    T́m hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh "Hồ Chí Minh sinh b́nh khảo"
    Hồ Tuấn Hùng
    Kỳ 6
    Người dịch: Thái Vằn


    Ngày 16 tháng bảy năm 1947, Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn một tờ báo nước ngoài: “Đă hỏi đến chuyện hôn nhân và tương lai, xin hăy để tôi tự nhiên trả lời. Tôi không có gia đ́nh, không vợ con, Việt Nam chính là gia đ́nh tôi, các bậc phụ lăo chính là người thân của tôi, phụ nữ Việt Nam
    chính là chị em tôi. Tôi chỉ có một điều duy nhất phải theo đuổi là đấu tranh để Việt Nam độc lập, thống nhất và dân chủ. Sau khi nguyện vọng hoàn thành, tôi sẽ cáo lăo hồi hương, làm một người dân b́nh thường, du ngoạn núi sông, trồng cây, viết sách”.

    Đoạn trả lời phỏng vấn trên được dẫn từ “Hồ Chí Minh văn tập”, tập V, trang 171, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, làm tôi suy nghĩ măi. Trừ đoạn nói là không gia đ́nh, không vợ con, Hồ Chí Minh sau khi hoàn thành nguyện vọng không thấy ông cáo lăo về quê, bởi suy cho cùng, nếu thực hiện lời hứa ấy th́ ông về quê nào?

    Vào thời kỳ trước năm 1947, Hồ Chí Minh chưa từng công khai quê quán hoặc thừa nhận ḿnh là Nguyễn Ái Quốc, thậm chí c̣n tích cực tranh thủ nước Mỹ, yêu cầu viện trợ giúp đỡ Việt Nam giành độc lập. Trong thâm tâm Hồ Chí Minh, phải chăng, ông đợi sau khi Việt Nam độc lập, Đài Loan được ủy thác cho quân Đồng minh quản lư cũng giành độc lập, như thế, ông có thể đàng hoàng trở về quê hương, thực hiện lời hứa với người em Hồ Tập Dưỡng “Không thành công không về quê hương”.Tuy nhiên, trời chẳng chiều người, chỉ một năm sau, quân đội Quốc dân đảng tiến nhập Đài Loan, thế là Hồ Chí Minh chẳng bao giờ có thể trở về cố hương, đúng như lời Ngô Trọc Lưu nói, ông Hồ là “đứa con côi châu Á”.

    Thiên V
    Chữ Hán "Nhật kư trong tù" và "Di chúc"

    Khả năng Trung văn của Hồ Chí Minh.

    Trong “Hồ sơ Lư Sơn "Hồ Chí Minh bí mật đến Lư Sơn” có ghi chép Hồ Chí Minh dùng ngón tay viết thư pháp: “Bí thư Đảng ủy Cục quản lư Lư Sơn Lâu Thiệu Minh, phó bí thư Thái Thiệu Ngọc, Giang Vĩnh Đức nghe tin Hồ Chí Minh sắp rời Lư Sơn, vội vă kéo nhau đến biệt thự 394, một là để nghe ư kiến Hồ Chí Minh về thái độ tiếp đăi khách, hai là đề nghị ghi lưu niệm. Nhận xét về cái ǵ đây? Hồ Chí Minh đề nghị mang nghiên bút để trên bàn. Ông thử bút, cảm thấy ngọn bút hơi nhỏ liền khẽ hỏi:

    - Tôi dùng ngón tay viết dược không?

    Lâu Thiệu Minh gật đầu lia lịa. Hồ Chí Minh thong thả nhúng ngón tay vào nghiên mực, viết ba chữ lớn:” Lư Sơn hảo” (Lư Sơn tốt) rồi lùi về phía sau hai bước ngắm nghía. Lâu Thiệu Minh liếc qua, rất khâm phục:

    - Thưa Hồ Chủ tịch! Người viết chữ Hán thật tuyệt.

    Sau khi viết “Lư Sơn hảo” bằng ngón tay, Hồ Chí Minh lại dùng bút tiểu khải viết 10 chữ nhỏ: “ Hồ Chí Minh, tháng tám năm 1959” vào ḍng lạc khoản để kỷ niệm chuyến thăm Lư Sơn".

    Căn cứ vào đoạn văn trên th́ tŕnh độ thư pháp của Hồ Chí Minh thuộc vào loại khá, nhưng William J. Duiker trong “Truyện Hồ Chí Minh”, trang 143 lại viết: “Mùa xuân năm 1927, Nguyễn Ái Quốc ở lại Quảng Châu hơn nửa năm, việc trước mắt là ổn định sinh hoạt, sau đó t́m một người vợ địa phương để học tiếng Trung Quốc".

    Trong cuốn “Chu Ân Lai và Trung Quốc hiện đại” do Han Suyin viết, Trương Liên Khang dịch, trang 84, 85 có đoạn: “Mùa thu năm 1925, có một thanh niên Việt Nam gầy yếu, tự xưng là Nguyễn Ái Quốc, sau này là Hồ Chí Minh... Lúc ấy Thái Sướng và chồng là Lư Phú Xuân đang ở Quảng Châu, do đó hai người đều quan tâm đến Hồ Chí Minh. Lư Phú Xuân và Đặng Dĩnh Siêu sắp xếp chỗ ăn ở cho Hồ Chí Minh rất chu đáo, đồng thời c̣n dạy Hồ tiếng Trung Quốc. Không lâu sau, Hồ Chí Minh có thể giao thoại được những câu đơn giản”. William J. Duiker cũng như Han Suyin đều viết về Hồ Chí Minh, nếu đem so sánh với việc Hồ Chí Minh viết thư pháp bằng ngón tay ở Lư Sơn sau này, th́ ta sẽ thấy tŕnh độ nghe, nói, đọc, viết của ông ta trước đây khác nhau một trời một vực.

    Khảo cứu quá tŕnh học tập của Nguyễn Ái Quốc, tác giả nhận thấy, cho đến năm 1932, hầu như không thấy ông sử dụng Hán văn trong các bài viết, chưa nói đến tŕnh độ viết thư pháp chữ Hán. V́ sao đến năm 1938, sau khi rời Mạc Tư Khoa về vùng biên giới Việt Trung hoạt động, Hồ Chí Minh lại đột nhiên sử dụng Hán văn, viết báo, làm thơ và viết thư pháp một cách thành thạo? Chúng tôi vô cùng nghi ngờ. Có thật Nguyễn Ái Quốc dùng ngón tay viết thư pháp? Có thật ông dùng Hán văn viết “Nhật kư trong tù”? Phải chăng đây là chứng cứ không thể bác bỏ của thủ thuật “Mượn xác hoàn hồn” (Tá thi hoàn hồn), “Dời hoa tiếp cây” (Di hoa tiếp mộc)? Mưu đồ của Quốc tế cộng sản dùng Hán văn liên kết Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh thành một người tưởng như hoàn hảo nhưng thật không ngờ lại xuất hiện một vết nứt trí mạng. Tục ngữ Trung Quốc có câu "Nói dối được một câu, nhất định sẽ có mười câu nói dối nữa, nhưng nói dối cuối cùng thế nào cũng bị lộ tẩy”( Thuyết nhất cú hoang thoại, tất tu tái dụng thập cú hoang thoại, hoang thoại tối chung tương bị tiệt phá, lộ xuất phá trán). Mạo dùng Nguyễn Ái Quốc không thông thạo Hán văn liên kết với Hồ Chí Minh, chỉ có thể đánh lừa được một số người trong một thời gian ngắn, c̣n lâu dài mà nói, sau khi có đầy đủ chứng cớ về khả năng Trung văn của Nguyễn Ái Quốc để khẳng định Nguyễn Ái Quốc không phải là Hồ Chí Minh th́ việc làm trên hoàn toàn trở thành một tṛ đùa dai.

    Theo một chương trong “Hồ Chí Minh toàn tập”, tập 12, th́ chính những người biên tập những ḍng hoang tưởng trên đă vô t́nh để lộ ra Nguyễn Ái Quốc đọc, viết không thành thạo tiếng Trung Quốc. Tại thiên này, chúng tôi đặc biệt chú trọng vào việc Hồ Chí Minh viết báo, làm thơ, trong đó có “Nhật kư trong tù” và “Di chúc”, để một lần nữa chứng minh Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là hai con người hoàn toàn khác nhau. Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương đến từ Miêu Lật, Đài Loan, thuộc sắc tộc Khách Gia.

    Quá tŕnh Nguyễn Ái Quốc học tập ngữ văn.

    Về mặt chính thống, ta thường thấy các nhà viết truyện kư về Hồ Chí Minh viết tiểu sử sơ khởi của ông như sau: “Nguyễn Ái Quốc sinh trưởng trong một gia đ́nh có truyền thống nho học. Từ nhỏ ông đă được tiếp xúc với nền giáo dục Hán học nên tŕnh độ ngữ văn Trung Quốc rất cao, làm thơ giỏi, viết thư pháp đẹp”. Mới nghe xem ra có lư, tuy nhiên, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nước Pháp thực dân đă bắt đầu khai thác thuộc địa tại Việt Nam, phần lớn các gia đ́nh quan lại hoặc nhà giàu đều cho con cái sang Pháp du học, đặc biệt là sau khi nhà Nguyễn phế bỏ hệ thống khoa cử lỗi thời để tuyển chọn nhân tài, th́ số người c̣n lưu luyến với nền Hán học không đáng là bao. Cách làm của người cha Nguyễn Ái Quốc là một ví dụ điển h́nh. Tuy đă từng đỗ đại khoa với học vị Phó bảng, nhưng ông Nguyễn Sinh Sắc dường như cũng không muốn Nguyễn Ái Quốc theo đ̣i nghiệp bút nghiên mà lại tích cực ủng hộ con trai học tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ.

    Dựa trên những ghi chép của William J. Duiker và Sophie Quinn-Judge, Nguyễn Ái Quốc từ năm 21 tuổi trở về trước là thời kỳ lưu lạc, cuộc sống cùng khốn, rất khó có điều kiện ổn định học tập. Chúng tôi dùng phương pháp so sánh quy nạp, thống kê quá tŕnh học tập của Nguyễn Ái Quốc tại Việt Nam như sau:

    Việc tiếp thụ giáo dục Hán văn tại các trường tư thục không quá 3 năm và Pháp văn không quá 4 năm. Từ năm 1911 đến năm 1923, Nguyễn Ái Quốc bôn ba hải ngoại từ châu Âu, Bắc Mỹ đến Bắc Phi, trước sau có khoảng 4 năm học Anh ngữ trong các môi trường làm việc vất vả, hoàn toàn không có điều kiện tiếp tục học Hán văn hoặc tiếp xúc với văn hóa Hán. Theo Đặng Dĩnh Siêu, vào thời điểm năm 1925, bà có dạy Nguyễn Ái Quốc học tiếng Trung, đến năm 1926 th́ ông ta kết hôn với Tăng Tuyết Minh. Sự việc này đúng là có thực. Nói cách khác, đến năm 1927, tŕnh độ nghe, nói, đọc và viết chữ Hán của Nguyễn Ái Quốc rất hạn chế. Từ năm 1928 đến năm 1932, Nguyễn Ái Quốc bôn tẩu khắp nơi, qua Xiêm La (Thailand), Tân Gia Ba (Singapore), sang châu Âu, rồi lại về Hương Cảng, Thượng Hải, thêm chứng bệnh lao phổi kéo dài, lại bị giam trong ngục, t́nh trạng sức khỏe hết sức kém, rất khó có đủ điều kiện tiếp tục học chữ Hán. Từ đó có thể kết luận, tŕnh độ Hán văn của Nguyễn Ái Quốc chỉ dừng lại ở mức độ 3 đến 4 năm cấp tiểu học, tuyệt đối không có khả năng viết báo, tạp chí và những bài nghị luận trường thiên lời văn khúc chiết, đanh thép, không thể là tác giả của “Nhật kư trong tù”, càng không có khả năng viết thư pháp bút lông hoặc “thư pháp ngón tay” chữ Hán

    Tŕnh độ ngữ văn của Hồ Tập Chương.

    Hồ Tập Chương lớn lên ở Đài Loan, từ nhỏ đă được giáo dục nền văn hóa Hán, mới 4 tuổi đă được cha anh dạy học thuộc ḷng “Bách gia tính”, “Thiên gia thi”, đọc sách “Luận ngữ”, “Mạnh tử”, “Trung dung” và tập viết thư pháp. Mười tuổi, Hồ Tập Chương đă bắt đầu học Sơ đẳng rồi Cao đẳng của hệ thống giáo dục Nhật Bản, 20 tuổi tôt nghiệp Cao đẳng công nghiệp Đài Bắc, tŕnh độ tiếng Nhật và tiếng Anh vững vàng. Năm 1929, lúc ấy Hồ Tập Chương 29 tuổi, rời Đài Loan đến Thượng Hải, tŕnh độ đọc và viết chữ Hán không thể sai sót, có khả năng viết thư pháp, nói tiếng Khách Gia Quảng Đông và tiếng Mân Nam Phúc Kiến lưu loát, c̣n việc đọc và viết tiếng Anh th́ khỏi cần nói đến. Thời kỳ đầu năm 1933, Hồ Tập Chương tiếp tục học 5 năm, đă qua lớp huấn luyện đọc và viết tiếng Việt và tiếng Pháp cơ sở. Trở lại ư kiến trên, giả thiết thời kỳ tiếp tục học tập này là của Nguyễn Ái Quốc, liệu Nguyễn Ái Quốc có nhu cầu học tập tiếng Việt và tiếng Pháp không? Hiện tại, hồ sơ lưu trữ ở Mạc Tư Khoa chỉ có các bản sao tiếng Việt và tiếng Pháp mà không t́m thấy các bản sao chữ Hán hoặc các bản nháp luyện tập thư pháp chữ Hán. Điều này có thể chứng thực, từ năm 1933 đến năm 1938, người lưu lại tại Mạc Tư Khoa là Hồ Tập Chương chứ không phải Nguyễn Ái Quốc. Huống hồ, thời kỳ này, không thấy Nguyễn Ái Quốc sử dụng Trung văn trong các bài viết đă được công bố, đồng thời cũng chưa từng phát hiện thấy bất cứ một bản thư pháp chữ Hán nào c̣n lưu lại. V́ sao, từ năm 1938, sau khi rời Mạc Tư Khoa về Trung Quốc, đột nhiên Nguyễn Ái Quốc lại sử dụng Trung văn một cách phổ biến qua hàng loạt bài báo. Chưa hết, ông ta c̣n làm thơ và viết thư pháp nữa. “Nhật kư trong tù” và “Lư Sơn hảo” là hai trong những ví dụ được kể đến.

    Có phải đây chính là sự không minh bạch giữa hai nhân vật lịch sử này chăng?

    Tập thơ “Nhật kư trong tù” của Hồ Chí Minh.

    Buổi sáng sớm ngày 27 tháng tám năm 1942, Hồ Chí Minh đi qua hương Túc Vinh, huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây th́ bị Cảnh sát Quốc dân đảng bắt giữ, giải đến Quế Lâm, nơi đặt cơ quan làm việc của Ủy viên Quân sự hội Chính phủ Quốc dân đảng thẩm vấn. Từ lúc bị bắt vào ngày 27 tháng tám tại Túc Vinh, Hồ Chí Minh bị giải qua Tĩnh Tây, Liễu Châu, Quế Lâm… qua suốt 13 trấn, giam tại 18 nhà lao. Qua 14 tháng bị giam trong ngục, Hồ Chí Minh đă dùng Hán văn sáng tác 134 bài thơ với tựa đề “Nhật kư trong tù”. Căn cứ vào lời giáo sư Hoàng Tranh, Viện nghiên cứu Khoa học xă hội Quảng Tây, cùng với những tư liệu mới thu thập, quyển “Nhật kư trong tù” được giới thiệu với công chúng như sau:

    1- Tháng 5 năm 1960, nhà xuất bản Văn học và Nhà xuất bản Ngoại văn Việt Nam phân chia nhau ấn hành thơ Hồ Chí Minh, cuốn sách đều mang tên “Nhật kư trong tù” với số lượng 100 bài. Có sự khác biệt đôi chút khi đối chiếu văn bản tiếng Việt với văn bản Trung văn của Nhà xuất bản Ngoại văn, tuy cả hai bản này đều sao chép từ bản gốc”Ngục trung nhật kư” của Hồ Chí Minh.

    2- Tháng năm năm 1965, Nhà xuất bản Văn học Nhân dân Trung Quốc xuất bản cuốn “Hồ Chí Minh thi tập” (Thơ Hồ Chí Minh), nhan đề: "Ngục trung nhật kư – thi sao”, lấy từ 100 bài thơ của Hồ Chí Minh, nội dung giống như cuốn “Nhật kư trong tù” của Nhà xuất bản Văn học Việt Nam cùng năm.

    3- Cuối năm 1977, Viện Văn học Việt Nam thành lập tiểu tổ “Nhật kư trong tù” để khảo cứu, phiên dịch, chỉnh lư văn bản một lần nữa, đồng thời bổ sung một số bài trước đây chưa từng được công bố. Tháng năm năm 1983, nhà xuất bản Văn học tiếp tục xuất bản “Nhật kư trong tù” gồm 113 bài.

    4- Tháng năm năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chí Minh, Viện Văn học Việt Nam, trên cơ sở cuốn sách xuất bản năm 1983, lại đưa thêm 21 bài trước đây cũng chưa từng được công bố, để Nhà xuất bản văn học ấn hành cũng với tên “Nhật kư trong tù”. Như vậy tổng số thơ của “Nhật kư trong tù” đến lúc này là 134 bài.

    5- Tháng mười năm 1992, giáo sư Hoàng Tranh, Viện khoa học Xă hôi quảng Tây, nhận thấy độc giả Trung Quốc đọc cuốn “Nhật kư trong tù” 134 bài của Hồ Chí Minh mới được xuất bản có nhiều chỗ khó hiểu, nhất là những địa danh và từ ngữ diễn đạt. V́ vậy, ông đă tiến hành khảo cứu, đính chính và chú giải, sau đó ủy nhiệm cho Nhà xuất bản Giáo dục Quảng Tây ấn hành với nhan đề “Chú giải thơ Nhật kư trong tù”. Cuốn sách lấy văn bản từ “Nhật kư trong tù” 134 bài của Nhà xuất bản Văn học Việt Nam, kèm theo bản đồ minh họa và chú giải.

    6- Năm 2003, Nhà xuất bản Công an nhân dân in cuốn “ Nhật kư trong tù của Hồ Chủ tịch và nghệ thuật thư pháp”, b́a cứng. Nội dung giới thiệu sơ lược tiểu sử Hồ Chí Minh, ảnh chụp nguyên bản “Nhật kư trong tù” và viết các kiểu thư pháp triện, lệ, khải, hành, thảo thư của nhà thư pháp Trung Quốc Lỗ Nguyên, căn cứ vào “Nhật kư trong tù” tŕnh bày thành tác phẩm thư pháp.

    7- Ngày 28 tháng chín năm 2003, lễ kỷ niệm 60 năm “Nhật kư trong tù” ra đời của Hồ Chí Minh được tổ chức tại nhà tưởng niệm Hồ Chí Minh ở Liễu Châu, Quảng Tây. Hiệp hội thư pháp Quảng Tây đă tổ chức triển lăm thư pháp của hơn 70 tác giả gồm 106 bức thư pháp chữ Hán, với 115 bài thơ của chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có 79 bài trong “Nhật kư trong tù”. Tháng ba năm 2004, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Quảng Tây ấn hành cuốn “Hồ Chí Minh văn, thơ, chú giải và thư pháp “.

    134 bài trong “Nhật kư trong tù” của Hồ Chí Minh, phần lớn đều dùng ngữ từ, ngữ ư của tiếng Khách Gia, hoàn toàn không có sự tu sức. Quá nửa số bài thơ dùng tiếng Khách Gia, đọc diễn cảm sẽ làm cho người nghe cảm thấy thân thiết như bạn tâm giao mà lại hết sức dễ hiểu. Trong mỗi bài thơ đều bao hàm nhiều ư tứ, có sự bày tỏ, có nỗi mong chờ, có sự kư thác của cái t́nh sâu lắng, có cả tả thực, đọc lên khiến ḷng người hoài cảm nhưng không hiểu rơ v́ sao, lại dường như có nỗi chua xót khó lư giải được ngọn ngành. Về những nét đặc thù trong thơ, giáo sư Hoàng Tranh viết: “Thơ Hồ Chí Minh có “Thất luật” (7 chữ, 8 câu), “Thất tuyệt” (7 chữ 4 câu), “Ngũ luật” ( 5 chữ) và tạp thể, nội dung phần lớn đều để thư giăn đầu óc, hoặc ghi lại những sự việc xảy ra hàng ngày, lúc hứng lên th́ ngâm nga.

    “134 bài trong “Ngục trung thi” không đơn thuần chỉ là thơ mà là một bộ “sử thi” của một nhà cách mạng tự vẽ chân dung tinh thần của ḿnh bằng thơ. Trong một số bài thơ làm trên đường khi bị giải đi, Hồ Chí Minh đă phản ánh được cuộc sống mới mẻ với tinh thần an nhiên tự tại của một nhà cách mạng giầu trí tuệ, lập trường kiên định”.

    134 bài thơ trong tập “Nhật kư trong tù”.

    Trong tác phẩm “Hồ Chí Minh sinh b́nh khảo”, tác giả Hồ Tuấn Hùng đă đưa toàn bộ 134 bài thơ “Nhật kư trong tù” của HCM vào, tổng cộng 25 trang, bắt đầu từ trang 262 là bài 1 nhan đề “Khai quyển” đến trang 286 với bài 134 nhan đề “Tân xuất ngục học đăng sơn”. Xét thấy văn bản “Nhật kư trong tù” của HCM, hơn 40 năm qua, các nhà xuất bản của Việt Nam và Trung Quốc đă lần lượt in hàng triệu bản, phổ biến rộng răi đến toàn thể nhân dân và bạn bè thế giới. V́ vậy, người dịch xin lược bỏ phần này mà chỉ đưa những bài có liên quan đến quá tŕnh kiểm chứng, chú giải, nhận xét, đánh giá, kết luận của người viết liên quan đến việc đi t́m tác giả đích thực của tác phẩm bất hủ này.

    “Nhật kư trong tù” là tác phẩm của một người thuộc sắc tộc Khách Gia.


    Photo : 014 Hồ Chí Minh sinh b́nh khảo

    Có khá nhều bài thơ trong “Nhật kư trong tù” được tác giả sử dụng tiếng Khách Gia (trong hệ thống Hán ngữ) sáng tác. Những bài thơ này, nếu dùng tiếng Khách Gia đọc diễn cảm, người nghe sẽ nhanh chóng lĩnh hội được nội dung biếu đạt lẫn t́nh ư hàm chứa trong đó, chứng tỏ tŕnh độ Hán học của tác giả khá uyên bác, không thể chỉ đọc sách vài ba năm mà viết được. Lại nữa, một số bài thơ, nhất là vào thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan, phải là người từng cư trú tại địa bàn Khách Gia, thấm nhuần tư tưởng, t́nh cảm cộng đồng dân tộc, mới viết được những câu thơ hàm súc mang đặc trưng văn hóa Khách Gia như vậy. Tác giả hoàn toàn không nói quá sự thật, chẳng cần xem xét độ ngắn dài, chặt lỏng, chỉ xin dẫn ra đây vài đoạn thơ, kính mong các bậc thức giả minh xét, Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc hay là một người thuộc sắc tộc Khách Gia, Miêu Lật?

    Cần chú ư một đặc điểm nữa của “Nhật kư trong tù” là, những từ, ngữ, câu văn hoặc phương ngôn thuộc ngữ hệ Khách Gia đă được tác giả chuyển hóa một cách nhuần nhuyễn sang từ ngữ Trung văn, chứng tỏ người viết rất am hiểu văn hóa Hán, lại thông thạo nhiều ngôn ngữ, từ cú khoáng đạt, ư tứ trôi chảy, phong thái ung dung tự tại.



    Bài 8







    太陽每早從牆上,照着龍門門未開

    籠裡現時還黑暗,光明却已面前來



    Tảo (1)

    Thái dương mỗi tảo ṭng tường thượng

    Chiếu trước lung môn môn vị khai

    Lung lư hiện thời hoàn hắc ám

    Quang minh khước dĩ diện tiền lai.



    Buổi sớm (bài 1)

    Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc,

    Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài;

    Trong ngục giờ đây c̣n tối mịt,

    Ánh hồng trước mặt đă bừng soi.



    Nam Trân - Xuân Thủy dịch



    Chú giải:

    “Lung”(籠), tiếng Khách chỉ nhà giam, pḥng giam. Người Khách Gia ở Miêu Lật bị vào nhà giam gọi là “nhập lung”(入籠), ra khỏi nhà lao gọi là “xuất lung”(出籠), giam trong nhà lao gọi là “quan lung”(關籠). Trong khi ấy, những từ với ư nghĩa trên ở Trung văn lại được gọi là “nhập ngục”(入獄), “xuất ngục”(出獄), “phục ngục”(服獄), hầu như không ai dùng chữ “lung”. Trong “Nhật kư trong tù”, từ “lung” được hiểu là “nhà giam”, “nhà ngục” hoặc “nhà tù” được sử dụng ở hơn 10 bài thơ.



    Bài 16



    脚閘



    狰獰餓口似兇神,晚晚張開把脚吞

    各人被吞了右脚,只剩左脚能屈伸



    世間更有離奇事,人憫争先上脚鉗

    因為有鉗才得睡,無鉗没處可安眠



    Cước áp (1)

    Tranh ninh ngạ khẩu tự hung thần

    Văn văn trương khai bả cước thôn

    Các nhân bị thôn liễu hữu cước

    Chỉ thặng tả cước năng khuất thân.



    (2)



    Thế gian cánh hưu ly kỳ sự

    Nhân mẫn tranh tiên thượng cước kiềm

    Nhân vị hữu kiềm tài đắc thụy

    Vô kiềm một xứ khả an miên.







    Cái cùm

    1

    Dữ tợn hung thần miệng chực nhai,

    Đêm đêm há hốc nuốt chân người;

    Mọi người bị nuốt chân bên phải,

    Co duỗi c̣n chân bên trái thôi.

    2

    Nghĩ việc trên đời kỳ lạ thật,

    Cùm chân sau trước cũng tranh nhau;

    Được cùm chân mới yên bề ngủ,

    Không được cùm chân biết ngủ đâu?



    Nam Trân dịch



    Bài 22



    分水



    每人分得水半盆,洗面烹茶各随便

    誰要洗面勿烹茶,誰要烹茶勿洗面





    Phân thủy



    Mỗi nhân phân đắc thủy bán bồn

    Tẩy diện phanh trà các tùy tiện

    Thùy yếu tẩy diện vật phanh tra

    Thùy yếu phanh tra vật tẩy diện.





    Chia nước



    Mỗi người nửa chậu nước nhà pha,

    Rửa mặt pha trà tự ư ta;

    Ai muốn pha trà, đừng rửa mặt,

    Ai cần rửa mặt, chớ pha trà.



    Nam Trân - Trần Đắc Thọ dịch



    Bài 64





    禁烟(紙烟的)



    烟禁此間很厲害,你烟繳入他烟包

    當然他可吹烟斗,你若吹烟罰手鐐



    他:獄丁也





    Cấm yên (Chỉ yên đích)



    Yên cấm thử gian hẩn lệ hại,

    Nhĩ yên kiểu nhập tha yên bao;

    Đương nhiên tha khả xuy yên đẩu,

    Nhĩ nhược xuy yên, phạt thủ liêu.



    (Tha: ngục đinh dă)





    Cấm hút thuốc (Thuốc lá)



    Hút thuốc nơi này cấm gắt gao,

    Thuốc anh nó tịch, bỏ vào bao;

    Nó th́ kéo tẩu tha hồ hút,

    Anh hút, c̣ng đây, tay ghé vào.



    Nam Trân dịch



    (Nó: lính ngục)





    bài 109



    政治部禁閉室



    二尺闊兮三尺長,四人住此日彷徨

    要伸伸腳也不可,因為人多少地方



    Chính trị bộ cấm bế thất



    Nhị xích khoát hề tam xích trường

    Tứ nhân trú thử nhật bàng hoàng

    Yếu thân thân cước dă bất khả

    Nhân vị nhân đa thiểu địa phương.



    Nhà giam của cục Chính trị

    Ba thước chiều dài hai thước rộng,

    Bốn người chen chúc ở bên trong.

    Duỗi chân một tí cũng không thể,

    Nhà hẹp mà người lại quá đông.


    Huệ Chi dịch

  3. #33
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    T́m hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh "Hồ Chí Minh sinh b́nh khảo"
    Hồ Tuấn Hùng
    Kỳ 7
    Người dịch: Thái Vằn



    Chú giải:

    Chúng tôi chọn ra 5 bài ( 16,17,22,64,109) đều có liên quan đến nhau, với mục đích để chứng minh, cùng thuộc hệ thơ văn Hán ngữ, nhưng v́ các tác giả xuất thân từ những địa phương khác nhau nên sự vận dụng từ ngữ có những chỗ khác nhau. Ví dụ, “cước liễu thủ khảo” (腳鐐手銬-xiềng chân
    c̣ng tay). Cụm từ này, tại Trung Quốc Đại lục là khá phổ biến, nhưng ở vào thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan, người dân ở đây hầu như không nói. “cước áp”. Giáo sư Hoàng Tranh thuộc Viện Khoa học Xă hội Quảng Tây, giải nghĩa: “ Cước áp”(腳閘)là một loại cùm chân bằng sắt (gông sắt), xă hội phong kiến trước đây, trong lúc áp giải phạm nhân trên đường, đề pḥng họ bỏ trốn, ban đêm đem giam vào nhà lao địa phương, khóa một chân lại, phạm nhân chỉ được tự do một chân mà thôi.

    Chúng tôi đă tra cứu “Văn sử Từ nguyên” (Từ điển Từ nguyên), “Trung văn Đại từ điển” đều không có từ “cước áp” nên phải tạm lấy “cước liễu”(腳鐐) xem như “cước áp”. Như vậy, hiển nhiên là HCM không biết từ “cước liễu” mà dùng từ “cước áp” thay thế. Tiếp đến bài 17 “cước kiềm”(腳鉗), bài 64 “ thủ liễu”(手鐐), đều chứng minh HCM không hiểu cách sử dung thành ngữ Trung Quốc “cước liễu thủ khảo” mà chỉ biết “cước kiềm thủ liễu” theo âm Khách Gia chuyển thành Trung văn tự.

    Lại như: “ Văn văn trương khai bả cước thôn” (Đêm đêm há hốc nuốt chân người), với từ “văn văn” là cách dùng khẩu ngữ Khách Gia, hàm ư chỉ mỗi buổi chiều của ngày. Cũng như “thân thân cước” là một kiểu sử dụng đặc biệt trong Khách Gia thoại, ư của nó là nghỉ lâu dài, c̣n Trung văn phổ biến là dùng “thân thân thối”(伸伸腿) mà không dùng “thân thân cước”伸伸腳). “Tẩy diện”(洗面) có nghĩa là “rửa má”, người Khách Gia thường dùng “tẩy diện” mà không dùng “tẩy kiểm”(洗臉). C̣n “tẩy diện” ở đây chính là “tẩy kiểm”( rửa má). Khách Gia thoại dùng “tẩy diện” mà không dùng “tẩy kiểm” của Trung văn.

    Bài 20

    學奕棋



    雙方勢力本平均,勝利终須屬一人

    攻守運籌無漏著算,才稱英勇大將軍


    Học dịch kỳ

    3

    Song phương thế lực thản b́nh quân

    Thắng lợi chung tu thuộc nhất nhân;

    Công thủ vận trù vô lậu toán,

    Tài xưng anh dũng đại tướng quân.



    Học đánh cờ

    3

    Vốn trước hai bên ngang thế lực,

    Mà sau thắng lợi một bên giành;

    Tấn công, pḥng thủ không sơ hở,

    Đại tướng anh hùng mới xứng danh.



    Văn Trực – Văn Phụng dịch

    Chú giải:

    “Lậu toán”(著算): trong từ vựng Trung văn không có từ “lậu toán”, nhân v́ văn bản “Nhật kư trong tù” xuất bản năm 1960 của nhà xuất bản Văn học Việt Nam đă chỉnh lư thơ HCM, đem từ “lậu toán” cải thành “lậu trước”(漏著). Bản in năm 1990 lại phục hồi từ “lậu toán”. “Lậu toán” là loại ngữ từ tiêu chuẩn của người Khách Gia, chỉ sự tính toán sai lầm khi đánh cờ tướng.

    Bài 25




    民間賭博被官拉,獄裡賭博可公開

    被拉賭犯常嗟悔,何不先到這裡來

    Đổ

    Dân gian đổ bác bị quan lạp

    Ngục lư đổ bác khả công khai

    Bị lạp đổ phạm thường ta hối

    Hà bất tiên đáo giá lư lai!?

    Đánh bạc

    Đánh bạc ở ngoài, quan bắt tội,

    Trong tù đánh bạc được công khai;

    Bị tù, con bạc ăn năn măi:

    Sao trước không vô quách chốn này!?

    Nam Trân dịch

    Chú giải:

    “Quan lạp”(官拉) là từ ngữ rất thông dụng của người Khách Gia, Miêu Lật. Thời Nhật chiếm đóng Đài Loan, nhân dân bị cảnh sát rượt đuổi gọi là “quan lạp”, c̣n người Khách Gia ở các địa phương khác có xưng hô như vậy hay không th́ tôi chưa rơ.


    Bài 37


    自勉

    没有冬寒憔悴景,將無春暖的輝煌

    災殃把我來鍛鍊,使我精神更緊張


    Tự miễn

    Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh

    Tương vô xuân noăn đích huy hoàng

    Tai ương bả ngă lai đoạn luyện

    Sử ngă tinh thần cánh kiện cường.



    Tự khuyên ḿnh



    Ví không có cảnh đông tàn,

    Th́ đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;

    Nghĩ ḿnh trong bước gian truân,

    Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.



    Nam Trân dịch

    Chú giải:

    “Khẩn trương”(緊張), gần giống như “lậu toán”, năm 1960, văn bản “Nhật kư trong tù” của nhà xuất bản Văn học đổi “khẩn trương” thành “kiện cường”(健強), đến năm 1990 đă lấy lại hai từ này. “Khẩn trương” là từ rất thông dụng của người Khách Gia Miêu Lật, ư nghía của nó là, thời gian cấp bách rồi, cần phải có tinh thần phấn chấn, ví dụ như cách dùng tiếng Khách Gia sau đây: “ Tham gia thi đấu, thời gian càng gần càng phải khẩn trương”.

    Bài 48


    落了一隻

    你的心情硬且剛,不如老舌軟而長

    從來與你同甘苦,現在東西各一方



    Lạc liễu nhất chích nha

    Nhĩ đích tâm t́nh ngạch thả cương

    Bất như lăo thiệt nhuyễn nhi trường

    Ṭng lai dữ nhĩ đồng cam khổ

    Hiện tại đông tây các nhất phương.



    Rụng mất một chiếc răng



    Cứng rắn như anh chẳng kém ai,

    Chẳng như lăo lưỡi dẻo và dài;

    Ngọt bùi cay đắng từng chia sẻ,

    Nay kẻ chân mây, kẻ cuối trời.

    Trần Đắc Thọ dịch

    Dị bản:

    Cứng rắn như anh khác thói thường,

    Phải đâu mềm tựa lưỡi không xương;

    Ngọt bùi cay đắng từng chia sẻ,

    Nay phải xa nhau, kẻ một đường.

    Chú giải:

    “Lạc liễu nhất chích nha”(落了一隻牙): càng t́m hiểu, nghiên cứu, giải nghĩa thơ HCM, càng phát hiện ra, ông là nhà thơ dân gian chính hiệu, v́ trong bài này, ông đă biểu đạt được mối quan hệ giữa “nha xỉ”(牙齒-răng) với “thần thiệt” (唇舌-môi lưỡi) rồi lấy đó làm tựa đề. “Lạc liễu nhất chích nha”, thực chất là một câu văn bất thông trong cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa Trung văn, nhưng lại là một phương ngôn rất thông dụng nếu phát âm theo cách của người Khách Gia, Miêu Lật, cho dù không tương ứng với với ư nghĩa biểu đạt cùng một đối tượng trong Hán ngữ. V́ vậy, HCM phải dùng “lạc”(落) và “chỉ”(只) để thay thế.


    Bài 62

    一个賭犯硬了


    他身只有骨包皮,痛苦飢寒不可支

    昨夜他仍睡我側,今朝他已九泉歸



    Nhất cá đổ phạm “ngạnh” liễu



    Tha thân chỉ hữu cốt bao b́

    Thống khổ cơ hàn bất khả chi

    Tạc dạ tha nhưng thụy ngă trắc

    Kim triêu tha dĩ cửu tuyền quy.



    Một người tù cờ bạc chết cứng



    Thân anh da bọc lấy xương,

    Khổ đau, đói rét hết phương sống rồi;

    Đêm qua c̣n ngủ bên tôi,

    Sáng nay anh đă về nơi suối vàng.



    Nam Trân dịch

    Chú giải:

    “Ngạnh liễu”(硬了) hàm ư chỉ sự chết, là một từ rất thông dụng trong ngôn ngữ Khách Gia Miêu Lật. Người Khách Gia thường nói “ngạnh liễu” thay cho “nhân tử liễu”(người chết)của Trung văn.


    Bài 65

    夜半聞哭夫

    嗚呼夫君兮夫君,何故夫君遽棄塵

    使妾從今何處見,十分心合意投人



    Dạ bán văn khốc phu



    Ô hô phu quân, hề phu quân!

    Hà cố phu quân cự khí trần?

    Sử thiếp ṭng kim hà xứ kiến,

    Thập phần tâm hợp ư đầu nhân.

    Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng

    Hỡi ôi, chàng hỡi, hỡi chàng ơi!

    Cơ sự v́ sao vội lánh đời?

    Để thiếp từ nay đâu thấy được,

    Con người tâm ư hợp mười mươi.

    Nguyễn Sĩ Lâm dịch

    Chú giải:

    "Thập phần tâm hợp ư đầu nhân" (十分心合意投人), thoạt nh́n không hiểu ư tứ ra sao, nhất thời chưa thể giải nghĩa. Nhưng nếu ta biết được HCM thường có thói quen dùng ngôn ngữ Khách Gia làm thơ, đồng thời đọc diễn cảm bài thơ, th́ có thể giải đáp được thắc mắc trên. HCM sáng tác thơ thường hay chú ư việc gieo vần nên rất khoái sử dụng thủ pháp "đảo trang", nếu đem câu thơ này đổi thành "Thập phần hợp ư tâm đầu nhân" và dùng tiếng Khách Gia đọc diễn cảm, sẽ thấy rất rơ ràng "Thập phần ư hợp tâm đầu nhân" hàm ư chỉ sự đống ư đồng t́nh trong tâm trạng con người.


    Bài 91

    獄中生活

    每人各有一火炉,大大小小幾個鍋

    煮飯煮茶又煮采,成天煙火没時無

    Ngục trung sinh hoạt

    Mỗi nhân các hữu nhất hỏa lô,

    Đại đại, tiểu tiểu kỷ cá oa;

    Chử phạn chử trà hựu chử thái,

    Thành thiên yên hoả một thời vô.



    Sinh hoạt trong tù

    Hỏa ḷ ai cũng có riêng rồi,

    Nhỏ nhỏ, to to mấy chiếc nồi;

    Cơm, nước, rau, canh, đun với nấu,

    Suốt ngày khói lửa măi không thôi.



    Nam Trân dịch

    Chú giải:

    "Một thời vô" (没時無), mấy từ này rất không hợp lư nếu xét theo cú pháp Trung văn, trái lại, đọc theo Khách Gia thoại sẽ dễ dàng biết được ư tứ của nó. Đó là "lúc nào cũng có". Bài thơ này, đọc diễn cảm theo tiếng Khách Gia, Miêu Lật rất thuận miệng và dễ hiểu.

    Bài 94

    遷江獄

    籠外六十九人盎,籠中的盎不知數

    監房卻像刨藥堂,又像街上買盎鋪



    Thiên Giang ngục

    Lung ngoại lục thập cửu nhân áng,

    Lung trung đích áng bất tri số;

    Giam pḥng khước tượng bào dược đường,

    Hựu tượng nhai thượng mại áng phố.


    Nhà lao Thiên Giang

    Ngoài lao sáu chín chiếc ang người,

    Chồng chất trong lao biết mấy mươi;

    Nhà ngục mà như nhà chế thuốc,

    Gọi là hàng chĩnh cũng không sai.

    Băng Thanh dịch

    Chú giải:

    "Áng" (盎), giáo sư Hoàng Tranh giải thích: Là loại đồ đựng bằng gốm thời cổ, bụng to, miệng nhỏ. “Nhân áng” chỉ loại chum bằng gốm, một số địa phương vùng Quảng Tây có tập quán dùng chôn người chết. HCM những năm ấy bị giam tại nhà tù Thiên Giang, có thể đă nh́n thấy loại đồ gốm như đă nói trên đựng xương người chết sau khi được quy tập vào một nơi trước cửa nhà tù rồi mới đem chôn, nên mới có từ "nhân áng" (人盎)."Áng" rất giống với cách phát âm Khách Gia được chuyển sang Hán ngữ.

    Bài 95


    搭火車往來賓


    幾十日來勞走路,今天得搭火車行

    雖然只得坐炭上,畢竟比徒步漂亮

    Tháp hoả xa văng Lai Tân

    Kỷ thập nhật lai lao tẩu lộ,

    Kim thiên đắc tháp hoả xa hành;

    Tuy nhiên chỉ đắc tọa thán thượng,

    Tất cánh tỷ đồ bộ phiêu lượng.



    Đáp xe lửa đi Lai Tân

    Cuốc bộ mấy mươi ngày vất vả,

    Hôm nay được bước lên xe hỏa;

    Dù rằng chỉ ngồi trên đống than,

    Sang gấp mấy lần khi cuốc bộ.

    Đỗ Văn Hỷ, Huệ Chi dịch

    Chú giải:
    “Lai Tân” là tên một huyện ở Quảng Tây, thuộc quyền quản lư địa khu Liễu Châu, cách Liễu Châu 80 km. "Lao" (勞), "đắc" (得), "chỉ đắc" (只得), "phiêu lượng" (漂亮) cho dù đọc diễn cảm bằng Trung văn cũng sẽ thấy rất không lọn nghĩa, thậm chí không biết tác giả nói về cái ǵ. Tuy nhiên, nếu dùng Khách Gia thoại, đọc diễn cảm th́ hoàn toàn thông suốt và dễ hiểu. "Lao" (勞)là "lao động" (vất vả), "đắc" (得)là "khả dĩ" (可以),"chỉ đắc" (只得)là "chỉ khả dĩ" (只可以), ư nghĩa là "chỉ được, có thể được" đều là từ ngữ Khách Gia được chuyển âm. "phiêu lượng" cũng là tiếng Khách Gia được chuyển thành từ ngữ Trung văn, chỉ sự so sánh tốt hơn. V́ không có từ Trung văn phiên âm đối ứng nên HCM đành phải dùng từ "phiêu lượng" thay thế.

    Bài 114

    伍科長,黃科員

    伍科長與黃科員,兩人見我太可憐

    慇勤慰問和幫助,這像冬寒見暖天


    Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên



    Ngũ khoa trưởng dữ Hoàng khoa viên,

    Lưỡng nhân kiến ngă thái khả liên,

    Ân cần ủy vấn ḥa bang trợ,

    Giá tượng đông hàn kiến noăn thiên.



    Khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng

    Họ Ngũ trưởng khoa với họ Hoàng,

    Thấy ta cùng cực động ḷng thương;

    Ân cần thăm hỏi và cứu giúp,

    Như nắng bừng lên giữa giá sương.



    Nam Trân dịch



    Chú giải:

    “Khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng” đều là các viên chức của cơ quan Chính trị bộ thuộc Đệ tứ Chiến khu.

    1 – “Giá tượng”: Ngữ pháp Trung văn không có từ loại này mà là khẩu ngữ của người Khách Gia. “lưỡng nhân” chỉ hai người, c̣n “giá tượng” chỉ “h́nh như”, “như”.

    2- Phải là người có tŕnh độ Hán học khá uyên bác mới trứ tác được “Nhật kư trong tù”, trong đó có một số bài rất khó tưởng tượng một người Việt Nam lại có thể viết nổi, huống hồ, cho dù đă học Hán văn rất cẩn thận, nhưng không thường xuyên tu dưỡng, bổ sung kiến thức, làm sao sử dụng ngôn ngữ nhuần nhuyễn như Hồ Chí Minh để diễn đạt tư tưởng t́nh cảm của ḿnh qua các thể tài trên.

    Bài 7

    世路難



    走遍高山與峻岩,那知平路更難堪

    高山遇虎終無恙,平路逢人却被監



    余原代表越南民,擬到中华見要人

    無奈風波平地起,送余入獄作嘉賓



    忠誠我本無心疚,却被嫌疑做漢奸

    處世原來非易易,而今處世更難難



    Thế lộ nan

    *

    Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham

    Na tri b́nh lộ cánh nan kham

    Cao sơn lộ hổ chung vô dạng

    B́nh lộ phùng nhân khước bị giam.


    **

    Dư nguyên đại biểu Việt Nam dân

    Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân

    Vô nại phong ba b́nh địa khởi

    Tống dư nhập ngụ tác gia tân

    ***

    Trung thành ngă bản vô tâm cứu

    Khước bị hiềm nghi tố Hán gian

    Xử thế nguyên lai phi dị dị

    Nhi kim xử thế cánh nan nan.



    Đường đời hiểm trở

    *

    Đi khắp đèo cao, khắp núi cao,

    Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao!

    Núi cao gặp hổ mà vô sự,

    Đường phẳng gặp người bị tống lao?!

    **

    Ta là đại biểu dân Việt Nam,

    T́m đến Trung Hoa để hội đàm;

    Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió,

    Phải làm “khách quư” ở nhà giam!

    ***

    Ta người ngay thẳng, ḷng trong trắng,

    Lại bị t́nh nghi là Hán gian;

    Xử thế từ xưa không phải dễ,

    Mà nay, xử thế khó khăn hơn.

    Nam Trân dịch

    Chú giải:

    “Trung thành”, “Hán gian”: “Nhật kư trong tù” nếu do một nười Việt Nam là Nguyễn Ái Quốc sáng tác th́ xem ra thật vô lư, bởi người viết đă dùng các từ “trung thành”, “Hán gian”. Đặc biệt từ “Hán gian” càng tỏ rơ, người viết bài thơ này không thể là công dân nước ngoài. Nếu quả như Nguyễn Ái Quốc viết thật th́ phải tự xưng là “Việt gian” hoặc “Cộng điệp” (gián điệp của Quốc Tế cộng sản ) mới hợp lư.

    Bài 88

    寄尼魯

    其一

    我奮鬥時君活動,君入獄時我住籠

    萬里遥遥未见面,神交自在不言中



    Kư Nê Lỗ

    Ngă phấn đấu thời quân hoạt động,

    Quân nhập ngục thời ngă trú lung;

    Vạn lư dao dao vị kiến diện,

    Thần giao tự tại bất ngôn trung.

    Gửi Nehru

    Khi tôi phấn đấu, anh hoạt động,

    Anh phải vào lao, tôi ở tù;

    Muôn dặm xa với chưa gặp mặt,

    Không lời mà vẫn cảm thông nhau.

    Hoàng Trung Thông dịch

    Chú giải:

    Nê Lỗ (尼魯): Giáo sư Goàng Tranh chú thích, Nê Lỗ tức Nê Hách Lỗ ( Jawaharlal Nehru - 1889-1964), nhà lănh đạo dân tộc chủ nghĩa, lănh tụ đảng Quốc Đại, Thủ tướng nhiệm kỳ đầu (1947- 1964) sau khi Ấn Độ độc lập. Hồ Chí Minh và Nehru là người cùng thời đại, đều cùng ra sức phấn đấu cho nền độc lập dân tộc và quốc gia. Hai người chưa từng gặp mặt nhưng đă là bạn tâm giao từ lâu. Từ tháng 12 năm 1921 đến tháng 6 năm 1945, Nehru trước sau từng bị bắt 9 lần. Thời kỳ Hồ Chí Minh bị bắt tại Quảng Tây, Nehru cũng bị nhà đương cục của chủ nghĩa thực dân Anh, kẻ thù của nhân dân Ấn Độ giam giữ, mà kẻ bắt giam Hồ Chí Minh, lại là chính phủ Quốc Dân đảng, một láng giềng hữu hảo, là đồng minh chống chủ nghĩa phát xít.

    Năm 1939, Hồ Chí Minh từng nhiệm chức Đài trưởng Đài thông tin vô tuyến cơ quan Bát Lộ quân Quảng Tây và nhân viên Đài vô tuyến Ban Huấn luyện cán bộ du kích Hành Dương, phụ trách thu thập thông tin ngoại văn, sau đó dịch sang tiếng Trung. Đối với t́nh h́nh quốc tế và các lănh tụ quốc gia lúc ấy, tŕnh độ của ông là tương đối cao.

    Tháng 12 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc từ Paris đến Bruxelles tham dự “Hội nghị thế giới các dân tộc bị áp bức”, Jawaharlal Nehru cũng tham dự hội nghị này và được bầu làm Ủy viên chấp hành, đồng thời, cùng với Nguyễn Ái Quốc có mối quan hệ rất mật thiết. Xem lại bài “Kư Nê Lỗ”: “Ngă phấn đấu thời quân hoạt động/ Quân nhập ngục thời ngă trú lung/ Vạn lư dao dao vị kiến diện/ Thần giao tự tại bất ngôn trung”,(Khi tôi phấn đấu, anh hoạt động/Anh phải vào lao, tôi ở tù/Muôn dặm xa với chưa gặp mặt/Không lời mà vẫn cảm thông nhau),th́ thấy rơ ràng, trước năm 1943, Hồ Chí Minh chưa từng gặp Nehru. Một lần nữa, bài thơ này chứng thực Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh không phải là một người.

    Bài 77

    折字


    囚人出去或為國,患過頭時始見忠

    人有憂愁優點大,籠開竹閂出真龍



    Chiết tự

    Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,

    Hoạn quá đầu th́ thuỷ kiến trung;

    Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,

    Lung khai trúc sản, xuất chân long.

    Chơi chữ

    Người thoát khỏi tù ra dựng nước,

    Qua cơn hoạn nạn, rơ ḷng ngay;

    Người biết lo âu, ưu điểm lớn,

    Nhà lao mở cửa, ắt rồng bay!

    Nam Trân dịch

    Chú giải:

    “Chiết tự”(折字): Giáo sư Hoàng Tranh chú giải, Trung Quốc từ lâu đă lưu truyền một loại văn học du hư, đem phân giải tổ hợp chữ Hán này thành một số chữ Hán khác, những chữ mới này biểu đạt một ư nghĩa nào đấy. Tŕnh độ Hán học của Hồ Chí Minh phải khá uẩn súc mới có thể sử dụng thành thạo lối chiết tự du hư chữ Hán như vậy.

    Trong bài thơ này, Hồ Chí Minh vận dụng lối bẻ chữ, nghĩa là từ một chữ Hán, ông chia tách ra thành những chữ khác nhau vốn là các thành tố cấu tạo nên chữ đó, rồi thêm vào hoặc bớt đi một vài nét, tạo nên những chữ mới, mục đích vui đùa lúc nhà rỗi trong ngục. Cụ thể là, chữ 囚 (tù) bỏ chữ人(nhân) bên trong rồi thêm chữ 或(hoặc) th́ biến thành chữ 國(quốc). Chữ 患 (hoạn) bỏ một chữ 中 (trung) trên đầu th́ sẽ c̣n chữ 忠 (trung) nghĩa là trung thành. Chữ 憂 (ưu) vốn là lo lắng, thêm chữ 人 (chính xác là bộ “nhân đứng”) bên trái sẽ biến thành chữ 優 ưu, nghĩa là ưu điểm. Chữ 籠 (lung) là nhà lao, lược bỏ bộ trúc ( 竹 ) trên đầu sẽ thành chữ 龍 (long) nghĩa là rồng. Bài thơ này, sau khi chiết tự sẽ thành bốn chữ mới 國(quốc), 忠 (trung).優 (ưu), 龍(long), hàm ư của nó là, v́ đất nước tâm trạng nhà thơ đầy ưu phiền, trong hoạn nạn càng rèn luyện ư chí đợi khi ra khỏi nhà tù sẽ tiếp tục sự nghiệp.

  4. #34
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    T́m hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh "Hồ Chí Minh sinh b́nh khảo"
    Hồ Tuấn Hùng
    Kỳ 7
    Người dịch: Thái Vằn
    P2



    Bài 63

    又一个

    夷齊不食周朝粟,賭犯不吃公家粥

    夷齊餓死首陽山,賭犯餓死公家獄

    Hựu nhất cá...

    Di, Tề bất thực Chu triều túc,

    Đổ phạm bất ngật công gia chúc;

    Di, Tề ngă tử Thú Dương sơn,

    Đổ phạm ngă tử công gia ngục.

    Lại một người nữa...

    Di, Tề chẳng ăn gạo nhà Chu,

    Tù bạc chẳng ăn cháo nhà nước;

    Di, Tề chết đói ngàn Thú Dương,

    Tù bạc chết đói trong nhà ngục.

    Nam Trân dịch

    Chú giải:

    Tiêu đề “Hựu nhất cá”, chỉ sự tiếp tục của bài trước, “Lại một tù cờ bạc nữa chết đói trong ngục”. Bài thơ này, Hồ Chí Minh lấy việc tù cờ bạc chết đói trong nhà giam so sánh với sự tích Bá Di, Thúc Tề con vua nước Cô Trúc đời nhà Ân (1401- 1122 trước CN, Trung Quốc), không ăn thóc nhà Chu mà chết đói ở núi Thú Dương, chứng tỏ ông hiểu rất rơ các nhân vật trong lịch sử cổ đại Trung Quốc, nên luôn chuyên tâm trau giồi đạo đức, khí tiết. Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) từ nhỏ đă được tiếp thụ nền giáo dục truyền thống của gia đ́nh. Thân sinh ra ông là Hồ Dần Lượng thường lấy sự tích “Di Tề không ăn thóc nhà Chu”, “Quan Công qua năm ải chém sáu tướng” để giảng giải về đại nghĩa, hy vọng giáo dục Hồ Chí Minh thành người có nhân cách lớn, khí tiết cao cả. Ngô Trọc Lưu trong tác phẩm “Hồ Chí Minh”, đă xen kẽ giới thiệu lịch sử gia tộc Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương). Tại thiên “Vân thê thư viện” (Thư viện thang mây) của ông, có thuật lại việc từ nhỏ Hồ Chí Minh đă được dạy về điển tích “Bá Di, Thúc Tề”.

    Bài 132

    即景

    樹梢巧畫張飛像,赤日長明關羽心

    祖國終年無信息,故鄉每日望回音

    Tức cảnh

    Thụ sao xảo họa Trương Phi tượng,

    Xích nhật trường minh Quan Vũ tâm;

    Tổ quốc chung niên vô tín tức,

    Cố hương mỗi nhật vọng hồi âm.



    Tức cảnh

    Cành lá khéo in h́nh Dực Đức,

    Vầng hồng sáng măi dạ Quan Công;

    Năm tṛn cố quốc tăm hơi vắng,

    Tin tức bên nhà bữa bữa trông.

    Nam Trân dịch

    Chú giải:
    “Trương Phi”, “Quan Vũ”: Tại nhà Hồ Chí Minh ở Miêu Lật, Đồng La, thời kỳ trước sau năm 1960, tác giả đă nh́n thấy một tập tranh “Tam quốc diến nghĩa” cổ, ước khoảng 10 hồi, đóng thành quyển, ngoài ra c̣n có “Tứ thư độc bản”, “Thiên gia thi”, “Dược thang ca quyết” và một số loại sách khác.

    “Tổ quốc”, “cố hương”: Ư trực tiếp để thông báo với mọi người là quê hương Nghệ An, Việt Nam, nhưng thực chất lại chỉ Miêu Lật, Đài Loan. Vào đầu năm 1939, Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) gặp người em ruột là Hồ Tập Dưỡng lần cuối cùng, sau đó th́ không nhận được tin tức ǵ của gia đ́nh nữa. Trong bài thơ này có câu “ chung niên vô tín tức” (suốt năm không tin tức) là phù hợp với hoàn cảnh thực tế của ông. Trước khi chia tay, Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) đặc biệt dặn Hồ Tập Dưỡng: “Sau này, nếu không thành công sẽ không về nhà, mong gia đ́nh đừng mất công t́m tôi”. Tác giả dự đoán, Thời gian ấy, Hồ Tập Chương đă quyết định phấn đấu hy sinh v́ nền độc lập của Việt Nam. Vậy mà tạo hóa trêu ngươi, không ai ngờ, sau năm 1948, tập đoàn Tưởng Giới Thạch thoái thủ Đài Loan, Hồ Chí Minh dù có thành công đến mấy cũng không c̣n đường về quê cha đất tổ.

    Bài 115

    限制

    沒有自由真痛苦,出恭也被人制裁

    開籠之時肚不痛,肚痛之時籠不開

    Hạn chế

    Một hữu tự do chân thống khổ,

    Xuất cung dă bị nhân chế tài;

    Khai lung chi th́ đỗ bất thống,

    Đỗ thống chi th́ lung bất khai.

    Bị hạn chế


    Đau khổ chi bằng mất tự do,

    Đến buồn đi ỉa cũng không cho;

    Cửa tù khi mở, không đau bụng,

    Đau bụng th́ không mở cửa tù.

    Nam Trân dịch

    Chú giải:

    “Xuất cung”(出恭): Từ thời Nhật Bản chiếm đóng, người dân ở Miêu Lật, Đồng La gọi việc đến nhà xí đại tiện là “xuất cung”. Cách gọi này lưu truyền cho đến ngày nay nhưng rất ít người hiểu được nguồn gốc ra đời của nó. Qua quá tŕnh khảo cứu thư tịch cổ, tác giả xin cung cấp những tư liệu sau đây có liên quan đến từ “xuất cung”:

    1- Trong các kỳ thi của hệ thống khoa cử triều Minh, người ta đặt ra một loại thẻ bài “xuất cung nhập kính” (出恭入敬) để đề pḥng thí sinh tự tiện bỏ vị trí ra ngoài. Khảo sinh muốn đi đại tiện, trước hết phải lĩnh thẻ “xuất cung nhập kính” mới được ra, từ đó mới có tên gọi “xuất cung”.

    2 – Cuối triều nhà Thanh, trước khi bị Nhật chiếm đóng, văn chương, học vấn của người Miêu Lật, Đồng La rất hưng thịnh, xuất hiện không ít tiến sĩ, cử nhân, tú tài. Đầu triều Thanh, cử nhân Ngô Tử Quang đă mở trường học tại Đồng La, thu nhận nhiều môn đệ. Nhà chí sĩ kháng Nhật Khâu Phùng Giáp chính là học tṛ xuất sắc của ông. Phụ thân Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) là Hồ Dần Lượng, những năm đầu Quốc dân cũng từng mở trường dạy học tại quê nhà. Nhiều năm trước đó, học tṛ Miêu Lật, Đồng La thường xuyên vào Đại lục tham dự các kỳ thi của triều đ́nh, nên khi về quê đă dùng từ “xuất cung” thay cho “đại tiện”, nghe có vẻ trang nhă hơn.

    Từ “xuất cung” được lưu truyền cho đến ngày nay trở thành một thứ phương ngôn đặc thù của người Đồng La. Năm 1929, Hồ Chí Minh vừa mới rời Miêu Lật, Đồng la đến Thượng Hải, nên từ “xuất cung” ông sử dụng không có ǵ lạ.

    3 – Đối với một người nắm chắc ngôn ngữ Nhật Bản như Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương), khi viết “Nhật kư trong tù”, có thể chen vào một số từ tiếng Nhật mà lại không có vốn từ Nhật Bản th́ khó mà viết được những bài thơ hàm súc và thấm đẫm tinh thần nhân văn như thế.

    Bài 59


    南寧獄
    監房建築頂摩登,澈夜輝煌照電燈

    因為每餐惟有粥,使人肚子戰兢兢

    Nam Ninh ngục

    Giam pḥng kiến trúc đính “ma-đăng”

    Triệt dạ huy hoàng chiếu điện đăng

    Nhân vị mỗi xan duy hữu chúc

    Sử nhân đỗ tử chiến căng căng.

    Nhà ngục Nam Ninh

    Nhà lao xây dựng kiểu tân thời,

    Đèn điện thâu đêm sáng rực trời;

    Nhưng mỗi bữa ăn lưng bát cháo,

    Cho nên cái bụng cứ rên hoài.

    Nam Trân dịch

    Chú giải:

    “Ma đăng”(摩登): Thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan, có một số từ nước ngoài du nhập vào Đồng La mà từ “ma đăng” vốn có nguồn gốc Anh ngữ (modern), nghĩa là “hiện đại” là một ví dụ.


    Bài 67


    工金


    煮一鍋飯六毛錢,一盆開水銀一元

    一元買物得六角,獄中價格定昭然

    Công kim

    Chử nhất oa phạn lục mao tiền,

    Nhất bồn khai thủy ngân nhất nguyên;

    Nhất nguyên măi vật đắc lục giác,

    Ngục trung giá cách định chiêu nhiên.



    Tiền công

    Thổi một nồi cơm, trả sáu hào,

    Nước sôi mỗi chậu, một đồng trao;

    Một đồng của đáng sáu hào chỉ,

    Giá cả trong tù định rơ sao!
    Nam Trân dịch

    Chú giải:

    “Công kim”(工金): Thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan có một số từ nước ngoài được du nhập vào hệ thống từ vựng Hán ngữ. “Công kim” chỉ tài sản công, tiền công.

    Bài 85


    獄丁窃我之士的


    一生正直又坚剛,携手同行幾雪霜

    恨彼奸人離我俩,長教我你各凄凉



    Ngục đinh thiết ngă chi sĩ-đích

    Nhất sinh chính trực hựu kiên cương,

    Huề thủ đồng hành kỷ tuyết sương;

    Hận bỉ gian nhân ly ngă lưỡng,

    Trường giao ngă nhĩ các thê lương.

    Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy của ta


    Suốt đời ngay thẳng lại kiên cường,

    D́u dắt nhau đi mấy tuyết sương;

    Giận kẻ gian kia gây cách biệt,

    Hai ta dằng dặc nỗi buồn thương.


    Nam Trân dịch

    Chú giải:

    “Sĩ đích”(士的): là danh từ chỉ cái gậy chống (quải trượng). Trong Nhật ngữ, “quải trượng”(guăi zhàng), đọc âm nhấn mạnh như “sĩ đích”. Giáo sư Hoàng Tranh chú giải: “quải trượng” vốn là từ tiếng Anh “stick” được phiên âm sang Hán ngữ. Tác giả có hỏi các tiên sinh cao tuổi biết Nhật ngữ thời Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan, “sĩ đích” phải chăng là tiếng Nhật được đưa vào Hán ngữ. Một số người nói đúng, nhưng số khác lại bảo không thể xác định rơ ràng. Tôi cảm thấy thật kỳ lạ. Hồ Chí Minh v́ sao không trực tiếp dùng từ “stick” hoặc “quải trượng” làm tiêu đề bài thơ, đọc vừa thuận tai vừa dễ hiểu. Trái lại, ông chơi tṛ đùa bỡn, lấy “sĩ đích” đặt tên khiến người đọc không t́m ra đầu mối. Câu thơ “Ngục đinh thiết ngă chi sĩ đích”, rốt cuộc hàm chưa ư tứ ǵ? “Nhật kư trong tù” được sáng tác vào năm 1942 – 1943, là thời kỳ Hồ Chí Minh bị giải đi giải lại từ Quế Lâm đến Liễu Châu. Lúc ấy, mỗi chuyến xe xuất phát từ Liễu Châu đều có viết hai chữ “đích sĩ” lên cái chiêu bài bốn mặt trên nóc làm dấu hiệu. Có thể, khi bị giải trên đường, đúng vào lúc tinh thần cao hứng, Hồ Chí Minh liền đem âm tiếng Nhật của hai từ “quải trượng”, tạm mượn hai chữ “đích sĩ” trên biển hiệu nóc xe, đảo trật tự thành “sĩ đích” thay thế cho âm “quải trượng” Hán ngữ để đùa vui chăng? Chuyện này không phải không có khả năng. Hồ Chí Minh hoạt động gần biên giới Trung – Việt, đi đi về về, không lúc nào rời xa chiếc gậy chống, đối với nó vô cùng thân thiết như người bạn tâm giao. Một người bạn thân Trung Quốc, tướng quân Vi Quốc Thanh, sau này đă từng tặng Hồ Chí Minh một gốc trúc vuông Quảng Tây đặc biệt hiếm để ông làm gậy chống.

    Tổng hợp những phần đă phân tích ở trên, chúng tôi đi đến kết luận, tác giả “Nhật kư trong tù” nhất định phải là người có đủ ba điều kiện sau đây:

    1- Đối với ngữ văn Trung Quốc phải có tŕnh độ cao, mà đối với nền Quốc học thường thức cũng phải đạt tŕnh độ tương đối khá. Sáng tác được thơ trong “Nhật kư trong tù” tuyệt đối không phải là người chỉ có tŕnh độ chữ Hán ba, bốn năm tiểu học.

    2- Tác giả “Nhật kư trong tù” nhất định phải là người sắc tộc Khách Gia thuộc cộng đồng cư dân Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan.

    3- Tác giả “Nhật kư trong tù” phải là người Khách Gia thông thạo Nhật ngữ.

    Thư pháp chữ Hán của Hồ Chí Minh.

    Ngoài trừ “Nhật kư trong tù”, từ sau năm 1938, Hồ Chí Minh đă dùng Trung văn công bố một số chuyên luận, sáng tác văn thơ và viết thư pháp. Toàn bộ trước tác của ông, bao gồm cả những bức thư pháp đại, tiểu khải, thật ra rất khó thuyết phục được người ta tin là, Nguyễn Ái Quốc thuở niên thiếu chỉ học qua vài năm Hán ngữ lại có thể viết được. Những dẫn chứng sau đây có thể chứng minh nhận định trên:

    1- Từ tháng 12 năm 1938 đến tháng sáu năm 1939, Hồ Chí Minh viết 7 bài báo và chuyên luận bằng Trung văn, các bản thảo được gửi đến Hà Nội, Việt Nam. Các bài có tiêu đề như sau: Tháng 12 năm 1938: “Người Nhật muốn khai hóa Trung Quốc như thế nào?”.Tháng hai năm 1939: “ Thư gửi từ Trung Quốc”. Tháng ba năm 1939: “Thư gửi từ Trung Quốc”. Tháng tư năm 1939: “Chủ nghĩa anh hùng trong kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc” và “Thư gửi từ Trung Quốc”. Tháng sáu năm 1939: “Thư gửi từ Trung Quốc”, trong đó có bài “Người Nhật muốn khai thác Trung Quốc như thế nào?” dài khoảng hai ngh́n chữ, nội dung tự thuật và chuyên thuật, nhất định phải là người có tŕnh độ Nhật văn khá mới có thể viết được. Tháng mười một đến tháng mười hai năm 1940, Hồ Chí Minh thường xuyên viết cho tờ “Cứu vong nhật báo” Quảng Tây với bút danh B́nh Sơn, đăng tải 11 bài chuyên đề bằng Trung văn. Tiêu đề các bài như sau:: “Thiên thượng cố muội” ( Tác giả tự dịch ra tiếng Việt là "Ông trời có mắt”, 24 tháng mười một năm 1940) “Ác tác kịch của La Tư Phúc tiên sinh” (It started with a kiss of Mrs Roosevelt, 27 tháng mười một năm 1940), “Lưỡng cá Phàm Nhĩ Tái chính phủ” (Hai chính phủ Versailles, 29 tháng mười một năm 1940), “Vu khống” (1 tháng mười hai năm 1940), “Báo chí Trung Quốc và nhân dân Việt Nam” (2 tháng 12 năm 1940), “Ca dao Việt Nam với phong trào kháng Nhật của nhân dân Trung Quốc”(4 tháng 12 năm 1940), “Ngư mục hỗn châu”,(5 tháng mười hai năm 1940), “Bàn về huyết thống”( 8 tháng mười hai năm 1940), “Nghĩa Đại Lợi (Ytalia) thực bất đại lợi”(16 tháng mười hai năm 1940), “Quân Phục quốc Việt Nam trở thành quân Bán nước Việt Nam”(18 tháng mười hai năm 1940), tổng cộng 11 thiên chuyên đề. Sau khi nghiên cứu các bài viết này, tác giả thấy, chẳng những khả năng b́nh luận những vấn đề thời cuộc sắc sảo mà bút pháp của Hồ Chí Minh c̣n vô cùng sinh động, câu văn trôi chảy, giầu h́nh ảnh, không thể do một người ngoại quốc viết mà phải là tác giả Trung Hoa, hiểu biết sâu sắc về văn hóa Nhật Bản.


    2 – Sáng tác thơ, phú ngẫu hứng


    贈陳賡將軍詩抄(一)



    攜杖登高觀陣地,萬重山擁萬重雲

    義兵壯志吞牛斗,誓滅豺狼侵掠軍


    Tặng tướng quân Trần Canh thi sao(1)

    Huề trượng đăng cao quan trận địa

    Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân

    Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu

    Thệ diệt sài lang xâm lược quân.

    Dịch:
    Chống gậy lên non xem trận địa

    Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây

    Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu

    Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy.

    贈陳賡將軍詩抄(二)

    香檳美酒夜光杯,欲飲琵琶馬上催

    醉臥沙場君莫笑,敵人休放一人回


    Tặng tướng quân Trần Canh thi sao(2)

    Hương tân mỹ tửu dạ quang bôi

    Dục ẩm, tỳ bà mă thượng thôi

    Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

    Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi.



    Dịch:

    Tặng tướng quân Trần Canh (2)



    Rượu ngọt sâm banh lấp lánh ly

    Muốn uống, tỳ bà thúc ngựa phi

    Đừng cười say nghỉ nơi trận mạc

    Không tha quân địch một tên về.





    贈韋國清將軍詩抄



    百里尋君未遇君,馬蹄踏碎領頭雲

    歸來偶過山梅樹,每朵黃花一點春



    Tặng Vi Quốc Thanh tướng quân thi sao



    Bách kư tầm quân vị ngộ quân,

    Mă đề đạp toái lănh đầu vân,

    Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ,

    Mỗi đóa hoàng hoa nhất điểm xuân.



    Dịch nghĩa:

    Tặng Vi Quốc Thanh tướng quân



    Trăm dặm đi t́m ông mà chưa gặp ông,

    Vó ngựa xéo nát đám mây đầu núi,

    Trở về, bỗng đi qua cây mai già trên núi,

    Mỗi đóa hoa vàng điểm một nét xuân.



    遊長城即興賦詩



    聽說長城萬里長,頭連東海尾西疆

    幾千百萬勞動者,建築斯城鎮一方



    Du Trường Thành tức hứng phú thi



    Thính thuyết Trường Thành vạn lư trường,

    Đầu liên Đông Hải vĩ Tây Cương,

    Kỷ thiên bách vạn lao động giả,

    Kiến trúc tư thành trấn nhất phương



    Dịch nghĩa:

    Chơi Vạn Lư Trường Thành ngẫu hứng làm thơ

    Nghe nói Trường Thành dài vạn dặm,

    Đầu liền với Đông Hải, cuối đến tận biên giới phía tây,

    Hàng trăm ngàn vạn người lao động

    Đắp nên thành này để trấn giữ một phương.





    遊太湖即興賦詩



    西湖不比太湖美,太湖更比西湖寬

    魚舟來去朝陽暖,桑稻滿田花滿山



    Du Thái Hồ tức hứng phú thi



    Tây Hồ bất tỉ Thái Hồ mỹ,

    Thái Hồ cánh tỉ Tây Hồ khoan,

    Ngư chu lai khứ triêu dương noăn,

    Tang đạo măn điền hoa măn sơn.



    Dịch nghĩa:



    Chơi Thái Hồ ngẫu hứng làm thơ



    Tây Hồ không đẹp bằng Thái Hồ,

    Thái Hồ rộng hơn Tây Hồ,

    Thuyền đánh cá qua lại trong nắng sớm ấm áp,

    Dâu lúa đầy ruộng, hoa nở đầy núi.



    遊漓江即興賦詩

    桂林風景甲天下,如詩中畫,畫中詩

    山中樵夫唱,江上客船歸。奇!



    Du Ly Giang tức hứng phú thi



    Quế Lâm phong cảnh giáp thiên hạ,

    Như thi trung họa, họa trung thi.

    Sơn trung tiều phu xướng,

    Giang thượn khách thuyền quy.

    Kỳ!



    Dịch nghĩa:

    Chơi Ly Giang ngẫu hứng làm phú



    Phong cảnh Quế Lâm đẹp nhất thiên hạ,

    Như thơ trong họa, như họa trong thơ.

    Trong núi tiều phu hát,

    Trên sồng thuyền khách về.

    Lạ kỳ!

  5. #35
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    T́m hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh "Hồ Chí Minh sinh b́nh khảo"
    Hồ Tuấn Hùng
    Kỳ 8
    Người dịch: Thái Vằn




    3 – Thơ cổ và điển điển tích

    Hồ Chí Minh là người rất thuộc thơ chữ Hán và các diển cố Hán học nên thường tùy miệng xuất ngôn dẫn dụng tặng bạn bè Trung Quốc hoặc khuyến khích, động viên nhân dân trong nước mỗi khi ông viếng thăm một vùng nào đó. Hai ví dụ dưới đây có thể chứng minh, nếu không dày công học tập, tu dưỡng nền văn hóa Hán th́ khó có thể tùy miệng dọc ngay được những bài thơ, bài từ như thế:


    * Lỗ Tấn và bài thơ “Tự trào”

    自嘲(魯迅)


    橫眉冷對千夫指,府首甘為孺子牛

    躲進小樓成一統,管他冬夏與春秋



    Tự trào (Lỗ Tấn)

    Hoành my lănh đối thiên phu chỉ,

    Phủ thủ cam vi nhụ tử ngưu.

    Đoá tiến tiểu lâu thành nhất thống,

    Quản tha đông hạ dữ xuân thu.

    Tự giễu ḿnh (Lỗ Tấn)

    Mắt trừng đối mặt phường hung bạo

    Cổ cúi làm trâu đám tí nhau

    Nấp chốn lầu con thành nhất thống

    Kể ǵ Đông, Hạ với Xuân, Thu.

    Hoàng Trung Thông dịch

    Tháng 10 năm 1945, Hà Nội, Việt Nam vừa xây dựng xong chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh dẫn hai câu đầu trong bài thơ “Tự trào” của văn hào Lỗ Tấn: “Hoành mi lănh đối thiên phu chỉ, Phủ thủ cam vi nhụ tử ngưu” đê khuyến khích quân đội, xác định thái độ, nguyện v́ nhân dân phục vụ.

    * Vương Xương Linh và bài thơ “Lầu Phù Dung tiễn Tân Tiệm”

    芙蓉樓送辛漸(王昌齡)


    寒雨連江夜入吳,平明送客楚山孤

    洛陽親友如相問,一片冰心在玉壺


    Phù Dung lâu tống Tân Tiệm (Vương Xương Linh)


    Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,

    B́nh minh tống khách Sở sơn cô,

    Lạc Dương thân hữu như tương vấn,

    Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

    Dịch nghĩa:

    Lầu Phù Dung tiễn Tân Tiệm (Vương Xương Linh)


    Mưa lạnh rơi khắp mặt sông trong đêm vào đất Ngô.

    Khi trời sáng tiễn khách chỉ có ngọn núi đất Sở trơ trọi.

    Nếu như bạn bè thân thích ở Lạc Dương có hỏi thăm,

    (Th́ xin đáp rằng ḷng tôi đă thành) một mảnh ḷng băng giá trong bầu ngọc rồi.

    Ngày 10 tháng 10 năm 1962, HCM đặt tiệc tại Hà Nội tiễn Bành Chân, trưởng Đoàn đại biểu Trung Quốc sang thăm Việt Nam. Trong tiệc, HCM tùy miệng đọc diễn cảm hai câu thơ:

    “ 北京親友如相問,一片冰心在玉壺 (Bắc Kinh thân hữu như tương vấn, Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ), đồng thời, nhờ Bành Chân chuyển lời thăm hỏi đến các đồng chí Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và Chu Đức.

    4 – Múa bút viết thư pháp Đại khải và Tiểu khải.

    Mùa thu năm 1938, thời kỳ Hồ Chí Minh làm việc ở Quế Lâm đă để lại không ít bức thư pháp. Lúc ấy, ông c̣n kiêm luôn cả công việc biên tập tờ “Sinh hoạt tiểu báo” (có lẽ là báo tường – ND). Bản thảo đều dùng bút lông tự viết trên giấy báo, sau đó đóng thành sách, trang b́a viết chữ Đại khải.

    Năm 1959, Hồ Chí Minh đến Lư Sơn, Giang Tây, nhà khách đặc biệt mời ghi lưu niệm, v́ bút lông quá nhỏ, ông bèn láy ngón ta nhúng mực viết lên giấy Tuyên ba chữ lớn: “盧山好” (Lư Sơn hảo), sau đó dùng bút tiểu khải viết ḍng lạc khoản “ Hồ Chí Minh, tháng tám năm 1959”

    Trung tuần tháng 5 năm 1961, Hồ Chí Minh đến Ly Giang, (Quế Lâm, Quảng Tây). Theo đề nghị của khách sạn Dung Hồ, ông ngẫu hứng cầm bút viết bài phú tả cảnh Ly giang vào tờ giấy Tuyên khổ rộng trải trên chiếc sạp lớn:

    桂林風景甲天下,如詩中畫,畫中詩

    山中樵夫唱, 江上客船歸。

    奇!


    Phong cảnh Quế Lâm đẹp nhất thiên hạ,

    Như thơ trong họa, như họa trong thơ.

    Trong núi tiều phu hát,

    Trên sồng thuyền khách về.

    Lạ kỳ!

    Tại nhà khách Dương Sóc, Hồ Chí Minh dùng bút đại tự viết 5 chữ lớn: “陽朔風景好” (Dương Sóc phong cảnh hảo) thành bức tranh chữ rồi rồi đề lạc khoản phia dưới góc trái bằng bút tiểu khải “ Hồ Chí Minh, 15 tháng 5 năm 1961”. Tác phẩm này đến nay vẫn c̣n lưu giữ trong nhà khách Dương Sóc.

    Ngôn ngữ thơ Hồ Chí Minh đều biểu đạt t́nh cảm chân thành, thường tương ứng với hoàn cảnh mà ḿnh đă trải qua bằng ngôn ngữ mẹ đẻ một cách thuần thục, sinh động. Như vậy, trong số không ít các bài thơ, nhất là “Nhật kư trong tù” và thơ ngẫu hứng, rồi đến các bức thư họa mà Hồ Chí Minh sáng tác trong quá tŕnh hoạt động cách mạng, xét về logic, không thể là tác phẩm của một người nước ngoài, chỉ được tiếp cận với nền văn hóa Hán vài năm tiểu học. Lại nữa, từ trước năm 1933, hầu như Nguyễn Ái Quốc không để lại bất kỳ bài viết bằng Trung văn nào, vậy mà sau năm 1933, Hồ Chí Minh lại có một khối lượng lớn các tác phẩm Trung văn, bao gồm cả chuyên luận, tạp văn, thông tấn, thơ, từ và thư pháp. Từ đó suy ra, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh chắc chắn phải là hai người khác nhau.

    Di chúc của Hồ Chí Minh lúc lâm chung.

    Căn cứ vào lời kể củ Vũ Kỳ, thư kư riêng của Hồ Chí Minh, qua bài “Hồ Chủ tịch 5 năm viết Di chúc” như sau:

    “ Đến đúng 9h sáng ngày 10 tháng năm 1965, Người đặt bút viết ḍng đầu tiên, đó là câu: “Tài liệu tuyệt đối bí mật”.

    Hồ Chủ tịch làm việc trong 10 ngày liền, mỗi ngày đúng 1 tiếng vào thời gian con người minh mẫn, sảng khoái nhất, đó là từ 9h đến 10h sáng. Khi viết, Người không tiếp bất cứ ai. Cứ viết đến 10h th́ Người lại bỏ tài liệu vào một b́ thư đưa ông Kỳ cất giữ hôm sau lấy ra. Sau 4 ngày, Người bắt đầu đánh máy và đến 16h th́ hoàn thành. Bản di chúc dài ba trang ở cuối đề ngày 15 tháng năm 1965. Hồ Chủ tịch kư và bên cạnh có chữ kư của ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng hồi bấy giờ. Đọc, sửa đến ngày 20 tháng năm, Người lại bỏ vào b́ thư cất đi.

    Đúng một năm sau, Hồ Chủ tịch lại lấy “tài liệu tuyệt đối bí mật” ra và viết tiếp, mỗi ngày một tiếng từ 9h đến 10h. Nhưng năm ấy Người hầu như chỉ đọc và ngẫm nghĩ. Mấy ngày sau, Người viết thêm câu: “Phải có t́nh đồng chí thương yêu lẫn nhau” trong đoạn nói về Đảng.

    Năm 1967, Hồ Chủ tịch không sửa ǵ nhiều bản di chúc, nhưng đến năm 1968 th́ Người sửa rất nhiều. Phần mở đầu Người viết năm 1965 là: “Năm nay tôi đă 75 tuổi, tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khỏe mạnh”, nhưng sau Người lại sửa: “Năm nay tôi vừa 78 tuổi, vào lớp những người trung thọ, tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây”. Và viết tiếp: “Người ta đến khi tuổi tác càng cao th́ sức khỏe càng thấp. Đó là một điều b́nh thường”.

    Sau đó Hồ Chủ tịch viết thêm đoạn “Về việc riêng” có ư mới là sau khi hỏa táng sẽ lấy tro xương của Người để vào ba hộp sành cho mỗi miền Bắc, Trung, Nam. Người viết thêm về những công việc cần làm sau khi giải phóng miền Nam. Đó là chỉnh đốn Đảng, chăm sóc đời sống các tầng lớp nhân dân, miễn thuế nông nghiệp một năm... Những đoạn về chỉnh đốn Đảng, chăm sóc thương binh, Hồ Chủ tịch viết rồi lại gạch chéo. Rất nhiều đoạn ṿng xuống ṿng lên, mực xanh lẫn mực đỏ.

    Năm 1969, Hồ Chủ tịch viết di chúc lần cuối cùng vào Ngày 10 tháng năm, Người viết lại đoạn mở đầu, gồm một trang viết tay vào mặt sau của tờ “Tin tham khảo đặc biệt”. Đó cũng là lần duy nhất Người viết quá 10 giờ sáng”.

    Hồ Chí Minh phải mất 5 năm mới viết xong “Di chúc”, không thể nói là không thận trọng. Đúng như Vũ Kỳ kể: Tại bản viết năm 1965 ông có nói đến “ Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ ǵn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lănh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”

    Chỉ trong đoạn ngắn này mà Hồ Chí Minh đă đặc biệt nhấn mạnh vào các cụm từ “đạo đức cách mạng”, “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, “phải giữ ǵn Đảng ta thật trong sạch”, “là người đầy tớ trung thành của nhân dân” đều mang hàm ư “chân chính”, hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên.

    Như chúng ta đă biết, Hồ Chí Minh viết văn hoặc nói chuyện đều hết sức tránh dùng từ ngữ rườm rà, nhưng ở đây lại có khá nhiều từ mang nội dung “đạo đức cách mạng”, và sự “chân chính” của cán bộ đảng viên, hẳn là có ư nghĩa đặc biệt sâu sắc. Vũ Kỳ từng viết: “ Ngày 15 tháng hai năm 1965, Hồ Chủ tịch về thăm Côn Sơn, buổi trưa, nghỉ lại Côn Sơn, thăm đền thờ Nguyễn Trăi và đọc tấm bia cổ. Ở vào thời kỳ chuyển tiếp của lịch sử, Hồ Chí Minh về thăm Cô Sơn viếng Nguyễn Trăi, liệu có phải là sự ngẫu nhiên? Cả hai người đều là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất, là bậc vĩ nhân, là nhà thơ lớn, đồng thời cùng có niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh to lớn của nhân dân, cùng có khát vọng đấu tranh v́ hạnh phúc của nhân dân. Tuy cách nhau 5 thế kỷ (1380 – 1890), vậy mà, dường như có sự tương hợp kỳ diệu, như là từ lâu đă có ước định hội ngộ lịch sử”. Vũ Kỳ mượn Nguyễn Trăi và Hồ Chí Minh mục đích là để nhấn mạnh phẩm chất “cần chính”, “ái dân” của hai bậc vĩ nhân, nhằm ngầm khuyến cáo Đảng phải “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”. Từ đó có thể suy ra, lời Vũ Kỳ chính là lời Hồ Chí Minh trong “Di chúc” mà ông đă dành hẳn 5 năm cuối đời để viết. Có thể nói, từng câu từng chữ đều vô cùng cẩn trọng ( “句句推敲,字字琢蘑”(cú cú thôi xao, tự tự trác ma).

    Nội dung “Di chúc” của Hồ Chí Minh.

    “Di chúc Hồ Chí Minh”, qua 5 năm soạn thảo, sửa chữa và bổ sung, đến ngày 10 tháng 5 năm 1969 mới hoàn chỉnh. Bản “Di chúc” này được xem là bản chính thức, công bố lần đầu tiên. Nội dung có thể quy nạp vào mấy điểm sau đây:

    1 – Chú trọng đến Chủ nghĩa Quốc gia và Chủ nghĩa xă hội.

    2 – Nhấn mạnh chỉnh đốn Đảng, tăng cường đoàn kết nội bộ và tu dưỡng đạo đức cách mạng.

    3- Chú trọng nâng cao đời sống nhân dân cùng với việc tạo địa vị b́nh đẳng xă hội cho phụ nữ.

    Dưới đây là toàn văn “Di chúc Hồ Chí Minh” được sao lục từ bản Hán văn, nhà xuất bản Ngoại văn Hà Nội, năm 1971, trong cuốn “V́ độc lập tự do, v́ chủ nghĩa xă hội”, trang 320 – 323 (đă được người dịch chuyển trở lại bằng tiếng Việt):

    Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh
    ( Công bố nǎm 1969 )

    VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

    Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

    Đó là một điều chắc chắn.

    Tôi có ư định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thǎm hỏi các cụ phụ lăo, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quư của chúng ta.

    Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thǎm và cảm ơn các nước anh em trong phe xă hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp nǎm châu đă tận t́nh ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

    *

    * *

    Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng "Nhân sinh thất thập cổ lai hy", nghĩa là "Người thọ 70, xưa nay hiếm".

    Nǎm nay, tôi vừa 79 tuổi, đă là lớp người "xưa nay hiếm" nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài nǎm trước đây. Khi người ta đă ngoài 70 xuân, th́ tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có ǵ lạ.

    Nhưng ai mà đoán biết tôi c̣n phục vụ cách mạng, phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

    V́ vậy, tôi để sẵn mấy lời này, pḥng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, th́ đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

    TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG - Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một ḷng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đă đoàn kết, tổ chức và lănh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

    ĐOÀN KẾT là một truyền thống cực kỳ quư báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ ǵn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ ǵn con ngươi của mắt ḿnh.

    Trong Đảng thực hành dân chủ rộng răi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê b́nh và phê b́nh là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có t́nh đồng chí thương yêu lẫn nhau.

    Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ ǵn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lănh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.


    ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xă hội vừa "hồng" vừa "chuyên".

    Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.


    NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đă bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

    Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

    Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

    CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ có thể c̣n kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

    C̣n non, c̣n nước, c̣n người,

    Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

    Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đă anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đă góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.


    VỀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN THẾ GIỚI - là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, th́ tôi càng đau ḷng bấy nhiêu v́ sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

    Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lư, có t́nh.

    Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

    *

    * *

    VỀ VIỆC RIÊNG - Suốt đời tôi hết ḷng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều ǵ phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

    Sau khi tôi đă qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đ́nh, để khỏi lăng phí th́ giờ và tiền bạc của nhân dân.

    *

    * *

    Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn t́nh thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

    Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

    Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà b́nh, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

    Hà nội, ngày 10 tháng 5 nǎm 1969
    Hồ Chí Minh

    “Di chúc Hồ Chí Minh” có nhiều bản, trừ bản đầu tiên Vũ Kỳ giới thiệu trong bài “Hồ Chủ tịch 5 năm viết di chúc” ra, nhà xuất bản Thanh niên, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia cũng lần lượt cho ra đời các “Bản cảo” gốc “Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Tại nhà kỷ niệm Hồ Chí Minh ở Liễu Châu, Quảng Tây, Trung Quốc, trong tủ kính trưng bày hiện vật cũng có bản “Di chúc” ngày 5 tháng mười năm 1969 được dịch sang tiếng Trung do nhà xuất bản Ngoại văn Hà Nội ấn hành.

    Những nghi vấn về “Di chúc Hồ Chí Minh”.

    Về “Di chúc Hồ Chí Minh”, giáo sư William J. Duiker có nghi ngờ mấy điểm sau đây:

    1 – Cắt bỏ nội dung “Di chúc” có liên quan đến việc xử lư thi thể sau khi chết.

    Bản “Di chúc” công bố năm 1969, cát bớt phần Hồ Chí Minh đề nghị miễn một năm thuế nông nghiệp cho nông dân.

    3 – Dự đoán với đồng bào về cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài thêm mấy năm. Về việc xử lư di thể đă bị cắt bỏ so nội dung với bản gốc, căn cứ vào lời vị Đại sứ tiền nhiệm của Trung Quốc tại Việt Nam Lư Gia Trung trong bài: “Nói chuyện về việc sinh hoạt thường ngày của Hồ Chí Minh” như sau:

    “Sau khi tôi qua đời chớ nên tổ chức điếu phúng linh đ́nh, để khỏi lăng phí th́ giờ và tiền bạc của nhân dân.

    Tôi yêu cầu, thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng, cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến. V́ như thế đối với người sống là tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện th́ “điện táng” càng tốt hơn.

    Tro th́ chia thành ba phần, cho vào ba cái hộp sành, một cho miền Bắc, một hộp cho miền Trung, một hộp cho miền Nam.

    Đồng bào mỗi miền, nên chọn một quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá, tượng đồng, mà nên xây một ngôi nhà giản đơn, rộng răi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

    Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm th́ trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc chăm sóc nên giao phó cho các cụ phụ lăo”.

    Cái điều mà tôi nghi ngờ, không phải ở chỗ “Di chúc” bị cắt bỏ mà là ở chố có vẻ như nội dung của nó đă bị thay đổi. Mở đầu “Di chúc” viết: “Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng Trung Quốc thời nhà Đường, có câu rằng: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là, “Người thọ 70 xưa nay hiếm”.

    Năm nay tôi vừa 79 tuổi, đă là lớp người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đă ngoài 70 xuân, th́ tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó cũng không có ǵ lạ”.

    (“Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là”Người thọ 70 xưa nay hiếm”. Năm nay tôi vừa 79 tuổi, đă là lớp người “xưa nay hiếm”). Cứ theo logic ngữ nghĩa của đoạn văn này mà xét, tôi phát hiện thấy dấu vết c̣n lại khá rơ của câu “Năm nay tôi vừa 69 tuổi” bị sửa thành “Năm nay tôi vừa 79 tuổi”. Như vậy, có khả năng nguyên văn bản gốc đoạn “Di chúc” này như sau: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là, “Người thọ 70 xưa nay hiếm”. Năm nay tôi vừa 69 tuổi, đă là lớp người “xưa nay hiếm”, như thế, đọc vừa thuận miệng, vừa thuận lư mà lại tránh được sự tối nghĩa. Cứ t́m trong các bản thảo Hán văn của HCM th́ thấy rất rơ, ông không bao giờ viết câu văn lủng củng, mâu thuẫn, đại loại như: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy. Năm nay tôi vừa 79 tuổi”. Huống chi, nội dung “Di chúc” đă phải qua 5 năm chỉnh lư, bổ sung, sửa chữa, không thể có chuyện câu trước câu sau mâu thuẫn với nhau. Từ đó, chúng tôi dự đoán, “Di chúc Hồ Chí Minh, trước tiên được khởi thảo bằng Hán văn, sau đó căn cứ vào bản Hán văn, ông mới dần dần dịch sang tiếng Việt, nên mới được liệt vào loại “văn kiện tuyệt mật” giao cho thư kư riêng Vũ Kỳ bảo quản.

    Hồ Chí Minh (Nguyễn Aí Quốc) sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, mà Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) sinh ngày 11 tháng 10 năm 1901, chênh nhau 11 tuổi. Hồ Chí Minh tạ thế ngày 2 tháng 9 năm 1969, tính ra th́ Nguyễn Ái Quốc tṛn 79 tuổi, c̣n Hồ Tập Chương tính cả tuổi mụ mới đủ 69. Đối chiếu với “Di chúc” (“Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là, “Người thọ 70 xưa nay hiếm”.Năm nay tôi vừa 79 tuổi, đă là lớp người “xưa nay hiếm”), lại nói: “ Khi người ta đă ngoài 70 xuân, th́ tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó cũng không có ǵ lạ”.

    Nội dung đoạn “Di chúc” này, tuổi 79 căn bản không phù hợp với việc dẫn dụng thơ Đỗ Phủ: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”. Dấu tích của câu “Năm nay tôi vừa 69 tuổi” bị sửa thành “Năm nay tôi vừa 79 tuổi” c̣n rất rơ.

    Những bí mật về việc bảo tồn di thể Hồ Chí Minh.

    Cựu Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Lư Gia Trung có bài viết: “ Bí mật về việc giữ ǵn di thể Hồ Chí Minh”, trong đó, ông thuật lại phương thức bảo tồn di thể liệu có phù hợp với t́nh trạng người đă từng mắc bệnh ho lao? Tuy không hiểu biết nhiều về y học, bệnh lư, nhưng chúng tôi cũng rất lấy làm nghi ngờ.

    Lư Gia Trung kể, thời trẻ ông từng làm phiên dịch tiếng Việt trong Đại sứ quán Trung uốc tại Hà Nội như sau:

    “Về cuối đời, sức khỏe Hồ Chí Minh không được tốt. Các vị lănh đạo Trung Quốc rất quan tâm đến sức khỏe Hồ Chí Minh, nên năm 1968 đă cử một đoàn chuyên gia y tế cao cấp sang Việt Nam. Lúc ấy, tôi cũng được đi theo đồng chí Tham tán đến sân bay đón tổ chuyên gia này. Các bác sĩ luôn luôn túc trực bên cạnh Hồ Chí Minh theo dơi sức khỏe của Người.

    Hạ tuần tháng tám năm 1969, Hồ Chí Minh lúc ấy 79 tuổi, bị bệnh nặng. Cho dù tổ chuyên gia y tế đă hết ḷng cứu chữa, nhưng Thủ tướng Chu Ân Lai vẫn không yên tâm, nên ngày 24 và 26 tháng tám lại cử tiếp tổ thứ hai và thứ ba sang Hà Nội. Ngày 31 tháng tám, Chu Tổng lư cử Viện trưởng Viện Y học nổi tiếng là giáo sư y khoa Ngô Giai B́nh đi chuyên cơ mang biệt dược sang Hà Nội và chẩn đoán bệnh t́nh cho Hồ Chí Minh. Ngày 1 tháng chín, Chu Ân Lai đích thân nghe giáo sư Ngô báo cáo, đồng thời triệu tập ngay các giáo sư y khoa đầu ngành thảo luận trong 5 giờ liền, cuối cùng đi đến quyết định, để ông Ngô Giai B́nh dẫn đầu tổ chuyên gia thứ tư cùng với các thiết bị y tế và thuốc men, sáng sớm ngày 2 tháng 9 lên máy bay sang Hà Nội cấp cứu. Thật đáng tiếc, tổ chuyên gia thứ tư mới bay đến vùng trời Quảng Tây th́ nhận được tin Hồ Chí Minh đă ngừng thở vào lúc 9 giờ 47 phút. Kết quả, chiếc chuyên cơ đành quay trở về Bắc Kinh”. Tác giả kể tiếp: “ Ngày 2 tháng chín là Quốc khánh Việt Nam. Cân nhắc kỹ, thấy đây là thời điểm có liên quan đến sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, Chính phủ VN đề pḥng trong nước có biến động, nên đă quyết định chuyển ngày mất của Hồ Chí Minh sang mồng 3 tháng 9, đồng thời ấn định ngày mồng 9 tháng 9 sẽ cử hành Quốc tang”.

    Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra thông cáo đặc biệt: "Chủ tịch Hồ Chí Minh mắc bệnh tim nghiêm trọng đă từ trần vào lúc 9 giờ 47 phút ngày mồng 3 tháng 9 năm 1969, hưởng thọ 79 tuổi".

    Sau khi Hồ Chí Minh mất hai tháng, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp vào ngày 29 tháng mười một năm 1969, ra công bố quyết định giữ ǵn di thể của người. Thực ra, trước đó một năm, xét thấy sức khỏe HCM mỗi ngày một suy giảm, Ban lănh đạo Việt Nam đă bàn đến vấn đề làm thế nào để bảo quản được di thể trong tương lai. Tuy nhiên VN lúc ấy t́nh trạng kinh tế vô cùng khó khăn, khoa học kỹ thuật lạc hậu, lại đang bận kháng chiến chống Mỹ, không thể có khả năng giải quyết được vấn đề kỹ thuật ướp xác cao như thế. V́ vậy, ngày 14 tháng chín năm 1967, bí mật cử một nhóm cán bộ kỹ thuật đặc biệt sang Liên Xô. Tại Viện nghiên cứu Lăng Lenin ở Mạc Tư Khoa, dưới sự giúp đỡ nhiệt t́nh của các chuyên gia, nhóm kỹ thuật viên Việt Nam, sau 7 tháng bồi dưỡng nghiệp vụ, đă nắm vững được kỹ thuật bảo quản di thể sau khi con người tắt thở từ 15 đến 20 giờ, c̣n tŕnh tự các bước tiến hành như thế nào, đến lúc ấy, các chuyên gia Liên Xô sẽ bay sang Hà Nội tiếp tục xử lư.

    Sau khi rời Liên Xô về nước, căn cứ vào đặc điểm khí hậu, thời tiết, tổ kỹ thuật Việt Nam đem những kiến thức chuyên môn đă học được vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể trong nước. Tháng sáu năm 1968, VN chính thức bí mật thành lập nhóm kỹ thuật đặc biệt. Nhiệm vụ của nhóm là thâm nhập, nghiên cứu như thế nào để bảo quản được di thể trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Thời gian ấy, các nhà lănh đạo VN chỉ thị, nếu như Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời mà lăng mộ c̣n chưa được xây dựng th́ nhiệm vụ của nhóm kỹ thuật đặc biệt này là bảo quản di thể của ông tại một địa phương. Trong thời gian này, họ phải tuyệt đôi tuân thủ những tiêu chuẩn kỹ thuật như sau: Nhất định phải giữ di thể ở nhiệt độ 16o C, chênh lệch không quá 0,2oC, độ ẩm ổn định 75%. Lúc ấy, các nhà lănh đạo Liên Xô nêu ư kiến là, sẽ có trách nhiệm bảo quản lâu dài di thể Hồ Chí Minh, chỉ mong phía Việt Nam tuyệt đối tin tưởng phối hợp với các chuyên gia Liên Xô, khắc phục những đặc điểm hoàn cảnh, nhất định sẽ nắm vững kỹ thuật do các chuyên gia truyền thụ, để tự ḿnh sẽ bảo quản di thể lănh tụ Hồ Chí Minh một cách tôt nhất.

  6. #36
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    T́m hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh "Hồ Chí Minh sinh b́nh khảo"
    Hồ Tuấn Hùng
    Kỳ 8
    Người dịch: Thái Vằn
    P2





    Thời gian Hồ Chí Minh lâm trọng bệnh, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đă cử Do Tiệp Bột Phu(8) (由捷勃夫),cầm đầu nhóm chuyên gia y tế kịp thời đến Hà Nội. Sau khi Hồ Chí Minh qua đời, phía Việt Nam lập tức chuyển giao thi thể của ông cho các chuyên gia. Xét thấy VN đang trong hoàn cảnh chiến tranh, các chuyên gia Liên Xô kiến nghị, đưa di thể Hồ Chí Minh sang Mạc Tư Khoa tiến hành xử lư để tránh bị phân hủy, nhưng các nhà lănh đạo Việt Nam không đồng ư phương án này. V́ thế, Liên Xô phải đem máy móc, thiết bị bằng đường hàng không sang Việt Nam. Lại v́ để tránh máy bay Mỹ oanh tạc, Việt Nam lúc đầu chọn một nơi cách Hà Nội 30 km, thuộc vùng rừng nhiệt đới rậm rạp, tạm thời xây một hầm mộ rồi đưa quan tài thủy tinh của Hồ Chí Minh xuống đó. Không lâu sau lại phát hiện cách nơi ấy chừng 2 km có biệt kích Mỹ nhảy dù t́m phi hành đoàn do bị không quân Việt Nam bắn hạ nên đành phải chuyển quan tài vào một hang động. V́ vậy phải gấp rút làm một nhánh đường núi. Để đảm bảo an toàn tuyệt đối, mỗi khi mở xong một đoạn, xe bọc thép chở quan tài thủy tinh vừa đi qua, lập tức có bộ phận phá hủy rồi ngụy trang. Cứ như vậy, di thể Hồ Chí Minh được bảo quản bí mật trong hang động cho đến ngày chiến tranh VN kết thúc. Ngày 29 tháng 8 năm 1975, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn thành. Quan tài thủy tinh chính thức được đưa vào.

    Đầu những năm 1990 của thế kỷ XX, Liên bang Xô viết giải thể, do t́nh h́nh đất nước hỗn loạn, không c̣n khả năng cử chuyên gia sang Hà Nội chỉ đạo việc duy tŕ bảo tồn di thể Hồ Chí Minh. Đối mặt với t́nh huống này, các cán bộ, kỹ sư Việt Nam khắc phục bằng cách trực tiếp sang nước Nga liên hệ với chuyên gia, nhờ họ hướng dẫn ngiệp vụ.

    Đến nay, VN đă đào tạo được một đội ngũ chuyên gia giỏi, chẳng những nắm chắc kỹ thuật chuyên ngành ướp xác mà c̣n đạt đến tŕnh độ cao. Có thể nói, đă có đầy đủ kinh nghiệm, bản lĩnh để đảm nhiệm một cách xuất sắc việc giữ ǵn lâu dài di thể lănh tụ Hồ Chí Minh.

    V́ muốn giữ ǵn di hài Hồ Chí Minh thật tốt, các chuyên gia Việt Nam đă dồn hết sức lực và tâm huyết trong công đoạn cũng không kém phần quan trọng, đó là chỉnh trang dung mạo di hài. Mỗi sợ tóc, mỗi sợi râu đều được chú ư giữ ǵn. Khi tiêm dưới da, mỗi mũi kim luôn được tính toán chính xác để đạt hiệu quả tốt nhất.

    Hiện tại, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trang nghiêm tọa lạc tại góc tây bắc Quảng trường Ba Đ́nh, Hà Nội. Lăng cao 21,6 m, toàn bộ được xây bằng đá hoa cương (cẩm thạch đen). Trước cửa chính, suốt ngày đêm luôn có hai cảnh vệ đứng gác. Thời kỳ tôi c̣n công tác tại Việt Nam, đă nhiều lần được vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đi đến cửa chính, bạn sẽ nh́n thấy trên tường hành lang khảm câu danh ngôn bằng vàng “Không có ǵ quư hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh. Từ từ bước lên 33 bậc thềm, tiến vào đại sảnh, sẽ thấy di thể Hồ Chí Minh nằm trong quan tài thủy tinh mặc bộ quần áo ka ki kiểu Tôn Trung Sơn màu vàng nhạt, hai tay dặt trước bụng. Một đôi dép cao su – dép kháng chiến, đặt bên chân. Chung quanh quan tài thủy tinh thường xuyên có 4 chiến sĩ đứng nghiêm túc trực. Dưới ánh đèn êm dịu, gương mặt HCM hồng hào, phong thái an nhiên với cḥm râu bạc, có thể thấy như Người đang ngủ.

    Hồ Chí Minh sau 60 năm trường hoạt động cách mạng, một ḷng một dạ v́ Tổ quốc và nhân dân, chết mà như c̣n sống măi. Trong tâm trí và t́nh cảm của nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh là một nhà lănh đạo kiệt xuất, là niềm kiêu hănh của dân tộc. Hồ Chí Minh ra đi đă 30 năm. Mối ngày có hàng ngàn vạn lượt người đến viếng. Khoảng 10 năm gần đây, các thành viên của bộ phận kỹ thuật đặc biệt chăm sóc di hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, vẫn âm thầm làm việc cần cù, nguyện làm người anh hùng sau hậu trường. Họ đă đem hết tài trí và tâm huyết giữ ǵn di thể lănh tụ Hồ Chí Minh một cách xuất sắc”.


    THIÊN VI
    Hạ màn và đôi lời cảm nghĩ

    Lặng lẽ suy tư khi màn hạ.
    Lịch sử là tài sản văn hóa chung của nhân loại, bất cứ một cá nhân hoặc quốc gia nào cũng không được tự coi là lợi ích của riêng ḿnh, cho dù người ấy, tập đoàn ấy nắm quyền lực thống trị tối cao mà làm biến dạng hoặc hủy diệt lịch sử. Đương thời, các chuyên gia nghiên cứu về Hồ Chí Minh như giáo sư William J. Duiker, Sophie Quinn Judge v.v... đă đem hết tâm huyết để dựng lại sự thật về con người Hồ Chí Minh. Họ đă sưu tầm được những tấm ảnh cùng vô số những vấn đề c̣n nghi hoặc trong quá tŕnh hoạt động của nhân vật huyền thoại này. Bản thân tôi đang nắm giữ những bí mật liên quan đến thân phận Hồ Chí Minh, tuy nhiên, sẽ là không công bằng với lịch sử nếu chỉ giữ làm của riêng, cho dù trong người tôi cũng có ḍng máu Hồ Chí Minh. Thế nhưng, do c̣n chưa t́m dược đầy đủ chứng cứ có tính thuyết phục, sợ người đời chỉ trích nên chưa dám công khai, cho du từ lâu, trong gia tộc đă lưu hành lời khẩu truyền về một "bí mật ḍng họ".

    Bản thân tôi từng tốt nghiệp Khoa Lịch sử, gánh trên vai sự ủy thác của gia tộc, xét thấy, cần phải vô tư đem những tư liệu lịch sử về Hồ Chí Minh công khai với thế nhân, để các chuyên gia, học giả làm cơ sở nghiên cứu, nhằm đưa đến cho người đọc một Hồ Chí Minh đúng với sự thật lịch sử.

    Hiện tại, tác giả chính thức viết bài công bố: Người mang tên Hồ Chí Minh, "Cha già dân tộc Việt Nam", xuất hiện vào thời kỳ sau năm 1933, chính là Hồ Tập Chương đến từ Miêu Lật, Đài Loan, hoàn toàn không phải tự bản thân bịa đặt bởi ham hố hư danh. Thực ra, cẩn thận nh́n lại toàn bộ cuộc đời Hồ Chí Minh, đứng trên lập trường gia tộc mà xét, nghĩ lại thật vô cùng đau xót khi người con trai duy nhất của Hồ Tập Chương là Hồ Thự Quang nói chuyện với tôi: "Thấy cha đẻ Hồ Chí Minh của ḿnh là Chủ tịch nước Việt Nam mà không biết làm thế nào, chỉ nh́n rồi thương cảm". Vào lúc chú Thự Quang lâm chung, ḷng vẫn không nguôi ngoai nhớ đến phụ thân.

    Từ lâu, tôi đă nhận sự ủy thác của gia tộc, trường kỳ t́m hiểu những chứng cứ có liên quan đến cuộc đời Hồ Chí Minh. Hơn nữa, vào lúc hấp hối, cha tôi c̣n dặn lại: "Một số tấm ảnh chụp cuối đời Hồ Chí Minh, nh́n kỹ càng giống ông nội con. Thời cơ đă đến, chớ ngại đem sự thật ḍng họ viết thành sách để người đời hiểu rơ". May thay, sau khi hỏi chuyện những bậc cao niên trong họ, cùng nhiều năm sưu tầm tư liệu, đối chiếu với các tác giả viết truyên kư về Hồ Chí Minh, kể cả những điểm c̣n mù mờ trong cuộc đời hoạt động của ông, tôi đă sọan được cuốn "Hồ Chí Minh sinh b́nh khảo" (T́m hiểu cuộc đời Hồ Chí Minh), sau đó th́ ngừng viết nhiều năm, trong ḷng luôn thắc thỏm bất an, nhưng cuối cùng cũng hoàn thành được công việc gia tộc giao phó. Tác giả tự thấy phải có trách nhiệm công bố trước độc giả: "Hồ Chí Minh sau năm 1943 tuyệt đối không phải là Nguyễn Ái Quốc". Về điểm này, tôi hoàn toàn có đầy đủ chứng cứ đích xác. "C̣n Hồ Chí Minh sau năm 1933 chính là Hồ Tập Chương đến từ Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan".

    Lịch sử giống như một tấm gương luôn nhắc nhở chúng ta, phàm là các dấu vết sửa chữa, ngụy tạo, làm lại như nguyên mẫu, cho dù trải qua năm tháng, nhưng cuối cùng vẫn bộc lộ h́nh tích.

    Ngày tháng thoi đưa, tác giả nhẫn nại chờ đợi thời cơ. Vào năm 2000, giáo sư William J. Duiker, xuất bản cuốn "Truyện Hồ Chí Minh" tại Mỹ (Ho Chi Minh, by William J. Duiker, Hyperion, New York, 2000).

    Năm 2001, tại Anh Quốc, Paul Draken công bố "Nhật kư Paul Draken - Nguyễn Ái Quốc", năm 2003, cũng tại Anh Quốc, Sophie Quinn Judge xuất bản cuốn "Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1911-1941" (Ho Chi Minh: the missing Years 1919- 1941, by. Sophie Quinn Judge, Hurst, Company. London, 2003). Sau đó ít lâu, vào năm 2004, tại Đại lục Trung Quốc, cac báo và tạp chí lần lượt cho đăng tải nhiều bài viết về t́nh yêu và hôn nhân của Hồ Chí Minh. Các chứng cứ từ những tác phẩm nghiên cư có uy tín dần đần xuất hiện. Thời cơ từng bước chín muồi, lúc ấy tôi mới bắt tay viết "T́m hiểu cuộc đời Hồ Chí Minh".

    Từ năm 1971, khi được đọc tác phẩm "Hồ Chí Minh ở Trung Quốc" của nhà sử học Đài Loan Tưởng Vĩnh Kính, trong đó có đoạn nói về việc "Nguyễn Ái Quốc mất tích v́ bị bệnh chết", tôi nhận thấy, đây có khả năng là sự thật. Năm 1993, tôi lại đọc cuốn "Chú giải Nhật kư trong tù của Hồ Chí Minh" của giáo sư Hoàng Tranh, trong đầu càng nảy sinh nghi ngờ, Nguyễn Ái Quốc khó có thể là tác giả tập thơ này. Tuy vậy, tôi vẫn c̣n e ngại, chưa dám động bút, sợ chưa đủ chứng cứ, bị dư luận phản ứng, thành tṛ cười, liên lụy đến cả gia tộc.

    Tôi đă biết rất rơ ràng, thời gian từ 1929 đến 1933, Hồ Tập Chương hoạt động ở Đại lục Trung Quốc, hẳn là c̣n lưu trữ trong hồ sơ của Đảng bộ Thượng Hải, cũng như thời kỳ từ năm 1933 đến 1938, Hồ Tập Chương hoạt động ở Mạc Tư Khoa cũng c̣n lưu tại hồ sơ Trung tâm Quốc tế cộng sản. Tại hai nơi này, ta có thể t́m được những chứng cứ quan trọng bậc nhất về lai lịch Hồ Tập Chương, cho dù từ lâu nay, tầng lớp lănh đạo chóp bu của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn ra sức che giấu.

    Xét thấy, bản thân kiến thức và khả năng ngoại ngữ c̣n hạn chế, sự hiểu biết về lịch sử nông cạn, và nhất là chưa có được sự can đảm, thế nhưng, may mắn thay, như kẻ "ṃ kim đáy bể", tôi đă tiến một bước trong việc t́m được cứ liệu lịch sử quan trọng bậc nhất. Từ những tư liệu của giáo sư William J. Duiker, và Sophie Quinn Judge, tôi kiểm tra, so sánh, đối chiếu, cuối cùng đă t́m ra được sự thật lịch sử trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, trả lại thân phận chân chính cho Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương. Tôi từng đặt tay lên ngực tự hỏi: "Hồ Chí Minh là người Việt Nam hay người Đài Loan?", rồi tự thấy đă rơ ràng liền trả lời: "Đương nhiên là người Việt Nam, bởi Hồ Chí Minh chẳng qua chỉ sinh ra tại Đài Loan mà thôi". Sứ mệnh của Hồ Chí Minh là phụng sự nền độc lập Việt Nam, hy sinh gia đ́nh, bỏ vợ con ở Đài Loan, cống hiến trọn đời cho dân tộc Việt, thậm chí không oán thán, không hối hận, cam chịu hóa thân thành Nguyễn Ái Quốc.

    Từ năm 1934, bắt đầu thời kỳ đỉnh cao hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh trong ḷng đă tự nhận ḿnh là người Việt Nam, chỉ là v́ thời cơ bên ngoài chưa chín, nên không dám công khai thừa nhận ḿnh là Nguyễn Ái Quốc, dù cho, tháng chín năm 1945, tại quảng trường Ba Đ́nh, ông đă đọc "Tuyên ngôn độc lập" với danh xưng "Hồ Chí Minh" truyền đi khắp thế giới. Việc này cũng chẳng phải là dụng ư tư tâm của Hồ Chí Minh v́ muốn nổi tiếng mà không lấy danh nghĩa Nguyễn Ái Quốc để phát ngôn. Bởi lẽ, lúc ấy trong Chính phủ lâm thời có phe đối lập. Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Trương Trung Phụng thuộc phái Troskism như cú nḥm nhà bệnh, bởi họ đều biết rất rơ, Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc. Nếu Hồ Chí Minh công nhiên lấy tên Nguyễn Ái Quốc điều hành chính phủ, sẽ là điều kiện thuận lợi để họ vạch trần ông đă lừa dối nhân dân Việt Nam cầm quyền, kích động quần chúng đứng lên phản đối Việt Minh, hủy hoại h́nh ảnh yêu nước, thương dân của "Cha già dân tộc".

    Năm 1946, Hồ Chí Minh đích thân tham dự Tổng tuyển cử toàn quốc, bầu chọn dược 323 đại biểu Quốc hội, nhất trí đề cử Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng ḥa, đồng thời suy tôn ông là "công dân số một". Thời kỳ này, nhóm Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh đều đă theo quân đội Quốc dân đảng về Trung Quốc. Năm 1951, Việt cộng thành lập Đảng Lao động, độc quyền lănh đạo đất nước, đến lúc ấy, Hồ Chí Minh mới công khai thừa nhận ḿnh là Nguyễn Ái Quốc. Măi đến năm 1969, trước khi Hồ Chí Minh qua đời, trong bản "Di chúc", ông vẫn canh cánh trong ḷng, không quên nền độc lập dân tộc, không quên sự đoàn kết phấn đấu của Đảng, không quên các liệt sĩ, không quên sự b́nh đẳng giới đối với phụ nữ, không quên sự giáo dục thiếu niên nhi đồng, không quên cuộc sống cần phải có hạnh phúc, tự do của nhân dân. Hồ Chí Minh đă dành hết sức lực, tinh thần và t́nh cảm cho đất nước và nhân dân Việt Nam, vậy th́ ai dám bảo ông là người Đài Loan? Bởi lẽ ông chỉ miễn cưỡng sinh ra ở đất Đài Loan mà thôi.

    Có người bạn biết tôi đang viết cuốn "T́m hiểu cuộc đời Hồ Chí Minh", đă tỏ thái đọ khiếp sợ mà nói: "Ông viết Hồ Chí Minh là người Đài Loan không sợ bị phản ứng sao? Việc ông làm có thể sẽ xúc phạm đến dân tộc Việt Nam ". Nghe xong, tôi b́nh tĩnh trả lời: "Hồ Chí Minh qua đời đă 40 năm, chiến tranh Việt Nam kết thúc đă 35 năm. Năm 2001, Việt Nam và Hoa Kỳ kư Hiệp định Mậu dịch song phương và gia nhập tổ chức WTO. Năm 2006, kim ngạch mậu dịch đạt 970 triệu dollar, tăng trưởng kinh tế mỗi năm ước tính 20%. Hai nước đă sớm bắt tay nhau đối thoại ḥa b́nh, tích cực phát triển quan hệ song phương. Việt Nam và Đài Loan cũng đă thiêt lập quan hệ ngoại giao 15 năm. Căn cứ vào con số thống kê của Bộ Kinh tế, năm 2007, kim ngạch đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam khoảng 10 tỷ dollar, là nhà đầu tư đứng thứ hai ở nước này.

    Năm 1946, Hồ Chí Minh có dịp trả lời phỏng vấn nhà báo nước ngoài. Bài phỏng vấn này, sau đó được đăng tải trên báo "Cứu quốc" ngày 21 tháng giêng năm 1946. Tiếp đó, Hồ Chí Minh trả lời một người bạn:

    "Một là, tôi, Hồ Chí Minh không có mảy may tham vọng công danh phú quư, hiện tại ở cương vị chủ tịch nước là do sự ủy nhiệm của đồng bào toàn quốc, tôi sẽ đem hết sức ḿnh mà làm, giống như một người lính, nhận mệnh lệnh đất nước, xông ra chiến trường. Tôi chỉ có một nguyện vọng khắc sâu trong ḷng là, làm thế nào để đất nước hoàn toàn độc lập, dân tộc dược hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Ngày khác, nếu đồng bào yêu cầu từ chức, tôi sẽ rất vui sướng trút bỏ trách nhiệm, sau đó làm một gian nhà nhỏ bên núi xanh, suối biếc, có thể trồng hoa, câu cá, suốt ngày làm một lăo tiều phu thả trâu, cùng lũ mục đồng kết thành bè bạn, không c̣n bất cứ mối liên hệ nào đến chuyện danh lợi.

    Hai là, trong một nhà nước dân chủ, mọi người đều tự do tín ngưỡng, tự do thành lập đoàn thể, bởi hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi chỉ đứng ngoài các đảng phái, t́m kiếm nền độc lập dân tộc. Nếu như nhà nước chỉ có nhu cầu thành lập một đảng, th́ đó sẽ là "Đảng Việt Nam Quốc gia Dân tộc". Nhiệm vụ duy nhất của đảng này, tựu trung là làm thế nào để quốc gia, dân tộc hoàn toàn tộc lập. Đảng viên của đảng này, mọi công dân Việt Nam đều có thể tham gia, nhưng những kẻ bán nước và những kẻ tham ô th́ cấm cửa. Hy vọng các nhân sĩ nước ngoài và đồng bào trong nước hiểu rơ cho điều này".

    Ngày nay, khi luận về thân thế Hồ Chí Minh và công lao của ông, chúng ta nên để cho lịch sử phán xét. lấy việc Hồ Chí Minh nhận lời phỏng vấn kư giả ngoại quốc làm cơ sở kiểm nghiệm, có phải ông đă thành tâm thể hiện ḷng trung thành với nhân dân Việt Nam qua những lời hứa hẹn? Có phải những nhà lănh đạo Việt Nam chân chính trên con đường gian nan t́m kiếm nền độc lập dân tộc không suy nghĩ đến lợi ích riêng tư? Tự ḿnh không làm mất thanh danh, phá hoại công khí quốc gia? Sinh thời, Hồ Chí Minh đă vận động thực hiện "cần kiệm liêm chính", tự ḿnh làm gương cho mọi người noi theo. Hồ Chí Minh c̣n vận động phong trào xóa nạn mù chữ, vận động phong trào thể dục thể thao để nâng cao sứckhỏe, v́ thế, việc nhân dân Việt Nam gọi ông là "Bác Hồ" liệu có phải xuất phát từ ḷng kính trọng? Bỏ đi những phán xét của ông chúng về ảnh hưởng của Hồ Chí Minh với nhân dân Việt Nam mới chính là cố chấp, làm tổn hại đến danh dự dân tộc và sự tôn nghiêm của ông.

    Tôi đă từng hỏi chuyện một số bạn bè Việt Nam tại Đài Loan: "Có tin tức loan truyền Hồ Chí Minh là người Trung Quốc, thậm chí là người Đài Loan, bạn nghĩ như thế nào?". Một người có tŕnh độ đại học trả lời: "Hồ Chí Minh mất cách đây đă khá lâu, ông đă có cống hiến nhiều cho Việt Nam. Mục đích của chúng tôi sang đây là kiếm tiền cải thiện điều kiện sinh hoạt gia đ́nh. Chúng tôi luôn cố gắng phấn đấu học tập kỹ thuật, trau dồi học vấn để tăng khả năng cạnh tranh của đất nước trên trường quốc tế, làm cho dân giầu nước mạnh. C̣n chuyện Hồ Chí Minh là người Trung Quốc hay Đài Loan hăy để cho lịch sử phán xét. Đối với tuổi trẻ chúng tôi việc này không phải là quan trọng. Mong muốn của chúng tôi là đất nước phát triển, tiền đồ tươi sáng trong tương lai". Một phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan th́ nói: "Trước đây h́nh như tôi đă nghe nói đến Hồ Chí Minh là Hoa kiều. Việc này nên để lịch sử thẩm định. Chúng tôi không có ư kiến ǵ nếu quả thật Hồ Chí Minh là người Đài Loan". Rồi chị cười nói vui: "Hai nhà thành một nhà thân thiết, chẳng là rất tốt sao?".

    Nghe các bạn trả lời, tôi có cảm giác như ḿnh từng đến Việt Nam nh́n thấy cảnh hoang tàn, đổ nát sau cuộc chiến, đang từng bước hồi sinh phát triển.

    Ghi nhớ lời dặn, nh́n về tương lai.

    Hồ Chí Minh có phải là người ủng hộ đường lối của Quốc tế cộng sản hay là người theo Chủ nghĩa Quốc gia Dân tộc? Từ lâu nay, người Mỹ luôn tranh luận về vấn đề này. Những năm gần đây, các học giả Mỹ đă đi đến thống nhất nhận định, thời kỳ đầu đúng là Hồ Chí Minh theo đường lối Dân tộc chủ nghĩa, sau đó mới là Cộng sản chủ.nghĩa

    Lúc ấy, chính sách chống cộng của Harry Truman rất cứng rắn khiến cho nước Mỹ hiểu lầm về Hồ Chí Minh và t́nh h́nh chính trị Việt Nam. Sai lầm này khiến cho quân đội Pháp tái chiếm Hà Nội, làm mất đi thời cơ ḥa b́nh và phát triển đất nước mà lịch sử dành cho, thậm chí c̣n ảnh hưởng đến măi sau này, khi mà Mỹ đem nửa triệu quân vào Việt Nam tiến hành cuộc chiến chống cộng nhưng đă thất bại.

    Nước Mỹ nhận đinh sai lầm về Hồ Chí Minh chỉ v́ Mỹ đem sự kiện năm 1920, Nguyễn Ái Quốc gia nhập đảng Cộng sản Pháp, năm 1924 đă có chỗ đứng trong ban lănh đạo Quốc tế cộng sản, nhưng năm 1945, ông lại tích cực t́m kiếm mối quan hệ hữu hảo với Mỹ, thậm chí c̣n giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Do hoàn cảnh bắt buộc, thực chất chỉ là đóng vai diễn chứ không phải Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là một người.

    Năm 1944, nhân việc giải cứu một phi công do máy bay bị bắn rơi tai sơn khu Việt Bắc là Rudolph Shaw, v́ thế, lần đầu tiên Hồ Chí Minh tiếp xúc với người Mỹ và quen biết với một số nhân viên cơ quan t́nh báo chiến lược Hoa Kỳ (Office of Strategic Services) là Allison Thomas, Charles Fenn và Archimedes Patti. Những nhân viên t́nh báo này, chẳng những đă có một thời kỳ dài cùng sống với Hồ Chí Minh ở sơn khu Việt Bắc mà c̣n đi với ông về Hà Nội, cùng Việt Minh tham gia vào cuộc Khởi nghĩa tháng Tám. Họ tuy biết Hồ Chí Minh là đặc vụ của Quốc tế cộng sản, nhưng họ cũng nhận thấy ông là người theo chủ nghĩa thực dụng, cho nên đă giúp đỡ Việt Nam giành độc lập.

    Hồ Chí Minh đă nhiều lần nói với Patti rằng, ông không phải là con rối của Mạc Tư Khoa, ông là một đặc vụ tự do. Nước Việt Nam dân chủ Cộng ḥa theo Mỹ sẽ được chi viện nhiều hơn so với Nga Xô. Việt Nam sẽ là đồng minh của nước Mỹ. Ông cũng nhờ Patti chuyển lời đến nước Mỹ: "Cảm ơn người Mỹ hỗ trợ, Việt Nam sẽ coi nước Mỹ là bạn bè".

    Tiếc thay, câc quan chức ngoại giao Hoa Kỳ không nhận ra sự thành tâm t́m sự hợp tác, trước sau họ vẫn cho rằng Hồ Chí Minh tức là Nguyễn Ái Quốc. Đây chính là chiêu bài của những kẻ ủng hộ ư kiến coi ông là người theo đường lối Quốc tế cộng sản. Tổng thống F. Roosevelt đă truyền đạt: "Việt Nam t́m kiếm ở Hoa Kỳ tinh thần độc lập, Hoa Kỳ sẽ măi măi là mẫu mực của Việt Nam", thậm chí, ông c̣n khẩn thiết yêu cầu nước Mỹ lấy mô h́nh Philippines để đối xử công bằng với Việt Nam. Việt Nam sẽ mở cửa eo biển Kim Lan cho Hoa Kỳ sử dụng làm căn cứ hải quân Viễn Đông, đồng thời c̣n dành cho quy chế tối huệ quốc về lợi ích kinh tế.

    Từ tháng mười đến tháng mười một năm 1945, Hồ Chí Minh liên tiếp gửi ba bức thư đến Bộ Ngoại giao Ḥa Kỳ, thỉnh cầu nước Mỹ giúp đỡ Việt Nam giành độc lập. Tuy nhiên, vào lúc ấy, tổng thống F.Roosevelt vừa qua đời, người kế nhiệm là Harry Truman, một nhà lănh đạo chống cộng cực đoan. Bao nhiêu nỗ lực của Hồ Chí Minh trong việc t́m kiếm sự hợp tác giúp đỡ của Mỹ đều thất bại. Ngày 6 tháng ba năm 1946, quân đội Pháp được Mỹ viện trợ, quay lại chiếm đ̣ng Hà Nội.

    Vào dịp Đảng Cộng sản Việt Nam kỷ niệm 60 năm lập nước, cựu thủ tướng Việt Nam Vơ Văn Kiệt viết bài "Đại đoàn kết dân tộc là nguyên nhân thành công của chúng ta" đăng trên các báo quốc nội, kêu gọi nhân dân thực hiện chủ trương dại đoàn kết. Trong bài viết của ḿnh, Vơ Văn Kiệt đă dẫn lời của Hồ Chí Minh, đồng thời đề cập đến một số sự kiện xảy ra trong mấy chục năm qua. Ông cũng nhắc đến việc năm 1945, Hồ Chí Minh lănh đạo chính phủ, chủ trương xóa bỏ chế độ cũ, vốn là nguyên nhân gây thù hận và phân hóa xă hội, hướng đến việc xây dựng đất nước trong tương lai, tiếp nhận những người tài năng, trọng dụng những người có nguyện vọng xây dựng đất nước mà không cần biết những việc làm của họ trong quá khứ.

    Phần kết luận, Vơ Văn Kiệt viết: "Sử dụng đối kháng và bạo lực để giải quyết vấn đề chỉ là từ trong hận thù phát sinh hận thù mới. Lấy phương thức cảm hóa giải quết tranh chấp, hận thù có thể loại bỏ. mà lại có cơ hội tăng cường sức mạnh. Nếu như lấy ư thức giai cấp phân biệt nhân dân, v́ thua mà hận thù, v́ thắng mà kiêu ngạo, với chính ḿnh, với quốc gia, th́ h́nh ảnh ấy trước thế giới chẳng có chút ư nghĩa ǵ". Vơ Văn Kiệt tin tưởng: "Đất nước, núi sông, văn hóa không phải là của riêng bất cứ ai, của giai cấp nào hoặc đảng phái nào. Nó là của mỗi người Việt Nam, là tài sản chung của nhân dân Việt Nam. Dân tộc mà phân hóa, đối địch, cho dù tài nguyên đất nước phong phú, nguồn nhân lực dồi dào cũng không thể có động lực sáng tạo mà địa vị quốc tế cũng không bền vững. Nh́n ra thế giới, các kinh nghiệm lịch sử đă chứng minh, nhân tài là nguyên khí quốc gia. Nhân lực tập hợp vùng lên, mọi sức mạnh được huy động, ḷng người không c̣n nghi ngại. Có được sức mạnh tổng hợp, sẽ đến một ngày đất nước cất cánh.

    Tôi xin lấy "Ghi nhớ lời dặn, nh́n về tương lai" làm lời kết cho cuốn sách. Cái gọi là "Ghi nhớ lời giáo huấn" chỉ là chớ quên những bài học và kinh nghiệm lịch sử. Nhận lầm Hồ Chí Minh không phải không có thể là đồng minh chống cộng, v́ thế, đă tạo nên cuộc chiến thảm khốc mười năm ở Việt Nam. Cái gọi là "nh́n đến tương lai là chỉ trong sự dối lập và thù hận, nếu nắm được thời cơ xoay chuyển t́nh thế th́ sẽ có kết cụ tốt đẹp.

    Chú thích:

    (1) Chưa đối chiếu được tên bằng tiếng Pháp.

    (2) Chưa đối chiếu được tên tác giả bằng tiếng Nga.

    (3)Chưa t́m được tên phố bằng tiếng Nga.

    (4) Chưa t́m được nguyên danh bằng tiếng Nhật

    (5) Nguyên văn là "Quốc phụ"(Chỉ Tôn Trung Sơn)

    (6) Phát xít Pháp

    (7) Chưa đối chiếu được họ của tác giả bằng tiếng Pháp

    (8)Chưa đối được với nguyên danh bằng tiếng tiếng Nga



    Tài liệu tham khảo

    I - 中文書目

    1."胡志明在中國"蔣永敬著, 傳記文學出版社, 1971,台北。

    2."胡志明與中國" 黃錚編著, 解放軍出版社, 1987, 北京。

    3. "胡志明獄中詩注釋" 黃錚注釋, 廣西教育出版社,1992, 廣西。

    4. "胡志明與越南獨立" 楊碧川著, 一橋出版社, 1998, 台北。

    5. "龍保羅日記 - 阮愛國" 保羅德芮肯YAOX集團發行電子檔, 2000, 台北。

    6."抗日戰爭在中國的外國家元首國" 曹晉杰著, 人民出版社, 2002, 黑龍江。

    7. "越南國父 - 胡志明" 李家忠編譯, 世界知識出版社, 2003, 北京。

    8. "胡志明漢文詩抄, 注釋, 書法", 黃錚編著, 廣西師範大學出版社, 2004, 桂林。

    9."越南胡志明在柳州" 柳州巿文化局編, 廣西人民出版社,2005,柳州。

    10."胡志明與廣西", 廣西社會科學院編著, 廣西人民出版社, 2006, 廣西。

    11. "戰鬥中的新越南" 麥浪著, 新越南出版社, 1948, 河內。

    12. "越南人民反帝鬥爭史" 呂毅著, 東方書社出版, 1951, 上海。

    13. "越南人的解放鬥爭" 陳懷南著, 世界知識社, 1954, 北京。

    14. "八月革命史" (1945年) 越南外文社出版編, 文外出社, 1972, 河內 。

    15. "滄海一粟" 黃文歡革命回記錄, 解放軍出版社, 1987, 北京。

    16. "日据時代臺灣共產黨史(1928 - 1932)" 盧修一著, 前衛出版社, 1989, 台北。

    17. "越南歷史" 吳鈞著, 自猶僑聲雜誌社, 1992, 西貢 (Sài G̣n)。

    18. "陶鑄傳" 鄭笑楓,舒玲著, 中國青年出版社, 1992, 北京。

    19. "康生與 '內人黨' 冤案" 祝東力著, 中共中央黨校出版社, 1995, 北京。

    20. "亞細亞的孤兒" 吳濁流著, 草根出版社, 1995, 台北。

    21. "李富春傳" 房維中,金沖及著, 中央文獻出版社,, 2002, 北京。

    22. "中外領袖之間, 卷 13-14 胡志明" 南哲著, 紅旗出版社, 2003, 北京。

    23. "李克農傳" 徐林祥,朱玉編著 安徽人民出版社, 2003, 合肥。

    24. "葉劍英的非常之路" 氾碩著, 安徽人民出版社, 2003, 北京。

    25. "李立三紅色傳奇上. 下" 李思慎著, 中國工人出版社, 2004, 北京。

    26. "張發奎傳" 王心鋼著, 珠海出版社, 2005, 珠海市。

    27. "生死歲月 - 胡志明小到紀行" 趙銳著, 軍事誼文出版社, 2005, 北京。

    28. "廬山檔案" 馬社香著, 安徽人民出版社, 2006, 北京。

    29. "陳賡傳" 陳賡傳編寫組, 當代中國出版社, 2007, 北京。

    30. "蘇聯史論" 吳恩遠著,人民出版社, 2007, 北京。

    31. "日据時期台灣人反抗史", 楊碧川著, 稻香出版社, 1988, 台北。



    II - 外文中譯的書目

    1. "胡志明第一 四篇日文版" 吳濁流著, 國華書局出版, 1946, 台北。

    2. "胡志明第一五篇日文版" 吳濁流著,學友書局出版, 1948, 台北。

    3. "新越南" Andrew Roth 著, 移模譯, 時代書報出版社, 1948, 上海。

    4. "自猶越紀行" Leo Figueres 著, 陳占元譯, 世界知識社, 1954, 北京。

    5. "十七度線以北" 威. 具卻敵著, 曾浩譯, 世界知識社, 1956, 北京。

    6. "亞細亞的孤兒" 傳恩榮譯, 南華出版社, 1962, 台北。

    7. "北越內幕" P. J. Honey 著, 陳銘感譯, 篝火出版社, 1966,香港。

    8. "為了獨立自由為了社會主義" 胡志明著, 外文出版社, 1971, 越南河內。

    9. "與河內分道揚鑣" 張如磉著, 強名,華實譯, 世界知識社, 1989, 北京。

    10. "宋慶齡傳上. 下" Istael Epstein 著, 沈蘇儒譯, 日臻出版社, 1994, 北京。

    11. "周恩來與現代中國" Han Suyin著, 張連康譯, 絲路出版社, 1995, 台北。

    12. "胡志明" D.O. Lloyd, 尤淑雅譯, 鹿橋文化事業出版, 1966, 台北。

    13. "胡志明主席傳略和事業" 阮芳草編輯, 文化通訊出版社, 2007, 越南河內。

    14. "胡伯伯日常生活的故事" 歐越興編輯, 世界知識社, 2007, 越南河內。

    15. "台灣抗日運動史研究" 若林正文著, 台灣日文史料典籍研讀會譯, 播種者出版社, 2007, 台北。



    III. 英文書目

    1. From Colonialism toCommunism a case History of North Vietnam, by Hoang Van Chi an introduction by P.J. Honey, Frederick A. Praeger, New York. London, 1965.

    2. Ho Chi Minh a Biographical Introduction, by Chrales Fenn. Charles Scr1bnwr's Sons, New York, 1973.

    3. Who's who in political revolutions: seventy- three men and women who changed the world, Jack A. Goldstone, Congressional Quarterly, Washington, D.C. 1999.

    4. Ho Chi Minh, by William J. Duiker, Hyperion, New York, 2000.

    5. Ho Chi Minh: the missing Years 1919- 1941, by. Sophie Quinn Judge, Hurst, Company. London, 2003.

    6. Down With Colonialism Ho Chi Minh, by Walden Bello. Verso, New York. London, 2007.

    7. Ho Chi Minh a Biographi, by Pierre Brocheux, Translated by Claire Duiker, Cambridge University Press, New York, 2007.



    IV. 越文書目

    1. "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 1 (1919 -1924), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, Hà Nội.

    2. "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 2 (1924 -1930), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, Hà Nội.

    3. "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 3 (1930 -1945), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, Hà Nội.

    4. "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 4 (1945 -1946), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, Hà Nội.

    5. "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 5 (1947 -1949), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, Hà Nội.

    6. "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 6 (1950 -1952), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, Hà Nội.

    7. "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 7 (1953 -1955), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, Hà Nội.

    8. "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 8 (1955 -1957), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, Hà Nội.

    9. "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 9 (1958 -1959), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, Hà Nội.

    10. "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 10 (1960 -1962), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, Hà Nội.

    11. "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 11 (1963 -1965), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, Hà Nội.

    12. "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 3 (1966 -1969), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002, Hà Nội.

    13. "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch", Trần Dân Tiên, Nhà xuất bản Thanh niên, 1958, Hà Nội.

    14. "Nghệ thuật thư pháp với thơ 'Nhật kư trong tù' của Chủ tịch Hồ Chí Minh", Nguyễn Việt biên soạn, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2003, TP. Hồ Chí Minh.

    15. "Chị Minh Khai", Nguyệt Tú, Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.

    16. "Bác Hồ viết di chúc", Vũ Kỳ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2005, TP. Hồ Chí Minh.

    17. "Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh", Vũ Kỳ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2005, TP. Hồ Chí Minh.

    18. "Kỷ niệm về Bác", Bảo tàng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Tông tin, 2007, TP. Hồ Chí Minh.

    19. "Hồ Chí Minh, nhà dự báo thiên tài", Trần Đương, Nhà xuất bản Thanh niên, 2008, Hà Nội.

    20. "Chuyện kể về thời thiếu niên của Bác Hồ", Đỗ Hoàn Linh -Nguyễn Văn Dương biên soạn, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2008, Hà Nội.

    21. " Hồ Chí Minh, nhà báo cách mạng", Cao Ngọc Thắng, Nhà xuất bản Thanh niên, 2008, Hà Nội.

    22. "Những năm tháng bên Bác Hồ kính yêu", Nhà xuất bản Thanh niên, 2008, Hà Nội.

    23. "Hỏi đáp về thời thanh niên của Bác Hồ", Nguyễn hương Mai biên soạn, Nhà xuất bản Thanh niên, 2008, Hà Nội.

    24. "Bác Hồ trên đất nước Lê nin", Nhà xuất bản Thanh niên, 2008, Hà Nội.

    25.. "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch", Trần Dân Tiên, Nhà xuất bản Trẻ, 2008, TP. Hồ Chí Minh



    V. 論文,期刊,報紙,網欄專文

    1. "台灣日新報" 國家圖書館視聽室微膠捲, 1938 年11月12日, 18日, 21日, 12月, 7日。

    2. "胡志明在香港 1931- 1932年" DennisDuncanson "中國季刊 1- 3期" 1974 年。

    3."胡志明和他的中國夫人曾雪明" 徐雙明 "武漢文史月刊" 2001 年第一期。

    4. "李克農在桂林"(八辦)的傳奇鬥爭" 庾晉 "文史春秋" 2003年第十二期。

    5. "一九三十一年香港案件" 阮越鴻 "越南國父胡志明附錄" 2003年。

    6. "胡志明遺體保存祕聞" 李家忠, "世界新聞報" 2004年12月10日。

    7. "胡志明與林依蘭的生死戀" 梁益新 "人民文摘" 2004年第十二期。

    8. "越南戰爭實錄" 解力夫 "網路電子書" 2004年

    9. "胡志明私人生活離不開中國" 李家忠 "世界新聞報" 2005年7 月11日。

    10. "見證中越友誼追憶胡志明" 熊紅明 "越南早報" 2006年 8月14日。

    11. "胡志明的妻妾情人們" 嶺南遺民 "百家爭鳴網悠悠南山下" 2006年 10月。

    12. "胡志明在龍州的革命祕事" 李偉東 "廣西日報" 2006年 12月27日。

    13. "胡志明之政治道路" 阮世英 "百家爭鳴網悠悠南山下" 2007年。

    14. "吳濁流 '胡志明' 研究" 河原功 "台灣文學學報" 第10期 2007年。

    15."中國共產黨早期為收回臺灣主權所作的努力3"田鶴年 "台海歷史縱橫" 2007年。

    T́m hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh
    Tác giả Hồ Tuấn Hùng



    HẾT

  7. #37
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    T́m hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh "Hồ Chí Minh sinh b́nh khảo"


    Tiết Liêu
    Hồ Chí Minh thật đă chết năm 1932 !
    Lá bài tẩy CS Tàu dùng
    để khống chế CSVN



    Cái xác Hồ Chí Minh hiện đang nằm ở Ba Đ́nh chỉ là xác của Hồ Chí Minh giả. Quốc pḥng CSVN, cũng đă kiểm chứng nguồn tin này, và không thể phản bác.

    Một sự thực mọi người đều nhận rơ là bộ chính trị (BCT) đảng CSVN đang bị Trung Quốc khống chế, và họ đang chịu áp lực
    nặng nề đến nỗi không thể không làm theo mệnh lệnh của Trung quốc, dù thừa biết rằng đó là việc làm phản quốc, và cũng thừa biết rằng họ sẽ phải trả một giá nặng nề trước lịch sử cũng như có thể dẫn đến hỗn loạn xă hội và nguy cơ mất nước trong thời gian không xa.
    Vậy Trung quốc đă có trong tay lá bài ǵ, khiến cả BCT 15 người - những người thừa gian xảo, không thiếu thủ đoạn - cũng đành răm rắp cúi đầu vâng lệnh, bất chấp những can ngăn chân thành, cũng như những tiếng thét phẫn nộ của người Việt trong và ngoài nước. Chúng ta hăy thử đi t́m lá bài tẩy này, cùng bàn cách vô hiệu hóa nó, để cứu nguy đất nước đă và đang thật sự đứng trước bờ vực thẳm.

    Đă có rất nhiều bài viết đề cập đến vai tṛ tay sai Trung quốc của BCT đảng CSVN đặc biệt những nhân vật đứng đầu nắm giữ vận mệnh quốc gia như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết v...v..., những bài viết khả tín của những học giả, chuyên gia, nhân sĩ có uy tín, am hiểu tường tận bối cảnh, lịch sử và thế đứng của Việt Nam đều đưa ra một nhận định chung là sở dĩ Việt Nam đang đứng trước nguy cơ mất nước trước bành trướng Bắc Kinh, v́ phẩm chất và tài năng kém cỏi của 15 người trong BCT. Đó là những “người lùn” cả về tài năng lẫn nhân cách.

    Trung Quốc đă dùng thứ vũ khí ǵ khiến cả 15 người, và cả cái đảng quang vinh, đỉnh cao trí tuệ loài người’ kia phải khúm núm cúi đầu vâng lệnh. Tất cả chỉ là một lá bài tẩy! Là một bí mật vô tiền khóang hậu: đó chính là “con người thật” của Hồ Chí Minh.

    Trung Quốc đă nắm trong tay đầy đủ dữ kiện chính xác và khoa học không thể chối căi, là cái xác Hồ Chí Minh hiện đang nằm tại lăng Ba Đ́nh, chỉ là một người Trung Hoa gốc Hẹ, đă đột lốt Hồ Chí Minh thật (chết năm 1932, có giấy khai tử của chính quyền bảo hộ Anh hẳn ḥi) để tự phong là ‘cha già dân tộc’ của Việt Nam.

    Chính Hồ Cẩm Đào đă gọi Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng sang Trung Nam Hải để cho thấy tận mắt các chứng liệu ấy! Và chắc chắn Tổng Cục 2, Bộ Hồ Chí Minh thật đă chết năm 1932! Cái xác Hồ Chí Minh hiện đang nằm ở Ba Đ́nh chỉ là xác của Hồ Chí Minh giả. Quốc pḥng CSVN, cũng đă kiểm chứng nguồn tin này, và không thể phản bác. V́ đó là lư do khiến Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng (và cả bộ chính trị) đều phải ngoan ngoăn tuân theo những chỉ thị của Hồ Cẩm Đào.

    Không vâng lời Trung Quốc sao được! Bời v́ nếu TQ tung sự thật này ra trên trường quốc tế th́ lập tức những tư tưởng mà CSVN bắt học tṛ và dân chúng học tập hàng nửa thế kỷ, những lời vàng ngọc, những huyền thoại về Hồ Chí Minh sẽ trở thành những tṛ đại bịp, và cái ǵ sẽ xẩy ra sau đó th́ ai cũng đoán được.


    Quả thật đây là một đ̣n tối độc của Trung Quốc! Và đó là lá bài tẩy của họ để khống chế BCT đảng CSVN! Và họ đă thắng. Tại sao chúng ta có thể tin tưởng giả thuyết này là sự thật. Hẳn độc giả c̣n nhớ tất cả những chi tiết về Hồ Chí Minh giả, đều đă được tiết lộ trong cuốn “Hồ Chí Minh B́nh Sanh Khảo” của tác giả Đài Loan Hồ Tuấn Hùng gây xôn xao dư luận trên Internet trước đây.
    V́ câu chuyện đă được phổ biến khá rộng răi, nên không cần ghi lại những chi tiết ở đây, chỉ cần sơ lược vài điểm quan trọng sau: 1. Sau khi tin tức của cuốn biên khảo Hồ Chí Minh B́nh Sinh Khảo được phổ biến rộng răi trên Internet và báo chí hải ngọai, th́ cũng có một số phản bác của một vài cá nhân, cho là những ǵ nhà nghiên cứu Hồ Tuấn Anh trưng dẫn đều không phải là sự thật.

    Nhưng tất cả những phản bác này đều yếu ớt, hời hợt, không có sức thuyết phục về mặt khoa học. 2. Trong khi với kỹ thuật DNA, những ǵ có thể làm để xác tín việc Hồ Chí Minh thật đă chết năm 1932 và Hồ Chí Minh sau đó là Hồ Chí Minh giả th́ vô cùng dễ dàng, đặc biệt dễ dàng đối với cục phản gián Trung quốc và Cục phản gián (Tổng cục 2) của CSVN, v́ họ nắm trong tay cái xác ướp của Hồ Chí Minh giả, và hàng trăm vật dụng, di tích của Hồ Chí Minh thật chết năm 1932, cũng như về Hồ Chí Minh giả từ 1933 về sau.



    Chỉ cần một cuộc thử nghiệm DNA là biết trắng đen, là không cần tranh căi. Và họ đă làm, và đă rơ sự thật. Do vậy, Bộ chính trị CSVN đang ở thế kẹt! Tiến thoái lưỡng nan. V́ họ không muốn sự thật bị đem ra ánh sáng nên họ đang bị Bắc Kinh khống chế! Nói cũng chết mà không nói cũng chết! Nên họ chọn giải pháp thà chết từ từ c̣n hơn chết tức khắc! Nói cách khác họ dùng chiến thuật câu giờ, phó cho may rủi! Nắm được quyền lực ngày nào hay ngày ấy để vơ vét! Bất chấp sinh mệnh của dân tộc! Bất kể lẽ tồn sinh của giống ṇi.

    Câu hỏi kế tiếp được đặt ra là: Chúng ta có thể làm ǵ để biết đâu là sự thật? Chúng ta có thể làm ǵ để vô hiệu hóa đ̣n độc của Bắc Kinh? Câu trả lời khá giản dị:

    chính chúng ta phải tự t́m kiếm bằng khoa học DNA để nắm trong tay kết luận xác ướp trong Lăng Ba Đ́nh là xác Hồ Chí Minh giả, kẻ ngoại nhân đội lốt một người Việt để đem một chủ nghĩa ngoại lai về áp đặt trên dân Việt. Người đó đă thẳng tay giết hại nửa triệu người Việt Nam trong cải cách ruộng đất. Người đó đă gây ra cuộc nội chiến, mong người Việt giết nhau đến người cuối cùng.

    Người ấy hô hào đốt cả dẫy Trường Sơn, nướng hơn 3 triệu sinh mạng thanh niên, gây cảnh góa bụa, côi cút cho hàng triệu phụ nữ, mẹ già, con trẻ. Người ấy kêu gọi viết chữ Việt giống hệt anh chệt phiên âm tiếng Tàu bằng kư hiệu Latin như ‘Kách mệnh’, ‘fi fáp’.

    Người ấy chỉ dám gặp người chị ruột của ḿnh một lần sau mấy chục năm xa cách, và không bao giờ muốn gặp lại, v́ sợ bị lộ tung tích, và v́ chẳng liên quan máu mủ ǵ với người đàn bà gọi là chị đó. Người đó bất nhân đến nỗi để cho thuộc hạ hiếp dâm vào bạo dâm nhiều lần người vợ đă có con với ḿnh, rồi sau đó ra lệnh cho thủ tiêu để phi tang! Người đó thất đức đến nỗi có con mà không nuôi! Không dám nhận!

    Người ấy bất nghĩa với bạn bè, ngủ với vợ đồng chí ḿnh, bỏ mặc những người đă làm ơn cho ḿnh như Vũ Đ́nh Huỳnh, mặc cho bị hàm oan, tù tội. Đă thế, lại c̣n trâng tráo viết sách tự ca tụng ḿnh, và trong di chúc c̣n khoe rằng có con rơi lai Pháp, ư hẳn muốn thanh minh ta cũng là người, cũng có con rơi nhưng không phải những đứa như Nguyễn Tất Trung mà mẹ nó chỉ là người Việt thiếu số da vàng mũi tẹt! Tóm lại đó là một con người vô luân, đầy thủ đoạn và thâm độc...

    Hắn là một điệp viên thượng thặng của Liên Sô, Trung Quốc và có thể của cả Mỹ (điều này giải thích được tại sao ông ta lại tha Ngô Đ́nh Diệm, một lá bài của Mỹ). Hắn là tác phẩm toàn hảo của Cộng sản quốc tế, cho nên đến chết vẫn để di chúc lại là về cơi âm với Lê với Sít chứ chẳng biết ǵ tới Đinh, Lê, Lư Trần!!!

    Dứt khoát, người ấy không phải là người Việt Nam. Không phải là ‘Bác Hồ’ như chúng ta vẫn đọc được trong sách báo của đảng. Hắn có tên thật là Hồ Tập Chương, vốn người thuộc sắc tộc Hyakka tức Khách Gia, mà người Việt gọi là Hẹ, thuộc huyện Miên Lật, địa khu Đồng La, Đài Loan! Rất may cho chúng ta là màn kịch đă đến lúc cần hạ màn. Và bổn phận của chúng ta là phải làm sáng tỏ vụ bịp bợm thế kỷ này. Bằng cách nào? Trong khi ta không được rờ vào cái xác ướp tại Ba Đ́nh, th́ làm sao ta có thể dùng DNA để kiểm chứng.

    Ta vẫn có cách, nhưng ta phải đi đường ṿng, cũng bằng phương tiện DNA. Như chúng ta đă biết, nhiều tác giả như Vũ thư Hiên, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Vũ Kư, Trần Khải Thanh Thủy v... v... đă khẳng định Nguyễn Tất Trung là con của Hồ Chí Minh (giả) và Nông Thị Xuân. Thế th́ ta chỉ việc xin anh Trung một sợi tóc, và về Nghệ An xin bà Thanh một sợi tóc nữa, rồi sau đó ta nhờ một pḥng Nghiên Cứu Quốc Tế độc lập và có uy tín để thử nghiệm và so sánh mẫu DNA của anh Trung với mẫu DNA của bà Thanh, chị ruột ông Nguyễn Tất Thành.Nếu DNA của anh Trung và bà Thanh giống nhau th́ cái xác Hồ Chí Minh tại Ba Đ́nh là xác thật, và Nguyễn Tấn Trung đích thị 100% là con của Hồ Chí Minh thật và do đó những nghiên cứu của ông Hồ Tuấn Hùng là bố láo.

    Nếu 2 mẫu DNA khác nhau, th́ rơ ràng bố của anh Trung (và cả anh Trung nữa) chẳng dính dáng ǵ đến bà Thanh, chị của Nguyễn Tất Thành – Nói cách khác, Hồ Chí Minh nằm tại lăng Ba Đ́nh chính là Hồ Chí Minh giả, và sự nghiên cứu của Giáo sư Hồ Tuấn Hùng được xác tín 100% bằng khoa học là: Hồ Chí Minh thật đă chết năm 1932. Và người mang tên Hồ Chí Minh từ sau 1933 đích thị là Hồ Chí Minh giả.Nhưng làm thế nào để xin được tóc cuả anh Trung và bà Thành?

    Tiền! Có tiền mua tiên cũng được. Trùm xă hôi đen Năm Cam đă nói một câu mang tính triết lư cuả chế độ Xă Hội Chủ Nghĩa hiện thời "cáí ǵ không mua được bằng tiền th́ sẽ mua được bằng rát nhiều tiền".Đây là việc chúng ta phải làm, v́ lẽ tồn sinh của dân tộc, cho nên một nghi án đă được nêu ra một cách nghiêm túc như vậy, th́ cũngphải được kiểm chứng một cách nghiêm túc và khoa học bằng tất cả những ǵ có thể làm được.

    Nhưng ai sẽ đảm trách công việc thử nghiệm này? Không một cá nhân nào có thể làm được. Đây là nhiệm vụ quan trọng và cao cả cuả một tổ chức có uy tín trong cộng đồng người Việt như: Tập Thể Cựu Chiến Sĩ, Tổng Hội Cựu Chiến Sĩ, Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, Ban Đại Diện Cộng Đồng Người Việt tại Hoa Kỳ, tại Âu Châu, tại Úc Châu...

    Xin quư vị hăy dẹp hết mọi sự khác biệt, tranh chấp để làm công việc này hơn là chỉ phản đối, biểu t́nh, chưởi rủa. Quư vị sẽ hỏi lấy tiền ở đâu để trang trải chi phí. Xin thưa là nếu có năm ba nhân sĩ có uy tín đứng ra thành lập một Uỷ Ban rồi sau đó kêu gọi sự đóng góp của cộng đồng th́ chắc chắn vấn đề tài chánh sẽ được giải quyết. Nếu quí vị không đồng ư như thế th́ xin đưa sáng kiến để có phương tiện thực hiện việc giảo nghiệm này.
    Tiết Liêu

  8. #38
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    HỒ CHÍ MINH
    NHỮNG NĂM THÁNG CHƯA ĐƯỢC BIẾT ĐẾN (1919‐1941)
    HO CHI MINH: THE MISSING YEARS
    Kỳ 1
    Bà Sophie Quinn-Judge (1)
    Lời dịch giả Diên Vỹ




    Thưa các bác, vậy là cuốn sách Hồ Chí Minh: Những năm tháng chưa được biết đến, sau 2 năm vật lộn đă hầu như hoàn tất. Chỉ c̣n phần chú thích nữa mà tôi sẽ cố gắng hoàn tất nay mai. Trước hết xin chân thành cảm ơn bác Hoài An, người đă có công giới thiệu và chuyển ngữ phần đầu của cuốn

    sách. Không có bác th́ tôi cũng chả biết mà đi t́m đọc. Kế đến xin cảm ơn bác Hồ Gươm, một người với kiến thức dồi dào về lịch sử đảng đă giúp hiệu đính rất nhiều tên tuổi và địa danh được đề cập trong cuốn sách. Và cuối cùng xin cám ơn sự kiên nhẫn và nhiệt t́nh của các thành viên khác đă khích lệ và cổ vũ công việc chuyển ngữ này.

    Như bác Hoài An đă nhấn mạnh ngay từ lúc đầu. Chúng tôi bỏ công ra dịch cuốn sách này không ngoài mục đích nào khác là đem sự thật (gần nhất) về cuộc đời của Hồ Chí Minh ra ánh sáng khách quan. Quyền nhận định xin nhường cho người đọc. Tác giả của cuốn sách, bà Sophie Quinn‐Judge, đă sử dụng hàng ngàn tài liệu từ Sở Liêm Phóng Pháp và từ tàng thư của Quốc tế Cộng Sản vừa được bạch hoá. Với cách viết theo thể biên niên kư, tác giả đă rất cẩn trọng, tỉ mỉ và nghiêm túc vạch lại rất chi tiết con đường chính trị của Hồ Chí Minh từ Hội Nghị Hoà B́nh Paris năm 1919 cho đến ngày ông về lại biên giới Việt Nam năm 1943. Qua cuốn sách, ta thấy rằng Hồ Chí Minh, không như những sách vở tài liệu của cả hai bên (ủng hộ và chống đối) từ trước đến nay vẫn thường miêu tả, đă không phải là người duy nhất có công/tội truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam. Từ một thanh niên với ḷng yêu nước nồng nàn nhưng giản đơn cho đến khi trở thành người lănh đạo phong trào cộng sản Việt Nam, ông không hẳn là người có ảnh hưởng nhất trong nội bộ Đảng CS cũng như phong trào giải phóng thuộc địa tại Đông Dương. Những hệ quả lịch sử của Việt Nam cho đến giai đoạn ấy và có lẽ về sau này, luôn bị ảnh hưởng bởi những nhân tố và tác động chủ quan và khách quan khác ngoài nhân vật Hồ Chí Minh. Sự khác biệt về ư thức hệ trong cuộc chiến Quốc‐Cộng mà vô t́nh lẫn cố ư, những người của cả hai bên chiến tuyến cùng lúc đă biến ông trở thành một vị thánh sống và một tên đồ tể. Hy vọng cuốn sách sẽ hé mở nhiều chi tiết có giá trị lịch sử cho người đọc để họ hiểu rơ hơn về cuộc đời của Hồ Chí Minh cũng như những tranh chấp quyền lực và hệ tư tưởng trong thành phần lănh đạo phong trào cộng sản Việt Nam từ khi nó vừa ra đời. Từ đó có được cái nh́n khách quan hơn về nhân vật nổi tiếng này cũng như hiện t́nh lịch sử của đất nước trong giai đoạn ấy:

    Tôi hoàn thành bản dịch cuốn sách này với tâm trạng vui buồn lẫn lộn. Vui v́ đă đọc được một công tŕnh nghiên cứu đầy tính chuyên nghiệp và khách quan của một học giả tận tâm. Buồn là v́ đă gần 40 năm sau ngày Hồ Chí Minh qua đời, các học giả, sử gia người Việt trong và ngoài nước vẫn chưa vượt qua được những ràng buộc chính trị, cảm tính cá nhân hoặc ư thức hệ để có thể cho ra đời một nghiên cứu như thế này mà phải nhờ đến bàn tay và trí óc của người ngoại quốc. Với khả năng ngôn ngữ có hạn, đặc biệt là những địa danh, nhân danh và những từ ngữ chuyên môn, bản dịch chắn chắn c̣n nhiều khiếm khuyết. Mong những thành viên tiếp tục đóng góp để nó thêm hoàn chỉnh.

    Một lần nữa xin cảm ơn mọi người. Hẹn gặp lại các bác trong những dự án khác

    Đài BBC Việt Ngữ phỏng vấn tác giả cuốn “Hồ Chí Minh‐Những năm chưa biết đến”

    Cuốn ʺHồ Chí Minh: Những năm chưa biết đếnʺ (Hochiminh: The missing years) của tác giả Sophie Quinn‐Judge, đại học LSE, London, chủ yếu dựa trên tư liệu về Quốc tế cộng sản được giải mật năm 1992 của Trung tâm lưu trữ quốc gia Nga – và tư liệu từ kho lưu trữ quốc gia Pháp.

    Tập trung vào những năm hoạt động của ông Hồ Chí Minh thời ḱ trước 1945, quyển sách cố gắng dựng lại chân dung cũng như vị trí thật sự của ông Hồ trong thời ḱ này. Tiến sĩ Sophie Quinn‐Judge, người Mỹ hiện sống tại Anh đă trả lời phỏng vấn của đài Ban Tiếng Việt BBC.

    BBC: Cuốn sách của bà mở đầu bằng hội nghị ḥa b́nh tại Paris năm 1919 khi lần đầu tiên ông Hồ Chí Minh – mà lúc này có tên Nguyễn Ái Quốc – được nhiều người biết tới. Vậy trước giai đoạn này chúng ta có biết ǵ nhiều về hoạt động của ông, đặc biệt là việc người cha của ông có ảnh hưởng thế nào đến ông không?

    Sophie Quinn‐Judge: Cha của ông Hồ là một nhân vật rất đáng chú ư và tôi hi vọng sẽ có thêm tài liệu nghiên cứu tiếng Việt để hiểu rơ hơn thân thế của người này. Nhưng rơ ràng là việc người cha bị thất sủng, không c̣n là quan cấp tỉnh trong chế độ Pháp đă có tác động đến cuộc sống ông Hồ.

    Bởi sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị miễn nhiệm tại tỉnh B́nh Định, con ông Nguyễn Tất Thành buộc phải thôi học ở trường Quốc học Huế và trở thành thầy giáo tại Phan Thiết. Rồi ông vào Nam và như mọi người đều biết, ông đi Pháp năm 1911.

    Nếu cha ông vẫn c̣n tại chức, th́ có lẽ người thanh niên Nguyễn Tất Thành đă tiếp tục đi học ở Huế và sự nghiệp chống thực dân của ông có thể đă ngả sang một hướng khác. Chúng ta không biết chắc, nhưng những hoàn cảnh bên ngoài đă buộc ông phải ra nước ngoài.

    T́m đương cưu nươc

    BBC: Bà ngụ ư là ban đầu ông Hồ ra nươc ngoài không phải vơi mục đích t́m đương cưu nươc?

    Không, ư tôi không phải là như thế. Dựa trên tài liệu của Pháp nói về các anh chị trong gia đ́nh ông Hồ và nhưng lần họ giúp đơ cho Phan Bội Châu, tôi nghĩ gia đ́nh họ tham gia vào các hoạt động yêu nươc chống thực dân tư sơm.

    Tôi tin là ông Hồ Chí Minh cũng sẽ tham gia vào các hoạt động chống thực dân theo cách này hay cách khác. Nhưng bởi v́ ông không thể ở lại trương Quốc học, nên ông ra nươc ngoài để t́m biện pháp hoặc học thêm để nghĩ cách chống ngươi Pháp.

    BBC: Khi ông Hồ tơi hội nghị ḥa b́nh Versailles 1919, ngươi ta nh́n ông Hồ như thế nào?

    Đây là một điều mà chúng ta rất khó biết chắc bởi v́ có một khoảng trống lơn trong tiểu sử của ông Hồ. Chúng ta không biết trươc năm 1919, ông Hồ hoạt động ở mưc độ nào, chuyện chính trị có phải là vấn đề bận tâm duy nhất của ông hay không.

    Nên khi ông xuất hiện tại hội nghị Paris tháng Sáu năm 1919, phân phát bản kiến nghị cho các đại biểu tham dự, mọi ngươi thấy khó chấp nhận ông ấy như một nhân vật ngang hàng vơi nhưng ngươi nổi tiếng như Phan Chu Trinh hay Phan Văn Trương.

    BBC: Sau hội nghị ở Paris, ông Hồ đến Nga năm 1923 rồi sau đó đi Quảng Đông. Trong khoảng thơi gian này, vị trí của ông Hồ trong Quốc tế cộng sản như thế nào, bởi v́ một số tác giả cho rằng lúc này ông Hồ đă được Quốc tế cộng sản chú ư nhiều?

    Đầu tiên, ông Hồ lúc đó không phải là thành viên của một đảng cộng sản châu Á nào. Ông ấy đang là thành viên của đảng cộng sản Pháp. V́ thế, ông chưa có vị trí vưng chắc trong nội bộ Quốc tế cộng sản. Ví dụ, ông không có chân trong ban chấp hành. Có nhiều nhân vật khác quan trọng hơn như Mahendra Roy tư Ấn Độ hay Sen Katayama của Nhật.

    Nhưng Nguyễn Ái Quốc có một thông điệp rất rơ về việc phong trào cộng sản có thể tham gia thế nào trong phong trào quốc gia tại các thuộc địa. Tôi nghĩ bởi v́ thông điệp này nên ông ấy được khuyến khích lên phát biểu tại đại hội lần thư năm của Quốc tế cộng sản năm 1924. Nhưng lúc ấy, theo tôi, ông Hồ chưa phải là ngươi phát ngôn hàng đầu về các vấn đề thuộc địa trong Quốc tế cộng sản.

    Việc ông Hồ là thành viên đảng Cộng sản Pháp cũng có thể đă khiến vị trí của ông trở nên phưc tạp. Trotsky – đối thủ chính trị của Stalin thơi bấy giơ ‐ có một ảnh hưởng đáng kể đối vơi nhưng ngươi cộng sản Pháp. Trong một băi ḿn chính trị như vậy, ông Hồ dương như bắt đầu học cách hợp tác vơi bất ḱ ai đang nắm quyền lực và học cách theo đuổi nhưng quan tâm của riêng ḿnh.

    BBC: Một số tác giả như Jean Lacouture nói rằng ông Hồ được gửi tơi Quảng Đông để làm trợ lư hay thư kư cho Michail Borodin.

    Tôi nghĩ điều này không chính xác, bởi v́ ông Hồ lúc đó tư Nga đi Quảng Đông mà không mang theo một hương dẫn rơ ràng về nhưng ǵ ông sẽ làm tại đó. Ban đầu ông ấy không được cho một vai tṛ chính thưc. Có vẻ như ngươi ta đă t́m cho ông công việc làm ngươi dịch thuật tại hăng tin của Nga tại đó để có tiền thực hiện các hoạt động chính trị của ông.

    Chư c̣n lúc mơi đến Quảng Đông, ông Hồ rất vất vả trong việc có đủ tiền giúp cho việc giúp đưa các thanh niên Việt Nam sang Quảng Đông tham gia các khóa đào luyện. Như vậy, không có một kế hoạch, chỉ thị rơ ràng dành cho ông Hồ và ông phải tự bươn chải, đối phó vơi các vấn đề khi chúng diễn ra.

    BBC: Chúng ta có biết tâm trạng của ông Hồ lúc này không?

    Tôi nghĩ ông ấy cảm thấy bưc bối v́ thiếu sự giúp đơ cụ thể của Quốc tế cộng sản, hay ngươi Nga hay ngươi cộng sản Pháp lúc đó. Trong năm 1924, ông Hồ liên tục gửi thư yêu cầu các lănh đạo Quốc tế cộng sản chú ư nhiều hơn đến nhu cầu của phong trào tại Việt Nam.

    Cuối cùng th́ vào đầu năm 1927, thông qua một đại biểu Quốc tế Cộng sản tư Pháp sang Quảng Đông, ông Hồ nhận được một khoản ngân sách. Nhưng không may là trươc khi kế hoạch được thực hiện, xảy ra cuộc đảo chính của Tưởng Giơi Thạch và ông Hồ phải rơi khỏi Quảng Đông trươc khi các khóa đào tạo mà ông muốn tiến hành có thể khởi động một cách toàn diện.

    Tăng Tuyết Minh

    BBC: Trong khoảng thời gian ông Hồ ở tại Quảng Đông, có xuất hiện cái tên của bà Tăng Tuyết Minh với những lời đồn đoán khác nhau. Theo nguồn tài liệu mà bà có, th́ Tăng Tuyết Minh là ai?

    Gần đây đă có một chuyên gia Trung Quốc đề cập đến người này. C̣n theo tài liệu mà tôi t́m thấy tại Pháp, Tăng Tuyết Minh khi đó là một phụ nữ trẻ ở Quảng Đông. Và có lẽ bà ấy và ông Hồ đă kết hôn vào tháng Mười năm 1926. Họ ở với nhau cho đến khi ông Hồ phải rời Quảng Đông tháng Năm 1927. Như vậy thời gian kéo dài khoảng sáu tháng.

    BBC: Từ mà bà dùng – “có lẽ” – ở đây nghĩa là thế nào?

    Không chắc vào thời ḱ đó, một cuộc hôn nhân được định nghĩa như thế nào. Ta bắt gặp những ví dụ khác nhau trong các văn bản về phong trào cộng sản. Đôi khi một cuộc hôn nhân diễn ra đơn thuần v́ lư do chính trị. Hai người sống chung với nhau như một cách ngụy trang để duy tŕ các hoạt động chính trị của họ. Thí dụ, nếu họ điều hành một ṭa soạn báo, sẽ an toàn hơn khi giả làm hai vợ chồng. Và tôi không biết trong các phong trào cách mạng, đâu là các yếu tố tạo nên một cuộc hôn nhân có ràng buộc. Những điều này có vẻ không chặt chẽ, chẳng hạn nếu ta nh́n sự nghiệp của Mao Trạch Đông, một người mà đă nhiều lần thay đổi người nâng khăn sửa túi cho ḿnh.

    BBC: Sau khi rời khỏi Quảng Đông, ông Hồ Chí Minh đă bôn ba nhiều nơi trước khi quay trở lại châu Á. Và rồi chúng ta có sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mà sau đó có tên Đảng Cộng sản Đông dương.

    Theo quyển sách của bà, th́ Đảng Cộng sản thành lập tháng Hai năm 1930 và đến tháng Mười năm đó, ông Hồ Chí Minh đă đánh mất ảnh hưởng của ḿnh trong đảng?

    Cần nhắc là ông Hồ đă trải qua thời gian ở Thái Lan, rồi sang Hồng Kông vào mùa đông 1929. Hồng Kông là nơi mà tháng Hai năm 1930, một đảng cộng sản thống nhất của người Việt Nam ra đời. Cùng lúc này th́ có nhiều sự không rơ ràng xung quanh việc ai là người ban đầu được chính thức giao trách nhiệm thành lập nên đảng. Bởi v́ trước đó Quốc tế Cộng sản gửi về hai người là Trần Phú và Ngô Đức Tŕ. Hai người này đă học tại Moscow trong khoảng ba năm và trở về mang theo chỉ thị của Quốc tế cộng sản về cách thức thành lập đảng.

    Vậy là sau khi Nguyễn Ái Quốc thành lập đảng cộng sản vào tháng hai, hai người này quay về Việt Nam hoạt động. Cuối cùng đến tháng Mười, diễn ra hội nghị trung ương lần thứ nhất tổ chức tại Hồng Kông. Đến lúc này hai người, mà đặc biệt là Trần Phú ‐ theo tôi – đă cố gắng ấn định các chỉ thị mà họ mang theo từ Moscow. Chỉ thị này bao gồm đảng phải là tổ chức của riêng giai cấp lao động, một chủ trương mà sẽ dẫn đến một nỗ lực thanh trừng các thành phần yêu nước gốc trung lưu trong nội bộ đảng.

    Nguyễn Thị Minh Khai

    BBC: Cũng khoảng thời gian này, có một lá thư đề ngày 12‐1‐1931 của Văn pḥng Viễn Đông của Quốc tế Cộng sản nhắc ông Nguyễn Ái Quốc rằng ông cần thông báo cho họ về cuộc hôn nhân của ḿnh hai tháng trước khi cuộc hôn nhân diễn ra. Đây là lúc muốn được hỏi bà, theo bà, th́ có cuộc hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Minh Khai và ông Hồ Chí Minh hay không?

    Tôi không chắc đó có phải một cuộc hôn nhân thật sự hay không. Chúng ta biết là khoảng giữa năm 1930, bà Nguyễn Thị Minh Khai được giao đến làm việc tại văn pḥng của ông Hồ ở Hồng Kông, rồi sau đó được giao công việc liên lạc với đảng cộng sản Trung Quốc.

    Vào tháng Hai năm 1931, ông Hồ có nhắc việc vợ của ông đang bận chuẩn bị cho ngày Tết và chuẩn bị đón khách từ Việt Nam. Ông Hồ cũng viết thư cho Quốc tế Cộng sản, có vẻ như trong đó ông đề cập tới một đám cưới sắp diễn ra. BởI v́ sau đó Quốc tế Cộng sản viết thư trả lời, nói ông cần đ́nh hoăn đám cướI cho đến khi có chỉ thị mới. Tôi sẽ ngần ngừ khi nóI liệu ông Hồ có phảI đang nóI về việc làm đám cưới thật sự hay không bởI v́ trong các thư từ, họ thường sử dụng nhiều loạI mật mă.

    Nhưng trong trường hợp này, có vẻ như lá thư nói những chuyện thật sự đang diễn ra bởi v́ trong cùng một lá thư ông Hồ cũng thảo luận nhiều vấn đề khác một cách công khai. Và từ những ǵ ngườI ta biết vào năm 1934, Nguyễn Ái Quốc có một người vợ được cử tới đại hội của Quốc tế cộng sản ở Moscow. Khi Minh Khai tới Moscow, bà ấy có viết trong lư lịch nói ḿnh kết hôn với “Lin” – bí danh của ông Hồ thời bấy giờ. V́ vậy, người ta có thể ngờ rằng giữa hai người có một mối quan hệ vào năm 1931.

    BBC: Bà nói ḿnh không chắc có thể dùng chữ “hôn nhân” ở đây. Vậy nếu người ta hỏi liệu đă một mối quan hệ t́nh cảm giữa ông Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị Minh Khai, vậy bà sẽ trả lời thế nào?

    Tôi nghĩ câu trả lời là Có, đặc biệt nếu chúng ta dựa vào một số chứng liệu khác. Ví dụ vào năm 1945, trong cuộc nói chuyện với một phóng viên Mỹ, ông Hồ Chí Minh có nhắc ông từng có một người vợ, nhưng bà đă qua đời. Hoặc có những đề cập nói rằng vào cuối thập niên 1930, khi Nguyễn Thị Minh Khai quay về Việt Nam, bà đă chia cắt với người chồng là một nhà cách mạng lớn tuổi đang ở nước ngoài. Điều này nghe giống như một sự miêu tả ông Hồ Chí Minh.

    BBC: Nhưng nếu dựa trên những nguồn tài liệu của Pháp, ta có khuynh hướng tin là bà Nguyễn Thị Minh Khai có nhiều mối quan hệ với các đồng chí khác nhau trong khoảng thời gian từ 1930 đến 1940. Vậy th́ đâu là thực, đâu là hư?

    Đây chính là điểm làm câu chuyện phức tạp. Thông tin t́nh báo của Pháp lúc bấy giờ thường đề cập bà Minh Khai có mối quan hệ với nhiều người khác nhau. Ví dụ, năm 1932, mật thám Pháp tin rằng bà là người t́nh của Trần Ngọc Danh, em trai ông Trần Phú.

    Chúng ta không biết chắc liệu đây có thuộc về dạng hôn nhân cách mạng hay không, khi mà hai người cùng chí hướng đă giả trang làm người yêu để dễ đánh lạc hướng chính quyền đương thời. Hay c̣n điều ǵ hơn thế! Thật khó để biết rơ cách thức hoạt động của những người hoạt động cách mạng bởi v́ họ có thể xem ḿnh thuộc về một thế giới khác, vượt khỏi các khuôn khổ đạo đức b́nh thường.

    Mâu thuẩn trong đảng

    BBC: Trong quyển sách, bà viết là đến khi hội nghị trung ương đảng cộng sản Đông Dương họp tại Sài G̣n ngày 12‐3‐1931, mối quan hệ giữa Ban chấp hành trung ương với ông Hồ Chí Minh đă xuống dốc rất nhiều. V́ sao lại như vậy?

    Thật sự th́ Ban chấp hành gồm rất ít người, người lănh đạo chính là ông Trần Phú. Tôi nghĩ có một sự khó chịu về nhau từ cả hai phía – ông Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông và các ông Trần Phú, Ngô Đức Tŕ và các lănh đạo khác ở Sài G̣n. Than phiền chính của họ là những khó khăn trong việc liên lạc với Quốc tế cộng sản, mà đại diện là văn pḥng phương Đông tại Thượng Hải. Có nhiều lư do v́ sao việc liên lạc lại khó khăn. Một trong số đó là chi nhánh đảng cộng sản Trung Quốc tại Hồng Kông đă bị người Anh phát hiện vào khoảng đầu năm 1931. Nên không c̣n một cơ sở hạ tầng cho việc liên lạc như trước đây.

    Và dĩ nhiên lúc đó đảng cộng sản tại Việt Nam cũng bị tổn hao v́ những đợt bắt bớ của người Pháp. Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, dễ hiểu là v́ sao các bên đổ lỗi cho nhau. Ông Hồ không nhận được thông tin từ trong nước, nên ông yêu cầu ban chấp hành ở miền Trung và Hà Nội. Điều này làm các lănh đạo ở Sài G̣n khó chịu. V́ thế ông Hồ cảm thấy ḿnh không được sử dụng đúng và sau đó đề nghị đảng cho thôi chức vụ của ông tại Hồng Kông.

    BBC: Nhưng bên cạnh đó, một lư do khác dường như là xung đột trong hệ tư tưởng giữa các bên, phải không?

    Vâng, theo tôi, ông Hồ lúc đó bị chỉ trích v́ người ta bắt đầu xem ông là một nhà cải cách theo xu hướng quốc gia. Ông ấy coi đảng phải sử dụng những t́nh cảm yêu nước để thu hút nhiều đối tượng. Trong khi đó, tại Sài G̣n, chi bộ đảng đă bắt đầu đi theo chính sách mới của Quốc tế Cộng sản, tức là đấu tranh giai cấp và đảng chỉ là đảng của người vô sản mà thôi, sinh viên hay tầng lớp trung lưu chỉ đóng vai tṛ hỗ trợ.

    BBC: Cái vấn đề là người quốc gia hay cộng sản đă được bàn đến nhiều xung quanh ông Hồ Chí Minh. Có người nói là ngay cả khi xem ông Hồ là người theo chủ nghĩa dân tộc, th́ thật ra đó không phải lư thuyết của chính ông? Bà nghĩ sao?

    Thật khó để biết đâu là xu hướng riêng trong chính sách của ông Hồ lúc đó, đâu là ông đi theo chính sách của Quốc tế cộng sản thời ḱ thập niên 1920. Nhưng có thể nói xu hướng của ông Hồ lúc đó phù hợp với chính sách của Quốc tế cộng sản lúc 1920. Theo đó, những người cộng sản nên tập trung vào các cuộc cách mạng dân tộc ở các nước thuộc địa bởi v́ giai cấp vô sản hay đảng cộng sản c̣n rất nhỏ, tự ḿnh hành động th́ không có lợi. Ông Hồ theo xu hướng này. C̣n ông có những ư tưởng nào vượt ra khỏi điều này không, th́ tôi không rơ.

    BBC: Chúng ta hăy chuyển sang giai đoạn giữa thập niên 1930 khi ông Hồ quay về Nga. Có vẻ như vị trí của ông trong Quốc tế cộng sản lúc này bị lung lay?

    Stalin lúc này đă củng cố ảnh hưởng của ḿnh. Nói chung những ai đă từng làm việc ở nước ngoài sẽ bị nghi ngờ mang tư tưởng tư sản. Những ai trở về Nga phải tự thú. Có cảm giác kẻ thù ở mọi nơi. Đặc biệt những người như ông Hồ Chí Minh đă từng làm việc với mặt trận thống nhất tại miền nam Trung Hoa. Thêm vào điều đó, lại c̣n những vụ bắt giữ người cộng sản tại Hồng Kông, Thượng Hải năm 1931. Cơ sở của quốc tế cộng sản tại Thượng Hải sụp đổ. Và những người lănh đạo đảng cộng sản tại Việt Nam cũng bị bắt. Nên dĩ nhiên diễn ra các vụ điều tra xem ai có tội, và ông Hồ chắc chắn trải qua những ngày vất vả khi đó.

    BBC: Sau những vụ thanh trừng tại Nga 1937 – 1938, th́ nhiều người tự hỏi v́ sao ông Hồ Chí Minh có thể tồn tại sau những ngày như thế?

    Đó là câu hỏi mà các chuyên gia nước ngoài đă tập trung nghiên cứu từ lâu. Quan điểm trước đây của họ cho rằng lư do chính là v́ ông Hồ, vào cuối thập niên 30, đă trở thành lănh tụ của đảng cộng sản nên v́ thế được Stalin bảo vệ hay ít nhất cũng là một trong những người được tin dùng. Theo tôi, đó là một sự tổng quát hóa không có cơ sở. Stalin có thể diệt trừ những người thân cận nhất của ḿnh, không có ai là an toàn. Những nhân vật thân cận như Kalinin, Molotov cũng là nạn nhân của Stalin (vợ của họ bị bắt và đây có thể xem là một cách để khống chế những người này). Nên phải nói ngay từ đầu cái ư nghĩ bạn có thể an toàn khi ở cạnh Stalin là điều không có thật. Và ngoài ra, ông Hồ Chí Minh đă bị cảnh gần như bị giáng chức vào năm 1935 v́ cáo buộc ông chịu trách nhiệm cho những vụ bắt giữ năm 1931. Nên không thể nói ông ấy lúc đó là nhân vật hàng đầu trong Quốc tế cộng sản.

    Kết luận lại, tôi nghĩ lư do chính là v́ ông đă sống kín đáo, lặng lẽ. Mà thực sự Việt Nam cũng không phải nằm trong danh sách những nước là Stalin lo âu. Ông ta quan tâm hơn đến việc thanh trừng đảng cộng sản ở các nước láng giềng.

  9. #39
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    HỒ CHÍ MINH
    NHỮNG NĂM THÁNG CHƯA ĐƯỢC BIẾT ĐẾN (1919‐1941)
    HO CHI MINH: THE MISSING YEARS
    Kỳ 1
    Bà Sophie Quinn-Judge (1)
    Lời dịch giả Diên Vỹ
    P2





    Thời thế đưa đẩy

    BBC: Theo tường thuật của bà trong sách, đường cách mạng của ông Hồ Chí Minh vẫn c̣n rất gian nan trong thập niên 30. Vậy ông Hồ đă làm thế nào để có được quyền lực trong đảng cộng sản để rồi sau này dẫn tới cách mạng năm 1945?

    Quá tŕnh dẫn đến việc nắm quyền lực năm 1945 của ông Hồ không phải là một tiến tŕnh có sẵn từ đầu. Một trong những điểm tôi cố gắng làm rơ trong quyển sách là quá tŕnh dẫn đến việc nắm quyền lực năm 1945 của ông Hồ không phải là một tiến tŕnh có sẵn từ đầu.

    Năm 1938, khi ông Hồ quay lại Trung Quốc, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập là thuộc trong số những lănh đạo đảng tại Sài G̣n. Sau đó th́ lần lượt từng lănh đạo tại Sài G̣n bị Pháp bắt sau khi mặt trận b́nh dân tại Pháp sụp đổ và người Pháp một lần nữa ra chính sách trừ diệt đảng cộng sản. Sau đó, tôi nghĩ có một cuộc khủng hoảng lănh đạo trong đảng. Lúc này, ông Hồ đang ở Trung Quốc xây dựng một nhóm những người yêu nước Việt Nam theo đuổi chính sách thống nhất – một chính sách mà vào lúc này quốc tế cộng sản quay lại sử dụng. Tôi nghĩ đến đầu thập niên 40, ông Hồ Chí Minh là người Việt Nam cần lúc đó, có mặt và sẵn sàng hành động.

    BBC: Như bà viết trong sách, nhiều tác giả – cả cộng sản và không cộng sản – đă phần nào phóng đại vai tṛ của ông Hồ Chí Minh. V́ sao?

    Tôi nghĩ đó là điều mà trong giới sử học gọi là phát triển bằng cách viết ngược (back formation). Bởi v́ ông Hồ trở thành chủ tịch nước năm 1945, người ta đặt ra những tiền đề không có căn cứ về sự nghiệp của ông. Và thật dễ dàng để cho rằng ông đă luôn là một trong những nhân vật hàng đầu trong quốc tế cộng sản. Dĩ nhiên đảng cộng sản Việt Nam sẵn sàng chấp nhận suy nghĩ này v́ nó cho họ một uy tín trong phong trào cộng sản quốc tế.

    BBC: Nhưng v́ sao ngay cả những người không cộng sản cũng có thiên hướng chấp nhận điều này?

    Theo tôi, đó là v́ một chân dung như thế cũng hợp với những nghị tŕnh của họ. Họ muốn tin rằng ông Hồ đă luôn là một người cộng sản ẩn đằng sau cái vỏ dân tộc chủ nghĩa. Tôi nghĩ những nhà chỉ trích ông Hồ Chí Minh ‐ thuộc cả hai phía cộng sản và không cộng sản ‐ duy tŕ chân dung về ông như một nhà cộng sản đầy quyền lực bởi v́ ông ấy là biểu tượng nổi tiếng nhất của phong trào cộng sản Việt Nam.

    BBC: Khi đọc về những bước đường đầu tiên trong sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh, nó có giúp ǵ cho người ta hiểu về phần đời sau này của ông hay không?

    Vâng, tôi nghĩ phần nào đó, những ǵ diễn ra trong thập niên 30 cũng tái lặp trong cuối thập niên 40, đầu 50. Mâu thuẫn trong phong trào cộng sản tại Việt Nam và quốc tế không bao giờ vụt tắt.

    Một bên muốn đi tới thật nhanh, xây dựng điều mà họ gọi là chủ nghĩa xă hội bằng cách loại trừ tầng lớp trung lưu. Một bên lại cho rằng chủ nghĩa cộng sản phải được xây dựng từ từ, trải qua giai đoạn của chủ nghĩa tư bản. Tôi nghĩ người ta cần hiểu hai quan điểm này cứ thay nhau được chấp nhận, rồi gạt bỏ. Cứ như vậy.

    Đó là một trong những lư do – tôi nghĩ – v́ sao ông Hồ Chí Minh không phải bao giờ cũng duy tŕ được vị trí là một nhà lănh đạo có thực quyền.

    (Nguồn BBC Việt Ngữ)

    Lời cảm tạ của bà Sophie Quinn-Judge

    Tôi xin chân thành cảm ơn John D. và Catherine T. tại quỹ McAthur v́ đă tài trợ cho những nghiên cứu của ḿnh và năm 1994 tại Moscow và Aix‐en‐Provence. Quỹ nghiên cứu của đại học trung tâm London đă là nơi tài trợ cho nghiên cứu của tôi ở Aix‐en‐Provence vào năm 1998. Tôi rất biết ơn những người quản thư tại trung bảo tồn và lưu trữ tàng thư về lịch sử cận đại của Nga, những người đă hết ḷng giúp đỡ trong những điều kiện khó khăn.

    Chính bạn bè của tôi tại Việt Nam, Nga, Mỹ, Anh, Pháp đă ủng hộ và khuyến khích tôi thực hiện việc nghiên cứu về Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh, một dự án nghiên cứu tưởng như viển vông mà ban đầu tôi đă không lường hết được. Trong những năm tháng học tại khoa châu phi học của trường đại học tổng hợp London, tôi đă có được nhiều trao đổi về mặt học thuật với bạn bè qua các seminar về lịch sử Việt nam. Tôi cũng muốn cảm ơn chồng và hai con gái của ḿnh v́ đă hỗ trợ hết ḿnh cho công việc nghiên cứu này.

    Quyển sách này giành để tặng cho những người quá cố là Huỳnh Kim Khánh, người đầu tiên khơi gợi sự ṭ ṃ của tôi về mối quan hệ giữa Nguyến Ái Quốc và Quốc Tế III; và Ralph B. Smith, một người bạn với nhiều lời khuyên chân thành, một tấm gương về sự lao động quên ḿnh của một học giả.

    Nội dung sách

    Chương 1: Paris: Sự xuất hiện của Nguyễn Ái Quốc (1919‐23)

    Chương 2: Ra nhập Quốc Tế III (Comintern) (1923‐4) Chương 3: Thời kỳ ở Quảng Châu và sau đó (1924‐8) Chương 4: Từ con đường cũ đến con đường mới (1927‐9) Chương 5: Sóng triều cách mạng (1930‐1)

    Chương 6: Chết ở Hồng Kông, chôn tại Moscow?

    Chương 7: Sự trở lại của Hồ Chí Minh và con đường đến Hội nghị Tám (1937‐41).

    Qui ước viết tắt trong sách

    ACP Annam Communist Party (An Nam Cộng sản Đảng) AOM Archives d’Outre‐Mer

    BNTS Hồ Chí Minh: Biên Niên Tiểu Sử

    CC Central Committee (Trung ương)

    CCP Chinese Communist Party (Đảng CS Trung Quốc)

    CYL Communist Youth League (Liên đoàn Thanh niên Cộng sản) DDSCD Đông Dương Cộng sản Đảng

    ECCI Executive Committee of the Communist International (Ban chấp hành

    Quốc tế Cộng Sản).

    FCP French Communist Party (Đảng cộng sản Pháp) FEB Far East Bureau (Viễn Đông Cục)

    GMD Guomindang (Quốc dân Đảng)

    ICP Indochinese Communist Party (Đông dương Cộng sản Đảng) MAE Ministère des Affaires Etrangères

    NCLS Nghiên cứu Lịch sử (tạp chí) NXB Nhà xuất bản

    OMS Bộ phận liên lạc quốc tế

    RS Trung bảo tồn và lưu trữ tàng thư về lịch sử cận đại Nga

    SHAT Service Historique de l’Armée de Terre

    SLOTFOM Service de Liaisons avec les Originaires des Territoires de la France d’Outre‐Mer.

    SMP Hồ sơ cảnh sát thành phố Thượng hải.

    SPCE Service de Protection du Corps ExpéditionairE

    VNQDD Việt Nam Quốc Dân Đảng

    VNTNCMDCH Việt nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội



    CHƯƠNG 0: GIỚI THIỆU

    Huyền thoại kép

    Nhân viên trong bóng tối của Quốc Tế III được thế giới bắt đầu biết đến từ năm 1945 dưới cái tên là Hồ Chí Minh đă trở thành biểu tượng của chủ nghĩa cộng sản tại Việt nam nhiều năm sau ngày ông lên nắm quyền với tư cách là chủ tịch đầu tiên của đất nước ḿnh. Trong cuộc chiến giữa Mỹ và Việt nam, ông nổi lên như một h́nh tượng của chủ nghĩa cộng sản “hai mặt” điển h́nh Á châu (nghĩa là mặt cộng sản và mặt dân tộc – ND), và đối với tổng thống Mỹ Lyndon Johnson ông là một kẻ thù. H́nh tượng này phần nào được dựng lên do các chiến dịch tuyên truyền thời chiến tranh lạnh, mà ở đó ông được mô tả như một kẻ cuồng tín, đam mê quyền lực, một người từng theo chủ nghĩa dân tộc nhưng cuối cùng đă phản bội lại chính những người theo chủ nghĩa dân tộc phi cộng sản [1]. Hồ phải chịu trách nhiệm cho những khổ đau mà đất nước ông phải hứng chịu do chiến tranh và chủ nghĩa cộng sản đem lại.



    Photo 002



    H́nh ảnh trên của Hồ Chí Minh được đưa ra bởi phe chống cộng ngược hẳn lại với h́nh ảnh được xây dựng kỹ lưỡng về ông của những người cộng sản Việt nam trong đó ông được mô tả như một người chủ tịch, một người cha của nước Việt nam độc lập, một người sống mẫu mực, khổ hạnh như thầy tu, một người đă cống hiến trọn đời ḿnh cho dân tộc. Từ sau năm 1945, những người cộng sản Việt nam đă sử dụng ông như một phương tiện để tạo ra một lịch sử của một Đảng cộng sản thống nhất, đoàn kết và luôn luôn sáng suốt. Ở một mức độ nào đó, bản thân ông Hồ cũng khuyến khích việc xây dựng h́nh tượng ḿnh như một người yêu nước giản dị theo chủ nghĩa dân tộc. Việc sử dụng h́nh ảnh Hồ Chí Minh theo kiểu này càng trở nên rơhơn sau năm 1947, khi quân đội Pháp đă tái chiếm thuộc địa và chính phủ Mỹ tỏ ra nghi ngờ tính dân tộc của Việt Minh. Trong lời giới thiệu đầu quyển sách tiểu sử đầu tiên về Hồ Chí Minh xuất hiện ở Paris 1949, đă mô tả ông như “biểu tượng của khát vọng dân tộc”; trái tim ông được cho là “cùng đập một nhịp với những người dân Việt nam”; những lời dậy của ông tràn đầy “sự nhân ái cao cả” nhưng lại “cực kỳ gần gũi giản đơn” [2]. Một bài trên báo Nhân Dân số ra ngày 25 tháng 3 năm 1951 lại mô tả một vai tṛ khác của ông Hồ. Bài báo đó xem Hồ chủ tịch như “linh hồn của cách mạng Việt nam và cuộc kháng chiến” , trong khi đó lại xác nhận vai tṛ của Trường Chinh, lúc đó là tổng bí thư Đảng Cộng sản, như là “người kiến thiết và lănh đạo cách mạng” [3].

    Cho đến năm 1964, khi những người cộn sản Việt nam đang bị kéo ngày càng sâu hơn vào cuộc đối đầu với Mỹ, th́ một h́nh ảnh thống nhất về chủ tịch Hồ Chí Minh trong lịch sử Đảng càng trở nên hết sức quan trọng. Như chúng ta đă biết, thời điểm năm 1963 là thời kỳ căng thẳng trong Đảng với cuộc đấu tranh nội bộ xem nên theo đường lối quốc tế nào (giữa theo Liên Xô và Trung Quốc – ND). V́ vậy bài báo xuất hiện trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số ra tháng 2 năm 1964 trong đó mô tả vai tṛ của Hồ Chí Minh trong việc hợp nhất các Đảng Cộng sản Việt năm năm

    1930 mang một thông điệp quan trọng. Đó là thông điệp về một h́nh ảnh thống nhất về phẩm chất chính trị được xác nhận và h́nh tượng hoá bởi chính Hồ Chí Minh [4]. Đồng thời Đảng cũng tự mô tả ḿnh như một Đảng có sức mạnh vô địch nhờ sự lănh đạo sáng suốt tài t́nh của Hồ Chí Minh. Mỉa mai là ở chỗ, vào thời điểm năm 1964, quyền lực cá nhân thực sự của Hồ Chủ Tịch trong Đảng lại đă bị giảm đi đáng kể [5]. Trong lần xuất bản thứ 5 cuốn tiểu sử “chủ tịch Hồ Chí Minh” do Trường Chinh viết năm 1973, lần đầu tiên xuất hiện một đoạn dài nói về những “chiến lược cách mạng” của Hồ Chí Minh và một đoạn khác nói về “Đạo đức và phẩm hạnh” của ông [6]. Tuy vậy cho đến năm 1989 khi khối XHCN ở Đông Âu sụp đổ, những người Cộng sản Việt nam mới bắt đầu hệ thống hoá lại “tư tưởng Hồ Chí Minh” và dùng nó như một kim chỉ nam tư tưởng hệ.

    Theo quan điểm của tôi, cả hai quan điểm dập khuôn về Hồ Chí Minh như là một người cộng sản theo Machiavelli (theo thuyết “mục đích biện minh cho hành động – ND), hay là một vị thánh có tinh thần dân tộc đều gây cản trở cho việc nghiên cứu nghiêm túc một h́nh tượng lịch sử. Lấy ví dụ chúng có thể gây ra những cuộc tranh căi rất vô bổ như liệu Hồ Chí Minh có phải là một kẻ mạo danh? Hay một kẻ đóng kịch [7]? (Rơ ràng là Hồ Chí Minh có thể là một người đối thoại rất trung thực và thẳng thắn, đồng thời lại có thể là một người rất xảo quyệt luôn biết tự cảnh giác). H́nh ảnh quá thực tế cuộc sống của Hồ đă làm nhiều học giả nghiên cứu về chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam phóng đại quá mức về tầm quan trọng của ông trong việc tạo dựng t́nh hữu nghị cộng sản quốc tế. Lấy ví dụ cuốn tiểu sử viết bởi Jean Lacouture, một người ái mộ ông Hồ, đă mô tả rằng ông là một người bạn mật thiết của những trí thức cánh tả nổi tiếng của Pháp như Boris Souvarine [8]. Mặc dù vậy những tài liệu từ Nga và Pháp mà chúng tôi đă nghiên cứu lại cho thấy thực ra ông Hồ là người cầu cạnh các mối quan hệ với họ chứ không phải bạn thân. Souvarine, có lẽ hầu như không có mấy quan hệ với ông Hồ cho đến tận năm 1923, v́ ông ở Pháp rất ngắn sau khi bị bỏ tù vào các năm 1920, 1921, và cho đến khi ông ta bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Pháp năm 1924 [9]. William Duiker th́ mô tả ông Hồ như “một diễn giả chính của phương Đông và giúp làm tăng sự chú ư đến các vấn đề của nông dân” tại phiên bế mạc của hội nghị lần thứ năm của Quốc Tế III năm 1924 [10]. Tuy nhiên trong thực tế, ông Hồ chỉ là một diễn giả phụ nói về vấn đề thuộc địa và thậm chí không phải là đại diện của một Đảng Cộng sản Á châu nào. Charles McLane cho rằng, sau khi trở lại Moscow từ Trung Quốc năm 1927, ông Hồ đă bàn định lại chính sách đối với các nước Đông Nam Á với các nhà lănh đạo Quốc Tế III, “Thậm chí có lẽ là với chính Stalin” [11]. Mặc dù vậy, hiện chưa có một bằng chứng nào cho thấy điều đó ngoài việc ông Hồ nộp một bản báo cáo cho Krestintern (Quốc Tế Nông Dân) và bàn bạc với cấp trên của ḿnh ở ban chấp hành Quốc tế Cộng Sản trong khoảng thời gian ông ở Moscow năm 1927. Charles Fenn cho rằng ông Hồ là một trong hai đại diện tham dự hội nghị lần thứ 7 của Quốc Tế III tham gia ủng hộ mặt trận b́nh dân [12]. Thực ra ông Hồ không có quyền bỏ phiếu, các các chiến lược chính sách đă được Dimitrov chuẩn bị kỹ lưỡng trước dưới sự hỗ trợ của Stalin. Vai tṛ của một nhà tuyên truyền cách mạng của ông Hồ nhiều khi cũng bị thổi phồng một cách quá đáng. Ví dụ như trong bài báo viết về tiểu sử của ông đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 17 tháng 5 năm 1970, năm sau khi ông mất, đă mô tả tờ báo chống đế quốc Le Paria, mà ông Hồ làm chủ biên ở Paris, là “đă tạo nên một cơn gió cách mạng thổi bùng trên toàn Đông dương và các nước khác”. Theo quan điểm cá nhân của chúng tôi, đó là sự nói quá về vai tṛ của Le Paria trong những năm đầu thập niên 20.

    Những học giả chống cộng thường có xu hướng chấp nhận một phiên bản của cách nh́n trên về tầm ảnh hưởng của Hồ Chí Minh. Tôn Thất Thiện trong bài luận có tựa đề “Sự thật và giả dối: Chuyến đi bí mật của Hồ Chí Minh đến Nga năm 1923 và sự thất sủng của ông trong Quốc tế Cộng Sản 3”, đă đặt vấn đề nghi ngờ về tầm ảnh hưởng của Hồ Chí Minh trong phong trào cộng sản quốc tế. Ông cho rằng bài phát biểu của ông Hồ tại đại hội 2 Đảng Cộng sản Pháp đă gây ấn tượng mạnh đối với đặc phái viên của Quốc tế Cộng Sản 3 Dmitry Manuilsky, và ngay tại đó Hồ đă được mời tham dự Đại hội 5 Quốc tế Cộng Sản 3 tại Moscow [13]. Trong thực tế, các tài liệu tại các tàng thư của Nga và Pháp lại cho thấy vấn đề phức tạp hơn một chút. Trong chương 2, chúng tôi sẽ chỉ ra rằng thực tế ban đầu ông Hồ chỉ dự định ở lại Moscow có 3 tháng và không có ư định tham dự hội nghị 5. Theo Lacouture, ông Hồ đă tham dự một hội nghị phản đế quan trọng vào đầu năm 1928 nơi ông gặp gỡ Nehru và các nhà dân tộc chủ nghĩa khác [14]. Nhưng thực ra hội nghị này diễn ra tháng 2 năm 1927, trong khi ông Hồ vẫn c̣n đang ở Quảng Châu. Trong quá tŕnh nghiên cứu của ḿnh, chúng tôi phát hiện ra nhiều chuyện thú vị về việc rất nhiều việc được gán cho ông Hồ nhưng thực tế ông không làm do hoặc là ông không có mặt tại địa điểm diễn ra hành động, hoặc ông không có đủ tầm ảnh hưởng để làm.

    Một trong những ví dụ kiểu này là việc cho rằng ông là tác giả bài báo: ”The Party’s Military Work among the Peasants” in trong tập tái bản của cuốn sổ tay Quốc tế Cộng Sản 3, “Armed Insurrection”. Bài báo gốc được in vào năm 1929 dưới bút danh A. Neuberg, mặc dù đă có một bài viết với tiêu đề tương tự của Alfred Langer, xuất hiện ở Đức năm 1928. Những học giả như William Duiker và Huynh Kim Khanh đă dung bài luận này để lư giải về quan điểm của ông Hồ về nông dân và cuộc nổi dậy của Xô‐viết Nghệ Tĩnh năm 1930‐1 [15]. Trong phần giới thiệu của bản in năm 1970, Erich Wollenberg, người tự nhận là một trong các tác giả gốc, đă chỉ rơ Hồ Chí Minh là tác giả của chương cuối, về khởi nghĩa của nông dân [16]. Wollenberg cũng cho rằng chính Hồng quân đă cử Hồ Chí Minh đến Trung Quốc năm 1924. Việc thừa nhận ông Hồ như một chuyên gia về quân sự như nhiều tài liệu báo chí phương tây sau này, hiện chưa được minh chứng trong các tài liệu và chứng cứ chúng tôi đă nghiên cứu. Trong Quốc tế Cộng Sản 3, ông Hồ chỉ hoạt động như một phiên dịch, một chuyên gia tuyên truyền và vận động cách mạng. Khi trở về Moscow từ Trung Quốc vào tháng 6 năm 1927, ông có báo cáo về phong trào nông dân ở tỉnh Quảng Đông, nhưng bài báo cáo ở dạng mô tả cụ thể chứ không có dáng điệu phân tích sâu sắc như bài báo trên. Ở Berlin năm 1928, ông đă viết bài mô tả về phong trào nông dân Pen Pai. Nhưng tại thời điểm của cuộc nổi dậy Nanchang, Sô Viết Hai‐Lungfeng, hay khởi nghĩa ở Quảng Châu, ông không có mặt tại đó mà những sự kiện này lại được phân tích rất kỹ lưỡng trong bài luận năm 1929 kia. Theo tài liệu của Quốc Tế III, Hội đồng quân sự của ban thư kư Đông phương của Quốc Tế III đă giao nhiệm vụ cho A. Gailis, một người Litva (biệt danh là Tom khi làm việc tại Trung Quốc], và Y. Zhingur một người làm việc làm việc trong lực lượng t́nh báo quân đội ở Nam Trung Quốc từ năm 1926 đến 1927 nghiên cứu các chiến thuật cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Quyết định này được đưa ra trong cuộc họp ngày 22 tháng 3 năm 1928, trong khi ông Hồ vẫn c̣n đang ở Berlin [17]. Cuốn sách của Gailis về chủ đề này đă được in ở Moscow vào ngày 20 tháng 6 năm 1929 [18]. Do đó có lẽ sự xác nhận ông Hồ là tác giả bài luận cuối của lần tái bản năm 1970 có lẽ chủ ư muốn đề cao vai tṛ của ông Hồ như là một lư thuyết gia Cộng sản. (Sự thực th́ quan điểm của bài báo cũng chính là quan điểm chính thống của Quốc Tế III năm 1928 , và cho dù ông Hồ có đồng quan điểm với nó th́ cũng khó có khả năng ông Hồ lại có thể sử dụng giọng kẻ cả như vậy đối với sự thất bại của Đảng Cộng sản Trung Quốc).

    Những tiểu sử đầu tiên của phương Tây về Hồ Chí Minh (như của Lacouture, Fenn) là những tiểu sử mang đậm dấu ấn của trường phái ấn tượng (ư muốn nói có nhiều điều không thật –ND), do thiếu tư liệu lịch sử. Bản thân ông Hồ cũng rất khéo léo trong việc che dấu quá khứ của ḿnh. Trong nhiều năm thông tin về tiểu sử của ḿnh mà ông cung cấp phần nhiều là những mẩu chuyện hư cấu với những ngày tháng lộn xộn không rơ ràng chứ không phải những sự kiện thật trong cuộc đời của ông. Cuốn tiểu sử lần đầu in tại Paris năm 1949, trước đó đă xuất hiện năm 1948 bằng tiếng Trung Quốc, sau này được in lại nhiều lần bằng tiếng Việt với tiêu đề: “Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”. Mặc dù tên tác giả là Trần Dân Tiên, nhưng hiện mọi người đều đă công nhận đó là tự do ông Hồ viết [19]. Cuốn sách là tập hợp những khắc hoạ mờ ảo trong trí nhớ về ông của các đồng chí của ông với ngày tháng lộn xộn. Mặc dù nó có dựa trên những sự thật những sự thiếu hụt thông tin, sự trang hoàng và tiền đề thuyết phục người đọc về những phẩm chất vô sản của ông Hồ chỉ làm quyển sách này có tác dụng xây dựng nên huyền thoại Hồ Chí Minh chứ không phải là một cuốn sách có giá trị lịch sử cao. Tiểu sử Hồ Chí Minh bằng tiếng Nga của Kobelev là tác phẩm của một nhà báo hơn là của một lịch sử gia [20]. Cuốn tiểu sử này phần lớn dựa trên cuốn tiểu sử viết bởi Hồng Hà, một người mà qua cách đánh giá về việc cẩn trọng trong việc sử dụng tài liệu tham khảo nên cũng được xem là một nhà báo hơn là một sử gia thực thụ [21].

    Những thông tin tiểu sử về thời trai trẻ của Hồ Chí Minh trong những năm tháng đầu tiên ở Paris được phát hiện trong tàng thư của Pháp bởi, Nguyễn Thế Anh, Thu Trang Gaspard, và Daniel Hémery sau khi cuốn sách của Lacouture được in đă làm mạnh thêm quan điểm về nguồn gốc dân tộc chủ nghĩa của ông Hồ [22]. Đặc biệt trong bài báo in năm 1992 của ḿnh với tựa đề “Jeunesse d’un Colonisé genèse d’un exil, Ho Chi Minh jusqu’en 1911”, Hémery đă chỉ ra sự nghiệp của bố ông Hồ (cụ Nguyễn Sinh Huy – ND) và việc ông bị cách chức quan đă ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành. Cuốn tiểu sử gần đây của William Duiker đáng tiếc đă không lưu ư đến nghiên cứu này của Hémery. Duiker chỉ sử dụng những tài liệu về thời trẻ của ông Hồ được xuất bản ở Hà nội. Mặc dù Duiker cũng đưa các quan điểm ngược chiều vào cuốn tiểu sử của ḿnh và sử dụng một số tài liệu của Quốc Tế III, nhưng ông cũng cho rằng Kobelev đă hơi thổi phồng quá vai tṛ của ông Hồ trong Quốc tế Cộng Sản 3.

    T́m kiếm h́nh ảnh lịch sử thật của Hồ Chí Minh.

    Với việc tàng thư Quốc tế Cộng Sản được mở công khai năm 1992, hiện đă có thể có đủ dự kiện để phác hoạ về sự thật cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh trong những năm trước 1945, thay v́ những huyền thoại như trước đây. Nghiên cứu trong cuốn sách này là về những năm tháng hoạt động chính trị của ông từ năm 1919, khi ông lần đầu tiên xuất hiện tại Paris dưới cái tên Nguyễn Ái Quốc; cho đến năm 1941 trước cuộc đại chiến thế giới lần thứ 2, khi liên hệ giữa những người Cộng sản Việt Nam với Quốc Tế III chấm dứt. Nghiên cứu trong cuốn sách này dựa trên nghiên cứu các tàng thư tại Trung bảo tồn và lưu trữ tàng thư về lịch sử cận đại Nga, trước đây là Học viện Marx‐Lenin [23], và tại Centre d’Archives d’Outre‐Mer tại Aix‐en‐ Provence. Chúng tôi cố gắng nhất trong mức có thể giữ nguyên trạng những sự thực do chúng tôi phát hiện được trong những tàng thư này mà không biến chúng thành một chuỗi các sự kiện rời rạc. Chúng tôi có chỉnh lư những tự chuyện, hồi kư của người Việt và cố gắng so sánh với nguồn tài liệu chính thống của Đảng Cộng sản Việt nam với các tài liệu chúng tôi t́m thấy tại các tàng thư về cùng một sự kiện mỗi khi có thể. Cũng cần chú ư rằng đối với các tài liệu về thời kỳ từ năm 1941 trở về trước trong kho tài liệu của Đảng Cộng sản Việt nam, trừ các hồi kư, và những tài liệu đă được in lại trong Văn Kiện Đảng, Hồ Chí Minh Toàn Tập đều được thu thập đầy đủ từ các tàng thư của Nga và Pháp nói trên (Xem thêm chi tiết tại phần tài liệu tham khảo).



    Photo 003



    Mục đích của nghiên cứu này không phải là để huỷ hoại thanh danh của Hồ Chí Minh, mà chỉ là để làm rơ sự thực những ǵ ông đă làm trong thời kỳ ông làm việc cho Quốc Tế III. Những năm tháng hoạt động bí mật và được cải trang kỹ lưỡng đă đưa ông Hồ trở thành một huyền thoại kiểu Phantomat. Điều đó không có ǵ đáng ngạc nhiên. Sự thực là mặc dù cuộc đời ông trong giai đoạn này đẫy rẫy những sự nguy hiểm, th́ một trong những công việc mà ông cũng thường xuyên phải làm là ngồi gơ thật nhiều các bản báo cáo với mục đích thuyết phục người Nga cung cấp thêm nhiều tiền cho các hoạt động của ông. Ông Hồ thực sự không có cuộc sống của nhà tu hành, Ông có hai mối quan hệ với phụ nữ được chứng minh bằng các tài liệu chúng tôi t́m được trong khoảng thời gian hoạt động mà cuốn sách này đề cập đến [24]. Ông là một sinh vật chính trị phức tạp chứ không phải là một vị thánh. Tài liệu chính thống của Việt nam thường đặt trọng tâm vào tấm gương lănh đạo của ông và thường xem ông như là người khởi nguồn của mọi t́nh huống – ông được khắc hoạ như một nhân vật đạo đức cao cả hàng đầu. Chúng tôi muốn khắc hoạ h́nh ảnh của ông khách quan hơn trong một ngữ cảnh rộng hơn trong đó ông chỉ là một trong số nhiều nhân vật chứ không phải là nhân vật trung tâm duy nhất.
    Last edited by alamit; 11-02-2013 at 08:32 PM.

  10. #40
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    HỒ CHÍ MINH
    NHỮNG NĂM THÁNG CHƯA ĐƯỢC BIẾT ĐẾN (1919‐1941)
    HO CHI MINH: THE MISSING YEARS
    Kỳ 1
    Bà Sophie Quinn-Judge (1)
    Lời dịch giả Diên Vỹ
    P3


    Sự nghiệp của Hồ Chí Minh trong những năm đó đóng vai tṛ một cầu nối giữa Việt Nam và Quốc tế Cộng Sản 3. Nghiên cứu của chúng tôi sẽ làm rơ tiến tŕnh quan hệ này, bắt đầu từ việc Quốc Tế III cố gắng khuyến khích và đỡ đầu các cuộc cách mạng ở các thuộc địa cho đến thời kỳ của cuộc đấu tranh giai cấp quốc tế từ năm 1928 đến 1935, và quay lại pḥng trào giải phóng dân tộc bắt đầu từ đầu những năm của cuộc đại chiến thế giới lần thứ 2.

    Những năm tháng mà ông Hồ có ảnh hưởng nhất chính là những năm tháng của mặt trân dân tộc thống nhất. C̣n trong những năm 1930s ông không có được ảnh hưởng đáng kể và do đó đă tạo điều kiện để những lănh đạo khác như Trần Phú, Hà Huy Tập, Trần Văn Giầu, Lê Hồng Phong, và Nguyễn Văn Cừ chiếm lĩnh sự ảnh huởng. Tất cả các lănh đạo trên, trừ Nguyễn Văn Cừ, đều được học tập và huấn luyện tại Moscow. Đây có lẽ là cách tiếp cận nghiên cứu Top‐ down về ảnh huởng lănh đạo, một xu hướng có phần lỗi thời trong nghiên cứu lịch sử. Nhưng trừ phi chúng ta có đầy đủ tài liệu, bằng chứng về những người và những tư tưởng đă giúp h́nh thành nên chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam thế kỷ 20, mà không cần đến những kiến thức về nguồn gốc kinh tế và nhân chủng học của các cuộc nổi dậy chống thực dân, th́ khung lịch sử của chúng ta chỉ mang tính thuần tuư lư thuyết.

    Để hiểu được mối liên quan giữa các chính sách tại Moscow và những sự kiện ở Việt nam chúng tôi đă phải nghiên cứu lại kỹ lượng các cuộc tranh luận và tài liệu chính yếu trong việc thiết lập các chính sách của Quốc Tế III đối với các nước thuộc địa. Một trong những thứ quan trọng nhất đó là cuộc tranh luận về bản luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin năm 1920, năm Hồ Chí Minh ra nhập Đảng Cộng sản Pháp. Một cuộc tranh luận quan trọng nữa là cuộc tranh luận diễn ra từ năm 1928 đến năm 1929, mà các tài liệu về chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam thường diễn giải sai. Cuộc tranh luận về các chính sách cấp tiến hơn cho phong trào cộng sản quốc tế, thay thế các chiến thuật giành cho các nước thuộc địa mà Lenin đề ra năm 1920. Để phân tích quá tŕnh cấp tiến hoá của phong trào cộng sản tại Việt nam những năm cuối thập niên 20, chúng ta cần xem xét tŕnh tự thời gian mà chính sách của Quốc Tế III chuyển sang “giai cấp‐đấu‐giai cấp” mà thường được gọi là “giai đoạn 3” của chủ nghĩa tư bản sau năm 1918. Trong chương 3, 4, và 5 chúng tôi cũng sẽ phân tích những con đường khác nhau mà những chủ nghĩa cực đoạn kia có thể đă được truyền vào Việt nam. Hơn nữa các sự kiện ở Việt nam được đặt trong một ngữ cảnh rộng hơn đó là ngữ cảnh của toàn bộ Đông Nam Á. Dường như lịch sử ít đề cập đến vai tṛ của Hội Đồng Nam Hoa của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Việt nam trong những năm cuối thập niên 20, mà trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ ra rằng nó đă tồn tại ở Việt Nam và có lẽ đă hoạt động độc lập ngoài tầm kiểm soát của Quốc Tế III.

    Có thể có người sẽ cho rằng, đến thời điểm này đă có thể quét sạch những thứ lịch sử bị chính trị hoá, những tuyên truyền thuần tuư về Hồ Chí Minh. Nhưng thực tế, mọi tài liệu đều có vấn đề riêng của nó và cần được diễn giải cẩn thận. Về khía cạnh tích cực mà nói, các sự kiện được đề cập đến trong các tài liệu của Quốc Tế III, thường được khẳng định và minh hoạ bởi các tài liệu trong tàng thư của Pháp, nhưng để xác định tác giả, nguồn gốc, ngày tháng của các tài liệu trong tàng thư của Quốc Tế III không phải là chuyện dễ dàng. Trong các bản báo cáo gửi về Moscow của ḿnh các lănh đạo của Đảng CS, nhất là Hồ Chí Minh, thường cố gắng tránh không sử dụng tên thật của ḿnh. Đôi khi có thể xác định chính xác ngày viết và ngày nhận của các bản báo cáo tại Moscow nhưng không phải lúc nào cũng xác định được như vậy.

    Một vấn đề khác nữa, không chỉ của riêng Nga, là không phải tất cả các tài liệu đă được bạch hoá. Lấy ví dụ phần tài liệu liên quan đến hoạt động của các bộ phận của Quốc Tế III dưới sự điều khiển của NKVD (lực lượng mật vụ Sô Viết, hậu thân của Cheka) vẫn c̣n đóng kín. Do đó nếu chỉ dựa vào nguồn tài liệu đă bạch hoá ở Moscow, có lẽ c̣n quá sơm để khẳng định rằng mối quan hệ giữa Quốc Tế III và những người cộng sản Việt nam đă được làm sáng tỏ hoàn toàn. Ví dụ cho đến giờ chúng tôi vẫn chưa có đủ cứ liệu về cuộc điều tra của Quốc Tế III về các hoạt động của Hồ Chí Minh ở Trung Quốc cho đến thời điểm ông bị bắt năm 1931. Mặc dù nguồn tài liệu phụ khác cho chúng tôi thấy, Hồ Chí Minh đă bị loại khỏi Đại hội Quốc Tế III năm 1935 và trong khoảng thời gian từ năm 1934‐1938 Ông “gần như không hoạt động chính trị ǵ” trong thời gian sống tại Moscow. V́ vậy ta chỉ có thể phỏng đoán rằng đă có một sự nghi ngờ và điều tra từ phía Quốc Tế III đối với Hồ Chí Minh tại thời điểm này và có lẽ thông tin về cuộc điều tra này có trong các tài liệu c̣n đang chưa được bạch hoá kia. Ngay bản thân Hồ Chí Minh, khi khai báo với Quốc Tế III cũng thường xuyên đưa những thông tin mơ hồ và trái nghịch về chính bản thân ḿnh. Ví dụ khi nhập học tại trường quốc tế Lenin năm 1934, ông đă khai báo kiến thức nghề nghiệp của ḿnh là “không có ǵ”. Hay như năm 1938, ông tự khai lư lịch của ḿnh là sinh năm

    1903, khoảng 10 tuổi trẻ hơn so với tuổi thật của ḿnh [25].

    Việc sử dụng các nguồn tài liệu từ tàng thư của Pháp cũng có thể gây tranh căi. Độ tin cậy trong những nguồn tin và phân tích của lực lượng mật vụ Pháp không có ǵ đảm bảo là chính xác. Hơn nữa các tài liệu tại SPCE được sử dụng ít hơn v́ chúng mới chỉ được bạch hoá vào những năm 90. SPCE chỉ lưu trữ các hồ sơ chủ yếu của Pḥng nh́ liên quan đến các hoạt động của từng nhà cộng sản hay chủ nghĩa dân tộc đơn lẻ. Nguồn tài liệu này lưu trữ những bản cung khai vô giá lấy được của cảnh sát Pháp từ những người Cộng sản bị giam cầm, hoặc các báo cáo của các điệp viên, chỉ điểm của Pháp trong hàng ngũ những người cộng sản.

    Mặc dù những nguồn tài liệu này cần được sử dụng một cách hết sức thận trọng, nhưng trong một số t́nh huống chúng tôi vẫn buộc phải sử dụng các nguồn tài liệu này. Chúng tôi dựa vào những khai báo trung thực đối với cảnh sát Pháp của những người cộng sản từ bỏ hàng ngũ do bất đồng và thường kiểm tra chéo bằng cách so sánh với các lời khai của những người khác về cùng một sự kiện. Điều này đặc biết có lư trong khoảng thời gian từ năm 1930 đến 1931, khi mối bất đồng trong việc lựa chọn chiến lược giữa các lănh đạo Đảng cộng sản lên đến đỉnh điểm. Đối với những điệp viên và chỉ điểm của Pḥng nh́, th́ rất có thể họ phóng đại những thông tin, liên hệ và hiểu biết bên trong của họ nhằm lấy ḷng chủ của họ là Pḥng nh́ Pháp. Mặc dù vậy chúng tôi thường chỉ lựa chọn thông tin cung cấp bởi những người chỉ điểm lâu năm và dường như đă chiếm được niềm tin của Pḥng nh́ Pháp v́ điều đó chứng tỏ tài liệu và thông tin của họ cung cấp chính xác hơn những người chỉ điểm khác.

    Lấy ví dụ, một điệp viên chỉ điểm thành công nhất của Pḥng nh́ Pháp chính là Nguyễn Công Viên hay c̣n được gọi là Lâm Đức Thụ (trong cuốn Wiliam Duiker , Lâm Đức Thụ được mô tả như là một người bạn thân thiết của Nguyễn Ái Quốc, lúc đó là Lư Thuỵ, Lâm Đức Thụ cưới vợ người Hoa, và theo Hoàng Tranh chính là người cùng với vợ giới thiệu Tăng Tuyết Minh làm vợ Lư Thuỵ, Lâm Đức Thụ bị Việt Minh bắn chết năm 1945 tại quê nhà Thái B́nh v́ tội Việt gian – ND), người không chỉ gửi các báo cáo đều đặn đến pḥng nh́ về các hoạt động của Hồ Chí Minh ở Quang Đông từ năm 1925 trở đi mà c̣n thường xuyên gửi các tài liệu và thư gốc. Lấy ví dụ ông ta chuyển cho Pḥng nh́ Pháp gần như toàn bộ các số báo Thanh Niên của Hồ Chí Minh, mà bản dịch hiện vẫn đang được lưu trữ ở tàng thư nói trên. Giá trị của các bản báo cáo này đối với các sử gia là ở chỗ ông Hồ đă cố gắng đấu kín các mối quan hệ với cả phía cộng sản lẫn không cộng sản, mà vào những năm 1950 điều này có thể nguy hiểm cho cả hai bên, nên không được bên nào nhắc tới. Điều đó cho thấy sự trái ngược với cách nh́n nhận thời kỳ chiến tranh lạnh rằng đă có sự chia rẽ sâu sắc giữa các nhà hoạt động cộng sản và phi cộng sản những năm 20 ở Nam Trung Hoa.

    Mặc dù quăng thời gian đề cập đến trong nghiên cứu này nằm ngoài tầm ảnh hưởng của thời kỳ chiến tranh lạnh, nó cũng bị ảnh hưởng bởi quan điểm nh́n nhận diễn giải của thời kỳ phân cực này. Do đó nhất thiết cần phải nắm vững những tập quán của “lịch sử chính tranh lạnh mới” khi xem xét lại thời kỳ đầu trong sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Theo quan điểm của John Lewis Gaddis, có ba điểm cần nhấn mạnh [26]. Đầu tiên cần phải “thấy được đoạn sản phẩm cuả đời sau không phản ánh giai đoạn lịch sử giai đoạn trước”. Chính v́ vậy mà các nguồn tài liệu hiện có về Hồ Chí Minh được chúng tôi xem xét cẩn thận kết hợp với sự nghiên cứu về mức độ kiến thức, hiểu biết trực tiếp của tác giả nguồn tài liệu về các vấn đề đề cập trong tài liệu . Quan điểm thứ hai của Gaddis là phải “ xem xét kỹ lưỡng tầm quan trọng của lư tưởng”. Điều đó buộc chúng tôi phải đặt địa vị của ḿnh vào để hiểu được những ǵ diễn ra trong suy nghĩ của những người chiến đấu chống lại thực dân Pháp, và cố thấu hiểu sức mạnh của những lư tưởng Marxit‐ Leninit trong những năm 20 và 30 của thế kỷ trước. Để có được sự tôn trọng và duy tŕ được quyền lực trong phong trào Quốc tế Cộng Sản, những nhà lănh đạo cộng sản cần phải chứng tỏ họ nắm vững những lư tưởng này như thế nào trước Quốc Tế III.

    Quan điểm thứ ba của Gaddis là phải sử dụng nhiều nguồn tài liệu từ nhiều tàng thư, và chúng tôi đă cố gắng đạt được điều này thông qua việc nghiên cứu các tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh từ các tàng thư ở Nga và ở Pháp. Lẽ dĩ nhiên sẽ c̣n nhiều phát hiện thú vị khác về các hoạt động của Hồ Chí Minh trong giai đoạn này từ các tàng thư của Trung Quốc và Việt Nam khi chúng được bạch hoá đối với các nhà nghiên cứu. Thậm chí ngay cả các tài liệu c̣n chưa được bạch hoá ở Nga, Pháp, Anh, hay Mỹ sẽ có thể cung cấp thêm cho chúng ta những hiểu biết mới về những năm tháng mà Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc. Mặc dù vậy hy vọng rằng tài liệu này cho thấy được giá trị của nguồn tài liệu từ Quốc Tế III và cho thấy được sự ảnh hưởng của những thay đổi trong chính sách diễn ra ở Nga lên các hoạt động của Hồ Chí Minh trong giai đoạn này.

    Chú thích cho chương 0

    1. Thái độ này phần nào là do gán ghép về sự phản bội của Hồ Chí Minh đối với nhà lănh đạo theo chủ nghĩa dân tộc Phan Bội Châu năm 1925. Vấn đề này sẽ được bàn luận trong chương 3.

    2. Tran Ngoc Danh, Tiểu Sử Hồ Chủ Tịch, Paris, chi hội Liên‐Việt tại Pháp, 1949, trang 6.

    3. Trích trong Thai Quang Trung, Collective Leadership and Factionalism, Institute of South East Asia Studies, Singapore, 1985, trang 20.

    4. Nguyen Nghia, Công cuộc hợp nhất các tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt nam và vai tṛ của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử, số tháng 2, năm 1964.

    5. Judith Stowe, “Revisionism in Vietnam”, paper for AAS conference, Washington DC, 03/1998, trích cuộc tṛ chuyện với Hoàng Minh Chính tháng 2 năm 1995, về việc Trường Chinh thú nhận năm 1963 ông Hồ Chí Minh đă bị “vô hiệu hoá”.

    6. Trường Chinh, Hồ Chủ Tịch: Lănh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt nam, Nhà xuất bản sự thật, Hà nội, 1973, trang 66.

    7. Xem ví dụ trong, Pierre Brocheux, Ho Chi Minh, Paris: Presses de Sciences Po, 2000, trang 55‐71.

    8. Jean Lacouture, Ho Chi Minh, Hamondsworth, Penguin, 1968, trang 33.

    9. Branko Lazitch, A Biographical History of the Comintern, Standford, CA: Hoover Institution Press, 1973, trang 378.

    10. William J. Duiker, Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, New York, 2000, trang 102.

    11. Chales B. McLane, Soviet Strategies in South‐East Asia: An Exploration of Eastern Policy under Lenin and Stalin, Princeton University Press, 1966, trang 137.

    12. Chales Fenn, Ho Chi Minh, New York, Chales Scribner’s Sons, 1973, trang 59.

    13. Ton That Thien, Vérités et Mensonges: Le voyage clandestine de Ho Chi Minh en Russie en 1923 et sa disgrâce Au Komintern en 1933‐1939, in Ho Chi Minh: L’homme et son héritage, Paris: La Voie Nouvelle, 1990, trang 51‐52.

    14. Lacouture, sách đă dẫn trang 48.

    15. William J. Duiker, The Communist Road to Power in Vietnam, Boulder, CO: West View Press, 1996, trang 21‐23; Huynh Kim Khanh, Vietnamese Communism 1925‐1945, Ithaca, NY: Cornell University Press, 1968, trang 168‐170.

    16. A.Neuberg, Armed Insurrection, London: NLB, 1970, Dịch bởi Quentin Hoare từ bản tiếng Đức năm 1928 và bản tiếng Pháp năm 1931.

    17. Titerenko, Leunert et al., VKP, Komintern I Kitai (dokumenti), Vol III, 1927‐1931, phần 1), Moscow Russien Center, 1999, trang 35.

    18. Titarenko et al. Tài liệu đă dẫn, trang 572‐574, Letter from Berzin and Sudakov to Shifres.

    19. Tran Dan Tien, Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch, NXB Chính trị Quốc gia, 1994. Việc gán ghép tác giả bản xuất hiện năm 1949 cho Trần Ngọc Danh có ǵ đó không rơ rang. Sự thực Trần Ngọc Danh đă bị trục xuất khỏi Đảng Cộng Sản Đông dương (ICP) năm 1949, có thể sự gán ghép này nhằm làm dịu những thắc mắc bên trong Đảng về tác giả thật của cuốn sách.

    20. Yevgeny Kobelev, Ho Chi Minh, Moscow: Progress, 1989 dịch từ bản tiếng Nga năm 1983.

    21. Hong Ha, Ho Chi Minh v Strane Sovietov (Hồ Chí Minh trên đất nước Sô Viết), Moscow Polit. Literatury, 1986, dịch từ bản tiếng Việt, Hồ Chí Minh trên đất nước Lenin, Hanoi: NXB Thanh niên, 1980.

    22. Xem Nguyen The Anh, ‘How did Ho Chi Minh become a Proletarian? Reality and Legend’, Asian Affairs, Vol. 16, Part II; Thu Trang Gaspa, Ho Chi Minh à Paris (1917‐1923), Paris: L’Mahattan, 1992; and Daniel Hémery, ‘Jeunesse d’un colonisé, genèse d’un exil, etc.’, Approcies Asie, no. 11, 1992.

    23. Trong năm 2001, Tàng thư này được đổi tên thành “Tàng thư quốc gia Nga về lịch sử chính trị xă hội”.

    24. Người phụ nữ thứ nhất là “Tuyết Minh”, một cô gái sinh viên hộ lư người Quảng Châu, người bắt đầu cuộc sống vợ chồng với Hồ Chí Minh từ tháng 10 năm 1926. Bà không được đề cập đến trong chương 3 của cuốn sách này v́ mối quan hệ đă chấm dứt ngay khi Hồ Chí Minh trốn khỏi Trung Quốc năm 1927. (Xem AOM, SPCE 367, Renseignements fournis par Lesquendieu au sujet de Tuyet Minh, femme chinoise, maitresse de Nguyen Ai Quoc, Hanoi,

    28/10/1931). Người phụ nữ thứ 2 là Nguyễn Thị Minh Khai, có tầm quan trọng chính trị lớn hơn người trước (xem chương 5,6, và 7).

    25. Các form khai báo hồ sơ nhân sự của ông có tại RC, 496 201/1. Năm sinh khả dĩ nhất của ông là vào khoảng năm 1892 hoặc 1893 theo lời khai của chị ông (bà Thanh) với cảnh sát Pháp năm 1920 (SPCE 364 Note conf. 711, Hue, 7/05/1920). C̣n theo nguồn chính thống của Hà Nội th́ ông sinh năm 1890.

    26. John Lewis Gaddis, We know how: rethinking cold war history, Oxford Clarendon Press, 1997; đặc biệt chương cuối: “The New Cold War History”



    CHƯƠNG 1:

    SỰ XUẤT HIỆN CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

    1919: Con đường đến hội nghị hoà b́nh Paris

    Mùa hè năm 1919, mật vụ Pháp bắt đầu liên tục gửi yêu cầu tới chính quyền bảo hộ tại Hà nội yêu cầu cung cấp thông tin khẩn cấp [1]. Một nhà hoạt động chính trị bí ẩn mới xuất hiện ở Paris, chỉ 4 năm sau khi nước Pháp bước vào cuộc chiến nặng nề (chiến tranh thế giới lần thứ nhất – ND). Anh dường như có rất nhiều mối quan hệ với nhiều người trong cái cộng đồng người Việt Nam tạp nham tại Pháp thời điểm đó – bao gồm cả trí thức, công nhân, và binh lính bị bắt sang phục vụ mẫu quốc trong thời kỳ chiến tranh. Hầu như không có ai biết anh là ai và từ đâu đến, một con người hoàn toàn bí ẩn. Tên của anh không có trong hồ sơ lưu trữ về cư trú từ Đông Dương. Trong thời gian chờ đợi tin tức gửi từ phía Pḥng Nh́ tại Đông Dương, Bộ thuộc địa đă phải gấp rút cử một nhân viên điều tra về con người bí ẩn này, một nhân vật mới xuất hiện trên chính trường Paris.

    Anh thường kư tên ḿnh “Nguyễn Ái Quốc” (Nguyễn, người yêu nước) với vị trí là “đại diện cho nhóm những người Việt nam yêu nước”. Anh hành xử với một phong thái thật tự nhiên, mạnh dạn liên hệ trực tiếp với các nghị sỹ, các phái đoàn đến dự hội nghị hoà b́nh Paris và các chủ báo. Thậm chí tháng 9 năm 1919 anh c̣n trực tiếp liên hệ với Albert Sarrault, toàn quyền Pháp tại Đông Dương mới trở về nước sau khi hết hạn nhiệm kỳ [2]. Thông điệp mà anh mang đến gây sốc đối với các nhà chức trách Pháp. Anh trực tiếp gửi thư thỉnh cầu với tựa đề “Yêu sách của nhân dân An Nam” tới các đại biểu tham gia hội nghị hoà b́nh quốc tế tại Paris, một diễn đàn chính trị mà ở đó 27 đoàn đại biểu họp để cùng nhau lập ra một trật tự thế giới mới sau cuộc đại chiến lần thứ nhất. Mặc dù thực sự lúc đó ít có đại biểu nào ngoài những người Pháp biết được Việt Nam nằm ở đâu trên bản đồ thế giới, nhưng cũng có một số đoàn đại biểu đă bỏ thời gian để thông báo cho anh về việc họ đă nhận được thỉnh nguyện thư này. Đáng chú ư là lá thư phúc đáp viết rất lịch sự và trang trọng của Đại tá House đại diện cho tổng thống Mỹ Wilson gửi, cũng như một lá thư phúc đáp khác được gửi bởi của một nhà ngoại giao Nicaragoa [3]. Hội nghị hoà b́nh đă thu hút được sự tham gia của nhiều nhà hoạt động chính trị trên thế giới, từ Ireland đến Triều Tiên, tất cả đều bày tỏ mong muốn cho sự độc lập của quốc gia ḿnh. Mặc dù đứng trên quan điểm của người Pháp, chuyện đ̣i độc lập của Việt Nam tại thời điểm đó là không tưởng, nhưng đối với những người Việt nam yêu nước, th́ đó có thể là cơ hội để có sự thay đổi. Các đế chế Nga và Phổ đă suy yếu, c̣n tổng thống Mỹ Wilson đă hứa sẽ chấm dứt t́nh trạng ngoại giao trong bí mật, trong đó những nhà quư tộc hay chính trị gia trong hoàng gia hay chính phủ các nước Châu Âu có thể tự quyết định từ xa số phận của hàng triệu người dân các nước thuộc địa.

    Bản yêu sách của người dân Việt Nam kêu gọi các cường quốc chiến thắng trong đại chiến thế giới lần thứ nhất hăy giữ đúng lời hứa của họ về về một kỷ nguyên mới của “luật lệ và công bằng” cho những người dân thuộc địa. Bản yêu sách này cũng xuất hiện trong một bài báo ngắn trên trang 3 của tờ báo theo xu hướng dân chủ xă hội L’Humanité, ngày 18 tháng 6 năm 1919. Một bản báo cáo với những đ̣i hỏi về dân chủ và nhân quyền rất vừa phải. Đó là những đ̣i hỏi về:

    1) Trả tự do cho tất cả những tù nhân chính trị trong nước.

    2) Cải tổ lại hệ thống pháp luật để người dân Đông Dương được b́nh đẳng trước Pháp luật như đối với người Châu Âu.

    3) Tự do ngôn luận và tự do báo chí.

    4) Tự do lập hội.

    5) Tự do di cư và ra nước ngoài cư trú.

    6) Tự do mở các trường dạy kỹ thuật và dạy nghề tại các tỉnh giành cho dân bản xứ.

    7) Thay thế luật cai trị bằng pháp trị.

    8) Đề nghị có dân biểu do dân Việt Nam bầu ra trong nghị viện Pháp để có thể nói lên những nguyện vọng và mong muốn của nhân dân bản xứ.

    Bản yêu sách này được kư: “Đại diện cho nhóm người Việt yêu nước, Nguyễn Ái Quốc”.

    Tuy nhiên vào thời điểm đó giới cầm quyền tại Pháp không hề có ư định buông lỏng quyền lực kiểm soát thuộc địa cũng như mạng sống của người dân thuộc địa tại bất cứ đâu cho dù đó là người Algeria, Campuchia hay Việt Nam. Nước Pháp vừa bước ra khỏi một cuộc chiến mà miền bắc của họ đă bị tàn phá nặng nề, mà tài nguyên ở các nước thuộc địa có vai tṛ rất quan trọng đối với việc phát triển và khôi phục kinh tế Pháp sau chiến tranh. Vậy nên chính quyền Pháp cảm thấy sốc trước sự xuất hiện và bản yêu sách của một người dân thuộc địa, bất ngờ xuất hiện trong cuộc họp của những người chiến thắng, và lẽ tự nhiên chính phủ Pháp không đáp ứng lại bản yêu sách này mà xem nó như một hành động đ̣i lật đổ chính quyền thuộc địa. Họ công khai trên phương tiện truyền thông nhà nước xem bản yêu sách kia là một sự ʺbáng bổʺ [4]. Trong hồ sơ hải ngoại Pháp (French Oversea Archives), nhiều tài liệu cho thấy chính quyền Pháp đă gần như ngay lập tức t́m cách phát hiện ra nơi cư trú của Nguyễn Ái Quốc và cử người theo dơi anh suốt thời gian ở Paris năm 1919 và cả sau này cho đến năm 1923. Đáp lại chiến dịch kêu gọi nhân quyền cho người Việt tháng 6 năm 1919, bộ phận quản lư binh lính người Việt tại Pháp thành lập bộ phận Service de Renseignerment (SR) dưới sự chỉ huy của Pierre Arnoux [5]. Chỉ điểm của SR trà trộn vào nhóm bạn bè người quen của Nguyễn Ái Quốc, ghi lại và báo cáo về các buổi nói chuyện của anh [6]. Họ thu thập các bài báo, thư từ mà anh định gửi về Việt Nam, việc làm của họ như thể cho anh thấy rằng cách thức duy nhất có thể chống lại chính quyền bảo hộ là hoạt động bí mật.

    Vào mùa thu năm 1919, thông tin t́nh báo thu thập được đă cho phép chính quyền Pháp xây dựng được bức chân dung ban đầu về người Việt bí ẩn kia:

    "Nguyễn Ái Quốc tự nhận ḿnh sinh ra ở Nam Đàn, Nghệ An, hiện đang ở cùng Phan Văn Trường, dường như đă học ở Anh và sống ở đó khoảng 10 năm, điều hành một nhóm người Việt yêu nước không được thừa nhận, dường như anh ta đă thay thế Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường trong vai tṛ này. Hăy cho biết những thông tin mà các ngài cần biết, cần thu thập về con người này" [7].

    Một chỉ điểm người Việt khác có bí danh là “Edouard” cung cấp thông tin tên thật của Quốc là Nguyễn Văn Thành, gần đúng so với tên mà cha của Quốc gọi anh lúc trưởng thành Nguyễn Tất Thành (Nguyễn ‐ người sẽ thành công). Phần lớn những thông tin c̣n lại cung cấp bởi Edouard đều sai lệch (có lẽ là do chính Quốc cung cấp) trong đó cho biết Quốc quê ở Đà Nẵng và hiện đang sống nhờ vào tiền trợ cấp từ gia đ́nh khá giả của anh [8]. Đến tháng 12 năm 1919, mật vụ Pháp đă thường xuyên qua lại và theo dơi mọi hành động tại số 6 Villa des Goblins. Đó là một khu nhà yên tĩnh nằm trong một ngơ cụt ở phía đông nam Paris, nơi có một anh thanh niên tự xưng là Quốc ở cùng với luật sư Phan Văn Trường và nhà sĩ phu bị lưu đầy Phan Chu Trinh.



    Photo 004



    Đối với những người Việt yêu nước chống đế quốc, hai trí thức họ Phan là những người nổi tiếng đáng kính trọng, thậm chí đối với Phan Chu Trinh là sự tôn thờ. Phan Văn Trường từng bị bắt vào thời kỳ đầu xảy ra chiến tranh năm 1914 v́ bị buộc tội là đă hỗ trợ và hợp tác với pḥng trào đấu tranh khởi nghĩa chống lại thực dân Pháp tại Đông Dương. Phan Chu Trinh cũng bị nghi ngờ là đă tham dự vào các kế hoạch nổi loạn ở Đông Dương nói trên và đă liên lạc với người Đức. Chính v́ lư do đó mà Phan Chu Trinh từng bị câu lưu tại nhà tù Cherche‐Midi tại trung tâm Paris. Mặc dù vậy những lời buộc tội hai nhà trí thức này đă bị dỡ bỏ chỉ sau 1 năm khi nhân chứng chính yếu người Việt bị tâm thần và không thể làm chứng trước toà [9]. Thế nhưng chính quyền Pháp vẫn nghi rằng họ có tội [10]. Đối với Phan Văn Trường, sự nghi ngờ này có thể xuất phát từ truyền thống phản kháng nổi loạn của gia đ́nh ông. Hai người anh em của ông đă bị kết tội lưu đầy và lao động khổ sai v́ đă tham gia vụ đánh bom làm chết hai sỹ quan chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Kỳ (một trong rất nhiều vụ đánh bom được thực hiện bởi những người theo Phan Bội Châu, lúc bấy giờ đang lưu vong ở nước ngoài). Chuyến đi năm 1913 của Phan Văn Trường sang Anh để gặp Joseph Thanh, một phái viên của hoàng tử Cường Để, càng làm tăng sự nghi ngờ này [11]. Phía Pháp cũng rất ngại sự hiểu biết và thông tuệ của Phan Văn Trường, một người được đào tạo làm phiên dịch tại Hà Nội, nhờ những năm tháng học luật tại Paris đă trở thành người có khả năng tranh luận chính trị hết sức sắc sảo và nhạy bén.

    Bản thân Phan Chu Trinh đến Pháp năm 1911 sau khi được ân xá khỏi nhà tù v́ đă tham gia vào việc ủng hộ và khuyến khích phong trào đấu tranh đ̣i giảm sưu thuế của nông dân trung kỳ năm 1908. Trong năm đầu ở Paris, công việc chủ yếu của Phan Chu Trinh là đấu tranh nhằm buộc chính phủ thuộc địa Pháp phải trả lại tự do cho các đồng chí của ḿnh. Bài viết “Toàn cảnh cuộc nổi dậy của nông dân trung kỳ” lên án sự đàn áp nặng nề của thực dân Pháp đối với những người nông dân tham gia đấu tranh đ̣i giảm sưu thuế đă được dịch sang tiếng pháp bởi Jules Roux (một nhà hoạt động xă hội theo hướng dân chủ xă hội, người đă can thiệp và đại diện cho Phan Chu Trinh lúc ông bị bắt vào tù) [12]. Chính phủ Pháp lo sợ ảnh hưởng của Phan Chu Trinh tới các sinh viên Việt Nam tại Paris thời trước chiến tranh và cố gắng cô lập ông khỏi những nhà hoạt động cách mạng người Á khác đang tập hợp tại khu phố Latin [13]. Mặc dù vậy những cố gắng của chính quyền Pháp không mang lại thành công nào. Năm 1912, Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường đă thiết lập được một câu lạc bộ người Việt thường tụ tập nhau tại các quán Cafe hay quán ăn Tầu tại Montparnasse, nơi họ không chỉ nói những chuyện thông thường của cuộc sống tha hương, Trinh luôn cho rằng ḿnh không dính dáng ǵ đến các âm mưu chống lại thực dân Pháp của Phan Bội Châu và hoàng tử Cường Để. Để chứng minh sự trong sạch của ḿnh thậm chí Trinh c̣n gửi cho bộ thuộc địa một lá thư của hoàng tử Cường Để gửi cho ông năm 1913 [14]. Những lời chứng chống lại ông có thể là do chính quyền quân sự thêu dệt nên. Nhưng chính người phiên dịch cho ông vào năm 1915 đă khai rằng “Phan Chu Trinh nhận tiền trực tiếp từ Đức của chính phủ Đức thông qua hai phái viên của hoàng tử Cường Để là Trương Duy Toàn và Đỗ Văn Ư” [15]. Người chỉ điểm cũng cho biết trong trường hợp xảy ra nổi loạn tại Việt nam chính phủ Đức hứa sẽ cấp thêm tiền thông qua người của họ ở Trung Quốc. Quan điểm xem Phan Chu Trinh là một người vận động bằng lời nói và bài viết hơn là người tham gia tổ chức các kế hoạch nổi dậy trên có lẽ là quan điểm gần với sự thật nhất. Người cầm đầu nhóm điều hành Đông dương (mà Phan Chu Trinh là một thành viên) đă viết như sau lên cấp trên của ḿnh: ”Nếu có một người sinh viên hay học sinh trẻ tuổi người Đông Dương, th́ đối với anh ta Phan Chu Trinh là người chỉ biết dùng lời nói để đấu tranh chứ không phải là hành động, nhất là khi nếu người sinh viên hay học sinh trẻ tuổi này có mối liên hệ với những người Trung Quốc, Nhật... Ấn Độ, những kẻ tín đồ của các phương thức đấu tranh cực đoan hơn” [16].
    Last edited by alamit; 11-02-2013 at 08:32 PM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Vụ án “buôn vua” Việt Nam - Hồ Chí Minh - Phần 1
    By alamit in forum Quân Sử Việt Nam Cộng Ḥa
    Replies: 3
    Last Post: 08-08-2012, 10:27 AM
  2. Hồ Chí Minh & vụ bán cụ Phan Bội Châu cho Pháp
    By Thương Dân in forum Hồ Chí Minh
    Replies: 0
    Last Post: 21-02-2011, 03:31 PM
  3. Replies: 22
    Last Post: 05-02-2011, 04:45 AM
  4. Replies: 4
    Last Post: 15-11-2010, 01:28 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •