Results 1 to 5 of 5

Thread: “Chiến tranh của Hà nội" “Hanoi's War- An International History of the War for Peace in Vietnam”

  1. #1
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    “Chiến tranh của Hà nội" “Hanoi's War- An International History of the War for Peace in Vietnam”

    “Chiến tranh của Hà nội"
    “Hanoi's War- An International History of the War for Peace in Vietnam”
    Phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Liên Hằng, tác giả của 'Hanoi's War'


    Hoài Hương-VOA

    11.01.2013
    Thưa quư vị, mặc dù không thiếu những cuốn sách phân tích chiến tranh Việt Nam - phần lớn từ quan điểm của ngướ Mỹ, ít có quyển nào đặt cuộc chiến trong bối cảnh quốc tế của nó và tŕnh bày quan điểm của tất cả các bên can dự, không những của Hà Nội và Việt Nam Cộng ḥa, mà c̣n của Nga, Trung Quốc, và dĩ nhiên, của người Mỹ. Tác giả quyển “Hanoi's War- Chiến tranh của Hà nội” xuất bản vào tháng Bảy năm 2012, là một giáo sư môn Sử của Trường Đại học Kentucky, xuất thân từ một gia đ́nh người Việt tỵ nạn đă di tản vào giờ thứ 25 của cuộc chiến, một ngày trước khi Sài G̣n thất thủ. Ngoài các tài liệu thu thập từ các văn khố quốc gia của nhiều nước, cuốn “Hanoi's War” của Giaó sư Nguyễn thị Liên Hằng độc đáo ở chỗ nó dựa trên một số tài liệu chưa từng được khai thác từ văn khố của Bộ Ngoại giao Việt Nam ở Hà Nội. Câu Chuyện Việt Nam do Hoài Hương phụ trách, tuần này xin gửi đến quư vị một số chi tiết về cuốn sách sử này, qua những chia sẻ của tác giả Nguyễn thị Liên Hằng trong cuộc phỏng vấn dành cho phóng viên Stevenson của đài VOA mới đây và trong bài nói chuyện tại Lễ Hội Sách năm 2012. Mời quư vị theo dơi.

    Quyển “Hanoi's War- An International History of the War for Peace in Vietnam,” xin tạm dịch là “Chiến tranh của Hà nội – Lịch sử Quốc tế của cuộc chiến cho Ḥa B́nh ở Việt Nam” đă được trao Giải Edward M. Coffman 2012, một giải thưởng có uy tín được đặt tên theo một nhà sử học quân đội nổi tiếng người Mỹ. Trong khi đa số các sử gia tập trung nghiên cứu các lư do nguyên thủy dẫn tới sự can thiệp của Hoa Kỳ và tiến tŕnh Mỹ hóa chiến tranh Việt Nam, sử gia Liên Hằng xem xét bối cảnh quốc tế của cuộc chiến, cách giới lănh đạo miền Bắc theo đuổi chiến tranh, và thời điểm kết thúc sự can thiệp của người Mỹ. Tác giả đưa người đọc từ Lưu vực Sông Mekong tới Lưu vực Sông Hồng, đề cập tới mục tiêu của chiến dịch rải bom của người Mỹ vào cao điểm của cuộc tranh chấp, đi ngang qua các hành lang quyền lực tại Hà Nội và Sài G̣n cũng như tại Ṭa Bạch Ốc thời đó nằm dưới quyền Tổng Thống Richard Nixon.

    Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Đài VOA, Giáo sư Nguyễn thị Liên Hằng nói về một số những những nhận thức sai lầm về chiến tranh Việt Nam. Một trong những nhận thức sai lầm lớn nhất là về vai tṛ của ông Hồ Chí Minh. Theo Giáo sư Hằng, trên thực tế ông Hồ Chí Minh chỉ đóng vai tṛ biểu tượng trong khi ông Lê Duẩn mới là nhân vật ngự trị trên Đảng Cộng sản Việt Nam, và là kiến trúc sư, chiến lược gia cũng như người lănh đạo các nỗ lực chiến tranh của miền Bắc.

    Giáo sư Liên Hằng nói:

    “Khi bắt đầu cuộc nghiên cứu, tôi lấy làm sửng sốt về những ǵ mà tôi khám phá được, những điều chúng ta vẫn chấp nhận là sự thực khi được học về chiến tranh Việt Nam trên đất Mỹ…Tôi phát hiện ra rằng có nhiều điều hoàn toàn sai sự thực. Chẳng hạn, một điều đơn giản là từ hồi nào tới giờ, tôi được học rằng ông Hồ Chí Minh là người lănh đạo Bắc Việt Nam, rằng ông là vị lănh tụ hướng dẫn cuộc cách mạng và là người làm quyết định… nhưng trong quá tŕnh nghiên cứu, tôi nhận ra rằng trên thực tế, người làm các quyết định quan trọng, lănh đạo miền Bắc là một nhân vật khác ít tiếng tăm hơn trên trường quốc tế, đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Lê Duẩn. Tôi có thể lập luận rằng chính ông Lê Duẩn mới là người lănh đạo miền Bắc.”

    Vẫn theo Giáo sư Liên Hằng th́ cùng với cánh tay mặt của ông, là ông Lê Đức Thọ, ông Lê Duẩn cai trị chế độ miền Bắc với một bàn tay sắt, và coi ông HCM và Đại tướng Vơ Nguyên Giáp, một người hùng cách mạng khác, là những đối thủ, là mối đe dọa lớn nhất đối với quyền hạn của ông ở Hà Nội.

    Chính ông Lê Duẩn đă gạt ông Hồ Chí Minh và Tướng Giáp cùng với các ủng hộ viên sang một bên, trong khi làm hầu hết các quyết định quan trọng nhất trong cuộc chiến.

    Giáo sư Liên Hằng đơn cử hai trường hợp, thứ nhất trong những năm 1963-64, ông Lê Duẩn đă dùng thủ đoạn hăm dọa ông Hồ Chí Minh phải giữ im lặng, khi ông chống đối quyết định leo thang chiến tranh để giành toàn thắng trước khi lực lượng quân sự Mỹ có thể can thiệp. Và trường hợp thứ nh́, vào năm 1967-68, khi ông Hồ và Tướng Giáp cùng các đồng minh chống đối kế hoạch của ông Lê Duẩn tiến hành cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân.

    Một nhận thức sai lầm khác là Đảng Cộng sản Việt Nam được sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân Việt Nam cho tới khi chiến tranh kết thúc hồi năm 1975. Giáo sư Hằng nói rằng những chứng cớ mới cho thấy là một lần nữa, đây cũng là một “huyền thoại”:

    “Đó cũng là một điều không đúng sự thực. Tôi đă phát hiện là có nhiều quan điểm bất đồng với Đảng Cộng sản và cách họ tiến hành chiến tranh Việt Nam.”

    Giáo sư Liên Hằng nói một điểm khác cũng làm bà ngạc nhiên là ư kiến cho rằng các nỗ lực chiến tranh của cộng sản Việt Nam đă chiếm được con tim và khối óc của dân miền Nam, và thắng lợi trên mặt trận chính trị là thắng lợi lớn nhất của Cộng sản Việt Nam đối với người Mỹ. Bà nói:

    “Trên thực tế qua nghiên cứu tôi thấy rằng thắng lợi lớn nhất của cộng sản miền Bắc là thắng lợi trên mặt trận ngoại giao trên trường quốc tế… Tới những năm 1973-75, th́ Hà Nội đă thắng cuộc chiến tranh chính trị cho nên người ta hiểu rằng cộng sản miền Bắc đă đánh bại cường quốc lớn nhất thế giới lúc đó, là Hoa Kỳ, thực sự bằng cách dành được thắng lợi trên sân khấu ngoại giao.”

    Về cơ duyên nào đă cho phép bà được sử dụng các tài liệu từ văn khố của Bộ Ngoại giao ở Hà nội, Giáo sư Liên Hằng nói:

    “Tôi có mặt đúng chỗ, đúng lúc. Khi tôi bắt đầu cuộc nghiên cứu trong những năm cuối của thập niên 1990, về cơ bản lúc đó cả 3 văn khố chủ yếu của Việt Nam là văn khố của Đảng Cộng Sản, văn khố của quân đội, và văn khố của Bộ Ngoại giao đều cấm, không cho học giả tham khảo, dù là người nước ngoài hay người Việt Nam. Chỉ có các giới chức làm việc trong các bộ liên hệ mới được tham khảo tài liệu, nhưng tới những năm 2000 th́ đă có một số thay đổi về chính sách đối với người Việt hải ngoại. Việt Nam mở cửa rộng hơn để đón các học giả từ các cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Họ muốn thu hút Việt Kiều, và tôi đă nắm ngay lấy cơ hội.”

    Theo Giáo sư Liên Hằng th́ bà cũng gặp thuận lợi nhờ giới hữu trách Việt Nam đánh giá thấp công tŕnh và khả năng nghiên cứu của bà về chiến tranh, một đề tài hóc búa mà họ nghĩ thường dành cho phái nam hơn là phụ nữ, mà lại là phụ nữ Mỹ gốc Việt lớn lên và sống ở hải ngoại.

    Giáo sư Liên Hằng nói sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Liên Xô cũng đóng một vai tṛ quan trọng và ảnh hưởng tới cục diện của chiến tranh Việt Nam. Theo bà, chủ nghĩa cực đoan mới xuất hiện tại Trung Quốc thời đó, và sự thiếu cam kết của Liên Xô đối với các cuộc cách mạng trong thế giới thứ Ba đă cho phép ông Lê Duẩn ngả xa hơn về phía Trung Quốc, để xúc tiến chiến tranh toàn diện ở miền Nam vào những năm đầu 1960. Và giữa lúc Hoa Kỳ tăng sự hiện diện ở miền Nam hồi năm 1965 như một phản ứng trước chiến lược của Lê Duẩn, viện trợ từ Nga đă đổ vào miền Bắc Việt Nam. Giáo sư Liên Hằng nói sự cạnh tranh giữa hai nước đàn anh cộng sản để tăng ảnh hưởng tại Hà nội lên tới cao điểm vào năm 1968.

    Thưa quư vị, vừa rồi là một số chi tiết về Quyển “Hanoi's War- An International History of the War for Peace in Vietnam”- “Chiến tranh của Hà nội – Lịch sử Quốc tế của cuộc chiến cho Ḥa B́nh ở Việt Nam”. Tác giả là một sử gia trẻ tuổi đang dạy môn Sử tại Trường Đại Học Kentucky của Hoa Kỳ. Giaó sư Nguyễn thị Liên Hằng di tản khỏi Việt Nam với gia đ́nh vào lúc mới được 5 tháng tuổi.

  2. #2
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Cuộc chiến của Hà Nội'

    Nhà báo tự do Bùi Văn Phú

    Gửi cho BBC Tiếng Việt từ San Jose
    Cuộc chiến tranh của Hà Nội

    Chiến tranh tại Việt Nam, từ 1955 đến 1975, được gọi là “Vietnam War” qua cách nh́n của những nhà làm chính sách Hoa Kỳ v́ nó diễn ra trên mảnh đất mang tên Việt Nam. Trong nhăn quan của lănh đạo Hà Nội, đó là “American War” v́ do người Mỹ gây nên.

    Mới đây, có tác phẩm mang tên Hanoi’s War của Tiến sĩ Nguyễn Thị Liên-Hằng, là một cách nh́n khác về cuộc chiến.

    Như tên gọi của sách, “Cuộc chiến của Hà Nội”, đó là chiến tranh do Hà Nội chủ động, từ khởi xướng vào những năm cuối thập niên 1950 cho đến lúc thành công vào tháng 4-1975.

    Hanoi’s War đưa ra tầm nh́n từ Washington, Hà Nội, Moscow và Bắc Kinh và có tiểu tựa: An International History of the War for Peace in Vietnam, v́ thế sách c̣n là ghi nhận lịch sử quốc tế về cuộc chiến cho hoà b́nh ở Việt Nam trong bối cảnh của Chiến tranh Lạnh, của xung đột Trung-Xô.

    Theo tác giả, chiến tranh ở Việt Nam trong 20 năm không chỉ có Hoa Kỳ, Liên bang Xô Viết, Trung Quốc là những đại cường quốc và Bắc Việt, tức Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là những quốc gia với can hệ chính, mà cuộc chiến c̣n có cả hai phía miền Nam là Việt Nam Cộng hoà và Mặt trận Giải phóng miền Nam, v́ lănh đạo của họ cũng là những nhân tố trong các nỗ lực chuyển hướng chiến tranh hay t́m kiếm hoà b́nh.

    Trong ba thành phần người Việt, dù sự can dự của Việt Nam Cộng hoà và Mặt trận Giải phóng miền Nam có những lúc làm cục diện chiến tranh hay diễn tiến hoà đàm thay đổi, nhưng Hà Nội vẫn đóng vai chủ động trong các công tác tiến hành chiến tranh hoặc đến bàn hội nghị.

    Nhân vật chính trong Hanoi’s War không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lănh đạo miền Bắc trong nhiều thập niên, từ thời chống Pháp, qua cuộc chiến tranh chống Mỹ cho đến lúc ông từ trần ngày 2-9-1969. Cũng không phải là Đại tướng Vơ Nguyên Giáp, anh hùng Điện Biên và là thân tín của Hồ Chí Minh.

    Dù trên diễn đàn quốc tế, hai nhân vật trên đă được rất nhiều nhà nghiên cứu chính trị và các nhà sử học viết đến nhiều nhất.
    'Thống nhất miền Nam bằng bạo lực'

    Hanoi’s War đưa ra hai nhân vật chính là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Quan trọng hơn cả là Lê Duẩn.

    Mở đầu tác giả ghi lại h́nh ảnh Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chia tay nhau bên ḍng sông Ông Đốc ở Cà Mau vào một ngày đầu năm 1955.

    Đó là thời gian thi hành Hiệp định Geneve 1954 tạm chia đôi nước Việt ở vĩ tuyến 17, cho phép tự do di dân giữa hai miền trong ṿng 300 ngày.

    Lê Duẩn ở lại miền Nam, Lê Đức Thọ xuống tàu tập kết ra Bắc để rồi trong suốt chiều dài cuộc chiến hai nhân vật này đă trở thành trọng điểm của sách.

    Vài năm ở miền Nam, Lê Duẩn lập ra Trung ương Cục miền Nam và đưa người của ḿnh như Phạm Hùng, Vơ Văn Kiệt vào nắm giữ những vai tṛ then chốt để điều hành cuộc chiến tại miền Nam trong tương lai.

    Trở lại miền bắc, cùng với Lê Đức Thọ, ngay từ năm 1958 Lê Duẩn đă chủ trương phải thống nhất miền Nam bằng bạo lực. Nghị quyết 15 của Đảng Lao động Việt Nam, danh xưng của Đảng Cộng sản Việt Nam thời bấy giờ, phản ánh chủ trương này.

    Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chọn con đường Mác-Lê để tiến hành chiến tranh giành độc lập và nhất quyết không hoà hoăn, không chủ trương sống chung hoà b́nh. Những ai trong nội bộ đảng không theo đường lối này đều bị loại trừ khỏi vai tṛ quyền lực.

    Tác giả nêu dẫn chứng vụ án xét lại chống đảng với Hoàng Minh Chính từ năm 1963 và nhiều người bị tù trong cuộc thanh trừng lớn nhất trong nội bộ đảng vào năm 1967.

    Để tiến hành chiến tranh, sau Đại hội Đảng kỳ 3, từ năm 1960 lănh đạo đă biến miền Bắc thành một xă hội công an trị với hàng vạn người bị bắt v́ “nguy hiểm đến an ninh, trật tự xă hội”.

    Vụ án “Nhạc vàng” năm 1971 là một thí dụ khác. Chính quyền Hà Nội cho rằng đang có âm mưu “diễn biến hoà b́nh” do Mỹ chủ trương để gây chia rẽ nội bộ đảng về chính sách chống Mỹ cứu nước.

    Dựa vào nguồn tài liệu phong phú từ nhiều nơi, đặc biệt là những văn khố ở Việt Nam mở ra cho giới nghiên cứu gần đây, tuy kho lưu trữ của đảng và Bộ chính trị vẫn c̣n đóng kín, và những tiếp xúc, phỏng vấn của tác giả với người Việt liên quan, cùng nguồn tài liệu Việt ngữ tác giả có khả năng tiếp cận, Hanoi’s War đưa ra h́nh ảnh rất rơ là Lê Duẩn kiên quyết chủ trương “Tổng tấn công, Tổng khởi nghĩa” để chiếm miền Nam.

    Giải pháp trung lập miền Nam cũng không được chấp nhận. Chiến tranh du kích để bảo toàn lực lượng của Tướng Vơ Nguyên Giáp không được tán thành.

    Hồ Chí Minh là Chủ tịch, Lê Duẩn tuy là Bí thư thứ Nhất của đảng nhưng đă qua mặt và nắm trọn quyền hành.
    Chiến tranh toàn diện

    Dù tổng tấn công nhiều lần thất bại trong các năm 1964, Mậu Thân 1968 hay Xuân-Hè 1972 nhưng Lê Duẩn không từ bỏ chủ trương tiến hành chiến tranh toàn diện.

    Tác giả ghi nhận những sự kiện và phân tích các quyết định dẫn đến chiến tranh qua các cuộc tổng tấn công vào miền Nam, về chính sách “Vừa đàm vừa đánh” đưa đến bản Hiệp định Ba Lê văn hồi hoà b́nh cho Việt Nam - một hiệp ước không đ̣i hỏi bộ đội cộng sản miền Bắc rút về mà Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đă cực lực phản đối.

    Bản hiệp định được kư kết ngày 27-1-1973 sau 5 năm thương thảo với Lê Đức Thọ, nhà ngoại giao có chủ trương phải kiên tŕ v́ tin rằng người Mỹ sẽ phải bỏ cuộc.

    Đúng là người Mỹ cuối cùng đă nhượng bộ Hà Nội để bộ đội miền Bắc tiếp tục ở lại miền Nam. Bản hiệp định chỉ là cách để cho người Mỹ rút lui, hay phủi tay, trong danh dự.

    Chính quyền Sài G̣n sụp đổ ngày 30-4-1975 trước sức tấn công bằng vũ lực của bộ đội cộng sản miền Bắc, như Lê Duẩn đă chủ trương trong suốt chiều dài cuộc chiến và cuối cùng đă đi đến thành công.

    Hanoi’s War c̣n là một cái nh́n khác hơn với những ǵ giới lănh đạo Việt Nam thường đưa ra trước đây về sự nhất trí trong những quyết định đi đến chiến tranh.

    Sách vẽ lên chân dung Lê Duẩn như là một lănh đạo Việt Nam với hai mươi năm kiên quyết chủ trương chiến tranh “Tổng tấn công, Tổng khởi nghĩa”.

    Nhưng không phải v́ thế mà cơ hội cho hoà b́nh, phát triển và chờ ngày thống nhất của hai miền Việt Nam đă không được đưa ra.

    Những cơ hội như thế đă được xướng lên và đă có những nhân vật trong giới lănh đạo Hà Nội ủng hộ, nhưng bị Lê Duẩn không những gạt đi mà c̣n bỏ tù những ai muốn theo chính sách “Bắc trước, Nam sau” – xây dựng xă hội chủ nghĩa miền Bắc trước, chuyện miền Nam tính sau – hay có tư tưởng “hoà hoăn”, theo phe “xét lại”.

    Sau chiến thắng 30-4-1975, cũng dưới sự lănh đạo của Lê Duẩn, Việt Nam lại phải trải qua những cuộc chiến tranh khác, từ phía tây với Kampuchia lên phía bắc với Trung Quốc.

    Khi Lê Duẩn qua đời, ngày 15-7-1986 hàng trăm ngh́n cư dân Hà Nội đă đứng dọc bên đường từ Quảng trường Ba Đ́nh đến nghĩa trang Mai Dịch để đưa tiễn một lănh đạo Việt Nam lâu đời nhất về với cát bụi.

    Năm đó cũng là thời điểm Hà Nội bắt đầu chính sách đổi mới và đưa Việt Nam vào một tiến tŕnh lịch sử mà nửa thế kỷ trước Việt Nam đă mất đi nhiều cơ hội do quyết tâm tiến hành chiến tranh của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.

    Hanoi’s War gắn ông Lê Duẩn vào những thiệt hại khủng khiếp của chiến tranh với hơn hai triệu sinh mạng người Việt.

    Câu hỏi nêu ra là dù chủ trương của Lê Duẩn như thế th́ có đủ thuyết phục để tách Hồ Chí Minh và Vơ Nguyên Giáp, hai nhân vật đầy huyền thoại của Việt Nam, ra khỏi trách nhiệm về hệ lụy cuộc chiến hay không?

    Bài thể hiện cách nhìn riêng của cây bút tự do Bùi Văn Phú từ vùng Vịnh San Francisco. Cuối sách của bà Nguyễn Liên Hằng do Nhà xuất bản Đại học North Carolina cho ra năm 2012, 444 trang. Cuốn sách cũng đã được giới thiệu trên nhiều trang tiếng Anh.

  3. #3
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Bộ Chính trị chiến tranh: Đường lối chính trị và ngoại giao của Bắc Việt trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968

    Liên Hằng T. Nguyễn
    Vy Huyền dịch


    Đôi nét về tác giả: Liên Hằng T. Nguyễn là Phó giáo sư (Assistant Professor) khoa Sử, Trường Đại học Kentucky, Hoa Kỳ. Bài viết này dựa theo một chương trong luận án tiến sĩ của tác giả, "Giữa những cơn băo: Lịch sử thế giới về Chiến tranh Việt Nam 1968-1973" (Đại học Yale). Tác giả chân thành cảm ơn Larry Berman, David Elliott, John Lewis Gaddis, Christopher Goscha, Jim Hershberg, Duy Hoàng, David Hunt, Edward Miller, Lorraine Paterson, Julie Phạm, Andrew Preston, Samuel Popkin, Sophie Quinn-Judge, Balasz Szalontai, và Peter Zinnoman, những người đă góp ư và cung cấp những tài liệu quan trọng cho tác giả trong thời gian nghiên cứu và viết nên bài viết này. Tác giả đặc biệt cảm ơn ông Hoàng Minh Chính đă dành cho tác giả buổi gặp gỡ trong chuyến đi Hoa Kỳ ngắn ngủi của ông.
    Trích yếu: Bài viết này nghiên cứu về tranh căi chiến lược đưa Hà Nội đến quyết định chiến tranh năm 1959, gia tăng chiến tranh năm 1963 và cuộc tấn công Tết Mậu Thân (TMT) 1968. Phe chủ chiến nắm bộ máy lănh đạo Đảng đă thúc đẩy quá tŕnh đấu tranh vũ trang ở miền Nam thay cho việc xây dựng chủ nghĩa xă hội ở miền Bắc. Bên cạnh những tranh giành trong nội bộ, phe này c̣n phải luồn lách giữa mâu thuẫn của Liên Xô và Trung Quốc để có thể tiến hành chương tŕnh chiến tranh của ḿnh. Bài viết chứng minh TMT là dấu hiệu cho thấy phe chủ chiến đă loại được những kẻ chống đối bên trong và bên ngoài bằng việc thanh trừng hàng loạt các đảng viên trong Vụ án xét lại chống Đảng (VAXLCĐ).

    Dù cuộc tấn công TMT 1968 tạo ra bước ngoặt then chốt trong cuộc chiến thứ hai ở Đông Dương, nhưng những tiến triển trong quá tŕnh chuẩn bị và những quyết định của Bắc Việt liên quan đến cuộc tấn công này vẫn chưa được làm sáng tỏ. Chiến lược thận trọng của Hà Nội trong khoảng thời gian từ mùa xuân năm 1967 đến đầu năm 1968 vẫn c̣n nằm trong ṿng bí mật. [1] Thiếu những tài liệu chính thức liên quan đến TMT, đă có rất nhiều những cuộc tranh luận nổ ra về nguyên căn, mục đích, và thời điểm của những quyết định then chốt của cuộc tấn công mà những lănh đạo Bắc Việt gọi là "Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa." Những sử sách của Việt Nam và phương Tây hiện thời chỉ đưa ra những câu trả lời hạn chế. [2] Theo sử gia David Elliot, “đă bao thập niên trôi qua từ TMT, Đảng và những sử gia quân đội vẫn hết sức kín đáo về quá tŕnh quyết định dẫn đến cuộc tấn công năm 1968.” [3]

    Những nghiên cứu đương thời và sau cuộc chiến ở Việt Nam cho rằng những thất bại quân sự và chính trị của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà (VNCH) trong hai năm 1966-1967 đă tạo nên cơ hội then chốt cho quân đội cộng sản tiến hành cuộc tổng công kích 1968. [4] Thật vậy, theo giới nghiên cứu ở Việt Nam, việc Mỹ bất lực trong việc giành chiến thắng chớp nhoáng trước quân nổi dậy là nhân tố duy nhất dẫn đến quyết định TMT. [5] Thất bại trong chiến tranh tiêu hao [6] và các chiến dịch oanh tạc [7] , cộng với phong trào chống chiến tranh ngày càng lan nhanh ở Hoa Kỳ, là lư do thúc đẩy những lănh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (ĐLĐVN) đưa "cuộc cách mạng sang một giai đoạn mới, dẫn đến chiến thắng quyết định.” [8] Lợi dụng cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 1968, mùa xuân 1967 Hà Nội quyết định "chuẩn bị nhanh chóng trên mọi mặt trận để nắm lấy cơ hội giành thắng lợi lớn và buộc người Mỹ chấp nhận thất bại về mặt quân sự.” [9] Theo những nhà nghiên cứu Việt Nam, lúc bấy giờ, TMT hoàn toàn là một quyết định sáng suốt của những người lănh đạo Đảng, họ biết khai thác những điều kiện thuận lợi cả về quân sự và chính trị xuất phát từ những nỗ lực không thành của đối phương. [10]

    Một thiếu vắng dễ nhận ra trong những tài liệu nói trên là chúng hoàn toàn không đề cập đến hoàn cảnh nội bộ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) trong quá tŕnh cân nhắc chiến lược TMT. Những quyết định chiến lược lớn của Hà Nội trong cuộc chiến thứ hai ở Đông Dương bao gồm việc cân nhắc nhiều nhân tố, lắm khi xung đột nhau, để duy tŕ tính cân bằng trong chính sách đối nội và đối ngoại - một sự cân bằng thiết yếu để tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh cách mạng trong ḷng một cuộc chiến tranh lạnh rộng lớn hơn. [11] Với những người đang nắm quyền trong Đảng Cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ, mục đích chính của họ là [cần có] một phương hướng rơ ràng cho cuộc đấu tranh ở miền Nam, nắm vững quyền lực trong giai đoạn phát triển miền Bắc và sau cùng là làm chủ t́nh h́nh trên toàn lănh thổ qua từng giai đoạn của cuộc chiến. Những quan điểm đối nghịch nhau trong nội bộ và những ủng hộ mang tính trục lợi từ phía bên ngoài luôn là mối đe doạ đến những cá nhân nắm quyền trong đảng. Mặc dù các lănh đạo Hà Nội dựng nên h́nh ảnh họ luôn đưa ra những quyết định tập thể, nhưng thực chất có sự phân rẽ về tư tưởng và sự ganh đua giữa những cá nhân trong nội bộ ĐLĐVN, trùng hợp với những những cuộc tranh căi rộng lớn hơn trong thế giới cộng sản.

    Khi cuộc chiến thứ hai ở Đông Dương vừa bắt đầu, trong nội bộ Đảng nổi lên những phe phái chống đối nhau, có thể tạm chia thành hai phe đối lập, nhưng không đồng nhất, như sau: Phe thứ nhất gồm những người muốn tập trung xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xă hội và phe thứ hai gồm những người muốn tiến hành chiến tranh cách mạng ở miền Nam. Ở bộ phận cao nhất trong đảng, sự chia rẽ này vô cùng hỗn tạp, trong khi đó những đảng viên cấp trung kiên định hơn với lập trường của ḿnh. Mặc dù các “phe phái” lỏng lẻo này nhất trí với mục đích cơ bản là thống nhất đất nước, họ bất đồng trong quan điểm về sự cân bằng thích đáng giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao để đi đến chiến thắng cuối cùng. [12] Phe “ôn hoà” hay c̣n gọi là phe những người chủ trương xây dựng miền Bắc (PXDMB) muốn ưu tiên xây dựng chủ nghĩa xă hội ở miền Bắc, với mục tiêu đánh bại miền Nam bằng kinh tế và ngoại giao; phe “chủ chiến” hay c̣n gọi là phe ủng hộ chiến tranh ở miền Nam tin tưởng rằng vũ lực là cách duy nhất để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. [13] Vào những năm 1960, các cuộc tranh căi không chỉ nằm trong giới hạn ở Việt Nam mà c̣n lan rộng hơn, liên quan cả đến mối bất hoà trong mối quan hệ Nga-Trung. Phe ôn hoà muốn áp dụng chính sách cùng tồn tại trong hoà b́nh của Moscow, trong khi đó phe chủ chiến muốn thúc đẩy chủ trương dùng vũ lực của Bắc Kinh. Cuộc tấn công TMT là dấu hiệu chấm dứt những cuộc tranh căi gay gắt gần một thập niên trong nội bộ ĐLĐVN.

    Trong bài viết này, tôi muốn phân tích những hoạt động chính trị nội bộ và quan hệ ngoại giao của nước VNDCCH thời bấy giờ để đưa đến chiến lược lớn có hệ thống TMT, xoay quanh ba thời điểm quyết định quan trọng sau đây: quyết định tiến tới chiến tranh vũ lực ở miền Nam năm 1959-1960; quyết định bắt tay vào một “cuộc chiến lớn hơn” năm 1963-1964; và cuộc tấn công TMT 1967-1968. Giữa cuộc chiến thứ nhất và cuộc chiến thứ hai ở Đông Dương, những trở ngại trong quá tŕnh chuyển đổi lên chủ nghĩa xă hội và tính sơ khai trong cơ cấu quyền lực của nước VNDCCH tạo điều kiện cho những người thuộc phe “diều hâu” trong BCT đề xướng việc sử dụng vũ lực song song với đấu tranh chính trị ở miền Nam. Tuy nhiên, t́nh h́nh chính trị trong đảng và t́nh trạng quan hệ Nga-Trung những năm 1959-1960 đă ngăn chặn phe chủ chiến thực thi việc này. Đến năm 1963, nhờ vào t́nh h́nh biến động ở Sài G̣n và Bắc Kinh, phe chủ chiến có cơ hội đẩy mạnh chiến tranh. Với mối rạn nứt ngày càng lớn trong quan hệ Nga-Trung, khi Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vạch ra một đường phân rơ ràng trong thế giới cộng sản, phe chủ chiến nhân cơ hội đó tăng cường chiến tranh tại miền Nam đang ngày một nóng bỏng. Trong nội bộ nước VNDCCH, quyết định đẩy nhanh cuộc chiến ở miền Nam đồng nghĩa với việc phải thanh trừng những kẻ theo phe ôn hoà, ủng hộ đường lối của Liên bang Xô Viết. Phe ôn hoà, với phương sách ủng hộ việc xây dựng chủ nghĩa xă hội ở miền Bắc hơn là tiến hành chiến tranh ở miền Nam, ngày càng mất dần thế đứng. Tuy nhiên, việc Hoa Kỳ can thiệp quân sự làm phe chủ chiến miền Bắc chịu những chỉ trích dữ dội: Phe chủ hoà cùng với những tiếng nói ôn hoà khác trong đảng và trong quân đội kêu gọi đàm phán để Hoa Kỳ ngừng những cuộc oanh tạc tại miền Bắc và đồng thời xem xét lại cuộc chiến hao phí trên bộ đang diễn ra ở miền Nam. Ngoài ra, Hà Nội c̣n chịu áp lực từ các đồng minh lớn, những kẻ cung cấp viện trợ quân sự và kinh tế [mà Bắc Việt] tối cần, kèm với những lời khuyên, thường đầy mâu thuẫn, [mà Bắc Việt] không cần, khiến cho, vào năm 1967, “BCT chiến tranh” đứng tại ngă tư đường. Kết quả là chiến dịch "lớn, gây nhiều tranh căi và đầy tính ứng biến" TMT được đưa ra bàn căi, trong đó không những tính đến những nỗ lực chiến tranh của Hoa Kỳ và VNCH, mà c̣n cả t́nh h́nh chính trị trong nội bộ Đảng và sự rạn nứt trong mối quan hệ Nga-Trung. [14]


    1955-1959: Chiến tranh hay hoà b́nh
    Xây dựng đất nước và cuộc cách mạng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh

    Hiệp định Geneva 1954 chấm dứt công cuộc tái đô hộ của Pháp, đồng thời tạm chia đôi Việt Nam thành hai nhà nước có chủ quyền ở vĩ tuyến 17. Ở miền Bắc, ĐLĐVN dưới quyền lănh đạo của Hồ Chí Minh nắm chính quyền của nước VNDCCH; c̣n ở miền Nam, nước VNCH cuối cùng nằm dưới quyền của chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Trong bản Tuyên ngôn Cuối mà các bên chưa kư tại Hội nghị Geneva 1954, cuộc tổng tuyển cử phải được tổ chức vào tháng 7 năm 1956, với những trao đổi sơ bộ giữa hai miền Nam Bắc sẽ bắt đầu vào một năm trước đó. Nhưng thay v́ hoà giải và hợp nhất, sự căng thẳng giữa hai miền ngày càng tăng cao, v́ cả hai miền đều cho rằng phía bên kia vĩ tuyến là kẻ thù của họ về mặt ư thức hệ. Vào thời điểm này, cả hai miền Bắc và Nam đều không thực hiện tuyển cử tự do và công bằng trong lănh thổ đă được vạch rơ của ḿnh. Nhưng nếu như có một cuộc tổng tuyển cử năm 1956 th́ phe cộng sản của Hồ Chí Minh hẳn đă thắng cử. [15]

    Quá tŕnh xây dựng quốc gia ở miền Nam dưới thời Ngô Đ́nh Diệm đă được viết đến nhiều; trong khi đó, dưới quyền của Hồ Chí Minh, quá tŕnh xây dựng miền Bắc rất ít được nhắc tới. Những nỗ lực xây dựng VNDCCH sau cuộc chiến Thứ nhất ở Đông Dương gặp nhiều thử thách và khó khăn. Đa số những trở ngại cho công cuộc phát triển ở miền Bắc bắt nguồn từ quá tŕnh chuyển đổi từ thời chiến qua thời b́nh, từ một nước bảo hộ thuộc địa qua một nước độc lập. Bên cạnh đó, đảng thi hành nhiều chính sách gây thiệt hại cho một đất nước đang hăy c̣n non trẻ. [16] Tiêu biểu là việc ĐLĐVN sai lầm trong việc chỉ đạo cuộc cải cách ruộng đất đầy thảm khốc, chiến dịch chỉnh huấn tổ chức, đàn áp tự do trí thức và chính trị trong vụ mà sau này được biết đến với cái tên Nhân văn–Giai phẩm [NVGP] và thực thi những dự án không tưởng như tập thể hoá và công nghiệp hoá để đẩy nhanh cuộc cách mạng xă hội chủ nghĩa. [17]

    Việc xây dựng đất nước của nước VNDCCH diễn ra trong hoàn cảnh t́nh h́nh thế giới ngày càng phức tạp. Trong thời gian Chiến tranh Lạnh, số phận của những nước hậu thuộc địa liên quan chặt chẽ không chỉ đến cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản dân chủ và chủ nghĩa Marx-Lenin, mà c̣n cả sự chia rẽ tồn tại trong ḷng hai khối này. Đối với ĐLĐVN, sự chia rẽ trong mối quan hệ Nga-Trung làm phức tạp hoá quá tŕnh tái thiết, xây dựng chủ nghĩa xă hội và ảnh hưởng đến con đường thống nhất đất nước. Vào những năm 1950, Hà Nội phải đương đầu với hai phương thức cách mạng khi Moscow và Bắc Kinh đưa ra lập trường riêng rẽ: phương thức hợp nhất hoà giải bằng việc tập trung xây dựng miền Bắc hoặc dùng vũ lực để đấu tranh giải phóng miền Nam.

    Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên bang Xô Viết (ĐCSLBXV) diễn ra đầu năm 1956 đă xuất hiện vết rạn nứt đầu tiên trong phong trào quốc tế vô sản khi Nikita Khrushchev lên án những tội ác của Stalin và tệ sùng bái cá nhân. Sau kỳ đại hội lịch sử đó, LBXV quyết định theo đuổi chính sách "cùng tồn tại trong hoà b́nh" trong cuộc cạnh tranh với thế giới tư bản. Lập trường của Khrushchev là mối đe doạ trực tiếp đến Trung Hoa của Mao Trạch Đông, cả về ư thức hệ lẫn địa lư chiến lược, v́ trong thời gian này, Mao đang liên tục tiến hành những cuộc cách mạng cả bên trong lẫn bên ngoài, nhằm củng cố quyền lực trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). [18] Với mong muốn được coi là đối tác b́nh đẳng trong liên minh Nga-Trung, ĐCSTQ phản pháo lại những hành động mà Bắc Kinh cho rằng Moscow làm để duy tŕ một mối quan hệ bất b́nh đẳng. Đặc biệt, việc Moscow phản đối cách Mao giải quyết khủng hoảng Quemoy-Matsu, việc Moscow đặt Trung Quốc vô thế phụ thuộc khi đề ra thoả thuận chung về hải quân năm 1958, và thái độ trung lập của Moscow khi Trung Quốc và Ấn Độ bất đồng về vấn đề Tây Tạng năm 1959 càng làm cho Bắc Kinh mong muốn thoát khỏi mối quan hệ kiềm kẹp này. [19]

    Đối với ĐLĐVN, vào nửa cuối thập niên 1950, con đường đi tới việc thống nhất đất nước và đường hướng của cuộc cách mạng ngày càng liên quan chặt chẽ đến mối quan hệ Nga-Trung đang ngày càng tồi tệ hơn. V́ cộng sản Việt Nam gần gũi hơn với ĐCSTQ cả về địa lư, văn hoá và lịch sử nên Bắc Kinh ảnh hưởng nhiều đến chính sách của Hà Nội hơn Moscow. Tuy vậy, những người CSVN vẫn tiếp tục coi LBXV là trung tâm ư thức hệ của phong trào cộng sản quốc tế. [20] Trong thời gian xây dựng nước VNDCCH, mối quan hệ Nga-Trung tuy căng thẳng nhưng sự rạn nứt chưa sâu sắc. V́ vậy, sau khi cuộc tổng tuyển cử năm 1956 bị huỷ bỏ, cả Bắc Kinh và Moscow ủng hộ quyết định của Hà Nội tập trung vô khích động chính trị thay v́ dùng vũ lực chống lại VNCH. Chiến lược Bandung của Trung Quốc và chính sách của LBXV ở châu Á đều có điểm chung: ủng hộ thái độ trung lập thay v́ cách mạng ở những nước hậu thuộc địa và những nước theo chủ nghĩa dân tộc. [21] Cả hai cường quốc khuyến khích Hà Nội tiếp tục đấu tranh chính trị, với ngụ ư chấp nhận thực tế là tiếp tục chia rẽ hai miền Nam Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, đến cuối thập niên 1950, khi LBXV và Trung Quốc bắt đầu tách ly về hệ tư tưởng, những kháng cự ở miền Nam trở nên cấp bách hơn ước lượng của miền Bắc. Trong khi Bắc Kinh ra mặt ủng hộ chiến tranh giải phóng dân tộc, th́ Moscow lại không muốn những cuộc đấu tranh vũ trang xảy ra.


    Hệ thống quyền lực của nước VNDCCH: “Phe” đang lên

    Việc xây dựng chủ nghĩa xă hội ở miền Bắc c̣n đang xa vời và việc thế giới cộng sản tập trung vào sự rạn nứt của mối quan hệ Nga-Trung tạo cơ hội cho một nhóm lănh đạo trong BCT thay đổi chính sách của Hà Nội. [22] Ngay từ ban đầu, lănh đạo của ĐCSVN đă gắng xây dựng h́nh ảnh một nội bộ đoàn kết, vững chắc, trong đó các khu vực trách nhiệm được chia đều cho mọi thành viên. Nhưng trên thực tế, trong nội bộ lănh đạo xảy ra đầy dẫy chuyện tranh giành quyền lực, cạnh tranh giữa [các phe nhóm thuộc] các miền, ganh đua giữa các tổ chức và thậm chí cả những mối tư thù. [23] Trong thời gian giữa hai cuộc chiến, từ 1955 đến 1958, cơ cấu quyền lực ở miền Bắc Việt Nam không được định h́nh rơ rệt. [24] Mặc dù Đảng không có đối thủ, nhưng câu hỏi được đặt ra trong thời gian này là phe nào sẽ chiếm ưu thế trong nội bộ ĐLĐVN? Về cơ bản, những thành viên trong BCT tranh giành quyền lực bằng việc giành sự ủng hộ từ bốn cơ cấu: bộ máy Đảng, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) cùng các tổ chức quần chúng trực thuộc, và quân đội. [25] Trong giai đoạn này, những thành viên BCT hoạt động trong bộ máy của Đảng giành được nhiều quyền lực ở miền Bắc Việt Nam hơn những người mà quyền lực và trách nhiệm gắn với chính quyền dân sự, MTTQ cùng các tổ chức quần chúng trực thuộc, và quân đội. Sau này, đến lượt các nhà lănh đạo hành chính này, dưới quyền lănh đạo của một Tổng bí thư chủ chiến, đă giành ưu thế để lănh đạo ĐLĐVN và cả dân tộc bước vào chiến tranh.

    Nguyên nhân chính cho sự chuyển đổi quyền lực trong BCT phát xuất từ những thất bại của cuộc cải cách ruộng đất (CCRĐ) và chiến dịch chỉnh huấn tổ chức, tiếp theo là vụ NVGP bên cạnh những bất lực trong việc vận động toàn dân miền Bắc tham gia cuộc cách mạng xă hội chủ nghĩa. Sau cuộc chiến thứ nhất ở Đông Dương, Tổng Bí thư ĐLĐVN Trường Chinh lănh đạo phong trào CCRĐ và chiến dịch chỉnh huấn tổ chức, với mục đích xoá bỏ chế độ địa chủ, lấy đất chia cho tá điền, đồng thời nâng cao vị trí của giai cấp nông dân trong nội bộ đảng. Trường Chinh muốn các tổ chức quần chúng nắm quyền kiểm soát những vấn đề liên quan đến ruộng đất thay v́ cơ quan hành chính của chính phủ. Tuy nhiên, chiến dịch “sửa sai”, xuất phát từ những sai lầm trong cuộc cải cách do ảnh hưởng của Trung Quốc, làm suy giảm thế lực của Trường Chinh và các tổ chức quần chúng, đồng thời gây ra một vết nhơ cho chính phủ (Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng) và quân đội (Vơ Nguyên Giáp). [26] Cuối tháng 9 năm 1956, trong phiên họp toàn thể lần thứ 10 của Uỷ ban Trung ương (UBTƯ) ĐLĐVN, Trường Chinh từ chức TBT, mặc dù không bị hất khỏi BCT. [27] Quyền lực chuyển sang tay Lê Duẩn, người cổ vũ hăng hái nhất cho chiến tranh miền Nam; khi chiến dịch cải cách ruộng đất xảy ra, Duẩn đang có mặt ở nửa bên kia của vĩ tuyến mười bảy. Kế đến là Lê Đức Thọ, người có nhiệm vụ bảo đảm bộ máy của Đảng, giành được quyền lực tối thượng ở miền Bắc. [28] Trong suốt thời gian xảy ra phong trào NVGP, phe chủ chiến, phe đă tận dụng bộ máy đảng để bành trướng quyền lực, tiếp tục phát triển thành nhóm lănh đạo, đă đàn áp những bất hoà trong nội bộ quân đội và những nhà trí thức bằng cách kiểm soát những hoạt động và ḷng trung thành của họ với chủ nghĩa Mác-Lê. [29]

    Bất kể phe phái nào giành uy thế ở BCT, t́nh trạng khó khăn của công cuộc phát triển xă hội chủ nghĩa - qua những thất bại của các dự án tập thể hoá và công nghiệp hoá trên qui mô lớn với việc công bố Kế hoạch ba năm (1958-1960) [30] – đă làm đảng kiệt quệ. V́ vậy, chiến dịch ủng hộ kháng chiến Nam bộ của Lê Duẩn trong thời điểm này hiển nhiên trở thành lối thoát cho những vấn đề của BCT. Sau khi các cuộc bầu cử bị huỷ bỏ, Lê Duẩn đă viết Con đường cách mạng miền Nam; đây là bản tuyên bố đầu tiên khẳng định việc thống nhất đất nước là kế hoạch lâu dài. [31] Tuy vậy, đường lối chính thức của đảng vẫn tiếp tục ủng hộ phương sách khích động chính trị, ngược lại với mong muốn của Lê Duẩn và các nhà cách mạng miền Nam, những người hy vọng được [đảng] phê chuẩn việc tiến tới giai đoạn mới - đấu tranh vũ trang. [32] Việc Lê Duẩn được bổ nhiệm chức Tổng Bí thư lâm thời khẳng định vị trí quyền lực đang lên của Duẩn ở BCT, nhưng đường lối của ông vẫn chưa hoàn toàn được đảng thông qua. [33]

    Kết quả là hai “phe phái” ganh nhau bắt đầu xuất hiện trong nội bộ ĐLĐVN; điều này càng làm phức tạp thêm những tranh giành quyền lực vốn đă sẵn có trong BCT. "Phe miền Bắc" muốn tiếp tục tập trung tất cả tiềm lực của VNDCCH để xây dựng đất nước: phát triển nền kinh tế XHCN để cạnh tranh và cuối cùng là đánh bại miền Nam. Trong khi đó, "Phe miền Nam" lại muốn dùng toàn lực của VNDCCH vô cuộc kháng chiến ở miền Nam: thống nhất đất nước bằng chiến tranh. Những cuộc tranh luận tập trung vào tốc độ và phương thức cải cách nông nghiệp ở miền Bắc, nhưng lại có liên quan chặt chẽ tới sự nổi dậy ở miền Nam. Khi những bất hoà trong mối quan hệ Nga-Trung ngày càng lớn và xung đột ở miền Nam ngày càng gia tăng, các phe phái đối lập dùng chủ trương cùng tồn tại trong hoà b́nh của Krushchev hoặc chủ trương chống đế quốc của Mao để bảo vệ cho lư lẽ của phe phái ḿnh.

    Tháng 1 năm 1959, trước phiên họp toàn thể lần thứ 15, số phận của cuộc kháng chiến miền Nam và tương lai của việc xây dựng miền Bắc đều rất bấp bênh. Theo các học giả, quyết định tiến hành chiến tranh của Hà Nội, ẩn mă trong Nghị quyết 15, là một biện pháp nhằm cứu văn cuộc kháng chiến ở miền Nam. Nhưng ta chỉ có thể hiểu được rất nhiều vấn đề liên quan đến việc phê chuẩn sơ khởi và sự do dự trong quá tŕnh chuyển giao Nghị quyết này khi đặt chúng vào hoàn cảnh chính trị trong nội bộ nước VNDCCH bên cạnh những rạn nứt trong mối quan hệ Nga-Trung. [34] Cuộc nổi dậy ở miền Nam buộc phía Hà Nội phải tiến hành chiến tranh, nhưng chúng ta cũng cần phải hiểu những bất đồng trong nội bộ Đảng và vị trí của VNDCCH trong mối quan hệ Nga-Trung mới có thể hiểu được v́ sao Nghị quyết 15 gần như không có được sự hưởng ứng nào.

    Trong nội bộ, tuy cuộc cách mạng xă hội chủ nghĩa ở miền Bắc không được tiến hành như hoạch định, nhưng phe chủ chiến vẫn chưa thâu tóm được toàn bộ quyền lực trong ĐLĐVN và BCT. Lê Duẩn cùng các nhà cách mạng miền Nam và phe quân sự trong đảng dù đă giành được ưu thế trong những cuộc tranh luận ṿng đầu, nhưng thắng lợi của họ mới chỉ là sơ khởi: Nghị quyết 15 chỉ chấp thuận sử dụng vũ lực với mục đích tự vệ. [35] Bên ngoài, sự mập mờ trong quan hệ giữa Moscow và Bắc Kinh càng làm chậm lại quá tŕnh chuyển giao và thực hiện Nghị quyết 15. Mặc dù việc Trung Quốc tăng cường hỗ trợ những nước thứ ba tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tạo điều kiện cho giới lănh đạo thuộc phe chủ chiến tiến gần hơn tới mục đích lật đổ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm bằng vũ lực, cả Moscow và Bắc Kinh đều khuyên Hà Nội nên chú trọng tới đấu tranh chính trị. [36] V́ vậy, măi đến tận năm sau, khi lập trường cấp tiến của Bắc Kinh trở nên rơ ràng hơn, Nghị quyết 15 mới được thi hành ở mặt trận miền Nam. [37] Chiến lược thận trọng của Hà Nội đối với cuộc chiến ở miền Nam phản ánh rơ những chia rẽ đang nổi lên cả ở bên trong và bên ngoài, và không chỉ đơn thuần là phản ứng do những khủng hoảng ở miền Nam gây ra.

  4. #4
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Bộ Chính trị chiến tranh: Đường lối chính trị và ngoại giao của Bắc Việt trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968

    Liên Hằng T. Nguyễn
    Vy Huyền dịch
    P2



    1960-1963 Cuộc chiến hay một cuộc chiến rộng lớn hơn?
    Hệ thống quyền lực của nước VNDCCH - Thắng lợi của phe chủ chiến.

    Tại Đại hội Đảng lần 3 của ĐLĐVN vào tháng 9 năm 1960, Hồ Chí Minh chấp thuận kế hoạch chiến tranh của Hà Nội và ủng hộ việc khuyếch trương, xây dựng mới BCT và UBTƯ Đảng dưới quyền của TBT mới Lê Duẩn. [38] Mặc dù việc xây dựng miền Bắc vẫn là vấn đề ưu tiên hàng đầu trong kỳ đại hội này, nhưng những đảo lộn quyền lực ở những vị trí cao nhất của đảng là bước khởi đầu việc ưu tiên đấu tranh vũ trang ở miền Nam sau này. [39] Để chính thức hoá cuộc chiến ở miền Nam, đại hội đặt nền tảng cho việc thiết lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng (MTDTGP). Tuy nhiên, sau việc tái thiết Trung ương Cục miền Nam, quyền điều hành chiến tranh vẫn nằm trọn ở miền Bắc. [40]

    Hơn nữa, trật tự quyền lực được củng cố với việc đại hội thông qua “Quy chế của ĐLĐVN.” [41] Quy chế này đặt BCT lên hàng đầu và củng cố quyền lợi của TBT và Ban bí thư, những người cầm quyền chịu trách nhiệm “[giải quyết] những vấn đề thường nhật và [kiểm soát] việc thực hiện những quyết định của BCT." [42] Ban bí thư gồm bảy thành viên, các nhân vật này là những người có quyền lực trong bộ máy của Đảng và thuộc phe có liên quan đến những hoạt động của Lê Duẩn ở miền Nam, bao gồm Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Tố Hữu và tướng Nguyễn Chí Thanh. Những nhân vật trong Ban bí thư có quyền lực trong ĐLĐVN và nước VNDCCH ngang ngửa với các uỷ viên BCT, những người nắm giữ các vị trí quan trọng chẳng hạn như chủ tịch Uỷ ban Thường trực Hội đồng Nhà nước (Trường Chinh), Thủ tướng (Phạm Văn Đồng) và Bộ trưởng Bộ Quốc pḥng (Vơ Nguyên Giáp).

    Bằng cách tăng trách nhiệm (cũng đồng nghĩa với việc gia tăng mức độ quan trọng) cho Tổng Bí thư và Ban Bí thư, quy chế đă trao quyền tối thượng vô tay những người đứng đầu phe chủ chiến trong bộ máy ĐLĐVN. Lê Đức Thọ, trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản, tiếp tục nắm giữ vị trí ngày càng quan trọng này. [43] Ở vị trí này, Lê Đức Thọ toàn quyền trong việc bổ nhiệm những chức vụ chính trị, đề bạt, di chuyển và thanh trừng những đảng viên. Bên cạnh đó, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (TCCTQĐND) dưới quyền của Tướng Nguyễn Chí Thanh là một trong số rất ít những cục được quy chế thiết lập vĩnh viễn. [44] Tổng cục Chính trị (TCCT) có nhiệm vụ bảo đảm quân đội miền Bắc nằm dưới sự chỉ huy của Dảng, chứ không phải là một lực lượng tách rời độc lập và đối lập. Quan trọng hơn, chức chủ nhiệm TCCT mà Nguyễn Chí Thanh nắm giữ đối trọng với vị trí lănh đạo quân đội của Vơ Nguyên Giáp. [45] C̣n Tố Hữu, người cầm đầu chiến dịch chống lại phong trào NVGP, giữ chức Trưởng ban Khoa giáo và Tuyên huấn Trung Ương (TBKGTHTƯ), một chức vụ rất quan trọng; nó cho phép Tố Hữu tiếp tục giám sát và đàn áp giới trí thức. Sau khi đă củng cố được vị trí quyền lực của ḿnh, những người cầm đầu của phe chủ chiến nghiễm nhiên giành quyền kiểm soát phương hướng của cuộc chiến chống miền Nam và điều khiển bộ máy của đảng ở miền Bắc.


    [1]Để có cái nh́n toàn diện hơn về những tranh căi đương thời và sau cuộc chiến về chiến lược TMT của Hà Nội, xem David Elliott, The Vietnamese War: Revolution and Social Change in the Mekong Delta, 1930–1975, 2 vols. (Armonk, NY: M.E. Sharpe, 2003), 2:1054–1062. Và xem Ngô Vĩnh Long, “The Tết Offensive and Its Aftermath,” Indochina Newsletter, Issue 49 (Jan-Feb 1988): 1–5. Theo sử gia Hồ Khang, "TMT vẫn là chủ đề gây nhiều tranh căi. Từ một góc độ nào đó, có người sẽ nghĩ là họ đă có cái nh́n toàn diện về TMT, nhưng ở một góc độ khác, nhiều người sẽ vẫn không thể hiểu và giải thích được sự kiện này." (Hồ Khang, The Tết Mậu Thân 1968 Event in South Vietnam [Hà Nội: Thế Giới, 2001], 1).
    [2]Phần lớn các xuất bản phương Tây nói về TMT đều chú ư nhiều đến những tác động quân sự, chính trị và tâm lư của cuộc tấn công đối với nỗ lực chiến tranh của Hoa Kỳ. Nếu nói về động cơ của TMT, những nghiên cứu của phương Tây chỉ lặp lại [những ǵ mà] lịch sử [cộng sản] Việt Nam đă nói. Thiếu những tài liệu chính thức cũng như những bằng chứng từ phía Việt Nam, đây cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, vẫn có những nghiên cứu ngoại lệ. Xem Elliott, The Vietnamese War, 2:1036–1125; Robert Brigham, “The NLF and the Tết Offensive,” in The Tet Offensive, eds. Marc Jason Gilbert and William Head (Westport, CT: Praeger, 1996), 63–69; William Duiker, The Communist Road to Power in Vietnam, 2nd ed. (Boulder, CO: Westview Press, 1996), 255–299; Ang Cheng Guan, “Decision-Making Leading to the Tet Offensive (1968): The Vietnamese Communist Perspective,” Journal of Contemporary History 33, no. 3 (July 1998): 341–353.
    [3]Xem Elliott, The Vietnamese War, 2:1055.
    [4]Ví dụ, chiến dịch Attleboro, Cedar Falls, và Junction City không tiêu diệt được quân nổi dậy trong khi Quân Lực VNCH không thành công trong nỗ lực b́nh định t́nh h́nh và chỉ kiểm soát được 13% vùng nông thôn. Xem Hồ Khang, The Tết Mậu Thân 1968, 13–19.
    [5]Xem Bộ Quốc Pḥng, Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam [Ministry of Defense, Institute of Military History] (BQP-VLSQSVN), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954–1975 (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ), vol. 5, Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 [The History of the Anti-American Resistance for National Salvation; General Offensive-General Uprising 1968] (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2001), 29. Xem thêm Hồ Khang, The Tết Mậu Thân 1968, 23.
    [6]Xem Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, 9–28.
    [7]Xem Lịch sử quân chủng pḥng không [The History of the Anti-Aircraft Defense], vol. 2 (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 1993), 77–126.
    [8]Trần Văn Trà, “Tết: The 1968 General Offensive and General Uprising,” in The Vietnam War: Vietnamese and American Perspectives, eds. Jayne S. Werner and Lưu Đoàn Huỳnh (Armonk, NY: M.E. Sharpe, 1993), 39.
    [9]BQP-VLSQSVN, Hướng tiến công và nổi dậy: Tết Mậu Thân ở Trị-Thiên-Huế (Năm 1968) [Direction of the General Offensive and General Uprising: The Lunar New Year in Trị-Thiên-Huế], Lưu hành nội bộ [Internal Distribution] (Hà Nội, 1988), 5. Bản dịch tiếng Anh, xem Robert J. Destatte and Merle L. Pribbenow for the United States Army Center for Military History, Histories Division, The 1968 Tết Offensive and Uprising in the Trị-Thiên-Huế Theater (Fort Nair, Washington, DC: 2001), i.
    [10]Theo các sử liệu chính thức, TCKTKN chia làm ba giai đoạn, xảy ra trong mùa đông đến mùa thu 1968. Xem BQP-VLSQSVN, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, 7.
    [11]Cố sử gia Ralph B. Smith, trong lời mở đầu của tập thứ nhất trong bộ sử ba tập về Chiến Tranh Việt Nam trong lịch sử thế giới, đă viết: "Quả thật, Việt Nam là trường hợp đặc biệt quan trọng để liên hệ những chuyển động chính trị cấp cơ sở đến những quyết định trong hành lang chính trị thế giới." Smith chỉ ra rằng cần gắn cuộc chiến tranh ở Việt Nam và cuộc Chiến Tranh Lạnh trên thế giới. Xem Ralph B. Smith, An International History of the Vietnam War, vol. 1, Revolution Versus Containment, 1955–1961 (London: MacMillan Press, 1983), 9; Ibid., vol. 2, The Struggle for South-East Asia, 1961–1965 (1985); and Ibid., vol. 3, The Making of a Limited War, 1965–1966 (1991).
    [12]Xem Nguyễn Vũ Tùng, “Hà Nội’s Search for an Effective Strategy,” in The Vietnam War, ed. Peter Lowe (London: MacMillan Press, 1998), 45. Xem Pierre Asselin, “Hà Nội and the Americanization of the Vietnam War” (paper presented at Society for Historians of American Foreign Relations annual meeting, George Washington University, June 6–8, 2003), 3–4.
    [13]Những báo cáo đương thời của phương Tây nói về sự chia rẽ trong nội bộ ĐLĐVN ở những cấp độ khác nhau: giữa "phe chủ chiến" và "phe ôn hoà", giữa phe "ủng hộ xây dựng miền Bắc" và phe "ủng hộ chiến tranh ở miền Nam" và cả giữa "phe thân Liên Xô" và "phe thân Trung Quốc." Những cặp chống đối nhau này, mặc dù không sai, không đưa ra lời giải thích thoả đáng về những sắc thái giữa những phe phái với nhau cũng như không xét đến bản chất dễ thay đổi của những chia rẽ này.
    [14]Xem Elliott, The Vietnamese War, 2:1056.
    [15]Trong giai đoạn tự do tái định cư như thoả thuận trong hoà ước Geneva, gần một triệu người Bắc, đa số là người Công Giáo di cư vô miền Nam, trong khi chỉ có một phần nhỏ đi theo hướng ngược lại. Khoảng tám chín chục ngàn quân cộng sản tập kết ra Bắc, trong khi đó, có khoảng từ năm đến mười ngàn cán bộ ở lại miền Nam. Sau giai đoạn tái định cư, dân số miền Bắc nhỉnh hơn miền Nam một chút. Cả hai miền, như tất cả những nước mới được độc lập [thoát khỏi ách thuộc địa] khác, mới bắt đầu những thử nghiệm dân chủ và v́ vậy, cả hai miền đều không có khái niệm về một cuộc tuyển cử tự do và công bằng: ở miền Nam, Ngô Đ́nh Diệm và Đảng Cần Lao của em ông là Ngô Đ́nh Nhu nắm quyền trong những cuộc bầu cử của Hội Đồng Lập Hiến trong khi ở miền Bắc, ĐLĐVN nắm quyền trong những cuộc bầu cử Hội Đồng Nhà Nước. Xem Smith, An International History of the Vietnam War, 1:50–51.
    [16]Xem William S. Turley, “Urbanization in War: Hà Nội, 1946–1973,” Pacific Affairs 48, no. 3 (Autumn 1975): 375–376.
    [17]Về cải cách ruộng đất, xem Edwin Moise, “Land Reform and Land Reform Errors in North Vietnam,” Pacific Affairs 49 (1976): 70–92. Về phong trào NVGP, xem Georges Boudarel, Cent Fleur ecloses dans la nuit du Vietnam: Communisme and Dissidence, 1954–1956 [One Hundred Flowers Blooming in the Night in Vietnam: Communism and Dissidence, 1954–1956] (Paris: Jacques Bertoin, 1991); Kim Ninh, A World Transformed: The Politics of Culture in Revolutionary Vietnam, 1945–1965 (Ann Arbor: The University of Michigan Press, 2002), 121–163; Neil Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley and Los Angeles: University of California Press, 1993), 257–284; Minh Vơ, Phản Tỉnh Phản Kháng [Self Criticism - Protest] (Southern California: Thông Vũ Tái Bản, 2004). Về những thất bại của tập thể hoá, công nghiệp hoá và những dự án được nhà nước tài trợ nói chung, xem Balasz Szalontai, “Political and Economic Crisis in North Vietnam, 1955–1956,” Journal of Cold War History 5, issue 4 (November/December 2005): 395–426; Benedict J. Tria Kierkvliet, The Power of Everyday Politics: How Vietnamese Peasants Transformed National Policy (Ithaca, NY: Cornell University Press, 2005); Ken MacLean, “The Bắc Hưng Hải Irrigation Project: Making Socialism Manifest in the Democratic Republic of Vietnam” (paper presented at Association for Asian Studies Annual Conference, San Francisco, April 6–9, 2006).
    [18]Xem Chen Jian, Mao’s China and the Cold War (Chapel Hill: The University of North Carolina Press, 2001).
    [19]Như trên, 74–84.
    [20]Xem Tường Vũ, “From Cheering to Volunteering: Vietnamese Communists and the Coming of the Cold War, 1940–1951,” (bài viết tŕnh bày ở Hội Nghị Thường Niên Cộng Đồng Các Sử Gia Nghiên Cứu Về Quan Hệ Quốc Tế Của Hoa Kỳ ở Lawrence, Kansas từ 23 đến 25 tháng 6 năm 2006).
    [21]Xem Smith, An International History of the Vietnam War, 1:103.
    [22]Điều đáng nói là trong thời gian này không thấy sự nổi lên của một nhóm lănh đạo mới nào; quyền lực chỉ thay đổi trong nội bộ giữa những nhóm lănh đạo ở BCT, là những người nắm quyền ít nhất là từ Đại hội Đảng lần 2 năm 1951, khai sinh ĐLĐVN.
    [23]Con đường đi đến quyền lực của những người cách mạng trong nội bộ VNDCCH đa số giống nhau, như việc bị giam giữ ở Côn Đảo (trừ Hồ Chí Minh và Vơ Nguyên Giáp). Đồng thời, việc bị giam (hoặc không) ở Côn Đảo, có thể đă nảy sinh ra những thù địch lâu dài giữa một số các nhà cách mạng. Xem Peter Zinoman, Colonial Bastille: A History of Imprisonment, 1862–1940 (Berkeley and Los Angeles: The University of California Press, 2001). Và xem Smith, An International History of the Vietnam War, 1:89–92.
    [24]Xem Tai Sung An, The Vietnam War (Cranbury, NJ: Associated University Presses, 1998), 69–82.
    [25]Smith, An International History of the Vietnam War, 1:91. Smith phân biệt ra ba phe phái khác nhau, bao gồm phe của Hồ Chí Minh cùng với Hoàng Văn Hoan, Phạm Văn Đồng và Vơ Nguyên Giáp, là những người có trách nhiệm về chính phủ, ngoại giao và quân đội. Phe thứ hai là phe của Trường Chinh, gồm những đảng viên người Bắc nắm chức vụ quan trọng trong bộ máy Đảng và các tổ chức quần chúng. Phe thứ ba là phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và những người ủng hộ giải phóng miền Nam.
    [26]Tháng 8 1956, Hồ Chí Minh công khai thừa nhận những sai lầm của chiến dịch, nhưng bất lực với những cuộc nổi dậy kéo dài cho đến hết năm này ở Bắc Việt. Cuối tháng 10, tướng Vơ Nguyên Giáp đọc một diễn văn rất dài thừa nhận những sai lầm cụ thể mà đảng đă phạm phải. Xem Nhân Dân [The People], October 31, 1956.
    [27]Xem Smith, (An International History of the Vietnam War, 1:89–95) để biết những lời bàn đầy thuyết phục về những chia rẽ giữa các phe phái của BCT Hà Nội và sự thay đổi quyền lực sau Đại Hội 10 của ĐLĐVN, sau cải cách ruộng đất. Xem Carlyle Thayer,
    “Origins of the National Liberation Front for the Liberation of South Viet-Nam, 1954–1960: Debate on Unification Within the Viet-Nam Workers’ Party” (paper presented at Sixteenth Conference of the Australasian Political Studies Association, July 1974, Brisbane, Australia). Mặc dù Đại Hội 10 đánh dấu sự thay đổi quyền lực của các phe phái, tôi cho rằng những kẻ hiếu chiến cần tiếp tục sử dụng bộ máy của đảng để củng cố quyền lực ở BCT cả sau đại hội 1956 v́ quyền lực vẫn chưa chắc chắn.
    [28]Dù Hồ Chí Minh chính thức giữ chức tổng bí thư vào kỳ đại hội năm 1956, nhưng Hồ trao hết mọi quyền lực cho Lê Duẩn sau khi Lê Duẩn quay về từ miền Nam vào cuối 1956, đầu 1957.
    [29]Tháng 2 1955, Trần Dần, một trong những nhân vật chủ chốt trong vụ NVGP, dẫn đầu một nhóm những nhà văn quân đội bất măn về sự thiếu tự do và sáng tạo trong văn học và nghệ thuật đến phàn nàn với Nguyễn Chí Thanh, lúc này là chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Tướng Nguyễn Chí Thanh bác bỏ những lời phàn nàn của nhóm này và cho là nhóm đă bị tư tưởng của chủ nghĩa tư bản ngấm vào ư thức. Xem Nguyễn Chí Thanh “Vài kinh nghiệm về lănh đạo tư tưởng,” trong Nguyễn Chí Thanh, Đảng ta lănh đạo tài t́nh chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân (Hà Nội: Sự Thật, 1970). Tuy nhiên, Tố Hữu mới chính là kẻ đứng sau những phong trào đàn áp trí thức và bắt họ phải tham gia những buổi tự kiểm cũng như bắt họ đi lao động cải tạo.
    [30]Việc đảng lo lắng về "sự suy giảm của tinh thần cách mạng" có thể thấy ngay từ những năm 1957. Xem Trần Huy Liệu, “Điểm lại thuyết ‘ba giai đoạn’ của chúng ta [Reanalysis of Our Three-Stage Theory],” Nghiên Cứu Lịch Sử [Historical Research] (NCLS) 34, (November 1957): 1–5. Các bài viết của Trần Huy Liệu lư luận rằng việc Việt Minh chống thực dân Pháp trong cuộc chiến thứ nhất ở Đông Dương đă không được chuyển thành cuộc tổng phản công và v́ vậy đă không thể giành được độc lập hoàn toàn. Là một đảng viên kỳ cựu và nguyên là Bộ Trưởng Bộ Tuyên Truyền, những bài viết của Trần Huy Liệu là lời ủng hộ mạnh mẽ cho chiến dịch dùng vũ lực giải phóng miền Nam của Lê Duẩn. Xem Liên-Hằng T. Nguyễn, “Vietnamese Historians and the First Indochina War,” in eds. Mark Lawrence and Fredrik Logevall, The First Vietnam War: Colonial Conflict and Cold War Crisis (Cambridge, MA: Harvard University Press, forthcoming).
    [31]Xem Smith, An International History of the Vietnam War, 1:69.
    [32]Xem Thomas Latimer, “Hà Nội’s Leaders and the Policies of War,” pp. 2–4, n.d., Folder 18, Box 01, John Donnell Collection (JD), The Vietnam Archive (VA), Texas Tech University. See also Elliott, The Vietnamese War, 1:216–224.
    [33]Ví dụ, xem báo cáo của Phạm Văn Đồng ở cuộc họp Hội đồng Nhà nước lần thứ 8. Báo cáo này nhấn mạnh sự cần kíp của việc theo đuổi thống nhất bằng con đường hoà b́nh. Nhân Dân, April 18, 1958. Thêm vào đó, Lê Duẩn không có mặt khi đại hội thông qua Kế hoạch ba năm ở Kỳ họp 14 tháng 11, 1958 v́ BCT gửi Lê Duẩn đi đánh giá t́nh h́nh miền Nam. Lê Duẩn quay lại Hà Nội tháng 1 năm 1959, kịp để dự phiên họp 15.
    [34]Xem Carlyle Thayer, War by Other Means: National Liberation and Revolution in Vietnam, 1954–1960 (Sydney: Allen & Urwin, 1989); Robert Brigham, Guerilla Diplomacy: The NLF’s Foreign Relations and the Vietnam War (Ithaca, NY: Cornell University Press, 1998), 1–18. Và xem Elliott, The Vietnamese War, 1:289–349; Duiker, The Communist Road to Power in Vietnam, 179–214. Đa số những giải thích việc Hà Nội tiến hành chiến tranh, cả trong thời gian xảy ra cuộc chiến và bây giờ, cho rằng mục đích chính để cứu những quân nổi dậy khỏi sự tiêu diệt của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, đặc biệt sau khi đạo luật 10/59 được ban hành tháng 5, đồng thời giữ phương hướng của cuộc cách mạng để khỏi rơi vào tay những phe phái khác khi đảng c̣n rất yếu ở miền Nam.
    [35]Xem Elliott, The Vietnamese War, 1:215. Thành viên BCT và những đảng viên, bao gồm Phạm Văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp, và cả Trường Chinh (trong một giai đoạn) không tin rằng tất cả những phương án khác đă được dùng đến, và họ tin rằng vũ lực chỉ được dùng đến như là phương án cuối cùng.
    [36]Việc Mao mạnh miệng ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc sau năm 1958 không tức thời được chuyển thành những hỗ trợ cụ thể với cuộc chiến ở miền Nam.
    [37]Ở một số vùng ở miền Nam, cho đến mùa thu năm 1959, nhiều câu hỏi được đặt ra về sự cân bằng giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao. Elliott, The Vietnamese War, 1:215. Xem thêm Smith, An International History of the Vietnam War, 1:157: “Cho đến khi quan hệ Nga-Trung được sáng tỏ, các lănh đạo Bắc Việt tránh có lập trường rơ ràng và tŕ hoăn việc xuất bản Nghị quyết ‘bảo thủ’ của Đại Hội 15.”
    [38]Việc Lê Duẩn được bầu làm tổng bí thư (tên chính thức là bí thư thứ nhất) trong Đại Hội Đảng lần 3 thay v́ Vơ Nguyên Giáp hoặc Trường Chinh là nhờ vào những hoạt động cách mạng của Lê Duẩn (bị tù), những kinh nghiệm lâu dài ở miền Nam và khả năng làm cầu nối cho những rạn nứt trong nội bộ Đảng. Theo Lưu Đoàn Huỳnh, Hồ Chí Minh chọn Lê Duẩn năm 1958 v́ những hoạt động ở miền Nam; Lê Duẩn trở thành nhân vật số một để lănh đạo cuộc kháng chiến. Lưu Đoàn Huỳnh (giám đốc Viện Quan Hệ Quốc Tế) nói với tác giả bài viết này như vậy vào ngày 21 tháng 6 năm 2005 ở Philadelphia.
    [39]Hồ Chí Minh gọi Đại hội Đảng lần 3 là "Đại hội Xây dựng Chủ nghĩa Xă hội ở miền Bắc và Đấu tranh cho việc Thống nhất Đất nước bằng con đường Hoà b́nh." Xem “World Situation and Our Party’s International Missions – As Seen From Hà Nội, 1960–1964,” December 1963, Folder 02, Box 08, Douglas Pike Collection (DP): Unit 06, “Democratic Republic of Vietnam,” VA.
    [40]Xem Trương Như Tảng, với David Chanoff và Đoàn Văn Toại, A Vietcong Memoir (New York: Vintage Books); and Christopher E. Goscha, “Réflexions sur la guerre du Viet Minh dans le Sud-Vietnam de 1945 à 1951 [War by Other Means: Reflections on the Viet Minh’s War in Southern Vietnam between 1945 and 1951],” in Guerres mondiales et conflits contemporains 206 (2002): 29–57. Xem thêm Thayer, War by Other Means, and Brigham, Guerilla Diplomacy; cả hai đều lư luận rằng Quân Giải Phóng không phải là đám quân bù nh́n hay một tổ chức tự trị.
    [41]Bản tiếng Việt, xem Nhân Dân, September 15, 1960, và bản Anh Ngữ, xem “Statute of the Vietnam Workers’ Party,” September 15, 1960, Folder 29, Box 07, DP: Unit 06, VA. Hiến pháp VNDCCH được Hội đồng Nhà nước thông qua tháng 12 1959, đă lập ra cơ cấu quyền lực ở Bắc Việt, nhưng kém quan trọng hơn Quy Chế Đảng 1960. Và xem Robert Brigham, “Revolutionary Heroism and Politics in Postwar Vietnam,” in After Vietnam: Legacies of a Lost War, ed. Charles H. Neu (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 2000), 86. Brigham lư luận rằng tại Đại hội 1960, đảng thông qua nguyên tắc quyết định tập thể để tránh trường hợp các phe phái tranh giành quyền lực sau khi Hồ Chí Minh chết đi. V́ vậy, sau Đại Hội 3, rất khó thấy được vị trí rơ ràng của những thành viên ở BCT, nhưng điều đó không có nghĩa là ở BCT không xảy ra những cuộc tranh căi và sự chia rẽ trong nội bộ sau Đại hội 1960.
    [42]“Statute of the Vietnam Workers’ Party,” September 15, 1960, Folder 29, Box 07, DP: Unit 06, VA.
    [43]Tôi cảm ơn David Marr, đă góp ư về bài viết này khi nó mới ở giai đoạn sơ khởi và chỉ ra phạm vi quyền lực của vị trí này. Xem thêm Thomas Latimer, “Hà Nội’s Leaders and the Policies of War,” p. 8, n.d., Folder 18, Box 01, JD, VA.
    [44]Xem “Statute of the Vietnam Workers’ Party,” 14.
    [45]Việc Nguyễn Chí Thanh được thăng chức đại tướng tháng 9 năm 1959 đưa ông lên ngang hàng với Vơ Nguyễn Giáp.

    Nguồn: Vol. 1, No. 1-2. Journal of Vietnamese Studies, published by University of California Press

  5. #5
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Đập tan các huyền thoại về Việt Nam

    Tác giả: Liên-Hằng Nguyễn

    Người dịch: Dương Lệ Chi

    11-08-2012

    Khi cuộc chiến ở Afghanistan kéo dài mà không nh́n thấy chiến thắng dứt khoát cho Hoa Kỳ, và quân đội Mỹ bắt đầu rút quân, so với cuộc chiến Việt Nam một lần nữa lại được bàn tán khắp nơi, 50 năm sau khi cả Washington và Hà Nội đă quyết định tăng cường lực lượng ở miền Nam, Việt Nam. “Chỉ lướt qua các từ ngữ quan trọng về chiến tranh Việt Nam”, Tom Engelhardt đă viết trong tạp chí Mother Jones, lưu ư “có ‘vũng lầy’ ” và “ư tưởng về chiến thắng ‘trái tim và lư trí’” cũng như “quả bom có thể, hay trong kỷ nguyên của chúng ta, có thể cho máy bay không người lái, ‘các mật khu’ ở nước ngoài” và thậm chí ”phiên bản một người đàn ông Mỹ Lai”. Mặc dù những điều tương tự này đặc biệt hấp dẫn các nhà b́nh luận – những người xem cuộc chiến của Mỹ ở Afghanistan thậm chí c̣n vô nghĩa hơn cuộc chiến ở Việt Nam và chủ trương một sự rút quân nhanh – nhưng họ sai lầm nghiêm trọng.

    Trong nhiều vấn đề rút ra từ những bài học ở Việt Nam và áp dụng vào Afghanistan, đó là lịch sử của chiến tranh Việt Nam thường bị hiểu lầm hoàn toàn. Lịch sử của cuộc chiến này liên tục thay đổi khi có bằng chứng mới xuất hiện, đặc biệt là từ phía bên kia. Do không chú ư nhiều về việc t́m hiểu động cơ của kẻ thù, các động lực bên trong và các mối quan hệ đối ngoại, chúng ta luôn có một h́nh ảnh không đầy đủ và thiếu chính xác về cuộc chiến tranh đó.

    Nếu chúng ta muốn học hỏi từ quá khứ, th́ nên từ bỏ bức màn tre mà từ lâu đă giấu việc Bắc Việt ra quyết định, để xua tan một số huyền thoại hằn sâu về cuộc chiến tranh thường được viện dẫn đó.

    Người ta thường tin rằng miền Bắc Việt quyết định đi đến chiến tranh trong năm 1959-1960 là để cứu cuộc nổi dậy ở miền nam khỏi bị diệt trừ và Đảng Cộng sản có được sự ủng hộ không mệt mỏi của người dân Việt Nam cho đến khi chiến tranh kết thúc năm 1975. Nhưng bằng chứng gần đây tiết lộ rằng, quyết định của đảng đi đến chiến tranh ở miền Nam, Việt Nam, có mối liên hệ mật thiết với các vấn đề ở trong nước. Chiến tranh cách mạng là một cách hiệu quả để đánh lạc hướng sự chú ư từ các vấn đề trong nước, gồm một chiến dịch cải cách ruộng đất tàn phá, một phong trào trí thức bất đồng chính kiến ​và một kế hoạch của chính phủ không thành công để chuyển đổi nền kinh tế xă hội chủ nghĩa.

    Một trong những quan niệm sai lầm lớn nhất của cuộc chiến Việt Nam là, ông Hồ Chí Minh là nhà lănh đạo lỗi lạc của Bắc Việt. Thực tế, ông Hồ là bù nh́n, trong khi Lê Duẩn, một người đứng bên lề lịch sử, lại là một kiến ​​trúc sư, nhà chiến lược chính và là chỉ huy trưởng của nỗ lực chiến tranh của Bắc Việt. Ông Duẩn nghiêm khắc, không ồn ào, xa lánh sự chú ư, nhưng ông có ư chí sắt đá, có kỹ năng quản trị và tập trung sự cần thiết để thống trị Đảng Cộng sản.

    Cùng với người đàn ông là cánh tay phải của ḿnh, ông Lê Đức Thọ bất khuất, người mà sau này đấu khẩu với Henry A. Kissinger trong các cuộc đàm phán ḥa b́nh Paris, ông Duẩn xây dựng một đế chế quân phiệt vững chắc, vẫn c̣n chi phối Hà Nội đến ngày nay. Các chính sách hiếu chiến của họ đă dẫn Bắc Việt vào cuộc chiến chống lại Sài G̣n và sau đó là Washington, và bảo đảm rằng một nền ḥa b́nh được thỏa thuận sẽ không bao giờ thay thế thắng lợi hoàn toàn.

    Ông Duẩn thống trị đảng với một bàn tay sắt và xem ông Hồ và Đại tướng Vơ Nguyên Giáp, người nổi tiếng với việc đánh bại Pháp ở Điện Biên Phủ, là mối đe dọa lớn nhất đối với quyền hành của ông ta. Ông ta loại bỏ ông Hồ, Tướng Giáp và những người ủng hộ họ khi quyết định gần như hầu hết các quyết định quan trọng.

    Năm 1963-1964, ông Duẩn buộc ông Hồ im lặng khi nhà lănh đạo có tuổi này chống đối quyết định gây tranh căi trong việc leo thang chiến tranh và t́m kiếm chiến thắng hoàn toàn trước khi lực lượng Mỹ có thể can thiệp. Và năm 1967-1968, có một cuộc thanh trừng với quy mô lớn ở Hà Nội, khi ông Hồ, Tướng Giáp và những người đồng minh của họ phản đối kế hoạch của ông Duẩn về tổng tấn công Tết Mậu Thân. Mặc dù cuộc chiến ở miền Nam lúc đầu đă tập hợp được những người miền Bắc để hỗ trợ đảng, nhưng nó nhanh chóng trở thành một vũng lầy. Ông Duẩn và ông Thọ phản ứng bằng cách tạo ra một chính phủ đồn trú, đă gán cho bất kỳ người nào chống lại chính sách chiến tranh của họ cái tội phản quốc. Bằng cách tăng quyền hạn của lực lượng an ninh nội bộ và an ninh tư tưởng, và Hà Nội chinh phục cuộc khởi nghĩa ở miền Nam, họ đă có thể tiến hành chiến tranh tổng lực theo quyết định của họ cho đến năm 1975.

    Sự ḱnh địch giữa Trung Quốc và Liên Xô cũng đóng một vai tṛ lớn trong việc xác định tiến tŕnh chiến tranh. Thuyết cấp tiến đang trỗi dậy ở Trung Quốc và việc Liên Xô thiếu cam kết đối với các cuộc cách mạng ở thế giới thứ ba, đă cho phép ông Duẩn ngă theo Trung Quốc và tiến tới cuộc chiến tranh với quy mô toàn diện ở miền Nam vào đầu thập niên 1960. Khi sự tham gia của Mỹ gia tăng vào năm 1965, viện trợ của Liên Xô đổ vào Bắc Việt. Đến năm 1968, tranh giành sự ảnh hưởng Hà Nội giữa Bắc Kinh và Moscow đă trở nên căng thẳng.

    Lê Duẩn đă t́m cách khẳng định quyền tự chủ cho Việt Nam bằng cách tung ra cả hai Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Xuân – Hè 1972 (VNCH gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa – ND), chiến dịch mà cả Bắc Kinh lẫn Moscow không chấp thuận. Năm 1972, các chuyến thăm Trung Quốc và Liên Xô của Richard M. Nixon đă đánh dấu đỉnh điểm sự ngăn cản của Trung – Xô về nỗ lực trong cuộc chiến Bắc Việt. Cả hai đồng minh [Trung Quốc và Liên Xô] gây áp lực lên Hà Nội để kết thúc cuộc chiến, dựa trên các điều khoản của Nixon khi họ tranh nhau về những ơn huệ của Washington. Thay v́ chờ đợi “sự phản bội của một nước lớn”, ông Duẩn và các đồng chí của ông đă phát động Chiến dịch Xuân – Hè, với mục đích lật đổ chính quyền Sài G̣n và tấn công một đ̣n chí mạng vào việc giảm bớt căng thẳng của Mỹ với Liên Xô và Trung Quốc.

    Cuối cùng, chính Mỹ đă tự đánh bại ḿnh trong cuộc chiến Việt Nam là một huyền thoại. Thật vậy, Việt Nam chẳng phải là những con rối hay là những đối thủ thụ động trong cuộc chiến tranh của họ. Họ định h́nh các hành động của Mỹ ở Việt Nam cũng như trật tự cuộc chiến tranh lạnh toàn cầu. Chính ông Duẩn đă đặt cược cho chiến thắng trong năm 1964, đă thúc đẩy Mỹ can thiệp vào một cách dứt khoát. Và các đồng minh của Mỹ ở Sài G̣n đă tŕ hoăn việc rút quân của Hoa Kỳ.

    Họ kiên tŕ theo đuổi lợi ích riêng, ngay cả khi những điều đó tỏ ra bất lợi cho liên minh Washington – Saigon. Làm chậm việc rút quân của Mỹ trong năm 1969 và phá tan các cuộc đàm phán ḥa b́nh giữa Kissinger và ông Thọ năm 1972-1973, các lănh đạo miền Nam Việt Nam đă làm cho việc Mỹ rút khỏi Đông Nam Á phức tạp rất nhiều. Mặc dù Washington có những lư do riêng về địa chiến lược và nội bộ để can thiệp và ở lại Việt Nam, những các nhà lănh đạo Hà Nội và Sài G̣n đă chi phối tính chất và tốc độ can thiệp của Mỹ.

    Chiến đấu trong cuộc chiến cuối cùng th́ luôn là một mối nguy hiểm. Nó càng trở nên khó hiểu hơn khi sự giống nhau về lịch sử thúc đẩy chính sách hiện hành, dựa trên sự hiểu biết không đầy đủ và sai lầm về các thất bại trong quá khứ của Mỹ. Khi bằng chứng lịch sử mới hiệu chỉnh lại sự hiểu biết của chúng ta về cuộc chiến Việt Nam và làm cho bất kỳ sự giống nhau trực tiếp nào không đứng vững, ít nhất chúng ta có thể rút ra một bài học: chúng ta nên khắt khe trong phân tích về nỗ lực chiến tranh của kẻ thù.

    Các lănh đạo Taliban có các quan điểm xung đột trong các cuộc đàm phán ḥa b́nh, triển vọng về hoà giải với chính quyền Afghanistan, và sự điều khiển phong trào. Với Mullah Muhammad Omar hành động như là lănh đạo tinh thần của Taliban, cơ hội đă xuất hiện cho một phe mạnh mẽ với một người chỉ huy quyết định – như trường hợp của ông Duẩn – thống nhất hoặc thống trị các nhóm ở Afghanistan đă bị chia rẽ. Lănh đạo mới này chắc chắn sẽ là người tham chiến, đặc biệt nếu Mỹ tấn công bằng một cuộc mặc cả không mong muốn với các quan chức Taliban ở Pakistan.

    Và ngay cả khi thương vong gia tăng để rồi cuối cùng dẫn đến một số các chiến binh ủng hộ ḥa b́nh, chính sách của Lầu Năm Góc về việc xếp tất cả những người đàn ông, những người t́nh cờ ở trong khu vực lân cận của các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái như các chiến binh có thể làm suy yếu khuynh hướng [ủng hộ ḥa b́nh] đó, cũng giống như cách mà Mỹ ném bom hạng nặng vào “vùng oanh kích tự do” và “vùng tấn công định vị” ở Việt Nam, đă làm cho nhiều người dân cay đắng gia nhập hàng ngũ Cộng sản.

    Điều rất quan trọng là Hoa Kỳ hiểu vai tṛ của các nhân vật trong khu vực – như các cơ quan an ninh của Pakistan – đóng vai tṛ quan trọng trong nội bộ chính trị Taliban. Trong khi sự ḱnh địch giữa Trung Quốc và Liên Xô cho phép Hà Nội duy tŕ quyền tự chủ của ḿnh trong lúc moi được viện trợ tối đa từ cả hai nước, cuộc nổi dậy ở Afghanistan không được hưởng lợi thế như vậy, đặc biệt kể từ khi sự ảnh hưởng của nước láng giềng Iran bị hạn chế. Do đó, Mỹ có được lợi trong nhiều hơn ở Afghanistan, hơn là họ đă có được ở Việt Nam.

    Cuối cùng, Hoa Kỳ h́nh dung được sự rút quân hoàn toàn vào năm 2014, nhưng như lịch sử cho thấy, các đồng minh của chúng ta có thể không luôn luôn thực hiện theo mong muốn của chúng ta. Có thể tùy thuộc vào chính phủ Hamid Karzai hay người kế nhiệm để thiết lập tốc độ rút quân của Mỹ khỏi Afghanistan. Như chúng ta đă thấy ở Việt Nam, chúng ta không thể giả định rằng chỉ một ḿnh chúng ta có thể quyết định các hành động của chúng ta.

    Liên-Hằng Nguyễn là giáo sư lịch sử ở trường Đại học Kentucky và là tác giả của cuốn sách: Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Vietnam (cuộc chiến Hà Nội: lịch sử quốc tế về chiến tranh v́ ḥa b́nh ở Việt Nam).

    Nguồn: The New York Times

    Bản tiếng Việt © Việt Sử kư 2012

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 05-10-2012, 10:47 PM
  2. International Mathematical Olympiad, 2012: Vietnam ranked 9th
    By TuongLaiVietNam in forum Tin Việt Nam
    Replies: 1
    Last Post: 21-07-2012, 11:48 AM
  3. Replies: 7
    Last Post: 29-12-2011, 06:47 PM
  4. Replies: 9
    Last Post: 08-11-2011, 08:37 PM
  5. Replies: 7
    Last Post: 10-09-2011, 02:33 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •