Page 1 of 3 123 LastLast
Results 1 to 10 of 28

Thread: Chiến tranh Đông Dương III

  1. #1
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    Chiến tranh Đông Dương III

    Chiến tranh Đông Dương III
    Tác giả: Hoàng Dung


    Thay lời tựa

    Tôi không biết phải gọi Hoàng Dung, tác giả cuốn sách này bằng danh hiệu ǵ. Về nghề nghiệp ông là bác sĩ, nhưng chức vị bác sĩ sẽ không làm cho giá trị cuốn sách này tăng lên một chút nào. Ông không phải là nhà văn, mặc dù thỉnh thoảng có viết đôi bài đăng báo. Ngay cả ông là tác giả thiên khảo cứu này, ông cũng không nhận là nhà biên khảo Có một điều chắc chắn: ông là một người ưa đọc sách, có thói quen ghi lại những ǵ ông rút tỉa được nơi những trang sách ông đă đọc.
    Tôi biết Hoàng Dung từ khi chúng tôi c̣n thơ ấu. Trong sân trường trung học Nguyễn Trăi, lúc trường này chưa có trụ sở riêng, c̣n học nhờ tại trường Tiểu học Lê Văn Duyệt. Năm đó là năm 1957, tôi học Đệ Ngũ, Hoàng Dung dưới tôi một lớp. Chúng tôi là bạn chơi banh trong trường. Hai năm sau tôi rời Nguyễn Trăi lên Chu Văn An, một năm sau chúng tôi gặp lại nơi trường Chu Văn An cũ, sau lưng trường Petrus Kư.
    Khi lên Chu Văn An, là học sinh Trung học đệ nhị cấp, chúng tôi ít giao thiệp v́ không c̣n đá banh, đá cầu trong sân trường nữa.
    Hơn mười năm sau gặp lại Hoàng Dung tại Pleiku. Ông đă là một bác sĩ quân y. Tuy là bạn thiếu thời, nhưng không phải đồng nghiệp nên thỉnh thoảng chúng tôi mới gặp nhau trong Câu lạc bộ sĩ quan quân đoàn, và đôi khi tệ hơn nữa là gặp nhau nơi bàn mạt chược. Dù gặp nhau ở nơi nào, ông cũng cho người khác thấy ông là người ít nói, lặng lẽ. Nhưng không một ai chối căi được ông là một người tử tế. Ông tử tế với bạn là chuyện đương nhiên, ông tử tế với binh sĩ dưới quyền. Ông là một y sĩ tận t́nh săn sóc thương binh của ta và của dịch.
    Thế rồi chúng tôi tan tác trong cuối mùa trận chiến. Đầu thập niên 80, gặp lại nhau trên xứ người. Hoàng Dung đang đi học lại. Ông mới tới Mỹ một thời gian ngắn, lại lao vào việc sách đèn để có thể đ́ hết con đường ông đă chọn, để tiếp tục tuân thủ lời thề Hyppocrate. Nơi xứ người thỉnh thoảng chúng tôi mới có cơ hội gặp nhau, khi th́ tôi sang miền Đông, khi th́ Hoàng Dung sang Cai cho đỡ nhớ không khí nước Việt.
    Cách đây gần một năm, Hoàng Dung gọi điện thoại đến tôi, ông muốn tôi đọc hộ một tập bản thảo. Ông dứt khoát không hé lộ một chút ǵ về nội dung cuốn sách, chỉ vắn tắt một câu: “ông đọc hộ tôi coi nó có ra cái giống ǵ không” Buông điện thoại xuống tôi nghĩ tới Hoàng Dung, những đồng nghiệp của ông, và thế hệ di dân đầu tiên, mà trong đó có Hoàng Dung và cả tôi.
    Rất nhiều người trong cộng đồng chúng ta, sau khi đă an tâm về vật chất, con người ta cần một món ăn tinh thần. Mỗi người đến với món ăn tinh thần này một kiểu. Có người thành nhà văn, nhà thơ. Có người thành nhạc sĩ, hoạ sĩ. Cũng không thiếu ǵ người trở thành ca sĩ tŕnh diễn trong ṿng thân hữu, trong những party mừng sinh nhật, kỷ niệm thành hôn hay trong các tiệc cưới. Có người trở thành những chuyên viên tranh đấu, có mặt trong năm bẩy đoàn thể, tổ chức. Có người không làm ǵ cả, chỉ ngơ ngơ ngác ngác nơi xứ người. Hoàng Dung không rơi vào những thông lệ trên. Dù nghĩ ǵ th́ nghĩ tôi không bao giờ tưởng tượng được Hoàng Dung, người bạn thiếu thời, một quân y sĩ nhiều lương tâm, sống giản dị cho tới năm ngoài 40 mới lập gia đ́nh, lại có thể rơi vào cái ṿng lợi, danh luẩn quẩn. Suốt mấy ngày liền, tôi bị cuốn sách của Hoàng Dung ám ảnh. Đă có lúc tôi nghĩ là bạn tôi chắc là đang cơn quẫn trí, một ḿnh lủi thủi một xó, thành ra viết văn làm thơ cho nó bớt buồn. Dù sao chăng nữa ở nhà viết bất cứ cái ǵ, cũng c̣n hơn mải mê trong những canh mạt chược, đắm đuối trong chỗ ánh sáng mờ ảo của vũ trường.
    Cầm cuốn bản thảo trong tay, một lần nữa những suy nghĩ về bạn cũ lộn tùng phèo. Đó không phải là một tập truyện ngắn, không phải một tập thơ, tập nhạc. Đó là tất cả những ǵ Hoàng Dung đọc trong những khi nhàn rỗi, bởi v́ ông làm việc cho một bệnh viện của một tỉnh nhỏ, thưa người. Tập bản thảo là kết quả của một thời gian dài cặm cụi, nghiền ngẫm, ghi chép. Hoàng Dung đặt tên cho cuốn sách của ông là: Trận chiến Đông dương hồi III. Bên dưới tên của cuốn sách có chua một hàng chữ: Chiến tranh biên giới Hoa Việt, Miên Việt 1979.
    Ông đă từng là một nạn nhân của cộng sản, đă từng ở tù vài năm. Vừa mới thoát khỏi hàng rào trại tù, là ông nhắm hướng biển Đông xông tới. May th́ đến được một bến bờ, không may th́ thêm một mạng người chui vào bụng cá. Nào có xá kể ǵ, v́ sinh mạng con người trong thời khoảng vừa tàn cuộc chiến, thật không khác ǵ sinh mạng một con kiến. Vài năm đầu tại Mỹ Hoàng Dung chúi đầu vào việc học. Ông chỉ thật sự đọc sách sau khi đă tốt nghiệp, đă thực tập và đă trở thành một y sĩ góp mặt với đời.
    Sau giờ làm việc tại bệnh viện ông rảnh rỗi, mượn sách thư viện về nhà, xúc t́m nơi những trang sách, về một đề tài ông rất quan tâm: Đó là những trận đánh trong chiến tranh Đông dương hồi III. Hồi I là chiến tranh Việt Pháp cho tới 1954, hồi II là chiến tranh Nam Bắc Việt nam cho tới 1975, và hồi III là chiến tranh tại vùng biên giới, giữa các nước đă từng có thời là đồng minh trong những trận chiến Đông dương cũ.
    Để có thể liên kết nhiều tài liệu, nhiều tác giả với nhau, ông nẩy ra ư định ghi chép lại. Ông ghi chú tất cả những điều ǵ cần ghi chú, sắp xếp cho thành từng chương sách, liên hệ cách nh́n của các tác giả, và rút ra cách nh́n của riêng ông. Nội dung tập bản thảo dầy hơn 200 trang, viết về các trận đánh biên giới xẩy ra năm 1979, giữa ba quốc gia đă từng có một thời là anh em, môi hở răng lạnh, đă từng là hậu phương lớn với tiền tuyến lớn: Campuchia-Việt nam-Trung hoa.
    Chỉ mới ngốn được hai trang đầu, tôi biết là tôi đă bất gặp một cuốn sách đặt đúng vấn đề.
    Tôi nhớ lại, trong khi trận chiến giữa Việt nam và Trung hoa đang xẩy ra khốc liệt, cũng như chiến tranh Việt nam và Campuchia tới giai đoạn một mất một c̣n. Không biết người Việt trong nước nghĩ ǵ, nhưng tại hải ngoại trong ḷng người Việt ly hương là một mớ suy nghĩ hỗn độn. Chẳng lẽ lại ca tụng Trung quốc, kẻ thù truyền kiếp của dân Việt từ phương Bắc. Lại càng không thể cổ vơ bạo quyền cộng sản trong nước, khi mà hàng trăm ngàn sĩ quan, công chức của miền Nam c̣n đang lê những tấm thân tàn trong các xó núi, góc rừng.
    Thành thử trong khi cả nước từ Bắc chí Nam, bất kể đảng viên cộng sản hay là dân chúng, đang oằn người chịu đựng một cuộc chiến tranh khác, th́ ngoài nước không một cá nhân nào, một tổ chức nào có một cái nh́n tương đối dứt khoát, đối với một tai hoạ mới đang diễn ra với anh em, ruột thịt đồng bào.
    Hoàng Dung có mặt trong nước khi chiến tranh biên giới xẩy ra, nhưng người cộng sản có bao giờ thông tin cho dân chúng một cách trung thực. Cái mà ông đọc ở báo chí trong nước, chỉ là những mớ bùi nhùi chữ nghĩa, chỉ là những khẩu hiệu ca tụng chiến thắng rất kêu, hệt như những tiếng phèng la của những tay Sơn Đông măi vơ.
    Ông muốn t́m hiểu việc ǵ đă đích thực xẩy ra. Do đó ngay khi điều kiện sinh sống cho phép, ông vùi đầu vào những cuốn sách của các nhà sử học, của các kư giả ngoại quốc đă viết về trận chiến tranh này. Nhân tiện ông ghi lại cho những bạn đồng tù của ông, hay bất cứ ai muốn t́m hiểu trận chiến này. Ông vẽ tại các cuộc chuyển quân của cả ba nước cộng sản tham chiến: Hoa, Việt, Miên. Ông cũng ghi lại những biến chuyển nhân sự, những con người trồi lên tụt xuống trong Chính trị Bộ Bắc Việt, hay trong Trung Nam Hải Bắc kinh, cũng như trong rừng già nhiệt đới Campuchia, để những người đọc ông, có thể hên kết những biến chuyển chính trị, xạ chiếu trên mặt trận quân sự như thế nào.
    Cách ông viết giống như ông đă tŕnh bầy luận án, do đó cuốn sách có một cái nh́n nhất quán, tŕnh bầy sáng sủa mạch lạc, tài liệu tra cứu dồi dào, với những phụ bản cần thiết. Chỉ cần đọc chương chót cuốn sách, chương ghi chú sơ lược về các nhân vật cuốn sách nói tới, người đọc sẽ thấy cái cần cù của tác giả. Mỗi một nhân vật đều có một vài ḍng tiểu sừ, ghi năm sinh, năm chết, giữ chức vụ ǵ, tại sao bị thanh trừng... Bảng danh sách này gồm có 166 nhân vật Việt, Hoa, Miên, Lào, Nga, Mỹ, Pháp. Tôi chọn thử một nhân vật:
    Đinh Bá Thi: Tên thật là Ung Văn Chương, được Lê Duẩn nâng đỡ, nhờ bầy kế để Duẩn lấy người vợ thứ ba. Đại diện Việt nam tại Liên hiệp quốc sau 1975, bị triệu hồi năm 1978 sau một vụ án gián điệp. Có tin bị công an đặc biệt của Việt nam giết v́ đă móc nối với Trung hoa”.
    Một thí dụ khác: “Kayxon Phomvihan (AL): Tổng bí thư Đảng cộng sản Lào, sau 1975 làm Thủ tướng Lào. Tên thật không rơ, con của Nguyễn Trí Loan, một công chức người Việt tại Lào”.
    Ông cũng thiết lập một danh sách 37 đại đơn vị của Việt nam, từ cấp Sư Đoàn trở lên, được thành lập trong thời điểm nào, và vùng hoạt động trong các trận đánh cùng với Trung quốc và Miên Cộng.
    Đánh giá lại trận chiến này là một việc làm cần thiết cho người Việt lưu vong, bởi v́ khi khối cộng sản tan thành mảnh nhỏ tại Đông Âu, và cả nước Nga, đă khai sinh lại nhiều quốc gia trên bản đồ thế giới. Trong việc khai sinh những quốc gia này, máu đă đổ không ít giữa những người có thời là đồng chủng, tại Nam Tư, cũng như tại Liên xô, huống hồ giữa hai sắc dân hoàn toàn khác biệt về ngôn ngữ cũng như chủng tộc giữa ṇi Việt và ṇi Hán, hay những oán thù chủng tộc giữa người Việt và người Khmer. Những tranh chấp lănh hải trong vùng biển Đông, nơi lưu trữ một nguồn hơi đốt và dầu hoả, có thể không thua lượng dầu thô dự trữ tại bán đảo ả Rập. Số lượng tài nguyên này chưa biết có đủ tốt để khai thác kỹ nghệ không. Nhưng có thể nó sẽ là một liều thuốc nổ, khơi ng̣i chiến tranh trong một vài năm tới.
    Một cuộc chiến nữa có thể xẩy ra giữa các nước trong vùng Đông Nam Á là một điều khả tín.
    V́ thế ước vọng khiêm nhường của Hoàng Dung, tác giả của cuốn sách này chỉ mong mỏi: Cuốn sách sẽ là bước đầu t́m hiểu các cỗi rễ, những căn nguyên, cũng như những yếu tố đă đưa tới chiến tranh giữa Việt nam và hai nước lân bang. Để nếu không giải quyết được th́ cũng làm giảm đi sự nghi kỵ và ḷng thù hận, hoặc tăng thêm sự cảnh giác về mối đe doạ thường trực của đất nước.
    Hoàng Dung là một ngạc nhiên trong đời sống tôi. Biết nhau suốt 40 năm tôi chưa bao giờ có dịp nh́n ông thật kỹ. Cuốn sách cho tôi biết một điều: Có những con người b́nh thường mà chúng ta tiếp xúc hằng ngày, tưởng như đă hiểu, đă biết rơ về họ. Kịp cho tới khi có một việc không b́nh thường xẩy ra, mới là dịp để chúng ta biết con người đó đích thật nghĩ ǵ, làm ǵ?
    Nếu như ông gửi tới tôi bản thảo một tập truyện ngắn, một tập thơ th́ có thể ông sẽ là một “nhà văn y sĩ”, như một số cây bút, hay chua thêm chữ MD dưới tên tác giả mỗi khi viết bài. Nếu ông viết một tài liệu y khoa tôi đă không ngạc nhiên, mà tài liệu y khoa th́ chắc chắn người nhận là các đồng nghiệp của ông. Tôi biết ǵ về thuốc men, về bệnh trạng, về cơ thể con người?
    Đọc xong tập bản thảo, tôi biết ông là người như thế nào ông là một người học thức khoa bảng với cấp bằng ông hiện có, với nghề nghiệp ông đang làm, nhưng đồng thời ông cũng là trí thức. Chữ trí thức với nghĩa giản dị, khiêm tốn và đúng nghĩa nhất của danh từ này.
    Xin thành thật cám ơn người bạn thuở thiếu thời, mà măi tới 40 năm sau tôi mới có dịp nhận biết con người thực sự, ẩn sâu trong những công việc ông đă làm cho chính ông, cho bằng hữu, cho bệnh nhân. Bất kể bệnh nhân ấy là ai, làm ǵ, từ đâu tới
    Xin cám ơn cuốn sách Chiến Tranh Đông dương III, tác phẩm đă soi tỏ cho tôi những điều tù mù tăm tối của hơn mười lăm năm trước.

    Hoàng Khởi Phong
    Ghi nhận của Hoàng Dung, b́a Khánh Trường, tŕnh bày Cao Xuân Huy, Văn Nghệ xuất bản Califomia USA ISBN 1-886566-85-2

  2. #2
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Chiến tranh Đông Dương III
    Tác giả: Hoàng Dung


    Chương 1


    Sơ lược lịch sứ Cam pu chia từ lập quốc đến thời cận đại

    Lịch sử Việt nam từ khi lập quốc đă luôn luôn có những quan hệ thăng trầm với Trung hoa. Văn minh Trung hoa đă ảnh hường nhiều đến dân tộc Việt nam trong cả thời kỳ bị đô hộ hay thời kỳ độc lập. Do đó, người Việt nam đă biết nhiều về văn hoá cũng như lịch sử của Trung hoa, nhưng đă rất mù mờ về hai quốc gia lân bang khác ở phía tây là Lào và Campuchia, chỉ v́ hai quốc gia này đă không gây nhiều ảnh hưởng đến an ninh lănh thổ cũng như nếp sống văn hoá xă hội của Việt nam.

    Một trong những nguyên nhân sâu xa đưa đến cuộc chiến tranh Đông dương thứ ba hay cuộc chiến tranh hậu chiến là mối thù hận lâu đời của người Campuchia đối với người Việt Mối thù hận này, ít có người Việt nào để ư đến nhiều, mặc dù đă kéo dài suất trong lịch sử mấy trăm năm nay, kể từ khi Việt nam đă thôn tính xong nước Chiêm Thành, và trở nên một lân quốc của Campuchia.
    Cũng như lịch sử Việt nam, nguồn gốc lập quốc của Campuchia rất mơ hồ. Người ta chỉ biết tại vùng đất trước kia từng thuộc Campuchia đă có người sinh sống từ hai ngàn năm trước Tây lịch. Quốc gia đầu tiên được biết đến ở phần đất này là Phù Nam, khi thứ sử Giao Châu là Sĩ Nhiếp năm 220 báo cáo về triều đ́nh Đông Hán là đất Giao Châu (Việt nam hồi đó) bị quân Lâm ấp (sau là Chiêm Thành) và Phù Nam quấy nhiễu. Năm 245, vua Tàu nhà Hán có gửi một sứ bộ đến Phù Nam. Một trong những sứ giả là Khang Thái, khi về nước đă viết về quốc gia này. Theo ông, người sáng lập ra vương quốc là vua Kaundinya. Ông đến từ Ấn độ, đánh bại nữ hoàng Liệu Yeh rồi kết hôn với bà này. Tuy nhiên, cũng như người Việt từng tự hào là con rồng cháu tiên, người Khmer cũng huyền thoại hoá lịch sử của họ. Trên một bia dá t́m thấy ở Phú Yên, có khắc một chuyện thần tiên, trong đó kể lại vua Kaundinya có một cây thương thần và đă kết hôn với con gái của thần rắn Nga. Do đó mà về sau, thần rắn trở nên một biểu tượng cho nguồn gốc thần thánh của dân tộc Campuchia.
    Đế quốc Phù Nam, cũng như tất cả những đế quốc khác, sau một thời gian hưng thịnh, rồi cũng bị sụp đổ vào thế kỷ thứ sáu do cuộc nổi loạn của một quốc gia chư hầu là Chân Lạp. Theo sử nhà Tuỳ, Chân Lạp là một nước nhỏ ở phía tây nam Lâm ấp (vùng rừng núi Ratakini ở phía tây của Kontum và Pleiku) và dân tộc Chân Lạp cũng thuộc giống dân Khmer. Sau khi tiêu diệt triều đ́nh Phù Nam, vương quốc Chân Lạp luôn luôn có nội chiến, và đến năm 706 th́ lănh thổ bị chia làm hai nước: Thượng hay Thổ Chân Lạp, và Hạ hay Thuỷ Chân Lạp.
    Năm 802, vua Jayavarman II, một vị vua sáng suốt của Thổ Chân Lạp lên ngôi. Ông thống nhất hai nước, củng cố hành chánh, đổi tên nước là Kambuja, tên nguyên thuỷ của Campuchia, dời đô về Angkor, mở đầu một kỷ nguyên vàng son. Những vị vua kế nghiệp ông đă xây thêm nhiều đền đài lăng tẩm, nhất là cha con vua Indravarman (877- 900) đă phát triển hệ thống dẫn thuỷ nhập điền, đào những con kinh rộng hơn cây số, những hồ chứa nước, mở ra một cuộc “cách mạng xanh” khiến cho đất đai Campuchia có thể sản xuất lương thực dồi dào cho suốt mấy trăm năm. Một vị vua nổi tiếng khác, vua Suryavarman II (1113- 1150) đă bành trướng đất đai đến bán đảo Malaysia, đánh phá Chiêm Thành, và xây dựng ngôi đền Đế thích Angkor Wat, một công tŕnh kiến trúc nổi tiếng nhất Đông Nam Á. Sau khi vua Suryavarman II băng hà, thành Angkor bị người Chiêm Thành tấn công, và vua Jayavarman VII sau đó lên ngôi. Ông có lẽ là vị vua nổi tiếng nhất trong lịch sử Campuchia. Ông hưng binh phục hận và chinh phục Chiêm Thành, biến nước này thành chư hầu, mở rộng lănh thổ. Đồng thời ông đào thêm kinh rạch, xây dựng Đế Thiên Angkor Thom và đền Bayon, cùng hơn một trăm ngôi nhà nghỉ mát. Nhưng những chiến công của ông và những công tŕnh vĩ đại đó đă phải trả một giá rất đắt. Dân chúng phải làm việc như nô lệ để xây dựng và trùng tu cung điện, đền đài. Trai tráng bị cưỡng bách ṭng quân chinh chiến liên miên. Tài nguyên quốc gia bị kiệt quệ, và ngay sau khi vua Jayavarman VII qua đời, những ǵ ông thực hiện được hoàn toàn tan ră. Tuy nhiên, những công tŕnh xây dựng và những chiến công hiển hách của ông đă trở nên niềm hứng khởi cũng như mối ám ảnh cho đường lối cai trị cuồng điên của những lănh tụ Khmer Đỏ sau này.
    Sau khi vua Jayavarman VII qua đời (năm 1228), triều đại Angkor bắt đầu suy tàn, khởi đầu là nước Chiêm Thành thâu hồi độc lập. Từ đó, người Chiêm Thành và người Thái liên tiếp tấn công thủ đô, triều đ́nh phải di chuyển về Phnom Penh (1434), rồi Lovek (15161. Đế Thiên Đế Thích bị bỏ hoang. Năm 1594, quân đội Thái tấn công chiếm được kinh thành Lovek. Họ đô hộ cả quốc gia, tịch thu và cướp bóc của cải, bắt đem về Thái lan hàng chục ngàn thợ giỏi, trí thức, nghệ sĩ, tăng sĩ. Dù cho về sau, dân Campuchia đă nổi dậy đánh đuổi được quân Thái lan, nhưng cũng kể từ lúc đó, người Campuchia không c̣n năng lực sản xuất được những công tŕnh mỹ thuật và kiến trúc vĩ đại như xưa, Quốc gia Campuchia không bao giờ hồi phục lại phong độ cũ
    Cũng trong giai đoạn suy tàn đó, vào thế kỷ thứ mười bảy, Việt nam đă thôn tính xong quốc gia Chiêm Thành và trở nên một lân quốc trực tiếp của Campuchia. Bị nằm kẹt giữa hai quốc gia hùng mạnh đang phát triển, Campuchia chỉ có một cách duy nhất để sống c̣n là hoặc thần phục Thái lan, hoặc thần phục Việt nam, có khi đồng thời thần phục cả hai nước. Nhưng v́ nhu cầu bành trướng lănh thổ của Việt nam, và v́ nội bộ triều đ́nh Campuchia luôn luôn lủng củng, lănh thổ quốc gia Campuchia dần dần bị thu hẹp. Tới thế kỷ thứ mười chín th́ Việt nam đă chiếm hết lănh thổ Thuỷ Chân Lạp cũ, và nếu người Pháp không can thiệp vào Đông dương, có lẽ quốc gia Campuchia đă biến mất.
    Người Pháp bắt đầu can thiệp vào nội t́nh Đông dương vào thế kỷ thứ mười chín. Lúc đó người Anh đă chiếm được Ấn độ, Malaysia và người Pháp đang cần một đầu cầu để đi vào thị trường rộng lớn Nam Trung hoa. Trong thời gian đó, Nhật bản có Minh Trị Thiên Hoàng, Thái lan có vua Mongkut có đầu óc canh tân, th́ những vị vua triều Nguyễn đă vụng về thi hành chính sách bế quan toả cảng và đàn áp đạo Thiên Chúa, khiến cho người Pháp có cớ để tấn công Việt nam. Từ năm 1851, sau khi vua Tự Đức kư dụ cấm đạo, các tướng Pháp Grenouilly, Charner liên tiếp bắn phá Đà Nẵng và rồi Bonard, De Lagrandière lần lượt chiếm hết sáu tỉnh Nam Kỳ làm thuộc địa. Tiếp theo, người Pháp bắt đầu ḍm ngó Campuchia. Tháng 9.1862, Bonard đích thân sang thăm vua Norodom (Nặc Ông Chân), yêu cầu nhà vua nhận cho Pháp bảo hộ. Nhà vua c̣n trù trừ th́ năm sau, Lagrandière sợ nếu để tŕ hoăn lâu th́ Thái lan sẽ nhảy vào tranh giành ảnh hưởng nên đă đích thân lên Phnom Penh gặp Norodom, ép nhà vua kư hiệp ước bảo hộ vào tháng 7-1863.
    Mới đầu, người Pháp chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ và Campuchia với mục đích t́m đường đi đến Nam Trung hoa. Một phái đoàn thám hiểm ngược ḍng sông Cửu Long được thành lập, do De Lagrée làm trưởng phái đoàn, Francis Garnier phụ tá. De Lagrée bị chết trong chuyến thám hiểm, c̣n Garnier đến được Vân Nam. Phái đoàn nhận thấy không thể dùng tàu bè ngược sông Cửu Long để lên Vân Nam, nhưng tại Vân Nam, Garnier gặp Jean Dupuis (Đồ Phổ Nghĩa), một thương gia, Jean Dupuis xúi Garnier yêu cầu Thống Đốc Nam Kỳ Duprée can thiệp để Dupuis có thể dùng sông Hồng Hà để sang Vân Nam buôn bán. Garnier được cử đem quân ra Hà nội dàn xếp, và sau mấy ngày thương thuyết không xong, Garnier tấn công và lấy được thành Hà nội. Tổng đốc Hoàng Diệu tự tử, Garnier sau đó cũng bị quân Cờ Đen phục kích giết chết.
    Thấy không sử dụng được sông Cửu Long, người Pháp t́m cách khai thác những mối lợi khác. Năm 1884, họ đ̣i vua Norodom phải kư thoả ước để người Pháp được nắm toàn quyền về hành chánh, tư pháp, tài chánh, thương mại và thu tất cả mọi thứ thuế. Vua Norodom từ chối, Lagrandière tự đem tàu chiến lên Phnom Penh, vào tận hoàng cung, ép vua Norodom phải kư.
    Tự ái dân tộc bị tổn thương, nhân dân Campuchia nổi loạn dưới sự lănh đạo của hoàng thân Si Vatha. Người Pháp phải đánh dẹp hai năm mới yên. Vua Norodom chết năm 1904, em của ông là Sisowath nối ngôi, trị v́ đến năm 1927 th́ con là Monivong nối nghiệp. Nhưng khi Monivong mất năm 1941 th́ toàn quyền Decoux lại chọn Sihanouk là chắt của vua Norodom lên ngôi vua, chỉ v́ lúc đó ông ta c̣n trẻ và người Pháp nghĩ là ham chơi, thiếu kinh nghiệm.

    Nước Campuchia, dưới sự bảo hộ của Pháp, có được một thời kỳ tương đối yên tĩnh, và họ cũng may mắn không bị liên quan nhiều đến thế chiến thứ hai. Tuy rằng mối quan tâm chính của người Pháp là bóc lột tài nguyên và nhân lực của dân bản xứ, nhưng họ đă bảo vệ được sự toàn vẹn lănh thổ của Campuchia và đă làm được vài công tŕnh có lợi ích. Trước hết là sự phát hiện và trùng tu những lăng tẩm Đế Thiên Đế Thích, làm sống lại một thời đại vàng son rực rỡ của quốc gia Campuchia khơi dậy niềm tự hào dân tộc. thứ hai là họ đă canh tân hệ thống giáo dục, mở mang dân trí, trong đó có sự thành lập hai cơ sở chính là Viện nghiên cứu Phật học và trường trung học Sisowath. Hai cơ sở này đă là nơi đào tạo ra những lănh tụ tương lai của Campuchia.
    Viện nghiên cứu Phật học Phnom Penh được thành lập năm 1930, với sư giúp đỡ của một học giả người Tháp bà Suzanne Karpelès, một nhân viên thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ Hà nội. Viện chủ trương phát huy những tinh tuư của Phật Giáo tiểu thừa gạt bỏ những lễ nghi mê tín, đồng thời làm sống lại niềm kiêu hănh và khát vọng của nhân dân Campuchia. Trong một xứ không có giai cấp sĩ phu hay quan lại và Phật Giáo được coi gần như là quốc giáo, tầng lớp sư săi đă có một uy tín và ảnh hưởng rất lớn. Họ sống khổ hạnh, đạo đức. Họ nuôi cô nhi, làm việc thiện, dạy dỗ trẻ con. Người Campuchia khắp nơi đổ về học, nhất là những người Khmer Hạ từ vùng đồng bằng Cửu long trước kia là Thuỷ Chân Lạp nay đă thuộc Việt nam. Trong công cuộc phục hưng văn hoá cổ truyền, Viện Phật học đă gián tiếp phát huy tinh thần quốc gia chóng thực dân và bài Việt nam.
    Một cơ sở giáo dục khác, trường trung học Sisowath, được coi như nơi tập trung những tinh hoa của giới học sinh. Qua hội ái hữu cựu học sinh, họ đă qui tụ được một nhóm trí thức sau này trở nên những lănh tụ chính trị, mà tư tưởng cũng như khuynh hướng chính trị dù rất khác nhau của họ đă có ảnh hưởng quan trọng đến vận mạng của dân tộc Campuchia suốt mấy chục năm qua.
    Người lănh tụ quốc gia đầu tiên của Campuchia trong giai đoạn này là ông Sơn Ngọc Thành. Theo ông hoàng Sihanouk, ông Sơn Ngọc Thành là anh em của Sơn Ngọc Minh, lănh tụ đầu tiên của phong trào cộng sản Campuchia, và Sơn Thái Nguyên, cựu nghị sĩ Quốc hội Việt nam cộng hoà - nhưng chi tiết này có lẽ không xác thực, v́ ông hoàng Sihanouk đă rất ganh ghét Sơn Ngọc Thành - Sơn Ngọc Thành là một người Khmer Hạ, sinh trưởng ở vùng đồng bằng Cửu Long, học hết trung học ở Việt nam, sau đó sang Pháp học Luật, và mấy năm sau, dù chưa tốt nghiệp, ông trở về Phnom Penh. Với tŕnh độ học vấn của ông lúc đó, ông trở nên một nhân vật quan trọng trong Viện Phật Học và là một gạch nối quan trọng giữa tầng lớp sư săi và nhóm tri thức cựu học sinh Sisowath. Nhóm trí thức này phần lớn có địa vị, có khả năng tài chánh, có kiến thức chính trị, trong khi tầng lớp sư săi lại có uy tín và tổ chức sâu rộng trong quần chúng. Năm 1936, Sơn Ngọc Thành xuất bản tờ báo Nagaravatta. Dưới danh nghĩa truyền bá Phật Giáo và bảo tồn văn hoá, tờ báo kêu gọi đấu tranh giành độc lập. Tờ báo cũng cực lực công kích sự ưu đăi của người Pháp dành cho người Việt khi họ dùng người Việt trong những chức vụ hành chánh ở Campuchia.
    Mấy năm sau, thế chiến thứ hai bùng nổ, quân Nhật tiến vào Campuchia, nhưng vẫn để người Pháp duy tŕ bộ máy hành chánh. Lo sợ trước cao trào đấu tranh của dân bản xứ, năm 1942, người Pháp đóng cửa tờ báo Nagaravatta, bắt giữ lănh tụ Phật Giáo Hem Cheav. Nhà sư này sau đó chết trong tù tại Côn Đảo.
    Việc bắt giữ cao tăng Hem Cheav đă gây phẫn nộ trong dân chúng Campuchia. Ngày 20-7-1942, Sơn Ngọc Thành tổ chức một cuộc biểu t́nh lớn đ̣i Pháp phải thả hết tù chính trị và trao trả quyền tự quyết cho dân tộc Campuchia. Cuộc biểu t́nh bị người Pháp dẹp tan và người Nhật không can thiệp. Sơn Ngọc Thành phải trốn sang Nhật. Mấy năm sau, quân Nhật đảo chánh quân Pháp, ép ông hoàng Sihanouk thành lập một chính phủ thân Nhật, ra tuyên ngôn độc lập trong khối Thịnh vượng Đại Đông Á. Sơn Ngọc Thành về nước làm Bộ trưởng ngoại giao. Mấy tháng sau, Nhật đầu hàng Đồng Minh, và ngày 9-8-1945, Sơn Ngọc Thành đảo chánh tự đứng lên làm Thủ tướng.
    Lúc đó, tại châu Âu, Đức Quốc Xă đă đầu hàng chính phủ De Gaulle không che giấu ư định trở lại Đông dương. Để cứu văn t́nh thế, Sơn Ngọc Thành mới thoả hiệp với Việt Minh để thành lập một mặt trận chung chống Pháp, nhưng viên Bộ trưởng quốc pḥng của ông đă phản bội, trốn xuống Sài g̣n, báo cho Pháp biết kế hoạch. Ngày 10-10-1945, liên quân Anh Pháp Ấn tiến vào Phnom Penh bắt giam Sơn Ngọc Thành, tái lập chế độ thuộc địa và cho Sihanouk trở lại làm vua. Sơn Ngọc Thành bị kết án hai mươi năm khổ sai, đầy sang Vence rồi Poitiers. Ông được thả năm 1950, nhưng uy tín ông cũng lu mờ dần. Sau giai đoạn hỗn loạn đó, hai phong trào giải phóng quốc gia được thành lập. Ở phía tây, là phong trào Khmer Issarak, được chính quyền Thái lan dung túng và giúp đỡ. Đây là phong trào gồm nhiều thành phần, bảo hoàng có, phe Sơn Ngọc Thành có, tả phái có, kết hợp lại cùng chung mục đích là đánh đuổi thực dân Pháp. Ở phía đông, một lănh tụ Phật Giáo, nhà sư Achar Man, đă gia nhập đảng cộng sản Đông dương khi bị tù ở Côn Đảo cùng với các tù nhân cộng sản Việt nam, trở nên lănh tụ đầu tiên của phong trào cộng sản Campuchia với bí danh Sơn Ngọc Minh (kết hợp hai tên Hồ Chí Minh và Sơn Ngọc Thành). Tuy thế, hai phong trào này vẫn c̣n yếu ớt, cho nên trong chiến tranh Đông dương thứ nhất, t́nh h́nh chiến sự Campuchia tương đối yên tĩnh. Khi chiến tranh chấm dứt, hai phong trào này gần như tan ră.
    Tại hội nghị Genève năm 1954, các lănh tụ cộng sản Việt nam, Trung hoa, Liên xô đă không đếm xỉa ǵ tới cộng sản Campuchia. Việt nam được nửa quốc gia phía bắc, cộng sản Lào được hai tỉnh Sầm Nứa và Phong Saly. Riêng cộng sản Campuchia một số phải lui vào bóng tối, một số khác giả làm bộ đội Việt nam theo tàu Ba lan đi Hà nội. Một ḿnh ông hoàng Sihanouk là có quyền tuyên bố đă giành được độc lập và toàn vẹn lănh thổ một cách hoà b́nh. Đối với đa số dân Campuchia, ông trở nên một anh hùng giải phóng dân tộc. Nhưng dù khôn khéo đến đâu, ông cũng không thể giữ cho quốc gia Campuchia đứng ngoài ṿng tranh chấp của cuộc chiến tranh Đông dương thứ hai và vận mạng không may của dân tộc Campuchia đă phải trải qua từ thảm trạng này sang đến thảm trạng khác, đúng như lời tiên đoán của ông nội ông: Sẽ có ngày dân Campuchia sẽ phải chọn lựa, hoặc bị tiêu diệt bởi con cọp, hay bị nuốt bởi con cá sấu. Xét bề ngoài, Campuchia có một thời gian hoà b́nh từ 1954 đến 1970. Trong khi trận chiến Đông dương thứ hai diễn ra ở Việt nam kéo dài gần hai mươi năm, th́ nội chiến Campuchia chỉ thực sự bùng nổ dữ dội từ 1970 đến 1975. Nhưng trong khoảng thời gian này, những diễn biến chính trị nội bộ cùng nhưng biến chuyển ở Việt nam đă đưa đến sự phát triển của phong trào cộng sản Campuchia, lần này được lănh đạo bởi những tay lănh đạo mới, có khả năng hơn (tương đối có học nhất trong những lănh tụ cộng sản châu Á), và cuồng tín hơn. V́ thế, dù cuộc nội chiến chỉ xảy ra trong năm năm nó đă gây ra những tổn hại nhân mạng, kinh tế và xă hội nghiêm trọng.

    Nhân vật chính trị nổi bật nhất trong giai đoạn này vẫn là ông hoàng Sihanouk. Ông là một người đa dạng. Tuỳ theo cách nh́n của mỗi người ông ta có thể là một ông vua b́nh dân, một nhà độc tài, một chính trị gia khôn khéo, một kẻ cơ hội, một nhà soạn nhạc dở hay một diễn viên điện ảnh tồi, ông đă từng cộng tác với Pháp, với Nhật nhưng vẫn tự nhận là anh hùng dân tộc. Khi thấy cộng sản mạnh, ông đi đôi với Trung quốc rồi Việt cộng. Sau 1968, Việt cộng bị yếu đi, ông t́m cách trở lại kết thân với Mỹ. Sau khi bị đảo chánh, ông theo Khmer Đỏ. Thoát được ra ngoài, ông đả kích họ kịch liệt. Tuy ông không phải là một nhà lănh đạo nh́n xa trông rộng, nhưng trong cái hoàn cảnh chênh vênh của nước ông ở bên cạnh một quốc gia mà t́nh h́nh luôn luôn sôi động như Việt nam, sự khôn khéo và đường lối chính trị đu dây của ông đă giúp ông lúc nào cũng là một trong những nhân vật chính trong mọi hoàn cảnh.
    Sau năm 1954, theo hiến pháp, Campuchia phải bầu cử quốc hội. Sợ rằng các đảng đối lập có thể thắng cử và lập chính phủ, Sihanouk đang làm vua tự ư thoái vị, nhường ngôi cho cha, rồi dùng uy tín cá nhân của ḿnh kết hợp những đảng phái ôn hoà và hữu phái lại thành một đảng, lấy tên là Cộng đồng nhân dân xă hội (Sangkum Reasts Niyum). Cùng ra tranh cử trong thời gian đó là những đảng viên của đảng Độc lập (phe Sơn Ngọc Thành), đảng Nhân dân (của Keo Meas, cộng sản trá h́nh), đảng Dân chủ (Thioun Mumm, cũng cộng sản). Nhờ uy tín cá nhân của Sihanouk, cũng như nhờ gian lận và đàn áp, đảng Sangkum của Sihanouk chiếm được tất cả các ghế trong quốc hội, nhưng ông ta vẫn không nương tay với các chính khách đối lập, nhất là các cán bộ cộng sản. Chủ bút tờ báo cộng sản Cờ Giải Phóng Pracheachon bị đánh đập, hành hung rồi chết v́ vết thương hai ngày sau đó. Thioun Mumm phải trốn về Pháp, Keo Meas trốn sang Bắc Việt. Phong trào cộng sản Campuchia càng suy đồi hơn vào năm 1959, khi lănh tụ cộng sản số hai phụ trách nông thôn là Siêu Hung về hồi chánh, chỉ điểm cho mật vụ của Sihanouk bắt bớ, phá hoại hết những cơ sở cộng sản ở nông thôn.
    Thời gian đó, các trí thức tả phái Khieu Samphan, Hou Youn đă tốt nghiệp bên Pháp trở về dạy đại học và hoạt động cộng sản nằm vùng. Trong khi đàn áp và tiêu diệt những tên cộng sản “xấu” ở trong nước, th́ Sihanouk lại kết thân với những chính quyền cộng sản “tốt” ở ngoài. Ông tuyên bố theo đường lối trung lập không liên kết và gia nhập khối Á Phi. Đường lối này rất phù hợp với Trung hoa, không muốn thấy Hoa kỳ có căn cứ hay ảnh hưởng ở biên giới phía nam, và với Bắc Việt, v́ Sihanouk đă làm ngơ để cho Việt nam dùng đất Campuchia làm đường ṃn tiếp vận và mật khu an toàn. Khôn ngoan hơn nữa, năm 1962, ông mời những trí thức tả phái tham gia chính phủ. Hu Nim được cử làm phụ tá chủ bút báo đảng Sangkum, Samphan làm Bộ trưởng Thương mại và Hou Youn Bộ trưởng Kế hoạch. Mấy người này mới làm được một vài cải cách nhỏ th́ năm sau, 1963, song song với những cuộc biểu t́nh của sinh viên và Phật tử ở Việt nam, sinh viên học sinh ở tỉnh Siem Reap cũng biểu t́nh phản đối cảnh sát Campuchia tham nhũng và có những hành vi đàn áp hung bạo. Họ cũng phản đối luôn cả Sihanouk. Đây là một biến cố tự phát, nhưng là lần đầu tiên ở Campuchia có biểu t́nh phản đối chính phủ. Sihanouk nghi ngờ phe tả xúi dục, buộc Khieu Samphan, Hou Youn, Hu Nim phải từ chức. C̣n Saloth Sar bị săn đuổi phải trốn vào rừng.
    Tuy đàn áp tả phái trong nước, Sihanouk vẫn tiếp tục chính sách đối nội và đối ngoại lưng chừng. Để Trung hoa và cộng sản Bắc Việt không viện trợ cho cộng sản Campuchia, ông quốc hữu hoá nhũng ngành sản xuất, ngưng nhận viện trợ Mỹ, và làm ngơ cho những hoạt động của Việt cộng ở vùng biên giới. Mất viện trợ Mỹ, ngân sách bị thiếu hụt, Sihanouk ra lệnh thu mua lúa gạo với giá rẻ hơn. Điều này khiến nông dân bất măn và họ không chịu tăng gia sản xuất. Ngay cả phe hữu cũng bất b́nh v́ thái độ đối ngoại thân Cộng và v́ ngân sách quốc pḥng bị giảm. Họ càng bất măn hơn khi Sihanouk đứng ra triệu tập Hội nghị nhân dân Đông dương ở Phnom Penh năm 1966, và chỉ mời Bắc Việt, Mặt trận giải phóng, và Pathet Lào tham dự. Vào cuối năm đó, Quốc hội Campuchia được bầu lại. Chỉ trừ Khieu Samphan, Hou Youn và Hu Nim đắc cử, c̣n lại toàn là dân biểu phe hữu. Lon Nol được bầu làm Thủ tướng, và chính phủ bắt đầu chính sách thu mua lúa gạo một cách cứng rắn hơn.
    Mầm mống bất măn nổi lên. Sáng ngày 2-4-1967, nông dân làng Samlaut tỉnh Battambang nổi loạn, giết chết hai binh sĩ, cướp súng ống rồi tấn công đồn bót tỉnh ly. Cuộc nổi loạn bị dẹp tan, nhưng ở biên giới phía đông gần vùng tam biên, Saloth Sar và Trung ương Đảng cộng sản Campuchia nghĩ rằng thời gian đă chín mùi để có thể phát động đấu tranh vũ trang chiếm chính quyền, bắt đầu nổi lên gây rối. Sihanouk tố cáo phe tả đứng đằng sau cuộc nổi loạn ở Samlaut nên cho mật vụ bắt bớ đàn áp. Khiêu Sam phan, Hou Youn, Hu Năm phải trốn vào bưng. Kể từ lúc đó, Sihanouk mất dần sự ủng hộ của cả phe tả lẫn phe hữu. Ngày 18-3-1970, khi Sihanouk đang nghỉ hè ở Pháp, Quốc hội Campuchia được triệu tập, ra tuyên cáo truất phế Sihanouk khỏi chức Quốc trưởng, tố cáo ông ta đă để bộ đội Việt nam chiếm đóng đất đai Campuchia một cách bất hợp pháp, vi phạm sự toàn vẹn lănh thổ và nền trung lập của quốc gia Campuchia.
    Cuộc đảo chánh kể trên đă chấm dứt đường lối chính trị đu dây của Sihanouk. Nhân vật chính trong cuộc đảo chính là hoàng thân Sirik Matak và tướng Lon Nol. Lon Nol xuất thân nông dân. Năm 1946, ông lập đảng Canh Tân Campuchia. Tới năm 1955, đảng này nhập vào đảng Sangkum của Sihanouk và Lon Nol được Sihanouk cho làm Tham mưu trưởng quân đội. Ông ta giấu kín tham vọng, được Sihanouk tin cẩn và trở nên cánh tay mặt của Sihanouk. Sau khi đảo chánh, Lon Nol gom tất cả Việt kiều vào những trại tập trung, và rồi hàng ngàn người Việt bị thảm sát thả trôi trên ḍng Cửu Long. Chính phủ ngầm xúi dục dân chúng Phnom Penh biểu t́nh đập phá toà đại sứ Bắc Việt và toà đại diện Việt cộng, đồng thời chính thức yêu cầu quân lính Việt cộng rút ra khỏi những mật khu biên giới.
    Ngày 30-4-1970, quân đội Sài g̣n và Hoa kỳ tràn qua biên giới tấn công các mật khu của Việt cộng ở khu Lưỡi Câu và Mỏ Vẹt, tịch thu nhiều vũ khí, lương thực, nhưng Bộ chỉ huy Cục R chạy thoát. Mất căn cứ ở biên giới, quân Việt cộng lùi sâu vào lănh thổ Campuchia, đánh chiếm hầu hết lănh thổ vùng Đông Bắc, rồi giao lại cho quân Khmer Đỏ cai trị. Lon Nol phản ứng lại bằng cách tăng cường quân đội, từ ba mươi lăm ngàn quân lên một trăm ngàn trong ṿng hai tháng. Dù thiếu trang bị và huấn luyện, nhưng Lon Nol tin rằng ông ta sẽ chiến thắng. Trước hết, ông ta tin vào ḷng thù ghét Việt nam của dân chúng Campuchia, thứ hai là v́ những lư do rất mê tín. Lon Nol tin rằng Phật sẽ giúp quân lính ông chống lại ma vương cộng sản, do đó quân sĩ được khuyến khích đeo bùa, hay xâm lên người những dấu hiệu thiêng liêng. Dù binh sĩ Cộng hoà Khmer đă chiến đấu dũng cảm, nhưng v́ thiếu trang bị, thiếu huấn luyện, v́ tệ nạn tham nhũng và nhất là v́ Lon Nol cứ liên tiếp xen vào hệ thống chỉ huy nên hai cuộc hành quân Chân Lạp I và Chân Lạp II trong hai năm 1970 và 1971 đă đưa đến thảm bại, gây tổn thất trầm trọng cho quân đội. Trong khi đó, quân Khmer Đỏ lớn mạnh dần, và sau khi hiệp định Paris về Việt nam được kư kết (ngày 27-1-1973), quân Khmer Đỏ bắt đầu đảm nhiệm cuộc chiến một cách tích cực hơn. Với lối đánh liều mạng bất kể tổn thất, Khmer Đỏ dần dần mở rộng vùng kiểm soát và tới cuối năm 1974, họ bắt đầu tấn công Phnom Penh. Tuy hai lần Khmer Đỏ bị đẩy lui với những tổn thất nhân mạng rất lớn, nhưng rồi ṿng đai pḥng thủ Phnom Penh cũng bị vỡ. Ngày 1-4-1975, Neak Song thất thủ, ngày 12-4-1975, cứ điểm pḥng thủ cuối cùng Takhman ở phía tây bị tràn ngập. Phnom Penh trở nên một thành phố bỏ ngỏ. Ngày 17-4-1975, quân Khmer đỏ tiến vào thành phố. Cuộc nội chiến trong giai đoạn chiến tranh Đông dương thứ hai chấm dứt, nhưng người dân Campuchia không biết rằng họ đang bước sang một giai đoạn lịch sử đen tối khác, bi thảm hơn tất cả mọi thảm hoạ mà họ hay toàn thể nhân loại đă trải qua.
    Tài liệu tham khảo:
    - Việt nam sử lược của Trần Trọng Kim.
    - History of Southeast Asia, Hatl
    - When The War Was Over, Elizabeth Becker
    - Brother Enemy, Nayan Chanda
    - War & Hoe, Norodom Sihanouk
    - Campuchia, Year Zero, Francois Ponchaud.

  3. #3
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Chiến tranh Đông Dương III
    Tác giả: Hoàng Dung


    Chương 2

    Lịch sử tranh chấp Việt Miên trước 1975


    Trong lịch sử thế giới, hầu như hai quốc gia lân bang nào cũng có nhiều lần xảy ra tranh chấp. Biên giới mỗi quốc gia cũng nhiều lần thay đổi, lănh thổ mỗi quốc gia có lúc được mở rộng, có lúc bị thu hẹp. Có những quốc gia bị biến mất, có những quốc gia mới được tạo dựng nên. Mỗi quốc gia đều có những thời kỳ hưng thịnh hay suy tàn và nguyên tắc mạnh được yếu thua không những áp dụng cho con người mà c̣n được áp dụng cho mỗi quốc gia, dân tộc. Những nguyên nhân chính để xảy ra xích mích thường là vấn đề kinh tế hay an ninh quốc pḥng. Quốc gia nào cũng mong muốn có một quốc gia láng giềng thân hữu với ḿnh hay tốt hơn, chịu ảnh hưởng của ḿnh. Nhưng hoàn cảnh khách quan như thế cũng chưa đủ cho một mối bang giao tốt đẹp giữa hai dân tộc. Nó c̣n cần có những điều kiện chủ quan nội bộ. Một khi mà đường lối kinh tế hay cai trị trong nước thất bại, gây chia rẽ và bất măn, những nhà cầm quyền thường đổ thừa cho những yếu tố bên ngoài để bào chữa, và yếu tố bên ngoài dễ dàng nhất là do quốc gia bên cạnh.

    Lịch sử bang giao giữa hai dân tộc Việt Miên trải qua hơn một ngàn năm là lịch sử những tranh chấp, và những nguyên nhân sâu xa thường là nhu cầu bành trướng lănh thổ của Việt nam và sự chia rẽ nội bộ của Campuchia. Từ hơn một ngàn năm trước, vào thế kỷ thứ ba, khi Việt nam lúc đó có tên Giao Châu, đang bị Trung hoa đô hộ th́ vương quốc Phù Nam đang ở trong một giai đoạn cực thịnh. Họ đă liên kết với quân Lâm ấp đánh phá đất Giao Châu (thời Khúc Thừa Dụ), nhưng bị quân Trung hoa đánh bại. Sau đó v́ những mâu thuẫn nội bộ, và v́ ở giữa hai nước c̣n có nước Lâm ấp (sau là Chiêm Thành) nên hai nước đă không có chiến tranh. Khoảng năm trăm năm sau, lúc dân Chân Lạp đă chinh phục được Phù Nam, mở mang bờ cơi đến vùng Nam Lào, th́ họ lại cùng quân Nam Chiếu đánh phá biên giới Giao Châu. Một lần nữa, họ bị quân nhà Đường - lúc đó Bùi Nguyên Dụ làm Kinh Lược Sứ - đẩy lui. Nước Chân Lạp, Campuchia sau này, sau giai đoạn cực thịnh, bắt đầu bước vào giai đoạn suy tàn cùng lúc với sự phát triển của hai quốc gia lân bang phía đông và phía tây là Việt nam và Thái lan. Việt nam, lúc đó đă thu hồi được độc lập trong hoàn cảnh đặc biệt là luôn bị đe doạ bởi láng giềng khổng lồ phương bắc, mặt đông giáp biển, phía tây là dấy Trường Sơn hiểm trở, nên chỉ có thể bành trướng được về phía nam. Công cuộc xâm chiếm những nước nhỏ, bành trướng lănh thổ được gọi một cách giản dị là Nam tiến. Cuộc Nam tiến của Việt nam bất đầu ngay sau khi Việt nam thu hồi được độc lập. Năm 1069, vua Lư Thánh Tôn bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ, đ̣i lấy ba châu để chuộc mạng, và ba châu đó đă trở nên Quảng B́nh, Quảng Trị ngày nay. Hơn hai trăm năm sau, địa giới Việt nam lại mở rộng khi vua Trần Anh Tôn gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô, Lư. Hai châu này, vua Trần đổi lại tên là Thuận Châu và Hoá Châu.
    Từ vùng đất Thuận Hoá này, khoảng ba trăm năm sau, cuộc Nam tiến bắt đầu trở nên mănh liệt sau khi Nguyễn Hoàng vào đó để dựng nghiệp, tranh chấp với họ Trịnh ở phương Bắc. V́ nhu cầu quân sự, kinh tế và chính trị, các chúa Nguyễn đă phải bành trướng đất đai một cách cấp bách. Cả một giải đất từ Quảng B́nh hiện nay đến mũi Cà Mau đều đă được bành trướng trong thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh. Khởi đầu các chúa Nguyễn đánh chiếm những đất đai c̣n lại của Chiêm Thành, lần lượt là Phú Yên, Phan Rang, Khánh Hoà, Phan Rí và nước Chiêm Thành coi như mất hẳn vào năm 1697. Một quốc gia có những thời kỳ lịch sử rực rỡ, một nền văn minh biệt lập, một anh hùng như Chế Bồng Nga từng làm rung động triều đ́nh nhà Trần, đă bị tiêu diệt. Những ǵ c̣n lại chỉ là những tháp Chàm ven biển miền Trung và những nhóm dân Chàm nhỏ sống rải rác ở Nam Việt nam và Campuchia. Tới năm 1697, Việt nam trở nên một lân quốc trực tiếp của Campuchia, lúc đó c̣n có tên Chân Lạp, và lịch sử những tranh chấp triền miên giữa hai quốc gia này bất đầu.
    Thật ra, trong quan hệ yêu ghét giữa hai dân tộc, đại đa số người Việt ít ai để ư đến nguyên nhân và tầm mức sự thù hận của người Miên đối với người Việt. Điều đó dễ hiểu v́ trong lịch sử hai dân tộc, chỉ có Campuchia là bị mất đất và bị đô hộ. Mỗi khi nhắc đến người Việt, người Miên luôn liên tưởng đến mối hận mất đất và sự cai trị tàn ác của quan lại Việt nam hồi xưa. Trong khi đó, nhắc đến người Miên, người Việt thường có thái độ tự cao. Chính thái độ tự cao và khinh miệt này đă khiến người Việt có được một cái cớ, coi việc chinh phục và đô hộ là một nghĩa vụ khai hoá, và từ đó dễ dàng áp dụng những biện pháp dă man khi đô hộ. Nước Campuchia, trong giai đoạn suy tàn của vương quốc Angkor, cứ luôn hết bị quân Xiêm rồi quân Việt xâm lăng. Trong cách đối xử với dân bản xứ, thâm tâm người Xiêm chắc cũng không khá ǵ hơn người Việt, nhưng người Miên lại thù hận người Việt nhiều hơn. Thứ nhất là v́ người Việt đă chiếm đất đai của họ nhiều hơn, cả một vùng đồng bằng Cửu Long rộng lớn ph́ nhiêu. Thứ hai là lịch sử trong hơn một thế kỷ qua, đă gắn liền vận mệnh của Campuchia theo những thăng trầm của lịch sử Việt nam, và quan hệ càng nhiều, th́ những mâu thuẫn càng nảy sinh. Nguyên nhân thứ ba, quan trọng nhất, là v́ biên giới Việt Miên đă không giản dị là biên giới giữa hai dân tộc, mà c̣n là biên giới của hai nền văn minh khác biệt Ấn độ và Trung hoa. Cùng theo Phật Giáo, người Việt theo Đại Thừa, người Miên Tiểu Thừa. Tiếng Việt cũng giống tiếng Tàu độc âm, tiếng Miên đa âm. Người Việt mặc quán, người Miên mặc xà rông. Người Việt thích màu đơn giản như trắng, nâu, đen người Miên thích màu sặc sỡ như đỏ, xanh, vàng. Người Việt làm nhà trên nền, người Miên ở nhà sàn. Người Việt ăn đũa, người Miên dùng muỗng hay tay. Người Miên xem trọng nghệ thuật múa, người Việt trước kia coi múa hát là xướng ca vô loài. Bị ảnh hưởng của văn minh Trung hoa, về hành chính Việt nam có một giai cấp quan lại và về xă hội có một lăng lớp sĩ phu làm khuôn mẫu đạo đức. Trong khi đó, ảnh hưởng văn minh Ấn độ khiến cho tầng lớp tăng lữ ở Campuchia có một địa vị quan trọng. Quan trọng hơn nữa, dù đă liên tiếp đấu tranh giành độc lập, người Việt cũng bị ảnh hường văn minh Trung hoa trong khuynh hướng bành trướng, coi các dân tộc nhỏ yếu láng giềng như bán khai, lạc hậu. Trong khi người Xiêm đô hộ dân Miên, họ không bắt dân Miên phải thay đổi lối sống th́ người Việt không bao giờ coi người Miên như b́nh đẳng.
    Tuy nhiên, sự suy thoái của Campuchia trong mấy năm gần đây không hẳn chỉ là do tham vọng bành trướng đất đai của các nước lân bang mà c̣n do những nguyên nhân nội tại Lịch sử Campuchia cứ tái diễn như một quy luật.
    Trong khi Việt nam đất hẹp người đông đang cần có nhu cầu bành trướng đất đai th́ nội bộ Campuchia cứ luôn chia rẽ. Kể từ năm 1658, khi chú cháu vua Chân Lạp tranh quyền nhau chạy sang Việt nam cầu cứu, và chúa Hiền sai quân sang Phnom Penh, bất vua Nặc Ông Chân và bảo vệ cư dân người Việt, th́ đă có đến hơn mười lần mà các chúa Nguyễn đem quân sang đất Miên hoặc giúp vua Miên phục quốc, hoặc kiếm cớ bảo vệ kiều dân. Mỗi lần như thế, vua Chân Lạp lại phải cất đất hay triều cống. Sự chia rẽ đó vẫn thể hiện trong những năm gần đây. Ngay cả trong khi chiến tranh Đông dương thứ ba ở vào giai đoạn gay go nhất, Pol Pot vẫn đẩy mạnh thanh trừng nội bộ, khiến cho một số cán bộ chỉ huy chạy sang Việt nam, cống hiến cho Việt nam một cơ hội xâm lăng - và gần đây hơn, khi nhân dân Campuchia vẫn c̣n lầm than sau bao biến cố, hai người con ông hoàng Sihanouk vẫn theo hai phe khác nhau và ḱnh chống nhau kịch liệt.
    Trong công cuộc Nam tiến, người Việt nam c̣n được những người Trung hoa chạy giặc nhà Thanh trốn sang Việt nam giúp đỡ. Đầu tiên là cựu tổng binh Dương Ngạn Địch, không chịu thần phục nhà Thanh, đem ba ngàn quân cùng năm chục chiến thuyền chạy sang Việt nam, được chúa Hiền cho vào khai khẩn đất Gia Định, Đồng Nai, Mỹ Tho, lúc đó đang thuộc Campuchia, và sau đó mười năm, chúa Hiền cử ông Nguyễn Hữu Kính vào làm Kinh Lược Sứ, sát nhập đất này vào Việt nam.
    Một người Quảng Đông khác là Mạc Cửu, cũng chạy giặc nhà Thanh sang Hà Tiên buôn bán, mở ṣng bạc, lại không thần phục vua Campuchia mà thần phục chúa Nguyễn, được phong chức Tổng Binh. Năm 1759, con cháu Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ giúp Nặc Tôn lên làm vua Campuchia, Nặc Tôn dâng đất Vểnh Long, Sa Đéc, Châu Đốc cho chúa Nguyễn, c̣n vùng đất c̣n lại ở đồng bằng Cửu Long th́ cho Mạc Thiên Tứ. Mạc Thiên Tứ dâng hết đất này cho chúa Nguyễn. Từ năm đó, sáu tỉnh Nam Kỳ thuộc Thuỷ Chân Lạp hay Khmer Hạ đều thuộc về Việt nam. Sau khi đă bành trướng lănh thổ đến mũi Cà Mau, v́ nội chiến xảy ra giữa hai nhà Nguyễn và Tây Sơn, cho nên Việt nam đă không xâm lăng hay can thiệp vào nội t́nh Chân Lạp trong một thời gian. Măi tới năm 1833, quân Xiêm thừa lúc Lê Văn Khôi nổi loạn ở Gia Định đem quân đánh chiếm Chân Lạp. Vua Minh Mạng sai ông Trương Minh Giảng đem quân qua đánh dẹp. Chỉ trong ṿng một tháng, quân nhà Nguyễn phá tan quân Xiêm, vua Minh Mạng đổi tên nước Chân Lạp thành Trấn Tây Thành, chia phủ huyện cai trị. Đây là một trong những thời kỳ đen tối của lịch sử bang giao Việt Miên. Quan lại Việt nam cai trị dân Campuchia rất hà khắc. Công Chúa Ang Mey bị đưa về Gia Định, các quan chức Chân Lạp đă đầu hàng Việt nam bị đày ra Bắc. Năm 1840, dân Campuchia nổi lên khởi nghĩa. Lănh tụ khởi loạn tên Prom đă khuyến khích các thuộc hạ: “Chúng ta khoan khoái giết hết người Việt, chúng có mạnh đến đâu chúng ta cũng không sợ”. Câu nói đó cũng là một trong những quyết tâm của Pol Pot sau này. Năm đó quan quân Việt nam phải bỏ Trấn Tây Thành rút về An Giang. Ông Trương Minh Giảng buồn bực mà chết. Trong Việt nam sử lược, cụ Trần Trọng Kim viết về giai đoạn này như sau: “Đây cũng là v́ người ḿnh không biết bênh vực kẻ hèn yếu, chỉ đem ḷng tham tàn mà ức hiếp người ta, cho nên hao tổn binh lương, nhọc mệt tướng sĩ, mà lại phải sự bại hoại, thật là thiệt hại cho nước ḿnh”.
    Ít năm sau, sự can thiệp của Pháp vào Đông dương đă giúp Campuchia bảo vệ được sự toàn vẹn lănh thổ. Tuy cả hai dân tộc đă cùng đấu tranh giành độc lập, nhưng những nguyên nhân căn bản như những tranh chấp đất đai và thái độ trịch thượng của người Việt đối với người Miên vẫn c̣n. Thái độ trịch thượng này lại được sự đồng t́nh của người Pháp. Trước hết họ cho là người Việt khôn ngoan chịu khó hơn, nên đă dùng người Việt trong những chức vụ hành chánh cấp thấp để cai trị Campuchia. Để tiện việc hành chánh, họ gọi chung ba quốc gia có ba nền văn hoá, ba dân tộc ba ngôn ngữ khác nhau là Đông dương và mỗi khi nói đến Đông dương, thường họ nói về Việt nam, coi hai dân tộc kia là những dân tộc thiểu số. Đôi khi có xảy ra những tranh chấp biên giới, người Pháp thường thiên vị người Việt. Dĩ nhiên người Việt dễ dàng chấp nhận một quan niệm Đông dương như thế, nhưng đối với người Campuchia, trong ngôn ngữ của họ không bao giờ có chữ Đông dương. ư niệm Đông dương là một thực thể chính trị và địa lư không những được người Pháp dùng để giản dị hoá công việc cai trị thuộc địa, nó lại c̣n được Quốc tế cộng sản công nhận. Năm 1930, sau khi ông Hồ Chí Minh giúp thống nhất được ba phong trào cộng sản riêng rẽ thành Việt nam cộng sản Đảng th́ Văn pḥng Quốc tế cộng sản đă nghiêm khắc phê b́nh danh xưng đó, cho đó là chủ nghĩa xô-vanh chật hẹp, bắt phải đổi lại thành Đông dương cộng sản Đảng, dù cho lúc đó chưa có một đảng viên cộng sản nào chính gốc người Lào hay Campuchia. Dĩ nhiên, những người cộng sản Việt nam cũng dễ dàng chấp nhận danh xưng này. Năm 1934, trong một lá thư ngỏ gửi “những đồng chí ở Campuchia”, Đông dương cộng sản Đảng nêu rơ rằng việc thành lập một Đảng cộng sản Campuchia riêng biệt là một điều không thể thực hiên được, v́ “Đông dương bị thống trị bởi một đế quốc duy nhất, tất cả những lực lượng cách mạng phải đoàn kết lại và... Campuchia không có quyền thành lập một Đảng cộng sản riêng”. Năm sau, 1935, tại đại hội Đông dương cộng sản Đảng lần thứ nhất, những lănh tụ cộng sản Việt nam nêu mục tiêu thành lập một chính phủ Xô viết Đông dương, trong đó bao gồm người Việt nam, và “thiểu số” người Miên Lào. Những người thiểu số này chỉ có quyền tách ra thành lập một quốc gia riêng biệt sau khi đă đánh đuổi được đế quốc Pháp. Trong một cuốn sách của nhà xuất bản ngoại văn năm 1979, Việt nam lư luận rằng ư niệm về chính phủ Liên bang Đông dương đă chấm dứt khi Đông dương cộng sản Đảng tuyên bố tự giải tán năm 1945. Nhưng thật ra trong nghị quyết của Đảng Lao động tháng 11-1951 vẫn có đoạn Đảng cộng sản Việt nam giành quyền giám sát hoạt động của những đảng anh em ở Lào và Campuchia... Mai sau, nếu t́nh h́nh cho phép, ba đảng Cách mạng Việt nam, Campuchia và Lào có thể thống nhất thành một đảng duy nhất, đảng của Liên bang Việt Miên Lào”. Những kinh nghiệm chua xót trong lịch sử cùng ư niệm Liên bang Đông dương kể trên đă khiến hầu hết những lănh tụ Campuchia, dù quốc gia hay cộng sản, luôn bị ám ảnh và dễ dàng có những phản ứng quá khích. Trong thời kỳ Pháp thuộc, khi một số người Việt giúp người Pháp cai trị Campuchia, th́ ở bên kia chiến luyến, sau khi Đông dương cộng sản Đảng tuyên bố tự giải tán để kêu gọi ḷng yêu nước của nhân dân ba nước, những người cộng sản Việt nam vẫn luôn giành lấy địa vị đi đầu, đàn anh. Họ viết luận cương cho Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia. Họ sử dụng lănh thổ Lào và Campuchia để hành quân một cách tự do. Năm 1950, tướng Giáp có viết: “Đông dương là một đơn vị chiến thuật duy nhất. một chiến trường duy nhất”. Đó là một nhu cầu chiến lược dễ hiểu, v́ quân đội Pháp đă dùng căn cứ ở cả ba lănh thổ để mở các cuộc hành quân và v́ h́nh thể đặc biệt của Việt nam, bị bó hẹp ở miền Trung, về phương diện quân sự sẽ dễ dàng bị chia cắt và cô lập nếu không sử dụng đất đai Lào và Campuchia. Do đó mà một cuộc chiến nào ở Việt nam cũng lôi cuốn theo những biến động chính trị và quân sự ở Lào và Campuchia, và một chính quyền Việt nam nào cũng mong muốn có một lân bang thân hữu, hay tốt hơn là chịu ảnh hưởng của ḿnh.

    Sau năm 1954, để chống lại áp lực của Nam Việt nam và Thái lan, Sihanouk dựa vào Trung hoa và nghiêng về Bắc Việt. Ông từ chối gia nhập khối Liên pḥng Đông Nam Á, ngả theo đường lối trung lập không liên kết của khối Á Phi và nhắm mắt làm ngơ cho Việt cộng sử dụng vùng đất sát biên giới Việt nam làm mật khu và đường tiếp vận. Với đường lối đối ngoại đó, Sihanouk đă hoá giải sự ủng hộ của Trung hoa và cộng sản Việt nam với cộng sản Campuchia. Ông hy vọng nếu Bắc Việt thắng trận sẽ nhớ ơn và để yên cho ông. Không c̣n cách nào khác, Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm ở Nam Việt nam lúc đó quay sang ủng hộ lănh tụ đối lập Sam Sary, giúp tướng Đap Chuồn nổi loạn và có lần cho phép Đại sứ Ngô Trọng Hiếu mưu sát Sihanouk bằng bom. Tất cả những âm mưu kể trên đều thất bại và càng làm Sihanouk thiên về khối cộng sản. Tuy nhiên hành động làm lơ cho bộ đội Việt nam thao túng ở vùng biên giới đă gây bất măn trong quân đội Campuchia và đưa đến cuộc đảo chính của Lon Nol năm 1970. Thời gian từ 1970 tới 1975 là thời gian hợp tác giữa hai lực lượng cộng sản Việt nam và Campuchia. Nhưng sự hợp tác này chỉ dựa trên căn bản lợi dụng lẫn nhau. Tuy cộng sản Campuchia đă bắt đầu đấu tranh vũ trang từ 1967, những năm đó là những năm Sihanouk đang cầm quyền và Việt nam thấy có thể lợi dụng được Sihanouk nên đă ḱm hăm hoạt động của Khmer Đỏ. Từ 1970, sau khi Sihanouk bị lật đổ, hai năm đầu lực lượng Khmer Đỏ c̣n yếu, bộ đội Việt nam đảm nhiệm mọi cuộc hành quân và đă gây tổn hại nặng nề cho quân Cộng hoà Khmer trong hai cuộc hành quân Chân Lạp I và II, sau đó họ giao lại những lănh thổ chiếm được cho Khmer Đỏ, và quân Khmer Đỏ chỉ thực sự chủ động chiến trường trong hai năm cuối của cuộc chiến.
    Tuy nhiên, trong giai đoạn đó mối nghi kỵ ngàn xưa vẫn c̣n âm ỉ. Hơn ai hết, các lănh tụ Khmer Đỏ biết rơ về ư định Liên bang Đông dương của Việt nam. Hơn ai hết, các lănh tụ cộng sản biết rằng t́nh hữu nghị anh em giữa các nước cộng sản chỉ là chiêu bài cho sự thống trị của một đảng cộng sản nước lớn đối với đảng cộng sản nước nhỏ, và đảng cộng sản nào cũng đặt quyền lợi của ḿnh lên trên hết. Chẳng hạn năm 1945, chính các lănh tụ cộng sản Pháp trong chính phủ liên hiệp đă bỏ phiếu tán đồng chính sách tái lập chế độ thuộc địa và chấp thuận ngân khoản cho quân viễn chinh Pháp trở lại Đông dương. Về nước năm 1953, là một người cộng sản chính thống, đảng viên cộng sản Pháp, Saloth Sar đă không gia nhập đảng Nhân dân cách mạng Campuchia mà phải gia nhập Đông dương cộng sản Đảng. Người chấp nhận đơn gia nhập của Saloth Sar là Phạm Văn Ba, sau 1975 làm Đại sứ Việt nam tại Phnom Penh. Chi bộ cộng sản của Saloth Sar lúc đó hoạt động ở gần biên giới phía đông Campuchia, gồm cả người Miên lẫn người Việt, dưới sự lănh đạo của một cán bộ Việt nam. Theo Khiêu Thirith, em dâu Saloth Sar kể lại th́ cán bộ Việt nam đă bắt những sinh viên từ Paris về làm những cộng tác vệ sinh và cần vụ và thời gian này chắc chắn đă để lại cho Saloth Sar nhiều kỷ niệm khó quên.
    Một năm sau, hiệp định Genève ra đời, Pol Pot cay đắng nh́n sự tan ră của phong trào cộng sản Campuchia và sự đấu tranh của họ bị Việt nam và các nước cộng sản đàn anh như Liên xô và Trung hoa quên lăng. Đồng thời, khi kư thoả ước ngừng bắn với Delteil, Tạ Quang Bửu của Việt nam đă mặc nhiên thay mặt cả ba lực lượng cộng sản Việt Miên Lào. Cảm thấy bị bỏ rơi năm 1954, bị ḱm hăm trong những năm dưới thời Sihanouk, cộng sản Campuchia lại thấy bị bội phản lần nữa khi phe cộng sản ở Việt nam kư hiệp định ngừng chiến 1973, trong đó không quân Hoa kỳ sẽ chấm dứt hoạt động ở Việt nam, nhưng vẫn được tự do oanh tạc trên lănh thổ Campuchia. V́ thế, đối với những tay lănh đạo mới của cộng sản Campuchia, Việt nam dù quốc gia hay cộng sản đều là kẻ thù, và những cán bộ lănh đạo cũ của thời Đông dương cộng sản Đảng đều là những kẻ khả nghi là có thân xác Campuchia mà tâm hồn Việt nam. Trong nhóm đó, Siêu Hàng đă bội phản, về đầu thú Sihanouk, Tou Samouth có lẽ bị thanh toán sau khi đi Việt nam về năm 1963, Keo Meas bị bắt vào Tuol Sleng và bị xử tử. Người chủ tịch đảng đầu tiên Sơn Ngọc Minh tập kết đi Hà nội năm 1954. Theo Hà nội, Sơn Ngọc Minh bị Trung hoa và nhóm Pol Pot đánh thuộc độc chết khi sang thăm Bắc kinh năm 1972. Trong những năm của chính quyền Sihanouk, là một người khôn khéo, ông ta đă lợi dụng t́nh h́nh nội chiến ở Việt nam để củng cố quyền hành hơn là t́m cách gây hấn, việt kiều ở Campuchia hồi đó được yên ổn làm ăn. Nhưng sau khi ông ta bị lật đổ, mối hiếm khích cũ của hai dân tộc lại được các lănh to của hai phe khơi ra khai thác và lợi dụng. Tuy ở hai chiến tuyến đối nghịch nhau, Lon Nol và Pol Pot đă có một số đặc điểm chung là sự thù hận Việt nam và giấc mơ tái lập một thời đại Angkor vàng son cũ. Cả hai đều có những đánh giá gần như không tưởng về khả năng của chính ḿnh. Trong khi Pol Pot tính một người Campuchia giết được ba mươi người Việt, th́ Lon Nol hy vọng với một quân đội ba mươi lăm ngàn quân trang bị yếu kém và thiếu huấn luyện có thể đánh đuổi được bộ đội Việt cộng ra khỏi biên giới. Tinh thần bài Việt nam của Lon Nol đă được bộc lộ công khai nhiều năm trước khi đảo chánh. Ông ta đă luôn gọi Nam Việt nam là Khmer Hạ và ông đă thiết lập “Viện khmer Mon”, mà tờ đặc san đầu liên có in bản đồ Campuchia trong đó lănh thổ bao gồm đồng bằng sông Cửu Long và một phần đất của Thái lan.
    Ngay sau khi đảo chánh, Lon Nol ra lệnh thiết lập những trại tập trung để giam giữ kiều dân Việt nam. Chính phủ Campuchia lúc đó công nhận có giam giữ khoảng ba chục ngàn Việt kiều trong trại và bảy ngàn Việt kiều trong tù. Ngày 10-4-1970, Lon Nol cho lính bắn chết một số người Việt ở Prasaut và Chui Changwan. Hàng trăm xác người bị thả trôi trên sông Bassac. V́ áp lực quốc tế sau đó, Lon Nol phải chấm dứt hành động tàn sát và để cho tàu Hải quân Việt nam cộng hoà lên đón Việt kiều về. Số người c̣n ở lại, hoặc nhờ giấu được tung tích, hoặc sống trong vùng Khmer Đỏ kiểm soát sau này cũng bị Khmer Đỏ thanh toán hết. Trong thời gian đó v́ c̣n phải nương tựa vào bộ đội Việt nam, nên Khmer Đỏ chỉ có thể tiêu diệt người Việt và chặt đứt những quan hệ với Việt nam một cách âm thầm. Trước hết Pol Pot từ chối thành lập một bộ chỉ huy quân sự hỗn hợp trên đất Miên. Sau đó, những cán bộ hồi kết từ Hà nội về bị thủ tiêu. Đến năm 1973, sau khi thấy đă đủ mạnh, Khmer Đỏ áp dụng những biện pháp cứng rắn hơn. Họ thành lập những hợp tác dọc theo biên giới, gom dân vào đó để kiểm soát chặt chẽ. Ṿng ngoài những hợp tác họ đặt chông và ḿn. Tiền tệ bị tiêu huỷ. Quân Việt nam bắt đầu bị trở ngại trong việc thu mua lúa gạo và di chuyển quân đội. Những cuộc chạm súng lẻ tẻ bắt đầu xảy ra. Nhưng trong thời gian đó, Việt nam đang bận tâm về kế hoạch chiếm miền Nam nên đă không phô bày những nạn rứt giữa hai nước cộng sản. Chỉ sau khi Bắc Việt đă chiếm được miền Nam và Pol Pot đă thắng được Lon Nol, những vấn đề cũ lại bộc lộ ra và ngày càng trầm trọng, đưa đến một cuộc chiến tương tàn giữa hai nước cộng sản mà mối liên hệ mới mấy năm trước đă được Việt nam mô tả là “t́nh hữu nghị trong sáng thuỷ chung, làm mẫu mực cho những quan hệ quốc tế”.
    Tài liệu tham khảo:
    - Việt nam sử lược, Trần Trọng Kim
    - Hồi kư của Đoàn Thêm
    - When the war was over, Elizabeth Becker, nhà xuất bản Schuster, Inc, New York
    - Brother Ennemy, Nayan Chanda, nhà xuất bản MacMilan Publishing Company New York
    - Việt nam Máu Lửa, Nghiêm Kế Tổ

  4. #4
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Chiến tranh Đông Dương III
    Tác giả: Hoàng Dung


    Chương 3

    Sự thành lập Đảng cộng sản Campuchia



    Những điều kiện địa dư và lịch sử của những năm 1930 và 1940 đă gắn liền sự h́nh thành của đảng cộng sản Campuchia với Đảng cộng sản Việt nam. Sau cuộc cách mạng vô sản ở Liên xô thành công năm 1917, chủ nghĩa cộng sản rất có sức hấp dẫn đối với những dân tộc bị trị trong công cuộc giải phóng ách thực dân. V́ thế mà trong những phong trào cộng sản, ư thức hệ hầu như lúc nào cũng đi đôi với chủ nghĩa quốc gia, các đảng viên đầu tiên hay những tay lănh đạo cộng sản đều xuất thân từ giai cấp trí thức, tư sản hay được tuyển mộ từ các học sinh trung học. Động cơ để họ gia nhập mới đầu phần lớn là do ḷng yêu nước chống ngoại xâm hơn là ư thức hệ.
    Phong trào cộng sản Việt nam bắt đầu khi ông Hồ Chí Minh, trong lúc làm thông ngôn cho phái bộ Borodin năm 1924, thành lập Việt nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội ở Quảng Châu. Phái bộ này do Quốc tế cộng sản gửi qua làm cố vấn cho Quốc dân đảng, trong thời gian mà Tôn Dật Tiên chủ trương hoà giải với Liên xô. Đứng đầu phái bộ là Mikhail Borodin, một người Ấn độ tên Rao phụ tá, tướng Ga-lin người Đức cố vấn về quân sự, c̣n ông Hồ Chí Minh làm thông dịch viên cho phái bộ. Thời gian này, ông đă gửi một số thanh niên qua Liên xô để được huấn luyện. Đồng thời, ông cũng tổ chức một vài lớp học chính trị. Trong số những giảng viên, có Bành Bái và Lưu Thiếu Kỳ được mời đến dạy.
    Nhờ uy tín và sự khéo léo của Hồ Chí Minh, trong mấy năm đầu tiên, Việt nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội vẫn giữ được một mặt ngoài thống nhất, nhưng v́ cơ sở hoạt động th́ ở Việt nam, c̣n các cấp lănh đạo lại ở Trung hoa, nên đến năm 1927, khi tranh chấp Quốc Cộng ở Trung hoa bùng nổ Borodin bị trục xuất th́ ông Hồ Chí Minh cũng phải rời Trung hoa, giao trách nhiệm lại cho Hồ Tùng Mậu và Lâm Đức Thụ. Từ đó, sự rạn nứt bắt đầu bộc lộ. Một số cán bộ được khuyến khích bởi quyết nghị của đại hội Quốc tế cộng sản năm 1928, theo đó những đảng cộng sản địa phương phải theo đuổi một đường lối cúng rắn, giáo điều và thiên tả hơn. Nói cách khác, những đảng cộng sản không cần phải liên minh với những đảng phái quốc gia khác, mà phải tận dụng và triển khai những bất măn trong quần chúng để tiến hành cách mạng vô sản. Đồng thời trong nội bộ phải tăng cường số đại biểu của giai cấp công nhân, c̣n những thành phần trí thức, tiểu tư sản đều phải trải qua một quá tŕnh lao động “vô sản hoá”.
    Lănh đạo những phần tử cực đoan này là xứ uỷ Bắc Kỳ, gồm Trần Văn Cung, Ngô Gia Tự. Nhóm này chủ trương rằng giai cấp thợ thuyền trong những công xưởng chỉ có thể được thúc đẩy bằng những yếu tố thực tiễn như tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc chứ không phải bởi những ư niệm ái quốc tiểu tư sản mơ hồ, và điều này chỉ có thể thực hiện được bằng cách thành lập một đảng cộng sản chính thống. Tuy nhiên, trong đại hội lần thứ nhất của Việt nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội do Hồ Tùng Mậu tổ chức ở Quảng Châu năm 1929, đa số các đại biểu bác bỏ đề nghị đó. Trần Văn Cung, bí danh Tuấn Anh, tức giận trở về Hà nội, tách riêng ra thành lập đảng cộng sản Đông dương. Các đại biểu khác của Việt nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội mới đầu làm ngơ, tiếp tục họp và bế mạc, coi như không có xứ uỷ Bắc Kỳ. Nhưng mấy tháng sau, họ thấy họ đă lầm lẫn v́ đảng cộng sản Đông dương đă thu hút hết một số lớn những đảng viên trung kiên của hội, v́ thế họ quyết định cải danh thành một đảng cộng sản khác lấy tên An Nam cộng sản Đảng. T́nh h́nh càng rối loạn thêm khi những đảng viên cũ của đảng Tân Việt, một đảng tả phái gồm có Đặng Thái Mai, Tôn Quang Phiệt, cũng lập ra Đông dương cộng sản Liên đoàn. Ba đảng cộng sản này, một mặt tranh giành đảng viên của nhau mặt khác chỉ trích bôi nhọ lẫn nhau.

    Ngỡ ngàng trước những diễn biến kể trên, Văn pḥng Quốc tế cộng sản ở Moscow vào tháng 10-1929 đă gửi thư chỉ trích những cấp lănh đạo cũ của Việt nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội. Văn pḥng đứng hẳn về phe Trần Văn Cung, công nhận sự cần thiết phải thành lập một đảng cách mạng vô sản tiền phong hay đảng cộng sản. Văn pḥng đề nghị một hội nghị hoà giải điều hành bởi một nhân viên của Quốc tế cộng sản. Đồng thời Văn pḥng cử Trần Phú, một đảng viên cộng sản được ông Hồ Chí Minh gửi đi học ở trường “Đại học cộng sản của những người lao động Đông phương” hay trường chính trị Stalin ở Moscow về Thái lan gặp ông Hồ Chí Minh và truyền đạt những chỉ thị của Văn pḥng. Những chỉ thị này và hai thông tư của Quốc tế cộng sản là “nghị quyết về vấn đề thành lập Đảng cộng sản Đông dương” và thư hướng dẫn h́nh thức hoạt động của Đảng cộng sản Đông dương. Ông Hồ Chí Minh đi Hồng Công và một hội nghị thống nhất cử hành vào cuối tháng 1-1930 tại một sân banh ở Hồng Công.
    Tới dự hội nghị, chỉ có đại diện của Đảng cộng sản Đông dương và An nam cộng sản Đảng. Nhờ có chỉ thị từ Moscow, hai đảng đồng ư sát nhập thành Đảng cộng sản Việt nam. Một Uỷ ban trung ương lâm thời được thành lập gồm chín Uỷ viên để điều hành mọi hoạt động cho tới khi đại hội đảng được triệu tập, Trần Phú được cử làm Tổng bí thư. Ông Hồ Chí Minh trở về làm việc cho Đông Phương Bộ của Quốc tế cộng sản ở Thái lan vào tháng 4-1930. Tuy nhiên, sau khi được báo cáo, Văn pḥng Quốc tế cộng sản không bằng ḷng với danh xưng đó, ra chỉ thị bắt phải đổi tên Việt nam cộng sản Đảng thành Đông dương cộng sản Đảng.
    Theo danh xưng, Đông dương cộng sản Đảng sẽ bao gồm cả ba nước Việt, Miên, Lào, nhưng trên thực tế, vào thời gian đó, chưa có một đảng viên cộng sản chính gốc nào người Lào hay Campuchia tham gia. Trần Phú làm Tổng bí thư chưa được bao lâu th́ bị bắt trong biến cố Xô viết Nghệ Tĩnh và chết trong tù năm 1931. Quốc tế cộng sản gửi một số cán bộ khác mới được đào tạo từ trường chính trị Stalin về thay, trong đó có Lê Hồng Phong, Trần Văn Giàu, Nguyễn Thị Minh Khai. Lê Hồng Phong được cử đứng đầu “Ban chỉ huy ở ngoài”. Tới đại hội đảng lần đầu tiên của Đông dương cộng sản Đảng năm 1935 ở Ma Cao, th́ Hà Huy Tập (bí danh Nhỏ) được cử làm Tổng bí thư. Chính trong đại hội đảng này, ư niệm về Liên bang Đông dương được đưa ra. Nhưng chỉ sau năm 1940, một số lănh tụ kháng chiến của Campuchia từng theo Sơn Ngọc Thành, bị bắt và bị đày đi Côn Đảo, mới có dịp quen biết và học tập những đảng viên cộng sản Việt nam cũng bị tù ở đó, để trở nên những người cộng sản Campuchia đầu tiên. Trong số này có nhà sư Achar Man, lấy bí danh Sơn Ngọc Minh, được Việt nam đưa ra đứng đầu phong trào cộng sản Campuchia.
    Sau thế chiến thứ hai, thực dân Pháp trở lại Đông dương. Để kêu gọi ḷng yêu nước trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, che giấu bản chất cộng sản, và lấy ḷng quân Trung hoa lúc đó đang kéo vào giải giới quân Nhật ở Bắc Việt, Đông dương cộng sản Đảng tự tuyên bố giải tán ngày 11-11-1945 để thành lập mặt trận Việt Minh. Nhưng thật ra đảng vẫn lén lút hoạt động, dưới cái tên Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác do Trường Chinh đứng đầu. Tới năm 1951, sau khi thấy đă nắm vững và kiểm soát được phong trào kháng chiến, những người cộng sản chính thức tái ra mắt hoạt động cộng sản dưới nhăn hiệu Đảng Lao động Việt nam, do Hồ Chí Minh Chủ tịch Chủ tịch đảng và Trường Chinh Tổng bí thư. Hai phong trào cộng sản Lào và Campuchia cũng được tách ra, nhưng trên thực tế, vẫn do đảng Lao động Việt nam kiểm soát. Thái độ của Việt nam đối với hai đảng cộng sản anh em này vẫn luôn luôn đàn anh và trịch thượng. Trong “đề cương công tác Lào Miên” năm 1949 có viết nh́n bao quát ta thấy rằng Lào Miên đang ở một mức tiến hoá thấp hơn Việt nam... Bởi vậy cách mạng Lào Miên không thể là cách mạng xă hội hay cách mạng dân chủ mà chỉ là cách mạng dân tộc giải phóng nhưng v́ t́nh h́nh kinh tế, chính trị và xă hội của Việt nam đă cao hơn nên khẩu hiệu cách mạng Việt nam là độc lập và dân chủ đi đôi. C̣n khẩu hiệu cách mạng Lào Miên th́ chỉ độc lập là độc lập.
    V́ thế, Việt nam chỉ giúp Sơn Ngọc Minh và Souphanouvong thành lập các đảng Nhân dân cách mạng Khmer và Nhân dân cách mạng Lào. Luận cương của những đảng này do Việt nam viết và gửi qua để được phiên dịch và chấp thuận. Ngày 21-9-1951, đảng Nhân dân cách mạng Khmer được thành lập. Người triệu tập đại hội để thành lập đảng là hai cán bộ Việt nam, Nguyễn Thành Sơn và Lê Đức Thọ. Trong đại hội, Sơn Ngọc minh được cử giữ chức quyền Chủ tịch đảng. Luận cương của đảng này có đoạn đảng không phải là đảng tiền phong của giai cấp công nhân, nhưng là đảng tiền phong của những phần tử yêu nước và tiến bộ. Như thế đảng vẫn chưa hoàn toàn là một đảng cộng sản và đảng viên của đảng không nhất thiết phải là một người cộng sản. V́ lư do đó, sau khi ở Pháp về năm 1955, là một đảng viên cộng sản Pháp, Pol Pot đă không gia nhập đảng Nhân dân cách mạng mà t́m cách gia nhập Đông dương cộng sản Đảng
    Năm 1954, hiệp định Genève ra đời đánh dấu một bước thụt lùi cho phong trào cộng sản Campuchia. Khác với Việt nam được chủ quyền nửa quốc gia, Pathet Lào được hai tỉnh, cộng sản Campuchia bị bỏ quên, bắt buộc phải giải giới. Một nửa lực lượng theo lănh tụ Sơn Ngọc Minh trà trộn vào bộ đội Việt nam theo tàu Ba lan đi Bắc Việt. Một nửa khác, khoảng một ngàn đảng viên và cảm t́nh viên lui vào bóng tối, đặt dưới quyền của Sieu Heng (đặc trách nông thôn) và Tou Samouth (đặc trách thành thị). Mấy năm sau Sieu Heng về đầu thú với Sihanouk, chỉ điểm cho chính quyền bắt bớ và tiêu diệt những cơ sở nông thôn. Phong trào cộng sản Campuchia suy yếu dần. Trong hoàn cảnh khó khăn đó, một nhóm lănh đạo mới bắt đầu xuất hiện. Những người này phần đông du học từ Pháp về, học thức hơn nhưng cũng cuồng tín hơn. Đó là Pol Pot, Ieng Sary, Khieu Samphan, Hou Youn, Son Sen, Thioun Prasit...
    Pol Pot, tên thật là Saloth Sar, sinh năm 1925, xuất thân từ một gia đ́nh địa chủ ở Komphong Thom, có một người chị làm cung nữ triều vua Monivong, và một người anh làm công chức trong ban nghi lễ hoàng cung. Sau khi tốt nghiệp tiểu học tại một trường ở Phnom Penh, v́ thi vào trung học công lập bị rớt, anh ta trở về học trung học tại một trường tư thục ở Komphong Cham. Năm 1944, hết trung học, Sar về ở với người anh ở Phnom Penh. Đến năm 1949, có lẽ nhờ chạy chọt, Saloth Sar được học bổng qua Pháp học vô tuyến điện. Cùng thời gian đó, một học sinh khác tên Ieng Sary trở nên một học sinh tranh đấu. Cũng như Sơn Ngọc Thành, Ieng Sary sinh trưởng ở Việt nam, là một người Khmer Hạ, có cái tên Việt nam là Kim Trang. Học được mấy năm trung học ở Việt nam, anh ta làm khai sinh giả để bớt tuổi rồi xin vào học trường danh tiếng Sisowath. Những năm đó là những năm sau thế chiến, đảng Dân chủ của hoàng thân Youthevong đang nắm đa số trong Quốc hội. Đảng này qui tụ những đảng viên cũ của Sơn Ngọc Thành và những cựu học sinh Sisowath. Nhưng chẳng may ông hoàng có tài này lại chết rất trẻ vào năm 1947 và đảng này bị tan ră. Nhưng những kêu gọi đ̣i độc lập của đảng đă khơi động được ḷng yêu nước của giới học sinh và một trong những lănh tụ học sinh là Ieng Sary kêu gọi băi trường và băi công để đ̣i độc lập. Nhưng cuộc tranh đấu này không đi đến đâu và năm 1951, Ieng Sary cũng sang Pháp du học.

    Trước khi Saloth Sar và Ieng Sary sang Pháp, ở Paris đă có sẵn một nhóm trí thức thiên Cộng được gọi là “nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê” đứng đầu bởi Thioun Muỗm, người Campuchia đầu tiên tốt nghiệp trường Bách Khoa Paris, sau này thời Pol Pot về làm giám đốc các trường Cao đẳng. Em ông ta là Thioun Thioum, bác sĩ, sau là Bộ trưởng Y tế, Thioun Prasith, kỹ sư, sau phụ tá cho Ieng Sary ở Bộ ngoại giao. Ḍng họ Thioun là một gia đ́nh quư tộc nổi tiếng ở Phnom Penh, và gia đ́nh này có một mối bất hoà sâu xa vời gia đ́nh Sihanouk (theo ông hoàng Sihanouk, nguyên do mối bất hoà là ông đă từ chối không kết hôn với một người em của Thioun). Nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê ngoài anh em Thioun, Ieng Sary, Saloth Sar c̣n có Khieu Samphan, Hou Youn, Son Sen...
    Hou Youn năm 1955 đă tŕnh luận án tiến sĩ “Nông dân Campuchia và những triển vọng hiện đại hoá”, vạch rơ rằng nông dân Campuchia không bị bóc lột bởi địa chủ như ở những nước Á Đông khác, mà bị bóc lột bởi những chủ nợ. Họ bị đánh thuế, bị thương gia chèn ép giá cả, và v́ thiếu vốn, họ phải vay nợ với phân lời cắt cổ để mua nông cụ phân bón, do đó mà tiền kiếm được không có bao nhiêu. Theo Hou Youn, giải pháp duy nhất để phát triển nông nghiệp là một hệ thống tín dụng hữu hiệu do chính phủ quản trị. Hou Youn sau này trở nên một trong những lănh tụ Khmer Đỏ, nhưng có lẽ v́ phản đối chính sách di tản dân của Pol Pot nên bị thanh trừng năm 1975. Trong khi đó, luận án tiến sĩ “Kinh tế Campuchia và sự phát triển kỹ nghệ” của Khieu Samphan hoàn tất năm 1959 cũng công nhận việc giảm bớt áp lực nợ nần cho nông dân là yếu tố căn bản cho sự phát triển kinh tế. Từ đó, nông nghiệp sẽ được cơ giới hoá và tiến hành song song với sự phát triển kỹ nghệ. Khieu Samphan cũng đề cao vai tṛ thiết yếu của nhà nước trong việc diều hành và kiểm soát guồng máy kinh tế. Nhờ những sinh hoạt của nhóm mà Ieng Sary gặp Khieu Thirith, người nữ sinh đầu tiên tốt nghiệp trường trung học Sisowath đang học về văn chương Anh ở Đại học Sorbonne, và hai người đă kết hôn ở Paris. Chính trong đám cưới đó, Saloth Sar gặp được Khieu Ponnary, chị của Thirith. Năm 1950, Pol Pot và Ieng Sary gia nhập đảng cộng sản Pháp, trong khi vẫn sinh hoạt đều đặn với nhóm sinh viên thiên tả Campuchia. Khả năng chính trị của Saloth Sar nổi bật trong nhóm. Anh ta viết cho tờ “Sinh viên Campuchia”. Nội dung những bài viết đả kích Sihanouk nhiều hơn là đả kích chế độ thuộc địa. Sihanouk bị tố cáo là đă tiếp tay với Pháp để đàn áp phong trào giải phóng. V́ lập trường chính trị chống đối, học bổng của Saloth Sar bị cắt, chuyện học hành bị gián đoạn, anh ta kết hôn với Ponnary rồi về nước năm 1953, gia nhập Đông dương cộng sản Đảng. Một năm sau, hiệp định Genève ra đời.
    Hiệp định Genève là một thắng lợi lớn cho ông hoàng Sihanouk. Ông ta mặc nhiên trở nên một anh hùng giải phóng dân tộc. Mục tiêu độc lập đă đạt được, phong trào giải phóng Issarak tan ră, những người không cộng sản trở về ủng hộ chính quyền Sihanouk. Những người cộng sản, một nửa theo Sơn Ngọc Minh đi Hà nội, một nửa khác ở lại nằm vùng và khi Siêu Hàng hồi chánh năm 1959, th́ chỉ c̣n có một số nhỏ cán bộ dưới sự chỉ huy của Tou Samouth hoạt động một cách yếu ớt ở Phnom Penh. Sau Saloth Sar, các trí thức tả phái ở Paris cũng lục tục về nước. Họ lập một trường tư thục lấy tên là Kamput Both (đứa con Campuchia) để hoạt động nằm vùng. Khieu Thirith, vợ Ieng Sary, có bằng cử nhân văn chương Anh dạy trường Sisowath. Hou Youn, Khieu Samphan cùng Hu Nim, một tiến sĩ luật khoa, dạy trường Luật. Son Sen dạy trường Sisowath và Viện Phật Học, sau đó được cử làm giám đốc học chính tại Viện quốc gia Sư phạm.
    Trong khi Saloth Sar hoạt động bí mật, củng cố tổ chức, tuyển mộ đảng viên, th́ Keo Meas, bí thư thành uỷ Phnom Penh năm 1959 công khai ra mặt lập đảng Pracheachon (Nhân dân) để ứng cử Quốc hội. Thioun Mumm cũng về nước lập đảng Dân chủ. Nhưng cả hai đều bị thất cử, sau đó bị chính phủ Sihanouk đàn áp mạnh mẽ. Thioun Mumm phải trở về Pháp c̣n Keo Meas trốn sang Việt nam. Những năm đó, cùng với những tờ báo đối lập tả phái Nhân dân, Huynh Đệ (Mitlapheap) và Đoàn kết (Ekapheap), Khieu Samphan cho ra tờ báo tiếng Pháp Người quan sát (L’ observateur) để tuyên truyền trong giới sinh viên, trí thức. Tờ báo sống được đến ngày 13-7-1960 th́ Sihanouk bắt đầu đàn áp, đóng cửa tất cả ba tờ báo, bắt giữ những người chủ trương. Họ được thả ra hai tháng sau, và đến cuối tháng 9, đại hội đảng lần đầu tiên của đảng cộng sản Campuchia được triệu tập.
    Đảng cộng sản Campuchia họp đại hội đảng lần đầu tiên tại một toa xe lửa trống ở nhà ga Phnom Penh từ ngày 28-9-1960 đến ngày 30-9-1960 với sự tham dự của 21 đại biểu. Đảng lấy tên là Đảng Lao động Campuchia. Đường lối của đảng cũng tương tự như đường lối của Đảng Lao động Việt nam. Đại hội đảng đề cử Tou Samouth giữ chức Tổng bí thư và bầu ra một ban thường vụ gồm năm người. Ngoài Tou Samouth, có Ngon Chia, một đảng viên cũ của đảng cộng sản Thái đứng hàng thứ hai, Saloth Sar đứng hàng thứ ba, Keo Meas thứ tư và Ieng Sary thứ năm. Ba năm sau, sau khi đi Hà nội về, Tou Samouth mất tích một cách bí mật, có lẽ bị Pol Pot thanh toán. Saloth Sar được đưa lên làm Tổng bí thư. Ieng Sary lên hàng thứ ba, Keo Meas bị loại. Hai Uỷ viên Thường vụ mới được bầu là Son Sen và Von Verth.
    Trong thời gian đó, Khieu Samphan, Hou Youn, Hu Nim vẫn tiếp tục hoạt động công khai. Có lúc, cả ba được mời vào làm bộ trưởng trong chính phủ Sihanouk. Năm 1963, khi Sihanouk bắt đầu đàn áp cộng sản, th́ Saloth Sar, Son Sen cùng Trung ương Đảng trốn về vùng rừng núi Đông Bắc sát biên giới Việt nam. Tháng 4-1967, nông dân quận Samlaut tỉnh Battambang v́ bị thu mua lúa gạo với giá quá rẻ và bị đánh thuế nặng nề nên nổi loạn. Quân đội của Lon Nol đàn áp mạnh mẽ. Sihanouk đổ lỗi cho Khieu Sam phan, Hou Youn, Hu Nim, cả ba đă phải theo Saloth Sar về vùng rừng núi Ratanakini. Nghĩ rằng thời cơ đă chín mùi, đảng cộng sản Campuchia bắt đầu cuộc đấu tranh vũ trang chống chính quyền. Cuộc đấu tranh này mới đầu c̣n bị Việt nam ḱm hăm v́ Bắc Việt vẫn c̣n lợi dụng được Sihanouk, nhưng sau cuộc đảo chính của tướng Lon Nol, Việt nam bắt đầu giúp đỡ một cách tích cực hơn và quân Khmer Đỏ cũng bắt đầu được sự ủng hộ trực tiếp của khối Cộng, nhất là Trung hoa. Nhờ những sự giúp đỡ đó, cũng như nhờ sự quyết tâm và tuyên truyền, họ đă hoàn toàn chiến thắng quân đội Lon Nol vào ngày 17-4-1975.
    Tài liệu tham khảo:
    - Year Zero, Francois Ponchaud.
    - War & Hope, Norodom Sihanouk.
    - Việt nam Máu Lửa, Nghiêm Kể Tố.
    - Giọt Nước Trong Biển Cả. Hoàng Văn Hoan.
    - Brother Enemy, Nayan Chanda.
    - The Communist Road to Power in Vietnam, William J. Duiker

  5. #5
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Chiến tranh Đông Dương III
    Tác giả: Hoàng Dung


    Chương 4

    Chính quyền Campuchia dân chủ

    Ngày 17-4-1975, quân Khmer Đỏ tiến vào Phnom Penh, chính thức nắm chủ quyền cả nước Campuchia. Trên danh nghĩa, chính phủ Campuchia lúc đó vẫn là chính phủ Hoàng gia thống nhất quốc gia Campuchia, một liên minh giữa hai phe Sihanouk và Khmer Đỏ được thành lập năm 1970 tại Bắc kinh để đối phó lại chính phủ Cộng hoà của tướng Lon Nol. Chính phủ đó do Sihanouk Quốc trưởng, Pen Nouth Thủ tướng, Khieu Samphan Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng quốc pḥng, Hu Nim Bộ trưởng Thông tin, Hou Youn Bộ trưởng Nội Vụ. Thật ra Sihanouk và Penn Nouth chỉ có hư vị. Từ 1970 đến 1975, Sihanouk đă phải ở ĺ tại Bấc Kinh, bị Ieng Sary lúc đó là trưởng phái bộ liên lạc giám sát chặt chẽ. Ông ta chỉ được về thăm mật khu Khmer Đỏ có một lần vào tháng 3-1973 sau khi nhờ Phạm Văn Đồng can thiệp với Trung hoa để áp lực với Ieng Sary.
    Sau ngày 17-4-1975, Sihanouk vẫn chưa được về nước ngay, mà phải đợi đến ngày 19-8-1975 Khieu Samphan và Ieng Thirith mới qua B́nh Nhưỡng đón về. C̣n Hou Youn khi vào Phnom Penh đă bị mất tích một cách bí mật, có lẽ bị thủ tiêu v́ chống lại chính sách quá khích. Vừa vào đến Phnom Penh, Khmer Đỏ đă bắt đầu thanh toán các thành phần đối lập, phản cách mạng và thực hiện công tác di tản dân thành phố về nông thôn.
    Đảng cộng sản Campuchia, núp dưới cái tên “Tổ chức” (Angkar) bắt đầu củng cố quyền hành. Ban thường vụ Trung ương Đảng lúc đó gồm có Pol Pot, Nuon Chea, Ta Mok, So Phim, Ieng Sary, Von Verth, Son Sen và Takeu. Sau Pol Pot, nhân vật số hai Nuon Chea là một cán bộ cộng sản kỳ cựu, đă gia nhập đảng cộng sản Thái lan trước khi gia nhập đảng cộng sản Đông dương. Ở đại hội đảng năm 1960, Noun Chea đứng ở vị trí số hai. Sau khi Tổng bí thư Tou Samouth bị mất tích, Noun Chea vẫn đứng hàng thứ hai, để Pol Pot lên thay. Có lẽ v́ không tham vọng và trung thành nên Nuon Chea được Pol Pot tin cẩn. Trong đảng, Nuon Chea đặc trách Vụ Tổ chức (chức vụ tương đương với Lê Đức Thọ của Việt nam lúc đó). Trước 1975, Nuon Chea là Tư lệnh phó Khmer Đỏ kiêm Chính uỷ toàn quân. Hai Uỷ viên khác là Ta Mok và So Phim là hai Bí thư Khu uỷ uy tín nhất. Von Verth trước 1975 là Bí thư Thành uỷ Phnom Penh, Ta Khu chỉ huy trưởng quân sự khu Tây Bắc. Tháng 7-1975, Pol Pot triệu tập đại hội các bí thư khu uỷ để thống nhất quân đội và phân định lại ranh giới. Quốc gia Campuchia được chia ra làm bảy khu. Đó là các khu Tây Nam (bí thư Ta Mok), Tây Bắc (Nhim Ros), Bắc (Khoy Thoàn), Đông (So Phim) Trung ương (Ke Pauk), Đông Bắc (Men San), Tây (Chu Chẹt).
    Trước đó, trong chiến tranh, các bí thư khu uỷ hành động độc lập và được coi như những lănh chúa, kiêm nhiệm cả về hành chánh lẫn quân sự, toàn quyền sinh sát. Sau đại hội, tất cả các bí thư khu uỷ biểu quyết chấp thuận đường lối cộng sản quá khích của Pol Pot và đồng ư giao lại hai phần ba quân số cơ hữu của mỗi quân khu cho Trung ương, để thành lập một quân đội thống nhất, chính qui. Một phần ba c̣n lại trở thành lực lượng cơ hữu quân khu. Khmer Đỏ vẫn núp dưới cái tên Tổ chức và Pol Pot vẫn c̣n là một nhân vật bí mật. C̣n Sihanouk và Pen Nouth tuy được mang danh Quốc trưởng và Thủ tướng nhưng chỉ là hư danh, không có một chút quyền hành và gần như bị giam lỏng.
    Ngày 5-1-1976, hiến pháp chính thức của Campuchia ra đời. Hiến pháp không có đoạn nào nói về những quyền tự do căn bản, mà chỉ ám chỉ đến chính sách cường bách lao động bằng câu “tuyệt đối không có nạn thất nghiệp”.
    Ngày 20-3-1976, Quốc hội Campuchia được bầu ra, đa số các đại biểu là bí thư các quân khu và chi khu, Nuon Chea được cử làm Chủ tịch Quốc hội. Theo hiến pháp, quốc gia Campuchia sẽ có một Hội đồng Chủ tịch nhà nước do Quốc hội bầu lên. Sihanouk, người Quốc trưởng được chỉ định, không c̣n con đường nào khác, nộp đơn từ chức. Quốc hội đề cử Khieu Samphan giữ chức Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, So Phim đệ nhất Phó chủ tịch, Nhim Ros đệ nhị Phó chủ tịch. C̣n Sihanouk từ đó bị quản thúc. Ngày 12-4-1976, chính phủ chính thức của Khmer Đỏ ra mắt. Thủ tướng là Pol Pot, Ieng Sary Bộ trưởng ngoại giao, Son Sen Bộ trưởng quốc pḥng, Von Verth Phó Thủ tướng đặc trách Kinh tế, Khẩy Toàn Bộ trưởng Kỹ nghệ, Hu Nam Bộ trưởng Thông tin, Thioun Thioeun Bộ trưởng Y Tế, Tauch Phoem Bộ trưởng Công chánh. Vợ Son Sen là Yun Yet Bộ trưởng Văn hoá giáo dục, vợ Ieng Sary là Thirith Bộ trưởng Xă hội.
    Trái với sự mong đợi của nhiều người, nhất là những người dân Campuchia, ngày 17-4-1975 đă không đánh dấu một kỷ nguyên hoà b́nh no ấm, mà nó đă bắt đầu một giai đoạn đen tối nhất của lịch sử Campuchia. Là những người cộng sản cuồng tín, tập đoàn lănh đạo Khmer Đỏ đă kết hợp những thực nghiệm xă hội chủ nghĩa đẫm máu của Stalin và Mao Trạch Đông với những kinh nghiệm lao động nô lệ của đời vua Jayavarman VII đến một mức độ cực đoan, gần như điên cuồng. Cũng công xă, cũng tập thể, cũng kinh tế chỉ huy, nhưng đường lối không tưởng tiến thẳng lên cộng sản chủ nghĩa của Campuchia đă đưa đến một thảm hoạ chưa từng thấy cho toàn dân tộc Campuchia. Dĩ nhiên công tác đầu tiên và chính yếu của một Đảng cộng sản khi mới nắm được chính quyền là nắm vững chuyên chính vô sản”, “tiêu diệt những phần tử phản cách mạng”. Nhưng hơn cả Stalin, Mao Trạch Đông và Hitler, đường lối quá khích của Khmer Đỏ đă gây ra thảm kịch tự diệt chủng hơn một phần tư dân số. Cũng như những người cộng sản Việt nam hay nói chữ “đỉnh cao trí tuệ”, “ba ḍng thác cách mạng” cộng sản Campuchia gọi những thành phần đối nghịch cần tiêu diệt là “ba ngọn núi quyền lực phản động”. Ba ngọn núi kể trên lần lượt là đế quốc, phong kiến và tư sản mại bản. Nhưng sự suy diễn và xếp loại những thành phần này lại rất mơ hồ và lỏng lẻo. Đế quốc ngoài những viên chức hay sĩ quan, hạ sĩ quan chế độ cũ, c̣n là bất cứ người nào có liên quan đến ngoại quốc, như người gốc Việt, gốc Ấn, gốc Hoa, gốc Chàm. Cũng thế, phong kiến không chỉ có nghĩa những người liên quan đến hoàng tộc mà c̣n là những người tương đối có địa vị trong xă hội cũ như chuyên viên, trí thức, tăng ni... C̣n tư sản mại bản là những thương gia, tiểu thương, nhất là những người cho vay nặng lăi.
    Những người đầu tiên Khmer Đỏ phải giải quyết ngay là những sĩ quan viên chức chế độ cũ. Họ bị kêu đi tŕnh diện ngay trong ngày 17-4-1975. Trong danh sách “bảy tên phản bội” mà đài phát thanh Khmer Đỏ tuyên án tử h́nh trước khi vào Phnom Penh gồm có Lon Nol, Sirik Matak, Long Boret, tướng Fernandez, cựu Thủ tướng In Tam, cựu Quốc trưởng Cheng Keng, và ông Sơn Ngọc Thành, chỉ có hoàng thân Sirik Matak và Thủ tướng Long Boret c̣n ở lại. Cả hai đều từ chối lời mời của Đại sứ Dan cùng lên máy bay di tản. Hoàng thân Sirik Matak bị bắt sau khi tị nạn trong toà đại sứ Pháp, c̣n ông Long Boret th́ chán nản, mệt mỏi, gọi điện thoại cho Khmer Đỏ chỉ đường cho họ đến nhà bắt. Dĩ nhiên cả hai bị giết ngay.
    Những sĩ quan cao cấp của quân Cộng hoà cũ sau khi khai lư lịch bị bắn chết ngay ở sân vận động thành phố, c̣n các viên chức dân sự th́ bị xử tử ở Hội quán thể thao Phnom Penh. Trong số những người bị giết trong ngày đầu tiên có tướng Lon Non, em ruột Lon Nol, các tướng Chim Chuồn, Hem Keth Dong, phát ngôn viên quân sự Am Rong, các bộ trưởng trong chính phủ cũ, Chủ tịch Quốc hội Ung Bun Hor, cao tăng Phật Giáo Saundech Saugh.
    Riêng tại tỉnh Battambang, ngày 23-4-1975, Khmer Đỏ đem sáu xe vận tải chở các sĩ quan nói là đi đón Sihanouk nhưng lại đưa đến một địa điểm hoang vắng phục kích tàn sát hết, chỉ có bốn người chạy thoát trốn sang Thái lan. Đồng thời khoảng ba trăm hạ sĩ quan cũng bị giết tại một địa điểm khác. Sau các sĩ quan, hạ sĩ quan, về sau một số binh lính cùng những người thuộc “hai ngọn núi” phản động c̣n lại cũng dần dần bị bắt và thủ tiêu, trong lúc đang c̣n trên đường di chuyển, hoặc sau khi đă đến nơi định cư. Ngay từ ngày đầu tiên, song song với công tác tiêu diệt những phần tử phản cách mạng, cộng sản Campuchia bắt đầu thực hiện ngay một cuộc cách mạng thứ hai, cuộc cách mạng tiến thẳng lên cộng sản chủ nghĩa và xây dựng một quốc gia Campuchia “hùng cường thịnh vượng” trong ṿng mười năm, bằng cách áp dụng một chính sách kinh tế tập trung, thiết lập một xă hội cộng sản nguyên thuỷ và cưỡng bách lao động toàn thể dân chúng. Họ phá bỏ hoàn toàn hệ thống kinh tế cũ, băi bỏ tiền tệ, băi bỏ tư hữu, tiêu diệt giai cấp tư sản và các thành phần buôn bán. Toàn thể dân chúng ở Phnom Penh cũng như ở các thành phố lớn như Battambang, Kompong Cham, Siem Reap, Kompong Thom... phải di tản về những vùng quê hẻo lánh xa xôi để tham gia lao động sản xuất. Chưa kịp hưởng một giây phút chào đón hoà b́nh, họ bắt buộc phải di tản ngay, v́ theo Khmer Đỏ, “máy bay Mỹ sắp oanh tạc thành phố”. Đối với Khmer Đỏ, dân thành thị được coi như những thành phần khả nghi, phản động, ăn bám, trong chiến tranh đă không đóng góp được ǵ cho “cách mạng”. Tất cả mọi người kể cả thương binh, những người già yếu bệnh tật phải rời thành phố ngay lập tức. Con đường di chuyển được quyết định một cách độc đoán. Có những người phải đi bộ hàng tuần, có những người phải đi bộ hàng tháng mới đến nơi định cư. Nhiều người bị chết trên đường đi hoặc v́ b́ đói khát, bệnh tật, hoặc v́ bị bất hay xử tử v́ đủ mọi lư do. Suốt hơn bốn năm Khmer Đỏ nắm chính quyền một bầu không khí khủng bố và chết chóc bao phủ toàn quốc Campuchia. Ngay sau khi đến nơi định cư, những người dân thành thị di tản bị xếp ngay vào thành phần những “người mới” để phân biệt với những “người cũ” là những người địa phương từng ở dưới sự cai trị của Khmer Đỏ trước đó. “Người mới” phải ở cách biệt với “người cũ”. Nhiều khi, v́ nhu cầu công lách họ phải đổi chỗ định cư luôn, và phải thi hành những công tác nặng nhọc nhất, dưới những điều kiện khắc nghiệt nhất, ở những nơi khí hậu và đất đai khó khăn như những vùng rừng núi, śnh lầy. đời sống riêng tư bị cấm đoán và phương tiện y tế hầu như không có. Khẩu phần của người mới lúc nào cũng thiếu thốn (thường th́ người cũ được hai bát cơm một bữa, người mới một bát rưỡi). Mỗi khi địa phương bị thiếu lương thực th́ những người mới bị lănh hậu quả trước tiên. Gia đ́nh những người mới bị phân tán khắp nơi, tuỳ theo tuổi và nhu cầu, nhất là những thiếu niên dưới mười tám tuổi phải ở riêng với cha mẹ để khỏi bị “ô nhiễm ư thức hệ” cũ. Kể cả ông hoàng Sihanouk cũng có một số con cái bị phân tán, không biết lao động ở đâu và sau này chết nơi nào. Những người mới thường xuyên bị theo dơi, bị khai lư lịch, bị kiểm soát và có thể bị kết tội và xử tử bất cứ lúc nào. Nếu không bị bắt v́ lư lịch, th́ cũng có thể bị bắt và bị giết v́ lười lao động, v́ tỏ thái độ bất măn hay có những quan hệ t́nh cảm bị cấm đoán. Người bị kết tội không cần phải ra toà, và để tiết kiệm đạn họ sẽ bị xử tử bằng búa, ŕu, hay bị trùm túi nhựa cho đến khi bị nghẹt thở. Những người sống sót cùng những “người cũ” đều được đội ngũ hoá, được xếp thành tổ, xă, phường, quận...
    Về lao động sản xuất, họ được tổ chức thành những lực lượng”, “hợp tác”, công đoàn”, “nông trường”. Sau khi nhân dân đă được đội ngũ hoá như thế cả nước Campuchia trở nên một trại tập trung khổng lồ. Dân chúng phải làm việc mỗi ngày từ sáu giờ sáng đến tám chín giờ đêm. Sau đó c̣n phải họp tổ để kiểm điểm. Hầu như trong năm không có ngày lễ. Những ngày nghỉ được luật quy định là những ngày 10, 20, 30 trong tháng, nhưng điều này hiếm khi được thực hiện.
    Mục tiêu đội ngũ hoá cả nước này đă được Khieu Samphan hoạch định trong luận án tiến sĩ kinh tế tại Sorbonne năm 1959. Ông ta viết: “Sự tổ chức có phương pháp tiềm năng của quần chúng nông dân sẽ làm tăng hiệu năng sản xuất lên hàng trăm lần”, và biện pháp tiêu diệt tư hữu, cường bách lao động, ăn ở tập thể này ít ra đă được một người thán phục, đó là Mao Trạch Đông, tác giả “bước nhảy vọt vĩ đại” ở Trung hoa. Ông ta đă khen Pol Pot: chỉ trong một hành động mà các đồng chí đă thực hiện được những ǵ chúng tôi không làm được. Nhưng cũng không ai biết rơ hậu quả tai hại của đường lối này hơn Chu Ân Lai. Năm 1975, trên giường bệnh, ông ta đă khuyên Khieu Samphan và Ieng Thirith “Hăy tiến từ từ từng giai đoạn, chậm mà chắc”, lúc đó Khieu Samphan và Ieng Thirith chỉ nh́n nhau mỉm cười và không trả lời. Tương tự như Stalin trong những năm 1930 hay Mao Trạch Đông trong những năm 1960, chính sách quá khích của Khmer Đỏ đă đưa đến những hậu quả kinh tế tại hại. Hầu hết chuyên viên, trí thức đều đă bị giết hại hoặc bị tập trung, những nông trường do những cán bộ không có kinh nghiệm nông nghiệp chỉ huy, những công tŕnh thuỷ lợi được xây dựng một cách ngu dốt, những nguyên tắc về quản trị và kế toán cơ bản không có khiến cho dù cả nước tập trung lao động đến kiệt quệ mà kết quả là mức sản xuất đă quá tồi tệ.
    Và rồi cũng giống như ở Liên xô, Trung quốc, Việt nam, để đổ lỗi cho những thất bại, cuộc thanh trừng nội bộ triền miên bắt đầu. Sau khi những thành phần thuộc “ba ngọn núi” phản động đă bị tiêu diệt hết, nạn nhân chính của những cuộc thanh trừng là những người bị nghi ngờ là tay sai ngoại bang cài vào phá hoại chế độ. Những nạn nhân đầu tiên thường bị gán là tay sai CIA phá hoại kinh tế, nhưng những nạn nhân về sau, th́ bị cho là tay sai do Việt nam phá hoại cả kinh tế, chính trị lẫn quân sự. Điển h́nh cho những đợt thanh trừng này, chúng ta có thể thấy khi xét đến những thành phần tù nhân bị bắt vào Tuol Sleng. Toàn quốc Campuchia có nhiều trung tâm thẩm vấn nhưng Tuol Sleng, có nghĩa “Đồi độc dược” bí danh S21, là một trung tâm thẩm vấn nổi tiếng và điển h́nh, v́ nó ở ngay Phnom Penh, đă giam giữ và thủ tiêu những nhân vật quan trọng, và v́ đă để lại hồ sơ những can phạm rất đầy đủ so với các địa ngục trần gian khác như Đầm Đùn, Lư Bá Sơ, Phan Đăng Lưu, Lubyanka th́ Tuol Sleng đă đạt đến tột cùng của sự tàn ác. Được thành lập năm 1976, cho đến cuối năm 1978, trung tâm này đă giam giữ khoảng 20,000 tù nhân. Tra tấn ở nơi đây đă trở nên một quy luật. Tài liệu ở Tuol Sleng có ghi rơ “công tác của ngành Công an đặc biệt là một công tác đấu tranh giai cấp. Dù bí mật của địch sâu kín đến mức nào, chúng ta cũng sẽ lôi ra cho được”. Nó cũng là một nghệ thuật. “Chúng ta sẽ phải làm tất cả những ǵ cần thiết để kẻ thù lúc nào cũng mơ hồ về vấn đề được sống hay chết, và c̣n hy vọng là có thể sống sót”, hay một khoa học: “Chúng ta không tra tấn quá nặng tay. Nếu chúng vẫn c̣n đau ngay cả khi không bị đánh, chúng ta sẽ thu thập rất ít. Nếu chúng bị tra tấn đến nỗi không mở miệng nổi, điều đó sẽ gây phiền phức cho Đảng”. Với đường lối tra tấn dă man này, những người bị bất đành phải kư tên nhận bừa tội lỗi để được chết sớm.
    Chỉ huy trại Tuol Sleng là Duch, trước kia là một giáo viên, tham gia phong trào cộng sản ở khu Tây Nam dưới quyền Tamok. Năm 1972 Duch phụ trách an ninh ở Phnom Penh dưới quyền Von Verth. Sau 1975, là chỉ huy trưởng Công an toàn quốc, chỉ dưới quyền Pol Pot và Son Sen. Theo thời gian, trại này bành trướng dần. Năm 1976, trung tâm chỉ có hai ngàn tù nhân, năm 1977 tăng lên sáu ngàn, năm 1978 lên tới mười hai ngàn. Những thành phần bị bắt và thủ tiêu cũng thay đổi. Mới đầu là những người ít nhiều có dính dáng đến chế độ cũ như giáo sư, bác sĩ, sinh viên, binh sĩ. Sau đó là những phần tử khả nghi phá hoại kinh tế như các công nhân, cán bộ chỉ huy và “kiều bào hải ngoại yêu nước” trở về phục vụ. Trong đợt này c̣n có Khoa Thoàn, Bộ trưởng Kinh tế và Nhím Ros, Bí thư Khu uỷ khu Tây Bắc v́ không đạt chỉ tiêu sản xuất. Sau cùng là những người bị tố cáo có “thân xác Khmer và đầu óc Việt nam”, kể cả những cán bộ cao cấp như Keo Meas, Hu Năm, Von Verth.
    Việc thanh trừng Keo Meas mở đầu một giai đoạn cắt đứt những ǵ quan hệ với Việt nam một cách sâu rộng và công khai. Keo Meas là một đảng viên cộng sản kỳ cựu từ thời Đông dương cộng sản Đảng, từng là bí thư thành uỷ Phnom Penh trước Pol Pot. Năm 1958, v́ xuất hiện công khai để tranh cử quốc hội nên Keo Meas bị lộ tông tích và bị mật vụ Sihanouk theo dơi, phải trốn sang Việt nam. Tới 1960 Keo Meas từ Việt nam lén lút trở về tham dự đại hội đảng lần thứ nhất và được bầu lên làm một trong năm Uỷ viên Thường vụ. Sau khi Tou Samouth chết, trong đại hội đảng lần thứ hai năm 1963, Keo Meas bị mất chức, nhưng ông ta vẫn c̣n uy tín với một số đồng chí cũ nên được giao phó trọng trách viết lịch sử đảng. Thời gian đó, phong trào cộng sản Campuchia đă có hai phe, phe các cựu đảng viên như Keo Meas vẫn coi ngày 30-9-1951 là ngày đầu tiên thành lập đảng cộng sản Campuchia. Phe thứ hai do Pol Pot đứng đầu, không muốn có dấu tích ǵ của Việt nam nên muốn lấy ngày 21-9-1960 là ngày kỷ niệm. Tuy phe Pol Pot mạnh hơn, nhưng trong chiến tranh đang cần có sự giúp đỡ của Việt nam, nên Keo Meas đă đưa ra một giải pháp dung hoà là lấy ngày 30.9, ngày thành lập đảng Nhân dân cách mạng làm ngày kỷ niệm, nhưng lại lấy năm 1960, năm thành lập đảng Lao động Campuchia là năm đầu tiên của phong trào cộng sản. Cuộc tranh chấp giữa hai phe trở nên công khai vào tháng 9-1976, khi Keo Meas viết trên tờ Cờ đỏ, cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên cộng sản, tái công nhận đảng cộng sản Campuchia được thành lập từ năm 1951 và đă được sự giúp đỡ của những đảng cộng sản anh em, nhất là của Việt nam. Trong khi đó, báo Cờ cách mạng, tờ báo chính thức của Trung ương đảng cộng sản, viết rằng đảng được thành lập năm 1960, theo một đường lối riêng biệt Khmer và hoàn toàn do tự lập. Cùng thời gian, Pol Pot tuyên bố tạm từ chức v́ lư do sức khỏe, lui vào bóng tối lănh đạo cuộc thanh trừng. Mấy ngày sau, Keo Meas bị bắt, và sau khi bị tra tấn, đành thú nhận rằng ư kiến dung hoà về ngày 21-9-1960 là một âm mưu nhằm phá hoại sự chính thống và hợp pháp của đảng cộng sản Campuchia.
    Sau vụ thanh toán Keo Meas, tập đoàn Pol Pot, Ngon Chia, Son Sen và Dịch càng tin chắc là Việt nam đang mưu toan phá hoại đảng và chế độ nhằm thôn tích Campuchia và thành lập Liên bang Đông dương. Nhất là sau đó, tháng 12-1976, Việt nam kư thông cáo thân hữu với Lào và nêu mục tiêu thiết lập “quan hệ đặc biệt” giữa ba nước. Nhưng t́nh h́nh biên giới giữa hai nước lúc đó tạm yên, v́ nước đỡ đầu cho Campuchia, Trung hoa, sau cái chết của Mao Trạch Đông ngày 9-9-1976, đang ch́m trong một cuộc đấu tranh nội bộ gay gắt. Mấy tháng sau, khi t́nh h́nh Trung hoa đă sáng tỏ, các nhà lănh đạo mới ở Bắc kinh tái xác nhận sự ủng hộ đối với đường lối của đảng cộng sản Campuchia, Pol Pot mới ra lệnh phát động cuộc chiến tranh biên giới trên một qui mô rộng lớn hơn. Nhưng cuộc chiến tranh đó đă không giúp Pol Pot có được sự đoàn kết trong nội bộ đảng và nhân dân, mà chỉ gây thêm nghi ngờ và chia rẽ. Nhất là sau vụ thanh toán So Phim và quân đội quân khu Đông, chế độ Khmer Đỏ đă đi nhanh hơn trên con đường tự huỷ hoại, và chỉ hơn một năm sau, chế độ đó đă bị sụp đổ.
    Tài liệu tham khảo:
    - Campuchia, a country history, Bộ Lục quân Hoa kỳ 1989.
    - When The War Was Over, Elizabeth Becker, nhà xuất bản Simon, Shuster, New York.
    - Campuchia Year Zero của Francois Ponchaud, nhà xuất bản Holt, Rinehart and Winston, New York.
    - The Vietnam-Campuchea conflict, Foreign Languages Publishing, House, Hà nội.

  6. #6
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Chiến tranh Đông Dương III
    Tác giả: Hoàng Dung

    Chương 5
    T́nh h́nh nội bộ Việt nam - Cam pu chia - Trung hoa sau 1975


    Sau chiến thắng của Khmer Đỏ và Việt nam vào giữa năm 1975, quan hệ giữa hai nước Việt nam và Campuchia bước vào một giai đoạn mới. Nắm được chính quyền, kẻ thù cũ đă bị đánh bại, cái mặt ngoài đoàn kết giữa hai đảng cộng sản không cần che giấu nữa, để cho những bất hoà tranh chấp cũ lại bộc lộ ra. Chiếm được chính quyền vào cùng một thời gian, cùng muốn thực hiện chủ nghĩa cộng sản, những lănh tụ của cả hai đảng cộng sản đă đưa ra những chính sách kinh tế tai hại, những đường lối ngoại giao vụng về, khiến cho những rắc rối giữa hai nước đă phải giải quyết bằng súng đạn ngay trong những ngày đầu tiên. Một phần có lẽ dùng “bạo lực cách mạng” để giải quyết mọi vấn đề là phương cách hữu hiệu duy nhất mà cả hai phe cùng biết.
    Thêm vào đó, t́nh h́nh càng trầm trọng thêm và diễn ra ở một quy mô rộng lớn hơn, v́ ngoài những tranh chấp biên giới và khác biệt ngoại giao giữa hai nước, sự sụp đổ của chính phủ miền Nam Việt nam và sự rút lui của quân đội Mỹ, đă tạo nên một khoảng trống làm thay đổi cán cân lực lượng, khiến cho Trung hoa càng ngày càng quan tâm đến t́nh h́nh trong vùng. Dù trong những năm đó, Trung hoa đang trải qua những tranh chấp quyền lực nội bộ đẫm máu, nhưng mối quan ngại về an ninh lănh thổ không lúc nào bị suy giảm. Bị áp lực nặng nề của Liên xô ở biên giới phía Bắc, Trung hoa không bao giờ muốn có một nước Việt nam có khuynh hướng thân Nga ở biên giới phía Nam, nhất là Việt nam c̣n có mưu toan thống trị toàn cơi Đông dương để trở nên một thế lực quân sự hùng mạnh.
    Ỏ trong một hoàn cảnh tương tự như thế, đă từng biết rơ về khuynh hướng xâm lấn và bành trướng của Trung hoa từ hàng ngàn năm qua, nhất là người cộng sản Việt nam dù ngoài mặt luôn miệng nói anh em thân thiết, lại càng biết nhiều hơn về cộng sản Trung hoa, nên lúc nào cũng cảnh giác về mối đe doạ của nước láng giềng khổng lồ phương Bắc. Họ không thể đứng yên để Campuchia gây rối loạn ở biên giới tây nam. Riêng Campuchia, những định kiến và kinh nghiệm lịch sử đối với Việt nam dă ăn sâu trong đầu óc, khiến cho những lănh tụ Khmer Đỏ rất nhạy cảm về vấn đề an ninh và sự toàn vẹn lănh thổ. Những nghi ngờ cảnh giác đó, cộng với sự kiêu ngạo mù quáng của những nhà lănh đạo cộng sản cả hai nước đă khiến cho những xích mích mới đầu lẻ tẻ ở biên giới, trở nên ngày càng nghiêm trọng đưa đến sự xâm lăng của bộ đội Việt nam vào lănh thổ Campuchia và sự xua quân tàn phá những tỉnh biên giới phía bắc Việt nam của quân đội Trung hoa.
    Đối với cộng sản Campuchia, bao nhiên oán hờn nhẫn nhịn chất chứa bao năm qua được phần nào giải toả sau khi chiếm được chính quyền. Vừa vào được Phnom Penh, Pol Pot đă đưa ra một chỉ thị tám điểm trong đó có điểm trục xuất Việt kiều và tăng cường quân đội ở biên giới. Chỉ trong ṿng ba tháng, gần hai trăm ngàn Việt kiều ở Campuchia bị cưỡng bách hồi hương, tràn về các tỉnh biên giới như Tây Ninh, An Giang và ngay trong đầu tháng 5, hải quân nhỏ bé của Campuchia đă được huy động đi chiếm những đảo ngoài khơi vịnh Thái lan. Ngày 4-5-1975, họ bắn phá đảo Phú Quốc. Một tuần sau, họ chiếm đảo Thổ Châu, tàn sát khoảng năm trăm cư dân trên đảo và sáng ngày 12-5-1975, họ tiến chiếm đảo Ḥn Trọc (Hai). Đảo Ḥn Trọc là ḥn đảo nằm trong vùng tranh chấp giữa hai nước từ thời Pháp thuộc. Sau 1954, các chính phủ Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu đă công bố chủ quyền trên đảo và để cho hải quân Việt nam cộng hoà bảo vệ. V́ yếu thế, nên dù Sihanouk có cực lực phản đối cũng không kết quả.
    Trong cơn say men chiến thắng, cũng chiều ngày 12-5-1975, bộ đội Khmer Đỏ bắt giữ chiếc tàu dân sự Mayaguez của Mỹ chạy gần đảo đó. Nhưng trước khi bị bắt, chiếc tàu đă đánh điện cầu cứu và chính phủ Mỹ biết tin về vụ bắt giữ chiếc tàu trước chính phủ Campuchia. Đang cay đắng về thất bại ở Việt nam, chính phủ Mỹ phản ứng mạnh mẽ. Tổng thống Ford ra tối hậu thư đ̣i Campuchia phải trả tự do cho chiếc tàu trong ṿng hai mươi bốn giờ. V́ phương tiện truyền tin thô sơ, nên khi Bộ trưởng thông tin Hu Nam thay mặt chính phủ Campuchia ra lệnh bộ đội quân khu Tây Nam trả tự do cho chiếc tàu trên đài phát thanh Phnom Penh th́ đă quá muộn. Thuỷ quân lục chiến Mỹ đă đổ bộ đảo Ḥn Trọc và không quân Mỹ đă bắn phá hải cảng Kompong Som, Ieng Sary sau đó đổ thừa vụ bắt giữ này cho các đơn vị quân sự địa phương. Nhưng sau vụ này, xưởng lọc dầu duy nhất của Campuchia bị tiêu huỷ và hải quân vốn đă nhỏ bé của Campuchia bị tổn hại nặng nề.
    Hai tuần lễ sau, sau khi đă tạm thời ổn định được chính quyền, bộ đội Việt nam phản công chiếm lại đảo Thổ Châu, và ngày 2-6-1975, Nguyễn Văn Linh từ Sài g̣n lên Phnom Penh phản kháng. Mười ngày sau, phái đoàn chính phủ Campuchia gồm Pol Pot, Ieng Sary, và Ngon Chia đi Hà nội thảo luận về vấn đề biên giới hai nước. Họ muốn cuộc thảo luận căn cứ trên bản tuyên bố của nước Việt nam dân chủ cộng hoà năm 1967 về vấn đề biên giới. Những năm đó là những năm Sihanouk nghiêng về Bắc Việt, và dù cảm thấy biên giới do Pháp quy định đă khiến Campuchia bị thiệt tḥi, Sihanouk cũng chấp nhận biên giới đó để Việt nam khỏi lấn chiếm thêm. Lúc đó Bắc Việt đang cần sự ủng hộ của Sihanouk nên cũng tỏ ra mềm dẻo. Nhưng sau chiến thắng họ thấy không cần nhượng bộ nữa. Đồng thời cùng với ngày mà Pol Pot tới Hà nội, Việt nam tái chiếm đảo Ḥn Trọc. Cuộc thương thuyết về biên giới không đi đến đâu, phái đoàn Campuchia rời Hà nội đi Bắc kinh.
    Thời gian đó tại Trung hoa, Chu Ân Lai đang bị bệnh, và phe quá khích của Giang Thanh đang thắng thế. Cùng chia sẻ mối quan tâm về đường lối thân Nga và tham vọng đất đai của Việt nam, và gần gũi hơn về đường lối quá khích tiến thẳng lên cộng sản chủ nghĩa, nên phái đoàn Campuchia được tiếp đón nồng nhiệt. Mao Trạch Đông, tác giả bước nhảy vọt năm 1958 đă hết lời ca ngợi Pol Pot. Sau đó, Trung hoa hứa viện trợ cho Campuchia một tỉ mỹ kim trong ṿng năm năm. Đồng thời họ cũng bí mật cứu xét viện trợ quân sự cho Campuchia.
    Ngày 2-8-1975, một phái đoàn cao cấp của Đảng Lao động Việt nam do Lê Duẩn, Phạm Hùng và Xuân Thuỷ qua thăm Phnom Penh đáp lễ. Cuộc viếng thăm ngắn ngủi và lạnh nhạt. Có lẽ để lấy ḷng Trung hoa, Việt nam tỏ ra mềm dẻo hơn, công nhận chủ quyền của Campuchia trên đảo Ḥn Trọc và hứa sẽ trao trả lại. Đảo này được giao về Campuchia vào tháng 10-1975. Theo Sihanouk, Việt nam lại tái chiếm đảo này năm 1978.
    T́nh h́nh bang giao giữa hai nước sau đó dịu đi đôi chút, nhưng những bất hoà căn bản vẫn c̣n ngấm ngầm. Tháng 9-1975, khi Sihanouk và Khieu Samphan đến Hà nội dự lễ quốc khánh của Việt nam, Phạm Văn Đồng mời phái đoàn Campuchia dự tiệc “thân mật” với các phái đoàn Mặt trận giải phóng Miền Nam và Lào, Khieu Samphan từ chối tức khắc, sau đó giải thích với Sihanouk rằng đó là cái bẫy của Việt nam để tiến tới thành lập Liên bang Đông dương. Dịp quốc khánh đó cũng là dịp Trung hoa thăm ḍ lập trường của Việt nam. Trung hoa đă cử tướng Trần Tích Liên, Uỷ viên Bộ Chính trị và Tư lệnh Quân khu Bắc kinh làm trưởng phái đoàn.
    Việc bổ nhiệm đó mang một ư nghĩa chính trị đặc biệt, v́ tướng Liên là tướng tư lệnh chỉ huy quân đội Trung hoa trong những trận đụng độ với Liên xô ở biên giới trong năm 1969. Trên đường đến Hà nội, tướng Liên ghé thăm nhà máy gang thép Thái Nguyên đang được Trung hoa giúp tái xây dựng, đọc diễn văn kêu gọi đấu tranh chống “bá quyền” (Liên xô). Khi đến Hà nội ngày 31-8-75, tướng Liên vẫn được Phạm Văn Đồng “ôm hôn thắm thiết”, nhưng bài diễn văn chống bá quyền bị đục bỏ trên báo chí và đài phát thanh Việt nam. Đài phát thanh Moscow lúc đó cực lực công kích hành động của tướng Liên, gọi đó là gây hấn và kém văn minh.
    Việt nam sau bao năm nhờ có viện trợ dồi dào của cả Liên xô và Trung hoa để có thể theo đuổi chiến tranh, đang rất cần viện trợ tái thiết, nên đă cố gắng dung hoà với cả hai nước. Nhưng sau khi chiến tranh chấm dứt, mục tiêu chiến lược của cả hai nước này đă thay đổi. Liên xô chỉ bằng ḷng trợ giúp Việt nam nếu Việt nam chịu nằm trong quỹ đạo Liên xô, kể cả về kinh tế lẫn quân sự, để giúp Liên xô khống chế Trung hoa và có một đầu cầu quân sự trong vùng nam Thái B́nh Dương. C̣n Trung hoa lúc đó ngày càng thân thiện hơn với Hoa kỳ và đang coi Liên xô là kẻ thù số một, không thấy có nhu cầu phải giúp đỡ một nước Việt nam độc lập và không chịu về phe ḿnh để chống lại Liên xô. V́ thế trong tháng 8-1975, khi Lê Thanh Nghị, Chủ tịch Uỷ ban kế hoạch nhà nước, người đă từng sang Trung hoa xin viện trợ nhiều lần đến nỗi bị đặt cho biệt danh “tên ăn mày” lại sang xin viện trợ. Lần này Trung hoa từ chối thẳng tay.
    Không nản chí, cuối tháng 9-1975 Lê Duẩn và Lê Thanh Nghị lại sang thêm một lần nữa. Cuộc tiếp đón mới đầu diễn ra thân thiện cho tới khi Đặng Tiểu B́nh, lúc đó vừa được phục chức Phó Thủ tướng, sau khi bị thanh trừng lần thứ nhất, trong buổi tiệc tiếp tân đă đề cập đến “chủ nghĩa bá quyền” và ám chỉ rằng Việt nam nên liên kết với Trung hoa để chống lại Liên xô. Tuy nhiên, trong đáp từ, Lê Duẩn đă không đả động ǵ đến bá quyền mà c̣n cám ơn tất cả “những nước xă hội chủ nghĩa anh em” dĩ nhiên trong đó có Liên xô, trong cuộc đấu tranh chống đế quốc. Sự từ chối không liên kết với Trung hoa của Lê Duẩn đưa đến kết quả là Trung hoa từ chối viện trợ. Lê Duẩn cũng từ chối thảo thông cáo chung và huỷ bỏ tiệc liên hoan đáp lễ. Ngày 25-9-1975 Lê Duẩn đáp xe lửa đi Thiên Tân trở về nước. Một tháng sau, Lê Duẩn sang Liên xô. Trái với chuyến đi Trung hoa vừa rồi, tại đây Lê Duẩn kư với Liên xô một thông cáo chung trong đó Việt nam nhất trí với Liên xô trong đường lối đối ngoại. Đối với Trung hoa, kể từ ngày đó, Việt nam đă công khai đầu hàng chủ nghĩa bá quyền và đứng trong hàng ngũ đối lập với Trung hoa.
    Việt nam lúc đó đă ư thức được vị thế đối lập của ḿnh với Trung hoa và sự liên kết giữa Trung quốc và Campuchia, nên đă lợi dụng thời gian mà cuộc tranh chấp quyền lực ở Trung hoa đi tới giai đoạn cực độ để củng cố hoàn cảnh của ḿnh. Trước hết, họ loại Hoàng Văn Hoan, một nhân vật thân Bắc kinh ra khỏi Bộ Chính trị. Sau đó, họ bất thần triệu tập hội nghị sơ bộ ở Đà Lạt bàn về việc thống nhất hai miền Nam Bắc. Trưởng phái đoàn miền Bắc là Trường Chinh, nhân vật số hai của Đảng, c̣n trưởng phái đoàn miền Nam là Phạm Hùng, nhân vật thứ tư, dĩ nhiên hội nghị đưa đến kết quả nhất trí. Trung hoa chỉ có thể phản ứng lại một cách yếu ớt, bằng cách công bố chủ quyền của họ trên quần đảo Trường Sa. Việt nam vẫn không nao núng. Tháng 2-1976, để chuẩn bị bầu quốc hội cả nước, họ bắt tất cả nhân dân trong nước phải khai quốc tịch. Những người không nhận quốc tịch Việt nam bị mất hộ khẩu và khẩu phần. Dĩ nhiên, đại đa số Hoa kiều phải nhập tịch Việt nam. Lần này Trung hoa phản kháng dữ dội, nhưng Việt nam vẫn không nhượng bộ. Đây là những đụng chạm đầu tiên về vấn đề Hoa kiều ở Việt nam giữa hai chính phủ. Sau khi đă thắt chặt được sự kiểm soát nhân dân trong nước, Việt nam t́m cách củng cố an ninh sườn biên giới Tây Bắc. Ngày 2-12-1976, Lê Duẩn sang Viêng-chăn, cùng Kayson Phomvihane, Bí thư đảng cộng sản Lào kư một thông cáo chung. Thông cáo chung này hứa hẹn “tăng cường t́nh đoàn kết gắn bó giữa ba dân tộc Lào, Campuchia và Việt nam”. Đối với Campuchia, đây là bước đầu tiên của Việt nam trong kế hoạch thành lập Liên bang Đông dương. Cộng sản Lào, trong chiến tranh chống Pháp, đă dựa dẫm vào Việt nam mà phát triển, và trong chiến tranh Đông dương thứ hai, đă nhờ Việt nam mà chiếm được chính quyền. Sau 1975, Việt nam vẫn c̣n để lại Lào hơn bốn mươi ngàn bộ đội. Thông cáo chung giữa Việt nam và Lào đă gián tiếp hợp thức hoá sự hiện diện của quân đội Việt nam trên lănh thổ Lào. Có được đồng minh như Lào làm trái độn, Việt nam đă bảo đảm được sự an toàn ở biên giới phía Tây, cô lập sự tiếp vận đường bộ giữa Trung hoa và Campuchia, và tạo thêm một mối đe doạ cho Campuchia từ biên giới phía Bắc. Hai tháng sau, trong lễ kỷ niệm đệ nhất chu niên ngày chiến thắng, Ieng Sary ngoài việc nhấn mạnh đến sự độc lập, tự chủ và toàn vẹn lănh thổ, đă ngầm chỉ trích Lào đă để bộ đội Việt nam trú đóng trên lănh thổ của ḿnh. Những tháng sau đó, v́ vấn đề nội bộ, cả hai nước Việt nam và Campuchia đều muốn giải quyết vấn đề biên giới một cách ôn hoà.
    Tháng 5-1976, Phan Hiền tới Phnom Penh lại thảo luận về biên giới. Vấn đề gay go nhất là vấn đề lănh hải. Trước kia, biên giới ngoài biển giữa hai nước được quy định theo lằn ranh Brevié, do Thống đốc Brevié năm 1939 đă vẽ ra một cách độc đoán. Lằn ranh đó là một đường thẳng vẽ từ biên giới đất liền, theo một góc 140 độ về hướng vịnh Thái lan. Khi đường thẳng đó đụng đảo Phú Quốc th́ lại lệch ra ba cây số về hướng bắc để có thể gom đảo Phú Quốc vào Việt nam. Sau 1954, hải quân Việt nam cộng hoà đă vạch một lằn ranh khác lấn thêm về hướng bắc để gom thêm một số đảo, trong đó có đảo Ḥn Trọc (Hai) vào Việt nam. Lúc đó, để lấy ḷng Sihanouk đă giúp đỡ năm 1966 Bắc Việt đă công nhận ranh giới Brevié. Giờ đây, trong hội nghị, Phan Hiền đại diện chính phủ Việt nam bằng ḷng nhường tất cả các đảo phía bắc lằn ranh Brevié cho Campuchia, nhưng v́ vấn đề tài nguyên dầu hoả ở thềm lục địa, lại đ̣i hỏi phải thương thuyết lại về biên giới lănh hải, căn cứ vào lằn ranh tuần tiễu cũ của hải quân Việt nam cộng hoà. Cũng như trong trường hợp tranh chấp với Trung hoa về Trường Sa, Việt nam lại nêu lư do là v́ chú tâm vào chiến tranh lúc đó nên đă không chú trọng nhiều đến vấn đề biên giới. Một lần nữa, Campuchia lại t́m thấy một lư do để nghi kỵ về tham vọng đất đai của Việt nam, dù quốc gia hay cộng sản. Những nạn rứt đă không thể hàn gắn một cách hoà b́nh. Hai chính quyền cộng sản đành phải t́m cách củng cố thế lực theo những đường lối riêng biệt của ḿnh.
    Sau những thất bại ngoại giao với hai lân bang cộng sản, Việt nam cảm thấy bị cô lập, họ bắt đầu thay đổi chính sách đối với các quốc gia ASEAN trong vùng. Mới hơn một năm trước, sau chiến thắng ngày 30-4, Việt nam đă đối xử với những nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á hay ASEAN một cách khinh miệt, coi những nước này như tay sai hay chư hầu của đế quốc. Hiệp hội này gồm các quốc gia Malaysia, Thái lan, Singapore, Phillipines, Indonesia và sau này thêm Brunei, được thành lập năm 1967, đă ít nhiều giúp đỡ Nam Việt nam trong chiến tranh. Sau khi Nam Việt nam bị đánh bại, thấy Hoa kỳ không thể được coi như một đồng minh đáng tin cậy, các nước kể trên nhận thấy chỉ nên trông cậy vào sức ḿnh, kể cả về quốc pḥng cũng như kinh tế. Kết quả là họ đă đạt được những thành quả kinh tế tốt đẹp đến nỗi được gọi là “phép lạ”. Hơn một năm sau chiến thắng, nhận thức được nền kinh tế èo một của ḿnh so với các nước lân bang, đồng thời đang hy vọng có thể nhận được viện trợ từ các nước trong phe tự do, tháng 7-1976, Việt nam cử Phan Hiền đi viếng thăm thân hữu Phillipines, Malaysia, Singapore, Indonesia và Miến Điện. Phan Hiền đă tỏ ra rất mềm dẻo. Khi bị hỏi về những lời công kích những nước này trước kia của Việt nam, trên báo chí cũng như trên đài phát thanh, Phan Hiền đổ lỗi một cách gượng gạo là đó là ư kiến của những nhà báo chứ không phải lập trường chính phủ.
    Những tháng cuối năm 1976 được coi như đỉnh cao cho những tham vọng của những lănh tụ cộng sản Việt nam. Những cao vọng đó được thể hiện trong đại hội Đảng cộng sản lần thứ tư vào tháng 12-1976, trong đó, họ đặt ra những kế hoạch vĩ đại dựa trên những mơ mộng về phép lạ của chủ nghĩa Mác, về tài ba quản lư kinh tế của những “đỉnh cao trí tuệ” và những ước tính chủ quan về số tiền viện trợ mà họ hy vọng sẽ nhận được từ Liên xô, Trung quốc, cùng các nước Tây Âu, Nhật bản và Hoa kỳ. Đối với hai nước cộng sản Trung hoa và Liên xô, Việt nam nghĩ rằng họ đă hy sinh quá nhiều tài nguyên cũng như sinh mạng cho sự an ninh và bành trướng của khối Cộng, cho nên họ có quyền được các nước cộng sản đàn anh, dù có sự tranh chấp ư thức hệ giữa hai nước cộng sản Nga Hoa, Việt nam vẫn hy vọng có thể tiếp tục chính sách đu dây như trong những năm chiến tranh để có thể nhận viện trợ của cả hai nước. Dù trong mấy tháng trước, Trung hoa c̣n tỏ ra lạnh nhạt, nhưng sau biến cố ngày mùng 6-10-1976 tại Bắc kinh, phe quá khích “lũ bốn người” đă bị tiêu diệt. Với sự hồi phục của phe ôn hoà và Đặng Tiểu B́nh, Việt nam hy vọng Trung hoa sẽ theo đuổi một đường lối hoà hoăn hơn, nhất là sau khi thấy Việt nam tỏ ra độc lập đối với Liên xô. Tuy trong chuyến đi cuối năm 1975, Lê Duẩn đă công khai tuyên bố ủng hộ đường lối đối ngoại đối với phe tự do của Liên xô, nhưng Việt nam vẫn không muốn đứng hẳn trong quỹ đạo của họ. Việt nam đă để Pháp được giữ Toà lănh sự ở Sài g̣n, nhưng Liên xô bị từ chối. Các hăng thông tấn AP, Reuter, UPI đều có văn pḥng tại Miền Nam nhưng hăng TASS th́ không được. Trong năm 1976, những hành động độc lập lại lộ liễu hơn. Trong dịp tham dự Đại hội Đảng lần thứ hai mươi lăm của Xô viết vào tháng 3-1976, Lê Duẩn công khai đề cao sự độc lập và nhấn mạnh rằng mỗi đảng cộng sản có thể theo đuổi một đường lối riêng, phù hợp với những điều kiện của mỗi nước. Liên xô lại càng giận dữ khi Việt nam đă không chịu gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế Comecon của khối Cộng mà lại xin gia nhập Quỹ tiền tệ quốc tế của phe Tự do, vào tháng 9-1976.
    Hai tháng sau, t́nh trạng sóng gió giữa hai nước lại được thể hiện qua nghi thức ngoại giao. Ngày 6-11-1976, khi đại sứ Liên xô mở tiếp tân tại khách sạn Thắng lợi mừng quốc khánh, Phạm Văn Đồng đến dự nhưng dành cả buổi tối để nói chuyện với đại sứ Pháp mà không đếm xỉa ǵ tới đại sứ Chaplin của Nga. Bang giao giữa Việt nam và Liên xô càng suy đồi hơn trong đại hội Đảng lần thứ tư của Đảng cộng sản Việt nam vào cuối tháng 12-1976. Đại diện Liên xô là lư thuyết gia Suslov, cùng với các phái đoàn cộng sản Đông Âu, Suslov một lần nữa, vừa kín đáo vừa công khai, khuyến dụ Việt nam gia nhập Comecon. Một lần nữa, Việt nam từ chối, Suslov giận dữ trở về nước trước dự định.
    Tỏ ra độc lập đối với Liên xô, ngoài mục đích lấy ḷng những lănh tụ mới của Trung hoa, Việt nam c̣n hy vọng xin được tiền viện trợ của các nước Tây Âu và Hoa kỳ. Lúc đó, Hoa kỳ đă bầu một tổng thống tương đối chủ hoà là Carter. C̣n ở châu Âu, ngoài những nước Bắc Âu như Thuỵ Điển đă công khai ủng hộ Bắc Việt trong chiến tranh, một số các nước khác cũng có ít nhiều bất đồng với Hoa kỳ. Trong hoàn cảnh quốc tế đó, với đầu óc chủ quan tự cho ḿnh là quan trọng, các nhà lănh đạo Việt nam lạc quan nghĩ rằng họ có thể nhận được viện trợ dồi dào từ khắp nơi. Với sự mù quáng đó, chỉ trong ṿng hai năm, họ đă biến Việt nam thành một nước lẻ loi và có lợi tức đầu người thấp nhất thế giới.
    Sự mơ mộng của những lănh tụ cộng sản già nua của Việt nam vừa đạt tới đỉnh cao đă bắt đầu tiêu tan ngay trong những tháng đầu năm 1977.
    Năm đó miền Bắc bị mất mùa. Tại miền Nam, chính sách kinh tế tập trung và đường lối quản lư vụng về của cán bộ miền Bắc đưa vào khiến cho mức sản xuất công nghiệp suy giảm hẳn so với trước kia. Bị ép buộc đóng thuế hay vào hợp tác, nông dân miền Nam không chịu tăng gia sản xuất, đưa đến cảnh Việt nam bị thiếu hụt lương thực. Tháng 3-1977, Việt nam phải kêu gọi Liên hiệp quốc và các quốc gia cộng sản thân hữu viện trợ khẩn cấp. Kết quả không đi đến đâu, không nước nào, kể cả Liên xô chịu giúp. Những cố gắng để hoà giải với hai nước lân bang cũng thất bại. Tháng 2-1977, Thứ trưởng ngoại giao Hoàng Văn Lợi tới Phnom Penh đề nghị một hội nghị thượng đỉnh Đông dương. Đề nghị này chỉ gây thêm nghi ngờ và dĩ nhiên bị từ chối.
    Những tháng đầu năm 1977 là những tháng mà cả hai nước Việt nam và Campuchia nín thở chờ đợi những diễn biến trong nội t́nh chính trị Trung hoa sau cái chết của Mao Trạch Đông. Sau khi phe quá khích “bè lũ bốn tên” bị thanh toán, với phe ôn hoà trở lại chính quyền, Việt nam lạc quan hơn và Campuchia lo âu hơn v́ Ieng Sary đă rất từng thân cận với Diêu Văn Nguyên, Chủ tịch Uỷ ban ngoại giao Trung ương Đảng, trong phe “Lũ bốn người” và ngày 30-9-1976, Ieng Sary c̣n gửi một điện văn sang Trung hoa, trong đó chúc mừng Hoa Quốc Phong và đảng cộng sản Trung hoa đă đập tan được “bè lũ phản cách mạng, chống chủ nghĩa xă hội của Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu B́nh”. V́ sự ủng hộ của Trung hoa quá cần thiết, chưa đầy một tháng sau, Bộ ngoại giao Campuchia đă phải muối mặt gửi một điện văn khác cho Hoa Quốc Phong, lần này th́ ca tụng Hoa Quốc Phong đă đập tan được lũ bốn người phản động và chống đảng”.
    Sau bốn tháng chấn chỉnh nội bộ, đường lối ngoại giao của Trung hoa bắt đầu sáng tỏ. Kết quả là, cũng như những chính phủ trước, họ vẫn coi Liên xô là kẻ thù số một, và trái với sự lo âu của Campuchia và hi vọng của Việt nam, Trung hoa vẫn tiếp lục ủng hộ đường lối đối ngoại chống Việt nam của Campuchia. Tháng 2-1977, Bắc kinh chính thức từ chối thư xin viện trợ của Việt nam và tháng 3, Ieng Sary yên ḷng sang Bắc kinh nối lại mối quan hệ thân thiết cũ. Trong buổi tiệc tiếp tân do Lư Tiên Niệm khoan đăi phái đoàn Campuchia, sự hiện diện của tướng Vương Thăng Long, Tổng tham mưu phó quân đội Trung hoa cho thấy có sự hợp tác quân sự giữa hai nước. Tháng sau, như để cảnh cáo Việt nam, trong buổi tiếp tân tại Toà Đại sứ Campuchia kỷ niệm hai năm ngày chiến thắng, ngoại trưởng Hoàng Hoa công khai tuyên bố nước Campuchia Dân chủ đang bị kẻ thù phá hoại, và Trung hoa sẽ tiếp tục đường lối của Chủ tịch Mao Trạch Đông là sát cánh với những dân tộc nhỏ yếu, chống lại những hành động can thiệp và gây hấn của những nước lân bang. Đă bảo đảm được sự hậu thuẫn của Trung hoa, hai tuần sau, đúng vào ngày Việt nam đang kỷ niệm hai năm chiến thắng, quân đội Campuchia mở một cuộc tấn công quy mô vào những làng xă và thị trấn dọc biên giới Việt nam thuộc tỉnh An Giang.
    Không bao giờ ngờ Campuchia sẽ mở cuộc tấn công lớn như thế, trong thời gian đó, Việt nam bắt đầu thi hành giai đoạn đầu của nghị quyết đại hội đảng lần thứ tư bằng cách gửi người đi xin viện trợ. Phan Hiền sang Paris gặp Holbrook, Vơ Nguyên Giáp đi Đông Âu, Phạm Văn Đồng sang châu Âu. Phạm Văn Đồng bị thất vọng ngay trong những ngày đầu liên. Ở châu Âu, trừ Pháp và ba nước nhỏ Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy, các nước lớn như Tây Đức, Anh không chịu tiếp. Chuyến đi Pháp dự trù kéo dài ba luận bị rút ngắn c̣n có ba ngày. Trên đường đi, Phạm Văn Đồng phải ghé lại Moscow năm ngày. Thái độ muốn độc lập của Việt nam khiến cuộc tiếp xúc giữa Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Nga Kossygin lúc đó rất lạnh nhạt. Nhưng chỉ trong ṿng hai tuần sau, bầu không khí đó đă thay đổi hẳn.
    Trong hai tuần đó, nhiều biến cố đă xẩy ra. Chuyến đi xin tiền Âu châu của Phạm Văn Đồng hoàn toàn thất bại. Pháp chỉ viện trợ một số tiền nhỏ, c̣n các nước Bắc Âu chỉ hứa hẹn lơ là. Tại Paris, cuộc hội đàm giữa Phan Hiền với Holbrook tan vỡ, và Quốc hội Mỹ đă biểu quyết cấm chính phủ không được viện trợ cho Việt nam. Tại Việt nam, Trung hoa đă tỏ thái độ bất thân thiện và Campuchia vừa mở một cuộc tấn công lớn đầu tiên ở biên giới. Bị lẻ loi, Việt nam không c̣n con đường nào khác là phải dựa vào Liên xô. Đầu tháng 5, Bộ Chính trị ra chỉ thị cho Phạm Văn Đồng phải ở lại Moscow để chờ Lê Đức Thọ từ Hà nội bí mật bay bên đó. Cả hai bắt đầu thảo luận với những nhà lănh đạo đảng và chính phủ Liên xô về những điều kiện viện trợ.
    Một mặt cải thiện ngoại giao với Liên xô, mặt khác Việt nam vẫn chưa thể hy sinh mối quan hệ quan trọng với Trung hoa nên đầu tháng 6-1977, tướng Giáp sau khi đi Đông Âu và Liên xô về, đem theo một phái đoàn hùng hậu sang “viếng thăm thiện chí” Bắc kinh. Nhưng chuyến đi là một thất bại nhục nhă. Nhân vật tương đương của Trung hoa là Bộ trưởng quốc pḥng Diệp Kiếm Anh không ra phi trường đón tiếp, và cũng chỉ để những cán bộ cấp thấp dự những cuộc hội đàm. Tướng Giáp gỡ thể diện bằng cách tuyên bố đă bắt được cố vấn Trung hoa trong trận đánh với Campuchia ở biên giới tháng trước.
    Tuy thế nhưng Việt nam vẫn cố gắng, v́ nghĩ rằng viễn ảnh một liên minh Việt nam - Liên xô có thể làm Trung hoa thay đổi ư kiến, nên ngày 8-6-1977, trên đường từ Moscow về nước. Phạm Văn Đồng lại ghé Bắc kinh. Lần này, nhờ có hỏi trước, nên Phạm văn Đồng được phó Thủ tướng Trung hoa Lư Tiên Niệm tiếp đón. Nhưng Phạm Văn Đồng chưa kịp nói ǵ về vấn đề viện trợ th́ Lư Tiên Niệm đă nêu một danh sách dài những than phiền và phản kháng. Hai điều phản kháng quan trọng nhất là chính sách đối với người Hoa ở Việt nam và sự lật lọng của Hà nội về chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trước kia, để có thể được Trung hoa giúp đỡ trong cuộc chiến tranh nội chiến, Việt nam đă công nhận chủ quyền của Trung hoa trên hai quần đảo, nhưng sau ngày 30-4-1975, Việt nam đă đem quân chiếm đóng quần đảo Trường Sa. Phạm Văn Đồng đă gượng gạo trả lời rằng trước kia v́ bận chiến tranh với Hoa kỳ, và cần viện trợ của Trung hoa, nên Việt nam không để ư đến vấn đề những hải đảo. Kết quả của cuộc hội đàm là t́nh trạng bang giao của hai nước càng tồi tệ hơn.
    Ngược lại, sau cuộc hội đàm ở Moscow, bang giao hai nước Việt nam, Liên xô bước vào một khúc quanh mới. Mới mấy tháng trước bầu không khí c̣n lạnh nhạt. Giờ đây, Lê Duẩn hết lời ca tụng và tỏ ḷng biết ơn Liên xô bằng cách nhấc nhở câu “uống nước phải nhớ nguồn”, và để kỷ niệm 60 năm Cách mạng Tháng Mười của Nga, Việt nam phát động “tháng Việt xô hữu nghị”. T́nh hữu nghị này không phải là không có giá. Trước hết, Việt nam gia nhập ngân hàng quốc tế hợp tác kinh tế (IBEC) và Ngân hàng đầu tư quốc tế của Liên xô. Việt nam cũng bắt đầu gửi những vũ khí thặng dư sang Ethiopia và El Salvador. Từ tháng 7-1977, nhiều phái đoàn quân sự hùng hậu của Liên xô bay sang Việt nam thăm viếng và nghiên cứu những phi trường và hải cảng ở phía Nam như Đà Nẵng, Cam Ranh, Nha Trang, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ, bắt đầu một giai đoạn hợp tác quân sự mới. Sau khi đă tham khảo Liên xô, ngày 18-7-1977, phái đoàn đảng và chính phủ Việt nam do Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng cầm đầu, sang Viêng-chăn cùng Chủ tịch đảng Souphanouvong, Thủ tướng Kayson Phomvihan kư hiệp ước thân hữu và hợp tác, trong đó có đoạn “hợp tác chặt che để lăng cường khả năng pḥng thủ và bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ của hai nước”. Hiệp ước chỉ là một h́nh thức chính thức và công khai hoá sự hiện diện của các đơn vị sư đoàn 325, 304, 968...
    Đối với Campuchia, khi đă cùng Lào kư hiệp ước thân hữu, Việt nam đă tiến thêm một bước nữa trong việc thi hành kế hoạch dài hạn Liên bang Đông dương, và Campuchia càng thấy cần phải liên minh với Trung hoa. Quân đội các quân khu biên giới lại được lệnh báo động, chuẩn bị một cuộc tấn công tự vệ mới.
    Với sự thúc đẩy của Trung hoa, nhằm tăng cường mặt tràn ngoại giao và tuyên truyền, ngày 27-9-1977, Pol Pot lên đài phát thanh đọc một bài diễn văn dài năm tiếng đồng hồ, chính thức xác nhận vai tṛ lănh đạo của ḿnh và công nhận Tổ chức (Angkar) chính là đảng cộng sản Campuchia. Pol Pot đă không hề nhắc nhở ǵ đến vai tṛ của Việt nam trong việc thành lập đảng cũng như sự giúp đỡ của Việt nam trong chiến tranh. Ngược lại Pol Pot nhắc lại t́nh trạng mất đất thường xuyên xảy ra trong những thời đại trước, khi Campuchia c̣n bị những giai cấp bóc lột thống trị, và hứa sẽ “không cho phép bất cứ ai muốn vẽ lại bản đồ của xứ sở chúng ta”. Ba ngày trước đó, để đoàn kết nội bộ đảng và nhân dân, cũng như để chứng tỏ quyết tâm chống Việt nam đối với Trung hoa, quân đội quân khu Đông được lệnh tấn công vào lănh thổ Việt nam thuộc tỉnh Tây Ninh, và một ngày sau khi ra mắt, Pol Pot lên đường đi Bắc kinh và B́nh Nhưỡng, lần đầu tiên công du với tư cách là Chủ tịch đảng và Thủ tướng.
    Trong chuyến đi Trung hoa lần này, Pol Pot đă được tiếp đón trọng thể. Cờ và biểu ngữ giăng đầy Thiên An Môn, hàng trăm ngàn học sinh xếp hàng dọc theo đại lộ Trường An. Hoa Quốc Phong cùng hơn một nửa Uỷ viên Bộ Chính trị, trong đó có cả Đặng Tiểu B́nh vừa được phục hồi chức vụ lần thứ hai, ra tận phi trường tiếp đón. Trong các bài diễn văn chính thức, cả hai nước đều ám chỉ đến sự đoàn kết chống lại tham vọng đất đai của Việt nam. Tuần lễ sau, trong lễ ăn mừng quốc khánh Trung hoa, Pol Pot đứng cạnh Hoa Quốc Phong trên khán đài ở Thiên An Môn để xem pháo bông. Trong hàng ngũ quan khách, người ta thấy có Hoàng Văn Hoan, tuy đă mất chức trong Bộ Chính trị, nhưng vẫn c̣n là Phó chủ tịch Quốc hội Việt nam.
    Việt nam lúc đó vẫn cho rằng thái độ thù nghịch của Trung hoa là do những lănh tụ trung thành với đường lối của Mao như Uông Đông Hưng, Trần Tích Liên, Vũ Đệ, Hoàng Hoa..., và với sự phục chức lần thứ hai của Đặng Tiểu B́nh vào tháng 7-1977, phe thực dụng sẽ thắng thế trở lại và sẽ mềm dẻo hơn đối với Việt nam. V́ thế mà sau trận tấn công quy mô thứ hai vào biên giới thuộc tỉnh Tây Ninh, Việt nam vẫn tự hạn chế. Một mặt họ không cho bộ đội được vượt biên giới phản công, cất chức viên tư lệnh quá khích Trần Văn Trà, mặt khác, họ vẫn gửi điện văn chúc mừng lễ ra mắt Đảng cộng sản Campuchia và bí mật gửi Phan Hiền sang Bắc kinh nhờ Trung hoa dàn xếp cho được gặp phái đoàn Campuchia. Cuộc tiếp xúc không đi đến đâu, hai bên tố cáo nhau đă khiêu khích ở biên giới và đă có những hành vi dă man, tàn bạo.

  7. #7
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Chiến tranh Đông Dương III
    Tác giả: Hoàng Dung


    Chương 5
    T́nh h́nh nội bộ Việt nam - Cam pu chia - Trung hoa sau 1975
    P2



    Sau khi Phan Hiền về nước, như để cảnh cáo Trung hoa đầu tháng 10-1977, Việt nam công khai loan báo cuộc viếng thăm của phái đoàn quân sự Liên xô do tướng Yepishev cầm đầu. Cùng thời gian đó, Trung hoa bắt đầu ồ ạt chở chiến cụ từ máy truyền tin đến đại bác 130 ly tới hải cảng Komphong Som để tăng cường cho quân đội Campuchia. Trung hoa cũng cắt giảm những chuyến bay từ Hà nội đi Quảng Châu xuống từ hai chuyến xuống c̣n một chuyến mỗi tuần.
    Những tháng cuối năm, những trận đánh ở biên giới Việt nam càng trở nên khốc hệt. Trước khi mở chiến dịch phản công vượt biên giới đại quy mô, ngày 21-4-1977, Lê Duẩn qua Trung quốc cầu hoà một lần chót. Lê Duẩn đă phân trần với Hoa Quốc Phong là mặc dù có những vấn đề khác biệt, Việt nam đă không bao giờ công khai chỉ trích Trung hoa. và cũng không bao giờ đứng hẳn về phía Liên xô để bài xích Trung hoa. Có lúc Lê Duẩn đă phải xuống giọng: “Chúng tôi như những đứa em nhỏ, luôn luôn sát cánh bên các người anh”. Tuy nhiên, những cố gắng của Lê Duẩn đă thất bại.
    Những khác biệt giữa hai bên trở nên công khai thù địch trong buổi tiếp tân do Hoa Quốc Phong khoản đăi, trong đó Hoa Quốc Phong tuyên bố sẽ liên minh với tất cả những quốc gia chống bá quyền. Đáp từ, Lê Duẩn cũng tuyên bổ cương quyết không để cho bất cứ một lực lượng đế quốc hay phản động nào vi phạm đến độc lập quốc gia, đồng thời, Lê Duẩn cũng công khai ca ngợi Liên xô. Trước thái độ đó, cả hai phe trung thành với Mao lẫn phe thực dụng trong Bộ Chính trị đảng cộng sản Trung hoa đều nhất trí ủng hộ Khmer Đỏ. Sự rạn nứt Việt - Hoa không c̣n cách nào hàn gắn. Việt nam phải đứng hẳn về phe Liên xô, t́m kế hoạch trục xuất người Việt gốc Hoa, và phản công chống lại Campuchia một cách quyết liệt hơn.
    Tài liệu tham khảo:
    - Brother Ennemy, Nayan Chanda, nhà xuất bản MacMilan Publishing Company New York
    - War & Hoe, Norodom Sihanouk
    Dossier Kampuchea I,II,III Le Courier du Vietnam, Hà nội

    ------------------------

    Chương 6

    Những cố gắng thiết lập ngoại giao với Hoa kỳ của Việt nam và Trung hoa


    Sau mấy chục năm chiến tranh và thù hận, nước “đầu sỏ tư bản” Hoa kỳ dần dần trở nên một mục tiêu thiết yếu để thiết lập quan hệ ngoại giao cho cả hai nước Trung hoa và Việt nam. Theo thời gian và hoàn cảnh lịch sử, ưu tiên để b́nh thường hoá ngoại giao với Hoa kỳ của cả hai nước ngày càng trở nên cấp bách, nhất là trong năm 1978. Đối với Trung hoa, Hoa kỳ đă là kẻ thù số một trong trận chiến tranh Triều tiên. Năm 1958, sau sự rạn nứt Nga - Hoa, Liên xô trở nên kẻ thù chính, Hoa kỳ xuống hàng thứ hai. Quan hệ với Hoa kỳ cởi mở hơn một chút sau chuyến viếng thăm Trung hoa của Tổng thống Nixon, nhưng giữa hai nước vẫn c̣n có một khó khăn căn bản là Đài toan. Tới năm Tổng thống Carter đắc cử, lập trường của Hoa kỳ về vấn đề Đài loan ngày càng mềm dẻo, cùng lúc với khuynh hướng thực tiễn của Đặng Tiểu B́nh “dù mèo trắng hay mèo đen, cứ bắt được chuột là mèo tốt”, cũng ngày càng hoà giải hơn.
    Lúc mới đầu, triển vọng bang giao của Hoa kỳ với Việt nam tương đối tốt đẹp hơn là đối với Trung hoa, v́ giữa hai nước, không có một khó khăn gay go nào như vấn đề Đài loan. Lúc đó, vấn đề những người mất tích trong chiến tranh chưa phải là một đề tài thời sự lớn, và ngay sau khi nhận chức, Tổng thống Carter đă muốn thiết lập ngoại giao b́nh thường với Việt nam. Do óc chủ quan, thiển cận và sự kiêu căng, các lănh tụ Việt nam đă để mất cơ hội và làm tiêu tan thiện chí của Tổng thống Carter, khiến cho trong một khoảng thời gian dài hơn mười năm sau, Việt nam đă là một trong những nước cô lập về ngoại giao nhất thế giới và có một nền kinh tế yếu kém nhất trong vùng Đông Nam Á.
    Đầu năm 1976, nhân dân Mỹ đang mệt mỏi và thất vọng v́ chiến tranh Việt nam và vụ Watergate nên đă bầu Carter, một Tổng thống ngoan đạo, trong sạch, nhiều thiện chí. Carter nghĩ rằng những ám ảnh về chiến tranh trong ḷng nhân dân Mỹ có thể được giải toả phần nào bằng cách thiết lập ngoại giao với Việt nam và quên đi dĩ văng. Mới hai tháng sau khi nhận chức, ông đă cử ngay một phái bộ đến Hà nội để thảo luận sơ bộ về vấn đề b́nh thường hoá bang giao.
    Thiện chí của Tổng thống Carter đă làm cho những lănh tụ Việt nam càng hiểu lầm và càng thêm kiêu ngạo. Đă tạo nên “một chiến thắng thần thánh”, họ đă đánh giá quá cao vào khả năng và vị thế của ḿnh. Họ tin là với khả năng siêu nhân của họ, cộng với sự ưu việt của chủ nghĩa xă hội, dưới sự lănh đạo sáng suốt của Đảng, công việc “xây dựng đất nước to đẹp gấp mười” trong một thời gian ngắn không phải là điều khó khăn. Cộng với niềm tin rằng với “ba ḍng thác cách mạng”, chủ nghĩa tư bản đang giẫy chết, việc thiết lập quan hệ ngoại giao với tên đầu sỏ tư bản không cần thiết lắm. Sự sốt sắng của Tổng thống Carter được hiểu như một sự cầu cạnh.
    Phái bộ mà Tổng thống Carter gửi sang Việt nam năm 1977 gồm toàn những nhân vật bồ câu, trước kia phản chiến, trừ Dân Biểu Montgomerry, nhưng chính Dân biểu Montgomerry cũng đă khuyến cáo chính phủ là nên cải thiện bang giao với Việt nam. Đứng đầu phái bộ là Leonard Woodcock, chủ tịch nghiệp đoàn công nhân các hăng xe hơi. Trưởng phái đoàn thương thuyết Việt nam là Thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền.
    Ngay trong buổi họp đầu tiên, Phan Hiền đă đưa ra vấn đề Mỹ phải viện trợ tái thiết như một điều kiện tiên quyết. Ông ta nêu một lá thư mật của Tổng thống Nixon gửi cho Phạm Văn Đồng năm 1973, trong đó Nixon hứa sẽ viện trợ Bắc Việt hơn ba tỉ đola nếu Bắc Việt chịu ngừng bắn. Woodcock trả lời hiệp định Paris đă vô hiệu v́ Việt nam đă vi phạm nhiều điều khoản và Bắc Việt đă hoàn toàn chiến thắng. Phan Hiền trả lời nếu hiệp định đó coi như vô hiệu, th́ điều 8 trong hiệp định Paris về số phận những người mất tích trong chiến tranh cũng vô hiệu luôn và Việt nam không c̣n trách nhiệm ǵ về vấn đề này nữa. Phái bộ Mỹ nói dư luận Mỹ sẽ không thể nào chấp nhận được lập luận này, v́ đó là một h́nh thức tống tiền trên tù binh và xác chết. Nhưng Phan Hiền vẫn khăng khăng là nếu không có viện trợ, không có quan hệ ngoại giao. Thất vọng, Woodcock nói với Phan Hiền như một lời tiên tri, là phái đoàn của ông là một phái đoàn dễ thông cảm nhất, và nếu Việt nam để lỡ cơ hội này, triển vọng thiết lập bang giao sẽ bị đẩy lùi lại hàng chục năm. Cuộc họp tan vỡ, nhưng hai bên đồng ư sẽ gặp lại vào đầu tháng 5-1977 tại Paris.
    Trưởng phái đoàn của Mỹ trong buổi họp lần thứ hai là Richard C. Holbrook, Phụ tá ngoại trưởng đặc trách Đông Á và Thái B́nh Dương. Holbrook lúc đó là một viên chức ngoại giao trẻ, sáng giá đang được ngoại trưởng Vance nâng đỡ. Cả hai đều muốn giúp Carter trở nên Tổng thống của một kỷ nguyên ổn định và hoà b́nh, và cả hai đều cho là việc thiết lập ngoại giao với Việt nam sẽ góp phần bảo đảm cho sự an ninh và hoà b́nh toàn vùng Đông Nam Á.
    Trước khi đến Paris, Holbrook rất lạc quan, ông ta được Tổng thống Carter cho phép thông báo với Phan Hiền là Hoa kỳ sẽ bỏ phiếu thuận để cho Việt nam được vào Liên hiệp quốc, và nếu thiết lập được quan hệ ngoại giao, Hoa kỳ sẽ băi bỏ lệnh cấm vận.
    Holbrook đă lầm, vừa bắt đầu cuộc họp, Phan Hiền đă đ̣i ngay tiền viện trợ tái thiết, và buổi họp bế tắc. Phan Hiền ra khỏi pḥng họp công bố lá thư mật của Tổng thống Nixon với báo chí và nói rằng Hoa kỳ phải thực hiện lời hứa nếu muốn bang giao với Việt nam. Thất vọng, Holbrook chiều hôm đó gọi điện thoại cho Phan Hiền, nói là ông ta đă phạm một sai lầm rất lớn. Quả nhiên, tin về cuộc họp báo của Phan Hiền vừa tới Washington, Hạ viện Hoa kỳ lập tức can thiệp. Chiến tranh đă chấm dứt, phong trào phản chiến tan ră. Giờ đây gió đă xoay chiều, không c̣n một Quốc hội chủ hoà chống đối một Tổng thống diều hâu như trước. Hạ Viện biểu quyết ngay một đạo luật cấm chính phủ không được viện trợ cho Việt nam dưới bất cứ một h́nh thức nào. Nhưng phía chính quyền Việt nam, một mặt đă quen với đường lối “dân chủ tập trung” coi Quốc hội như một cơ quan tŕnh diễn, mặt khác vẫn c̣n tin tưởng vào áp lực của “những người Mỹ tiến bộ”, nên lập trường vẫn không thay đổi. Trong buổi họp thứ hai tại Paris, ngày 2-6-1977, Phan Hiền chỉ đưa ra một nhượng bộ nhỏ là để cho chính phủ Mỹ có thể hứa một cách kín đáo, không cần cho dân Mỹ biết. Dĩ nhiên điều đó không thể xảy ra. Cả hai phái đoàn về nước.
    Thời gian đó là thời gian Phạm Văn Đồng sau chuyến công du các nước Tây Âu thất bại, không nhận được một viện trợ đáng kể nào, đang ngồi chờ ở Moscow. Tiền bồi thường chiến tranh của Mỹ không có, viện trợ của Tây Âu không có, Campuchia vừa mở cuộc tấn công vào An Giang, c̣n Trung hoa từ chối viện trợ và đứng sau lưng Campuchia. Không c̣n con đường nào khác, Trung ương Đảng cộng sản Việt nam phải cử Lê Đức Thọ sang Moscow cùng Phạm Văn Đồng thảo luận về những điều kiện để được viện trợ mà Liên xô đ̣i hỏi.
    Sáu tháng sau, Holbrook lại gặp Phan Hiền tại Paris ngày 19-12-1977. Nhưng lần này Holbrook không c̣n lạc quan như trước nữa. Trước khi đi, Holbrook được sở Điều tra Liên bang FBI thông báo là có gián điệp cho Việt nam trong Bộ ngoại giao nên trong cuộc họp, Holbrook đă rất dè dặt. Lần này, Việt nam tỏ ra mềm dẻo hơn. Họ không đ̣i tiền bồi thường chiến tranh, mà muốn có tiền viện trợ kinh tế. Số tiền này có thể được hứa hẹn một cách kín đáo, để sau khi có quan hệ ngoại giao, chính phủ Mỹ sẽ đơn phương tuyên bố viện trợ. Dĩ nhiên Holbrook cũng không thể nào chấp nhận được điều kiện này. Cuộc họp lần thứ tư dự định vào tháng 12-1978 giữa hai phái đoàn bị băi bỏ, v́ FBI, sau một thời gian theo dơi đă bắt quả tang David Trương và Ronald Humphrey về tội gián điệp. Cả hai tay gián điệp tài tử này hy vọng lập công với Việt nam để cứu được người thân của ḿnh. David Trương là con của luật sư Trương Đ́nh Du, trước năm 1975 được xếp vào “thành phần thứ ba” và bị Tổng thống Thiệu bắt đi Côn Đảo. Sau 1975, Trương Đ́nh Du được thả ra một thời gian ngắn rồi lại bị bắt lại, lần này th́ phải ở với những cai tù nhiều lần khắc nghiệt hơn. David Trương, nhờ nhà giàu có, được đi du học trước năm 1975 và đă về hùa với đám phản chiến. C̣n Humphrey là một viên chức làm việc cho cơ quan Thông tin Hoa kỳ, v́ muốn cứu vị hôn thê của ḿnh c̣n kẹt lại ở Việt nam nên đă sao chụp một số tài liệu mật đưa cho David Trương để chuyển về Hà nội. Thật ra những tài liệu đó có đóng dấu “Mật” nhưng không quan trọng lắm, chỉ gồm những báo cáo của những nhà ngoại giao Nam Tư và Ấn độ tại Hà nội, phúc tŕnh của Uỷ ban Wookcock và chi tiết những chuyến bay Air France đến và đi khỏi thành phố Hồ Chí Minh trong tháng. Nhưng cũng chính v́ những tài liệu đó không quan trọng, có thể công bố trước toà nên FBI đă có thể đưa cả hai ra toà. Cả hai đều vào tù. Đại sứ Việt nam tại Liên hiệp quốc là Đinh Bá Thi bị trục xuất. Trong hoàn cảnh đó, cuộc họp lần thứ tư giữa Holbrook và Phan Hiền bị băi bỏ. David Trương sau khi ở tù đi định cư ở Hoà Lan, c̣n Đinh Bá Thi bị chết một cách ám muội ở Việt nam. Vụ án David Trương đă xảy ra vào một thời điểm không may cho những dự tính của Việt nam. Đầu năm 1978, Trung ương Đảng cộng sản Việt nam họp tại Sài g̣n, thấy rằng việc đương đầu với Trung hoa là điều không thể tránh và đă quyết định dùng biện pháp mạnh đối với Campuchia. Nhưng muốn đương đầu với Trung hoa, Việt nam phải liên minh về quân sự với Liên xô. Và trước khi công khai kư hiệp ước hỗ tương pḥng thủ với Liên xô, Việt nam thấy cần phải trấn an những nước Đông Nam Á và thiết lập ngoại giao được với Hoa kỳ.
    Một năm qua đi sau đại hội đảng lần thứ tư, Việt nam không c̣n nuôi ảo tưởng ǵ về số tiền trên ba tỉ bồi thường chiến tranh nữa, mà đă nhận ra rằng có được quan hệ ngoại giao với Hoa kỳ sẽ có lợi về nhiều mặt. Thứ nhất là về kinh tế, Hoa kỳ sẽ băi bỏ lệnh cấm vận, mở đường cho những công ty Mỹ, Nhật, Tây Âu vào buôn bán, đầu tư, hay khai thác dầu hoả. Thứ hai là về ngoại giao, sự hiện diện của Hoa kỳ sẽ làm an ḷng các nước ASEAN, làm Trung hoa phải ngần ngại trước khi gây hấn, và khiến Việt nam đỡ lệ thuộc nhiều vào Liên xô. Nhưng vụ án gián điệp đă làm cho những cuộc tiếp xúc với Hoa kỳ bị đ́nh hoăn vô hạn định. Trong năm 1978, nhu cầu cần có liên lạc ngoại giao với Hoa kỳ càng trở nên cấp thiết. Không c̣n có thể làm cao được nữa, tháng 7-1978, Thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền trong chuyến công du Nhật bản và châu Á, công khai tuyên bố băi bỏ điều kiện đ̣i tiền viện trợ, và muốn có một cuộc tiếp xúc với Hoa kỳ vào tháng sau. Tuy nhiên Holbrook, bị mất mặt trong ba lần họp công khai ở Paris, không muốn họp công khai nữa, mà muốn dời cuộc họp vào tháng 9 tại New York để có thể họp một cách kín đáo, không ai để ư, lúc mà phái đoàn Việt nam và rất nhiều phái đoàn ngoại giao cao cấp các nước khác đến tham dự Đại hội đồng Liên hiệp quốc.
    Là một người cổ vơ cho việc lập bang giao với Việt nam, Holbrook không biết rằng ư kiến tŕ hoăn đối thoại với Việt nam đă đẩy Việt nam vào một vị thế bất lợi trong cuộc tranh đua ngoại giao với Trung hoa. V́ lúc đó, cố vấn an ninh của Tổng thống Carter, Brzezinski đă bắt đầu để ư đến t́nh h́nh Đông Nam Á.
    Ngày 22-9-1978, Holbrook bay lên New York chính thức họp kín với phái đoàn Việt nam. Trưởng phái đoàn Việt nam lần này là Thứ trưởng Nguyễn Cơ Thạch. Buổi họp chấm dứt nhanh chóng và Holbrook ngạc nhiên thấy phía Việt nam lại trở về vấn đề viện trợ. Năm ngày sau, trong buổi họp thứ hai, trong suốt hơn một giờ, Nguyễn Cơ Thạch vẫn mong muốn Hoa kỳ cam kết một số tiền, chỉ đến khi Holbrook nản chí sửa soạn ra về th́ Nguyễn Cơ Thạch mới đổi giọng, bằng ḷng thiết lập ngoại giao không điều kiện, nhưng đ̣i hai bên phải kư ngay một thông tư sơ bộ, c̣n những văn kiện ngoại giao chính thức sẽ được kư hai tuần sau, khi Ngoại trường Nguyễn Duy Trinh đến New York tham dự Đại hội đồng Liên hiệp quốc.
    Dù cho Holbrook không chịu kư một văn kiện nào, nhưng bầu không khí đă lạc quan trở lại, và công cuộc b́nh thường hoá bang giao coi như đă được giải quyết. Hai bên không ngờ là đă có những trở ngại khác.
    Một tuần sau, ngày 3-10-1978, cũng tại New York, có một buổi họp khác được triệu tập, lần này giữa hai phái đoàn của ngoại trưởng Vance và ngoại trưởng Trung hoa Hoàng Hoa. Cuộc hội đàm đó bế tắc v́ Hoa kỳ vẫn muốn có liên lạc ngoại giao không chính thức và buôn bán vũ khí với Đài loan. Đồng thời tin tức về phong trào thuyền nhân bị tống xuất khỏi Việt nam, việc quân Việt nam tập trung dọc biên giới Campuchia đă khiến Tổng thống Carter phân vân. Cuối cùng, trong một cuộc họp tại Toà Bạch ốc, sau khi nghe Leonard Woodcock, người trưởng phái đoàn đầu tiên sang thăm thiện chí Việt nam, lúc đó là trưởng phái bộ liên lạc Hoa kỳ ở Bắc kinh, cho là bang giao với Việt nam trong lúc này sẽ nhận ch́m triển vọng bang giao với Trung hoa. Tổng thống Carter quyết định tŕ hoăn ngày thiết lập bang giao với Việt nam để có thể dễ dàng thương thuyết với Trung hoa.
    Ngày 30-10-1978, Phụ tá Ngoại trường Oakley lên New York gặp Trần Quang Cơ, ông ta cho Trần Quang Cơ biết là việc b́nh thường hoá phải hoăn lại v́ ba vấn đề: thuyền nhân tị nạn, t́nh trạng thù nghịch với Campuchia, và mối quan hệ giữa Việt nam và Liên xô. Dù cả hai bên đều có thiện chí, thời biểu của hai bên đă rất khác nhau, Việt nam không thể chờ được nữa. Cuộc tổng tấn công Campuchia phải bắt đầu cuối tháng 12, lúc chấm dứt mùa mưa và lúa đă chín. Mấy ngày sau, Nguyễn Cơ Thạch rời New York sang Moscow để ngày 3-11-1978 dự lễ kư hiệp ước hữu nghị và hợp tác 25 năm liên minh kinh tế và quân sự với Liên xô.
    Trong khi đó, đối với Trung hoa, tuy Tổng thống Carter cũng coi việc thiết lập ngoại giao với Trung hoa là một vấn đề quan trọng, nhưng ông chỉ chú ư nhiều đến vấn đề này vào hơn một năm sau, khi những hành động khuynh đảo của Liên xô trên thế giới ngày càng phát triển và ảnh hưởng của cố vấn an ninh Brzezinski ngày càng mạnh. ngoại trưởng Vance chỉ đến thăm Trung hoa vào tháng 8-1977, sau khi ông đă gần như hoàn tất hiệp ước tài giảm binh bị SALT II với Liên xô. Chính sách của ngoại trưởng Vance là có đường lối ngoại giao quân b́nh với cả Trung hoa và Liên xô. Đối với Trung hoa, lập trường của Tổng thống Carter và Vance tương đối mềm dẻo hơn những người tiền nhiệm. Trước kia, Tổng thống Nixon và ngoại trưởng Kissinger muốn có toà đại sứ ở cả Trung hoa lẫn Đài loan, công nhận cả hai nước. Lúc này th́ Vance đề nghị sẽ công nhận Bắc kinh như chính phủ duy nhất của Trung hoa và sẽ để cho hiệp ước liên minh pḥng thủ với Đài loan ch́m vào quên lăng. Nhưng lúc đó, trong Trung ương đảng cộng sản Trung hoa, phe Hoa Quốc Phong c̣n mạnh, sự thận trọng quá đáng của Vance, không muốn làm mất ḷng Liên xô trong giai đoạn tế nhị hoàn tất thoả ước SALT, khiến Đặng Tiểu B́nh bực tức, thấy cần phải tỏ ra cứng rắn nên sau khi ngoại trưởng Vance về nước, Đặng Tiểu B́nh công khai tuyên bố chuyến đi của Vance là một bước thụt lùi cho triển vọng bang giao giữa hai nước.
    Không thương thuyết được với ngoại trưởng Vance, Trung hoa t́m thấy được một đồng minh, đó là cố vấn an ninh Brzezinski. Là một người gốc Ba lan, Brzezinski có một lập trường diều hâu hơn đối với Liên xô. Những năm đó là những năm mà Liên xô đă lấn lướt ở nhiều nơi như giúp đảo chánh ở Eth́opia, gửi quân Cuba sang Angola, giúp phiến loạn ở Trung Mỹ. Brzezinski không chia sẻ sự thận trọng của Vance. Ông ta lập luận rằng Liên xô đă không cần phải thận trọng trong những hành vi xâm lấn th́ Hoa kỳ cũng không cần bị giới hạn và ràng buộc trong chính sách đối ngoại. V́ thế, Hoa kỳ cần có một liên kết chiến lược với Trung hoa để cầm chân Liên xô. Biết được sự rạn nứt giữa Văn pḥng cố vấn an ninh và Bộ ngoại giao, sau chuyến đi thất bại của ngoại trưởng Vance, Trung hoa mời Brzezinski sang Bắc kinh vào tháng 11-1977.
    Bị sự phản đối của Vance, Brzezinski chỉ được Tổng thống Carter cho đi Bắc kinh vào tháng 3-1978. Trong thời gian chờ đợi, Brzezinski nhiều lần trao đổi quan điểm với Hàn Dũ, Trưởng Văn pḥng đại diện Trung hoa tại Washington, và khi đi Bắc kinh, Brzezinski đă thuyết phục được Carter kư một chỉ thị, trong đó nói rơ Hoa kỳ và Trung hoa có những quan tâm chiến lược giống nhau, cùng chống lại những tham vọng bá quyền trên toàn thế giới hay cục bộ địa phương của bất cứ một cường quốc nào và Hoa kỳ cũng tỏ ra quan tâm về ư định của Liên xô nhằm dùng Việt nam để bao vây Trung hoa.
    Ngày 19-5-1978, khi t́nh h́nh bang giao Hoa Việt đang căng thẳng và Việt nam đang sửa soạn mở một cuộc tấn công mới vào Campuchia th́ Brzezinski cùng nhiều viên chức cao cấp lên đường sang Trung hoa. Trong phái đoàn có Holbrook đại diện Bộ ngoại giao, Abramowitz phụ tá Bộ trưởng quốc pḥng, Benjamin Hubernan cốvấn tổng thống về những vấn đề khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên, trong những buổi họp quan trọng với Trung hoa, Brzezinski cố ư loại Holbrook ra khỏi những cuộc họp. Brzezinski chủ trương rằng một khi Hoa kỳ tỏ ra chống Liên xô mạnh hơn th́ Trung hoa sẽ mềm dẻo hơn về vấn đề Đài loan. Trong những buổi họp với Đặng Tiểu B́nh và ngoại trưởng Hoàng Hoa, Brzezinski hoàn toàn đồng ư với quan điểm của Trung hoa về mồi đe doạ của Liên xô và Việt nam. Hai bên thoả thuận sẽ hợp tác chặt chẽ hơn trong vấn đề viện trợ Afganistan, giúp đỡ các nước Đông Nam Á để ngăn chặn khuynh hướng bành trướng của xô Viết. Trong khi Brzezinski gặp Đặng Tiểu B́nh th́ Abramowitz tŕnh bày cho các viên chức cao cấp quân sự Trung hoa những tin tức t́nh báo và không ảnh tồi mật về những vũ khí chiến lược và lực lượng quân sự của Liên xô đang bố tŕ dọc biên giới Trung hoa, c̣n Benjamin Huberman gợi ư về vấn đề hợp tác Hoa Mỹ trong vấn đề kỹ thuật và t́nh báo.
    Tuy hai nước đă gần nhau hơn trong lập trường chống Liên xô nhưng ảnh hưởng của phe Hoa Quốc Phong c̣n mạnh, nên vấn đề Đài loan vẫn chưa được giải quyết. Trong buổi họp tại New York đầu tháng 10-1978, ngoại trưởng Hoàng Hoa cực lực công kích Hoa kỳ v́ Hoa kỳ vẫn c̣n muốn có liên lạc không chính thức và tiếp tục buôn bán vơ khí với Đài loan.
    Tháng 11-1978 sau khi Việt nam đă kư hiệp ước với Liên xô, Bộ Chính trị Trung ương đảng cộng sản Trung hoa mở phiên họp khoáng đại ở Bắc kinh. Sau buổi họp, phe Đặng Tiểu B́nh hoàn toàn thăng thế. Đặng Dĩnh Châu và Triệu Tử Dương được bầu vào Bộ Chính trị. Hoa Quốc Phong, Uông Đông Hưng, Hoàng Hoa bị mất chức. Đặng Tiểu B́nh trở nên người uy quyền nhất Trung hoa. Bộ Chính trị mới hoàn toàn ủng hộ đường lối “bốn hiện đại” và lập trường mềm dẻo về vấn đề Đài loan của Đặng Tiểu B́nh. Hai ngày sau khi Việt nam loan báo sự thành lập Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Campuchia. Woodcock gặp quyền ngoại trưởng Trung hoa Hàn Niệm Long. Bầu không khí thay đổi hẳn. Nếu trước kia Hoa kỳ đă không biết thời biểu cấp bách của Việt nam muốn lập quan hệ ngoại giao với Hoa kỳ trước khi công khai liên minh quân sự với Liên xô và xâm lăng Carnpuchia th́ lần này Hoa kỳ cũng không thấy nhu cầu của Trung hoa cần có quan hệ ngoại giao gấp với Hoa kỳ để dằn mặt Liên xô trước khi xâm lăng trừng phạt Việt nam. V́ thế Wood cock rất ngạc nhiên khi thấy Đặng Tiểu B́nh trong cuộc tiếp xúc ngày 13-12-1978, bất ngờ chấp nhận ngay dự thảo về b́nh thường hoá ngoại giao của Hoa kỳ, đồng thời muốn sang thăm Hoa kỳ sớm.
    Tổng thống Carter rất phấn khởi về tin này. Hai bên đă định là ngày chính thức công bố thông cáo chung về thiết lập quan hệ ngoại giao sẽ là ngày 1-1-1979. Nhưng Carter sợ tin này có thể bị tiết lộ và Quốc hội có thể sẽ gây khó khăn, nên ông đề nghị công khai tuyên bố sớm hơn, vào ngày 15-12-1978. Điều này càng làm cho những dự tính gây chiến với Việt nam của Trung hoa thêm thuận lợi nên Đặng Tiểu B́nh bằng ḷng ngay. Người bị bất ngờ về tin này là ngoại trưởng Vance, v́ ông không muốn gặp khó khăn khi ông sẽ gặp ngoại trưởng Liên xô Gromyko vào cuối tháng.
    Việc thiết lập quan hệ ngoại giao của Trung hoa với Hoa kỳ là một biến cố quan trọng trong t́nh h́nh chính trị thế giới lúc đó, và là một khúc quanh mới trong lịch sử Trung hoa. Kể từ ngày đó, đời sống của nhân dân Trung hoa tương đối dễ chịu nhiều hơn trước, và nền kinh tế của Trung hoa đă tiến nhẩy vọt. Cùng thời gian, những lănh tụ cộng sản già nua của Việt nam vẫn u mê trong hào quang chiến thắng, vẫn nh́n về Liên xô như một thiên đường, vẫn tiếp tục “nắm vững chuyên chính vô sản”, đẩy mạnh kinh tế tập trung và tiếp tục bắt nhân dân Việt nam phải chịu đựng gian khổ và hy sinh máu xương thêm nữa để phục vụ cho đường lối và quyền lợi của họ.
    Tài liệu tham khảo:
    - Brother Ennemy, Nayan Chanda, nhà xuất bản MacMilan Publishing Company New York
    - When the war was over, Elizabeth Becker, nhà xuất bản Schuster, Inc, New York

  8. #8
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Chiến tranh Đông Dương III
    Tác giả: Hoàng Dung


    Chương 7

    Chiến trường biên giới tây nam năm 1977



    Đêm 30-4-1977, hai năm sau ngày bộ đội cộng sản chiến thắng tại miền Nam Việt nam, những đơn vị thuộc hai sư đoàn 210 và 250 thuộc quân khu Tây Nam Campuchia mở một cuộc tấn công quy mô cấp trung đoàn vào lănh thổ quân khu 9 Việt nam thuộc tỉnh An Giang, bắt đầu cuộc chiến tranh hậu chiến, chiến tranh Đông dương thứ ba, hay cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa hai quốc gia cộng sản.
    Xét về tương quan lực lượng, ưu thế quân sự nghiêng hẳn về phía Việt nam. Dân số, quân số đông đảo hơn bội phần. Vũ khí, chiến cụ dồi dào, tối tân hơn. Binh sĩ thiện chiến, nhiều kinh nghiệm hơn. Ngay cả đồng minh Trung hoa của Campuchia cũng không tin Campuchia có thể thắng được một trận chiến quy ước với Việt nam. Đứng hậu thuẫn cho Campuchia trong chiến tranh chống Việt nam, Trung hoa chỉ muốn có một cuộc chiến tiêu hao và giới hạn, nhằm làm kiệt quệ tài nguyên và nhân lực của Việt nam, gây áp lực để Việt nam từ bỏ đường lối thân Liên xô và giảm bớt mối đe doạ từ biên giới phía Nam. Tuy nhiên, những nhà lănh đạo cộng sản Campuchia, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nhất là do ḷng cuồng tín đến bệnh hoạn, đă ước tính sai khả năng của ḿnh và của địch, đă tự chia rẽ và tự huỷ, để cho cuộc chiến tranh mới đầu lẻ tẻ, giới hạn sau đó lan rộng, đưa đến sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ.
    Sau 1975, miền Nam bị sụp đổ, Việt nam trở nên một quốc gia có dân số đứng hàng thứ mười ba trên thế giới, và một quân số đông hàng thứ tư, nhiều hơn quân số của tất cả sáu nước ASEAN cộng lại. Nhưng dù với một quân lực hùng hậu như thế, sau chiến thắng, các nhà cầm quyền Việt nam vẫn không cảm thấy an ninh mà lại thấy bị đe doạ bởi hai nước lân bang mới đây là đồng minh ở phía Bắc và phía Tây. V́ thế mà dù mang tiếng có hoà b́nh và ở trong một hoàn cảnh kinh tế tồi tệ, chính quyền Việt nam vẫn phải duy tŕ và phát triển một đạo quân khổng lồ từ hơn bảy trăm ngàn đến hơn một triệu.
    Về tổ chức, quân đội Việt nam, được tự gọi là Quân đội nhân dân Việt nam, gồm có ba binh chủng lục quân, hải quân và không quân. Lănh thổ được chia làm các quân khu I, II, III, IV, V, VII, IX quân khu Thủ Đô, đặc khu Quảng Ninh và đặc khu thành phố Hồ Chí Minh. Lục quân gồm có chính quy, chủ lực quân khu và dân quân địa phương. Lực lượng chính quy, trực thuộc Bộ tổng tham mưu, sau 1975 được tổ chức thành bốn quân đoàn cơ động, sử dụng như những lực lượng tổng trừ bị. Bốn quân đoàn 1, 2, 3, 4 này, c̣n được gọi là những binh đoàn Quyết Thắng, Hương Giang, Tây Nguyên và Cửu Long. Sau 1979, số quân đoàn này được tăng lên thành sáu rồi tám. Mỗi quân đoàn có từ ba mươi ngàn đến bốn mươi ngàn quân, gồm có ba hay bốn sư đoàn bộ binh, cùng những đơn vị yểm trợ như pháo binh, thiết giáp, truyền tin, quân y... Ngoài những vũ khí mà quân đội Việt nam cộng hoà để lại, bộ đội Việt nam có khoảng hơn một ngàn xe tăng T34, T54, T55, T59, T62, năm trăm xe PTP76, khoảng sáu trăm súng đại bác, ba ngàn súng pḥng không và các đơn vị tên lửa SAM. Chủ lực miền là những đơn vị cơ hữu của mỗi quân khu. Ngoài những sư đoàn chủ lực quân khu, mỗi tỉnh c̣n có một hay hai trung đoàn chủ lực tỉnh như những trung đoàn Vàm Cỏ, Sông Bé, Gia định, Bắc Thái... Lực lượng dân quân là những tỉnh đội, huyện đội, xă đội, có nhiệm vụ pḥng thủ và trinh sát nhiều hơn. Ngoài ra, bộ binh Việt nam c̣n có những đơn vị đặc biệt như lực lượng đặc công, lữ đoàn 305 dù, quân đoàn 559 Công binh, sư đoàn 673 cao xạ, các đoàn vận tải v.v...
    Hải quân của quân đội Việt nam bắt đầu được thành lập từ những năm 1960, mới đầu là hai mươi lăm pháo thuyền của Trung hoa và ba mươi tàu tuần duyên do Liên xô viện trợ. Sau 1975, cùng với những thuyền bè do hải quân Việt nam cộng hoà để lại, hải quân Việt nam đă có hơn một ngàn tàu chiến lớn nhỏ. Vùng trách nhiệm duyên hải được chia làm năm vùng mà các Bộ tư lệnh đóng ở Hải Pḥng, Vinh, Đà Nẵng, Vũng Tàu và Rạch Giá. Có hai hạm đội, hạm đội Hàm Tử phụ trách vùng biển phía bắc, hạm đội Bạch Đằng phụ trách vùng biển phía Nam của Đông Hải và vịnh Thái lan. Tư lệnh hải quân lúc đó là Hoàng Hữu Thái. Chính uỷ là Hoàng Trà. Họ cũng tổ chức những đơn vị được gọi là “hải quân đánh bộ”. Không quân Việt nam có quân số khoảng hai chục ngàn. Ngoài những phi cơ A37, F5 và một số phi cơ vận tải và trực thăng của không quân Việt nam cộng hoà để lại, là những phi cơ MiG 21, MiG 23 và những phi cơ trực thăng vơ trang do Liên xô viện trợ. Tất cả có hơn một ngàn phi cơ, được chia thành những không đoàn chiến đấu, vận tải, trực thăng và huấn luyện. Ngoài ra c̣n có một không đoàn oanh tạc cơ. Bộ tư lệnh không quân trú đóng tại phi trường Bạch Mai. Năm 1979, Tư lệnh không quân là Đào Đ́nh Luyện, Tư lệnh pḥng không là Hoàng Văn Khanh. Tư lệnh radar Nguyễn Xuân Mậu.
    Cũng như quân đội của những nước cộng sản khác, quân đội Việt nam nằm trong sự kiểm soát chặt chẽ của đảng. Những chức vụ chỉ huy trong quân đội đều do những cán bộ quan trọng nắm giữ. Tuy ở những cấp từ trung đoàn trưởng trở xuống, đôi khi v́ nhu cầu chiến trường, cán bộ có khả năng chỉ huy không đủ nên một số sĩ quan dù có ít thành tích chính trị vẫn được giao chức vụ chỉ huy, nhưng vẫn bị chính uỷ lấn lướt. Ngoài chính uỷ ra, mỗi đơn vị lại c̣n có chủ nhiệm pḥng hay ban chính trị.
    Tuy quân số của Việt nam đứng vào hàng thứ tư, sau Trung hoa, Liên xô và Hoa kỳ (sau 1980, với quân số hơn hai triệu, đă vượt Hoa kỳ và nhây lên hàng thứ ba), và có một số lượng chiến cụ dồi dào như thế, quân đội Việt nam cũng có nhiều khuyết điểm. Trước hết là t́nh trạng tâm lư. Sau hơn hai chục năm chiến tranh, tinh thần quân đội lẫn nhân dân đều mỏi mệt. Ngoài những tân binh miền Nam bị bất đi nghĩa vụ một cách miễn cưỡng, tân binh miền Bắc cũng không c̣n dễ dàng để bị mù quáng tuyên truyền như trước nữa. Sau đó là tất cả phương tiện chiến tranh đều lệ thuộc vào Liên xô, từ những phi cơ tên lửa tối tân đến từng viên đạn súng cá nhân AK47, c̣n những vũ khí mà quân đội Việt nam cộng hoà bỏ lại dần dần bị phế thải v́ thiếu bảo tŕ và không có cơ phận thay thế. Đội ngũ sĩ quan, phần lớn ít học, hồng nhiều hơn chuyên, nên chỉ mạnh về chiến tranh du kích và cổ điển, không thể hiện đại hoá. Bù đắp lại, họ có một đội quân đông đảo, hoả lực dồi dào, sự chỉ huy thống nhất, những cấp chỉ huy nhiều kinh nghiệm. Binh lính tuy không c̣n tin và chiến đấu cho xă hội chủ nghĩa, nhưng vẫn c̣n truyền thống dũng cảm, khôn ngoan và tự trọng. Trong cuộc chiến Đông dương thứ ba, giới lănh đạo cộng sản lại một lần nữa lấy cớ đất nước bị tàn phá ở biên giới Tây Nam và bị xâm lăng ở biên giới phía Bắc để lợi dụng ḷng yêu nước của binh lính. Tuy nhiên, sau khi chính quyền Pol Pot bị sụp đổ, quân Trung hoa đă rút về nước, tinh thần bộ đội sa sút nghiêm trọng, mầm mống bất măn đă nổi lên, đưa đến sự mất chức của Văn Tiến Dũng và Chu Huy Mân. Quân đội đó có thể bảo vệ đất nước chống Trung hoa, có thể tiến chiếm Campuchia trong một thời gian ngắn nhưng vẫn chưa được coi như một đội quân hiện đại để trở nên một mối đe doạ trầm trọng cho nền an ninh trong vùng, tương xứng với cái bề ngoài về quân số và khối lượng vơ khí khổng lồ của họ. Với sự chia rẽ của khối cộng sản lúc đó, đội quân đó đă hoàn toàn chỉ trông cậy vào Liên xô và dĩ nhiên, sẽ chỉ được giúp đỡ khi thi hành những đường lối phù hợp với quyền lợi của Liên xô. Một yếu tố quan trọng khác là không giống như trong hai cuộc chiến tranh trước, lần này đối thủ của bộ đội Việt nam đều là hai đội quân cộng sản, nên tất cả đều có ưu thế chiến thuật chung của quân đội cộng sản là binh sĩ ít nhiều đă bị nhồi sọ. Người lính trong đơn vị hay gia đ́nh ở hậu phương, tất cả đều bị kiểm soát chặt chẽ và liên đới chịu trách nhiệm nên dù có bất măn cũng không có con đường chọn lựa nào khác. Tại Campuchia, Trung hoa hay Việt nam, cấp chỉ huy chỉ cần đạt được mục đích chứ không cần để ư đến tổn thất sinh mạng hoặc áp lực của báo chí, dư luận hay Quốc hội.
    Trong trận chiến Đông dương thứ ba, khi quân đội Trung hoa đánh vào biên giới phía Bắc, lực lượng tham chiến chính của Việt nam là những đơn vị chủ lực của các quân khu I, II, III và một số sư đoàn tăng phái từ quân khu IV. Ba quân đoàn chính quy bị kẹt lại tại Campuchia quân đoàn I đóng quanh Hà nội dùng làm trù bị.
    Trong khi đó, tại mặt trận biên giới Tây Nam, nằm sát bên lănh thổ Campuchia là các quân khu V, VII và IX. Mặt trận thuộc quân khu V không quan trọng lắm v́ đó là miền rừng núi, ít trục lộ giao thông. Khác với ở trận chiến Đông dương thứ hai, chiếm được vùng rừng núi Tây Nguyên là chia cắt được miền Nam Việt nam. Lần này, mục tiêu chính của Campuchia là Sài g̣n và châu thổ sông Cừu Long. Do đó mà mặt trận biên giới quân khu VII quan trọng nhất. Chọc thủng được tuyến pḥng thủ của đối phương ở biên giới này, quân đội mỗi bên có thể tiến tới Sài g̣n hay Phnom Penh dễ dàng. Phía Việt nam, trú đóng tại biên giới quân khu VII, ngoài những sư đoàn chủ lực quân khu như sư đoàn 303, 302, 5..., các trung đoàn chủ lực tỉnh như Vàm Cỏ, Sông Bé, Gia Định..., Bộ tổng tham mưu quân đội Việt nam sử dụng thêm quân đoàn 4 hay binh đoàn Cửu Long gồm có các sư đoàn 7, 9 và 341. V́ binh đoàn này đóng ở vị trí chủ yếu dọc quốc lộ 1, và sau đó được dùng làm mũi nhọn tấn công chính nên c̣n được tăng cường thêm sư đoàn 2 của quân khu V. Mặt trận quân khu IX cũng quan trọng v́ đó là lănh thổ Thuỷ Chân Lạp cũ. Pḥng thủ biên giới quân khu là những trung đoàn chủ lực tỉnh Hậu Giang, Đồng Tháp và những sư đoàn 4, 8, 330... chủ lực quân khu.
    Cuối năm 1978, để tấn công xâm lăng Campuchia, quân khu IX được tăng cường thêm quân đoàn 2 hay binh đoàn Hương Giang gồm các sư đoàn chính quy 325, 304 rút từ Lào về để tấn công hướng cực nam của Campuchia (sư đoàn 306 của binh đoàn được giữ lại làm “nghĩa vụ quốc tế” ở Lào).
    Trong những thời gian đầu, tư lệnh quân khu VII là Trần Văn Trà, tư lệnh quân khu IX là Lê Đức Anh. Tư lệnh các binh đoàn Cửu Long và Hương Giang là Hoàng Cầm và Nguyễn Hữu An. Khi Việt nam mở cuộc tấn công vào Campuchia, ở mũi tấn công phía bắc, binh đoàn chính quy Tây Nguyên hay quân đoàn 3 cũng tham chiến dưới sự chỉ huy của tướng Kim Tuấn, cựu tư lệnh sư đoàn 320 năm 1975. Trong năm 1977, giám sát tổng quát mặt trận là Lê Trọng Tấn, Tổng tham mưu Phó quân đội, kiêm nhiệm tư lệnh Bộ chỉ huy Tiền Phương, đóng bản doanh ở Tân Sơn Nhất. Trong số những tướng lănh của Việt nam, Lê Trọng Tấn là người tham dự nhiều chiến trường nhất. Xuất thân là một hạ sĩ quan của không quân Pháp, Lê Trọng Tấn là một trong những tư lệnh sư đoàn đầu tiên (sư đoàn 312) cùng với Văn Tiến Dũng (sư đoàn 320), Vương Thừa Vũ (sư đoàn 308) Hoàng Minh Thảo (sư đoàn 304), Lê Quảng Ba (sư đoàn 316), trong chiến tranh Đông dương thứ nhất. Trong những năm đầu tiên của chiến tranh Đông dương thứ hai, Tấn được cử làm Cục trưởng Cục tham mưu Cục R dưới bí danh Ba Long. Năm 1972, Tấn chỉ huy quân đoàn 76E đánh ở mặt trận Quảng Trị, và năm 1975 th́ Tấn chỉ huy cánh quân duyên hải tiến xuống miền Nam. Sau 1975, Tấn được cất nhắc làm Tổng tham mưu phó, và tới 1980 th́ được thăng Tổng tham mưu trưởng thay Văn Tiến Dũng. Lê Trọng Tấn chết một cách bất ngờ vào cuối năm 1986 trước khi nhận chức Bộ trưởng quốc pḥng. Cùng với Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Hoàng Cầm, Lê Trọng Tấn cũng là người rất quen thuộc vơi địa thế Campuchia.
    Đối đầu với một lực lượng quân sự hùng hậu như thế, quân đội Campuchia hay Khmer Đỏ trong năm 1975 chỉ có 68 ngàn quân. Mấy năm sau, trong chiến tranh với Việt nam, quân số này tăng lên hơn 150 ngàn, được tổ chức thành 23 sư đoàn. Hải quân hầu như không có, một số tàu chiến nhỏ của quân đội cộng hoà để lại đă bị không quân Mỹ tiêu diệt trong vụ giải cứu chiếc tàu Mayaguez. C̣n không quân th́ ngoài những máy bay cũ không thể sử dụng v́ thiếu bảo tŕ, thiếu cơ phận sửa chữa, Campuchia được Trung hoa viện trợ cho vài máy bay MiG 15 và MiG 17, nhưng vẫn chưa được dùng đến trong chiến tranh với Việt nam. Bộ binh tuy tổ chức thành sư đoàn, nhưng binh sĩ đa số c̣n nhỏ tuổi, số c̣n lại tuy có kinh nghiệm chiến đấu trong thời chiến tranh với quân của tướng Lon Nol, nhưng chỉ là chiến tranh du kích, chưa có kinh nghiệm trong những trận đánh cấp trung đoàn trở lên, hay những trận đánh phối hợp với pháo binh, thiết giáp. Bù đắp lại, họ cuồng tín hơn, quen thuộc địa thế, di chuyển nhanh chóng ở những vùng rừng núi, śnh lầy, nên sau khi những đại đơn vị bị đánh tan trong cuộc chiến quy ước và chính diện với Việt nam, những lực lượng nhỏ c̣n lại vẫn tiếp tục đánh du kích, gây tổn thất không ít cho đội quân chiếm đóng của Việt nam.
    Sau tháng 4-1975, chính quyền Khmer Đỏ chia lănh thổ Campuchia ra thành bay quân khu (Bắc, Đông Bắc, Đông, Tây Nam, Tây, Tây Bắc, Trung ương) cùng hai đặc khu Phnom Penh và 505. Bí thư mỗi quân khu kiêm nhiệm cả về hành chánh lẫn quân sự. Trung ương lấy hai phần ba quân số của mỗi quân khu để thành lập quân đội chính quy, đặt dưới quyền chỉ huy của Son Sen, Bộ trưởng quốc pḥng. Một phần ba quân số c̣n lại dùng làm chủ lực quân khu, do các bí thư khu uỷ trực tiếp chỉ huy.
    Trong trận chiến tranh biên giới, nằm sát với quân khu VII của Việt nam là quân khu Đông, và đối đầu với quân khu IX là quân khu Tây Nam. Cũng như quan niệm chiến thuật của Việt nam, Campuchia coi mặt trận quân khu Đông là mặt trận chủ yếu. Theo lời giới lănh đạo Khmer Đỏ, nếu chọc thủng được pḥng tuyến của Việt nam (vùng Mỏ Vẹt, Tây Ninh), quân Campuchia chỉ cần đi bộ hai ngày là tới Sài g̣n. Bí thư khu uỷ khu Đông là So Phim, một lănh tụ Khmer Đỏ kỳ cựu, đă có nhiều kinh nghiệm chiến trường từ chiến tranh Đông dương thứ nhất. V́ đă từng hoạt động ở những vùng sát biên giới Việt nam như Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt, xưa kia là mật khu của Việt cộng, nên So Phim đă thường xuyên tiếp xúc với các cán bộ Việt nam, và được cán bộ Việt nam đặt cho một cái tên Việt là Mười Su. Tuy thế, vào những năm 1974 và 1975, là một cán bộ Khmer Đỏ cao cấp So Phim vẫn trung thành với lệnh của Trung ương tiêu diệt hết những cán bộ cộng sản cũ hồi kết từ Bắc Việt. Sau ngày chiến thắng, So Phim được cất nhắc làm Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng, đệ nhất Phó Chủ tịch nhà nước, bí thư kiêm tư lệnh quân khu Đông. V́ tính cách chiến lược quan trọng của quân khu, nên ngoài hai sư đoàn 3 và 4 cơ hữu, So Phim c̣n được tăng phái thêm hai sư đoàn 280 và 290 của Trung ương. Hai trục lộ chính của quân khu là quốc lộ 7 và quốc lộ 1. Quốc lộ 7 là một quốc lộ chiến lược quan trọng có h́nh cánh cung, đi ṿng từ thị xă Kratié qua Snoul, Mimot, Krek, Chúp tới Kompong Cham, song song với biên giới phía bắc của tỉnh Tây Ninh. Năm 1977, khi chiến cuộc công khai bùng nổ, So Phim được cử làm Tư lệnh mặt trận đường số 7.
    Trong khi đó, quốc lộ 1 là con đường đi từ Nạm Vang qua bến phà Neak Luong đi ngang tỉnh lỵ Svayrleng, qua Prasaut, Chiếu, vượt biên giới Việt Miên đi thẳng về Sài g̣n. Mặt trận nơi này do Son Sen đích thân chỉ huy gồm những sư đoàn tăng phái từ Trung ương hay từ những quân khu khác.
    Người có uy tín ngang với So Phim trong hàng ngũ các bí thư quân khu là Ta Mok (Mok là tên, Ta có nghĩa là ông già), bí thư kiêm tư lệnh quân khu Tây Nam, giáp giới quân khu IX Việt nam. Tuy nổi tiếng liều lĩnh và khôn ngoan, nhưng Ta Mok không có tham vọng chính trị, một ḷng mù quáng trung thành, nên được Pol Pot tin cẩn, cất nhắc làm Uỷ viên Thường vụ, sau đó lên làm Tư lệnh quân đội. Các sư đoàn trú đóng ở quân khu Tây Nam là 210, 230, 250. Đến giữa năm 1978, khi cuộc chiến với Việt nam đă trở nên quyết liệt, Campuchia kư hiệp ước thân hữu với Thái lan, rút bớt quân đội ở các quân khu miền Tây sang biên giới phía Đông, nâng tổng số quân đội miền này lên 19 sư đoàn để đối phó với Việt nam.
    Ngoài những nguyên nhân sâu xa như mối hận thù lâu đời cùng giấc mơ tái chiếm lănh thổ Thuỷ Chân Lạp cũ, giới lănh đạo Campuchia đă phát động chiến tranh với Việt nam v́ họ thật tâm tin rằng Việt nam đang âm mưu phá hoại chế độ và kiếm cớ sát nhập đất đai, xâm lăng lănh thổ. Họ coi chiến tranh giữa hai nước là điều không thể tránh, và cách tự vệ hay nhất là tấn công. Ngoài ra, v́ t́nh h́nh nội bộ, gây chiến với Việt nam, họ có lư do để đổ lỗi cho những thất bại kinh tế và giữ được đoàn kết nội bộ. Dù cán cân lực lượng rất chênh lệch, họ tin vào sự trợ giúp và áp lực của Trung hoa. Theo tài liệu của Việt nam, những vũ khí mà Trung hoa viện trợ cho Campuchia đều có in số 800, tượng trưng cho con số 800 triệu dân Trung hoa đứng đằng sau (đây có lẽ chỉ là lư lẽ bị bóp méo). Theo Edgar Snow, Mao thường nói Trung hoa sau 1949 được điều hành bởi 800 cán bộ cộng sản sống sót trong số 50,000 đảng viên đầu tiên, số 800 kể trên mang ư nghĩa đó th́ đúng hơn). V́ thế, Campuchia không tin Việt nam dám công khai xua quân xâm lăng và chiếm đóng lănh thổ của họ. Mặt khác, bị ảnh hưởng của Mao Trạch Đông, họ tin là yếu tố con người quan trọng hơn vũ khí, và khả năng chiến đấu của người lính Campuchia trội hơn lính Việt nam bội phần. Trong chiến tranh Đông dương thứ hai, dù trực tiếp tham chiến có hơn hai năm, Pol Pot luôn tin rằng quân Khmer Đỏ đă đánh bại Hoa kỳ và giúp cho Việt nam chiến thắng.
    Trong một cuộc tiếp xúc với kư giả Elizabeth Becker, Pol Pot c̣n tưởng tượng ra một hoàn cảnh trong tương lai, khi quân Việt nam đă bị đánh bại và phải cầu cứu tới quân đội của các nước trong khối Varsovie. Niềm tin vào khả năng siêu nhân của lính Khmer Đỏ được thể hiện trong một bài b́nh luận trên đài phát thanh Phnom Penh vào ngày 10-5-1978: “Cho đến nay, chúng ta dă đạt được tỷ số một người lính Campuchia chết sau khi giết được ba mươi người Việt. Như vậy chúng ta chỉ cần hy sinh có hai triệu người Khmer để tiêu diệt trên năm chục triệu người Việt, và chúng ta vẫn c̣n sáu triệu”.
    Ngoài những ước tính chủ quan và điên cuồng đó, t́nh h́nh kinh tế và chính trị nội bộ như biến cố Keo Meas, âm mưa phản loạn của tướng Chakrang, tư lệnh đặc khu Phnom Penh, cùng những hành động của Việt nam như kư hiệp ước liên minh và đem quân trú đóng tại Lào, nghị quyết của đại hội Đảng cộng sản Việt nam trong đó có đoạn “thực hiện mối quan hệ đặc biệt” với Lào và Campuchia khiến cho những lănh tụ Khmer Đỏ thấy cần phải phát động chiến tranh. Nhưng họ vẫn c̣n đủ khôn ngoan để chờ đến sau khi t́nh h́nh nội bộ Trung hoa được sáng tỏ, các nhà lănh đạo mới của Trung hoa tiếp tục cam kết ủng hộ Campuchia, họ mới bắt đầu mở một cuộc tấn công quy mô vào lănh thổ Việt nam, và để hạ uy tín Việt nam, cuộc tập kích quy mô đó được chọn đúng vào ngày Việt nam kỷ niệm hai năm chiến thắng.
    Đêm 30-4-1977, trong khi các cán bộ Việt nam c̣n đang đắc chí ăn mừng kỷ niệm th́ ba trung đoàn quân Campuchia thuộc các sư đoàn 210 và 250 của quân khu Tây Nam mở một cuộc hành quân lớn đánh vào nhiều quận lỵ và làng mạc sát biên giới thuộc tỉnh An Giang.
    Bị đánh bất ngờ, bộ đội Việt nam bỏ chạy không chống cự để mặc cho quân Khmer Đỏ tràn đến đất phá làng mạc, tàn sát thường dân vô tội. Khoảng năm trăm dân lành bị tàn sát, kể cả đàn bà, trẻ con. Có người bị chặt đầu, có người bị thiêu sống, có người bị mổ bụng. Riêng tại quận Tịnh Biên đă có hơn một trăm thường dân bị giết. Việt nam lúc đó vẫn hy vọng c̣n có thể lấy ḷng được Trung hoa nên chỉ phản ứng một cách giới hạn bằng cách dùng phi cơ oanh tạc trả đũa những vị trí quân sự trong nội địa Campuchia, và chờ tới hơn một tháng sau mới kín đáo trao kháng thư cho đại sứ So Khaeng tại Hà nội, quy trách nhiệm cho chính phủ Campuchia, v́ theo kháng thư, “một cuộc tấn công hàng loạt có phối hợp như vậy không thể xảy ra do quyết định của cán bộ địa phương”.
    Phản ứng thụ động của Việt nam càng làm cho Pol Pot tin vào phán đoán của ḿnh và sức mạnh của Khmer Đỏ, và sau đó, lúc Việt nam cùng Lào kư hiệp ước liên minh hỗ tương pḥng thủ ngày 18-7-1977, Pol Pot càng tin rằng những nhận định về âm mưu bành trướng của Việt nam là đúng. V́ thế, ba ngày trước khi Pol Pot chính thức ra mắt đảng cộng sản Campuchia và lên đường công du Bắc kinh và B́nh Nhưỡng, để biểu dương sức mạnh và quyết tâm của ḿnh với những nhà lănh đạo Trung hoa, đêm 24-9-1977, Pol Pot lại ra lệnh cho các đơn vị của hai sư đoàn 3 và 4 của quân khu Đông ồ ạt tấn công vào nhiều vị trí của Việt nam ở biên giới tỉnh Tây Ninh như Bến Cầu, Tân Biên, Xa Mát, Châu Thành. Đó là những vùng đất mà Campuchia nghĩ là thuộc về họ và đă bị Việt nam lấn chiếm. Khu kinh tế mới Long Cường cũng bị tấn công. Theo Campuchia, các khu kinh tế mới vùng biên giới là nằm trong chính sách “tằm ăn lá dâu” từ mấy trăm năm trước của Việt nam (“tằm ăn lá dâu”, hay “tầm thực” là chính sách do ông Nguyễn Cư Trinh năm 1756 bày ra cho chúa Nguyễn để dần dần lấn chiếm lănh thổ Chân Lạp).
    Cũng như trong trận đánh ở biên giới An Giang, quân Việt nam cũng bị đánh bất ngờ và bỏ chạy, khiến cho gần một ngàn thường dân vô tội bị chết oan. Riêng tại xă Tân Lập, quận Tân Biên, có hơn năm trăm dân làng bị giết, trẻ con bị ném xuống giếng, trâu ḅ gà vịt bị tàn sát, nhà cửa bị đốt cháy.
    Chịu trách nhiệm pḥng vệ Tây Ninh lúc đó là Trần Văn Trà, tư lệnh quân khu VII. Bị tấn công và thiệt hại, Trà tức giận, ra lệnh soạn thảo một kế hoạch phản công hai mặt một mặt tấn công chính diện, đẩy lui quân Campuchia về nước. Mặt khác, một đơn vị lớn sẽ lén lút vượt biên giới để chân hậu và tiêu diệt toán quân đó. Đồng thời, để tố cáo với thế giới tội ác của quân Khmer Đỏ đă tấn công và tàn sát thường dân vô tội, Trần Văn Trà mời một nhà báo Hungary đến thăm trận địa. Nhưng chính phủ Hà nội lúc đó vẫn c̣n hy vọng lấy ḷng được Trung hoa nên chưa muốn phản ứng mạnh và công khai. Nhà báo Hungary bị tịch thu bài vở và phim ảnh. Kế hoạch phản công của Trần Văn Trà bị huỷ bỏ. Theo tài liệu quân sự của Việt nam th́ “phương án” đó không được Bộ tổng tham mưu chấp thuận. V́ lúc này chúng ta vẫn phải tự kiềm chế để t́m một giải pháp vừa giải quyết được xung đột, vừa tránh đổ máu. Thay vào kế hoạch của Trà, Bộ tổng tham mưu quân Việt nam điều động thêm sư đoàn 341 (sư đoàn này vừa được bổ xung và hồi phục sau khi bị sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo tiêu diệt gần hết trong trận Xuân Lộc năm 1975) lên tăng cường cho quân đoàn IV, cùng các sư đoàn 7 và 9 của quân đoàn tái chiếm các xă đă mất, đẩy lui quân Campuchia về bên kia biên giới. Trần Văn Trà bị gọi về Hà nội, được giao cho chức Thứ trưởng quốc pḥng đặc trách trang bị và kỹ nghệ quốc pḥng, và một năm sau th́ bị giải ngũ.
    Lư do Trần Văn Trà mất chức có thể do sơ hở lănh đạo, để cho quân Campuchia bất ngờ tấn công, trong khi ư định và kế hoạch tấn công Tây Ninh đă được một số sĩ quan Campuchia đào ngũ tiết lộ trước. Nhưng sự mất chức đó cũng có thể do khuynh hướng hành động độc lập với Trung ương của Trần Văn Trà, trong thời gian mà mầm mống bất măn của những cán bộ gốc miền Nam đối với giới lănh đạo miền Bắc bắt đầu bộc lộ. Hơn nữa, Trần Văn Trà cũng không được cảm t́nh của Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng. Sau 1975, Trần Văn Trà bất măn khi thấy Văn Tiến Dũng viết sách, tự ca tụng và nhận hết công trạng về phần ḿnh. Sau khi Trần Văn Trà mất chức, Lê Đức Anh, đang làm Tư lệnh quân khu IX, được đổi về làm Tư lệnh quân khu VII, và Trần Nghiêm, đang giữ chức Tư lệnh phó quân khu IX được đôn lên Tư lệnh, Hồ Bá Phúc tư lệnh phó. Trong giai đoạn này, mặt trận biên giới Tây Nam được đặt dưới sự giám sát tổng quát của Lê Trọng Tấn. Chịu trách nhiệm pḥng thủ phía bắc Tây Ninh là các sư đoàn 5, 302, 303 thuộc Bộ tư lệnh Quân khu VII, c̣n phía tây và tây nam của tỉnh, dọc theo quốc lộ 1 và tỉnh lộ 13 là trách nhiệm của các sư đoàn 7, 9 và 341 chính quy của quân đoàn 4.
    Trận đánh quy mô vào tỉnh Tây Ninh cuối tháng 9-1977 đă tạo cơ hội cho hai nhân vật tương đối c̣n ch́m trong bóng tối có cơ hội tiến thân. Ở Việt nam, Lê Đức Anh, bí danh Sáu Nam, từng là cái bóng của Trần Văn Trà trong nhiều năm, được đổi về làm tư lệnh quân khu VII. Nhờ sự quan trọng của quân khu này và sự nâng đỡ của Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh sau đó được đề cử làm tư lệnh chiến dịch xâm lăng Campuchia, rồi thăng dần lên làm Tham mưu trưởng quân đội, Bộ trưởng quốc pḥng, và cuối cùng là Chủ tịch nhà nước. Bên kia biên giới, người chỉ huy trận đánh này là Heng Samrin, tư lệnh sư đoàn 4. Sau trận đánh, Heng Samrin được cất nhắc làm phó bí thư khu uỷ quân khu Đông, quyền chủ tịch mặt trận đường số 7 trong lúc So Phim đi Trung hoa chữa bệnh. Mấy tháng sau, khi Pol Pot mở cuộc thanh trừng ở quân khu Đông, Heng Samrin trốn sang Việt nam, rồi được Việt nam đưa về, đặt lên chức Chủ tịch nhà nước.
    Sau trận đánh tháng 9, quân Campuchia tiếp tục mở những trận tấn công quấy rối, thăm ḍ, cho đến ngày 17-11-1977, th́ mười ba tiểu đoàn thuộc các sư đoàn 3, 4, 290 lại mở một cuộc tấn công lớn đánh chiếm những làng xă phía tây tỉnh Tây Ninh dọc theo tỉnh lộ 13 như các xă Phước Tường, Năm Căn, Hoà Hội, Phước Tân, Tân Lập, Phú Tân. Tỉnh lộ 13 là một con lộ nhỏ chạy song song với biên giới phía tây của tỉnh Tây Ninh, khác với quốc lộ 13, là một quốc lộ lớn chạy từ Sài g̣n qua phía bắc Tây Ninh tới Snoul, Kratié rồi sang Lào.
    Lần này, sau chuyến đi cầu hoà lần chót với Trung hoa của Lê Duẩn thất bại, được sự hỗ trợ của Liên xô, Việt nam quyết định phản ứng quyết liệt hơn. Quân Việt nam được Bộ Chính trị cho phép tấn công sâu vào nội địa Campuchia để trả đũa. Ngày 2-12-1977, Lê Trọng Tấn đích thân ra lệnh cho quân đoàn 4 tràn qua biên giới tấn công.
    Quân đoàn 4 hay Binh đoàn Cửu Long, lúc đó gồm có các sư đoàn chính quy 7, 9, 341 do Hoàng Cầm làm tư lệnh, Trần Văn Trân, Vơ Văn Dần, Bùi Cát Vũ làm tư lệnh phó. Hoàng Cầm, bí danh Năm Thạch, từng phục vụ ở Cục Tham mưu Cục R và chỉ huy sư đoàn 9 nên rất quen thuộc với địa thế Campuchia. Được sự yểm trợ của Không quân, trực thăng vơ trang, pháo binh, thiết giáp..., lực lượng tấn công của Hoàng Cầm lên tới hơn sáu chục ngàn. Đó là không kể đến những đơn vị Thanh niên xung phong được giao những nhiệm vụ yểm trợ như đắp đường, tiếp tế.
    Mục đích chính của cuộc tấn công của quân đoàn 4 là tái chiếm những vị trí ở tỉnh Tây Ninh, sau đó tràn qua biên giới, phá huỷ những căn cứ quân sự và tiếp vận, đồng thời t́m cách tiêu diệt hay gây tổn thất cho các đơn vị quân đội Campuchia trong quân khu Đông. Cuộc tấn công cũng nhằm biểu dương sức mạnh với chính quyền Pol Pot, và đưa tuyến pḥng thủ của Việt nam vào sâu trong lănh thổ Campuchia từ mười đến bốn mươi cây số.
    Trong trận đánh này, quân Việt nam tấn công theo ba hướng:
    Hướng thứ nhất do sư đoàn 9 cùng trung đoàn 209 của sư đoàn 7 phản công tái chiếm những làng xă đă mất thuộc quận Châu Thành và Tân Biên dọc theo tỉnh lộ 13, sau đó vượt biên giới chiếm đóng các vị trí quân sự, và tiêu diệt các đơn vị của sư đoàn 4 Campuchia.
    Hướng thứ hai do sư đoàn 341 cùng trung đoàn 55 pháo binh tiến dọc theo trục đường 24 tấn công trung đoàn 21 thuộc sư đoàn 290 Campuchia.
    Hướng thứ ba do trung đoàn 14 của sư đoàn 7, cùng một đại đội xe tăng T59, một đại đội thiết vận xa M 113 tấn công theo quốc lộ 1 vượt biên giới trên ba mươi cây số tấn công trung đoàn 182 thuộc sư đoàn 3 Campuchia. Ngày 4-12-1977, quân Việt nam bắt đầu tấn công. Nhờ quân số đông đảo, hoả lực hùng hậu, chỉ ba ngày sau, quân Việt nam đă lấn sâu vào lănh thổ Campuchia, chiếm đóng quận ly Prasaut sát bên tỉnh Svayneng. Tuy nhiên, mục tiêu chính để gây thiệt hại nặng cho sư đoàn 3 vẫn chưa thực hiện được. Ngày 14.12, các đơn vị quân Việt nam giả bộ rút lui khỏi Prasaut. Trung đoàn 273 rút theo hướng nam về Mộc Hoá, trung đoàn 266, trung đoàn 55 pháo binh và tiểu đoàn 1 thiết giáp theo quốc lộ 1 rút về Tây ninh. Khi sư đoàn 3 của Campuchia trở lại Prasaut, đêm đến, quân Việt nam hành quân ngược trở lại bao vây tấn công, gây thiệt hại nặng cho quân Campuchia. Trước t́nh thế đó, Bộ tổng tham mưu quân đội Campuchia điều động thêm hai sư đoàn 703 và 301 từ Trung ương lên tăng cường mặt trận Prasaut. Sau mấy trận đụng độ, cả hai bên đều bị thiệt hại nặng. Khoảng một ngàn binh sĩ thương vong.
    Song song với việc phản công quân sự, chính phủ Campuchia bắt đầu tấn công trên mặt trận ngoại giao. Ngày 31-12-1977, Campuchia công khai tố cáo Việt nam xâm lăng Campuchia, và tuyên bố cất đứt quan hệ ngoại giao. Thời gian đó, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh của Việt nam đang đi thăm thân hữu các nước Đông Nam Á. Đang rất cần sự giúp đỡ của tất cả các nước, sợ bị bắt quả tang đang xâm lược, ngày 6-1-1978, quân Việt nam vội vàng rút về nước. Trong cuộc rút lui vội vă đó, một số đơn vị của sư đoàn 7 và 9 cùng trung đoàn biệt lập Gia định 2 không kịp chuẩn bị bị tổn thất nặng khi quân Campuchia đuổi theo truy kích.
    Sau khi quân Việt nam rút về nước, chính phủ Pol Pot gọi ngày 6-1-1978 là ngày “chiến thắng vĩ đại”, vĩ đại hơn cả ngày 17-4-1975. Họ cho tăng khẩu phần cán bộ và binh sĩ để ăn mừng. Nhân dân được học tập và tuyên truyền là quân đội Campuchia đă bắn cháy nhiều xe tăng của Việt nam, rồi nấu chảy sắt thép những xe tăng đó làm bát ăn cơm. Tuy nhiên, bên trong, trước phản ứng yếu ớt của quân đội quân khu công, Pol Pot nghi ngờ là có nội tuyến trong hàng ngũ lănh đạo quân khu, nên chỉ thị cho Son Sen, Ta Mok, Ke Pauk và Duch điều tra để thanh lọc hàng ngũ. Cuộc thanh trừng đó đă gây chia rẽ và làm suy yếu lực lượng pḥng thủ quân khu, giúp cơ hội và phương tiện cho Việt nam thực hiện kế hoạch “mặt trận giải phóng”, rồi sau đó tiến quân xâm lăng. Trận đánh cuối năm 1977 đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong trận chiến biên giới. Cuộc xích mích đă trở nên công khai, và Việt nam bắt đầu tính toán một kế hoạch quy mô hơn, nhằm thanh toán một lần và tận gốc chính quyền Pol Pot.
    Tài liệu tham khảo:
    - Vietnam, a country histoy. Department of Defense
    - Campuchia, a country histoy. Department of Defense
    - People Army of Vietnam của Douglas Pike
    - Mặt Thật của Thành Tín.
    - Brother Ennemy, Nayan Chanda, nhà xuất bản MacMilan Publishing Company New York
    - Sư đoàn Sông Lam, Đoàn Phước Long do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
    - Dossier Kampuchea I, II, III Le Courier du Vietnam, Hà nội

  9. #9
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Chiến tranh Đông Dương III
    Tác giả: Hoàng Dung


    Chương 8
    Dưới sự lănh đạo của Đặng Tiểu B́nh, lịch sử Trung hoa bước vào một khúc quanh mới.
    T́nh h́nh chính trị ngoại giao ba nước Việt - Miên - Hoa trong năm 1978



    Trong hai tháng đầu năm 1978, Bộ Chính trị Trung ương Đảng cộng sản Việt nam họp tại thành phố Hồ Chí Minh, bàn về cách đối phó với t́nh thế mới. Cuộc họp đă đưa ra những quyết định quan trọng: đối phó quyết liệt hơn với Campuchia, đương đầu với Trung hoa, giải quyết vấn đề người Việt gốc Hoa để trừ mối hoạ “thù ngoài giặc trong”, liên minh chặt chẽ với Liên xô để được hậu thuẫn trong việc đối phó với Trung hoa và được viện trợ về quân sự, kinh tế, tăng cường đấu tranh ngoại giao và tuyên truyền, nhất là đối với Hoa kỳ và các quốc gia trong khối ASEAN. Trước hết, việc Campuchia đoạn giao với Việt nam là một bất ngờ và suy thoái ngoại giao của Việt nam. C̣n đang được sự thương hại của nhiều nước trên thế giới v́ đă có vẻ như ở trong t́nh trạng một nước nhỏ bị nước lớn bắt nạt, Việt nam giờ đây bị tố cáo mưu toan xâm lấn nước nhỏ láng giềng, mà nước nhỏ này lại là một đồng minh của Việt nam trước kia. Ngoài ra, cuộc hành quân tiến sâu vào lănh thổ Campuchia tháng trước cho thấy sức mạnh của quân đội Khmer Đỏ không đáng sợ lắm, nhưng đă làm thái độ của Pol Pot thêm cứng rắn. Không c̣n cách nào hoà giải được với Campuchia và cũng không thể để cuộc chiến tranh biện giới kéo dài, nó sẽ gây tổn hại quá nhiều về tài nguyên, nhân lực, kinh tế, ngoại giao Việt nam quyết định phải triệt hạ chinh quyền Pol Pot một lần cho xong. ư định này được sự đồng t́nh của Liên xô.
    Cuối tháng 1-1978, khi tướng Grigoriyevich Pavlovsky, tư lệnh các lực lượng trên bộ của Liên xô thăm viếng Lào, Vơ Nguyên Giáp bay sang tham khảo ư kiến và được khuyên nên dùng quân đội ồ ạt xâm lăng chớp nhoáng Campuchia như Liên xô đă từng làm khi xâm lăng Tiệp khắc để hạ bệ Thủ tướng cấp tiến Dubcek năm 1968. Việt nam đă áp dụng biện pháp này, với một b́nh phong “Mặt trận giải phóng” như đă từng làm trước kia. Việc thành lập “Mặt trận”, sau này được gọi là “Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia” được Bộ Chính trị giao cho Lê Đức Thọ. Mới đầu, mặt trận này gồm những cán bộ Khmer tập kết về Hà nội năm 1954 chưa trở về Campuchia và đang phục vụ trong quân đội hay các cơ quan của Việt nam như Pen Sovan, Chansi, Khang Sarin... cùng những cán bộ mới đào thoát sang như Hun Sen, Bou Thang. Binh sĩ và các cán bộ cấp thấp được tuyển mộ từ những người trốn sang Việt nam tị nạn hay những người Việt gốc Khmer. Những người này được hứa sẽ được giao những chức vụ hành chánh sau khi chiếm được Campuchia. Những trại huấn luyện tân binh được thiết lập tại Vị Thanh, Xuân Lộc. Ngày 22-4-1978, lữ đoàn đầu tiên của Mặt trận bí mật ra mắt. Tới cuối năm, cùng với một số binh lính của Heng Samrin vừa trốn sang, lực lượng của Mặt trận có khoảng ba hay bốn tiểu đoàn, được gọi phóng đại lên là lữ đoàn. Các lữ đoàn này được gom lại thành “đoàn 778” do Heng Samrin làm tư lệnh. Khoảng tháng 6-1978, một đài phát thanh tiếng Miên được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tố cáo tội ác của chính phủ Pol Pot và kêu gọi dân Campuchia nổi loạn.
    Cũng như Trung hoa khi đem quân đánh Việt nam, đă tố cáo Việt nam là tay sai Xô viết, Việt nam không coi Campuchia là kẻ thù chính, mà đổ hết lỗi cho Trung hoa là nước đứng sau khuyến khích, xúi dục. Bằng chứng Việt nam nêu ra là Campuchia đă đoạn giao với Việt nam ngay sau chuyến viếng thăm Phnom Penh của Trần Hồng Quư, Phó Thủ tướng của Trung hoa, và một tháng sau, Phó Chủ tịch Quốc hội Trung hoa Đặng Dĩnh Châu công khai tố cáo Việt nam âm mưu phá hoại Campuchia. Một khi đă quyết định ra mặt đối nghịch với Trung hoa, Việt nam phải nghĩ đến mối hiểm hoạ của hơn hai triệu người Hoa đang sống ở Việt nam. Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ dân số nhỏ, nhưng người gốc Hoa là một thế lực kinh tế mạnh mẽ ở Việt nam. Trước năm 1975, v́ cần sự giúp đỡ của Trung hoa, những người Hoa miền Bắc rất được chính quyền Hà nội coi trọng. Họ được hưởng tất cả quyền lợi của người Việt, nhưng lại không phải đi lính. Trong khi đó, ở miền Nam, người Hoa sống nhiều về buôn bán và họ làm ăn rất phát đạt. Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm thời đó có ra một đạo luật bắt người Hoa phải nhập Việt tịch, nếu không sẽ mất môn bài buôn bán. V́ thế đa số đă nhập Việt tịch. Lúc đó Trung hoa phản đối dữ dội, và b́nh phong của cộng sản Bắc Việt là Mặt trận giải phóng cũng hùa theo cộng sản Trung hoa, hứa hẹn sau khi chiến thắng sẽ để cho người gốc Hoa tự do chọn lựa quốc tịch.
    Việt nam bắt đầu cảnh giác người gốc Hoa từ khi có cuộc Cách mạng văn hoá ở Trung hoa năm 1966. Phe quá khích và Hồng vệ binh đă gọi Việt nam thuộc thành phần “xét lại”. Một số vũ khí Liên xô đi qua Trung hoa bị chặn lại. Một số học sinh, sinh viên gốc Hoa ở Bắc Việt cũng tổ chức được một nhóm nhỏ Hồng vệ binh dự định gây náo loạn. Người Hoa lại càng trở nên khả nghi sau chuyến viếng thăm Bắc kinh của Tổng thống Nixon năm 1972. Ngày 30-4-1975, Hoa kiều trong Chợ Lớn đă không chào đón bộ đội Bắc Việt bằng cờ đỏ sao vàng mà bằng cờ cộng sản Trung hoa với h́nh Mao Trạch Đông.
    Hành động thách đố đầu tiên của chính quyền cộng sản Hà nội đối với Trung hoa là việc bắt Hoa kiều phải nhập Việt tịch nếu không sẽ mất hộ khẩu và khẩu phần mua lương thực năm 1976. Lúc đó ở Trung hoa, đảng cộng sản c̣n đang bận thanh trừng nội bộ và tranh chấp quyền hành nên không phản ứng mạnh. Năm sau, khi t́nh h́nh hai nước trở nên gay go, Việt nam âm thầm trục xuất những người gốc Hoa sống ở những địa phương sát biên giới. Khi t́nh h́nh nội bộ trong nước đă tạm thời ổn định, để đối phó với Việt nam, chính sách đối với Hoa kiều hải ngoại lần đầu tiên được công bố, qua một bài viết của Liêu Thừa Chí, chủ tịch Uỷ ban Hoa Kiều Hải Ngoại Vụ, đăng trên tờ Nhân dân nhật báo ngày 4-1-1978. Liêu Thừa Chí tuyên bố Trung hoa sẽ giành quyền bảo vệ tất cả các Hoa kiều hải ngoại c̣n mang quốc tịch Trung hoa, sẽ giúp đỡ họ nếu muốn trở về quê hương định cư và xây dựng tổ quốc. C̣n những người đă thay đổi quốc tịch, Trung hoa vẫn c̣n xem họ là họ hàng và bằng hữu. Nhưng Trung hoa cũng thúc đẩy họ nên thành lập một mặt trận thống nhất chống bá quyền. Đối với Việt nam, đó là một h́nh thức kêu gọi nổi loạn, và thấy cần phải phản ứng mạnh. Ngày 24-3-1978, Việt nam phát động chiến dịch đánh tư sản mại bản trên toàn lănh thổ miền Nam.
    Tuy theo thông cáo chính thức của đài phát thanh, chiến dịch này nhằm “triệt hạ những thành phần tư sản, đẩy mạnh công cuộc xây dựng xă hội chủ nghĩa, không phân biệt quốc tịch, tôn giáo, và được phát động đồng đều trên các tỉnh và thị xă miền Nam”, nhưng mục tiêu chính của chiến dịch là những người gốc Hoa trong Chợ Lớn. Từ mờ sáng ngày 24-3-1978, quân đội đă bất ngờ bố trí ở những vị trí trọng yếu, rồi công an, các học sinh đoàn viên xông vào những căn nhà đă được chú ư từ trước, quản thúc những người trong nhà, và lục soát từng ḥn đá, từng viên gạch để t́m kiếm và tịch thu tất cả vàng bạc, tiền tệ, của cải. Chủ nhà sau đó bị quy định thành phần và đẩy đi kinh tế mới, chỉ trong ṿng một tuần, hàng chục ngàn gia d́nh, đa số là người Hoa bị trắng tay.
    Trước hành động quyết liệt của Việt nam, Trung hoa không thể nào không phản ứng, nếu không sẽ bị mất mặt. Là một nước lớn, từng coi các nước lân bang như chư hầu, từng giúp đỡi dồi dào cho Việt nam. Giờ đây, Việt nam đă ngang nhiên phản bội, công khai thách đố chính sách bảo vệ Hoa kiều hải ngoại mà Trung hoa vừa công bố hai tháng trước. Trước hết, Trung hoa ngưng tất cả bảy mươi lăm dự án viện trợ cho Việt nam, rút hết các chuyên viên về nước. Hành động đó là một biện pháp trừng phạt tương tự như Liên xô đă dùng đối phó với Trung hoa năm 1960. Ngày 24-5-1978, Trung hoa bắt đầu gọi Hoa kiều ở Việt nam là “nạn kiều”, và tố cáo Việt nam đă đàn áp và xử tội những nạn kiều này một cách vô cớ. Nhiều Hoa kiều bị lột sạch hết của cải trước khi về đến Trung hoa. Do sự khuyến khích của Trung hoa nhằm lũng loạn kinh tế Việt nam, cũng nhưc sự ngấm ngầm đồng t́nh của Việt nam nhằm tống xuất mối hiểm hoạ đạo quân thứ năm, trong tháng 6, hơn 100 ngàn kiều dân Trung hoa phần đông là thợ mỏ, ngư phủ, thợ lành nghề ở Bắc Việt theo đường bộ vượt biên giới về nước. Đồng thời, để lôi kéo sự chú ư của dư luận thế giới về t́nh trạng nạn kiều, ngày 26-5-1978, Trung hoa tuyên bố sẽ gửi hai tàu chuyên chở sang Việt nam để đón những nạn kiều này về nước.
    Kế hoạch đó là một thất bại, Việt nam tố cáo Trung hoa định áp dụng chính sách “ngoại giao tàu chiến”, và tuyên bố “biển Đông không phải là cái ao sau của Trung quốc để tàu Trung quốc muốn đến là đến, muốn đi là đi”.
    Sau sáu tuần bỏ neo chờ đợi ngoài khơi, không được vào bờ, hai chiếc tàu đó phải trở về không. Việt nam được dịp cảnh cáo những nước Đông Nam Á là v́ vấn đề Hoa kiều, Trung hoa sẽ có thể xen vào nội bộ nước họ.
    V́ thái độ thù địch đă rơ ràng, Việt nam công khai đưa ra toà những gián điệp Trung hoa bị bắt như Lư Nghiệp Phu, Trần Hoạt, Trần Trường Giang. Những người này khai là họ đă hoạt động theo chỉ thị của Trần Chí Phong, Đại sứ Trung hoa tại Hà nội. Đồng thời, Việt nam bắt đầu cho in và phổ biến rông răi những tác phẩm của Vương Minh, một đối thủ cũ của Mao Trạch Đông trong thời kỳ đảng cộng sản Trung hoa mới thành lập. Những cán bộ từng có nhiều quan hệ với Trung hoa như Hoàng Văn Hoan, Uỷ viên Trung ương đảng, Chu Văn Tấn, tư lệnh quân khu 1, cựu Bộ trưởng quốc pḥng, Lê Quảng Ba, Phó Chủ tịch Quốc hội, Lư Ban, Thứ trưởng Bộ Ngoại thương, lần lượt bị mất chức. Ngoài ra, v́ t́nh h́nh kinh tế quá tồi tệ, Việt nam đă nghĩ ra được kế hoạch “vượt biên bán chính thức” để xuất cảng người và thu lợi. Từ đó, phong trào thuyền nhân ra đời. Phong trào này, tuy đă giúp cho Việt nam thu vét được một số tiền, và trục xuất được những phần tử không tin cậy, nhưng đă phô bày thực chất của Việt nam và dập tắt hết một số thiện cảm c̣n lại mà nhân dân thế giới đă dành cho họ.
    Trong khi Việt nam âm thầm xếp đặt kế hoạch đối phó với Trung hoa và triệt hạ chính quyền Pol Pot th́ tại Campuchia, những lănh tụ Khmer Đỏ quyết tâm đẩy mạnh chiến tranh biên giới và bắt đầu thanh trừng hàng ngũ lănh đạo quân khu Đông. Sau chuyến viếng thăm Campuchia của Phó Thủ tướng Trần Hồng Quư, Bộ Chính trị cộng sản Trung hoa gửi một phái đoàn khác gồm những nhân vật ôn hoà hơn, thuộc phe Đặng Tiểu B́nh, do Đặng Dĩnh Châu, vợ của cố Thủ tướng Chu Ân Lai, và Hàn Niệm Long, Thứ trưởng ngoại giao, cầm đầu. Chính sách cai trị tàn bạo của Khmer Đỏ, cùng với sự thất bại của quân Campuchia trước sức tấn công của quân đội Việt nam tháng trước đă khiến Trung hoa muốn Campuchia theo đuổi một đường lối mềm dẻo hơn. Trung hoa khuyến khích Pol Pot nên dùng lại Sihanouk để tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng, và gợi ư Campuchia nên thương thuyết với Việt nam trên căn bản “năm nguyên tắc sống chung hoà b́nh” mà Trung hoa từng đề ra.
    Campuchia cương quyết bác bỏ những đề nghị đó. Đặng Dĩnh Châu không được gặp mặt Sihanouk, và Ngon Chia, trong diễn văn tiếp đón phái đoàn Trung hoa, đă gián tiếp trả lời là “nhân dân Campuchia kiên quyết đấu tranh chống lại những hành vi phá hoại từ bên trong, hay những hành động khiêu khích và xâm lược từ bên ngoài”. Trước thái độ cứng rắn đó, v́ không thể mất đi đồng minh chiến lược Campuchia, Trung hoa đành phải quay lại đường lơi cũ; và bắt đầu ồ ạt chở vũ khí tới Campuchia.
    Khi phái đoàn Đặng Dĩnh Châu c̣n ở Campuchia, th́ cuộc thanh trừng nội bộ ở quân khu Đông đă bắt đầu. Ba sư đoàn quân Trung ương, dưới sự chỉ huy của Son Sen, Ta Mok và Ke Pauk kéo vào quân khu. Lần lượt những cán bộ tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, bí thư chi uỷ của quân khu bị bắt vào Tuol Sleng. Tới cuối tháng 4, số cán bộ quân khu bị bắt vào đó lên tới gần năm trăm người, trong số đó có Heng Thai, tư lệnh sư đoàn 290, anh ruột Heng Samrin.
    Cuộc thanh trừng quy mô này đă được kín đáo nhắc tới trong bài b́nh luận nổi tiếng trên đài phát thanh Phnom Penh ngày 10-5-1978 về vấn đề chỉ cần hy sinh hai triệu dân Campuchia là có thể tiêu diệt hơn năm chục triệu người Việt. Đoạn cuối của bài diễn văn đó kết luận “Chúng ta phải thanh lọc quân đội, đảng, cũng như quần chúng nhân dân để chúng ta có thể tiếp tục chiến đấu bảo vệ đất đai và ṇi giống Campuchia”.
    Sau khi đă thanh toán những cán bộ cấp dưới, Pol Pot và Duch nhắm vào So Phim. Ngoài việc bị nghi ngờ có quan hệ với Việt nam, So Phim đă có thể bị thanh toán v́ từng là thông gia với Nhim Ros đă bị thanh trừng năm trước, và nhất là v́ uy tín của So Phim không những ở trong nước, trong đảng mà c̣n đối với Trung hoa. Một lănh tụ Khmer Đỏ khác cũng được Trung hoa coi trọng là Bộ trưởng Thông tin Hu Nim đă bị thanh toán trong tháng 7-1977. Mới mấy tháng trước, khi đi Trung hoa chữa bệnh, So Phim đă được Trung hoa đề cao, cho quay một cuốn phim về cuộc đời ông ta. Là một người đa nghi, Pol Pot không thể nào không coi So Phim là một địch thủ đáng ngại cần tiêu diệt.
    Trung tuần tháng 5, Ke Pauk, tư lệnh quân khu Trung ương liên tiếp mời So Phim tới Bộ chỉ huy của ông ta để họp, nhưng So Phim cẩn thận chỉ gửi người đại diện. Gửi người nào đi là mất người đó. Tới ngày 24-5-1978, một lữ đoàn thiết kỵ từ Trung ương kéo đến bao vây Bộ tư lệnh Quân khu Đông ở Suông, bắt giam tất cả những sĩ quan hiện diện. So Phim chạy thoát nhưng ông ta c̣n nuôi hy vọng Pol Pot chỉ hiểu lầm, nên đă chạy ngược về Phnom Penh, cho người liên lạc xin hẹn gặp với Pol Pot để giải thích.
    Ngày 2.6, So Phim đến điểm hẹn gần bờ sông, nhưng Pol Pot không tới mà chỉ thấy hai phà chở đầy binh lính. Biết số phận ḿnh, So Phim rút súng tự sát, vợ con ông ta cũng bị giết.
    Sau khi quân Trung ương chiếm giữ Bộ tư lệnh Quân khu các sĩ quan c̣n lại của hai sư đoàn 4 và 5 được gọi đến họp, theo lệnh của Ta Po, một đàn em thân tín của Pol Pot vừa mới được bổ nhiệm làm bí thư khu uỷ quân khu Đông thay So Phim. Tất cả những người đến đều bị bắt. Số c̣n lại như Chia Sim, Mạt Ly, theo Heng Samrin trốn vào rừng.
    Quân đội quân khu Tây Nam sau đó tràn đến, cùng quân đội quân khu Trung ương tàn sát tất cả không những binh sĩ mà cả dân cư sống trong những tập thể. Họ bị chở bằng xe vận tải tới những cánh đồng máu và bị đập chết. Tổng số những người bị tàn sát trong đợt này lên tới hơn một trăm ngàn người. Những người c̣n sống theo Heng Samrin vào rừng, tiếp tục đánh du kích chống lại quân chính phủ, nhưng sau đó v́ bị đói khát, bệnh tật phải trốn sang Việt nam.
    Với sự đào thoát của hơn một ngàn binh sĩ Khmer Đỏ và một cán bộ chỉ huy cấp sư đoàn như Heng Samrin, Việt nam đă có được những yếu tố thuận lợi cần thiết để phát điển và công khai hoá Mặt trận giải phóng Campuchia. Lê Đức Thọ bay vào Nam, triệu tập những cán bộ cũ như Pen Sovan, Chia Soth và những cán bộ mới đào thoát như Heng Samrin, Chia Sim hội họp ở trường Sĩ quan cảnh sát cũ ở Thủ Đức. Tất cả đồng ư là sẽ phát động cuộc tổng tấn công vào cuối tháng 12, khi mùa gặt tới và mùa khô bắt đầu.
    Nằm trong kế hoạch tổng tấn công Campuchia, và để hoá giải mối đe doạ của Trung hoa, Việt nam tiến thêm một bước nữa vào trong quỹ đạo của Liên xô. Ngày 28-6-1978, Việt nam gia nhập khối Comecon của phe Cộng sản. Trước đó mấy tuần, Vơ Nguyên Giáp đă bí mật sang Liên xô, mang theo bản thảo của hiệp ước “hợp tác và hữu nghị”. Bản hiệp ước này, nhằm buộc chặt Việt nam vào đường lối đối ngoại và an ninh của Liên xô, nên Liên xô chỉ bằng ḷng viện trợ dồi dào, nhưng không chịu giúp để Việt nam có thể tự sản xuất lấy vơ khí. Trong một cố gắng cuối cùng để duy tŕ phần nào sự độc lập, trên đường sang Liên xô, Vơ Nguyên Giáp bí mật ghé lại phi trường New Dehli để gặp hai Bộ trưởng quốc pḥng và ngoại giao của Ân độ. Trong cuộc tiếp xúc, Giáp yêu cầu Ấn độ giúp Việt nam thiết lập một nhà máy chế tạo vũ khí nhẹ. Nhưng chính phủ Ấn độ lúc đó không c̣n là chính phủ thiên tả của bà Gandhi nữa, mà là một liên minh hữu phái của Thủ tướng Desai, nên lời yêu cầu của Giáp bị từ khước tức khắc. Vơ Nguyên Giáp sang tới Nga, giao lại bản dự thảo hiệp ước để Liên xô giữ lại nghiên cứu, sửa đổi, và rồi hai tuần sau, Thứ trưởng ngoại giao Liên xô Nikolai Firubin mang trở lại Việt nam, chờ đợi được kư kết vào lúc thuận tiện. Nhưng kể từ lúc đó, Liên xô đă bắt đầu chuyên chở vũ khí, phi đạn, radar, MiG 21 tới Đà Nẵng. Những lời công kích Trung hoa của Liên xô cũng gay gắt hơn. Những chuyên viên quân sự Liên xô cũng bắt đầu đến nghiên cứu và quan sát các hải cảng và phi trường Cam Ranh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Tân Sơn Nhất.
    Trong thời gian đó, ngày 2-7-1978, Campuchia kư thoả ước bất tương xâm với Thái lan, để dồn hết quân từ các quân khu phía tây sang biên giới phía đông. Vào cuối năm 1978, quân số Campuchia trú đóng tại biên giới sát Việt nam lên tới 19 sư đoàn (quân đội Campuchia có tất cả 23 sư đoàn). Cuối tháng 7 năm đó, Son Sen lên đường đi Bắc kinh.
    Tại Bắc kinh, khi gặp Son Sen, Đặng Tiểu B́nh thẳng thừng phê b́nh đường lối cai trị dă man của Campuchia, và một lần nữa, khuyến cáo Campuchia nên đoàn kết chống kẻ thù chung là Việt nam, đem Sihanouk trở lại chính trường, và cải thiện lại uy tín đối với quốc tế. Trung hoa cũng khuyên Campuchia nên sửa soạn một cuộc chiến tranh tiêu hao, hơn là theo đuổi chiến tranh quy ước và chính diện với Việt nam. Do sự khuyến cáo này, t́nh trạng phân biệt người mới người cũ ở các hợp tác được nới lỏng, Sihanouk bớt bị cô lập, một số trí thức đă bị gửi đi lao động sản xuất được gọi về Phnom Penh, ba nhà báo Tây Phương được mời đến Campuchia để quan sát “thành quả cách mạng”, và Ieng Sary lên đường di New York mở cuộc tấn công ngoại giao.
    Thời gian đó, Việt nam dự định sẽ kư hiệp ước liên minh với Liên xô vào tháng 11 trước khi tổng tấn công Campuchia vào tháng 12. Nhưng trước khi kư hiệp ước với Liên xô, Việt nam muốn trấn an các nước Đông Nam Á và cố gắng thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa kỳ. Vào tháng 9-1978, Phạm Văn Đồng lên đường đi thăm Thái lan, Malaysia và Singapore. Chuyến đi được sắp xếp vội vă để chặn đầu chuyến đi của Đặng Tiểu B́nh được dự trù vào tháng 11.
    Tại Malaysia, Phạm Văn Đồng đă làm ngạc nhiên nhiều người khi đến đặt ṿng hoa tại đài chiến sĩ trận vong, tưởng niệm những binh sĩ đă chết trong cuộc chiến tranh tiêu diệt Mă Cộng. Ông cũng xin lỗi về lỗi lầm đă ủng hộ loạn quân trước kia. Tại Thái lan, Phạm Văn Đồng công khai hứa là sẽ không giúp đỡ đảng cộng sản Thái, và muốn kư một thoả ước thân hữu với các nước ASEAN. Đề nghị này bị từ khước. Hai tháng sau, chuyện b́nh thường hoá bang giao với Hoa kỳ cũng bị băi bỏ.
    Tuy biết rằng hiệp ước liên minh với Liên xô sẽ gây chấn động và bất lợi cả về kinh tế, chính trị, ngoại giao, nhưng v́ ngày phát động tấn công Campuchia sắp tới, Việt nam không c̣n có thể chờ đợi được nữa. Ngày 1 tháng 11-1978, phái đoàn Đảng và chính phủ của Việt nam do Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng dẫn đầu đáp chuyến máy bay đặc biệt của Liên xô sang Moscow. Tại đây, Brezhnev cùng phân nửa Uỷ viên Bộ Chính trị Cộng đảng Liên xô ra tận phi trường tiếp đón. Hai ngày sau, hiệp ước được kư kết. Điều 6 của hiệp ước có viết “Nếu bên nào bị tấn công hay bị đe doạ tấn công, hai bên kư tên sẽ lập tức thảo luận và t́m cách loại bỏ mối đe doạ và sẽ dùng những biện pháp thích hợp và hữu hiệu để bảo đảm hoà b́nh cũng như an ninh hai nước”. Những biện pháp thích hợp đó bao gồm ngoài việc viện trợ quân sự ồ ạt cho Việt nam, là việc hải quân và không quân Liên xô có thể sử dụng những căn cứ quân sự ở Việt nam. Trong buổi tiếp tân ăn mừng thoả hiệp, Lê Duẩn tuyên bố là Việt nam lấy làm vinh dự được nhận lănh “nhiệm vụ quốc gia thiêng liêng và nghĩa vụ quốc tế cao cả”.
    Trước khi lên máy bay về nước ngày 9-11-1978, Lê Duẩn đă khom lưng cúi đầu chào các lănh tụ Liên xô hai lần để bày tỏ ḷng “biết ơn sâu sắc”.
    Hiệp ước hữu nghị Việt Xô kể trên là một món quà bất ngờ cho Đặng Tiểu B́nh khi ông ta đi thăm các nước ASEAN. Sau khi Việt nam đứng hẳn về phía Liên xô, các nước này cảm thấy cần phải gần gũi hơn với Trung hoa. Tuy lời tuyên bố không giúp cộng sản Thái của Phạm Văn Đồng đă đặt Đặng Tiểu B́nh vào một địa vị khó xử, v́ Trung hoa đă và đang tài trợ đảng cộng sản Thái, nhưng ông ta đối phó lại bằng cách tấn công, nói rằng ông sẽ không nói dối như Phạm Văn Đồng, và công nhận Trung hoa trên nguyên tắc có nghĩa vụ giúp đỡ tinh thần cho các đảng cộng sản khác. Tuy nhiên, khi tiếp kiến riêng với Thủ tướng Thái Kriangsak, ông ta hứa sẽ chấm dứt viện trợ đảng cộng sản Thái. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu B́nh cũng không giấu giếm ư định dùng biện pháp quân sự để đối phó với Việt nam.
    Sau khi Đặng Tiểu B́nh trở về, Bộ Chính trị Trung ương Đảng cộng sản Trung hoa họp hơn một tháng ở Bắc kinh. Sau những buổi họp, những người thuộc phe Đặng Tiểu B́nh như Đặng Dĩnh Châu được cử vào Bộ Chính trị, Triệu Tử Dương được bầu làm Tổng bí thư. Những người thuộc phe Hoa Quốc Phong như Uông Đông Hưng, Trần Hồng Quư, Vũ Đệ bị loại. Đặng Tiểu B́nh thực sự nắm hết quyền hành ở Trung hoa. Bộ Chính trị chấp thuận hết những đề nghị của ông về việc áp dụng một chính sách kinh tế cởi mở và lập trường mềm dẻo hơn trong vấn đề Đài loan ngơ hầu dễ dàng thiết lập bang giao với Hoa kỳ. Bộ Chính trị cũng chấp thuận luôn đường lối “bốn hiện đại” và sau cùng, là việc mở một cuộc hành quân xâm lấn giới hạn vào lănh thổ Việt nam.
    Tài liệu tham khảo:
    - When the war was over, Elizabeth Becker, nhà xuất bản Schuster, Inc, New York
    - Brother Ennemy, Nayan Chanda, nhà xuất bản MacMilan Publishing Company New York
    - The Vietnam-Campuchea conflict, Foreign Languages Publishing House, Hà nội.
    - Chinese aggression against Vietnam, Vietnam Courier, Hanoi.

  10. #10
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Chiến tranh Đông Dương III
    Tác giả: Hoàng Dung

    Chương 9
    Biên giới tây nam 1978-1979, trận chiến quyết định


    Sau trận tấn công của quân Việt nam vào sâu trong nội địa Campuchia cuối năm 1977, Campuchia cắt đứt quan hệ ngoại giao giữa hai nước, công khai hoá sự tranh chấp và tăng cường quân đội ở biên giới. Bị tố cáo là xâm lược, quân Việt nam phải rút về nước ngày 6-1-1978. Những sư đoàn 703, 301... của Campuchia từ các quân khu Tây Nam và Trung ương mới đến tăng cường bắt đầu cuộc thanh trừng nội bộ quân khu Đông. V́ thế, t́nh h́nh chiến sự ở vùng biên giới Tây Ninh tương đối lắng dịu một thời gian.
    Tuy nhiên, ở biên giới cực nam, ngay từ đầu tháng 1, các đơn vị thuộc sư đoàn 2 và 210 của quân khu Tây Nam đă tấn công và chiếm đóng các xă Phú Cường, Khánh An, Khánh Hoà, Khánh B́nh và các quận lỵ Hồng Ngự, Hà Tiên thuộc lănh thổ quân khu IX Việt nam.
    Pḥng thủ biên giới quân khu IX là những dợn vị cơ hữu của quân khu, gồm các sư đoàn 4, 8, và 330, cùng những trung đoàn chủ lực tỉnh Hậu Giang, Đồng Tháp. Tư lệnh quân khu lúc đầu là Lê Đức Anh, tư lệnh phó Trần Nghiêm. Sau khi Lê Đức Anh thay Trần Văn Trà, Trần Nghiêm lên làm tư lệnh quân khu IX. Trong lúc đó mặt trận ở quân khu VII đang yên tĩnh, nên sư đoàn chính quy 341 do Vũ Cao tư lệnh đang ở Tây Ninh được điều động đến tăng phái cho quân khu. Với lực lượng này, và nhờ sự yểm trợ của không quân, pháo binh, thiết giáp, trực thăng vơ trang..., sau hai tháng hành quân, quân khu IX đă tái chiếm được những lănh thổ đă mất. Sư đoàn 341 trở lại nằm trong đội h́nh quân đoàn 4, trấn đóng phía tây và tây nam Tây Ninh. Trong mấy tháng đó, ở phía bên kia biên giới, cuộc thanh trừng nội bộ ở quân khu Đông ngày càng trở nên gay gắt.
    Ngày 24-5-1978, quân đội của Ke Pauk thuộc quân khu Trung ương kéo đến bao vây tổng hành dinh của quân khu Đông tại Suông, bắt giam hết những sĩ quan chỉ huy. Một số đơn vị của sư đoàn 4 trốn thoát vào rừng và nhiều cuộc chạm súng đă xảy ra giữa những toán quân này và quân Trung ương. Trong số những lực lượng đồn trú tại quân khu Đông, sau cuộc thanh trừng, sư đoàn 4 coi như biến mất, các sư đoàn 3, 5, 280 bị suy yếu hẳn. Lợi dụng t́nh thế, giữa năm 1978, quân đội Việt nam được lệnh mở một cuộc hành quân mới tiến sâu vào lănh thổ Campuchia để “mở rộng địa bàn, mở rộng hành lang liên kết với các lực lượng nổi dậy ở nhiều nơi, giúp đỡ lực lượng nổi dậy tạo thế và lực...” và quân đoàn 4 được lệnh “tiêu diệt sư đoàn 290, kiềm chế sư đoàn 3, phát triển đánh sư đoàn 703 ở Kompong Trách, mở rộng hành lang giúp lực lượng bạn nổi dậy”.
    Ngày 15-6-1978, chiến dịch bắt đầu. Các sư đoàn 7, 9, 341 cùng các đơn vị yểm trợ lại tràn qua biên giới, chiếm một giải đất sâu vào trong nội địa Campuchia từ 10 đến 40 cây số, trong đó có quận lỵ Prasaut. Lúc đó là mùa mưa, Campuchia tăng cường thêm nhiều sư đoàn từ các quân khu khác đến để phản công. Từ Prasaut, quân Việt nam phải lùi về Chipru, và tới tháng 8, v́ quân số hao hụt nghiêm trọng, Việt nam phải điều động thêm sư đoàn 2 từ quân khu V đến tăng cường cho quân đoàn 4.
    Mùa mưa năm đó, trời bị lụt lội, hai bên giữ nguyên t́nh trạng dằng dai cho đến tháng 11. Trong mấy tháng đó, quân Việt nam đă giải thoát thêm cho một số binh lính và dân chúng của quân khu Đông đang trốn tránh, tăng cường cho một mặt trận giải phóng bù nh́n mà Việt nam mới thành lập
    Cuối mùa mưa 1978, tại mặt trận phía bắc Tây Ninh, do Bộ tư lệnh quân khu VII phụ trách, sư đoàn 303 cơ hữu quân khu đang đồn trú ở Phước Long được đưa lên phối hợp với sư đoàn 5 và sư đoàn 302 để sửa soạn chiếm đóng thị xă Snoul, nơi Việt nam dự định dùng làm địa điểm cho lễ ra mắt của “Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia”. Snoul là một thị xă nằm trên ngă tư của quốc lộ 13 và quốc lộ 7, trước kia đă là một mật khu an toàn của Việt nam. Pḥng thủ Snoul là sư đoàn 260 Campuchia.
    Chiến dịch này bắt đầu ngày 13-11-1978. V́ lơ là trong những ngày đầu, trung đoàn 316 cùng trung đoàn 55 thuộc sư đoàn 303 Việt nam bị tổn thất nặng, nhưng nhờ ở quân số và hoả lực mạnh hơn, sau đó Việt nam cũng chiếm được Snoul, cùng với một đoạn đường của quốc lộ 7 trên đường đi tới Mimot. Chiếm được Snoul, Việt nam đưa sư đoàn 476 công binh đến khai quang một khoảng đất rộng trong vùng rừng núi gần đó, thiết lập khán đài, sửa soạn cho lễ ra mắt Mặt trận giải phóng Campuchia do Việt nam đỡ đầu.
    Sáng ngày 2-12-1978, một đoàn xe vận tải chở khoảng hơn một ngàn dân tị nạn Campuchia tới địa điểm hành lễ để hoan hô và giăng biểu ngữ. Nơi đây, ba tiểu đoàn binh lính Campuchia thuộc lữ đoàn 778, đơn vị quân sự gồm toàn người Campuchia do Việt nam thành lập, đă đứng xếp hàng dàn chào. Xung quanh đó, bộ đội Việt nam, gồm có cả xe tăng và súng pḥng không được bố trí bảo vệ. Buổi lễ được đặt dưới quyền giám sát của Lê Đức Thọ. Mười bốn Uỷ viên của Mặt trận dân tộc cứu nước Campuchia được giới thiệu, và Hiêng Samrin được cử làm Chủ tịch Mặt trận, kiêm nhiệm tư lệnh lữ đoàn 778.
    Từ cuối tháng 11, khi mùa mưa chưa chấm dứt hẳn, sau khi đă kư hiệp ước thân hữu với Thái lan, Campuchia dồn 19 trong 23 sư đoàn cơ hứa ra biên giới phía đông, liên tiếp phản công và tái chiếm những vị trí đă mất dọc biên giới Tây Ninh, đồng thời cũng pháo kích và tấn công nhiều vị trí suốt từ Đức Cơ (Pleiku) tới Hà Tiên (An Giang). Quân Việt nam, bề mặt chỉ phản ứng một cách thụ động, nhưng bên trong, âm thầm chuẩn bị một cuộc tổng tấn công quyết định. Lương thực, đạn dược được ngày đêm chở đến biên giới. Quân đoàn 3 Tây Nguyên được tăng cường ở Pleiku, Ban mê Thuộc. Quân đoàn 2 Hương Giang từ Lào và quân khu IV được đưa xuống An Giang và Kiên Giang. V́ thiếu cơ phận thay thế, các phi cơ cũ A37 và F5 của không quân quân đội cộng hoà bỏ lại không được dùng đến nữa. Thay vào đó là những phi cơ MiG 21, trực thăng vơ trang MI 24 do Liên xô mới viện trợ được đưa từ Hà nội và Đà Nẵng vào. Bộ đội được học tập để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lăng và chiếm đóng, gồm có những bài học phương pháp giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, “Chín điều quy định đối với lực lượng vơ trang chiến đấu tại biên giới Tây Nam”, “Công tác địch vận”, và “Sáu điều kỷ luật về công tác dân vận quốc tế”.
    Bộ máy chính trị và tuyên truyền của Việt nam lại nỗ lực hoạt động, lần này không phải chống đế quốc Mỹ, mà là chống “bọn bá quyền phản động Trung quốc và bè lũ Pol Pot, Ieng Sary”. Về sau, bị cô lập về ngoại giao, họ lại thêm “đế quốc Mỹ”, “bọn quân phiệt Thái lan” và “những thế lực phản động quốc tế” (là những nước đă lên án hành vi xâm lược của Việt nam) vào danh sách những kẻ thù để cho cán binh học tập. Cuối tháng 12-1978, quân đội Việt nam đă sẵn sàng.
    Tuy Việt nam quyết định sẽ mở một cuộc tấn công quy mô trên toàn tuyến biên giới vào những ngày cuối năm, nhưng ngày giờ xuất phát từ Pleiku, Ban Mê Thuộc, Tây Ninh hay Hà Tiên không xảy ra đồng thời, và cho đến nay, ngoài Bộ chỉ huy đầu năo của Việt nam hay Bộ tổng tham mưu quân đội, không ai biết chắc về mục tiêu ban đầu của cuộc tổng tấn công. Có lẽ mới đầu Việt nam chỉ muốn chiếm đóng phần đất phía đông sông Cửu Long, cố gắng giải thoát Sihanouk, đặt ông này vào chức vụ Chủ tịch Mặt trận để lănh đạo cuộc chiến tranh lật đổ Pol Pot.
    V́ thế, ngày 2-1-1979, một toán đặc công vượt sông Cửu Long đến Phnom Penh định bắt cóc Sihanouk. Toán đặc công này bị phát giác và tiêu diệt. Ngoài ra, sau khi đă chiếm được hết lănh thổ phía đông sông Cửu Long của Campuchia ngày 4-1-1979, đà tấn công của quân Việt nam đă lơi đi trong nhiều tiếng đồng hồ, có lẽ để chờ đợi lệnh từ Hà nội. Một Uỷ viên trong Ban thường vụ Mặt trận giải phóng Campuchia là Chia Soth đă tiết lộ với tác giả Stephen Haden năm 1981 “Chúng tôi chỉ định chiếm phân nửa lănh thổ bên này sông Cửa Long, c̣n nửa bên kia để lại cho Pol Pot”. Một Uỷ viên khác, Hùng Sa min cũng tiết lộ: “Nhưng rồi khi chúng tôi tấn công và truy kích, thấy dễ dàng quá, chúng tôi cứ tiến măi”.
    Tuy ở trong một t́nh thế kinh tế, chính trị và ngoại giao khó khăn, Việt nam tin tưởng vào khả năng quân sự và tuyên truyền của ḿnh nên quyết định cuộc hành quân phải thần tốc để đặt dư luận thế giới vào một sự kiện đă rồi. V́ thế, họ đă huy động một quân số lên tới gần hai trăm ngàn quân, sử dụng hết ba trong bốn quân đoàn chính quy, và một lực lượng yểm trợ hùng hậu gồm đủ hải quân, không quân, thiết giáp, tên lửa... Lê Đức Thọ giám sát tổng quát cuộc hành quân. Lê Trọng Tấn được triệu hồi về Hà nội, có lẽ để giúp tổ chức pḥng thủ biên giới phía Bắc. Lê Đức Anh được cử làm tư lệnh chiến dịch hay c̣n gọi là tư lệnh đội quân “t́nh nguyện”. Tuy cuộc tấn công chính thức bắt đầu vào đúng 12 giờ khua đêm Giáng Sinh năm 1978 khi Chu Huy Mân, Tổng Cục trưởng Tổng cục Chính trị bắn phát súng xuất quân tại Ban Mê Thuộc, nhưng trên thực tế trận đánh đă mở màn từ ngày hôm trước, khi sư đoàn 2 cùng trung đoàn chủ lực tỉnh Tây Ninh mở cuộc tấn công cố gắng đánh bật các trung đoàn 23 thuộc sư đoàn 304 và trung đoàn 13, sư đoàn 221 của Campuchia ra khỏi các vị trí dọc theo tỉnh lộ 13 sát biên giới.
    Theo như kế hoạch, quân Việt nam tràn qua Campuchia bằng nhiều hướng. Trên vùng biên giới cao nguyên, các đơn vị của quân khu V, và quân đoàn 3 Tây Nguyên do tướng Kim Tuấn chỉ huy đánh dọc theo quốc lộ 19 và 14 tiến chiếm Stung Treng và lănh thổ đông bắc Campuchia. Kim Tuấn đă từng là tư lệnh sư đoàn 320 B năm 1975. Quân đoàn 3 gồm các sư đoàn 10, 320, 31... đă có thể được các đơn vị Việt nam trú đóng bên Lào giúp đỡ.
    Ngày 3-1-1979, quân Việt nam chiếm được Stung Treng. Mũi lấn công thứ hai xuất phát từ mặt bắc tỉnh Tây Ninh, gồm những sư đoàn cơ hữu của quân khu VII như sư đoàn 303, 302, 5, được tăng cường thêm một số đơn vị của quân đoàn 3 như lữ đoàn 12 thiết giáp, những trung đoàn chủ lực các tinh Tây Ninh Long An, Sông Bé, các trung đoàn 262 pháo binh, trung đoàn 26 thiết giáp, tiến quân dọc theo quốc lộ 13 và quốc lộ 7 tiến đánh Kratié và Kompong Cham. Hướng tấn công thứ ba là hướng tấn công chủ yếu do các sư đoàn 2, 7, 9, 341 của quân đoàn 4 cùng lữ đoàn 22 thiết giáp, lữ đoàn 24 pháo binh, lữ đoàn 25 công binh, xuất phát từ hướng tây và tây nam Tây Ninh, sau khi đă tái chiếm những vị trị trên tỉnh lộ 13, tiến dọc theo trục quốc lộ 1 về hướng tây, nhắm đánh bến phà chiến lược Neak Luong. Hướng tấn công này được coi như chủ yếu v́ là con đường gần nhất đi tới Phnom Penh, và những sư đoàn trận đóng khu này được coi như những sư đoàn thiện chiến nhất của quân đội Campuchia.
    Hướng tấn công thứ tư, ở phía nam, từ An Giang, Hà Tiên, được giao cho những lực lượng của quân khu IX và quân đoàn 2 hay binh đoàn Hương Giang mới được tăng phái từ quân khu IV. Binh đoàn này, do Nguyễn Hữu An tư lệnh, Lê Linh chính uỷ, gồm những sư đoàn chính quy 304, 306 và 325, nhưng sư đoàn 306 được giữ lại làm “nghĩa vụ quốc tế” bên Lào, cho nên binh đoàn được tăng cường thêm sư đoàn 8 của quân khu IX.
    Cũng như tại mặt trận Tây Ninh, tại An Giang, quân Việt nam cũng chia quân tấn công hai hướng. Hướng thứ nhất do các sư đoàn 4, 330 cơ hữu của quân khu IX cùng các trung đoàn chủ lực các tỉnh An Giang Đồng Tháp... phụ trách, theo quốc lộ số 2 tiến về hướng bắc đánh về Phnom Penh. Hướng thứ hai gồm sư đoàn 32 và sư đoàn 8 tiến theo duyên hải về hướng tây đánh chiếm hải cảng Kompong Som, sư đoàn 304 được dùng làm trừ bị, cố thể được dùng tăng cường trong trường hợp quân đoàn 4 tấn công Phnom Penh gặp khó khăn.
    Sau ba ngày tấn công, tại hướng chủ yếu Tây Ninh, quân đoàn 4 với sự yểm trợ hùng hậu của không quân, trực thăng vơ trang, pháo binh, hải quân, thiết giáp... quân Việt nam đánh bật được quân Campuchia ra khỏi các vị trí Năm Căn, Hoà Hội dọc theo tỉnh lộ 13, và các đơn vị của các sư đoàn 703, 340, 221 của Campuchia phải rút về thành lập một tuyến pḥng thủ mới tại Svayrieng. Nhưng sau khi bị đánh thua ở Tây Ninh, quân Campuchia đă bị mất tinh thần. Hơn nữa, khi phải chấp nhận một trận đánh quy ước với một địch thủ mà hoả lực, quân số và kinh nghiệm chiến trường trội hơn quá nhiều, quân Campuchia bị tan ră nhanh chóng, tuyến pḥng thủ Svayrieng bị vỡ ngày 2-1-1979, và quân Campuchia lại phải rút về Preyveng và Neak Luong.
    Quân Việt nam ráo riết truy kích bằng ba cánh quân. Sư đoàn 7 và sư đoàn 2 làm nỗ lực chính di chuyển theo quốc lộ 1 sư đoàn 9 tiến song song bảo vệ sườn phía nam, và sư đoàn 341 bảo vệ sườn phía bắc. Tới ngày 6-1-1979, những đơn vị đầu tiên của sư đoàn 7 chiếm được bờ phía đông của bến phà Neak Luong. Quân Campuchia trong khi rút lui vội vă đă không kịp thiết lập công sự pḥng thủ. Đêm hôm đó, cách bến phà khoảng hai cây số về phía nam, trung đoàn 113 cùng trung đoàn 14 của sư đoàn 7 được tàu đổ bộ đưa sang bên kia sông, và tiến chiếm luôn bờ phía tây của bến phà.
    Sáng sớm hôm sau, ngày 7-1-1979, toàn bộ đội h́nh quân đoàn 4 rầm rộ vượt sông. Do sự tan ră nhanh chóng của lực lượng pḥng thủ biên giới và ước tính chủ quan của Pol Pot, con đường từ Neak Luong về Phnom Penh dài hơn năm chục cây số thênh thênh mở rộng, không có một lực lượng chống đối nào đáng kể. Quân Việt nam, với xe tăng mở đường, ào ạt tiến về Phnom Penh bằng xe vận tải.
    Tới 11 giờ sáng ngày 7-1-1979 th́ đơn vị đầu tiên của Việt nam vào đến Phnom Penh, lúc đó đă là một thành phố bỏ ngỏ. Những người duy nhất c̣n ở lại là Đại sứ Lào Kham pha Vilachit với vài ba nhân viên sứ quán. Tại hướng tây bắc Tây Ninh quân Việt nam phát xuất từ những vị trí đă chiếm đóng từ tháng 11-1978 ở Snoul và Mimot bắt đầu tấn công ngày 30-12-1978. Sư đoàn 5 và sư đoàn 303 tiến dọc theo quốc lộ 13 tiến về hướng bắc tấn công Kratié do sư đoàn 260 và 2 trung đoàn địa phương của đặc khu 505 pḥng thủ. Trong cuộc tiến quân, hai tiểu đoàn 1 và 2 trung đoàn 316 sư đoàn 303 bị tập kích bất ngờ nên bị tiêu diệt. Trung đoàn này, cũng như trung đoàn 33, sau một tháng hành quân, quân số hao hụt mất một nửa. Tuy thế, nhờ lối đánh thí quân, bất chấp tổn thất, ba ngày sau quân Việt nam cũng chiếm được Kratié. Lúc đó, sư đoàn 302 tiến về phía tây đă chiếm được Kompong Cham. Sau đó, hai sư đoàn 302 và 303 cùng quay lại đánh chiếm thị xă Chhlong do sư đoàn 603 Campuchia chống giữ. Ngày 4-1-1979, họ chiếm được Chơlong. Kể từ lúc đó, toàn bộ lănh thổ Campuchia ở phía đông sông Cừu Long coi như bị mất.
    Tại mặt trận phía nam, quân Việt nam chỉ bắt đầu vượt biên giới vào ngày 3-1-1979, và từ An Giang, họ tấn công làm hai hướng. Sư đoàn 325 và sư đoàn 8 tiến về phía tây, dọc theo quốc lộ số 2. Ngày 9-1-1979 sau khi đánh tan được sư đoàn 230 Campuchia, họ chiếm được Kampot. Ngày hôm sau, với sự trợ lực của hải quân, cánh quân này chiếm được quân cảng Ram và hải cảng Kompong Som. Tuy nhiên, có lẽ v́ không chuẩn bị kịp về tiếp liệu, quân Campuchia đă có thể phản công chiếm lại Kompong Som ngày 14.1 để rồi quân Việt nam lại tái chiếm vào ngày hôm sau. Hướng thứ hai, do quân khu IX phụ trách, tiến về phía bắc đánh chiếm hai thị xă Tan và Takeo. Các sư đoàn Campuchia trấn giữ quân khu Tây Nam như sư đoàn 2, 210, 230, 250, bị tan ră và rút lui vào rừng.
    Tại phía bắc, các sư đoàn của quân đoàn 3 cũng tiến xuống Phnom Penh, sau đó sư đoàn 320 theo quốc lộ 4 xuống b́nh định các tỉnh phía nam. Các sư đoàn c̣n lại theo các quốc lộ 5 và 6 tiến về hướng tây và hướng bắc. Họ gặp sức chống cự đáng kể của quân Campuchia tại Battambang và Siem Reap. Cho tới cuối tháng 3, quân đội Việt nam coi như chiếm được hết những thành phố và tỉnh lỵ quan trọng của Campuchia.
    Sự thất thủ Phnom Penh ngày 7-1-1979 đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền Pol Pot. Quân Việt nam đă không ngừng lại ở Phnom Penh và họ đă nhanh chóng tiến quân về phía tây. Trên đường tiến quân, họ bỏ qua những ổ kháng cự nhỏ của quân Khmer Đỏ. Chỉ trong hai tuần sau, quân Việt nam đă tiến sát tới biên giới Thái lan và chiếm đóng hết những thị xă lớn và những tỉnh lỵ quan trọng của Campuchia. Dù cho lực lượng hai bên có chênh lệch ngay từ đầu, sự sụp đổ nhanh chóng của quân đội Campuchia đă làm ngạc nhiên nhiều người, kể cả những cấp lănh đạo chính trị và quân sự Việt nam. V́ thế mà họ đă không chuẩn bị kịp việc tiếp vận cho một địa bàn quân sự quá lớn. Nhiều xe tăng đă bị bỏ lại và bắn cháy trên đường tiến quân về hướng tây chỉ v́ hết xăng giữa đường. Chiến thắng này cũng bất ngờ với 66 đại biểu Campuchia được Việt nam triệu tập đang họp ở Mimot ngày 5-1-1979 để bàn về việc thành lập một đảng cộng sản Campuchia mới. Đảng này lấy lại danh xưng Đảng Nhân dân cách mạng có từ thời 1951. Pen Sovan, một cán bộ Campuchia tập kết về Hà nội năm 1954, đang mang quân hàm thiếu tá trong quân đội Việt nam, được đề cử giữ chức chủ tịch đảng. Những Uỷ viên thường vụ của đảng gồm Hun Sen, Bou Thang, Chan Kiri, Heng Samrin và Chia Soth.
    Ngày 8-1-1979, đài phát thanh Phnom Penh loan báo Phnom Penh đă được giải phóng bởi những lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia. Một Hội đồng cách mạng được thành lập do Heng Samrin làm chủ tịch. Khoảng mười ngày sau, Hội đồng này kư một hiệp ước với Việt nam, hợp thức hoá sự hiện diện của quân đội nước này trên đất Campuchia.
    Đạt được chiến thắng quân sự, nhưng Việt nam bị thất bại về ngoại giao. Mười năm sau, dù đă bằng ḷng rút quân khỏi Campuchia, Việt nam vẫn là một quốc gia về ngoại giao lẻ loi nhất thế giới. Chính quyền Heng Samrin, dù không tàn ác như Pol Pot, nhưng là một chính quyền bù nh́n, không được thế giới công nhận. Hai ngày trước khi Phnom Penh thất thủ, sau khi mất phần đất phía đông sông Cửu Long, do lời khuyên của Trung hoa, Pol Pot mời Sihanouk đang bị giam lỏng đến và nhờ ông đại diện Campuchia tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc để tố cáo và lên án hành động xâm lăng của Việt nam. Ngày hôm sau, 6-1-1979, Sihanouk đáp chuyến máy bay Boeing 707 của Cục hàng không dân dụng Trung hoa cùng các nhân viên của hai toà đại sứ Trung hoa và Nam Tư di tản sang Bangkok. V́ thiếu chỗ, hai viên đại sứ đă phải nhường chỗ cho nhân viên rồi tự ḿnh đi Battambang bằng đường bộ.
    Sáng ngày 7-1-1979, tin về quân đội Việt nam đang vượt bến phà Neak Long gây rối loạn trong thành phố Phnom Penh. Toàn thể dân cư Phnom Penh, gồm toàn viên chức, cán bộ hay binh lính chỉ kịp rời thành phố bằng xe hơi hay xe lửa chạy về hướng tây khoảng một giờ đồng hồ, trước khi quân Việt nam kéo đến. Ieng Sary cũng ở trong đám người này. C̣n Pol Pot, Ngon Chia, Khiêu Sam phan, Son Sen trốn vào mật khu. Bốn ngày sau, Ieng Sary mới tới biên giới Thái lan. Tại đây, Ieng Sary lên một máy bay của không quân Thái bay tời Bangkok, và từ đó, sang Bắc kinh.
    Trong cuộc tiếp xúc với Ieng Sary ở Bắc kinh ngày 13-1-1979, Đặng Tiểu B́nh không giấu được giận dữ. Ông ta trách cứ Khmer Đỏ đă đẩy chiến dịch thanh lọc hàng ngũ đi quá trớn. Ông cũng nhắc lại thí dụ cộng sản Trung hoa đă hợp tác với Quốc dân đảng trong chiến tranh kháng Nhật, và khuyến cáo Khmer Đỏ phải trọng dụng Sihanouk, tạm thời che giấu bản chất cộng sản, bắt đầu đề cao ḷng ái quốc và chủ nghĩa quốc gia.
    Campuchia bị mất, Thái lan trở nên một địa bàn chiến lược quan trọng để Trung hoa có thể giúp đỡ cho Khmer Đỏ tiếp tục chiến đấu. Ngay sau khi họp xong với Ieng Sary, Đặng Tiểu B́nh bí mật cử Gừng Giao, Uỷ viên Bộ Chính trị, cùng Thứ trưởng ngoại giao Hàn Niệm Long sang Bangkok hội đàm với Thủ tướng Thái Kriangsak tại căn cứ không quân Utapao. Sau khi Việt nam liên minh với Liên xô và xâm lăng Campuchia, Thái lan không c̣n giữ thái độ trung lập được nữa, Kriangsak đồng ư để Trung hoa dùng lănh thổ Thái lan tiếp tế cho Khmer Đỏ.
    Trong khi đó, tại New York, sau gần mười năm vắng bóng trên chính trường; ông hoàng Sihanouk tái xuất hiện, đại diện Campuchia đọc diễn văn trước Đại hội đồng Liên hiệp quốc. Trong một bài diễn văn cảm động, ông lên án cả hành động xâm lăng của Việt nam lẫn chế độ bạo tàn Pol Pot. Ông yêu cầu Đại hội đồng ra nghị quyết buộc Việt nam phải rút quân khỏi Campuchia. Dù được đại đa số đại biểu tán thành, nghị quyết này bị Liên xô phủ quyết. Sau khi dự Đại hội đồng, Sihanouk bí mật rời khách sạn, đến gặp đại sứ Hoa kỳ tại Liên hiệp quốc Andrew Young, yêu cầu được tỵ nạn chính trị.
    Yêu cầu của Sihanouk đă gây ít nhiều khó khăn cho Hoa kỳ, v́ Hoa kỳ mới thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung hoa được có hai tuần và Đặng Tiểu B́nh sắp sang thăm thân hữu Hoa kỳ. Do đó, Hoa kỳ tỏ vẻ ngần ngại. Trong khi đó, Pháp bằng ḷng để Sihanouk định cư, nhưng lại cấm ông ta hoạt động chính trị. Người giúp giải quyết vấn đề tế nhị đó là Đặng Tiểu B́nh. Ông ta thuyết phục Sihanouk là Trung hoa luôn luôn là bạn tốt của Sihanouk, và sẽ cảm thấy mất mặt nếu Sihanouk không chịu qua sống ở Trung hoa. Ông bảo đảm với Sihanouk quyền tự do đi lại, và hứa áp lực với Khmer Đỏ để hỏi thăm tin tức về những người con mất tích của ông. Cuối cùng Sihanouk đồng ư.
    Trở lại chiến trường Campuchia, v́ quân Việt nam tiến chiếm toàn lănh thổ Campuchia quá nhanh chóng, nên quân Campuchia chỉ bị tan ră chứ chưa bị tiêu diệt hẳn. Nhiều đơn vị đă tập trung lại thành những đơn vị nhỏ, tiếp tục đánh du kích và quấy phá.
    Sau khi quân đoàn 4 chiếm được Phnom Penh, các đơn vị của quân đoàn 3, quân khu V và quân khu VII cũng vượt sông Cửu Long tiến chiếm và b́nh định lănh thổ phía bắc Biển Hồ và sông Tonlé Sạp. Quân Khmer Đỏ đă cố gắng kháng cự gần lỉnh Battambang nhưng cũng chỉ có thể làm chậm đà tiến quân của Việt nam vài ngày. Họ đă phân tán thành nhiều đơn vị nhỏ tiếp tục đánh du kích. Tướng Kim Tuấn, tư lệnh quân đoàn 3 đă bị những nhóm du kích này bắn cháy trong thiết vận xa, Nguyễn Quốc Thước được cử lên thay. Quân đoàn 2 và các sư đoàn quân khu IX sau khi chiếm được vùng duyên hải cũng tiến dọc theo quốc lộ 4 về hướng bắc. Mấy ngày sau khi Trung hoa tiến đánh biên giới Việt Hoa, quân đoàn 2 rút về bảo vệ Hà nội. Việt nam bắt đầu tổng động viên, một số các trung đoàn độc lập được tăng cường và đôn lên thành cấp sư đoàn, như các trung đoàn Gia Định 1 và 2, Quyết Thắng 1 và 2, trở thành các sư đoàn 3 1 7, 3 1 8, để gửi sang tăng cường mặt trận Campuchia. Trách nhiệm chính trong công tác hành quân vẫn là các đơn vị của quân đoàn 4. Một phần v́ đa số cán bộ cũng như binh sĩ những đơn vị này đă quen thuộc với địa thế chiến trường Campuchia từ thời chiến tranh Đông dương 2. Phần khác v́ những vị trí và mật khu quan trọng của Khmer Đỏ đều nằm trong vùng trách nhiệm của quân đoàn 4 và các đơn vị quân khu VII.
    Trận đánh quan trọng đầu tiên trong chiến dịch b́nh định diễn ra tại Kompong Speu, nằm trên quốc lộ 4 nối hải cảng Kompong Sọm với Phnom Penh, cách Phnom Penh khoảng 50 cây số Thị xă này, sau khi quân Campuchia di tản vội vă, đă do trung đoàn 10 thuộc sư đoàn 339 của Việt nam chiếm đóng. Nhưng ít ngày sau, các lực lượng c̣n lại của các sư đoàn 703, 340, 221 từ tuyến pḥng thủ Svayrieng chạy về đă tập trung lại được và dự định tái chiếm thị xă. Được tin, bộ tư lệnh quân đoàn 4 điều động sư đoàn 341 đến tăng cường. Trận đánh bắt đầu ngày 21.1 đến ngày 7.2 mới kết thúc. Dù bị tổn thất nặng, quân Việt nam vẫn giữ được Kompong Speu, các lực lượng của 3 sư đoàn Campuchia bị tan ră, chỉ c̣n là những nhóm nhỏ hoặc tiếp tục đánh du kích, hoặc rút về biên giới Thái lan. Giữ vững được Kompong Speu, bảo đảm được giao thông trên quốc lộ 4, quân Việt nam tiến đánh căn cứ Amleng, nơi mà bộ chỉ huy quân sự của Pol Pot từ Phnom Penh rút về trú đóng. Căn cứ này nằm trong một vùng rừng núi hiểm trở, cách Phnom Penh khoảng 100 cây số đường chim bay về phía tây nam. Lực lượng tấn công gồm sư đoàn 2, sư đoàn 7, sư đoàn 9, sư đoàn 341 của quân đoàn 4, được tăng cường thêm sư đoàn 5 của quân khu VII. V́ lực lượng tấn công quá hùng hậu, quân Khmer Đỏ rút lui, bỏ mặc cho căn cứ Amleng bị tràn ngập, nhưng họ t́m đủ cách để gây khó khăn và tổn thất cho quân Việt nam khi họ rút lui khỏi căn cứ bằng đủ mọi phương tiện, hoặc phục kích, bắn tỉa, gài ḿn, đốt rừng...
    Chiếm xong được Amleng, quân Việt nam mở chiến dịch đánh chiếm thị xă Leach. Leach là một thị xă nhỏ nằm gần quốc lộ số 5 là con đường từ Phnom Penh đi B attambang, cách biên giới Thái lan khoảng tám chục cây số. Trước ngày 7-1-1979, Leach được Khmer Đỏ sử dụng làm căn cứ tiếp liệu. Ngay sau khi Phnom Penh thất thủ, khi quân Việt nam chưa có đủ th́ giờ để chiếm đóng hết các vị trí, Khmer Đỏ dự định biến Leach thành một căn cứ phản công. Một phần lớn những lực lượng c̣n lại được tập trung tại đây. Tuy quân số mang tiếng là gồm nhiều sư đoàn (264, 210, 104, 502, 260, 460), nhưng trên thực tế, mỗi sư đoàn chỉ có chưa lới một ngàn binh sĩ. Lực lượng pḥng thủ cũng có vài khẩu pháo 105 ly và vài xe thiết giáp. Để tấn công Leach, quân Việt nam đă sử dụng một lực lượng lớn và tấn công làm bốn hướng: Hướng thứ nhất, do sư đoàn 341 thay thế sư đoàn 330 đă bị hao hụt quân số quá nhiều khi giải toả quốc lộ số 5, đánh chiếm thị xă Pursat để từ đó đánh vào mặt bắc của Leach. Hướng thứ hai do sư đoàn 9 từ căn cứ Amleng mới chiếm được đánh vào phía đông. Hướng thứ ba do quân khu IX phụ trách được tàu đổ bộ chở đến tỉnh Kokong, rồi từ đó, tấn công mặt nam. Hướng thứ tư, do sư đoàn 3 1, quân đoàn 3, từ biên giới Thái lan theo tỉnh lộ 56 đánh ngược về mặt tây của Leach. V́ đây là một trận quyết định, nên trận đánh đă kéo dài trên một tháng. Tất cả các sư đoàn tham chiến đều bị tổn thất nặng. Cuối cùng, v́ hoả lực thua kém, quân sốt, bị hao hụt mà không được bổ xung nên căn cứ Leach của Khmer Đỏ bị sư đoàn 9 chiếm được ngày 29-4-1979. Trận đánh tại căn cứ Leach là trận đánh có quy mô lớn cuối cùng trên đất Campuchia. Sau khi Leach bị mất, các đơn vị c̣n lại của Khmer Đỏ rút về các mật khu ở Pailin và Taxang sát biên giới Thái lan. Một số khác phân tán thành những đơn vị nhỏ tiếp tục đánh du kích. Các đơn vị quân sự của Việt nam bắt đầu phân nhiệm để hành quân b́nh định. Nhiều sư đoàn thiện chiến đă bị hao hụt nặng được rút về nước. Những sư đoàn tân lập được gửi qua tăng cường hay thay thế. Tuy nhiên, v́ ḷng thù hận và mối nghi kỵ lâu đời giữa hai dân tộc, v́ thái độ hống hách của các cán bộ lănh đạo chính trị và quân sự của Việt nam ở Campuchia, với sự giúp đỡ của Trung hoa và sự đồng t́nh làm ngơ của Thái lan, đội quân tan nát của một chính thể tàn bạo như Khmer Đỏ (c̣n khoảng ba chục ngàn quân) vẫn c̣n khả năng quấy phá. Chính quyền Việt nam, dù đang ở trong một t́nh trạng kinh tế tồi tệ, vẫn phải duy tŕ một đạo quân chiếm đóng lên tới khoảng hai trăm ngàn, và cho tới mười năm sau, sau khi quân Việt nam bị áp lực ngoại giao quốc tế và áp lực quốc nội buộc phải rút quân, Khmer Đỏ vẫn c̣n là một lực lượng đáng kể ở Campuchia.
    Đánh đuổi được chính phủ Pol Pot trong một thời gian ngắn có thể coi như một chiến thắng quân sự của Việt nam. Nhưng sau chiến thắng, quân đội chiếm đóng Việt nam đă bị sa lầy, các nhóm nhỏ Khmer Đỏ vẫn tiếp tục phục kích, đặt ơnn, bắn sẻ, pháo kích, đặt chông... gây tổn hại nặng nề cho bộ đội Việt nam cả về nhân mạng lẫn tinh thần chiến đấu. Riêng tại mặt trận biên giới Tây Nam, đă có hơn năm chục ngàn thanh niên Việt hy sinh. Hàng chục ngàn thanh niên khác bị tàn phế. Sự hy sinh ấy được đánh đổi bằng sự sa sút về kinh tế, sự cô lập về ngoại giao và kết quả là mười năm sau, họ cũng phải rút quân khỏi Campuchia.
    Tài liệu tham khảo:
    - Binh đoàn Hương Giang, Sư đoàn Sông Lam, Đoàn Phước Long, Sư đoàn 7, Nhà xuất bản QuẤn đội Nhân dân, Hà nội.
    - Brother Enemy, Nayan Chanda, Mac Millan Publishing Company, New York.
    - Mặt Thật, Thành Tín.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. CHIẾN TRANH và TỘI ÁC: Tội ác chiến tranh VN
    By alamit in forum Ngược Ḍng Lịch Sử
    Replies: 5
    Last Post: 21-11-2012, 12:52 AM
  2. Replies: 509
    Last Post: 06-11-2012, 08:43 AM
  3. Biến Cố 30/4/1975 - Việt Nam sau 35 năm chiến tranh kết thúc
    By TuyetNhiNguyen in forum Ngược Ḍng Lịch Sử
    Replies: 0
    Last Post: 09-03-2012, 07:52 AM
  4. Replies: 0
    Last Post: 05-10-2011, 09:20 AM
  5. Replies: 0
    Last Post: 04-07-2011, 02:11 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •