+ Reply to Thread
Page 225 of 225 FirstFirst ... 125175215221222223224225
Results 2,241 to 2,244 of 2244

Thread: Nghe Chuyện Hà Nội

  1. #2241
    tran truong
    Khách
    Quote Originally Posted by Nguyễn Mạnh Quốc View Post
    ngày 28 - 05 - 2017.. trời nắng đẹp...

    Xin cảm ơn những bài tŕnh bày về Nhân văn giai phẩm.. tiếc nuối cho phong hoá xa xưa..

    Vâng, nmq có chút hoài cổ... hoài cổ v́ một lẽ.. vứt cái cũ dể đổi lấy cái mới.. mà chẳng may cái mới lại tồi tệ.. thảm hại hơn cái cũ vừa mới đạp đổ nó đi..
    Nhắc lại một thời thơ văn Tiền chiến, giai đoạn đầu là từ 1930 trở đo th́ chỉ có ít khởi đầu . Sau khi phong trào đồng Vọng/Hải pḥng với Nguyễn xuân Khoát..Văn Cao..nền văn học, nhất là thi nhạc chưa có ǵ xuất sắc.. cho đến khi về thành 1945.. cái khí thế Cách mạng bùng dậy, làm thức tỉnh dân chúng, tinh thần hồ hởi, nhưng chẳng may cái vui chưa được bao lau lại cảnh tiền hết gạo không !! dân chúng lếch thếch dắt nhau đi tản cư (1946)...
    Mọi người ngở rằng;.. sẽ có phép Thần của lư tưởng Cộng sản sẽ mang lại cơm no áo ấm, sung sướng như thần tiên sau khi bước chân vô tiếp quản Hà nội(10-10-1954.. Cái thời gian kháng chiến thần thánh và đầy những giấc mơ qua đi nhanh chóng, các chàng thanh niên thi sĩ đă ngẩn ngơ..
    ......chỉ thấy mưa sa trên hàng cờ đỏ..... và hứa hẹn thiên đường,,, che đậy cho thoái hoá do độc đảng cầm quyền..

    Phản ánh được t́m ngay trong những vần thơ tiếc nuối của nhiều văn nghệ sĩ.. từ Hoàng Cầm không c̣n ben kia sông Đướng t́m em đang vui chơi trên băi cát phẳng ĺ.. đẻ rồi sau đó ngỏ lời hứa hẹn ;... lá Diêu bông... ai t́m được lá diêu bông;... chị sẽ lấy làm chồng !!
    Phải chăng lá diêu bông chính là sự Tự do dân chủ th́ văn nghệ sĩ sẽ hết ḷng cộng tác ???????
    và kết quả ra sao ?? sau 42 năm trôi qua ....
    chưa t́m được th́ nỗi niềm thương tiếc vẫn c̣n u uất, phía bên này;... trong "Năm cửa ô xưa.-Tạ Tỵ..",... và ngày hôm nay.. ra sao ??
    Không c̣n có lời lẽ nào biện bạch cho thông suốt rồi chăng?? hay là đợi ... nước mắm hư thối... thôi đành ăn X́ dầu cũng xong mà.. có phải không ?? ./. nmq

    Vụ án Nhân Văn Giai Phẩm được post , chỉ với mục đích cho mọi người thấy rằng : Đó là bản án khai tử Trí Thức Việt Nam . Sau vụ án ,Việt Nam chỉ còn loại xu nịnh , tâng bốc phỉ quyền cộng sản ; cụ Phan Khôi đã phải nói VN bây giờ chỉ sản xuất ,đào tạo rặt một loài hoa , đó là hoa cứt lợn !

    Hiện nay trong nước nói đến Nhân Văn Giai Phẩm rất ít người biết đến ! Lê Đạt nói: CS đă giẻ rách hóa con người ! Biến con người thành hèn hạ !

  2. #2242
    Tran Truong
    Khách

    Vụ án Nhân văn giai phẩm hay những nhà văn phản kháng ?

    - TK: Nhiều người cho rằng hồi ấy các anh chủ tương Giai Phẩm Mùa Xuân là do ảnh hưởng t́nh h́nh Liên Xô và Trung Quốc, nhất là từ phong trào Trăm Hoa Đua Nở của Trung Quốc, thưa anh, việc ấy có đúng không?

    - HC: T́nh h́nh thế giới bắt đầu có những biến chuyển về mặt văn học, ở Liên Xô ông Khrouchtchev làm một cuộc chống tệ sùng bái cá nhân, cụ thể là chống những sai lầm của Staline. Ở Trung Quốc có việc chống phái hữu, rồi th́ những ǵ ǵ đó mà chúng tôi không được đọc báo, nhất là việc Trung Quốc, th́ cũng chỉ nghe tin tức chung chung thôi chứ không được theo dơi kỹ lắm.
    Đấy là vào khoảng tháng 5, tháng 6 năm 56, tức là Giai Phẩm chúng tôi ra rồi, ra từ đầu năm cơ. Gần đây, Lê Đạt đi Pháp về, có nói rằng anh ấy có phản đối cái nhầm của ông Boudarel khi viết rằng Nhân Văn chúng tôi chịu ảnh hưởng Trăm Hoa Đua Nở của Trung Quốc. Cái đó ông Boudarel rất nhầm. Bởi v́ chúng tôi đă có ư định cải cách, hoặc canh tân thi pháp, đổi mới thi ca từ đầu năm 1956.

    Lúc bấy giờ chúng tôi chưa hề biết chuyện ở bên Trung Quốc về văn học có những cái ǵ, có những phong trào ǵ. Măi sau mới có cái Trăm Hoa Đua Nở, rồi đến chuyện đấu tranh chống phái hữu. Mà phái hữu trong văn nghệ Trung Quốc th́ có Đinh Linh và Trần Sĩ Hà là nổi bật lên. Chúng tôi chỉ nghe tin một cách sơ sài thế thôi. C̣n nội dung là ǵ th́ chúng tôi không biết lắm.
    Vậy th́ chúng tôi không hề chịu ảnh hưởng cái chuyện Trăm Hoa Đua Nở của Mao Trạch Đông đưa ra, mà Giai Phẩm Mùa Xuân của chúng tôi ra là hoàn toàn tự ư muốn riêng của ḿnh và cái ư muốn đó là muốn cách tân thơ ca, đem lại luồng gió mới, không khí mới cho thơ ca chứ không chịu ảnh hưởng ai cả. Đó là một cái mà hôm nay, nhân thể đây tôi nhấn mạnh như vậy.

    - TK: Thưa anh, c̣n tờ Nhân Văn, tờ Nhân Văn đă ra đời trong hoàn cảnh nào?

    - HC: Nhân Văn ra số đầu tiên khoảng tháng 9 năm 1956 tức là cách Giai Phẩm Mùa Xuân tám, chín tháng. Thế rồi đến Nhân Văn th́ anh Nguyễn Hữu Đang là người sinh ra báo Nhân Văn, tôi là người đặt tên cho tờ báo. Nhưng đồng thời sau đó cũng lại chính ḿnh phải làm tất cả mọi viêc của tờ báo. Phụ thêm th́ có anh Lê Đạt. Thế c̣n anh Trần Dần th́ v́ anh ấy cũng yếu và những công việc của một tờ báo th́ anh ấy cũng không làm được. Việc mà tại sao nó ra, tại sao lại xuất hiện tờ Nhân Văn, lúc đầu nó như thế nào, th́ tất nhiên là sau này tôi cũng sẽ lược thuật thôi.

    Chuyện đó nó phức tạp và sau này dù có thuật lại, th́ chúng tôi cũng chỉ thuật lại những nét chính. Cái tôi đi sâu vào vẫn là những bước đi của thơ ca, nó gặp những trở ngại ǵ, những trắc trở ǵ? Có những thuận lợi ǵ? Và những anh em nào hoan nghênh, anh em nào tán thành, anh em nào phản đối? Nhưng cái chính vẫn là vấn đề thơ ca thôi, thơ ca của chúng tôi. Thơ ca của cái nhóm anh em thân với nhau đấy, nhưng tất nhiên mỗi người một phong cách và có nhiều quan điểm cũng không giống nhau đâu.
    Thế nhưng mà cái thống nhất với nhau được là thơ ca một thời gian bị tŕ trệ bởi ảnh hưởng của Tự Lực Văn Đoàn và Thơ Mới trước cách mạng tháng tám, vẫn c̣n nặng nề. Nhất là ư anh Trần Dần và anh Lê Đạt là từ lâu, ngay từ trước khi về Hà Nội năm 54, rồi sau khi về Hà Nội, hai anh ấy là hai người hăng hái nhất trong việc muốn đổi mới thơ ca, làm cho nó đừng tŕ trệ nữa, dù rằng ta phải học tập ở các nhà thơ bên Châu Âu mà thay đổi cái của ḿnh, miễn là ḿnh giữ được cái độc đáo riêng của ḿnh.

    - TK: Thưa anh, tóm lại, mục đích chính của các anh trong thời điểm NVGP là làm ǵ? Là đ̣i hỏi tự do sáng tác hay c̣n đ̣i cái ǵ khác?

    - HC: Lúc đầu chúng tôi vẫn chủ trương là không nói chuyện ǵ về chính trị, cũng không có bài báo nào bàn về chính trị lắm. Nếu có th́ chỉ nhắc qua vài chuyện có liên quan đến văn nghệ thôi. C̣n cái chính là đấu tranh để làm thế nào xây dựng được một nền văn nghệ dân chủ. Có dân chủ có tự do trong giới văn nghệ. Cũng như là có dân chủ trong hoạt động văn nghệ.
    Chúng tôi chỉ nhằm mục đích ấy thôi. Mục đích là đấu tranh để đạt được dân chủ và tự do trong sáng tác văn học và nghệ thuật. Thế nhưng t́nh h́nh thế giới lúc bấy giờ rất phức tạp và trong nước có những vấn đề rất nghiêm trọng, cho nên báo Nhân Văn cũng không thể tồn tại lâu được, mà chỉ ra được 5 số. Đến số 6, bài xong cả rồi nhưng mà cũng không in nổi, không in được và không ra được.

    Thế rồi th́ bị đóng cửa. Nhưng đóng cửa xong th́ mọi việc vẫn trở lại có vẻ như là b́nh thường. Bởi v́ đóng cửa Nhân Văn xong, th́ sang năm 57 thành lập Hội Nhà Văn riêng, Hội Nhạc Sĩ riêng, Hội Sân Khấu, Hội Mỹ Thuật riêng. Tháng 4 năm 57 thành lập Hội Nhà Văn th́ tôi cũng lại được bầu vào ban chấp hành Hội. Công việc th́ vẫn phụ trách phó giám đốc nhà xuất bản, bấy giờ đổi tên là nhà xuất bản Hội Nhà Văn, do anh Tô Hoài, tôi và anh Đoàn Giỏi, ba người cùng chịu trách nhiệm. Hoạt động b́nh thường như thế cho đến hết năm 57.

    ● Từ Nhân Văn đến thời kỳ đổi mới.

    - TK: Thưa anh, tờ Nhân văn ra được 5 số th́ phải đóng cửa và mọi việc vẫn trở lại có vẻ như là b́nh thường, nhưng sau đó th́ t́nh h́nh xảy ra như thế nào ạ?

    - HC: Sang đầu 58, v́ ở bên Trung Quốc có việc đấu tranh rất gay gắt chống hữu phái trong văn nghệ, nhưng chúng tôi cũng lại chỉ biết một cách hết sức sơ sài, là h́nh như có mấy nhà văn cũng đ̣i tự do, đ̣i dân chủ ǵ đó. Đặc biệt có hai người là Đinh Linh và Trần Sĩ Hà là hai nhà văn có tiếng lúc bấy giờ, coi như cầm đầu phái hữu trong giới văn nghệ của Trung Quốc.
    Th́ có một cuộc đấu tranh gay gắt với những người cầm đầu đó. Ở bên ta, tôi nhớ chắc là anh Huy Cận và một người nữa, Lưu Trọng Lư hay là Hà Xuân Trường ǵ đó, tôi không nhớ rơ tên người thứ nh́, cũng được cử sang tham quan để rút kinh nghiệm đem về. Khi các anh ấy về th́ lập tức ở bên này mở ra một lớp gọi là lớp học chính trị, nhưng chính là để đấu, đấu tranh quyết liệt với tư tưởng NVGP.

    Tức là chống tư tưởng mà lúc bấy giờ người ta cho là "tư tưởng phá hoại chống Đảng", mà tiếng thông thường là "phản động". Đấy là đầu năm 58. Và sau một cuộc đấu tranh rất gay go, rất quyết liệt như thế trong ṿng độ gần hai tháng th́ quyết định kỷ luật một số nhà văn, một số họa sĩ và nhạc sĩ đă tham gia phong trào NVGP.
    Riêng cái kỷ luật của chúng tôi bên Hội Nhà Văn th́ khai trừ ba năm , anh Trần Dần, anh Lê Đạt, và bên Hội Âm Nhạc th́ có anh Đặng Đ́nh Hưng, anh Tử Phác cùng chịu chung một kỷ luật là khai trừ khỏi Hội trong ba năm.

    Và trong thời gian bị khai trừ th́ phải đi lao động để cải tạo tư tưởng theo giai cấp vô sản, thấm nhuần tư tưởng nông công binh, để thực hiện trong sáng tác của ḿnh. Suốt năm 58, 59 đến 60 nữa, trong thời gian ba năm kỷ luật đó th́ phải đi lao động. Chỉ có tôi và Phùng Quán, thời hạn nhẹ hơn, tức là khai trừ khỏi Hội Nhà Văn có một năm thôi.
    Riêng tôi, th́ khai trừ khỏi ban chấp hành, thôi giữ chức giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ. Ghi trên giấy trắng mực đen th́ chỉ có thế thôi.
    Và đi lao động, th́ cũng đi lao động như mọi người. Ví dụ như anh Trần Dần, anh Lê Đạt, anh Tử Phác, anh Đặng Đ́nh Hưng, trong 6 tháng đầu tiên lao động cả ngày, tức là 8 tiếng, các anh về nông trường Chí Linh chăn ḅ, chăn trâu.

    C̣n tôi, Phùng Quán, Trần Lê Văn và Quang Dũng, th́ về cái tổ mà anh Hoàng Trung Thông làm tổ trưởng, tức là anh Hoàng Trung Thông là bộ phận lănh đạo một cái đội đi về Thái B́nh, ở một hợp tác xă nông nghiệp mới thành lập. V́ ở nông thôn, nhất là ở miền Bắc, sau đợt Cải Cách Ruộng Đất, là đến đợt đưa nông thôn tiến lên hợp tác hóa.
    Lúc bấy giờ từ bắc vĩ tuyến 17 ra, là hợp tác hóa nông nghiệp. Chúng tôi đi về cái hợp tác xă như thế và lao động có một nửa ngày thôi. C̣n nửa ngày th́ có thể đi chơi với các gia đ́nh nông dân, rồi đi t́m hiểu t́nh h́nh thực tế v.v... Mặc dầu cái lao động nửa ngày của tôi hay cả ngày của bốn anh kia là bắt buộc, nhưng mà bắt buộc cũng trong tinh thần văn nghệ thôi, chứ không g̣ bó ghê gớm như bọn bị đi tù khổ sai. Phải nói cho nó công bằng và rơ ràng như vậy.

    C̣n những anh nhẹ nữa, như anh Quang Dũng, anh Trần Lê Văn, anh Hữu Loan chẳng hạn, th́ hầu như chỉ cảnh cáo ghi lư lịch của hội viên thôi, nghĩa là một cái kỷ luật rất nhẹ. Nhưng lúc bấy giờ anh Hữu Loan có nhiều bực bội cá nhân cho nên anh ấy nhất định không ăn lương của hội nữa. C̣n tôi và Phùng Quán th́ vẫn có trợ cấp của hội, coi như một thứ lương nho nhỏ thôi, để đi lao động, chứ anh Hữu Loan th́ thôi hẳn, không lĩnh lương và không làm ǵ ở hội nữa. Và anh ấy lao động ở đâu th́ đấy là việc của anh ấy, chứ anh ấy không đi theo các chỉ đạo của Hội Nhà Văn.

    -TK: Thưa anh, trong lúc ấy các anh có viết lách ǵ không ạ?

    - HC: Nội dung kỷ luật lúc đầu th́ chỉ như thế thôi. Nhưng rồi cái kỷ luật đó nó kéo quá dài. Sau ba năm rồi th́ anh Trần Dần và cả anh Lê Đạt nữa, có sáng tác khá nhiều, riêng tôi th́ cũng sáng tác tập Về Kinh Bắc. Phùng Quán cũng viết nhiều truyện ngắn và làm thơ nữa, nhưng mà cũng không in ở đâu được cả. Không hiểu lư do làm sao, nhưng đưa đến nhà xuất bản nào hay ṭa báo nào cho nó đăng th́ đều bị từ chối.
    Rồi lặng lẽ ḿnh cũng tự biết là có lẽ khó khăn lắm, th́ ḿnh cứ sáng tác để đấy thôi, cho vào ngăn kéo rồi một vài anh em đọc với nhau, chứ không truyền bá đi đâu cả. Xong rồi dần dần thời gian cứ thế kéo đi, nó kéo thế nào mà cho đến năm 88. Tức là kỷ luật từ năm 58, đến khi hết kỷ luật, Hội Nhà Văn công bố hẳn hoi là năm 88. Ba mươi năm.

    Chúng tôi, tức là Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm, lúc bấy giờ anh Tử Phác mất rồi, chỉ c̣n Đặng Đ́nh Hưng và cả những anh em bị cảnh cáo trước kia như Quang Dũng hay Trần Lê Văn, th́ các anh ấy không bị kỷ luật ǵ, vẫn có thể in sách, in báo được từ trước, riêng Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm và Đặng Đ́nh Hưng là bốn người đó không được in một cái ǵ cả, suốt từ năm 58 đến năm 88. Thế nghĩa là tṛn 30 năm.

    - TK: Thưa anh, sau thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, anh đă làm ǵ để sinh sống?

    - HC: Tôi nhắc lại: trong ṿng 30 năm, tức là kỷ luật bắt đầu từ 1958 đến 1988 th́ phục hồi, nghĩa là 30 năm tôi không thể đem ng̣i bút của ḿnh kiếm được một đồng xu nào hết. Thế th́ phải đi lao động chân tay. Tôi với anh Trần Dần, đă từng kéo xe ḅ. Lúc th́ anh này cầm càng, anh kia đẩy, cứ thay phiên nhau như thế. Chỉ mới đi được hai hôm, cả Trần Dần và tôi đều ốm, tức là sốt, rồi nó đau hết ḿnh mẩy và trận ốm ấy kéo dài có khi hàng tuần lễ. Sau không chịu được lao động chân tay nữa, đành phải đi kiếm ăn bằng cách, ví dụ như anh Trần Dần được một người bạn giúp cho đi tô màu ảnh.

    Lúc bấy giờ chưa có máy ảnh màu đâu. Ai thích ảnh màu th́ cứ chụp đen trắng, xong Trần Dần cứ ngồi bôi thuốc, bôi cái má hồng, bôi cái môi son, bôi cái áo hoa nọ kia, nghĩa là bôi màu vào ảnh để kiếm ăn. Mỗi cái ảnh như thế được một hào hay hào rưỡi ǵ đó. Nghĩa là cứ thế suốt ngày ngồi cặm cụi tô màu vào ảnh. C̣n tôi th́ đi làm phim đèn chiếu. Viết những lời thuyết minh để kể chuyện chiến sĩ thi đua, hoặc là người tốt, việc tốt, hoặc là an toàn lao động v.v... Những đề tài như thế th́ cũng vẫn cứ làm, để kiếm được mỗi tối ba đồng.

    - TK: Xin anh cho biết rơ hơn về việc anh làm phim đèn chiếu như thế nào và anh c̣n giữ một vài kỷ niệm ǵ về việc ấy không?

    - HC: Có một hôm anh Phùng Quán đến chơi vào khoảng 7 giờ. Phùng Quán hỏi: "Anh sắp đi đâu đấy?" Tôi bảo là tôi sắp đi chiếu phim đây. Th́ Phùng Quán hỏi: Phim ǵ? Tôi bảo phim đèn chiếu. Phùng Quán cũng chẳng hiểu phim đèn chiếu nó thế nào, mới theo tôi đi. Xuống sân một xí nghiệp th́ người ta mắc cái máy ở đấy, rồi th́ cũng có écran. Họ bắt đóng hết các cửa ra vào nhà máy và bắt buộc công nhân phải xem. Bởi v́ đây là một bài học về an toàn lao động.
    Phim chính tôi làm, an toàn lao động, thuyết minh bằng lời thơ, có lúc bằng văn xuôi. Đầu tiên là công nhân nó tức lắm, v́ công đoàn bắt nó phải ở lại xem mà: Úi giời ơi ! Ở giữa cái thành phố Hà Nội này mà lại chiếu những phim -ngày xưa người ta gọi là ống nḥm ấy mà- nó cứ keng keng keng gọi ra xem ống nḥm ở bờ hồ. Cái này nó cũng y như thế thôi.

    Chỉ có là nó chiếu lên màn ảnh to, chiếu ảnh lên, rồi nó phóng to lên. Thế rồi thuyết minh, y như ngày xưa xem ống nḥm ở ngoài bờ hồ, nó bảo: Này! Đây quan toàn quyền Pasquier đi kinh lư đây! A lô! A lô! Đây là Quốc Trưởng Bảo Đại ... thế này thế kia ... Đây ! Vua Bảo Đại, Hoàng đế Bảo Đại đi thăm tỉnh Thanh Hóa đây !
    Ngày trước th́ nó như thế! Tức là mỗi cái ảnh nó bật ra, th́ cứ chổng mông ra mà nh́n vào cái ống nḥm, trẻ con là thích lắm! Cứ bỏ vào đấy một xu th́ được xem khoảng một vài chục cái ảnh. C̣n cái này nó chỉ khác tí là nó chiếu lên écran, có lời thuyết minh một tí.

    Đầu tiên công nhân nó phản đối, nhưng cũng không thể làm thế nào được, bởi v́ đây là kỷ luật bắt buộc phải xem để học tập về an toàn lao động. Nhưng đến khi tôi bắt đầu cất tiếng thuyết minh và đến chỗ tôi bắt đầu cất giọng ngâm thơ lên th́ họ bắt đầu chú ư và im lặng, chứ lúc đầu họ phá phách ghê lắm. Cứ ầm ầm, ầm ầm. Thế rồi dần dần họ theo dơi phim cho đến hết và khi ra về có vẻ rất măn nguyện.
    Họ bảo: "Ờ, tưởng cái ǵ chứ phim đèn chiếu xem cũng được đấy nhỉ! Mà lại hay đấy nhỉ!" Th́ đấy! Đi kiếm ăn như thế và Phùng Quán dự từ đầu đến cuối. Đến khi về th́ tôi bảo: "Ḿnh có ba đồng đây này, mời Phùng Quán đi ăn phở với ḿnh." Bát phở chỉ có 5 hào thôi. Phùng Quán bảo: "Không, đáng nhẽ em phải mời anh chứ! Anh làm ǵ có tiền, khổ thế mà anh mời em. Thôi, thế th́ mỗi anh em ta làm một ly rượu suông vậy."

    Mỗi ly rượu có 5 xu ấy mà. Rẽ vào một hàng, mỗi anh em uống một ly rượu suông. Phùng Quán nói một câu thế này: "Trời đất ơi ! Nhà thơ nổi tiếng nhất nước thế này mà đi làm cái phim đèn chiếu! Cái ống nḥm ngày xưa! Em nghĩ nó tủi thân lắm, anh ạ". Ḿnh bảo chả có cái ǵ là tủi cả! Ḿnh lao động b́nh thường như một con người b́nh thường. Ḿnh kiếm ăn, có cái ǵ mà tủi mới buồn! Chả có cái ǵ đáng buồn cả! Tôi lại phải nói với Phùng Quán như vậy. Đấy là những kỷ niệm về thời bấy giờ.


    Còn tiếp ...

  3. #2243
    Tran Truong
    Khách

    Vụ án Nhân văn giai phẩm hay những nhà văn phản kháng ?

    - TK: Thưa anh, việc sáng tác ở thời kỳ kỷ luật và sau kỷ luật của các anh ra sao?

    - HC: Chính lúc bấy giờ là lúc anh em lại viết được rất nhiều. Không phải là có một cái kỷ luật ǵ cấm sáng tác cả. Cấm không được in báo, xuất bản sách. Cấm xuất hiện cái tên của ḿnh. Lúc bấy giờ tôi phải trông vào bà vợ. Như ở trong tập Về Kinh Bắc mà tôi đă viết đấy: Bà vợ rất tốt, chịu đựng kham khổ, hy sinh cho chồng con. Lúc bấy giờ tôi tập trung được t́nh cảm và suy nghĩ của ḿnh liền trong năm tháng trời viết xong tập thơ Về Kinh Bắc. Trần Dần cũng trong ṿng nửa năm ấy viết được Cổng tỉnh. Lê Đạt làm một loạt thơ về quê hương của ḿnh, thuở thơ ấu của anh ấy tức là thời kỳ Yên Bái đấy, những bài thơ như là Lăo núi, Ông lăo chăn dê hay là Ông phó cả ngựa đều đă có bắt nguồn ngay thời bấy giờ.
    Chỉ có là về sau này anh ấy hoàn chỉnh lại thôi. Thế nghĩa là anh em không hề ngừng sáng tác, chỉ không được in thôi. Không được xuất bản. Đấy là năm 59. Sang năm 60 trở đi th́ lại bắt đầu đi lao động. Anh Trần Dần và tôi lại vào cái xí nghiệp nhà máy gỗ Hà Nội, anh Trần Dần làm thợ cưa, c̣n tôi th́ đứng máy, ở cái máy cưa.

    - TK: Thưa anh, về công việc sáng tác sau giai đoạn 60 th́ ra sao?

    - HC: Về cái việc sáng tác, th́ sau khi anh Trần Dần làm xong Cổng tỉnh, anh Đặng Đ́nh Hưng viết tập thơ đầu tiên trong cuộc đời anh ấy, đó là một tập thơ cực kỳ giá trị, tức là cái Đầu ô, hay cái Cửa ô, chưa xuất bản đâu nhưng mà đấy mới thật là thơ Đặng Đ́nh Hưng. Tôi th́ Về Kinh Bắc, anh Trần Dần sau Cổng tỉnh lại tiếp tục, vào khoảng ngoài năm 60, 61-62 ǵ đó, anh ấy lại viết một tập thơ nữa là Mùa sạch. Và anh Lê Đạt vẫn làm những bài thơ lẻ hoặc những bài thơ dài, mới phác thảo thôi, nhưng vẫn làm việc đều đều suốt từ năm 60 trở đi.

    Cho đến năm 75, số tác phẩm viết ra mà chưa được in ở mỗi người khá nhiều. Không hề ngồi chơi không. Riêng anh Văn Cao th́ lúc bấy giờ anh ấy có khuynh hướng muốn trở thành họa sĩ, anh ấy đi vẽ những minh họa, minh họa sách rồi minh họa trên báo. Riêng về thơ th́ anh ấy không làm nữa. Cho đến khi phục hồi, lúc bấy giờ đều già cả rồi và Văn Cao th́ cũng không c̣n một t́nh cảm nào say đắm về thơ như trước. Anh ấy vẫn làm thơ, nhưng riêng tôi th́ ḿnh thấy là thơ Văn Cao như thế, so với thời kỳ Cửa biển tức là Những người trên cửa biển ấy, th́ xuống. Đến cái Cửa biển th́ tôi cho là đến cái đỉnh cao của Văn Cao. Về sau, anh ấy vẫn làm nhưng không bằng Những người trên cửa biển.

    Anh Trần Dần th́ liên tục làm và anh ấy t́m ṭi nhiều cách lắm. Sau đó anh ấy đi vào thơ mini, tức là có khi chỉ có một câu, hai câu, rất ngắn mà nó chứa đựng những tư duy rất hay và đặc biệt là ít lời, rất nhiều cảm xúc, rất nhiều trí tuệ.
    Anh Lê Đạt vô cùng chịu khó học tập. Có khi anh ấy vào thư viện suốt cả tháng, anh ấy ở thư viện đến 10 giờ đồng hồ một ngày, đọc sách rồi nghiên cứu t́m ṭi các thứ thơ văn cổ kim đông tây. Học rồi về nhà anh ấy làm, có khi làm bài ngắn, có khi bài dài v.v... Và cuối cùng ra được tập Bóng chữ đấy. Nó chứng minh sự làm việc của anh Lê Đạt rất công phu.

    Anh Trần Dần cũng bị tật, sau khi bị cảm một trận năm 1974, anh ấy hơi liệt liệt, nhưng vẫn sáng tác thơ như thường, chịu khó t́m lắm. Gần đây, anh ấy sưu tập lại, rút ra ở tất cả thơ của anh ấy những chỗ nào hay nhất để đưa vào từng vấn đề của một tư duy thơ, gọi là lẩy Trần Dần. Anh tự lẩy. Anh ấy đă cố đưa ra một thế giới gọi là thế giới Trần Dần, cái univers Trần Dần, th́ tôi đă thấp thóang thấy nó hiện ra qua cái lẩy Trần Dần.

    Tóm lại, sự làm việc của anh em thời kỳ hậu Nhân Văn, tức là thời kỳ 58, 59, 60 cho đến 75 gần như là không ai nghỉ một tháng, một ngày nào mà không lo về việc thơ ca cả. Chỉ có từ 75 về sau này, t́nh h́nh nó cũng có đổi khác, nhất là đến năm 88, được phục hồi, chính thức trở lại sinh hoạt Hội Nhà Văn, cái đà sáng tác ở mỗi người nó lại dâng lên, th́ anh Lê Đạt cũng làm nhiều. Anh Trần Dần bắt đầu làm được một ít th́ chẳng may anh ấy lại bị bệnh khá nặng, cho nên độ hai năm nay anh ấy không làm được ǵ nữa.

    - TK: Trước anh có dự định viết một cuốn hồi kư, dự định ấy hôm nay đă đi đến đâu rồi?

    - HC: Đầu tiên tôi cũng đă dự định, dự định từ lâu rồi, định viết một cuốn Mémoire khoảng 1000 trang từ năm 1990. Lúc bấy giờ tôi cần có một người trợ giúp ḿnh, không những là về mặt viết lách v.v... mà kể cả về t́nh cảm. Bởi v́ từ sau khi tôi mất người vợ năm 1985, đời sống t́nh cảm tôi bị hẫng hụt, phải nói là một cách ghê gớm. Sau đó, tôi bị gần như là một thứ bệnh tâm thần cho đến năm 87, th́ nhờ các bạn, nhất là anh Dương Tường, anh Lê Đạt, kể cả anh Trần Dần và một số bạn trẻ nữa như là Thụy Kha, Trịnh Thanh Sơn ... tôi đă dần dần hồi phục sức khoẻ và nhất là tránh được cái bệnh tâm thần của tôi mà các bác sĩ cho là nó vào cái dạng trầm uất.

    - TK: Thưa anh, tại sao anh lại bị bệnh và bệnh trạng của anh, thực sự nó như thế nào?

    - HC: Tức là sau khi tôi bị giam cầm 18 tháng[2], từ đó đến khi được về th́ những bác sĩ quen của tôi họ đều thống nhất một điểm là tâm thần của tôi tự nhiên nó bị ở hai dạng: trước tiên là hoảng loạn, thứ hai là trầm uất. Thật ra th́ cũng không có ǵ là ghê gớm lắm, cũng không xé quần, xé áo, không đi ra ngoài đường, không chửi bới hay làm những ǵ ầm ĩ cả, bởi v́ chỉ là hoảng loạn thôi. Hoảng loạn một cách hết sức lặng lẽ.

    Ví dụ nghe một tiếng c̣i ô-tô và một cái ǵ như là frein ô-tô rít lên ở ngoài cửa -mà lúc bấy giờ tôi ở tít tận trong nhà cơ- nhưng khi nghe thấy như thế, vào lúc độ gần nửa đêm chẳng hạn, th́ tự nhiên tôi co rúm lại và hết sức sợ hăi. Nó như là một cái bản năng đấy, t́m chỗ trốn. Quả nhiên là tôi đă có nhiều lần chui xuống gầm giường v́ những hoảng loạn như thế. Hay nghe tiếng giày cộp cộp và thóang thấy một bóng áo, như áo quân đội hay áo cảnh sát hay của một người thương binh nào đó, chỉ cần một cái bóng, một cái màu quần áo thôi, th́ tôi cũng hoảng rồi. Người ta gọi là bệnh hoảng loạn. Chứ sự thực th́ lúc ấy chẳng có ai dọa nạt, chẳng có ai làm ǵ ḿnh cả.
    Thứ hai là dạng trầm uất. Có khi cả ngày tôi không nói một lời. Bạn bè đến, tôi vẫn cứ tỉnh táo đi pha trà mời mọi người có vẻ lịch sự lắm. Nhưng đến khi người ta hỏi tôi về bất cứ cái ǵ đó th́ tôi không trả lời hoặc là trả lời gióng một.

    - TK: Thưa anh, lúc anh bị bệnh nặng như thế là thời kỳ nào hả anh?

    - HC: Là năm 87[3]. Có độ 7, 8 anh em nhà văn trẻ như là Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngô Minh, v.v... ở trong Huế ra chơi, họ đến nhà anh Phùng Quán. Họ nhờ anh Phùng Quán đưa xuống thăm tôi. Tôi cũng vẫn có vẻ như vui mừng được gặp những người anh em xưa nay người ta mến ḿnh th́ cũng vẫn giữ một thái độ thân ái thôi.
    Nhưng đến khi Hoàng Phủ Ngọc Tường hỏi rằng: Anh có dự định sáng tác ǵ nữa không, th́ tôi lắc đầu không trả lời thành tiếng ǵ cả. Lắc đầu. Cứ lắc đầu hoài. Thế rồi họ hỏi cái ǵ tôi cũng lắc đầu. Chỉ lắc đầu mà tôi không nói ǵ hết. Phùng Quán thấy thế cho rằng tôi suy sụp ḥan toàn về tinh thần. Đó là đầu năm 87. Phùng Quán có vẻ bực tức cái chuyện ấy lắm mới chạy đến nhà anh Lê Đạt, bảo anh Lê Đạt: "Bây giờ anh Hoàng Cầm bị t́nh trạng như thế này th́ chỉ có anh mới giúp anh ấy được, chứ em trông thấy thế này th́ em sợ lắm, và em nghĩ rằng một tài năng như anh Hoàng Cầm mà bị như thế này th́ chúng ta sẽ hết sức thiệt tḥi, anh ấy không c̣n có thể viết một cái ǵ được nữa."

    Lê Đạt th́ vững vàng hơn. Lê Đạt chỉ bảo Phùng Quán rằng: "Rồi cái đó nó cũng sẽ qua đi. Tôi tin rằng Hoàng Cầm không bao giờ là người sẽ suy sụp." Phùng Quán vẫn không tin Lê Đạt, bèn về viết một bài, nó cũng không phải là thơ, là một ư kiến, có vần, có điệu, coi như một bài thơ, nó thế này này:

    Tôi tin núi tàn
    Tôi tin sông lấp
    Tôi không thể nào tin
    Một nhà thơ như anh
    Lại ngă ḷng suy sụp.
    Một nhà thơ đă từng viết những câu thơ lẫm liệt
    Trong tiểu đội của anh những ai c̣n ai mất
    Không. Không ai c̣n ai mất
    Ai cũng chết mà thôi
    Người sau kẻ trước lao vào giặc
    Giữ vững ngh́n thu một giống ṇi.
    Rồi lại đến một cái điệp khúc:
    Tôi không tin một nhà thơ như anh
    lại ngă ḷng suy sụp.
    Trên thế gian có ngh́n nhà thơ lớn
    Trên thế gian có ngh́n con sông lớn
    Nhưng chỉ có một ḍng nhờ thơ mà vang vọng
    Nhờ thơ mà vinh danh
    Đó là con sông Đuống quê anh
    Mà anh xót xa như bàn tay anh rụng
    Tôi tin chắc như đinh đóng cột
    Sau này anh chết đi
    Theo sau linh cữu anh
    Ngoài bạn hữu gia đ́nh có cả con sông Đuống.
    Sông Đuống mặc đại tang khóc bên bồi bên lở
    Sóng vỗ bờ nức nở
    Đời đời chịu tang anh.
    Tôi không tin một nhà thơ như anh
    lại ngă ḷng suy sụp.

    Phùng Quán viết to bài thơ đó lên một tờ giấy rất to như là tờ giấy lấy ở bao xi măng ra và anh ấy xuống treo ngay ở nhà tôi. Th́ tôi cũng cứ mặc, thế thôi. Cả thời gian ấy tôi vẫn cứ ở trong t́nh trạng đó. Măi về sau, cuối năm 87, nhất là sang năm 88, trong một cuộc họp bàn ban chấp hành Hội Nhà Văn, có bàn đến việc phục hồi những nhà văn bị kỷ luật trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Sau đó, nhờ các bạn kéo tôi đi chơi vào những chỗ mà người ta yêu mến ḿnh, dần dần nhờ những sự săn sóc đó mà tôi trở lại viết được. Và cái mà tôi viết được ngay là bài Mưa Thuận Thành.


    Còn tiếp ...

  4. #2244
    Tran Truong
    Khách

    Vụ án Nhân văn giai phẩm hay những nhà văn phản kháng ?

    - TK: Về việc phục hồi, trong hoàn cảnh nào và ở thời điểm nào anh đă được phục hồi?

    - HC: Năm 1988 đấy. Hôm mà báo Văn Nghệ tổ chức 40 năm thành lập báo Văn Nghệ, lúc bấy giờ là dưới sự điều khiển của anh Nguyên Ngọc. Họ có tổ chức hai buổi ra mắt độc giả. Hôm đó tôi được mời, và họ yêu cầu anh đọc cho một hay hai bài thơ; th́ phần lớn đều yêu cầu bài Bên kia sông Đuống. Bài đó bị vùi đi lâu quá, cho nên bây giờ họ hết sức tha thiết yêu cầu như thế.
    Nhưng mà tôi, tôi đă có chủ định rồi, tôi nhất định không đọc bài Bên kia sông Đuống và tôi đọc hai bài thơ mới là bài Mưa Thuận Thành và bài Lá diêu bông, hai bài ḥan toàn xa lạ. Tôi muốn gây một effet mới, th́ họ tán thành ngay. Tôi đọc xong bài Mưa Thuận Thành, đến bài Lá diêu bông, v́ muốn nhấn mạnh cho nên tôi đọc một lần và ngâm một lần. Tôi vốn cũng nổi tiếng về ngâm nữa, cho nên người ta thích.

    Tôi lại ngâm bài đó với một giọng vừa trữ t́nh, vừa mang hồn bài hát quan họ và lại pha một chút nhạc ca trù, v́ từ thời niên thiếu, tôi đă quen với ca trù rồi. Đến khi tôi ngâm xong bài Lá diêu bông th́ nó biến cái hội trường thành như một cuộc mít-tinh ǵ đó, mà tất cả nhằm vào tôi. Đến ngày hôm sau, ra cái hội trường lớn hơn tức là hội trường của Cung Văn Hóa - bấy giờ c̣n gọi là Cung Văn Hóa Hữu Nghị Việt-Xô- khi họ nói đến tên tôi là lại nổi lên một trận vỗ tay đến nỗi là tôi phải trốn tiếng vỗ tay đó. Không hiểu làm sao mà lúc bấy giờ tôi cứ ngường ngượng.

    Khi tôi lên sân khấu rồi, tiếng vỗ tay vẫn tiếp tục. Chợt có một lúc, tôi như chợt khóc lên, như là nước mắt ở đâu đó nó trào ra. Không phải là giọt nước mắt vui mừng v́ cái vinh quang nó trở lại với ḿnh. Không! Tuyệt nhiên không phải cái đó mà lại là t́nh cảm này: Lúc bấy giờ tôi chợt nhớ đến bà vợ tôi là bà Lê Hoàng Yến. Nếu không có bà Lê Hoàng Yến th́ không có tập Về Kinh Bắc. Mà Về Kinh Bắc tôi viết ngay cuối năm 59, tức là chỉ có một năm sau khi thi hành kỷ luật - kỷ luật là 58-59- đối với tôi th́ đúng là oeuvre clé (tác phẩm chủ yếu).
    Thành ra tôi nhớ đến bà vợ tôi đă qua đời trong cảnh vô cùng nghèo đói, phải chạy ăn từng bữa một, từng dúm gạo một. Tiền thức ăn th́ cũng không có, bữa cơm nào hai vợ chồng cũng phải nhịn bớt đi, nghĩa là đáng lẽ ḿnh ăn ba bát, ăn có một bát, để nhường cho các con ăn. Bà vợ tôi chết vào những ngày như thế, mà lại chết vào năm 85 ấy, lúc tôi đang bị cái bệnh tâm thần, đang ở cái dạng trầm uất và hoảng loạn như thế.

    V́ bà ấy phải chạy từng ngày bữa ăn của gia đ́nh. Gia đ́nh th́ đông. Mỗi một tháng lại phải lên tŕnh diện một lần mới được người ta cấp cho 12 cân gạo. Rồi lại phải đi lên sở lương thực để lấy giấy chứng nhận nọ kia, rồi bấy giờ mới lại sang pḥng tài chính để thanh toán tiền, xong rồi xuống chỗ bán hàng, xếp hàng chờ đợi.
    Tóm lại là muốn được 12 cân gạo, bà vợ tôi vất vả đến mức là nó lên một trận huyết áp rất đột ngột, chỉ mới có từ chập tối hơi sôn sốt, rồi bà ấy đi nằm, mà giữa mùa nực, bà ấy thấy có cái ǵ ren rét, tôi đă phải đắp cho bà ấy một cái chăn lớn. Đến 4 giờ sáng th́ người cứng ra và liệt nửa người. 9 giờ th́ đem đi cấp cứu và đến chiều hôm sau qua đời.
    Thành ra đến lúc lên sân khấu, cái vinh quang nó trở lại với tôi một cách quá sức tưởng tượng, th́ chợt h́nh ảnh vợ tôi đă chịu tất cả mọi khổ sở trong ṿng 30 năm, tṛn 30 năm, tức là kỷ luật bắt đầu từ 1958 đến 1988 th́ phục hồi. Nghĩa là trong 30 năm, tôi không thể đem cái ng̣i bút của ḿnh kiếm được một đồng nào hết.

    - TK: Thưa anh, sau buổi liên hoan do tờ Văn Nghệ tổ chức đánh dấu việc anh đă được chính thức phục hồi, th́ sau đó anh làm ǵ, và nếu anh viết th́ những điều anh viết có in được không ạ?

    - HC: Sau cái buổi ấy rồi th́ tôi cũng tiếp tục sáng tác và chuẩn bị in các tập thơ. Đầu tiên là định in ngay tập thơ Về Kinh Bắc, v́ nhiều nhà xuất bản đă biết tên tập thơ đó. Khổ cái là tôi mất hết bản thảo. Bị tịch thu, rồi th́ chỗ nào có th́ người ta cũng phải giấu đi, chứ không th́ mắc tội ǵ đó. Tôi không làm thế nào mà nhớ hết cả tập thơ 48 bài, chỉ nhớ được độ mươi bài ngăn ngắn thôi. Thế nhưng đến các nhà xuất bản th́ cũng không ai dám in. Nhà xuất bản Văn Học, nhà xuất bản Hội Nhà Văn -lúc bấy giờ c̣n tên là nhà xuất bản Tác Phẩm Mới- nhà xuất bản Phụ Nữ ... tất cả đều rất quư, rất thích nhưng không ai dám xuất bản cả.

    Tôi mới nói chuyện chơi với anh Quang Huy, giám đốc nhà xuất bản Văn Hóa, và đưa cho anh ấy xem một tập thơ, toàn những bài mới làm, mà toàn là thơ t́nh thôi, chứ không có dính dáng ǵ đến cái tập Về Kinh Bắc cả, bởi v́ tôi biết rằng nếu c̣n dính dáng đến tập thơ ấy th́ không ai cho ḿnh in. Đọc xong anh ấy bảo: "Thôi anh để cho tôi in tập Mưa Thuận Thành này nhưng phải yêu cầu anh cho một số bài nổi tiếng mà anh đă đăng báo rồi như Lá diêu bông, Cây tam cúc, Qua vườn ổi, Cỏ bồng thi, Tắm đêm, Về với ta, v.v..., tức là vào khoảng độ 7, 8 bài, mà là những bài anh em đă rất quen thuộc ngấm ngầm trong suốt 30 năm".

    Tôi bảo: "Cái này th́ ông phải đối phó với cơ quan chính quyền thôi". Anh Quang Huy bảo: "Được rồi, tôi sẽ có cách". Quả nhiên khi anh ấy in, tôi cũng đưa vào đấy 8 bài trong tập Về Kinh Bắc. Th́ cuối cùng đúng là anh ấy phải tiếp mấy cán bộ đại diện cho cơ quan công an của trung ương, hỏi anh ấy tại sao in tập này, lại có lẫn mấy bài ở trong tập Về Kinh Bắc. Rồi họ yêu cầu cho mượn bản thảo và cho xem cả bản sắp chữ, bản morasse. Anh Quang Huy vẫn thực hiện đúng ư kiến của trên, nhưng anh ấy có yêu cầu thế này: "Các anh mượn, chúng tôi rất vui ḷng, nhưng các anh phải trả lại tôi để tôi in cho đúng kế hoạch của nhà xuất bản, nếu không th́ nhà xuất bản chúng tôi phá sản, chúng tôi lỗ vốn đấy".

    Nhưng có một điều là anh Quang Huy, người chủ trương in tập Mưa Thuận Thành, dù sao anh ấy cũng có cái dè dặt. Thành ra đáng lẽ có thể in được độ 2000 cuốn th́ vẫn bán hết, anh ấy dè dặt chỉ in 1000 cuốn thôi. Thành ra người ta đến hỏi anh ấy quá nhiều, anh ấy lại không muốn tái bản mà c̣n nói một câu đùa đùa là: "Thôi, thơ Hoàng Cầm th́ cứ để cho người ta tḥm thèm th́ thích hơn." Ví dụ như Kiều Loan là kịch thơ viết năm 1942, th́ đến năm 1992 mới có thể xuất bản được, vừa đúng nửa thế kỷ! Cũng như Về Kinh Bắc viết năm 59 th́ năm 94 mới xuất bản, 35 năm!

    Thế c̣n những bài thơ mới viết từ năm 87, tức là bắt đầu thời kỳ đổi mới, và những bài thơ mới ra th́ in được ngay. Điều đó chứng tỏ rằng từ sau khi đổi mới, có lẽ sức viết của ḿnh bị dồn nén lại trong 30 năm, cho nên đến lúc này nó lại bật ra, giống như cái ḷ-xo, nó bật lên th́ tất nhiên nó bật mạnh. Cho nên những tác phẩm của tôi viết từ năm 87 đến bây giờ, nhiều bài có cái sức bật mà trong dư luận anh em cho rằng tôi vẫn c̣n giữ được cái sức trẻ trong sáng tác của ḿnh, giữ được cái thanh xuân trong câu chữ, trong nhịp điệu, trong cảm nghĩ của ḿnh.
    Đó cũng là điều may mắn cho tôi. Nhưng đó cũng là đương nhiên v́ nó đă bị dồn nén 30 năm th́ khi nó bật ra nó phải bật được nhiều. Tôi cũng rất mừng cho bản thân ḿnh mặc dầu tuổi cũng đă cao và sức khỏe càng ngày càng yếu, nhưng khi nào xúc cảm đến th́ sáng tác nó lại bật ra như thường.

    - TK: Thưa anh, từ thời kỳ đổi mới đến bây giờ th́ cuộc sống và sáng tác của các anh đă thay đổi như thế nào?

    - HC: Từ đổi mới đến bây giờ tức là từ 1987 cho đến nay th́ tất cả mọi người lại tiếp tục đi vào con đường sáng tác và nhất là anh Lê Đạt th́ cái đổi mới thơ ca ở anh Lê Đạt thấy rất rơ rệt. Người ta thấy công lao của anh Lê Đạt trong cuộc đổi mới thơ ca, về thi pháp cũng như về tư duy, cảm xúc. Thi ca của anh ấy rơ ràng có nhiều đổi mới. Mặc nhiên, cũng nhiều dư luận khác nhau, có người chê, người khen th́ đó là tất yếu. Nhưng tất cả mọi người đều thấy rằng anh Lê Đạt rất có công trong việc đổi mới thi pháp và có những suy nghĩ mới, có cảm xúc mới trong thơ.

    C̣n riêng tôi, th́ từ năm được phục hồi, tôi vẫn không ngừng sáng tác. Ngoài Về Kinh Bắc tôi viết năm 59, mà đến năm xuất bản là năm 94, tức là 35 năm! 35 năm nó vẫn nằm ở trong ngăn kéo nhưng đồng thời nó cũng không thể nào cứ ở trong ngăn kéo được, bởi v́ đă là thơ thật ấy th́ nó có cánh nó bay. Mặc dầu nó bay một cách hết sức lặng lẽ, nhiều khi có vẻ phải trốn tránh, nhưng nó vẫn cứ bay ở trong một số người yêu thơ, nhất là sinh viên và thanh niên ở Hà Nội, Sài G̣n, Huế. Từ năm 87, 88 tôi vẫn sáng tác rất đều.

    - TK: Anh nhận xét như thế nào những sáng tác mới nhất của anh, và xin anh đọc cho thính giả nghe một trong những bài thơ vừa viết xong.

    - HC: Có điểm này là trong một vài năm nay, không hiểu làm sao thơ của tôi nó buồn một cách, tôi tưởng tượng như là cái vũ trụ này nó sắp tan đi đâu đấy. Nó có cái đó thật ở trong hồn ḿnh, cho nên bài nào cũng có vài "hơi" như thế: một cái hơi thở, không biết gọi là cái ǵ, nó như là một sự tan, như một cái hơi tan vào gió, một cái ǵ đấy tan vào nước. Và chỗ nào cũng có một cái ǵ như là tan.
    Đấy là một cảm giác tất yếu thôi bởi v́ tâm hồn người già thường hay bị một cái ǵ như tan ra, gọi là cuộc sống, v́ cuộc sống của ḿnh cũng đă khổ quá rồi. Đến lúc già nó cũng tạm yên, nhưng đến tuổi này rồi th́ thấy cái ǵ cũng tan loăng hết, không đọng lại được, những cái như t́nh yêu, thương nhớ ... nhất là những t́nh cảm nam nữ, t́nh cảm vợ chồng, t́nh cảm bạn hữu ... Tôi cứ bị như một cái ǵ nó tan, không trụ lại được, cứ bị cái đau khổ đó trong vài ba năm nay. Thế tôi hăy đọc một đoạn nhé, bài này cứ gọi là vô đề cái đă:

    Vô đề

    Biển xanh ánh phật mười phương
    Hương sen dậy sáng
    Ôm trắng ngh́n mây
    Vạn kiếp dăi dầu
    Oan nghiệt rên la bi thống
    Nước mắt dàn bốn đại dương đau
    Chiến tranh ư?
    Bạo lực cơ cầu
    Đói hành hạ
    Rét dày ṿ số kiếp
    Người với người cắn nhau đau tội nghiệp
    T́nh với t́nh biền biệt những ĺa xa


    Còn tiếp ...

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 6 users browsing this thread. (0 members and 6 guests)

Similar Threads

  1. Chuyện nghe được từ ngướ không quen
    By Dac Trung in forum Tin Việt Nam
    Replies: 1
    Last Post: 10-10-2012, 12:25 AM
  2. Replies: 0
    Last Post: 03-05-2012, 10:37 PM
  3. Bắt Buộc Phải Nghe
    By Dean Nguyen in forum Tin Việt Nam
    Replies: 2
    Last Post: 19-01-2012, 08:34 PM
  4. Replies: 3
    Last Post: 31-07-2011, 05:33 PM
  5. Tưởng Niệm Tháng 4 Đen Nghe Nhạc Lính VNCH
    By Camlydalat in forum Giao Lưu - Giải Trí
    Replies: 18
    Last Post: 25-04-2011, 06:28 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •