+ Reply to Thread
Page 241 of 243 FirstFirst ... 141191231237238239240241242243 LastLast
Results 2,401 to 2,410 of 2423

Thread: Nghe Chuyện Hà Nội

  1. #2401
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 13

    Bài đă bị cắt:

    Tại sao tôi viết Tiến quân ca :


    Tin từ Hải Pḥng lên cho biết mẹ tôi, các em và các cháu tôi đang đói khổ. Bà đưa các đứa nhỏ ấy từ Nam Định ra Hải Pḥng, dọc đường để lạc mất đứa cháu con anh cả tôi. Nó mới lên ba. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Có thể nó nằm ở dọc đường trong đám người chết đói năm ấy. Các anh tôi cũng đang chờ tôi t́m cách giúp đỡ. Năm ấy rét hơn mọi năm. Tôi ngủ với cả quần áo. Có đêm tôi phải đốt dần bản thảo và kư họa để sưởi. Đêm năm ấy cũng dài hơn mọi năm. Những ngày đói của tôi bắt đầu.

    Tôi đă gặp lại đồng chí Vũ Quư. Anh là người vẫn theo dơi những hoạt động nghệ thuật của tôi từ mấy năm qua, và thường khuyến khích tôi sáng tác những bài hát yêu nước như Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca, Tiếng rừng, và một số ca khúc khác. Chúng tôi gặp nhau trước ga Hàng Cỏ. Chúng tôi vào một hiệu ăn. Ở đây quyết định một cuộc đời mới của tôi. Câu chuyện giữa chúng tôi thật hết sức đơn giản.

    - Văn có thể thoát ly hoạt động được chưa?

    - Được.

    - Ngày mai Văn bắt đầu nhận công tác và nhận phụ cấp hàng tháng.

    Ngày hôm sau anh đưa tôi lại nhà một đồng chí thợ giày ở đầu ngơ chợ Khâm Thiên để ăn cơm tháng và cho quyết định công tác. Đây là lần đầu tiên chấm dứt cuộc sống lang thang của tôi.

    Vũ Quư đến t́m tôi và giao công tác:

    - Hiện nay trên chiến khu thiếu bài hát, phải dùng những điệu hướng đạo. Khoá quân chính kháng Nhật sắp mở, anh hăy soạn một bài hát cho quân đội cách mạng chúng ta.

    Phải làm như thế nào đây? Chiều hôm ấy tôi đi dọc theo đường phố ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ, theo thói quen, tôi cố t́m một cái ǵ để nói. T́m một âm thanh đầu tiên. Những đường phố quen thuộc ấy thường không vang một âm thanh ǵ hơn những tiếng nghe buồn bă hàng ngày. Hôm nay phố đông người hơn và ḷng tôi thấy vui hơn.
    Tôi đang chờ nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang. Tôi đang chuẩn bị một hành động ǵ có thể là mạo hiểm hy sinh chứ không chuẩn bị để lại quay về làm bài hát. Thật khó nghĩ tới nghệ thuật lúc này. Tôi đi măi tới lúc đèn các phố bật sáng. Bên một gốc cây, bóng mấy người đói khổ trần truồng, loang trên mặt hồ lạnh. Họ đang đun một thứ ǵ, trong một cái ống bơ sữa ḅ. Ngọn lửa tím sẫm bập bùng trong những hốc mắt. Có một đứa bé gái. Nó khoảng lên ba. Tôi ngờ ngợ như gặp lại cháu tôi. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con.

    Cháu bé không có mảnh vải che thân. Nó ngồi ở xa nh́n mấy người lớn sưởi lửa. H́nh như nó không phải con cái số người đó. H́nh như nó là đứa trẻ bị lạc cũng không phải là cháu tôi. Nó đă chết thật rồi. Có thể nó đă nằm trong đám người chết đói dọc đường Nam Định - Hải Pḥng. Tôi bỗng trào nước mắt, và quay đi. Đêm ấy về căn gác tôi đă viết được nét nhạc đầu tiên của bài Tiến quân ca.

    Bài hát đă làm trong thời gian không biết bao nhiêu ngày, tại căn gác hẹp số 45 Nguyễn Thượng Hiền, bên một cái cửa sổ nh́n sang căn nhà hai tầng, mấy làn cây và một màn trời xám. Ở đây thường vọng lên những tiếng xe ḅ chở xác người chết đói về phía Khâm Thiên. Ở đây hàng đêm, mất ngủ v́ gió mùa luồn vào tung khe cửa, v́ tiếng đánh chửi nhau của một gia đ́nh anh viên chức nghèo khổ, thiếu ăn, vọng qua những khe sàn gác hở. Ở đây tôi hiểu thêm nhiều chuyện đời. Ở đây đêm đêm có những tiếng gơ cửa, những tiếng gọi đêm không người đáp lại.

    Tin từ Nam Định lên, cho biết mẹ tôi và các em đă về quê và đang đói. Họ đang phải t́m mọi cách để sống qua ngày, như mọi người đang chờ đợi một cái chết thật chậm, tự ăn ḿnh như ngọn nến. Tiếng kêu cứu của mẹ tôi, các em, các cháu tôi vọng cả căn gác, cả giấc ngủ chiều hôm. Tất cả đang chờ đợi tôi t́m cách giúp đỡ. Tôi chưa được cầm một khẩu súng, chưa được gia nhập đội vũ trang nào. Tôi chỉ đang làm một bài hát. Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ, theo thói quen tôi đi. Tôi chưa gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng ta, trong khóa quân chính đầu tiên ấy, và biết họ hát như thế nào. Ở đây tôi đang nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị, cho họ có thể hát được

    Đoàn quân Việt Nam đi

    chung ḷng cứu quốc

    Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa…

    Và ngọn cờ đỏ sao vàng bay giữa màu xanh của núi rừng. Nhịp điệu ngân dài của bài hát mở đầu cho tiếng cồng vang vọng.

    Đoàn quân Việt Nam đi

    Sao vàng phất phới

    Dắt giống ṇi quê hương qua nơi lầm than…

    Không, không phải chỉ có những học sinh khóa quân chính kháng Nhật đang hành quân, không phải chỉ có những đoàn chiến sĩ áo chàm đang dồn bước. Mà cả một đất nước đang chuyển ḿnh.

    Tên bài hát và lời ca của nó là một sự tiếp tục từ Thăng Long hành khúc ca:

    "Cùng tiến bước về phương Thăng Long thành cao đứng"

    - Hay trong Đống Đa:

    "Tiến quân hành khúc ca

    Thét vang lừng núi xa..."

    Lời trên đă rút ngắn thành tên bài Tiến quân ca và tiếng thét ấy ở đoạn cao trào của bài hát:

    "Tiến lên! Cùng thét lên!"

    "Trí trai là đây nơi ước nguyền"

    Trên mặt bàn chỗ tôi lam việc, tờ "Cờ giải phóng" đăng những tin tức đầu tiên về những trận chiến thắng ở Vơ Nhai.

    Trước mắt tôi mảnh trời xám và lùm cây của Hà Nội không c̣n nữa. Tôi đang sống ở một khu rừng nào đó trên kia, trên Việt Bắc. Có nhiều may và nhiều hy vọng.

    Và bài hát đă xong. Tôi nhớ lại nụ cười thật hài ḷng của đồng chí Vũ Quư. Da mặt anh đen xạm. Đôi mắt và nụ cười của anh lấp lánh. Tôi nhớ lại nụ cười hồn nhiên của đồng chí Nguyễn Đ́nh Thi, khi xướng âm lần đầu tiên nhạc điệu bài hát đó. Thi nói với tôi:

    - Văn ạ, chúng ḿnh thử mỗi người làm một bài về Mặt trận Việt Minh xem sao?

    Tôi không kịp trả lời, chỉ nh́n thấy đôi mắt của Thi thật lạc quan và tin tưởng. Sau này Thi làm xong bài "Diệt phát xít" trước tôi. Bài "Chiến sĩ Việt Nam" của tôi và bài "Diệt phát xít" của Nguyễn Đ́nh Thi ngày ấy không có dịp in trên tờ báo do chúng tôi cùng phụ trách.


    Còn tiếp ...

  2. #2402
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 13

    Bài đă bị cắt:

    Tại sao tôi viết Tiến quân ca :



    Tháng 11-1944, tôi tự tay viết bài Tiến quân ca lên đá in, trong trang văn nghệ đầu tiên của tờ báo Độc Lập, c̣n giữ lại nét chữ viết của một anh thợ mới vào nghề.

    Một tháng sau khi báo phát hành, tôi từ cơ quan ấn loát trở về Hà Nội. Qua một đường phố nhỏ (bây giờ là đường Mai Hắc Đế) tôi chợt nghe tiếng đàn măng-đô-lin, từ một căn gác vọng xuống. Có người đang tập Tiến quân ca. Tôi dừng lại và tự nhiên thấy xúc động. Một xúc động đến với tôi hơn tất cả những tác phẩm, tôi đă được ra mắt, ở các rạp hát trước đây. Tôi nhận ra được vài chỗ nhịp điệu c̣n chưa hoàn chỉnh. Nhưng bài hát đă in ra rồi. Bài hát đă được phổ biến. Có thể những người cùng khổ, mà tôi đă gặp trên bước đường cùng khổ của tôi, lúc này đang cầm súng và đang hát.

    Tới lúc cần hành động, tôi lại bị ốm nặng, và phải đưa những vũ khí mà tôi giữ cho một đồng chí khác. Ngày 17-8-1945, tôi cố gắng đến dự một cuộc mít tinh của công chức Hà Nội. Ngọn cờ đỏ sao vàng được thả từ bao lơn nhà hát lớn xuống. Bài Tiến quân ca đă nổ như một trái bom. Nước mắt tôi trào ra. Chung quanh tôi, hàng ngàn giọng hát cất lên, vang theo những đoạn sôi nổi. Những cánh tay áo mọi người, những băng cờ đỏ sao vàng, đă thay những băng vàng bẩn thỉu của chính phủ bù nh́n Trần Trọng Kim.

    Ngày 18-9-1945, một cuộc mít-tinh lớn, họp tại quảng trường Nhà hát lớn. Dàn đồng ca của Thiếu niên Tiền phong hát "Tiến quân ca", chào lá cờ đỏ sao vàng. Các bạn nhỏ này, ngày nay đă lớn tuổi rồi, có c̣n nhớ lại cái buổi sáng tháng Tám, nắng vàng rực rỡ ấy, nhớ lại giọng hát của họ lẫn với giọng tôi, vô cùng xúc động chào lá cờ cách mạng. Hàng chục ngàn giọng hát cất lên, thét lên tiếng thét căm thù bọn đế quốc, với sự hào hùng chiến thắng của cách mạng.

    Bài "Tiến quân ca" đă là của dân tộc Việt Nam độc lập kể từ ngày hôm đó.



    7-7-1976
    Văn Cao, cuộc đời và tác phẩm - NXB Văn Học, 1996, trang 86-92




    Hồi Kư của Văn Cao:

    Bài Tiến quân ca


    Tin từ Hải Pḥng lên cho biết mẹ tôi, các em và các cháu đang đói khổ. Bà đưa các đứa nhỏ ấy từ Nam Định ra Hải Pḥng, dọc đường để lạc mất đứa cháu con anh cả tôi. Nó mới lên ba. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Có thể nó đă nằm ở dọc đường trong đám người chết đói năm ấy. Các anh tôi cũng đang chờ tôi t́m cách giúp đỡ. Năm ấy rét sớm hơn mọi năm. Tôi ngủ với cả quần áo. Có đêm tôi phải đốt dần bản thảo và kư họa để sưởi. Đêm năm ấy cũng dài hơn đêm mọi năm. Những ngày đói của tôi bắt đầu.

    Căn gác được thêm một người ở. Anh Ph.D. là bạn thân của tôi từ Hải Pḥng lên. Anh mới nhận nhiệm vụ làm giao thông của tổ chức giữa hai tỉnh Hà Nội và Hải Pḥng. Từ lâu, tôi vẫn biết Ph. D là người của đoàn thể, và thường chú ư giúp đỡ tôi. Tôi nghĩ làm cách mạng là phải bỏ văn nghệ, con đường của người làm cách mạng là phải thoát ly phải hy sinh như gương chiến đấu của các đồng chí mà tôi đă được biết qua sách báo. Nhưng tôi vẫn có thể làm khác vói việc thoát ly -tôi chỉ hiểu tổ chức đến thế- có thể là bằng sáng tác, bằng những hành động mà tôi dễ làm nhất như nhận dạy hát cho một đoàn thanh niên về những bài ca yêu nước, hay tham gia những buổi biểu diễn giúp đỡ người nghèo v.v... Tôi chỉ biết sáng tác một số ca khúc về đề tài lịch sử, kêu gọi xa xôi ḷng yêu nước. Tôi chưa dám làm một bài ca cách mạng. Và cũng chỉ có thế thôi, thanh niên học sinh và anh em hướng đạo đă khuyến khích tôi. Sự khuyến khích ấy đẩy tôi vào nghề nhạc sau này. Lần này, Ph. D. lên ở với tôi vào giữa lúc tôi đă muốn bỏ tất cả hội họa, thơ ca, âm nhạc, bỏ tất cả giấc mơ sáng tạo thường đêm đêm đan măi đan măi cái vành mũ triền miên trên đầu như một ṿng ánh sáng thần thánh.

    Một hôm, Ph. D. nói với tôi:

    - Văn có nhớ anh Vũ Quư không? Anh ấy vẫn ở Hà Nội? Văn có muốn gặp anh ấy không?

    Tôi biết đồng chí Vũ Quư trong những ngày c̣n là vận động viên bơi lội ở Hải Pḥng. Chúng tôi thường tập luyện hàng ngày trên sông Cấm. Từ khi biết anh bị mật thám Pháp bắt hụt, tôi hết sức khâm phục. Thế ra người cộng sản ấy vẫn hoạt động tại Hà Nội. Anh ấy vẫn nhớ đến tôi.





    Tin từ Hải Pḥng lên cho biết mẹ tôi, các em và các cháu tôi đang đói khổ. Bà đưa các đứa nhỏ ấy từ Nam Định ra Hải Pḥng, dọc đường để lạc mất đứa cháu con anh cả tôi. Nó mới lên ba. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Có thể nó nằm ở dọc đường trong đám người chết đói năm ấy. Các anh tôi cũng đang chờ tôi t́m cách giúp đỡ. Năm ấy rét hơn mọi năm. Tôi ngủ với cả quần áo. Có đêm tôi phải đốt dần bản thảo và kư họa để sưởi. Đêm năm ấy cũng dài hơn mọi năm. Những ngày đói của tôi bắt đầu.

    Tôi đă gặp lại đồng chí Vũ Quư. Anh là người vẫn theo dơi những hoạt động nghệ thuật của tôi từ mấy năm qua, và thường khuyến khích tôi sáng tác những bài hát yêu nước như Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca, Tiếng rừng, và một số ca khúc khác. Chúng tôi gặp nhau trước ga Hàng Cỏ. Chúng tôi vào một hiệu ăn, ở đấy quyết định một cuộc đời mới của tôi. Câu chuyện của chúng tôi thật hết sức đơn giản.

    - Văn có thể thoát ly hoạt động được chưa?

    - Được.

    - Ngày mai Văn bắt đầu nhận công tác và nhận phụ cấp hàng tháng.

    Ngày hôm sau anh đưa tôi lại nhà một đồng chí thợ giày ở đầu ngơ chợ Khâm Thiên để ăn cơm tháng và chờ quyết định công tác. Ngày đầu tiên chấm dứt cuộc sống lang thang của tôi.

    Vũ Quư đến t́m tôi và giao công tác:

    - Hiện nay trên chiến khu thiếu bài hát, nên phải dùng những điệu hướng đạo. Khoá quân chính kháng Nhật sắp mở, anh hăy soạn một bài hát cho quân đội cách mạng chúng ta.

    Phải làm như thế nào đây? Chiều hôm ấy tôi đi dọc theo đường phố ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ, theo thói quen cố t́m một cái ǵ để nói, t́m một âm thanh đầu tiên. Nhưng đường phố quen thuộc ấy thường không vang một âm thanh ǵ hơn những tiếng nghe buồn bă hàng ngày. Hôm nay phố đông người hơn và ḷng tôi thấy vui hơn. Tôi đang chờ nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang. Tôi đang chuẩn bị một hành động ǵ có thể là mạo hiểm hy sinh chứ không chuẩn bị để lại quay về làm bài hát. Thật khó nghĩ tới nghệ thuật lúc này. Tôi đi măi tới lúc đèn các phố bật sáng. Bên một gốc cây, bóng mấy người đói khổ trần truồng loang trên mặt hồ lạnh. Họ đang đun một thứ ǵ trong một cái ống bơ sữa ḅ. Ngọn lửa tím sẫm bập bùng trong những hốc mắt. Có một đứa bé gái nó khoảng lên ba. Tôi ngờ ngợ như gặp lại cháu tôi. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Cháu bé không mảnh vải che thân. Nó ngồi ở xa nh́n mấy người lớn sưởi lửa. H́nh như nó không phải con cái số người đó. H́nh như nó là đứa trẻ bị lạc. Không phải cháu tôi. Nó đă chết thật rồi. Có thể nó nằm trong đám người chết đói dọc đường Nam Định - Hải Pḥng. Tôi bỗng trào nước mắt và quay đi. Đêm ấy về gác tôi viết được nét nhạc đầu bài Tiến Quân Ca.



    Những ngày ấy, Ph.D. sống chung với tôi. Thỉnh thoảng anh về Hải Pḥng và mang tiền bán tín phiếu do các cơ sở gửi lên. Quần chúng ủng hộ Việt Minh ngày càng nhiều. Các báo chí gửi về các cơ sở như "Cờ Giải Phóng" và "Cứu Quốc"cũng tăng thêm số lượng. Tất cả đă chất đầy mặt bàn tôi. Những tin đấu tranh ở các tỉnh được phản ảnh đầy đủ trên báo chí. Tin chiến khu được mở rộng. Tin về các đội du kích thành lập. Rồi những tặng phẩm gửi tôi có thêm cả máy ảnh, ống viễn kính, cả những b́ gạo. Mỗi vật tiếp nhận càng cho thấy sự phát triển lớn mạnh thêm của phong trào quần chúng đô thị và nông thôn. Những cột báo không đăng hết được danh sách những người ủng hộ Mặt trận.

    Tôi thường nh́n Ph. D. mỗi lần anh đóng gói đi xa và lắng nghe tiếng c̣i tàu ngoài ga Hàng Cỏ để chờ một chuyến tàu đêm. Dưới ngọn đèn dầu, bộ mặt ngăm ngăm đen của anh chỉ thấy ánh lên đôi mắt sâu và trầm lặng. Anh rất tôn trọng những phút tôi ngồi vào bàn với tập bản thảo và chờ đợi âm thanh của từng câu nhạc được nhắc đi nhắc lại. Anh là người chứng kiến sự ra đời của bài Tiến Quân Ca.

    Ngày nay tôi vẫn không sao nhớ nổi, dù nhớ đủ mọi kỷ niệm, rằng ḿnh đă soạn nhạc bằng phương tiện nào, một cây đàn ghi-ta, một măng-đô-lin hay một băng-giô. Cũng không nhớ tôi đă mượn đàn của ai và ở đâu. Có thể bài "Tiến quân ca" đă soạn trên một chiếc ghi-ta Ha-oai chăng? Bởi v́ tôi đă quen sáng tác trên cây đàn này những năm trước đây.





    Tôi đă gặp lại đồng chí Vũ Quư. Anh là người vẫn theo dơi những hoạt động nghệ thuật của tôi từ mấy năm qua, và thường khuyến khích tôi sáng tác những bài hát yêu nước như Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca, Tiếng rừng, và một số ca khúc khác. Chúng tôi gặp nhau trước ga Hàng Cỏ. Chúng tôi vào một hiệu ăn. Ở đây quyết định một cuộc đời mới của tôi. Câu chuyện giữa chúng tôi thật hết sức đơn giản.

    - Văn có thể thoát ly hoạt động được chưa?

    - Được.

    - Ngày mai Văn bắt đầu nhận công tác và nhận phụ cấp hàng tháng.

    Ngày hôm sau anh đưa tôi lại nhà một đồng chí thợ giày ở đầu ngơ chợ Khâm Thiên để ăn cơm tháng và cho quyết định công tác. Đây là lần đầu tiên chấm dứt cuộc sống lang thang của tôi.

    Vũ Quư đến t́m tôi và giao công tác:

    - Hiện nay trên chiến khu thiếu bài hát, phải dùng những điệu hướng đạo. Khoá quân chính kháng Nhật sắp mở, anh hăy soạn một bài hát cho quân đội cách mạng chúng ta.

    Phải làm như thế nào đây? Chiều hôm ấy tôi đi dọc theo đường phố ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ, theo thói quen, tôi cố t́m một cái ǵ để nói. T́m một âm thanh đầu tiên. Những đường phố quen thuộc ấy thường không vang một âm thanh ǵ hơn những tiếng nghe buồn bă hàng ngày. Hôm nay phố đông người hơn và ḷng tôi thấy vui hơn. Tôi đang chờ nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang. Tôi đang chuẩn bị một hành động ǵ có thể là mạo hiểm hy sinh chứ không chuẩn bị để lại quay về làm bài hát. Thật khó nghĩ tới nghệ thuật lúc này. Tôi đi măi tới lúc đèn các phố bật sáng. Bên một gốc cây, bóng mấy người đói khổ trần truồng, loang trên mặt hồ lạnh. Họ đang đun một thứ ǵ, trong một cái ống bơ sữa ḅ. Ngọn lửa tím sẫm bập bùng trong những hốc mắt. Có một đứa bé gái. Nó khoảng lên ba. Tôi ngờ ngợ như gặp lại cháu tôi. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Cháu bé không có mảnh vải che thân. Nó ngồi ở xa nh́n mấy người lớn sưởi lửa. H́nh như nó không phải con cái số người đó. H́nh như nó là đứa trẻ bị lạc cũng không phải là cháu tôi. Nó đă chết thật rồi. Có thể nó đă nằm trong đám người chết đói dọc đường Nam Định - Hải Pḥng. Tôi bỗng trào nước mắt, và quay đi. Đêm ấy về căn gác tôi đă viết được nét nhạc đầu tiên của bài Tiến quân ca.



    Bài hát đă làm trong không biết bao nhiêu ngày tại căn gác hẹp số 45 phố Nguyễn Thượng Hiền bên một cái cửa sổ nh́n sang căn nhà hai tầng, mấy lùm cây và một màu trời xám. Ở đấy thường vọng lên những tiếng xe ḅ chở xác người chết đói đi về phía Khâm Thiên. Ở đấy hàng đêm mất ngủ v́ gió mùa luồn vào từng khe cửa, v́ tiếng đánh chửi nhau của một anh viên chức nghèo khổ thiếu ăn dưới nhà vọng qua những khe sàn gác hở. Ở đấy tôi hiểu thêm nhiều chuyện đời. Ở đấy có những tiếng đập cửa, những tiếng gọi đêm không người đáp lại.

    Tin từ Nam Định lên cho biết mẹ tôi và các em đă về quê và đang bị đói. Họ đang t́m mọi cách để sống qua ngày như mọi người đang chờ một cái chết thật chậm, tự ăn ḿnh như ngọn nến. Tiếng kêu cứu của mẹ tôi, của các em, các cháu tôi vọng cả căn gác, cả giấc ngủ nhiều hôm. Tất cả đang chờ tôi t́m cách giúp đỡ. Tôi chưa được cầm một khẩu súng, chưa được gia nhập đội vũ trang nào, tôi chỉ biết đang làm một bài hát. Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theo thói quen tôi đi. Tôi chưa gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng ta trong khóa quân chính đầu tiên ấy, để biết họ hát như thế nào. Ở đây tôi đang nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị cho họ có thể hát được

    Đoàn quân Việt Minh đi

    Chung ḷng cứu quốc

    Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa

    Và ngọn cờ đỏ sao vàng bay giữa màu xanh của núi rừng. Nhịp điệu ngân dài của bài hát mở đầu cho tiếng cồng vang vọng.

    Đoàn quân Việt Minh đi

    Sao vàng phấp phới

    Dắt giống ṇi quê hương qua nơi lầm than

    Không, không phải chỉ có những học sinh khóa quân chính kháng Nhật đang hành quân, không phải chỉ có những đoàn chiến sĩ áo chàm đang dồn bước, mà cả một đất nước đang chuyển ḿnh.

    Tên bài hát và lời ca của nó là một sự tiếp tục từ Thăng Long hành khúc ca:

    "Cùng tiến bước về phương Thăng Long thành cao đứng"

    hay trong Đống Đa:

    "Tiến quân hành khúc ca

    Thét vang rừng núi xa..."

    Lời trên đă rút ngắn thành tên bài Tiến quân ca và tiếng thét ấy ở đoạn cao trào của bài hát:

    "Tiến lên! Cùng thét lên!"

    "Chí trai là đây nơi ước nguyền"

    Trên mặt bàn chỗ tôi lam việc, tờ "Cờ giải phóng" đăng những tin tức đầu tiên về những trận chiến thắng ở Vơ Nhai.

    Trước mắt tôi mảnh trời xám và lùm cây của Hà Nội không c̣n nữa. Tôi đang sống ở một khu rừng nào đó trên kia, trên Việt Bắc. Có nhiều mây và nhiều hy vọng.

    Và bài hát đă xong. Tôi nhớ lại nụ cười thật hài ḷng của đồng chí Vũ Quư. Da mặt anh đen xạm, đôi mắt và nụ cười của anh lấp lánh. Tôi nhớ lại nụ cười hồn nhiên của đồng chí Nguyễn Đ́nh Thi khi xướng âm lần đầu tiên nhạc điệu bài hát đó. Thi nói với tôi:

    - Văn ạ, chúng ḿnh thử mỗi người làm một bài về Mặt trận Việt Minh xem sao?

    Tôi không kịp trả lời, chỉ nh́n thấy đôi mắt của Thi thật lạc quan và tin tưởng. Sau này Thi làm xong bài "Diệt phát xít" trước tôi. Bài "Chiến sĩ Việt Nam" của tôi và bài "Diệt phát xít" của Nguyễn Đ́nh Thi ngày ấy không có dịp in trên tờ báo do chúng tôi cùng phụ trách.



    Còn tiếp ...

  3. #2403
    Member Nguyễn Mạnh Quốc's Avatar
    Join Date
    25-03-2011
    Posts
    2,606

    Nghe chuyện Hà nội ;.. bới đống tro tàn.. !

    Cảm ơn những gịng chữ đă gói ghém .. ǵn giũ chút hương xưa ;.. một quê hương Hà nội...
    .. cho dến hôm nay tôi mới được biết là bài ca " Bao chiến sĩ anh hùng ".. là của tác giả ;.. Văn Cao. C̣n Diệt phát xít th́ tôi biết chắc là của Nguyễn đ́nh Thi.. nhưng cũng chỉ sau năm 1953.. khi tôi đi làm sinh viên nội trú của Đồn Thuỷ.. do một vài y công trong bịnh viện.. lân la xin thuốc quinine (trị sốt rét )... tuy nhiên bà ta không lôi kéo được tôi " thoát ly..".
    Hoom nay treen một trang mạng của Hà nội có đăng h́nh triển lăm của Hà nội xưa.. nhưng cũng chỉ cho xem 2 tấm h́nh, chắc là có giá trị cao. Riêng theo góc nh́n của tôi th́ nhiếp ảnh gia người Đức này rất là có kinh nghiệm và bức h́nh khi nh́n dến đă tháy một nơi niềm man mác nhớ lại đường xưa. Nhớ thương và buồn tiếc cho Hà nội...
    .. Tiếc thay cay quế giữa rừng..
    để cho thàng mán .. thằng mường nó.. leo..!
    Nếu là Mán hay Mường nó leo th́ thật hăy c̣n khá, nếu đă sống qua với người Thiểu số miền Bắc th́ thấy họ rất trung tín và biết điều.. Hoj hơn người Kinh ở nhiều điểm, nhất là không dối trá, lươn lẹo.. không mè nheo ĺ lợm và chửi tục tĩu..

    Hôm nay th́ khung trời Hà nội ra sao ??..
    cái tháp Rùa trên ngọn đă không c̣n bà đầm xoè( đem đén vườn hoa Cửa Nam), mà thay bằng lá cờ đỏ ủ rũ .. không gian như dừng lại.. hai ben hồ hàng dẫy cao tầng.. nh́n xuống hồ.. mặt hồ giống như một vũng lầy rộng chật ra sao ??
    Tấm ảnh nói lên bao nhiêu lời thầm th́.. biết đến bao giờ th́ những đứa con cháu chắt lưu vong có thể trở về nh́n lại dấu tích xưa ?? ./.

  4. #2404
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 13

    Ngày 17 tháng tám 1945, tôi đến dự cuộc mít-tinh của công chức Hà Nội. Lá cờ đỏ sao vàng được thả từ bao lơn nhà hát lớn xuống. Bài "Tiến quân ca" đă nổ như một trái bom. Nước mắt tôi trào ra. Chung quanh tôi, hàng ngàn giọng hát cất lên vang theo những đoạn sôi nổi. Ở những cánh tay áo mọi người, những băng cờ đỏ sao vàng đă thay những băng vàng của chính phủ Trần Trọng Kim. Trong một lúc, những tờ bướm in "Tiến quân ca" được phát cho từng người trong hàng ngũ các công chức dự mít-tinh.

    Tôi đă đứng lẫn vào đám đông quần chúng trước cửa nhà Hát Lớn. Tôi đă nghe giọng hát quen thuộc của bạn tôi, anh Ph.D. qua loa phóng thanh. Anh là người đă buông lá cờ đỏ sao vàng trên kia và xuống cướp loa phóng thanh hát. Con người trầm lặng ấy đă có sức hát hấp dẫn hàng vạn quần chúng ngày hôm đó, cũng là người hát trước quần chúng lần đầu tiên, và cũng là một lần duy nhất.

    Ngày 18 tháng tám 1945, đội thiếu niên tiền phong đến t́m tôi nhận nhiệm vụ mới. Tôi không biết giao việc ǵ cho các em lúc này khi chúng tôi không phải nhờ các em làm nhiệm vụ trinh sát như trước đây các em đă giúp chúng tôi hết sức thông minh và dũng cảm. Chúng ta sẽ bắt tay vào nhiệm vụ mới của cách mạng. Các em sẽ quay về với công việc học tập hàng ngày của các em. Lúc này ... lúc này chúng ta hăy tập hát. Một dàn đồng ca được thành lập ngay trong Trụ sở Hướng đạo tại phố Hàng Trống, nơi chúng tôi thường sinh hoạt với các em. Tôi đă hướng dẫn các em học bài Tiến quân ca để ngày hôm sau làm lễ chào cờ.

    Lúc ra về, một em bé khệ nệ ôm một gói khá to và nặng đến gặp tôi. Đó là một em làm việc quét dọn ở nhà in Lê Văn Tân. Tôi ngạc nhiên nh́n em mở bọc giấy ra trước mắt các đội viên: một gói truyền đơn mà em đă từng đêm trốn lại buồng máy, tự xếp chữ và in lấy được vài trăm tờ theo một khẩu hiệu em đă được xem trên báo Cứu Quốc ngày gần khởi nghĩa. Tôi chợt nh́n đôi mắt đầy tự hào của em. Đôi mắt em đẹp quá! Tôi ngờ ngợ như đă nh́n thấy đôi mắt ấy từ bao giờ. Đôi mắt của những đứa trẻ bị lạc !

    Ngày 19 tháng tám 1945, một cuộc mít-tinh lớn họp tại quảng trường Nhà hát lớn. Dàn đồng ca của Thiếu niên Tiền phong hát "Tiến quân ca" chào lá cờ đỏ sao vàng. Các bạn nhỏ này, ngày nay đă lớn tuổi rồi, có c̣n nhớ lại cái buổi sáng tháng tám nắng vàng rực rỡ ấy? Nhớ lại giọng hát của họ lẫn với giọng tôi vô cùng xúc động chào lá cờ cách mạng? Hàng chục ngàn giọng hát cất lên, thét lên tiếng thét căm thù vào mặt bọn đế quốc với sự hào hùng chiến thắng của cách mạng.

    Bài "Tiến quân ca" đă là của dân tộc Việt Nam độc lập kể từ ngày hôm đó. Nay nước Việt Nam dân chủ cộng ḥa tiến lên thành nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam, bài "Tiến quân ca" hẳn c̣n vang vọng măi tác dụng của nó như thuở nó ra đời trong buổi b́nh minh kỷ nguyên mới của lịch sử đất nước.

    Văn Cao
    (Sông Hương, số 26, tháng 7&8/1987, trang 1-5)






    [1] Nguyễn Huệ Chi, Vân Long, Từ điển văn học, bộ mới, Thế Giới, 2003, mục từ Văn Cao.

    [2] Bị Việt Minh coi là gián điệp cho Nhật.

    [3] "Giữa lúc ấy (1944), th́ một người đồng hương của Văn Cao, tên là Vũ Quư v́ hoạt động cho Việt Minh ở Hải Pḥng nên bị Nhật lùng bắt. Anh ta trốn lên Hà Nội, đến ở nhờ Văn Cao và tuyên truyền cho Văn Cao theo Việt Minh. Văn Cao được giới thiệu để viết bài và vẽ tranh cho tờ báo Lao Động là cơ quan của Việt Minh xuất bản ở ngoại ô Hà Nội, đồng thời căn gác của Văn Cao được Vũ Quư dùng làm lớp học để giảng chính trị cho những thanh niên mới gia nhập đoàn thể Việt Minh" (Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, trang 220). Nhiều nơi nhầm với báo Độc Lập mà Văn Cao cộng tác năm 1947 ở Vĩnh Yên.

    [4] In trên Tiên Phong số 9, tháng 4/46.

    [5] In trên Tiên Phong tháng 8/1946

    [6] Theo hồi kư Văn Cao tựa đề Bài Tiến quân ca (Sông Hương số 26 tháng 7/1987)

    [7] Nguyễn Thụy Kha, Văn Cao người đi dọc biển, nxb Lao Động 1991, trang 65.

    [8] In trên Văn Nghệ số 2, tháng 4/1948.

    [9] Mùa đông 1947, in trên Văn Nghệ số 1, tháng 3/48.

    [10] Làm ở Tuyên Quang, 1947.

    [11] Phạm Duy, Hồi kư cách mạng kháng chiến, trang 122.

    [12] Theo Hoàng Văn Chí, v́ sợ gia đ́nh Văn Cao về thành, Việt Minh điều động Văn Cao lên Việt Bắc (Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, trang 221).

    [13] Hoàng Văn Chí, sđd, trang 221.

    [14] Hoàng Văn Chí, sđd, trang 221.

    [15] Nguyễn Thụy Kha, Văn Cao người đi dọc biển, nxb Lao Động 1991, trang 65.

    [16] Văn Cao vui và buồn sang tuổi cổ lai hy, đăng lại trên Văn Cao cuộc đời và tác phẩm, Văn Học, trang 423.

    [17] Nxb Lao Động 1991.

    [18] Nxb Thanh Niên, 2005.

    [19] Sông Hương số 26 tháng 7/1987.

    [20] Nguyễn Thụy Kha, sđd, trang 29.

    [21] In trong Thiên thai, tuyển tập nhạc Văn Cao, Trẻ, 1988, in lại trong Văn Cao cuộc đời và tác phẩm, trang 86.

    [22] Bích Thuận, Nhạc sĩ Văn Cao, tài năng và nhân cách, Thanh Niên 2005, trang 77-78.

    [23] Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đă đi qua đời tôi, Thằng Mơ, Hoa Kỳ 1990, trang 39.

    [24] Tạ Tỵ, Phạm Duy c̣n đó nỗi buồn, Văn Sử Học, Sài G̣n 1971, trang 47.

    [25] Văn Cao, Bài tiến quân ca, Sông Hương số 26, tháng 7/1987.

    [26] Nguyễn Thụy Kha, Văn Cao người đi dọc biển, trang 17.

    [27] Phạm Duy, Hồi kư I, Thơ Ấu Vào Đời, trang 234-235.

    [28] Phạm Duy, Hồi kư I, trang 236-237.

    [29] Phạm Duy, Hồi kư II, Cách mạng kháng chiến, trang 49-50.

    [30] Kim Tiêu là một trong những danh ca hàng đầu trước kháng chiến đă hát nhạc Văn Cao tuyệt vời như Thái Thanh hát nhạc Pham Duy, nhưng số phận ông vô cùng bi đát. Phạm Duy nhắc đến vai tṛ của Kim Tiêu trong việc truyền bá ca khúc Văn Cao: "Trong đám nam ca sĩ lúc đó, tôi cho rằng Kim Tiêu là người hát hay nhất. Trong khi tôi vác bài Buồn tàn thu đi lưu diễn ở trong Nam th́ ở Hà Nội, chính nhờ giọng hát Kim Tiêu mà những bài Thiên Thai, Trương Chi của Văn Cao được nổi tiếng" (Phạm Duy, Hồi kư II, trang 56- 57).

    Về số phận người danh ca này, Tạ Tỵ cho biết: Kim Tiêu về thành trước ông nhiều tháng, nhưng sau v́ chống đối, bị Pháp bắt và buộc tội là Việt Minh: "Vào tù, anh vẫn không sợ, dù bị đánh đập tra khảo thế nào, anh cứ coi thường. Pháp nhốt anh vào xà-lim (Cellule), anh vẫn ca hát, những bài hát của Việt Minh. Sáng nào, anh cũng nắm chặt tay vào song sắt hát bản Tiến quân ca của Văn Cao để đánh thức mọi tù nhân khác dậy. Từ ngoài khu kháng chiến, Văn Cao được tin, cảm động lắm, làm một bài thơ bí mật đem vào Hà Nội, rồi nhờ các cán bộ t́nh báo nội thành đưa vào Hoả Ḷ cho ca sĩ Kim Tiêu. Tôi có được đọc cả bài thơ, nhưng lâu ngày, bây giờ chỉ nhớ vài câu:

    ... Người danh ca ấy nằm trong ngục

    Hà Nội nhớ tôi, hát bài ca cũ

    Tiếng ca như buổi sớm trong

    Tiếng ca vang vang phá phách

    Xà-lim nổ tung ra

    Cả Hoả Ḷ vỡ toang thành khối nhạc!...

    Câu chuyện về ca sĩ Kim Tiêu, tôi chỉ biết tới đấy, c̣n sau này, Kim Tiêu sống hay chết trong tù, tôi không hay" (Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đă đi qua đời tôi, trang 114)

    Trong đoạn viết về Bến Xuân, Nguyễn Thụy Kha có nhắc đến người ca sĩ giọng vàng nhưng không (dám?) nêu tên, và sau cùng có câu "Và đau đớn nhất là chàng đă chết trong cơn đói không thể nào sống được (Nguyễn Thụy Kha, Văn Cao người đi dọc biển, trang 28). Tại sao? T́m kỹ th́ chúng tôi thấy trong tạp chí Âm Nhạc, Minh Hiền viết: "Kháng chiến, Kim Tiêu ở lại hoạt động vùng địch. Ông đă bị bắt. Trong tù, Kim Tiêu vẫn hát vang những bài cách mạng. Khi được thả, ngay giữa Hà Nội tạm chiếm, trong một liên hoan sinh viên, Kim Tiêu đă hát Sông Lô của Văn Cao mà không hề sợ sệt chút nào. Rất tiếc, sau hoà b́nh, do bị nghi ngờ được thả ra tù v́ đă khai báo, Kim Tiêu buồn chán đi lang thang. Càng buồn ông càng hát hay. Kim Tiêu đă hát đến hơi thở cuối cùng ở Ga Hàng Cỏ". (Minh Hiền, Những giọng vàng một thủa, tạp chí Âm Nhạc số 3-4-5, 1994, trang 43-44.) Bi kịch Kim Tiêu chắc hẳn c̣n nhiều u uẩn.

    [31] Phạm Duy, Hồi kư II, trang 49.

    [32] Nguyễn Thụy Kha, Văn Cao người đi dọc biển, trang 23.

    [33] Phạm Duy, Hồi kư I, trang 237-239.

    [34] Phạm Duy, Hồi kư I, trang 240-241.

    [35] Phạm Duy, Hồi Kư I, trang 247- 249.

    [36] Phạm Duy, Hồi kư I, trang 183.

    [37] Tạ Tỵ, sinh năm 1921 tại Hà Nội, là họa sĩ Việt Nam đầu tiên vẽ theo lối lập thể từ 1940. Tạ Tỵ theo kháng chiến từ những ngày đầu. Tháng 5/1950, sau khi bức tranh lập thể Mưa núi, bị phê b́nh gay gắt, ông quyết định về thành. Năm 1951, ông tổ chức cuộc triển lăm tranh lập thể đầu tiên với 60 tác phẩm tại Hà Nội. Năm 1953, bị động viên đi lớp Sĩ quan Thủ Đức. Ông tiếp tục sự nghiệp hội họa tại Sài G̣n, với hai cuộc triển lăm lớn năm 1956 và 1961. Tạ Tỵ phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà, cấp bậc sau cùng là Trung Tá.

    Sau 1975, ông bị đi cải tạo và đưa ra Bắc. 1981 được tha về. 1982, cùng gia đ́nh vượt biển. Viết hồi kư Đáy Địa ngục (nxb Thằng Mơ, 1985, Hoa Kỳ). Năm 2004, sau khi vợ ông từ trần, Tạ Tỵ trở lại sống tại Sài G̣n và mất ngày 24/8/2004. Tạ Tỵ, như Vũ Bằng nhận xét là "một nghệ sĩ "trọn vẹn", ngoài môn vẽ, viết, thơ ca, anh lại c̣n có tài về nhạc và tŕnh diễn". Ông để lại những trang hồi kư giá trị về sinh hoạt văn nghệ Việt Nam, từ tiền chiến đến thập niên 80.

    [38] Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đă đi qua đời tôi, trang 18-34.

    [39] Lại Nguyên Ân, Đôi lời dẫn giải, trong Vũ Bằng, các tác phẩm mới t́m thấy, mạng Viet-studies.

    [40] Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, hồi kư, chương 4, đă có trên Internet.

    [41] Theo Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, việc từng ngày

    [42] Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đă đi qua đời tôi, Thằng Mơ, Hoa Kỳ, 1990, trang 41 và 47.

    [43] Phạm Duy, Hồi Kư II, Cách mạng kháng chiến, trang 30-31.

    [44] 171 phố Mongrand nay là số 45 Nguyễn Thượng Hiền.

    [45] Văn Cao, "Bài tiến quân ca", hồi kư, Sông Hương số 26, tháng 7/1987.

    [46] Trần Huy Liệu lúc ấy là Bộ Trưởng Thông Tin.

    [47] Vũ Bằng, Bốn mươi năm nói láo, Tủ sách Nam Chi, nxb Phạm Quang Khai, Sài G̣n, 1969, trang 160.

    [48] Nhất Linh viết sai chính tả: thực ra là Ḍng sông Thanh Thuỷ.

    [49] Phạm Duy, Hồi Kư II, trang 105- 107.

    [50] Trong băng ghi âm, Hoàng Cầm cho rằng Văn Cao bắn cô Hoàng Thị Nga, chắc ông lầm, v́ cả Vũ Bằng lẫn Văn Cao đều không xác định việc này.

    [51] Sước hiệu tức biệt hiệu.

    [52] Vũ Bằng, Văn Cao - Một nghệ sĩ tài hoa, Văn Học số đặc biệt Văn Cao, tháng 11/1970, Sàig̣n, in lại trong Văn Cao cuộc đời và tác phẩm, trang 173.

    [53] Doăn Ṭng thuật lại, theo ghi chép của Bích Thuận, sđd, trang 197-198.

    [54] Hoàng Phủ Ngọc Tường, Cảm nhận Văn Cao, Hợp Lưu số 8, đặc biệt Văn Cao, tháng 12/1992.

    [55] Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước con người và sự nghiệp, Trẻ, 1989.

    [56] Tô Hoài, Chiều chiều, Hội Nhà Văn, 1999, trang 195.

    [57] Nhất Linh, Gịng Sông Thanh Thủy, tập 1, trang 214.

    [58] Bản Thông tri và toàn bộ danh sách các tác phẩm, tác giả bị cấm, in trong cuốn Văn hoá Văn nghệ... Nam Việt Nam của Trần Trọng Đăng Đàn (nxb Thông Tin, 1993), phần Phụ Lục II, từ trang 697 đến 754.

    [59] Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đă đi qua đời tôi, Thằng Mơ, 1990, trg 53.

    [60] Tạ Tỵ, sđd, trang 55-56.

    [61] Tạ Tỵ, sđd, trang 57.

    [62] Tức là Đảng Cộng sản, ngày 11/11/1945, tuyên bố "tự giải tán", đổi tên thành Hội nghiên cứu chủ nghiă Mác ở Đông Dương, mục đích thu phục toàn dân.

    [63] Tạ Tỵ, sđd, trang 68-69.

    [64] Tức là bản Đề Cương văn hoá Việt Nam do Trường Chinh viết năm 1943.

    [65] Tại đại hội này Hoàng Cầm phải treo cổ kịch thơ của ḿnh.

    [66] Phạm Duy, Hồi kư II, trang 111-112.

    [67] Tức là Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái, Lương Xuân Nhị...

    [68] Tạ Tỵ, sđd, trang 99.

    [69] Bùi Xuân Phái.

    [70] Tạ Tỵ, sđd, trang 102.

    [71] Vũ Bằng, Bốn mươi năm nói láo, trang 167.

    [72] Văn Cao, Anh có nghe thấy không, Giai Phẩm Mùa Xuân.

    [73] Bài Ngoại ô mùa đông 46 của Văn Cao đăng trên Văn Nghệ số 2, tháng 4-5/1948.

    [74] Xuân Diệu, Những tư tưởng nghệ thuật của Văn Cao, in trong Dao có mài mới sắc, Văn Học, 1963, tr. 101-114. Bản điện tử của Lại Nguyên Ân, Talawas.

    [75] Văn Cao, Ngoại ô mùa đông 1946.

    [76] Văn Cao, Những ngày báo hiệu mùa xuân, Nhân Văn số 4, ra ngày 30/9/56

    [77] Bài Có lúc.

    [78] Bài Với Nguyễn Huy Tưởng.

    [79] Bài Về một người.

    [80] Bài Ba biến khúc tuổi 65.


    Mời quí vị xem tiếp chương 14 ...

  5. #2405
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 14

    Phùng Cung (1928-1998)

    Phùng Cung đại diện cho tất cả những người bị tù không có án, thậm chí không có lư do, hoặc lư do mơ hồ, khó hiểu, trong danh sách hàng trăm người bị xử lư nặng, hoặc hàng ngàn người đă "liên hệ" xa gần với NVGP. Mỗi cá nhân là một trường hợp, một chân dung bị xoá, bị đưa đi biệt tích, trong cô đơn, đau khổ.

    Phùng Cung cũng là khuôn mặt văn nghệ sĩ cuối cùng trong nhóm NVGP mà chúng tôi đề cập trong loạt chân dung, trước khi bước sang địa hạt trí thức. Nhưng không có nghiă là những người khác không có giá trị: Mỗi con người đă góp phần vào việc đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho đến ngày nay là một giá trị, một biệt cách. Chỉ riêng trong phong trào NVGP không thôi, sự can trường của Hữu Loan không giống sự can trường của Phùng Cung. Ḷng nhiệt t́nh của Phùng Quán không dễ ai sánh được. Sự đóng góp của Bùi Xuân Phái không giống Nguyễn Sáng. Kịch của Hoàng Tích Linh không giống kịch của Chu Ngọc. Mỗi văn nghệ sĩ là một chân dung mà kư ức lịch sử văn học sẽ không thể bỏ qua.

    Sau này, khi nhắc đến Phùng Cung, người ta thường cho rằng ông bị tù v́ truyện "Con ngựa già của chúa Trịnh". Sự thực phức tạp hơn nhiều, nó nằm trong toàn bộ thái độ sống và sáng tác của Phùng Cung. Chúng tôi cố gắng t́m hiểu những nguyên do sâu xa đă đưa Phùng Cung vào ṿng tù tội và bị theo dơi suốt đời. Nguyên do ấy có thể tóm tắt như sau:

    • Một tinh thần bất khuất không đầu hàng bạo lực cách mạng.

    • Một sự nghiệp thơ văn chống lại chiến tranh và xây dựng văn hoá dân tộc.



    ● Tiểu sử Phùng Cung


    Những chi tiết đáng tin cậy nhất về Phùng Cung nằm trong bài Nhà thơ Phùng Cung của Phùng Hà Phủ, con trai Phùng Cung, nay đă qua đời.

    Phùng Cung sinh ngày 18/7/1928 tại làng Kim Lân, xă Hồng Châu, huyện Yên Lạc, Vĩnh Yên. Mất ngày 9/5/1998 tại Hà Nội. Quê tổ xă Cam Lâm, quận Đường Lâm, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây. Vĩnh Yên, quê sinh và Hà Tây, quê tổ của Phùng Cung đều thuộc tỉnh Sơn Tây. Họ Phùng ở Cam Lâm ḍng dơi Phùng Hưng - Bố Cái Đại Vương.

    Con trưởng một gia đ́nh giàu có, đông con, được gửi đi trọ học ở Sơn Tây, đỗ bằng Trung Học - Brevet. Tháng 4/45, Nhật đảo chính Pháp, Phùng Cung trở lại quê nhà.

    Tháng 9/45, Phùng Cung, 17 tuổi, được bầu làm chủ tịch liên xă Hồng Châu-Liên Châu. Tên xă do ông đặt và tên ấy vẫn c̣n giữ đến ngày nay. Phùng Cung làm chủ tịch xă được 2 năm.

    Tháng 10/1947, Pháp chiếm Tông và Sơn Tây, Phùng Cung chạy lên Việt Bắc cùng mấy anh em trai. Tại quê nhà, gia đ́nh bị liên lụy v́ có con đi làm cách mạng.

    Phùng Hà Phủ viết: "Khi lên chiến khu, bố tôi làm công tác thông tin ở liên khu 10 Việt Bắc, cơ quan thông tin của ông Nguyễn Tấn Gi Trọng (bác sĩ Trọng sau này làm công tác chuyên môn tại trường Đại học Y Dược Hà Nội và là người giúp mẹ tôi theo học lớp dược tá khi ḥa b́nh lập lại). Sau một thời gian làm tại liên khu 10, bố tôi mới chuyển sang an toàn khu và làm công tác văn nghệ, cùng sống và làm việc với các ông Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài,... cho đến khi ḥa b́nh lập lại (1954) th́ cùng với cơ quan Hội văn nghệ về tiếp quản thủ đô Hà Nội"[1].

    Trong thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất, gia đ́nh bị quy vào thành phần địa chủ cường hào. Cha ông bị đem ra đấu tố, rồi bị đưa lên giam giữ ở trại C̣ Nỉ - Thái Nguyên. Khi ấy, Phùng Cung đang làm việc trong cơ quan văn nghệ kháng chiến ở Tuyên Quang. Phùng Hà Phủ viết: "Khi bố tôi hay tin, bố rất nóng ḷng chuyện nhà và muốn quay về xem sự thể ra sao. Những bạn bè thân trong cơ quan biết chuyện như ông Tô Hoài (lúc này đang phụ trách công tác Đảng - Đoàn của Cơ quan văn nghệ) đều khuyên nên thật b́nh tĩnh, chờ Đảng sẽ sửa sai.
    Trong một lần kết hợp đi công tác, bố tôi có t́m lên thăm và những mong gặp mặt để tiếp tế cho cụ. Nhưng tới nơi th́ được một người bạn tù già cùng lán với cụ, chưa kịp nói câu nào vội vă dẫn bố lên khu đồi trọc phía sau trại giam và chỉ cho bố lùm đất mà ngọn sắn làm dấu mới héo lá. Quá bất ngờ trước cái chết của cụ, bố tôi quay ngay về Hà Nội, bố rất buồn, suy nghĩ nhiều và tránh mọi sự tiếp xúc với bên ngoài."[2]

    1954, Phùng Cung làm việc tại Hội Văn Nghệ.

    1956, tham gia phong trào NVGP với truyện ngắn Con ngựa già của chúa Trịnh[3].

    Theo Phùng Hà Phủ, tháng 5/1961 công an đến nhà bắt Phùng Cung. Theo Nguyễn Hữu Hiệu, đó là ngày "19 tháng Chạp năm Canh Tư" tức ngày 4/2/1961. Ông bị tịch thu tất cả bản thảo và bị giam vào Hỏa Ḷ Hà Nội. Rồi bị chuyển đi các trại Bất Bạt (Sơn Tây), Yên B́nh (Yên Bái) và Phong Quang (Lào Cai), bị tù 12 năm, với 11 năm biệt giam, không có án.
    Trong suốt thời gian từ khi ông tham gia NVGP năm 1956 đến tháng 5/61, khi ông bị bắt, Phùng Cung vẫn sáng tác đều, không hề nhụt tay trong sự lên án chế độ.

    Tháng 11/1972 được tha về. Phùng Cung làm nghề thợ đinh, vẫn âm thầm sáng tác, vẫn bị công an đến thăm ḍ và kiểm soát. Ông phải chép bản thảo làm nhiều bản gửi nhiều nơi. Phùng Cung mất năm 1998 tại Hà Nội.


    Còn tiếp ...

  6. #2406
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 14

    ● Sáng tác chui, bản thảo gửi

    1- Nguyễn Chí Thiện gặp Phùng Cung tại trại Phong Quang, năm 1970, Phùng Cung đang nằm bệnh xá v́ bị lao phổi. Nguyễn Chí Thiện hỏi Phùng Cung:

    "- Anh tù đă 10 năm rồi, anh sáng tác được nhiều không?

    Anh Cung lắc đầu:

    - Mấy năm đầu rầu rĩ, lo nghĩ về vợ con, không làm ǵ được. Sau đó có viết một số truyện ngắn trong đầu, nhưng không nhớ nổi. Đành chuyển sang thơ. Làm cũng được ít thôi, độ vài chục bài"[4].

    2- Phùng Quán viết: "Được trả lại tự do, việc đầu tiên là anh cùng với vợ sửa lễ "Tạ ơn cao rộng cho được sống để trở về quê quán". Rồi yên phận hẩm hiu, anh tránh thật xa mùi bút mực. Anh xoay trần làm nghề đập đinh, phụ với vợ thêm nghề bánh rán, nuôi ba đứa con trai đang sức ăn, sức lớn. Song h́nh như mùi dầu nhờn, gỉ sắt, mỡ rán vẫn không át được mùi bút mực. Những lúc rảnh tay, anh ngồi buồn thiu, thỉnh thoảng chấm ngón tay vào đáy chén trà cặn, viết một từ ǵ đó lên mặt bàn"[5].

    3- Về việc bản thảo và giữ ǵn bản thảo, Ngô Minh thuật chuyện được Phùng Quán dẫn đến gặp Phùng Cung lần đầu, năm 1986: "... rồi ông đứng lên mở ngăn kéo bàn lục t́m hồi lâu mới lấy ra một tập vở bé bằng bàn tay, b́a bọc giấy xi măng cáu bẩn, cầm đến đưa cho Phùng Quán: "Sau mười hai năm khổ ải, ḿnh về với vợ con là mừng. Nghĩ đến tù đày là sợ lắm."
    Phùng Cung trầm ngâm: "Quán ạ, ḿnh cố quên hết văn chương. Nhưng không sao quên được. Đêm ngủ thơ nó cứ kéo về trong mộng. Thế là ḿnh thủng thẳng ghi lại từng ngày. Như là viết nhật kư. Đây là những bài thơ nho nhỏ về chuyện quê nhà. Nhưng bây giờ th́ gay rồi. Hôm qua chú công an khu vực đến chơi nhà, bỗng dưng chú cười hỏi: "Chào bác Phùng Cung, nghe nói dạo này bác lại viết thơ nữa à?". Chỉ câu hỏi vui thế mà làm ḿnh nổi da gà. Sợ quá. Tập thơ này toàn h́nh ảnh quê, ḿnh viết để giải khuây, không có "chuyện ǵ" trong đó cả. Nhưng nếu mà họ thu mất th́ tiếc lắm. Nên Quán cứ giữ hộ cho ḿnh cho chắc.”(...)

    Phùng Quán đưa cho tôi xem tập thơ chép tay. Tập vở mỏng, giấy học tṛ đen hùn. Trong đó mỗi trang chép một đến hai bài thơ, bài nào cũng ngắn, có bài chỉ hai ba câu, bốn năm câu giống như thơ Haiku của Nhật Bản, nét chữ Phùng Cung viết bằng bút ch́ rất nắn nót, hoa tay, nhưng không ghi tên tác giả. Tôi liếc bài thơ hai câu đầu tiên nhan đề là “Bèo”, bỗng nổi da gà: Thơ ghê quá, bất ngờ quá:

    Lênh đênh muôn dặm nước non

    Dạt vào ao cạn vẫn c̣n lênh đênh (...)

    Trên đường về lại Hồ Tây, tôi bảo anh Quán: “Anh để em giữ tập thơ này cho. Anh giữ cùng chưa chắc an toàn”. Anh Phùng Quán đồng ư. Thế là tôi mang vào Huế. (...)

    Tôi đă chọn hai chùm thơ Phùng Cung và đưa tập thơ viết bút ch́ của Phùng Cung cho nhà văn Nguyễn Khắc Phê, lúc đó là phó Tổng biên tập Sông Hương, sau này một giai đoạn là Tổng biên tập. Tạp chí Sông Hương năm 1988 đă hai lần giới thiệu thơ Phùng Cung với những bài như "Nghiêng lụy", "Bèo", "Người làng", "Chiếc lá rụng", "Cô lái đ̣", rút trong tập thơ chép tay bằng bút ch́ ấy. (...)

    Một lần nữ nhà văn Hà Khánh Linh ở Huế ra Hà Nội, anh Phùng Quán cũng dắt đến thăm nhà thơ Phùng Cung ở Bưởi. Buổi trưa hôm đó Phùng Cung, Phùng Quán và ông Nguyễn Hữu Đang mời cơm nữ sĩ Hà Khánh Linh. Tại bữa cơm ấy Phùng Cung cũng đưa cho Hà Khánh Linh một tập thơ chép tay như thế, nhưng viết bằng bút mực, chứ không phải bút ch́ (...) Mới hay, gửi cho bạn bè giữ hộ là cách “lưu trữ” thơ của Phùng Cung. Ông phải chép thành nhiều bản để đề pḥng bị mất"[6].


    Còn tiếp ...

  7. #2407
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 14

    ● Xuất hiện lại trên văn đàn

    Như vậy, lần đầu tiên Phùng Cung xuất hiện trở lại, là trên báo Sông Hương ở Huế năm 1988, với các bài thơ Nghiêng lụy, Bèo, Người làng, Chiếc lá rụng, Cô lái đ̣.

    Nguyễn Hữu Hiệu, hay về nước, đă gặp Phùng Cung và nhiều nhà văn NVGP. Ông đem bản thảo của Phùng Cung ra hải ngoại: Bài Dạ Kư được đăng lần đầu trên tạp chí Khởi Hành của Viên Linh[7] năm 1996, tiếp đó là Ván cờ khai xuân[8] và Pḥng tuyên truyền địa ngục[9].

    Năm 1995, nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin in tập Xem đêm của Phùng Cung, gồm 200 bài thơ, là nhờ Quang Huy: "Tập thơ Xem đêm được in ra có phần cổ vũ, trợ giúp không nhỏ về tài chính của ông Đang và sự nhiệt t́nh của ông Quán. Ngoài ra cũng phải kể đến sự quư trọng và can thiệp trong khâu kiểm duyệt bài của nhà thơ Quang Huy, giám đốc nhà xuất bản đồng thời là người viết tựa cho cuốn sách này"[10].

    Năm năm sau khi Phùng Cung qua đời, Lâm Thu Vân cho in tại hải ngoại, cuốn Phùng Cung truyện và thơ chưa hề xuất bản[11] gồm tập thơ Trăng ngục (35 bài làm trong tù, từ 1961 đến 1972) và 11 truyện ngắn (10 truyện mới và Con ngựa già của chúa Trịnh). Năm sau, sách tái bản dưới tựa Phùng Cung Trăng ngục[12] có thêm 74 bài thơ trích trong Xem đêm.

    Về tập Xem đêm, Nguyễn Hữu Đang viết: "Khi đón nhận nó với cái tên ngộ nghĩnh Xem Đêm, tôi nghĩ ngay đến một câu của thi hào cổ đại Horace như đă "ứng" vào trường hợp này: "Tôi sẽ không chết tất cả" (nguyên văn tiếng La Tinh Non omnis moriar, ngụ ư sau khi thi sĩ qua đời, tác phẩm của ông là một phần con người ông sẽ c̣n sống măi), Phùng Cung cũng hoàn toàn tin tưởng lạc quan ở sức sống lâu dài của thơ ông như Horace nghĩ về thơ ḿnh. Và cố nhiên bấy lâu ông hằng mong thơ ông chóng thoát ly bản thảo để sức sống kia được thử thách và cống hiến"[13].

    Thơ Phùng Cung in được là nhờ Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, những người bạn "trong cuộc" và vài người "ngoài cuộc" như Quang Huy và nhóm Sông Hương ở Huế gồm Ngô Minh, Hà Khánh Linh và Nguyễn Khắc Phê ủng hộ. C̣n sĩ phu Bắc Hà th́ sao?

    Xem đêm ra mắt độc giả trong nước từ 1995. Về mặt giá trị văn học, thơ Phùng Cung không thua ǵ những tập thơ khác của các nhà thơ NVGP đă được in ra. Nhưng "giới sành thơ" ngoài Bắc không ai nhắc đến Phùng Cung. Từ điển văn học cũng không có mục từ Phùng Cung trong khi Văn Cao, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đ́nh Hưng, Phùng Quán, có. Phải chăng v́ Phùng Cung chưa bao giờ được chính thức "xoá án"? Chưa bao giờ được công khai "hồi phục" như những thành viên khác của NVGP ?

    Nhưng c̣n một lư do nữa, có lẽ quan trọng hơn: là mọi người ngại, không nhắc đến Phùng Cung, không phải v́ Xem đêm, mà v́ nội dung toàn bộ tác phẩm của Phùng Cung, dù chưa in ở trong nước, nhưng đă có nhiều người biết hoặc đă đọc qua.

    Cái khiến người ta ngại, chính là tư tưởng của Phùng Cung. Một tư tưởng độc đáo và ngược hướng với người cùng thời, kể cả các thành viên NVGP, trên nhiều địa hạt: Bảo tồn văn hoá, ḷng ái quốc, cách mạng mùa thu, kháng chiến chống Pháp, chiến tranh Nam-Bắc, t́nh nước và t́nh người.

    Chưa một nhà thơ, nhà văn nào dám đi xa như thế, viết những lời đả kích mănh liệt như thế về quốc ca, quốc thiều, về cách mạng mùa thu, về chính sách văn hoá của Đảng Cộng Sản, về những tín điều đă mê hoặc người Việt Nam trong suốt thế kỷ qua. Và đó là lư do chính khiến Phùng Cung bị 12 năm tù. Rồi khi được thả, ông vẫn bị gạt ra ngoài ṿng "chấp nhận" của nhiều người trong và ngoài đảng.

    T́m hiểu Phùng Cung là t́m hiểu ḍng tư tưởng yêu nước đối lập với các quan niệm chính thống và đi ngược lại niềm tự hào dân tộc cố hữu, nhưng là kim chỉ nam cho một dân tộc mới: sự chuyển giáo dục chiến tranh và giáo dục hận thù thành giáo dục hoà b́nh và giáo dục văn hoá.


    Còn tiếp ...

  8. #2408
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 14

    ● Phùng Cung và lớp chỉnh huấn Thái Hà

    NVGP bị dẹp cuối tháng 12/1956. Trong năm 57, mọi việc "b́nh thường" trở lại. Đến tháng 2/1958 sự thanh trừng mới bắt đầu với hai "lớp học" ở ấp Thái Hà.

    1- Trần Dần ghi trong nhật kư một số dữ kiện về Phùng Cung, trước ngày "đi học":

    27/2/58 PhCung: Tự dưng học hành đến nơi mà Liên Hiệp Hội lại cho PhCung nghỉ công tác. PhCung lo. Không hiểu sao. Có phải v́ các ông ấy sợ ḿnh ở đấy đâm lộ chuyện hay không? Hay là v́ cái "giả vía", các ông ấy mới cho ḿnh là cái thằng mất dậy? Đă mất dậy th́ thôi, không dậy cho nữa, để mà biết tay!

    Tôi hỏi PhCung xem cái "giả vía" ấy có ǵ?

    PhCung cười h́ h́, kể lại:

    - Cũng chả có ǵ h́... Có một chỗ ḿnh bảo là cái "đảng mạ", h́, nghiă là cái thứ mạ, ḿnh gọi là "đảng mạ", dùng tiếng quê vậy cho nó vui, h́... Lại có chỗ ḿnh định ca ngợi các đồng chí chuyên gia, th́ ḿnh cũng dùng tiếng quê, bảo là "các ông ấy béo mà phương phi như tây đoan", "cái đệm các ông ấy nằm mà bà con ta nằm th́ ngủ không biết khi nào trở dậy được", h́, ḿnh cứ nói tiếng quê vậy, để bà con nhân dân ta đọc cho nó vui... h́...

    Tôi lo dựng tóc gáy:

    Anh viết thế mà anh bảo là tiếng quê! Anh có bị đánh mất xác cũng không oan...

    Về sau tôi hỏi HtLinh [14] Linh bảo:

    - Cái thằng, nó cứ có cái lối thế. Nó cho rằng viết phải đả cái ǵ một tí th́ mới oai. Anh em khỏi cười.

    - Ai bảo nó thế?

    - Ấy thế mới khỉ!... Nó cứ nghĩ như thế cơ chứ![15]

    Vậy, trước lớp Thái Hà, Phùng Cung vẫn sáng tác đều và vẫn châm biếm Đảng.

    2- Phùng Hà Phủ viết: "Cũng khoảng thời gian này,[16] bố tôi bị đ́nh chỉ công tác để làm kiểm thảo. Bố tôi ít đến cơ quan và chỉ viết ở nhà, một số bạn thân của bố tôi thường lui tới như Trần Dần, Hoàng Cầm, Đặng Đ́nh Hưng..."[17]

    3- Phùng Quán cho biết về những truyện ngắn Phùng Cung viết trong thời kỳ này:

    "Anh c̣n một tập truyện ngắn, đâu như tám truyện th́ phải, cũng một ḍng "ngựa, voi", chưa kịp ra mắt bạn đọc th́ đă bị cái khách quan khắc nghiệt "bảo lưu" cùng với tài năng của tác giả. Truyện nào viết xong anh cũng đưa tôi đọc. Truyện nào cũng làm tôi say mê v́ vẻ đẹp của ngôn từ. Cái kho ngôn từ dân dă của anh dường như vô tận. So với tất cả văn xuôi của tôi đă in ra, tôi có cảm giác ḿnh là người nước ngoài viết tiếng Việt"[18].

    Tóm lại, từ tháng 12/1956, khi NVGP bị đóng cửa, đến tháng 5/61, khi Phùng Cung bị bắt, ông vẫn sáng tác và các bạn đều đọc. Theo Tô Hoài, bài Dạ Kư lúc bấy giờ đă nổi tiếng lắm[19].

    4- Phùng Cung là đảng viên, vào đảng ở Việt Bắc, chưa rơ năm nào. Vậy ông phải đi cả hai lớp chỉnh huấn Thái Hà. Tuy nhiên chưa bị tội nặng, v́ ở lớp này, Hoàng Cầm, Lê Đạt đều "bao che" Phùng Cung, một nhà văn trẻ. Hoàng Cầm viết trong bài "tự thú" như sau: "Tôi đi động viên Phùng Cung viết chuyện, và khi Phùng Cung viết "Con ngựa già của Chúa Trịnh" đưa tôi xem bản thảo đầu tiên, tôi có góp ư kiến vào việc diễn tả: "Chỗ con ngựa vào cung Vua, nên tả cho đáng ghét hơn". Khi Phùng Cung đưa bản thảo lần thứ hai, tôi chữa văn và thêm nhiều câu diễn tả cảnh đẹp, diễn tả con ngựa càng ngày càng béo"[20].

    Lê Đạt viết: "Tôi lại viết “lời toà soạn” cho chuyện “Con ngựa già” của Phùng Cung đả kích và vu khống lănh đạo văn nghệ không chú ư đến các nhà văn trẻ".[21]

    Hai lời "thú nhận" trên đây chứng tỏ Hoàng Cầm, Lê Đạt trong lớp Thái Hà, nhận ḿnh chủ mưu, Phùng Cung chỉ là đàn em.

    5- Về Thái độ của Phùng Cung ở Thái Hà ấp, Trần Dần ghi:

    29/4/58 Phùng Cung

    - Nhục lắm. Mẹ nó. Ḿnh xin về nhà có được không nhỉ? (...) Có nên xin ra biên chế không? Tôi nh́n PhCung, ái ngại cho anh quá. Đâu như trong khi học tập, anh ta "hỗn" quá, bị đuổi khỏi lớp làm sao ấy... Tôi khuyên anh, rằng nên đầu hàng đi; rằng chỉ có một con đường, "họ" là chân lư, ḿnh đầu hàng, là phải; rằng không nên xin ra biên chế, lúc này việc ấy có thể là một sự tiến công của tư tưởng thù địch; rằng không nên coi là nhục, oan ức ǵ nữa, mà cứ nghĩ lại xem tổng cộng cái bồ chữ ḿnh đă chửi vào lănh đạo nó to như thế nào, c̣n oan và nhục ǵ nữa? PhCung xem ư không thông ǵ lắm. Tôi thấy khổ! Một con người có cái gan "tử v́ đạo" là PhCung, than ôi, cái đạo anh định chết v́ nó chính là cái đạo phản cách mạng, sao mà anh chưa tỉnh ngộ ra hử anh?"[22]

    Tại lớp Chỉnh huấn Thái Hà, Phùng Cung đă có thái độ cứng rắn, không đầu hàng, "tử v́ đạo" như Trần Dần ghi.


    Còn tiếp ...

  9. #2409
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 14

    6- Về t́nh trạng tự kiểm thảo của mọi người sau lớp Thái Hà, Trần Dần ghi:

    Ngày 7/5/58 Kiểm thảo sáng tác. Đảng đoàn HNVăn để cả một tuần này, để cho Nhân Văn viết lại cái phần kiểm thảo sáng tác! Theo như đồng chí NxSanh[23] nói, th́ tuần trước, phần đó viết chưa sâu, v́ thiếu thời giờ, th́ tuần này viết lại cho kỹ. Mà phải viết sao cho có thể dùng in công khai được. Sau khi mọi người đă nộp cái của quốc cấm, nghiă là cả một đống những Nhân Văn Giai Phẩm rồi, th́ tập trung ở cả một pḥng, viết kiểm thảo (...) Anh nào anh nấy lăn vào viết.

    Lắm h́nh dung từ, lắm tiếng tự phê dao búa! (...) Tôi cũng không kém. Bao nhiêu h́nh dung từ phản cách mạng, phản động, phản Đảng, phản bội, chống chế độ, xét lại, tờ-rốt-kít. Không c̣n thiếu chữ ǵ. Giặc bút, viên đạn xét lại, mũi tên độc địa của chủ nghĩa cá nhân đồi trụy, chủ nghĩa vô chính phủ và đầu óc làm phản v.v... Tôi sáng tác thêm nhiều chữ nữa để mà miêu tả chân tướng ḿnh, cho nó hết ḷng một thể. Chắc các đồng chí lănh đạo đọc một loạt kiểm thảo bọn tôi lần này th́ phải bựt cười lắm đấy! "Trước kia th́ nói nhẹ chúng cũng không nghe. Bây giờ th́ chúng lại c̣n tự sỉ vả gấp triệu lần sự phê b́nh của lănh đạo!"[24]

    7- Về h́nh phạt và tâm trạng chung, Trần Dần ghi:

    Ngày 12/5/58, T́nh h́nh :

    Cuộc đấu tranh cứ lộn đi lộn lại từ B[25] sang A[26] lại A sang B, báo chí cứ xoay đi xoay lại măi, cứ như một cái nồi khổng lồ của vô sản chuyên chính, ninh đi ninh lại cho nó dừ cái chủ nghiă xét lại ra.

    Tôi chịu cái h́nh phạt ấy, nhẫn nại và đau khổ. H́nh phạt của một người bị bung dừ. Không c̣n cách nào. Đây không phải là một sự trừng trị cá nhân; mà đây là "chúng ta" trừng trị một phong trào, một trào lưu tư tưởng của chủ nghiă xét lại ... Tôi vừa là một tội nhân. Vừa phải cố tách ḿnh ra, làm một đao phủ thủ, hành hạ cái chủ nghĩa xét lại có thực trong tôi và đám Nhân Văn"[27].

    8- Về sự phải tố bạn để thoát thân, Trần Dần kể:

    21/5/58 "Thực ra, trước khi HCầm báo cáo, tôi dự định là giữ VCao và ĐđHưng lại, như là "giữ một nửa thành phố, chỉ đầu hàng một nửa" (...). Nên báo cáo tổ, bị hỏi, bị dồn, bị truy nữa, tôi vẫn giấu quanh, không chịu thúc thủ cái một nửa thành phố đó! Đến lúc HCầm báo cáo, tức HCầm "rendre"[28] hai ông bạn quư đó rồi. PhVũ lên tố thêm VCao. LĐạt th́ chỉ xác nhận, tố thêm tí tỉnh, c̣n bao che ĐdHưng nhiều. Hơn nữa, qua báo cáo HCầm và LĐạt, th́ tôi "được" đưa lên mũi nhọn, "được" hội trường chờ đợi rất ghê!

    Băo lúc ấy chầu chực trên đầu lâu tôi!

    Tôi phải tính kế, vừa thoát thân, vừa thoát cho 4 thằng đang bị dồn đánh ghê gớm (TD, HC, LĐ, TPh)[29] vừa để sao cho VCao, ĐdH hiểu ḿnh, qua cái ư ngầm của bản báo cáo!

    Cụ thể, tức là tôi nghĩ rằng: "Bây giờ chỉ c̣n con đường duy nhất, là đầu hàng Đảng. Không có con đường khác. Mà đă hàng th́ hàng thực sự, về sau mới thực sự trời êm bể lặng được. Thế nào là hàng thực sự? Hàng thực sự là: mỗi người phải ra mà gánh lấy cái phần băo, do chính trách nhiệm ḿnh gây ra! 4 thằng đang chịu cái trận băo đó rồi, c̣n hai ông anh VCao, ĐdHưng th́ xin nhờ đến vai hai ông, mang vác lấy cái phần của các ông! (...)

    Thực tế đă chứng minh cho giá trị chủ trương đó. Quả nhiên: ngay trong lớp học, băo cũng đă ngàn đi dần dần trên đầu 4 thằng, và sau khi chuyển mạnh sang đầu 2 thằng kia ít bữa, rồi nó cũng ngàn đi.

    Đến sau lớp học nữa, thằng nào cũng đều được sống trong một không khí được giải vây tương đối dễ thở. Với thời gian chắc nó sẽ càng dễ thở hơn.

    Chỉ có cái là trong bộ 6[30] th́ có một sự phân hoá của trách móc, hằn thù... HCầm có vẻ khổ! LĐạt tự cho ḿnh là oai nhất, "đúng nhất, vừa mức nhất, không vấy cho ai!", LĐạt cho tôi là "quá mức!", ĐdHưng th́ kẻ cả: "Tất nhiên có chuyện đó, nhưng đă thuộc lịch sử rồi. TPhác khó hiểu, vừa ghét HCầm, vừa ghét VCao mà vẫn nối lại một phần, c̣n đối tôi th́ lại bảo là: "anh ghê nhất, anh giỏi nhất!"[31]

    Đoạn nhật kư Trần Dần trên đây và đoạn Hoàng Cầm kể lại trong băng ghi âm về buổi "báo cáo điển h́nh" hơn 10 tiếng đồng hồ của ông tại Thái Hà ấp, hoàn toàn ăn khớp với nhau. Trần Dần giải thích tại sao phải đầu hàng trước hệ thống cưỡng bách thẩm vấn, cho biết điều kiện viết những bản tự thú và sự bắt buộc phải tố bạn để cứu ḿnh. Trần Dần đă vạch trần chế độ toàn trị trong vài hàng nhật kư: Sự tan nát t́nh bạn và sự giẻ rách hoá con người.


    Còn tiếp ...

  10. #2410
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 14

    ● Phùng Cung bị bắt

    1- Trần Duy viết:

    "Chính việc anh Phùng Cung bị bắt làm tôi rất lo sợ và đau buồn, v́ Phùng Cung không tham gia Nhân văn ngoài bài viết "Con ngựa già của Chúa Trịnh" nhằm vào một nhân vật có tên tuổi trong Hội Nhà Văn (Nguyễn Tuân). Nhưng v́ anh Phùng Cung có một số bài viết đầu tay đă chuyển cho một số đàn anh xem để biết, rồi không hiểu bằng cách nào đó những bản thảo ấy lại vào tay lănh đạo (tôi không được đọc những bài viết ấy) (...)

    Tôi nhớ một cuộc họp tại trụ sở Hội Nhà Văn ở đường Nguyễn Du năm 1957 dưới sự chủ tọa của Hà Minh Tuân, Nguyên Hồng … người đến họp có đông văn nghệ sĩ, trong đó có Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần …, qua những câu hỏi, những lời xác minh của các anh Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần th́ đúng Phùng Cung là tác giả của những bài viết kể trên, và như vậy bản án đă úp lên đời Phùng Cung một tội trạng.
    Tôi c̣n nhớ câu của Nguyên Hồng nói sau khi kết thúc buổi họp: "Các anh lúc b́nh thường đối xử với nhau có vẻ trí thức lắm, nhưng lúc có sự việc xảy ra th́ các anh đối xử với nhau không bằng lũ chăn trâu!". Ra đến cổng anh Nguyên Hồng vỗ vào vai tôi và bảo: "Đă biết sợ chưa!".

    Quả t́nh tôi rất sợ, tất nhiên sợ về pháp luật là chính nhưng sợ hơn nữa là nhân tâm con người, sự tàn nhẫn của những con người đă bán rẻ nhân phẩm của ḿnh để tự cứu ḿnh, giẫm lên sinh mạng của những người khác để tự thoát thân"[32].,

    Theo Trần Duy, Phùng Cung bị tố năm 1957 và Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần là ba người tố. Nhưng so sánh với những tài liệu khác, không thấy nơi nào ghi 1957 có việc tố Phùng Cung.
    1957 là năm tương đối yên tĩnh.
    1958, tại lớp chỉnh huấn Thái Hà, Hoàng Cầm và Lê Đạt c̣n cố "gỡ tội" cho Phùng Cung. Vậy việc tố Phùng Cung, nếu có, phải xẩy ra vào khoảng 1960-1961, trước khi ông bị bắt, bị tịch thu bản thảo. Tóm lại Trần Duy đă nhớ nhầm năm.

    2- Phùng Hà Phủ viết:

    "Một buổi sáng như thường lệ, khi mẹ tôi đi làm (lúc đó hai anh em tôi c̣n nhỏ, chưa đến tuổi đi học), th́ ở nhà, căn hộ mà gia đ́nh tôi ở bị công an mang xe ô tô đến vây bắt khám xét. Sau khi khám nhà và tịch thu toàn bộ sách vở, tài liệu, bố tôi bị đưa ngay vào giam ở nhà tù Hỏa Ḷ (Hà Nội). Đó là tháng 5/1961. Kể từ ngày đó măi cho đến thời gian chuẩn bị kư hiệp định Paris (1973), tức là 12 năm sau, bố tôi mới được tha về nhà. Thời gian đầu bố tôi bị giam ở Hỏa Ḷ (Hà Nội), sau đó đưa lên Bất Bạt (Sơn Tây), rồi Yên B́nh (Yên Bái), Phong Quang (Lào Cai)".

    "Bố tôi bị bắt và giam giữ nhưng không có án mà gọi là đi tập trung cải tạo (...)

    Sau này lúc măn hạn tù, mẹ tôi mới biết bố tôi luôn là đối tượng bị giam cấm cố trong xà lim, bị hạn chế tôi đa tiếp xúc với thân nhân.


    Nhớ lại theo bố tôi kể "khi xẩy ra chuyện", buổi sáng đó bố tôi được triệu tập tới cơ quan để họp. Đến nơi thấy mọi người xung quanh đều có ư lảng tránh ḿnh, thậm chí không dám mời nhau uống chén nước. Ngay cả những bạn rất thân và thường lui tới nhà cũng t́m cách lánh mặt. Ngay sau đó bố tôi bị đem ra kiểm điểm trước cuộc họp, mà thực chất gần như một buổi đấu tố thời "cải cách" của Liên Hiệp Hội Văn Học Nghệ Thuật (gồm cả đại diện bên văn nghệ quân đội).

    Chủ tŕ cuộc đấu tố gồm các ông Vơ Hồng Cương, Nguyễn Đ́nh Thi, Chế Lan Viên, Hoài Thanh ... Cảm tưởng đau xót và ngỡ ngàng nhất đối với bố tôi là những bạn thường ngày chơi thân với bố tôi như vậy đều tham gia vào việc "đấu tố". Ngày hôm đó, ông Trần Dần là người đứng lên "tố" để hai ông Lê Đạt và Hoàng Cầm làm chứng dối.
    Tội chính mà bố tôi bị "tố" là mang ḷng hận thù cách mạng sau cái chết của bố ḿnh. Lôi kéo người khác cùng về hùa để lăng mạ lănh đạo và c̣n viết nhiều chuyện chưa in khác - Tất cả nội dung đều tập trung vào lănh tụ và Đảng Cộng Sản như: Dạ kư, Chiếc mũ lông, Quản thổi, Kép Nghế ... Việc bố tôi bị bắt sau đó là do tham gia làm báo Nhân Văn nhưng theo mẹ tôi c̣n nhiều lư do khác nữa (...)

    Từ ngày ra tù bố tôi sống như người bị câm, hầu như không quan hệ với ai ngay trong các bạn văn quen biết cũ. Những người trực tiếp "tố" bố tôi ngày xưa đều cảm thấy hối hận về việc làm của ḿnh và xin lỗi bố tôi."[33]

    Phùng Hà Phủ, không ghi rơ ngày "xẩy ra chuyện" -khi đó hai anh em mới 4 và 2 tuổi- chỉ ghi lại những ǵ trong kư ức nghe cha mẹ kể lại. Buổi đấu tố này, những người chủ tŕ khác với buổi Trần Duy kể lại, nhưng có những chi tiết đúng như Nguyễn Hữu Hiệu viết trên báo Khởi Hành.

    3- Nguyễn Hữu Hiệu viết:

    "Theo lệ thường, mỗi năm, hội viên Hội Nhà Văn phải viết bá cáo, tự thuật, tự đánh giá ḿnh đọc trước lănh đạo.

    Trong đợt học tập cuối năm 1960, tổ học tập gồm bọn bốn người cứng đầu kia[34]bị trực tiếp đặt dưới quyền tổ trưởng Vơ Hồng Chương[35]. Trong đợt học tập này T.D.[36] được lănh đạo viết bản tố cáo dài gần 40 trang viết tay chữ nhỏ như kiến. Phùng Cung bị đấu hai buổi trước đông đảo văn nghệ sĩ tại trụ sở Hội Nhà Văn; bị tố cáo là tên phản động ngoan cố nhất của "Nhân Văn Giai Phẩm".

    Chế Lan Viên, cuối cùng, mới đứng lên đề nghị phải lập tức điều công an đến khám nhà và bắt Phùng Cung.

    Nỗi đau nhục bị phản bội chưa qua th́ họa khám nhà đă đến.Ngày 19 tháng Chạp năm Canh Tư 1960 [tức là ngày 4/2/1961] công an vây kín ngơ, xồng xộc vào nhà, lục soát, dầy xéo lung tung, tịch thu toàn bộ bản thảo gồm trên ba chục truyện ngắn và rất nhiều thơ. Phùng Cung bị đưa vào Hỏa Ḷ Hà Nội.

    Sau đó, ông bị đưa đi biệt giam qua các trại Bất Bạt (Sơn Tây), Yên B́nh (Yên Bái), Bảo Thắng (Lào Kai) từ đầu 1961 đến cuối 1972. Suốt trong mười một năm bị biệt giam, Phùng Cung bị lao nặng và nhiều bệnh trầm kha khác. Khi được phóng thích ông vẫn bị quản chế rất chặt tại địa phương.(...)

    Khi làn sóng Dân chủ đích thực -giấc mơ đời của Phùng Cung- dâng lên đe dọa nhận ch́m Liên Xô "Thành đồng của Cách Mạng" th́ Phùng Cung không được làm "bất cứ việc ǵ liên quan đến chữ nghĩa" kể cả việc làm gia sư.
    Đều đặn hàng tuần công an đến nhà thăm hỏi sức khoẻ, ngồi ́ trong nhà khiến không ai dám bén mảng tới. Đông Âu sụp đổ, h́nh thức quản chế cũng theo đà "đổi mới" theo, nghiă là công an vẫn đến thăm hỏi như xưa nhưng nhẹ nhàng và ít thường xuyên hơn. Hiện Phùng Cung đang sống lây lất với gia đ́nh tại một căn nhà âm u, lụp xụp tại vùng Quần Ngựa ngoại thành cũ"[37].

    Nguyễn Hữu Hiệu viết rất rơ ràng, đúng trật tự lô-gíc, chắc chắn ông đă nghe Phùng Cung kể lại. Tóm lại, có 2 buổi đấu tố Phùng Cung cuối năm 1960, Trần Duy được dự buổi có Hà Minh Tuân và Nguyên Hồng chủ tŕ.


    Còn tiếp ...

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 4 users browsing this thread. (0 members and 4 guests)

Similar Threads

  1. Chuyện nghe được từ ngướ không quen
    By Dac Trung in forum Tin Việt Nam
    Replies: 1
    Last Post: 10-10-2012, 12:25 AM
  2. Replies: 0
    Last Post: 03-05-2012, 10:37 PM
  3. Bắt Buộc Phải Nghe
    By Dean Nguyen in forum Tin Việt Nam
    Replies: 2
    Last Post: 19-01-2012, 08:34 PM
  4. Replies: 3
    Last Post: 31-07-2011, 05:33 PM
  5. Tưởng Niệm Tháng 4 Đen Nghe Nhạc Lính VNCH
    By Camlydalat in forum Giao Lưu - Giải Trí
    Replies: 18
    Last Post: 25-04-2011, 06:28 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •