+ Reply to Thread
Page 236 of 236 FirstFirst ... 136186226232233234235236
Results 2,351 to 2,360 of 2360

Thread: Nghe Chuyện Hà Nội

  1. #2351
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 12

    Cho kháng chiến, Hoàng Cầm đă góp hai lần xương máu: máu xương văn nghệ trong 9 năm sáng tác, tŕnh diễn. Và xương máu gia đ́nh: một vợ, Hoàng Thị Hoàn và một con, Bùi Hoàng Oanh, chết đói, 1949. Một em trai, Bùi Như Yên, chết trận, 1952.

    Công lao Hoàng Cầm đối với văn học và kháng chiến giải thích một số vấn đề cụ thể:

    - Hoàng Cầm có đủ tư thế văn nghệ để mời Văn Cao, Phan Khôi tham gia NVGP.

    - Hoàng Cầm là người Nguyễn Hữu Đang thuyết phục giúp Nhân Văn trước tiên.

    - Hoàng Cầm có đủ uy tín cách mạng để đương đầu với Tố Hữu, bênh vực Trần Dần.

    - Khi bị thanh trừng, Hoàng Cầm đă viết Về Kinh Bắc từ 1959, gián tiếp kết tội Đảng.

    - 1982, Hoàng Cầm lại bị bắt, chính quyền tịch thu bản thảo Về Kinh Bắc.

    Cuộc đời Hoàng Cầm gắn bó với lịch sử, không chỉ lịch sử kháng chiến, lịch sử NVGP, mà lịch sử dân tộc. Từ tác phẩm đầu tay Hận Nam Quan, Hoàng Cầm đă xác định con đường dân tộc: phải đề pḥng phương Bắc, phải ghi nhớ Hận Nam Quan.


    ● Hận Nam Quan


    Phi Khanh bị bắt sang Tàu, Nguyễn Trăi bí mật theo cũi cha, để cùng chết. Tới Nam Quan, Phi Khanh bắt con phải trở về, t́m đường khởi nghiă. Kịch thơ Hận Nam Quan, trước 1954, đă được giảng dạy trong vùng quốc gia, học sinh thuộc ḷng những đoạn thơ:

    - Con yêu quư! Chớ xuôi ḷng mềm yếu

    Gác t́nh riêng, vỗ cánh trở về Nam!

    Con về đi! Tận trung là tận hiếu

    Đem gươm mài bóng nguyệt dưới khăn tang

    (...)

    - Ôi sung sướng, trời sao chưa nỡ tắt

    Về ngay đi ghi nhớ Hận Nam Quan

    Bên Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt

    Cha nguyện cầu con lấy lại giang san.


    Đó là trích đoạn bài học thuộc ḷng thời tiểu học, nhưng toàn thể kịch thơ là một tác phẩm "cổ điển" của học sinh trung học. Trong những đêm văn nghệ Tết, học sinh miền Nam thường có màn tŕnh diễn Hận Nam Quan. Hoàng Cầm đi vào ḷng dân tộc như thế.

    Hoàng Cầm 15 tuổi, nhưng thơ không hề non nớt, đă có những câu "tiên tri":

    Đây là ải địa đầu nước Việt

    Khóc trong ḷng ghi nhớ Hận Nam Quan


    15 tuổi, nhắc lại trang sử oanh liệt:

    Đây Nam Quan, quân Nguyên rời biển máu

    Thoát rừng xương, tơi tả kéo nhau về


    15 tuổi, đe dọa quân Minh:

    Hỡi quân Minh! Sao không nh́n lịch sử

    Mà vội vàng ngạo nghễ xuống Nam phương?


    15 tuổi, xác định ḷng quật khởi của dân tộc:

    Một ngày mai, khi Trăi này khởi nghiă,

    Kéo cờ lên, phất phới linh hồn cha

    Gạt nước mắt, nguyện cầu cùng thiên địa

    Một ngày mai, con lấy lại sơn hà.


    Nhưng bọn bán nước cầu vinh nào có nghe. Đó là bi kịch Hoàng Cầm và bi kịch chung của dân tộc.

  2. #2352
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 12

    ● Hoàng Cầm - Tuyết Khanh - Vũ Hoàng Chương

    Tháng 9/1945, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Chù, Hoàng Tích Linh[6], Kim Lân, Trần Hoạt lập ban kịch Đông Phương. Hoàng Tích Chù làm trưởng ban. Đông Phương thường lưu diễn ở các tỉnh gần Hà Nội. Vũ Hoàng Chương kể lại chuyện một người bạn rủ Hoàng (Chương) đi xem kịch: "Hoàng ạ, ban kịch Đông Phương của bọn Hoàng Tích Chù lực lượng có vẻ khá lắm (...) Tin đích xác đây này: Tối mai ban kịch Đông Phương tŕnh diễn tại Thái B́nh, và diễn liền mấy tối sau nữa. Ngay tỉnh lỵ, Hoàng có đi với tôi sang bên đó không nào? (...) Đối với họ Phan, người ta c̣n khách sáo ít nhiều; chứ đối với Hoàng th́, toàn ban đều thân mật, coi như "cố nhân". Có lẽ bởi họa sĩ Hoàng Tích Chù -em ruột Hoàng Tích Chu- là chỗ thế nghị của Hoàng chăng? Hay bởi tác giả quan trọng của ban kịch là thi sĩ Hoàng Cầm, chỗ thanh khí của Hoàng, từng đă gặp nhau ở xóm Niềm bên Kinh Bắc?[7]

    Vũ Hoàng Chương vừa muốn "khoe" ban kịch Đông Phương coi ḿnh là "cố nhân" mà cũng kín đáo kính trọng Hoàng Cầm như một bậc tài tử. Thời điểm ấy, mục đích Hoàng Cầm là dựng Kiều Loan nhưng t́m gần một năm, vẫn chưa "thấy" Kiều Loan. Đến tháng 8/46, t́m được Tuyết Khanh, bắt đầu dựng Kiều Loan, do Hoàng Tích Linh đạo diễn; Tuyết Khanh trong vai Kiều Loan; Hoàng Cầm vai Hiệu Úy ...
    Về những buổi tập dượt Kiều Loan, Hoàng Cầm kể lại: "... Nguyễn Huy Tưởng, hầu như không buổi tập nào là vắng mặt anh (...) Cả nhà thơ Vũ Hoàng Chương không biết v́ quá mê nàng Kiều Loan của vở kịch hay mê người sắm vai Kiều Loan mà từ ngày đầu đọc vở, anh đă trở nên một khán giả quá siêng năng cả đến khi Kiều Loan phải "tản cư" đi diễn ở mấy làng trong tỉnh Bắc Ninh. Ngày nào anh cũng đến từ sớm, có khi nán lại dùng cơm trưa với diễn viên tại nhà anh Chù. C̣n hai anh Lưu Quang Thuận[8] Trúc Đường[9] là hai kịch tác gia mấy lần đến xem tập và phỏng vấn (...) và chuẩn bị ấn hành trọn vẹn kịch thơ Kiều Loan ngay trong năm 1946"[10].

    Hoàng Cầm đáp lại Hoàng Chương bằng sự tương kính. Những tài năng lớn thường kính trọng nhau ngay từ buổi đầu. Nhưng rồi có chuyện ngang trái xẩy ra: hai nhân tài cùng yêu một người đẹp. Vũ Hoàng Chương lúc đó đă có vợ là Đinh Thục Oanh, chị ruột Đinh Hùng, từ 1944, và Hoàng Cầm cũng đă có vợ là Hoàng Thị Hoàn và ba con, tại quê nhà. Vũ Hoàng Chương kể tiếp câu chuyện t́nh lạ lùng, đă khai sinh những câu thơ nổi tiếng với chữ Khanh đầy bí mật, và cũng là lịch sử một đoạn đời kháng chiến:

    "Tối hôm đó diễn vở kịch thơ Lên Đường của Hoàng Cầm. Chỉ có 4 vai - đều vai chính cả!- Nhưng điều đáng nói là một trong bốn vai ấy đă do Tuyết Khanh đóng. "Người đẹp" này, Hoàng đă từng chiêm ngưỡng trên màn bạc rồi -Phim Cánh đồng ma của ông bạn Đàm Quang Thiện[11] và cũng chẳng thấy ǵ đáng mê lắm. (...) Thế mà -ai học đến chữ ngờ!- cơn mê đă bắt đầu chiếm đoạt Hoàng trọn vẹn, cách hai tuần sau, để kéo dài măi, đến giờ phút này cũng chưa hẳn nhoà tan đấy (...)

    "Nửa đời sương gió ngang tàng lắm

    Mềm, chỉ v́ Khanh, một trái tim..."

    Ôi, chỉ v́ Khanh! V́ Khanh! Chắc chắn Khanh ngạc nhiên. Mà chính Hoàng lại đă ngạc nhiên trước hết. Ngạc nhiên gấp hai lần Khanh, gấp bốn lần Hoàng Cầm. Và gấp cả một trăm lần thiên hạ (...) Và h́nh như sau chuyến lưu diễn Thái B́nh, mọi người đang sửa soạn tập vở Kiều Loan của thi sĩ Hoàng Cầm th́ phải. (...) Thật ra, Khanh c̣n đang bận tập Kiều Loan, Hoàng cũng đang bận viết bài cho Thế sự, chẳng ai muốn mua dây tự buộc ḿnh. Chỉ cốt hợp thức hoá mỗi liên hệ của Hoàng và Khanh thôi. Đừng để ai phá đám.
    Thí dụ nhà thơ Hoàng Cầm (...) Khăng khít như vậy mà rồi sau đêm mười chín tháng mười hai Dương lịch[12] Khanh và Hoàng khởi sự lạc nhau. Lạc thôi chứ chưa mất. Hoàng trên bước tản cư phiêu lưu tới phủ Xuân Trường, ḷng nhớ Khanh càng nổi dậy. Chẳng biết con người bạc mệnh kia đă phải trải qua những nhịp cầu đoạn trường nào thêm? Hiện nay ở đâu: Hưng Yên, Phủ Lạng Thương hay Bắc Kạn?...

    Khanh của Hoàng ơi, lửa bốn phương

    Khói lên ngùn ngụt chén tha hương,

    Nghe vang sóng rượu niềm ly tán

    Chạnh xót ṇi thơ buổi nhiễu nhương" (...)

    Một đêm trăng, Thứ Lang[13] dẫn Khanh từ Đống Năm[14] vào, cùng với Kiều Liên[15]. Mới tạm xa nhau chưa đến hai mươi tháng mà khi tái ngộ nh́n nhau cứ ngơ ngáo như trong mộng ấy thôi !

    Khanh đă về trong lửa Túy hương

    Khoé thu lộng gió tóc cài sương (...)

    Qua năm 1949, Hoàng dời chỗ ở sang làng Duyên Tục (thường gọi là làng Tuộc), rồi lại chuyển tới huyện Đông Quan (làng Trầu). Nhưng cách Đống Năm vẫn không xa. Và như vậy, Khanh vẫn gần Hoàng. V́ Khanh đă ly khai hẳn với ban kịch Đông phương, không theo họ đi lang thang lưu diễn vùng Bắc nữa, mà về ở Thái B́nh, sống đơn chiếc như một ẩn sĩ thời loạn (...) Đầu năm 1950, Hoàng trở về Hà Nội, giữa khi súng đạn tràn tới Liên khu ba, Đống Năm bị phá nát, chẳng hiểu Khanh trôi dạt nơi nào[16]".

    Tuyết Khanh và Hoàng Cầm rời Hà Nội sau ngày toàn quốc kháng chiến; giữa 1947, hai người gia nhập Vệ Quốc Đoàn chiến khu 12, Hoàng Cầm thành lập Đội văn công tuyên truyền đầu tiên trong quân đội cùng với Hoàng Tích Linh, Trúc Lâm, Văn Chung... Giữa đường gặp Phạm Duy, Ngọc Bích, cùng nhập bọn. Tuyết Khanh có mang 6 tháng, phải ở lại "an dưỡng trong một quân y viện ở huyện Hữu Lũng".

    Hoàng Cầm, Phạm Duy tiếp tục đi lưu diễn ở Việt Bắc. Đầu năm 1948, Tuyết Khanh sinh con gái là Kiều Loan, nhưng hai người mất liên lạc. Tuyết Khanh về Thái B́nh rồi hồi cư về Hà Nội. 1950, Vũ Hoàng Chương về Hà Nội gặp lại Tuyết Khanh. 1952, Ban kịch Sông Hồng diễn Thằng cuội của Vũ Hoàng Chương, Hoàng mời Khanh đóng vai Hằng Nga nhưng nàng từ chối. "Từ đó, Hoàng với Khanh chẳng c̣n sánh vai nhau trong ảo mộng sân khấu một lần nào nữa. Hoàng cũng chẳng c̣n đủ hào hứng để viết thêm một vở kịch thơ nào"[17].

    Thời ấy, Vũ Hoàng Chương đă nổi tiếng với Thơ say (1940), Mây (1943) và kịch thơ Trương Chi (1944) gồm ba vở: Trương Chi, Vân Muội và Hồng Điệp. Trương Chi hay hơn cả, nhưng chưa thể sánh với Kiều Loan của Hoàng Cầm. Hoàng Chương nể Hoàng Cầm v́ lẽ đó. Đến 1951, Vũ Hoàng Chương mới viết kịch thơ Tâm sự kẻ sang Tần[18]. Nếu không có Kiều Loan, chưa chắc đă có Tâm sự kẻ sang Tần, đó là hai tác phẩm lớn của thi ca Việt Nam.

    V́ Tuyết Khanh mà Hoàng Chương bỏ kịch thơ.

    V́ cách mạng, mà Hoàng Cầm phải treo cổ kịch thơ.

    Hai thi tài. Hai mệnh số. Hai quyết định bi đát.



    Còn tiếp ...

  3. #2353
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 12

    ● Kiều Loan

    Thân phận Kiều Loan lênh đênh như toàn bộ tác phẩm của Hoàng Cầm. Khởi thảo cuối xuân 1942 đến giữa 1943, đă tạm xong, Hoàng Cầm định đưa lên sân khấu Bắc Giang, nhưng bị viên chánh công sứ Pháp, thạo tiếng Việt, kiểm duyệt bỏ. Đến cuối 1943, ban kịch Hà Nội của Chu Ngọc định dàn dựng, cũng bị kiểm duyệt Pháp chặn.
    Luyện tập trong bốn tháng. Tŕnh diễn trong bốn giờ. Sáng 26/11/1946, tại nhà Hát Lớn Hà Nội. Một buổi duy nhất, rồi bị Trần Duy Hưng ra lệnh đ́nh chỉ. Đó là quyết định sai lầm đầu tiên của cách mạng về Kiều Loan.

    Hoàng Cầm kể: "Chúng tôi vừa hạ màn chót cho vở diễn lúc 1 giờ 15 phút. Sau những tràng vỗ tay kéo dài th́ ông Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng thành phố Hà Nội cho người ra mời anh Chù, anh Linh và tôi lên trụ sở Ủy ban. Ông ra lệnh cho chúng tôi phải hoăn những đêm diễn đă được Ủy ban cho phép. Lư do: quân đội Pháp đă đánh Hải Pḥng và càng ngày càng khiêu khích trắng trợn Hà Nội. (...) Thế là số phận vở kịch lại lênh đênh. Tôi ngậm ngùi se sẽ ngâm câu Kiều:
    Phận bèo bao quản nước sa
    Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh..."[19]

    Lần thứ nh́, 1948, Hoàng Cầm định tŕnh diễn Kiều Loan trong ngày khai mạc Đại Hội Văn Hóa Toàn Quốc[20]:

    "Tôi đưa đơn đến tận tay anh Nguyễn Đ́nh Thi, lúc đó đang là Tổng thư kư Hội Văn hoá cứu quốc, đơn kèm theo kịch Kiều Loan. Rồi tôi hồi hộp chờ đợi (...)

    Không khí cuộc gặp mặt bỗng trở nên nghiêm trang và lời mở đầu câu chuyện của anh Thi lại càng làm cho nó thêm lạnh nhạt, căng thẳng:

    - Tôi đă nhận được vở kịch của anh. Cả lá đơn nữa. Anh Nguyễn Huy Tưởng và anh Nguyên Hồng đă giới thiệu Kiều Loan với tôi. Tôi cũng đă đọc qua (...)

    - Rằng hay th́ thật là hay!

    Hai tiếng cuối câu đay xuống, tôi nghe như có vẻ vừa giễu cợt vừa hững hờ. Và anh Thi cũng chỉ nói có thế. Không hơn nửa lời. Rồi anh thu dọn sổ sách, như có ư bảo tôi "Về đi!". Cũng để cho anh lính mới làng văn biết rằng mỗi giờ mỗi phút với anh Thi là vàng ngọc đấy!"[21].

    Cũng Nguyễn Đ́nh Thi này, năm 1956, sẽ nài nỉ Hoàng Cầm, lúc đó trách nhiệm nhà xuất bản Văn Nghệ, in giùm tập thơ không vần sửa thành có vần theo lệnh Tố Hữu.

    Sau lần tŕnh diễn duy nhất tại Hà Nội ngày 26/11/46, Kiều Loan bị đ́nh chỉ. Hoàng Cầm cùng ban kịch rời Hà Nội, đi lưu diễn ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái B́nh, đem Kiều Loan diễn ở các đ́nh làng vùng Bắc Ninh, được gần một tháng.
    Ngày 19/12/46 chiến tranh bùng nổ, ban kịch Đông Phương phải giải tán. Kịch bản Kiều Loan, bị thất lạc trong những năm kháng chiến. Bản chính do Lưu Quang Thuận giữ, khi Pháp nhẩy dù Bắc Cạn, bản thảo của các văn nghệ sĩ phải ném xuống hồ Ba Bể, trong đó có Kiều Loan.

    Măi đến 1970, nhờ một số bạn cũ c̣n giữ được bản đánh máy, Hoàng Cầm kết hợp, "trùng tu" lại bản thảo 1946. 1992, Kiều Loan được xuất bản sau khi sáng tác 50 năm.
    Kiều Loan chính là hoá thân của Hoàng Cầm. Những nghệ sĩ lớn thường tạo những t́nh huống có tính cách tiên tri. Sáng tác năm 1942, lúc Hoàng Cầm 20 tuổi và đă nổi tiếng. Trước một "tương lai sáng lạn" như thế, tại sao người thanh niên ấy lại nghĩ đến một nhân vật bi thảm như Kiều Loan? Rồi Kiều Loan sẽ "vận" vào số phận Hoàng Cầm như một thực tại đớn đau mà người nghệ sĩ không thoát khỏi, trong cuộc đổi đời của đất nước. Kiều Loan trong thời Pháp thuộc và dưới thời cách mạng, đều bị cấm, không v́ t́nh cờ, mà v́ nội dung tác phẩm:

    Kiều Loan, con gái một cựu thần Tây Sơn, đi t́m chồng Vũ Văn Giỏi. Mười năm trước, theo lời Kiều Loan, Vũ lên đường giúp Quang Toản sau khi Quang Trung băng hà. Tới Phượng Hoàng Trung Đô, nghe tin Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền, Vũ ngả theo Nguyễn Ánh, trở thành Vũ tướng quân, bạo tàn càn quét những người dân chống lại nhà Nguyễn.
    Kiều Loan giả điên đến Phú Xuân, tại đây, nàng gặp ông già, thầy cũ của Vũ. Kiều Loan làm huyên náo cửa thành, cố t́nh bị bắt vào dinh, để nh́n lại người xưa. Kiều Loan và ông thày cũ bị giam trong ngục. Kiều Loan uống thuốc độc tự vận cùng với ông già. Trước khi chết, nàng chém người chồng phản bội.

    Kiều Loan, một bi hùng ca bao quát lịch sử dân tộc, dơi vào những mốc chính: Nam Bắc phân tranh. Nguyễn Ánh cầu viện Pháp để diệt Tây Sơn. Gia Long thắng trận trở thành độc tài chuyên chế, tiêu diệt những khuynh hướng đối lập.

    Một nội dung như vậy, tất nhiên, không chỉ thực dân Pháp căm giận:

    "V́ chính sự bạo tàn Ôi! Nước mắt

    Bao nhiêu lần rỏ xuống những hồn oan?

    Chính sự ǵ đi cầu viện ngoại bang

    Về tàn sát những người dân vô tội"



    Mà tất cả những kẻ cầu viện nước ngoài để vững quyền chấp chính cũng phải hổ ḿnh. Một triều đ́nh vừa "thống nhất sơn hà", nhưng lệnh đầu phát ra là lệnh cấm:

    ... Vua cấm đèn cấm lửa

    Cấm dân gian đi lại ở kinh thành

    Lệnh thứ nh́ là cấm hát:

    Vua có lệnh bắt những người hát nhảm

    Đầu sẽ bêu sương gió nếp hoàng thành



    Nhưng Kiều Loan, giai nhân tuyệt sắc, nào có sợ ǵ, nàng xuất hiện như một người điên, nàng cứ hát những lời phản biện:

    Chị buồn chị hát vang lừng

    Cỏ cây sa lệ núi rừng ngẩn ngơ



    Kiều Loan là vở kịch thơ hay nhất của Hoàng Cầm và thời tiền chiến. Phải mười năm sau, Tâm sự kẻ sang Tần với bút pháp bay bổng của Vũ Hoàng Chương mới có thể kế vị.
    Kiều Loan nói lên chí khí bất khuất của Hoàng Cầm trong thi ca, tiên tri định mệnh đất nước:

    - Về cuộc Cải Cách Ruộng Đất:

    Thà giết oan trăm mạng lương dân

    Hơn để thoát một tên phản nghịch

    - Về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm:

    Mà trước mắt, cuộc xoay vần thời thế

    Gạt ra ngoài hầu hết bậc tài danh

    Bọn hủ nho nhan nhản khắp triều đ́nh

    Nơi tù ngục chất đầy người nghiă khí

    Gỗ mục, thép cùn múa tay trong bị

    Lau sậy nghêng ngang làm cột trụ giang sơn

    - Về cảnh chiến tranh cốt nhục tương tàn:

    Một nước nhỏ mà phân chia Nam Bắc

    Xâu xé nhau v́ hai chữ lợi danh

    Tam vương, ngũ đế, cướp đất phá thành

    Mấy trăm năm nghe dân t́nh xao xao xác

    Thay cái đạo làm người bằng giáo mác

    Yến ẩm lầu cao... xương máu chan ḥa

    - Về ảo mộng chiến thắng:

    Cờ nêu cao chiến thắng nhuốm chiêu dương

    Mà rút lại cũng chỉ là giấc mộng.


    Kiều Loan có những câu thơ lạnh người:

    Chí lớn từ xưa chôn chật đất
    Riêng đàn đom đóm lại thênh thang.

    Bọn "đom đóm", Hoàng Cầm đă thấy từ tuổi hai mươi, sau này sẽ sẽ ngập trời đất Bắc. Các "chí lớn" trong NVGP, và sau NVGP, đă và hiện c̣n đang bị chôn vùi trong ngục tối. Nhưng nhà thơ luôn luôn có lời chót:

    Làm mất nhân tâm th́ miếu lớn tượng to

    Dân đạp dí xuống bùn là hết chuyện.



    Còn tiếp ...

  4. #2354
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 12

    ● Hoàng Cầm - Phạm Duy, Việt Bắc 1947-1948

    1947-1948, giai đoạn khởi đầu, và cũng là giai đoạn quyết định số phận cuộc kháng chiến. Ở thời điểm này, đảng Cộng sản chưa thực sự ra mặt, chính sách Mác-Lê-Mao chưa chính thức công bố, toàn thể văn nghệ sĩ tương đối được tự do, họ tin tưởng vào cuộc kháng chiến dưới sự lănh đạo của Việt Minh. Những bài thơ, những bản nhạc hay nhất xuất hiện. Tinh thần xông pha của nghệ sĩ đă có tác dụng mạnh trên bộ đội và quần chúng. Nếu không có sự trợ giúp đắc lực của văn nghệ sĩ, diện mạo cuộc chiến chống Pháp chưa biết sẽ ra sao. Hoàng Cầm kể:

    "Một ngày giữa năm 1947- tôi và vợ tôi Tuyết Khanh (...) đă xông lên một vùng rừng núi đang rất xa lạ với ḿnh, nhập luôn vào Vệ Quốc Đoàn chiến khu 12, rồi mày ṃ, t́m bạn, thành lập ngay một đội văn nghệ tuyên truyền, có thể gọi là đội Văn Công đầu tiên của quân đội (...) đến với từng trung đội, đại đội Vệ Quốc Quân, dân quân, du kích khắp bốn tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Ninh, Lạng Sơn để biểu diễn đủ loại kịch ngắn, kịch nói, kịch cương, ngâm thơ, hát tốp ca, đơn ca, múa vài ba điệu dân dă học được của đồng bào miền xuôi, miền ngược (...) Nửa đêm nay tiểu đội A đi phục kích ư? Trung đội C đi quấy rối địch ư? Chập tối họ vẫn được nghe giọng ngâm thơ sang sảng...

    Đêm liên hoan, bạn ơi, đêm liên hoan

    Đầu nhấp nhô như sóng bể ngang tàng

    Ta muốn thét cho vỡ tung lồng ngực

    V́ say sưa t́nh thân thiết Vệ Quốc Đoàn [22]


    Nhiều khi họ lại "đồng ca" luôn theo đội văn nghệ:

    Đường ta ta cứ đi

    Nhà ta ta cứ xây

    Ruộng ta ta cứ cầy

    Đợi ngày ...


    Say sưa, họ c̣n vỗ tay theo điệu hát:

    Ngày mai ta tiến lên

    Diệt tan quân Pháp kia

    Cười vui ta hát câu tự do...

    (Nhạc tuổi xanh, P.D)[23]


    Hoàng Cầm tả lại bối cảnh gặp gỡ Phạm Duy trên lộ tŕnh sáng tác và tŕnh diễn:

    "Vào một buổi chiều cuối thu 1947. Trên đường đê sông máng đi từ đập Takun[24] có ba người, 1 quàng ghi ta, 1 đeo accordéon, 1 đeo clarinette, ngơ ngác hỏi thăm chỗ đóng quân của Đội Văn Nghệ Tuyên Truyền khu 12. Đó là anh P.D, Ngọc Bích và Ngọc Hiền, đang t́m về với đội văn nghệ của Hoàng Cầm sau khi đoàn kịch Chiến Thắng của các anh giải thể (...)
    Riêng P.D, trong khoảng 13 tháng sát cánh bên nhau tôi cần phải nói thêm rằng có anh trong đơn vị, người tôi như mọc thêm cánh (...) Tôi cứ chuyển quân liên miên ... nay vừa biểu diễn ở Nhă Nam, mai đă sang Bố Hạ (...) Sáng ra lại xuất quân. PD mê man đi, vừa đi vừa lẩm nhẩm thầm th́ sáng tác th́ chợt đến khi bắt được một giai điệu đẹp, tha thiết, là anh ngồi ngay xuống tảng đá bên đường, lấy bút giấy ra ghi. Nếu chỉ qua được một đoạn đường mà xong được một bài, anh lập tức kêu tôi và các bạn dừng lại, túm tụm trên vệ cỏ, nghe anh hát.

    Đường Lạng Sơn âm u (ù u)

    Giờ b́nh minh êm ru (ù u)

    Vẳng nghe tiếng súng trong sương mù

    Đường Thất Khê bao la (à a)

    Rừng núi ta xông pha (à a) (...)


    Cứ như vậy, toàn đội, đặc biệt là PD đă truyền cho tôi sức mạnh dẻo dai để vừa đi vừa sáng tác. Ghi ngay thành thơ hoặc chủ đề kịch ngắn những cảm xúc, những ư tứ bất chợt loé lên trong tôi. Sáng tác đến đâu biểu diễn luôn đến đấy (...) trong ṿng chưa đầy 12 tháng, PD đă liên tục sáng tác hàng chục ca khúc, có nhiều bài chỉ hát đôi ba lần, bộ đội đă thuộc ḷng (...) Ở những tác phẩm của anh hồi đầu kháng chiến, tôi ít thấy cái da diết, thắm thiết đến khắc khoải như một vài ca khúc của Nguyễn Xuân Khoát, Văn Cao ... Nhưng quả thật PD là người viết ca khúc được hầu hết các chiến sĩ bộ đội, cán bộ và thanh niên nam nữ khắp Việt Bắc lúc bấy giờ yêu mến nhất, nhắc nhở nhiều nhất, vượt xa các nhạc sĩ nổi tiếng cùng thời"[25].

    Phạm Duy viết về giai đoạn này:

    "Cuối năm 1947 đó, tôi và Ngọc Bích từ tỉnh lỵ bị tiêu hủy hoàn toàn là Thái Nguyên đi bộ qua Bắc Giang, t́m về làng Lan Giới thuộc khu Nhă Nam, Yên Thế (...)

    Tôi và Ngọc Bích vác ba lô đi t́m Bộ Chỉ Huy của Khu XII. Ở đó, tôi gặp Hoàng Cầm. Nó đang chuẩn bị thành lập một đội văn nghệ cho chiến khu này cùng với nhà viết kịch Hoàng Tích Linh, diễn viên Trúc Lâm và vợ chồng Văn Chung (...) Tôi và Ngọc Bích nhập ngay vào cái đội văn nghệ chỉ có vỏn vẹn bẩy, tám người đó để từ Bộ Chỉ Huy, chúng tôi đi lưu diễn ở những nơi có Vệ Quốc Đoàn đóng quân trong ba tỉnh Bắc Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn.

    Gặp Hoàng Cầm, tôi yêu nó ngay. Nó bằng tuổi tôi[26]. Trong khi tôi thích đùa rỡn th́ nó giống như một ông đồ non, lúc nào cũng ngồi hút thuốc lào, rung đùi, trầm ngâm. Nó đang sống chung với Tuyết Khanh (...) Đi theo Hoàng Cầm ra vùng kháng chiến, Tuyết Khanh, mà lúc đó Hoàng Cầm cũng đổi luôn tên là Kiều Loan, đang có thai và bắt buộc phải ở lại vùng trung du để Hoàng Cầm và chúng tôi lên đường đi lưu diễn. Trong bữa cơm đạm bạc để chia tay nhau giữa hai vợ chồng Hoàng Cầm tại Phố Nỉ (Bắc Giang), tôi c̣n nhớ cảnh Hoàng Cầm ngồi rung đùi ngâm thơ bên cạnh người vợ mà rồi đây nó sẽ không bao giờ gặp lại nữa, giọng ngâm buồn rười rượi..."[27]


    Còn tiếp ...

  5. #2355
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 12

    ● Đêm Liên Hoan, Tâm sự đêm giao thừa

    Bên kia sông Đuống

    Phạm Duy viết về ba tác phẩm chủ yếu của Hoàng Cầm trong thời kháng chiến:

    "Bài thơ Đêm Liên Hoan[28] được viết ra ngay trong những ngày đầu đi công tác. Hoàng Cầm và tôi diễn ngâm bài này rất nhiều lần trước hàng trăm, hàng ngàn Vệ Quốc Quân:

    Đêm liên hoan đầu nhấp nhô như sóng bể ngang tàng.

    Ta muốn thét cho vỡ tung lồng ngực

    V́ say sưa t́nh thân thiết Vệ Quốc Đoàn.


    Biết bao nhiêu Vệ Quốc Quân "lao đầu vào giặc" sau khi nghe những lời thơ đầy hào khí và thân thiết này:

    Trong tiểu đội của anh

    Những ai c̣n ai mất?

    Không ai c̣n, ai mất

    Ai cũng chết mà thôi.

    Người sau kẻ trước lao vào giặc

    Giữ vững ngh́n thu một giống ṇi

    Dù ta thịt nát xương phơi

    Cái c̣n vĩnh viễn là người Việt Nam...


    Ngoài bài thơ Đêm Liên Hoan soạn cho riêng tập thể chiến sĩ, Hoàng Cầm- cũng như tôi lúc đó- rất quan tâm tới người dân thường. Lúc đó tôi cũng đă đưa vào loại dân ca kháng chiến của tôi những h́nh ảnh anh thương binh, người mẹ già, người vợ hiền, đàn trẻ nhỏ ... nhiều hơn là h́nh ảnh Vệ Quốc Quân. Hoàng Cầm, qua bài "Bên Kia Sông Đuống"[29] cũng đưa ra một cách tuyệt vời những h́nh ảnh cô hàng xén răng đen, môi cắn chỉ quết trầu, cụ già phơ phơ tóc trắng, em bé xột xoạt quần nâu. (...)
    Những bài thơ kháng chiến như vậy đă được Hoàng Cầm và tôi diễn ngâm trong rừng sâu, trên đồi cao hay trong những hang đá dưới ánh đuốc bập bùng, có khi chỉ cách một đồn địch chừng vài ba cây số.

    Vào khoảng đầu năm dương lịch 1948 tức là sắp sửa tới Tết âm lịch (...) Hoàng Cầm sáng tác thêm một bài thơ nhan đề "Tâm Sự Đêm Giao Thừa" mà tôi cho là tuyệt vời. Hoàng Cầm đưa ra h́nh ảnh một người lính giữ nước, đang đứng gác trong một khu rừng vắng, giữa đêm giao thừa (...) Bài thơ kết thúc với những câu thơ vô cùng thân yêu và đầy hào khí như trong những bài thơ khác của Hoàng Cầm:

    Cha con ăn Tết lập công

    Cho sữa mẹ chẩy một ḍng ngh́n thu.

    Cha đem cái chết quân thù

    Làm nên sức sống bây giờ của con. (...)


    Phải ghi nhận một điều rất quan trong là tác dụng của bài thơ. Nó đă có khả năng diệt giặc hơn cả những vơ khí tối tân lúc đó như SKZ (súng không giật) hay bazooka vân vân ... Trong ba lô của bất cứ một Vệ Quốc Quân nào cũng đều có những bài thơ chép tay của Hoàng Cầm. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp không thể nào thành công nếu không có những tác phẩm văn nghệ như những bản nhạc của Văn Cao, và những bài thơ của Hoàng Cầm, Quang Dũng (...)
    C̣n nhớ có một lần, tôi và Hoàng Cầm ngâm bài thơ Đêm Liên Hoan cho bộ đội nghe 15 phút trước giờ tấn công đồn địch. Sau đó một anh bộ đội đă nói: "Tôi vào giữa đồn mà vẫn c̣n nghe tiếng ngâm thơ của các anh văng vẳng ở trong đầu". Thế mới biết sức mạnh của văn nghệ"[30].


    Còn tiếp ...

  6. #2356
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 12

    ● Đóng góp máu xương trong kháng chiến

    Nhưng kháng chiến không chỉ có hào hùng, mà c̣n là đói khát, chết chóc, kinh hoàng.
    Hoàng Cầm nhắc lại thực trạng 1949, năm cam go nhất trong kháng chiến:

    "... lên rừng sẵn sàng ăn cơm với muối, không có cả gạo nữa th́ ăn cả củ mài (...). Măng nứa, măng mai là ăn văn hết rồi. Mà vẫn đói quá, bởi v́ năm 49 là năm đói nhất. Chính vợ Hoàng Cầm là một, con gái Hoàng Cầm là hai, chỉ v́ đói, ăn lung tung cả mới sinh bệnh mà chết. Hai mẹ con chết liền trong một tuần lễ trong lúc tản cư năm 49.(...) Rồi đến năm 52, đóng góp một giọt máu nữa cho kháng chiến chống Pháp là người em ruột của Hoàng Cầm, nó cũng rất có tài về văn nghệ.(...) Hoàng Cầm cử nó làm đại đội trưởng đội văn công Tây Bắc(...) Cậu ấy đi đánh phỉ và bị phỉ nó sát hại, cả một đội văn công 12 người, chết hết"[31].

    Hồ Dzếnh cũng mất người vợ và con trai lên ba. Nhà thơ ghi lại bối cảnh kinh dị của người cha hôn cái xác bé bỏng: "Rồi cái hôn ḅ lên tóc, lên tai, lên môi, lên cổ, cái hôn đi lần xuống khắp người, và ngừng lại ở hạt giống bé nhỏ. Nhưng vẫn không một lời nói cất lên giữa cái mê đắm kỳ dị, man rợ đó, ngoài tiếng thở rít lên, hít vào khoan khoái. Lần cuối cùng người cha "ăn" con bằng những cái hít rùng rợn, cũng như ngày trước, chính con người đó, đă đôi lúc muốn "quay rô-ti" con lên"[32].

    Và thay con, Hồ Dzếnh viết lại tâm cảm đứa bé nhay vú mẹ, người mẹ dốc cạn sữa cho con đến tàn lực, tàn hơi:

    "Có lúc tôi nhai mạnh đầu vú. Ở chỗ thịt nứt, nước miếng tôi thấm vào, tia sữa bị rút lên, nghe buốt đến tận ruột mẹ. Và sữa tuôn ra với máu, chảy tràn ra hai mép tôi, chất ngọt dịu pha lẫn mùi vị tanh hăng làm cổ tôi nuốt vội. Mẹ tôi co người, nghiến chặt răng lại, đôi mắt chớp chớp trong ḍng lệ nóng hổi" [33].



    ● Hội Nghị Văn Nghệ Việt Bắc 1950

    Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ của ḿnh


    1949 cũng là năm Mao thành công tại Trung Quốc, đuổi Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan. Tháng 1/1950, Đại Hội III Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố chính thức đi theo đường lối Trung Quốc, thực hiện Đấu tranh giai cấp trên toàn lănh thổ.

    Trong bối cảnh đó, đại hội văn nghệ tháng 8/1950 tại Việt Bắc, có tính cách quan trọng đặc biệt, quyết định dành ưu tiên cho Kịch (bộ môn có tương lai trong nền văn nghệ xă hội chủ nghiă) và loại trừ tất cả những sản phẩm văn nghệ được coi là tàn tích của phong kiến và tiểu tư sản như Tuồng, Chèo, Cải lương, Kịch thơ ra khỏi nền văn nghệ Cách mạng.

    Quyết định này phù hợp với chính sách tiêu diệt phong kiến và loại trừ tiểu tư sản ra khỏi hàng ngũ Đảng. Quyết định này, đă buộc Hoàng Cầm phải "treo cổ" kịch thơ của ḿnh, đă khiến Phạm Duy và nhiều văn nghệ sĩ khác bỏ kháng chiến vào thành, trong số đó có những Doăn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Vơ Phiến ... sau này sẽ trở thành những cột trụ xây dựng nền Văn Học Miền Nam.


    Còn tiếp ...

  7. #2357
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 12

    Báo Văn Nghệ dành hai số đặc biệt 25 và 26 (8-9/1950) về Hội Nghị Việt Bắc, với những lời giới thiệu xứng với tầm vóc đại hội:

    "Ngày 26/7, hai năm sau Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ hai, đă khai mạc cuộc họp mặt văn hoá văn nghệ năm 1950. Non 100 đại biểu của Việt Bắc, khu ba, khu tư, và khu năm rất xa, đă tề tựu dưới mái giảng đường trường văn nghệ nhân dân. Các đại biểu đă vượt hàng tháng đường dài qua rừng núi, nắng mưa, qua những đồn giặc" [34].

    Báo Văn Nghệ số 26, giới thiệu "Hội nghị tranh luận sân khấu" với 2 bài chính: Bài biên bản, không kư tên, và bài Những ngày hội nghị của Tô Hoài.

    1- Bài biên bản cho biết: Thế Lữ tuyên bố khai mạc hội nghị. Tố Hữu đặt vấn đề thảo luận. Đoàn Phú Tứ thuyết tŕnh "Quan niệm xây dựng sân khấu Việt Nam" với bốn ư chính:

    Tuồng: "Thái độ dứt khoát của chúng ta bây giờ là đưa nó vào Viện bảo tàng".

    Chèo: "Nên yêu chèo như một tử ngữ, hăy trân trọng xếp nó vào Viện bảo tàng".

    Cải lương: "Cải lương Nam Kỳ là một nghệ thuật quái gở, lai căng, sản sinh ra ở một thời đại múa may quay cuồng, điên điên dại dại, để giải trí cho một lớp người cuồng vọng, không biết ḿnh sẽ đi đâu, không biết ḿnh đương nghĩ ǵ, đương cảm xúc thế nào, lớp ngựi mới phát sinh trong thời Pháp thuộc, mất gốc mất rễ, và giao động đến cực độ".

    Kịch nói: Một h́nh thức biểu diễn sân khấu mới nhất, tuy c̣n ít thành tích, nhưng rất nhiều tương lai[35].


    Trong phần tranh luận, chỉ Lưu Hữu Phước và Tống Ngọc Hạp bênh vực cải lương. Kết Luận: Tuồng, Chèo là tàn tích của thời phong kiến. Cải lương là sản phẩm của giai cấp tư sản. Chỉ giữ lại Kịch và phổ biến rộng răi.

    Bài biên bản này không nói đến kịch thơ. Không nói đến sự kiện Hoàng Cầm thắt cổ kịch thơ. Tố Hữu được mô tả như một người ngoài cuộc, không có ư kiến. Nhưng theo Phạm Duy, Tố Hữu là người chủ đạo trong hội nghị.

    2- Bài "Những ngày hội nghị", của Tô Hoài cũng không nhắc đến vai tṛ của Tố Hữu. Tô Hoài chỉ thuật lại bối cảnh đêm diễn kịch thơ của Hoàng Cầm và việc Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ, với văn cách rất quen thuộc của ông. Trước hết Tô Hoài tả bối cảnh chung:

    "Tối nay, ba đội kịch đấu làm một. Đội liên khu Việt Bắc diễn "Ngày hội ṭng quân", kịch thơ của Hoàng Cầm, đội Vui Sống: "Số phải đi xa" kịch vui của Vơ Đức Diên, đội Chiến thắng: "Anh Sơ đầu quân" của Nguyễn Huy Tưởng. Khán giả không phải chỉ có một trăm đại biểu. Khán giả từ các làng xa trong cánh đồng, phụ lăo ông, phụ lăo bà, các trung nữ, các đồng chí Nông dân, các (...) đêm nào cũng ngh́n nghịt kéo đến, tối mưa thế nào cũng không bớt đông, đóm đuốc lượn rồng rắn rừng rực các bờ ruộng chật ṿng trong, ṿng ngoài sân khấu".

    Rồi ông nhận xét về kịch thơ "Ngày hội ṭng quân" và giọng ngâm của Hoàng Cầm:

    "Anh Dũng, chị Lụa đương t́nh tự trong "Ngày hội ṭng quân". Nói chuyện thường như ta nói qua bờ rào, nhưng đây đôi trai gái ấy lại đọc thơ cho nhau nghe. Có cái việc đi ṭng quân mà cừ dùng dằng, bần thần măi. Đứng dưới, bà con x́ xào: "Sốt ruột thế!" - "Cái chị phụ nữ tốt giọng nhẩy !" - "Khốn khổ cái ông già ốm hay sao mà khặc khừ, lử đử vừa nói vừa run thế?" (ông già ấy đọc thơ). Đại khái tự dưng người ta nói, hoặc tôi hỏi, người ta nói như thế. Tôi nhớ lấy. Để mai nghe Hoàng Cầm mổ sẻ về nó. Lâu lắm mới lại được nghe Hoàng Cầm ngâm thơ. Cái giọng tài hoa sang sảng ấy, ngày trước vang ngân giữa cái tai bạn -những "kẻ sĩ" tiêu dao ngày tháng- bấy giờ nó ấm, nó tê tái thế, mà sao bây giờ nó lại loăng, nó nhạt trước một đám đông công chúng, xù x́, nhộn nhạo thế này. Tôi nghĩ lẩn thẩn giọng Hoàng Cầm hỏng thế, hay là tại thơ Hoàng Cầm?"

    Sau cùng, Tô Hoài tả việc Hoàng Cầm tự kiểm thảo và tự treo cổ kịch thơ của ḿnh:

    Chiều 22/3[36] Hoàng Cầm đứng trên diễn đàn (...) Hoàng Cầm nói về kịch thơ của ḿnh (...) Anh phân tích "Ngày hội ṭng quân" - Tôi định làm thơ th́ lại là tôi giết chết kịch. Định làm kịch th́ chết thơ. Chỗ nào tác giả cho là lâm li th́ lải nhải, chỗ nào tôi chỉ có đối thoại thường, th́ người xem lại cho là dễ nghe. Kịch thơ không thể sống được, nó không diễn tả đúng nhân vật. Bây giờ và cả mai sau, nó không thể c̣n đất đứng.

    Hoàng Cầm bùi ngùi (thật cái thái độ của nhà kịch thơ lúc bấy giờ như thế) Hoàng Cầm bế kịch thơ của anh lên ghế đẩu, từ từ dấn đầu nó vào cái tḥng lọng, rồi đạp cái ghế đi.

    "Hội nghị này thanh toán cho tôi câu chuyện kịch thơ. Tôi xin tuyên bố: cho đến vở "Ngày hội ṭng quân" (1949), tôi cho là cái sản phẩm cuối cùng của một sở trường cũ của tôi". Sau lời kêu gọi đưa ma cái đám thắt cổ ấy của nhà kịch thơ Hoàng Cầm, cử tọa im ĺm, tưởng đă nghe tiếng sinh, tiếng phèng phèng, đám đông đang sửa soạn khóc cười phúng viếng."[37]

    Bài của Tô Hoài trích dẫn trên đây, tiêu biểu cho lối "viết, lách" thần t́nh của ông. Để chứng tỏ sự "xuống dốc" của Hoàng Cầm, Tô Hoài nhắc lại "giọng tài hoa sang sảng" và "thành tích công tác treo đầy người" của Hoàng Cầm ngày trước, để chứng tỏ Hoàng Cầm bây giờ "tệ" như thế nào: kịch thơ ǵ mà đôi trai gái chia tay chỉ ngâm thơ, không thấy nói! Ông già ǵ mà giọng run rẩy! Giọng Hoàng Cầm loăng và nhạt, không biết là thơ dở hay ngâm dở ... Mà dở như thế th́ phải tự "treo cổ" thơ ḿnh là cái chắc! Có ǵ mà tiếc! Tô Hoài có vẻ thú vị đă t́m ra những chữ đắc địa để đưa ma kịch thơ Hoàng Cầm: "tiếng sinh", "tiếng phèng", "tiếng khóc cười cúng viếng"!

    Khéo thay bút pháp Tô Hoài! Tiếc rằng sự lượn lẹo ng̣i bút vẫn c̣n vài lỗ hổng:

    Vào đầu, ông cho biết quần chúng "đêm nào cũng ngh́n nghịt kéo đến" xem. Vậy người đọc sẽ tự hỏi: kịch thơ Hoàng Cầm "dở" như thế, mà sao quần chúng "đêm nào cũng ngh́n nghịt kéo đến"? Rồi Tô Hoài hỏi: tại sao anh Dũng, chị Lụa không nói mà lại đọc thơ, khiến bà con x́ xào: "Sốt ruột thế!" Tức là ông mượn lời bà con để chê kịch thơ không nói như kịch nói đấy! Tô Hoài tuyệt nhiên không nhắc đến việc Tố Hữu có tuyên bố ǵ, mà cũng không thấy ai chỉ trích kịch thơ, chỉ một ḿnh Hoàng Cầm đứng lên tự xỉ vả và treo cổ kịch thơ của ḿnh! Mà lại chọn cái chết rất dở: tức là đưa ra một vở kịch tồi tệ của ḿnh, tự "phân tích" và tự nhận lỗi "Tôi định làm thơ th́ lại là tôi giết chết kịch. Định làm kịch th́ chết thơ" để đi đến kết luận "Kịch thơ không thể sống được". Tô Hoài viết vậy, chứ người đọc th́ biết chắc Hoàng Cầm không ngu như vậy. Tác giả Hận Nam Quan và Kiều Loan không thể "chết dở" như thế.

    Phạm Duy có mặt tại đấy, kể lại: "Đôi mắt của nó[38] vẫn c̣n sắc như dao, giọng nói của nó vẫn sang sảng", chứ có loăng, có nhạt ǵ đâu! Cả Vũ Cao[39] trong bài đánh Hoàng Cầm, cũng quả quyết: "Năm 50, trong một cuộc hội nghị văn công, Hoàng Cầm ngang nhiên tuyên bố:"Đảng không nên dúng bàn tay vào chuyên môn nghệ thuật"[40].



    Còn tiếp ...

  8. #2358
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 12

    Hoàng Cầm suốt đời gắn bó với kịch thơ, lại đáo để và cũng không coi Tố Hữu ra ǵ, vậy trước khi buộc kịch thơ của ḿnh phải tuẫn tiết, chắc chắn Hoàng Cầm đă nghĩ ra một cái chết oanh liệt, hoành tráng, nghiă là ông phải đưa hết tài năng vào buổi tŕnh diễn chót, v́ thế mà quần chúng đă đội gió mưa "đêm nào cũng ngh́n nghịt kéo đến", để xem cái chết của "kịch thơ Hoàng Cầm":

    Một mănh hổ chống sao đàn chó sói

    Thân tan tành bêu máu chợ Kinh Đô[41].

    C̣n Tô Hoài, đây không phải là lần đầu và lần cuối ông viết bậy. Trong Cát bụi chân ai, Tô Hoài thuật lại rằng khi ông đưa bài đánh NVGP của ḿnh trên báo Nhân Dân cho Nguyên Hồng xem, th́ "Nguyên Hồng nói như hét vào mặt tôi: Tiên sư mày, thằng Câu Tiễn! Ông th́ không, Nguyên Hồng th́ không. Nguyên Hồng quỳ xuống trước tôi, rồi cứ phủ phục thế, khóc thút thít"[42].

    Năm 1993, về Hà Nội gặp Tô Hoài, tôi hỏi: "Tại sao anh lại viết thế? Em thấy có cả bài của Nguyên Hồng đánh NVGP trên báo Nhân Dân th́ làm sao Nguyên Hồng có thể mắng anh được?". Bài Nguyên Hồng đăng Nhân Dân số 1451, ra ngày 2/3/1958, bài Tô Hoài đăng số 1461 ra ngày 12/3/1958, cách nhau có 10 ngày[43].

    Ông bèn nói lảng: "Tôi nhớ đâu viết đấy chứ có nghiên cứu ǵ như cô!". Tức là ông có thể bịa hẳn ra một giai thoại để chứng minh ḿnh đă "sám hối" ngay từ đầu, và ông "thành tâm" ghi lại "sự thực" ấy trong "hồi kư".



    ● Hội Nghị 1950 dưới sự ghi chép của Phạm Duy

    Rất may là Phạm Duy cũng ghi chép rất tỷ mỷ về Hội Nghị Văn Nghệ 1950, trong Hồi Kư Kháng Chiến, trọn chương 32, nhờ đó, ta có thể biết nơi họp đại hội là "Yên Giă, một khu rừng nằm gần ranh giới hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn." Từ Yên Giă, "đi vài quăng đường là tới Cù Vân, vượt qua Đèo Khế tới khu vực của các lănh tụ. Hang Pác Bó là nơi ở của Chủ Tịch họ Hồ cũng nằm ở đâu đây".

    Tới Yên Giă, Phạm Duy và Thái Hằng gặp Nguyễn Xuân Khoát "Và lập tức anh dắt tôi tới gặp Tố Hữu, người bắt đầu nắm trong tay vận mạng của toàn thể văn nghệ sĩ. Tố Hữu già hơn hồi tôi gặp anh ở Huế, vẫn ăn nói nhẹ nhàng nhưng có cái đanh thép ẩn trong câu nói".

    Về đại hội và đường lối của đại hội, Phạm Duy viết:

    "Thế rồi vào một ngày hè trong năm 1950 này, Đại Hội Văn Nghệ -có thêm vào đó hai chữ "Nhân Dân"- được khai mạc.(...) Trong ngày đầu tiên của Đại Hội, tôi thấy Chủ Tịch Đoàn đưa ra một đường lối gọi là "văn nghệ hiện thực xă hội chủ nghĩa". Mục đích chính là đưa ra một thứ kim chỉ nam cho tất cả mọi ngành sáng tác và biểu diễn. Mục đích phụ (hay đây mới là mục đích chính?) là biểu dương lực lượng văn nghệ sĩ và "báo cáo" đường lối chỉ huy văn nghệ của Nhà Nước cho các quan khách biết. Các quan khách đó là ai? Đó một số cố vấn Liên Xô, Trung Cộng và vị tân khách Léo Figuères, đại diện của Đoàn Thanh Niên Pháp Quốc đang ngồi ở hàng ghế đầu cùng với Trường Chinh, Tố Hữu, Trần Độ (...)

    Tôi cũng gặp cả Hoàng Cầm vừa mới tới Yên Giă cùng với các diễn viên nổi tiếng trong ngành Kịch Thơ như Trần Hoạt, Kim Lân. Tôi thấy Hoàng Cầm gầy đi nhưng đôi mắt của nó vẫn c̣n sắc như dao, giọng nói của nó vẫn sang sảng".

    Về Hội nghị tranh luận sân khấu, Phạm Duy viết:

    Dưới sự chủ tọa của Thế Lữ, Hội Trưởng của Hội Sân Khấu, một anh hội viên là Đoàn Phú Tứ đứng ra thuyết tŕnh về sự h́nh thành của sân khấu Việt Nam gồm có Tuồng Cổ, Chèo Cổ, Cải Lương, Kịch Thơ, Kịch Nói ... và xin mọi người thảo luận để định nghĩa cho một h́nh thức sân khấu mới mẻ nhất là Thoại Kịch tức Kịch Nói. Sau nhiều tranh luận, Đoàn Phú Tứ tóm tắt các ư kiến của những người phát biểu. Tất cả đă nhất trí với định nghĩa này:

    - Kịch là bộ môn nghệ thuật dùng sân khấu làm phương tiện tŕnh bày những cảnh đời đang có mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn đi tới chỗ kịch liệt th́ phải giải quyết. Giải quyết xong mâu thuẫn là hết kịch.(...)

    Đă tưởng thế là xong phần thuyết tŕnh và định nghĩa về Thoại Kịch sau khi các văn nghệ sĩ đă đồng ư với thuyết tŕnh viên Đoàn Phú Tứ. Nhưng lập tức một số cán bộ chính trị đứng lên đ̣i Chủ Tịch Đoàn phải bổ túc thêm vào biên bản của hội nghị:

    - Giải quyết những vấn đề trong các vở kịch th́ phải có lập trường. Vậy chúng ta đứng trên lập trường nào? Lập trường phong kiến? Lập trường tư sản hay tiểu tư sản? Không. Phải đứng trên lập trường của giai cấp vô sản.

    Về những phát biểu của Tố Hữu và việc Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ, Phạm Duy viết:

    Trong một buổi họp khác, tổ kịch đang thảo luận về đặc trưng của các bộ môn sân khấu như Tuồng Cổ, Chèo Cổ, Cải Lương, Kịch Thơ và Kịch Nói, Tố Hữu đứng ra lên lớp anh em, trước hết là đả kích bài Vọng Cổ. Tố Hữu nói:

    - Vọng Cổ có âm điệu ủy mị, làm cho người nghe bị ru ngủ, ḷng người nghe bị mềm yếu rồi người nghe cúi đầu xuống, tiêu tan cả chí phấn đấu. Lưu Hữu Phước, Tống Ngọc Hạp bèn kẻ trước người sau đứng lên bênh vực cho bài Vọng Cổ xuất xứ từ Nam Bộ của ḿnh, nói rằng:

    - Vọng Cổ hay lắm, hay lắm, không bỏ được Vọng Cổ đâu ạ. Nhưng Tố Hữu cười khảy:

    - Vâng, bài Vọng Cổ hay lắm. Hay đến độ đă làm cho Việt Nam mất nước, bây giờ trong kháng chiến, ta phải nên cấm nó.

    Nghe thấy vậy, bụng bảo dạ, tôi nghĩ: A! Tố Hữu nói như vậy th́ có nghĩa là Đại Hội Văn Nghệ Nhân Dân này phải có thái độ với bài hát đă "từ ḷng nhân dân mà ra". Lưu Hữu Phước và Tống Ngọc Hạp im lặng.(...) Chỉ huy xong sự khai tử bài Vọng Cổ, Tố Hữu đi tới phán quyết thứ hai của anh. Anh mạt sát thậm tệ Kịch Thơ:

    - "Nội dung kịch thơ phần nhiều chỉ phản ảnh tinh thần phong kiến. Cốt truyện đưa ra toàn là những nhân vật quan liêu. Lối diễn xuất bằng sự ngâm nga, nghe thật là rên rỉ, lướt thướt. Kịch Thơ không thích hợp với cuộc sống động của toàn dân đang kháng chiến".(...)

    Sau khi Tố Hữu đă đả kích Kịch Thơ xong rồi, cử tọa bỗng im phăng phắc, mọi người chăm chú nh́n vào Hoàng Cầm, mục tiêu của sự đả kích. Hoàng Cầm đứng dậy, nhấc cái ghế đẩu mà nó vừa ngồi lên, trịnh trọng bưng ghế ra đặt ở giữa hội trường, lấy ở trong túi ra một sợi dây dài, dùng dây buộc tập kịch thơ, xong leo lên ghế đẩu, giơ tập thơ vừa mới bị trói chặt lên thật cao, tuyên bố:

    - "Tôi xin treo cổ Kịch Thơ. Bắt đầu từ ngày hôm nay." (...)

    Tôi bị phê b́nh là tiêu cực với những bài như Bao Giờ Anh Lấy Được Đồn Tây[44], Bà Mẹ Gio Linh. Và tôi được khuyến khích để khai tử một bài hát quá ư lăng mạn và đang được phổ biến rất mạnh mẽ trong toàn quốc là bài Bên Cầu Biên Giới. (...) Phải nói rằng Đại Hội Văn Nghệ này rất thành công. Thành công ở chỗ đại đa số văn nghệ sĩ được "chỉ huy" mà không có ai dám phản đối ǵ cả. Nếu có phản đối, phải đợi khi tan xong Đại Hội và trở về tới địa phương rồi mới phản đối bằng cách... "dinh tê".[45]

    Ngày 1/5/1951, gia đ́nh Phạm Duy bỏ kháng chiến, về Hà Nội, rồi vào Nam.



    Còn tiếp ...

  9. #2359
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 12

    Hội Nghị Văn Nghệ Việt Bắc 1950, là giọt nước cuối cùng làm tràn chén. Ở những hội nghị trước đă có những đổ vỡ: Hội Nghị Văn hoá Toàn Quốc II, 1948: Nguyễn Hữu Đang bất đồng với Trường Chinh, bỏ về Thanh Hoá.

    Hội Nghị Văn Nghệ 1948 và 1949, phê b́nh các tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng và Thơ không vần của Nguyễn Đ́nh Thi.

    Hội Nghị Việt Bắc 1950: tiêu diệt Tuồng, Chèo, Vọng Cổ. Phê b́nh nhạc Phạm Duy. Bắt Hoàng Cầm phải treo cổ kịch thơ.

    Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng lần lượt hồi cư (1950), Phạm Duy về thành (1951), Hoàng Cầm ở lại, để trở thành một trong những người lănh đạo NVGP.

    Sự việc Tố Hữu triệt hạ kịch thơ Hoàng Cầm c̣n có một lư do khác, đó là sự đối lập tư tưởng giữa hai người: một lối nh́n vong bản như "Thờ Mao Chủ tịch thờ Xít-Ta-Lin bất diệt" không thể sống chung với một tư tưởng ái quốc như "Về ngay đi! Ghi nhớ Hận Nam Quan!"

    Ngoài ra, toàn bộ kịch thơ Hoàng Cầm ấp ủ những chủ đề: Đề pḥng phương Bắc. Phỉ báng sự cầu viện ngoại bang. Lên án cảnh cốt nhục tương tàn. Đ̣i hỏi tự do sáng tác. Cho nên, sau khi đă loại bỏ những h́nh thái văn hoá truyền thống của dân tộc như Tuồng, Chèo, Cải lương, đă cưỡng bức Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ, đă bắt Nguyễn Đ́nh Thi phải sửa thơ không vần thành thơ có vần, Tố Hữu được trên cho phép, thừa thắng xông lên, dẹp tan NVGP. Từ 1954, Tố Hữu trở thành soái chủ trên thi đàn miền Bắc (và sau 1975, cả nước), thơ ông biến thành "thánh kinh cách mạng".

    Trong hơn nửa thế kỷ, bao nhiêu thế hệ đă không biết ǵ về các tác phẩm của Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng ... , đă không hay Phạm Duy, Hoàng Cầm là những nghệ sĩ có công đầu trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Bởi họ chỉ được đọc, học và suy tôn tài thơ Tố Hữu.

    Không ai trách Trương Phúc Loan, Bùi Đắc Tuyên, nếu họ làm thơ dở. Tội của bọn này là chuyên quyền. Chuyên quyền trong triều chỉ có tội với vua. C̣n chuyên quyền văn hoá là một tội đồ đối với dân tộc.



    ● Hoàng Cầm chối bỏ việc treo cổ kịch thơ

    Trong băng ghi âm nói chuyện với bạn bè, Hoàng Cầm chối bỏ việc này:

    Tôi dự hội thảo sân khấu do anh Lê Đạt tổ chức, được anh em bầu lên làm chủ tịch đoàn cùng với Thế Lữ và Đoàn Phú Tứ. Ông Tố Hữu chỉ ngồi ghế nghe thôi, cuối cùng có nói vài câu kết luận. Lê Đạt làm thư kư hội nghị, nhưng thực chất là điều khiển, để mọi người, nhất là những người trẻ tuổi được tự do phát biểu, ai có ư kiến ǵ th́ nói ra. Đêm hôm trước, tôi đem đoàn văn công của tôi lên tŕnh diễn vở kịch thơ Người Con Nuôi. Có khoảng 150 người tham dự, gồm các diễn viên, đạo diễn, văn nghệ sĩ và một số dân các bản, cả Kinh lẫn Thổ.

    Vở kịch không thành công, tiếng vỗ tay lác đác. Vở kịch này tôi đă tŕnh diễn trong các đơn vị quân đội hoặc các hội nghị ở Việt Bắc, rất được hoan nghênh, nhưng hôm diễn ở hội thảo ấy th́ rơi vào im lặng, có thể nói là thất bại. Tôi nghĩ đối tượng của hội nghị là thảo luận, khán giả người miền núi th́ ngơ ngơ ngác ngác, thành ra tôi cho là thất bại. Anh Kim Lân bảo tôi: Thôi anh à, kịch thơ có thể nghỉ đă, đừng làm nữa v́ không có kết quả. Sau này tôi mới biết là Kim Lân được ông Tố Hữu gợi ư v́ ông Tố Hữu không thích kịch thơ.
    Tôi thấy Kim Lân có lư nên hôm sau tôi phát biểu không nên viết kịch thơ trong kháng chiến nữa v́ kịch thơ không hợp với hoàn cảnh kháng chiến. Tôi bị Thế Lữ phản đối ngay: anh Hoàng Cầm nói là nói vở kịch thơ của anh thất bại, chứ không phải toàn thể kịch thơ thất bại. Tôi hoan nghênh sự phản đối của ông Thế Lữ, và mọi người tiếp tục tranh luận ...

    Thế rồi sau này có người ở Khu Bốn ra nói với tôi: Trong khu Bốn người ta đồn Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ của ḿnh. Ông Hoàng Cầm là trùm kịch thơ thế mà ông ấy khai tử kịch thơ thế th́ có buồn cười không. Anh em họ đồn th́ cũng chẳng sao. Nhưng sau này, tôi đọc hồi kư Phạm Duy, thấy Phạm Duy viết hết sức bịa đặt. Hôm ấy Phạm Duy đâu có mặt, mà ở sân khấu hội nghị làm ǵ có xà nhà để treo, mà lại nói tôi treo cổ kịch thơ, để đưa ra cái dư luận ghê gớm ấy về tôi.[46]


    Còn tiếp ...

  10. #2360
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 12

    Những điều Hoàng Cầm thuật lại trong băng ghi âm mà chúng tôi tóm lược những ư chính trên đây, không ổn:

    1/ Hoàng Cầm nhớ nhầm, ông pha trộn nội dung Đại Hội Hội Văn Nghệ Toàn Quốc 1950 với các hội thảo tranh luận tại đại hội văn nghệ 1948 và 1949, do Lê Đạt tổ chức.

    2/ Đại Hội 1950, quan trọng hơn nhiều. Báo Văn Nghệ đặc biệt tháng 8 và 9 năm 1950 có đăng các bài tham luận và Phạm Duy tường thuật khá tỷ mỷ. Phạm Duy có thói quen ghi lại các sự kiện trong sổ tay, chính ông đă ghi chép thơ và ca từ của Văn Cao thời trẻ, đă bị thất lạc.

    3/ Trong hội nghị Hoàng Cầm nhắc tới, ông tŕnh diễn vở kịch thơ Người con nuôi, trong khi ở Đại Hội 1950, theo Tô Hoài kể lại, đó là vở kịch thơ Ngày hội ṭng quân.

    4/ Việc treo cổ kịch thơ, có hai người kể, Tô Hoài viết tháng 8/1950: "Hoàng Cầm bế kịch thơ của anh lên ghế đẩu, từ từ dấn đầu nó vào cái tḥng lọng, rồi đạp cái ghế đi".

    Phạm Duy viết sau, trong Hồi Kư Kháng Chiến: Hoàng Cầm đứng dậy, nhấc cái ghế đẩu mà nó vừa ngồi lên, trịnh trọng bưng ghế ra đặt ở giữa hội trường, lấy ở trong túi ra một sợi dây dài, dùng dây buộc tập kịch thơ, xong leo lên ghế đẩu, giơ tập thơ vừa mới bị trói chặt lên thật cao, tuyên bố: "Tôi xin treo cổ Kịch Thơ. Bắt đầu từ ngày hôm nay"

    Vậy việc treo cổ kịch thơ là có thật. Tô Hoài viết vội, không để ư đến chi tiết, nên có sơ hở: trên sân khấu làm ǵ có tḥng lọng sẵn. Phạm Duy tả kỹ hơn, rơ từng chi tiết: Hoàng Cầm lấy trong túi ra một sợi dây, buộc tập kịch thơ, rồi leo lên ghế đẩu, giơ tập thơ bị trói chặt lên cao ... Những chi tiết này cho thấy Phạm Duy kể chuyện mạch lạc hợp lô-gíc và hành động của Hoàng Cầm không bột phát mà đă suy nghĩ từ trước. Một hành động như vậy, không thể quên được. Vậy tại sao Hoàng Cầm lại chối bỏ nó? Có thể do hai áp lực:

    Áp lực nội tâm: Hành động tự trói cổ kịch thơ, khai tử trước tác trước kháng chiến, bị chế độ tung ra, tuyên truyền như một hành động nhát sợ, tự ḿnh trói ḿnh, không dám nh́n nhận sự nghiệp văn chương của ḿnh, làm cho Hoàng Cầm muốn chối bỏ hành động này.

    Áp lực chính trị: Một số bài thơ trong tập Về Kinh Bắc, đặc biệt Lá Diêu Bông, Cây Tam Cúc, được truyền ra ngoại quốc và một số người chống Cộng ở hải ngoại viết bài ca ngợi tinh thần "chống Đảng" của Hoàng Cầm, khiến ông bị 18 tháng tù. Phạm Duy phổ nhạc Lá Diêu Bông và quảng bá như một tác phẩm chống Cộng; việc này lại cũng gây cho Hoàng Cầm nhiều hệ lụy, khiến ông rất bất b́nh Phạm Duy.

    Nhờ băng Hoàng Cầm nói chuyện với bạn bè, ta biết việc chính quyền đàn áp Hoàng Cầm trong suốt 10 năm, từ 1982 đến 1993 v́ tác phẩm Về Kinh Bắc ra sao và nhờ đó, chúng ta có thể hiểu được tại sao Hoàng Cầm "chối bỏ" Phạm Duy, chối bỏ việc treo cổ kịch thơ do Phạm Duy thuật lại. Nhưng đồng thời Hoàng Cầm cũng chối bỏ hành động phản cách mạng hoành tráng của ḿnh mà Phạm Duy, người bạn thân đă viết lại để ghi vào văn học sử.

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Chuyện nghe được từ ngướ không quen
    By Dac Trung in forum Tin Việt Nam
    Replies: 1
    Last Post: 10-10-2012, 12:25 AM
  2. Replies: 0
    Last Post: 03-05-2012, 10:37 PM
  3. Bắt Buộc Phải Nghe
    By Dean Nguyen in forum Tin Việt Nam
    Replies: 2
    Last Post: 19-01-2012, 08:34 PM
  4. Replies: 3
    Last Post: 31-07-2011, 05:33 PM
  5. Tưởng Niệm Tháng 4 Đen Nghe Nhạc Lính VNCH
    By Camlydalat in forum Giao Lưu - Giải Trí
    Replies: 18
    Last Post: 25-04-2011, 06:28 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •