+ Reply to Thread
Page 257 of 257 FirstFirst ... 157207247253254255256257
Results 2,561 to 2,569 of 2569

Thread: Nghe Chuyện Hà Nội

  1. #2561
    Tran Truong
    Khách

    Vụ án Nam Phong _ Chương 22

    [1] Phùng Bảo Thạch, Một nhà nho "tiết tháo": Phan Khôi, Bọn NVGP trước toà án dư luận, trang 76.

    [2] Nguyễn Công Hoan, Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời kỳ toàn quốc kháng chiến, Văn Nghệ số đặc biệt thứ hai chống NVGP, số 12, tháng 5/1958.

    [3] Việc này có thể hiểu: người Pháp đứng tên th́ mới được cấp giấy phép và được hưởng quyền tự do báo chí.

    [4] Theo Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, Đại Nam in lại tại Mỹ, chú thích trang 128.

    [5] Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, chương IV, chú thích trang 83, Chân trời mới, 1962, có bản điện tử trên Talawas.

    [6] Em họ Phan Khôi.

    [7] Hồi kư Đặng Thai Mai, Tác Phẩm Mới, 1985, trang 355-356.

    [8] Đă dành chương 39, quyển II, (trang 381- 394) để viết về Đặng Thai Mai và Vơ Nguyên Giáp, thời kỳ 1932- 1940 mà ông có dịp gặp gỡ thường xuyên, nhất là về người vợ đầu của ông Giáp và người con gái của Đặng Thai Mai sau này trở thành vợ thứ nh́ của ông Giáp.

    [9] Tức là Tham tá.

    [10] Nguyễn Vỹ, Tuấn chàng trai nước Việt, quyển II, in lại ở Mỹ, không đề năm, trang 381-382.

    [11] Phạm Thị Ngoạn Introduction au Nam Phong (T́m hiểu tạp chí Nam Phong), bản dịch Phạm Trọng Nhân, Ư Việt, Paris, 1993, trang 68.

    [12] Lược truyện các tác gia Việt Nam, quyển II, trang 152.

    [13] Nguyễn Văn Xuân, Phong Trào Duy Tân, Là Bối, Sài G̣n, 1970, trang 213.

    [14] Huỳnh Thúc Kháng, Tiểu sử Trần Quư Cáp, Trần Quư Cáp của Lam Giang, Đông A, Sài G̣n, 1971, trang 16.

    [15] Bản dịch Tự phán ra tiếng Pháp của Georges Boudarel, France-Asie số 194-195, Paris, 1968.

    [16] Phan Bội Châu, Tự phán, bản Nhân Chủ Học Xă in, Hoa Kỳ, 1987, trang127.

    [17] Ngày 19/6/1912.

    [18] Tức là quyền Chi bộ trưởng Quang Phục Hội ở Xiêm.

    [19] Xử bắn.

    [20] Tự phán, sđd, trang 128.

    [21] Tự phán, sđd, trang 186.

    [22] Phan Bội Châu niên biểu, tên khác của Tự phán, Chương Thâu, Văn Nghệ tp Hồ Chí Minh, 2001, trang 177.

    [23] Mỗ là tiếng chỉ người, thay cho tên thật.

    [24] Tự phán, bản Nhân Chủ học xă, trang 209.

    [25] Tự phán, trang 191.

    [26] Tự phán, trang 199-200.

    [27] Tự phán, trang 128 và 166.

    [28] Nguyễn Bá Học.

    [29] Lương tháng.

    [30] Nóng nẩy sơ suất.

    [31] Nam Phong số 50, tháng 8/1921.

    [32] Nguyên bản chữ Hán, in trên Nam Phong phần chữ Hán trước, sau tác giả dịch và in lại trên Nam Phong quốc ngữ từ số 38, 8/1920 đến số 43, 1/1921.

    [33] Khoảng tháng 3- 4/1910

    [34] Trích Hạn mạn du kư.

    [35] Đào Hùng, Phụ Nữ Tân Văn từ Nam ra Bắc, Ông Phạm Quỳnh và vấn đề lập hiến ở nước Nam, PNTV số 87 (18/6/1931), đăng lại trên 13 năm tranh luận văn học, sưu tập Thanh Lăng, trang 252-261.

    [36] Trí đăng, Sài G̣n, 1972.

    [37] Là anh Dương Quảng Hàm.

    [38] In trên Nam Phong số 1 (7/1917).

    [39] Nam Phong số 17 (11/1918).

    [40] Nam Phong từ số 58 (4/1922) đến số 100 (10-11/1925) in lại trong Hành tŕnh nhật kư, Ư Việt, Pháp, 1997.

    [41] Hành tŕnh nhật kư, Ư Việt, Pháp, trang 252.

    [42] Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911/1925, Đông Nam Á, 1983, trang 160.

    [43] Bài đă dẫn trong chương 20.

    [44] Hành tŕnh nhật kư, trang 485.

    [45] Phạm Tôn, Người nặng ḷng với nước, tài liệu gia đ́nh, Blog Phạm Tôn.

    [46] Hành tŕnh nhật kư, trang 491.

    [47] Phạm Tôn, bđd.

    [48] Nxb Bùi Huy Tín, Huế, 1938.

    [49] Nam Phong, phụ lục tiếng Pháp, số 69 (3/1923) và số 70 (4/1923).

    [50] Tóm tắt các ư chính trong bài diễn văn của Phạm Quỳnh.

    [51] Nam Phong, phụ lục tiếng Pháp số 66 (12/1922) và 67 (1/1923).

    [52] Hành tŕnh nhật kư, trang 343- 345.

    [53] Tóm lược các ư chính trong bài diễn thuyết.

    [54] In trong Revue Orient et Occident ở Paris, tháng 8/1922, và Nam Phong phụ trang Pháp ngữ, số 63 (9/1922).

    [55] Bản dịch Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh được in dần trên Đông Dương tạp chí từ số 18 trở đi, rồi trên Trung Bắc Tân Văn. Xuất bản sau khi Nguyễn Văn Vĩnh qua đời (nxb Alexandre de Rhodes, 1942, Hà Nội), 2 tập, gồm ba phần: thơ, chú giải, và dịch từng chữ. Nguyễn Văn Vĩnh đă dịch Kiều trong khoảng 1913-1916.

    [56] Tóm lược những ư chính trong bài diễn thuyết.

    [57] Trích theo bản dịch của Phạm Quỳnh, Nam Phong số 71 (5/1923).

    [58] Tóm tắt những ư chính trong bài diễn thuyết.

    [59] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, quyển 3, trg 150.


    Còn tiếp ...

  2. #2562
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) _ Chương 23

    Ngày 30/10/1956, Nguyễn Mạnh Tường diễn thuyết 6 tiếng trước Mặt Trận Tổ Quốc tại Hà Nội -3 giờ buổi sáng, 3 giờ buổi chiều- về những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất.
    Trường Chinh, Xuân Thủy và Dương Bạch Mai yêu cầu ông viết lại nội dung cuộc nói chuyện ứng khẩu thành văn bản. Ông viết lại với tựa đề: "Qua những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất, xây dựng quan điểm lănh đạo", đánh máy làm hai bản, trao cho Trường Chinh và Xuân Thủy, chỉ giữ lại bản nháp viết tay.

    Bài chính luận sâu sắc, chủ đích phân tích những sai lầm của chế độ, từ Cải Cách Ruộng Đất ở thôn quê, sang Cải Tạo Tư Sản, quản lư mậu dịch ở thị thành, chỉ ra nguồn cội của sai lầm: v́ chế độ chính trị không dân chủ; và tŕnh bày phương pháp sửa đổi: thực hiện những nguyên tắc của một nhà nước pháp quyền, trong một chế độ dân chủ.

    Bài tham luận được gửi sang Rangoon, thủ đô Miến Điện, rồi đến Pháp - theo Hoàng Văn Chí. Vậy Trường Chinh và Xuân Thủy, ai là người chuyển băn bản Nguyễn Mạnh Tường ra ngoại quốc, và để làm ǵ? Để cho quốc tế biết t́nh h́nh miền Bắc Việt Nam hay để buộc tội tác giả?

    Nguyễn Mạnh Tường bị kiểm điểm rồi bị đuổi khỏi đại học, sống trong hơn 30 năm sa mạc. 40 năm sau, ông viết tiểu thuyết Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm) về ba chính sách ṇng cốt trong thời kỳ xây dựng chế độ Cộng sản ở miền Bắc: Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Tư Sản, và Thanh Trừng Trí Thức.
    Ông gửi bản thảo sang Paris. Đây là một trong 7 tác phẩm được hoàn tất trong giai đoạn cuối đời, tất cả viết bằng tiếng Pháp, về hơn 60 năm ông sống dưới chế độ cộng sản. Ngoại trừ cuốn Un excommunié - Kẻ bị khai trừ, được Quê Mẹ in năm 1992 tại Paris, các tác phẩm khác, chưa in.

    Tại Paris trong bốn tháng -4/1989-1/1990- ông trả lời nhiều cuộc phỏng vấn, được ghi âm, viết lại, in trên báo, và riêng chúng tôi cũng có dịp gặp ông, nhờ đó, nhiều vấn đề được sáng tỏ hơn.
    Ngày 27/7/2003, bác sĩ nha khoa Nguyễn Văn Lung (1916-2009)[1] người tích cực hoạt động cho tổ chức Francophonie - Khối Pháp ngữ gửi đến chúng tôi một tập tài liệu quan trọng về giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, với lời ghi: "Tôi xin gửi tới chị một số tài liệu về anh Tường để chị sẽ làm hương hồn anh trở lại với chúng ta".

    Và ông Lung đề nghị cùng chúng tôi làm một chương tŕnh về luật sư Nguyễn Mạnh Tường trên đài RFI, dưới dạng phỏng vấn, bởi ông biết rơ con người và đă được đọc nhiều tác phẩm chưa in của Nguyễn Mạnh Tường. Đang chuẩn bị, th́ ông được thư của bà Nguyễn Mạnh Tường tỏ ư lo ngại, ông đành phải hoăn cuộc phỏng vấn, đợi khi nào thuận tiện hơn.
    Tuy nhiên ông căn dặn chúng tôi có toàn quyền sử dụng tập tài liệu này trong khuôn khổ văn hoá. Cũng xin nói thêm, Nguyễn Văn Lung và Joël Fouilloux, là hai người có giấy ủy quyền của Nguyễn Mạnh Tường về việc in các tác phẩm của ông ở ngoại quốc. Chúng tôi đang chờ đợi một dịp thuận tiện để công bố những tư liệu này, th́ ông Nguyễn Văn Lung đột ngột qua đời tại Paris ngày 8/10/2009.

    Trong tập tài liệu này, ngoài h́nh ảnh, thư từ viết bằng tiếng Pháp, trao đổi giữa Nguyễn Mạnh Tường và Nguyễn Văn Lung cùng một số người Pháp, về vấn đề Francophonie, về việc in sách của luật sư tại Pháp, c̣n có bản chụp hai cuốn Contruction de l'Orient - Apprentissage de la Méditerranée - Xây dựng Đông phương - Kinh nghiệm Địa Trung Hải và Le voyage et le sentiment - Du hành và cảm xúc, kịch.
    Ngoài ra, có một bản đánh máy, kê khai gần đủ các tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tường, phần lớn chưa in, và nhất là bản thảo đánh máy cuốn Une voix dans la nuit - Tiếng vọng trong đêm do Nguyễn Mạnh Tường sửa lỗi.

    Qua những tư liệu này, chúng tôi sẽ dựng lại chân dung Nguyễn Mạnh Tường, chủ yếu dẫn trích từ các tác phẩm và từ lời nói của ông trong các buổi gặp gỡ, trả lời phỏng vấn Phạm Trần, Hoà Khánh, ở Paris, và giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, học tṛ ông ở Hà Nội.

    Phần thứ hai, chúng tôi sẽ giới thiệu tác phẩm Une voix dans la nuit, cho tới nay, là cuốn sách duy nhất do một trí thức tự do viết về những bi kịch đau thương c̣n khép kín. Như các tác phẩm khác của Nguyễn Mạnh Tường, Une voix dans la nuit, có bút pháp mạnh mẽ, đầy hấp lực và h́nh ảnh, mỉa mai châm biếm, chặt chẽ trong lập luận pháp lư, là sự đồng quy của văn chương và luật pháp trong một ng̣i bút nhà văn. Tập tài liệu của nha sĩ Nguyễn Văn Lung trao cho chúng tôi năm 2003, với những bút tích quư giá này, sẽ được gửi về Viện Bảo Tàng Văn Học hoặc Lịch Sử, khi điều kiện cho phép.


    Còn tiếp ...

  3. #2563
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) _ Chương 23

    Ở trong nước, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh 16/9/1909 – 16/9/2009, qua một số bài viết, Nguyễn Mạnh Tường được thần tượng hoá trở lại, với những mỹ từ "thông minh siêu việt, lưỡng khoa tiến sĩ, kỷ lục chấn động học đường nước Pháp, nhà sư phạm lỗi lạc"... Những điều đó ít nhiều có thật, tiếc rằng c̣n một sự thật đáng nói hơn là cuộc đời và tác phẩm của ông, hiện vẫn bị chôn vùi trong bóng tối.

    Duy chỉ có giáo sư Nguyễn Văn Hoàn là trung thành với lời nói của thày Tường, c̣n một số học tṛ cũ, nay đă thành các nhà giáo nhân dân, không ngần ngại xoá bỏ quăng đời sa mạc hơn 30 năm của thầy Tường, để thay thế bằng một sự nghiệp liên tục tốt đẹp, không vết phong trần, ông Trần Văn Hà, giáo sư tiến sĩ, viết: "Chiến thắng Điện Biên Phủ, hoà b́nh được lập lại, toàn gia đ́nh giáo sư Nguyễn Mạnh Tường mới trở về Hà Nội. Giáo sư tiếp tục giảng dạy tại trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội và làm việc tại Viện Nghiên Cứu Giáo Dục từ 1954 đến 1970. Từ khi nghỉ hưu, giáo sư dạy Pháp ngữ tại nhà theo yêu cầu, và theo đuổi những công tŕnh khoa học của ḿnh."[2]

    Viết không đúng sự thực là cách chôn thày thêm lần nữa, đáng ngại là nó xẩy ra ở những ng̣i bút của các giáo sư đại học,
    mà sự chính xác phải là châm ngôn giảng dạy:

    Ví dụ, về việc Nguyễn Mạnh Tường gặp chủ tịch Hồ Chí Minh trong đại hội "Liên hoan anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc" năm 1952 ở Việt Bắc, ông Nguyễn Đ́nh Chú, nhà giáo nhân dân, cho rằng: "Riêng đối với giáo sư [NMT] đây là những giây phút (...) gắn bó thiêng liêng máu thịt giữa giáo sư với cách mạng, với lănh tụ, đến mức cực độ". Không biết ông căn cứ vào đâu mà viết như vậy, bởi Nguyễn Mạnh Tường là người rất thận trọng trong lời nói cũng như chữ viết, khó có thể t́m thấy một t́nh cảm "cực độ" của ông đối với một đối tượng nào.

    Riêng về đại hội liên hoan anh hùng chiến sĩ, Hoàng Cầm kể lại như sau: Năm 1952, tôi đem đội văn công của tôi đi phục vụ Đại Hội Chiến Sĩ Thi Đua Anh Hùng Toàn Quốc. Đó là đại hội đầu tiên bầu ra các mặt anh hùng lao động, công nghiệp, nông nghiệp, quân đội... Tôi phải phục vụ đại hội trong 10 ngày, tôi nh́n thấy Trần Đức Thảo và Nguyễn Mạnh Tường và có nói chuyện với hai ông.
    Trong đại hội, bác Hồ có phát biểu một câu ngăn ngắn thôi về trí thức: "Trí thức là những người mà nếu đứng về phía nhân dân làm việc phục vụ nhân dân tốt th́ xứng đáng gọi là trí thức xă hội chủ nghiă, c̣n nếu trí thức chỉ có sách vở chẳng làm ǵ thực tế để giúp cho đời sống của nhân dân th́ cái trí thức ấy không bằng cục phân".

    Tôi nghe thấy hơi khó chịu, kể ra th́ cũng đúng đấy, nhưng mà người đứng đầu một nước không nên nói như thế, nhất là cái câu ấy ông Mao đă nói ở bên Trung Quốc rồi, ông Hồ chẳng qua chỉ nhắc lại thôi"[3]. Trong bối cảnh ấy, làm sao nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường có thể "cảm thấy gắn bó thiêng liêng máu thịt với cách mạng và lănh tụ đến cực độ được?" Hoặc để chứng minh những "vinh quang chói lọi" của thày Tường, ông Nguyễn Đ́nh Chú không ngần ngại xác định: "thân phụ là một công nhân", "Nguyễn Mạnh Tường đă liên tiếp tốt nghiệp cao đẳng văn chương, cử nhân văn chương, cử nhân luật khoa, làm luật sư toà thượng thẩm Montpellier, cao đẳng ngôn ngữ, và văn tự cổ"; và luận án tiến sĩ được phê "siêu ưu" (ông dịch chữ très bien)[4].

    Chẳng hiểu Pháp có các bằng cao đẳng văn chương, cao đẳng ngôn ngữ, và văn tự cổ từ thủa nào? Và Nguyễn Mạnh Tường chỉ mới tập sự luật sư, khi ở Pháp.

    Ông Phong Lê, giáo sư, Viện trưởng Viện Văn Học, viết: "Năm 1928, đỗ cao đẳng văn chương, năm 1929, đỗ cử nhân văn chương, cũng năm 1929, đỗ cử nhân Luật. Năm 1931, đỗ cao đẳng ngôn ngữ văn tự cổ (tức chữ La Tinh và Hy Lạp cổ). Rồi ông giải thích thêm: "Mà cử nhân th́ c̣n lâu mới đến Tiến sĩ, sau khi vượt được cái ngưỡng cửa Thạc sĩ.

    (Lúc này tất cả các thầy Pháp ở Đại học Đông Dương đều mới chỉ có bằng Thạc sĩ)"[5]. Th́ ra các giáo sư Nguyễn Đ́nh Chú và Phong Lê chẳng hiểu ǵ về văn bằng ở Pháp. Riêng ông Phong Lê c̣n nhầm Thạc Sĩ - Agrégé của Pháp, một kỳ thi tuyển rất khó, với văn bằng hiện nay ở Việt Nam gọi là Thạc Sĩ, tương đương với Maîtrise của Pháp, hay Master của Mỹ. Khi dịch Maîtrise hay Master thành Thạc Sĩ, Bộ Giáo Dục, v́ không hiểu lịch sử của hai chữ Thạc Sĩ, nên đă gây lầm lộn như thế.


    Còn tiếp ...

  4. #2564
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) _ Chương 23

    Thạc sĩ là một kỳ thi tuyển - concours chọn các giáo sư của Pháp để dạy các trường trung học, là thạc sĩ văn chương, khoa học, hay đại học là thạc sĩ luật hay y khoa - nay đă bỏ. Để dự thi thạc sĩ văn chương hay khoa học, thí sinh phải có bằng cử nhân- licence ngày trước, maîtrise hiện nay, riêng thạc sĩ luật và y khoa đ̣i hỏi phải có bằng tiến sĩ.

    Việt Nam có Nguyễn Mạnh Tường đỗ 2 bằng Tiến sĩ quốc gia năm 1933, Phạm Duy Khiêm đỗ thạc sĩ văn chương năm 1935, Hoàng Xuân Hăn, thạc sĩ toán năm 1936, ... sau này về y khoa có thạc sĩ Trần Đ́nh Đệ... đều là những người học giỏi nổi tiếng.

    Cũng xin nói thêm rằng Pháp coi ngành giáo dục rất mực quan trọng, cho nên, những người đậu thạc sĩ văn chương hay khoa học, là những phần tử ưu tú hàng đầu của nước Pháp, được đưa vào dạy trung học. Việc dạy trung học, không có nghiă là bằng thạc sĩ yếu thế hơn bằng tiến sĩ, mà chứng tỏ Pháp coi việc rèn luyện học sinh trung học quan trọng hơn việc dạy đại học, v́ bậc trung học mới là nền tảng của thanh niên. Nguyễn Mạnh Tường, tuy đỗ bằng tiến sĩ, sau này dạy đại học, nhưng cũng như tất cả những tiến sĩ khác ở Pháp, ông không thể không kính trọng những người như Phạm Duy Khiêm, Hoàng Xuân Hăn, đỗ bằng thạc sĩ mà chỉ dạy trung học.



    ● Tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tường


    Trong lá thư đề ngày 16/8/1994 gửi Nguyễn Văn Lung, Nguyễn Mạnh Tường viết: "Tôi vẫn tiếp tục làm việc, dậy học và hoàn tất cuốn tiểu thuyết mới nhất Palinodies- Phủ nhận, cuốn sách thứ 18 của tôi". Như vậy tạm coi Palinodies là tác phẩm cuối cùng, và là cuốn sách thứ 18 của ông.

    Với những tư liệu hiện hành, xin tạm kê khai những tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tường như sau:

    ♦ Thời kỳ 1932, các luận án, tác phẩm Pháp văn:

    1/ L'Individu dans la vieille cité annamite- Essai de synthèse sur le Code de Lê - Cá nhân trong xă hội cổ Việt Nam - Tổng luận Luật Hồng Đức: Luận án tiến sĩ Luật.

    2/ Essai sur la valeur dramatique du théâtre d'Alfred de Musset - Giá trị bi kịch trong tuồng của A. Musset, luận án chính (thèse principale), tiến sĩ văn chương.

    3/ L'Annam dans la littérature française, Jules Boissières - Việt Nam trong văn chương Pháp, tác phẩm của Jules Boissières, luận án phụ (thèse complémentaire), tiến sĩ văn chương.

    ♦ Thập niên 1940, tác phẩm Pháp văn:

    4/ Sourires et larmes d'une jeunesse - Nụ cười và nước mắt tuổi trẻ, Revue Indochinoise, Hà Nội, 1937.

    5/ Construction de l'Orient - Pierres de France - Xây dựng Đông Phương - Nền tảng Pháp, Revue Indochinoise, 1937.

    6/ Construction de l'Orient - Apprentissage de la Méditerranée - Xây dựng Đông Phương - Kinh nghiệm Địa Trung Hải, Collection Tendances, Hà Nội, 1939.

    7/ Le voyage et le sentiment - Du hành và cảm xúc, kịch ba màn, Collection Tendances, Hà Nội, 1943.


    Còn tiếp ...

  5. #2565
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) _ Chương 23

    ♦ Sau 1950, tác phẩm Việt văn:

    8/ Một cuộc hành tŕnh, nửa hồi kư, nửa nghị luận. Hành tŕnh một người trí thức tham gia kháng chiến, Minh Đức, Hà Nội, 1954.

    ♦ Sau 1958, tác phẩm Việt văn:

    9/ Lư luận giáo dục Âu châu thế kỷ XVI, XVII, XVIII, từ Erasme tới Rousseau - Doctrines pédagogiques de l'Europe du XVI au XVIIIe siècle, d'Erasme à Rousseau, nxb Khoa Học Xă Hội, Hà Nội, 1994.

    10/ Eschyle và bi kịch cổ đại Hy Lạp - Eschyle et la tragédie grecque, nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1996.

    11/ Orestia, dịch và chú giải bi kịch của Eschyle sang tiếng Việt. Chưa in.

    12/ Virgile, nhà thơ vĩ đại của thời kỳ La Mă cổ đại Tên gốc:Virgile và anh hùng ca La tinh - Virgile et l'épopée latine, nxb Khoa Học Xă Hội, 1996.

    Bắt đầu viết tự truyện, tiếng Pháp: Larmes et sourires d'une vieillesse.

    ♦ Sau khi đi Pháp về (1990-1994), hoàn tất các tác phẩm, Pháp văn:

    13/ Larmes et sourires d'une vieillesse - Nụ cười và nước mắt tuổi già, tự truyện, ba cuốn, chưa in.

    14/ Triptyque - tạm dịch: Bức họa ba tấm, chưa in.

    15/ Un excommunié - Kẻ bị khai trừ, Quê Mẹ, Paris, 1992.

    16/ Malgré lui, malgré elle - Mặc hắn, mặc nàng (l'amour conjugal sous le régime communiste - t́nh yêu vợ chồng dưới chế độ cộng sản). Chưa in.

    17/ Partir, est ce mourir?- Đi là chết? (Tragédie de l'émigration - Bi kịch di dân). Chưa in.

    18/ Une voix dans la nuit - Roman sur le Việt Nam 1950-1990 - Tiếng vọng trong đêm - Tiểu thuyết về Việt Nam từ 1950 đến 1990. Chưa in.

    19/ Palinodies - Phủ nhận. Chưa in.

    Trừ bản dịch Orestia, th́ đúng Nguyễn Mạnh Tường đă viết 18 cuốn sách, kể cả các luận án tiến sĩ.

    Ngoài bốn cuốn tiếng Việt, phần c̣n lại, để bảo vệ tự do của ng̣i bút, để thế giới có thể đọc được, để giữ an ninh cho gia đ́nh và bảo toàn bản thảo, Nguyễn Mạnh Tường đă chọn tiếng Pháp.
    V́ vậy, muốn đọc và hiểu ông, cần phải biết tiếng Pháp, hoặc phải có bản dịch. Văn chương điêu luyện của ông không dễ dịch, bản dịch Un excommunié - Kẻ bị mất phép thông công của Nguyễn Quốc Vĩ[6] mới chỉ là bản đầu tiên, chưa diễn đạt được văn phong uy vũ của Nguyễn Mạnh Tường. Ngay trong cái tựa Un excommunié, tác giả đă có ư so sánh chế độ cộng sản như một giáo hội cuồng tín, loại trừ kẻ ngoại đạo - những người không cộng sản - v́ vậy, nên dịch theo nghiă bóng Kẻ bị khai trừ, hơn là dịch theo nghiă đen, Kẻ bị mất phép thông công, yếu và khó hiểu.


    Còn tiếp ...

  6. #2566
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) _ Chương 23

    ● Con đường hoà hợp văn hoá Đông Tây

    Nguyễn Mạnh Tường sinh ngày 16/9/1909 tại phố Hàng Đào, nguyên quán: xă Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Mất ngày 13/6/1997 tại nhà riêng, 34 Tăng Bạt Hổ, Hà Nội. Cha: Nguyễn Căn Cát, công chức.

    Năm 1937, kết hôn với cô Tống Lệ Dung, có ba con: Nguyễn Tường Hưng và Nguyễn Dung Nghi, Nguyễn Dung Trang. Học tiếng Pháp từ nhỏ ở Collège Paul Bert, rồi lycée Albert Sarraut, Hà Nội. 1925,16 tuổi, đậu Tú Tài Triết Học hạng ưu. Được học bổng sang Pháp học Luật và Văn Chương tại đại học Montpellier.

    1927, đậu cử nhân văn chương với 4 chứng chỉ: văn chương Pháp, văn chương Hy Lạp, văn chương La Tinh và Bác ngữ học - Philologie. 1930, đậu cử nhân Luật. Dự định thi tuyển Thạc Sĩ - concours d'agrégé để dậy học, nhưng v́ quốc tịch Việt nên không được thi. Sửa soạn luận án tiến sĩ quốc gia - doctorat d'état. Trong thời gian làm luận án, ông thực tập luật sư tại toà Phúc Thẩm Montpellier.

    Tháng 5/1932, Nguyễn Mạnh Tường bảo vệ luận án tiến sĩ Luật, đề tài: L'Individu dans la vieille cité annamite - Essai de synthèse sur le Code de Lê - Cá nhân trong xă hội Việt Nam cổ - Tổng luận Luật Hồng Đức. Tháng 6/1932, bảo vệ luận án tiến sĩ văn chương với luận án chính: Essai sur la valeur dramatique du théâtre d'Alfred de Musset - Giá trị bi kịch trong tuồng của A. Musset và luận án bổ túc: L'Annam dans la littérature française, Jules Boissières[7]- Việt Nam trong các tác phẩm của Jules Boissières.

    Trả lời phỏng vấn của Phạm Trần tại Paris, năm 1989, Nguyễn Mạnh Tường giải thích:

    "Chính sách đàn áp của thực dân (đặc biệt sau vụ nổi dậy của Việt Nam Quốc Dân Đảng), chương tŕnh học, cũng như mặc cảm lạc hậu về đất nước khiến người trí thức hồi đó dễ xa ĺa mạch sống dân tộc. Thế nên, cái vấn nạn lớn nhất của chúng tôi thời đó là làm cách nào để dung hợp hai nền văn hoá Đông Tây đối chọi nhau. (...) Để hoà hợp, căn bản đầu tiên là phải hiểu nhau. Hai nền văn hoá phải cho nhau biết bản sắc, lề lối suy nghĩ (mentalité) của ḿnh. Từ đó, gạn đục khơi trong để tổng hợp. Và căn bản nghiên cứu của tôi phát xuất từ nhận định đó. Tôi khảo sát nét hay của văn minh Âu. Tôi mơ ước đem văn minh vật chất Âu kết vào vũ trụ t́nh cảm Đông (...)

    Ngay từ khi viết luận án, tôi đă mang ư hướng ấy. Luận án Luật tôi dành cho Việt Nam. Tôi khảo sát cái chủ nghiă cá nhân (một sản phẩm đặc thù Âu Tây), đă thể hiện ra sao trong văn hoá Việt, cụ thể qua Luật Hồng Đức (thế kỷ XV), một bộ luật c̣n mang nhiều dân tộc tính. Đề tài chính của luận án văn, tôi dành cho văn hoá Pháp; đề tài phụ tôi dùng J. Boissières để kết nối Đông Tây. Boissières đă vẽ lại bức tranh xă hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX và đă đặt chính sách thực dân trước những vấn nạn lương tâm khó xử"[8].


    Còn tiếp ...

  7. #2567
    Member Le Thi's Avatar
    Join Date
    14-11-2010
    Posts
    1,141
    Xin phép ông bạn Trần Trường , xen vào đây , xin có một vài nhận xét về Ls Nguyễn Mạnh Tường :

    Theo bài viết trên đây có nói rằng vào ngày 39/10/1956 , trong một buổi nói chuyện trước Mặt Trận Tổ Quốc , Ông NMT có xây dựng quan điểm lảnh đạo qua những sai lầm về chính sách Cải Cách Ruộng Đất và cội nguồn sai lầm

    là v́ chế độ chính trị không dân chủ và ông c̣n tŕnh bày phương pháp sửa đổi : thực hiện những nguyên tắc của một nhà nước pháp quyền trong chế độ dân chủ .

    Thật tội cho ông NMT , học rất giỏi nhưng ông không biết ǵ về cs .

    CCRĐ là việc thực hiện đúng với chủ trương cs , sở dĩ lúc đó HCM khóc lóc là chỉ sợ dân quá uất ức mà nổi dậy ...

    NMT lại c̣n khuyên chánh quyền lúc đó , theo chế độ dân chủ ...

    Chánh quyền cs mà dân chủ th́ không c̣n là cs nữa .

    Nhờ có tiếng tăm trên thế giới , ông NMT không bị giết là may lắm .

    Không biết sau này ông NMT có thấy ḿnh quá ngây thơ ?

  8. #2568
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) _ Chương 23

    ● Đậu hai bằng tiến sĩ ở tuổi 22

    Một trường hợp hiếm có ở đại học. Nguyễn Mạnh Tường thành công v́ làm việc cật lực:

    "Từ lớp sáu cho tới tú tài, mỗi tuần tôi có thói quen đọc 2 cuốn tiểu thuyết Tây. (...) và nhất là do cật lực làm việc: suốt 5 năm dài, mỗi sáng tôi thức dậy từ 4 giờ, học và viết tới 8 giờ th́ đi lớp; chiều lại học tới khuya"[9].

    Tháng 9/1932, ông về nước 3 tháng, rồi lại sang Pháp. Việc này, trong các bài trả lời phỏng vấn ở Paris, không thấy ông nói đến. Một số người đưa ra thuyết: "chính quyền thực dân Pháp không muốn dùng ông. Không t́m được việc làm xứng đáng với học vị của ḿnh, ông lại sang Pháp"[10]. Nhưng theo Nguyễn Văn Hoàn, th́ Nguyễn Mạnh Tường kể lại rằng: "Về nước có hai viên mật thám, trong đó có Louis Marty gặp và gợi ư tôi vào làm việc với Bảo Đại, cấp bậc Thượng thư. Tôi từ chối, sau đó họ gây khó khăn, ở nhà ba tháng, tôi trở lại Pháp"[11].

    Chứng này có thể tin được v́ Nguyễn Mạnh Tường và Bảo Đại cùng về nước tháng 9/1932, và bản thân ông muốn đứng về phía dân, không tham chính.

    Tháng 12/1932, ông trở lại Paris. Từ 1933-1936: du lịch nhiều nước Âu Châu. "Thành thật nói, tôi đă trở thành một hiện tượng. Các báo ở Paris và Montpellier dành cả số nói về tôi. Có tờ coi sự thành công của tôi là một "sai lầm" của Pháp - ông muốn nói đến bài của Clément Vautel. Song hầu hết đều nói tốt. Cũng nhờ vậy mà nhiều đại học Âu Châu biết và mời tôi tới thăm. Tôi đă có dịp Âu du một ṿng không mất tiền từ London sang La Haye xuống Bruxelles, Berlin, Athènes, Rome, Istanbul, Vienne, Madrid... Tôi c̣n nhớ trên đường từ Berlin về Vienne thời đó (1933) tôi ngang qua Munchen và tham gia cuộc biểu t́nh lớn của Hitler tổ chức."[12]

    Chúng ta cũng nên đọc qua bài báo của Clément Vautel[13] mà Nguyễn Mạnh Tường vừa nhắc, tiêu biểu cho khuynh hướng thực dân ngạo mạn và kỳ thị. Bài ngắn, chúng tôi dịch cả để độc giả thấy giọng điệu xỏ xiên này:

    "Một tay An-nam-mít 22 tuổi, tên Nguyễn Mạnh Tường, vừa giật dễ dàng hai bằng tiến sĩ luật và văn chương ở đại học Montpellier. Hắn chỉ học có năm năm đă đoạt hai phẩm hàm cao nhất của phương Tây. Tay trí thức "da vàng" này, đặc biệt nổi trội khi tŕnh luận án văn chương với đề tài tuồng Alfred de Musset, có thể dạy cho bọn bỉnh bút của ta một bài học đích đáng. Ban giám khảo đă có lời khen rồi, tôi chả có tư cách ǵ mà chêm vào nữa.

    Thực đếm không xuể số trẻ Đông Dương đoạt đủ loại bằng cấp tại Pháp: chúng đạt những thành quả ở đại học mà bọn "rợ trắng" không khá bằng, thèm muốn.

    Rất chăm chỉ, thông minh, lại đầy tham vọng, những tay Á châu này tháo gỡ như bỡn những bí quyết trong đỉnh cao học thuật của chúng ta, rồi về xứ rêu rao:

    - Cái văn minh nức tiếng kia rút cục chỉ có thế ư? Xa trông tưởng ghê gớm, chứ đến gần, nào có ra ǵ!

    V́ vậy, tôi tự hỏi, chúng ta chẳng đă phạm những nhầm lẫn sơ đẳng nhất, khi dạy cho các tướng này những bí quyết "văn hoá" của chúng ta, để khi về nước, chúng không c̣n tin vào tính ưu việt của giống ṇi da trắng đang bảo hộ chúng.

    Việc mở cửa cho bọn bản xứ vào các đại học của ta, và tưới xả láng chúng những bằng tiến sĩ này nọ, xem th́ cũng ngộ đấy; nhưng chớ có ảo tưởng, coi đó là phương tiện xoá dấu vết xâm lăng để từ thời đại đô hộ nhẹ bước sang thời đại cộng tác.

    Không phải tất cả những tên da vàng được ta bôi trát thứ chủ thuyết vị trí tuệ (intellectualisme) trắng này, sẽ xoay sang đỏ choé khi chúng về tới bờ sông Hồng, nhưng nhiều đứa trong bọn sẽ trở thành cán bộ của cái đảng cộng sản, mà ở Âu Châu, th́ tuyên bố vô tổ quốc, nhưng về đến nền thuộc địa, lại rao giảng chủ nghiă quốc gia trăm phần trăm.

    Thử hỏi làm sao mà khác cho được? Cái làm tôi ngạc nhiên, là một cô gái Đông dương -bởi có cả bọn sinh viên con gái da vàng nữa- về nước với bằng giáo sư sử học, tuyên bố: Chừ tôi mới chính là Jeanne d'Arc đây! Vậy mà ả vẫn chưa thành "Nữ Thánh đồng trinh đỏ" của cuộc cách mạng giải phóng.

    Theo tôi, khôn ngoan ra, th́ ta nên khai hoá dân bản xứ bằng chính cái văn miêng của chúng. Thử hỏi cái luận án của một tay An-nam-mít về tuồng hát của Musset, là cái giống ǵ? Dù tuồng đó có đậm đà, tinh tế, cao nhă, ǵ ǵ đi nữa, th́ nó cũng chẳng làm cho kẻ bị đô hộ có cảm tưởng tốt đẹp về đạo đức của người đô hộ.

    Đừng quên Gandhi cũng đă đỗ đạt ở bên kia bờ biển Manche, và, với cái guồng sợi của ḿnh, hắn đă làm cho nước Anh rối loạn... Cứ từ từ, rồi một ngày, chúng ta cũng sẽ như vậy"[14]. Bài báo của Vautrel nói lên ḷng căm thù chủng tộc và sự ganh tỵ nhân tài.


    Còn tiếp ...

  9. #2569
    Tran truong
    Khách

    Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) _ Chương 23

    ● Về nước, những sáng tác đầu tiên

    Chuyến đi thăm miền Địa Trung Hải đă giúp Nguyễn Mạnh Tường viết 4 tác phẩm: Sourires et larmes d'une jeunesse, Construction de l'Orient - Pierres de France, Construction de l'Orient - Apprentissage de la Méditéranée và Le voyage et le sentiment.

    Ông giải thích ư nghiă hai tác phẩm đầu:

    "Tây cho Đông kỹ thuật, quan niệm về nhân quyền, về cái chừng mực và đa dạng của con người, về phương pháp suy tư và về một quan điểm đời sống. Và tôi đă viết hai cuốn: "Pierres de France (Nguyên liệu từ Pháp), "Apprentissage de la Méditérranée" (Học hỏi văn minh Địa Trung Hải) để diễn tả những điểm trên"[15].

    Hai cuốn sách c̣n lại, viết về sự xung đột giữa hai nền văn minh Đông Tây: "Sourires et larmes d'une jeunesse (Nụ cười và nước mắt tuổi thanh xuân) diễn tả cái xung đột giá trị nơi một thanh niên Việt thấm nhiễm văn hóa Tây. Chàng thanh niên được ví như đứa con hoang đàng trong Kinh Thánh, đă quen với nếp sống tự do, nay trở về bị truyền thống gia đ́nh ràng buộc. Và chàng đă phải tự đấu tranh t́m một giải pháp dung ḥa cho cuộc sống. Vở kịch Le voyage et le sentiment (Du hành và t́nh cảm) nói lên hai khía cạnh khác nhau giữa Đông (nặng t́nh cảm, thủy chung) và Tây (như một tay du lịch luôn đi t́m của lạ). Các sách đó tôi viết từ năm 1930-1940, chỉ xuất bản vài trăm cuốn mỗi thứ và đă hết hơn nửa thế kỷ nay. Giờ muốn in lại một ít mà đành chịu v́ thiếu phương tiện"[16].

    Khác hẳn những người lớp trước như Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Văn Trường, Phạm Quỳnh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh... hoặc cùng thời với ông như Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Tiến Lăng (cả hai đều sinh năm 1909 như ông), Nguyễn Mạnh Tường sùng bái cái học Tây phương, trong khi những người kia, dù phục Tây phương, nhưng vẫn cho Đông phương là nguồn cội của tư tưởng.

    Tóm lại, theo người thanh niên Nguyễn Mạnh Tường, để xây dựng một Đông Phương mới, chúng ta nên học hỏi kinh nghiệm Địa Trung Hải, tức là học sự giao lưu văn hoá Ả Rập - Hy La ở vùng Địa Trung Hải. Giả sử hồi đó, ông đi Ấn Độ, th́ tư tưởng của ông có thể thay đổi: bởi Ấn Độ mới là nơi loài người thực hiện sự giao lưu văn hoá sớm nhất và thành công nhất. Mặc dù triết học Ấn Độ là cha đẻ của triết học nhân loại và đền đài Ấn Độ là những kỳ công kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ Á Âu; nhưng Ấn Độ hiện hành, cũng như Ai Cập, Trung Hoa, vẫn c̣n là những nước "thứ ba". Vậy, văn minh-văn hoá và văn minh-khoa học; văn minh-văn hoá và dân chủ-tự do, có những tương quan như thế nào? Đó là những câu hỏi phức tạp khác.

    Năm 1936, về nước, ông dạy văn chương Pháp ở trường Bảo Hộ[17] và trường Cao Đẳng Công Chánh[18]: "Sau 5 năm đi du lịch, năm 1936 tôi về nước được vào dạy ở Trường Bảo Hộ (Trường Bưởi). Nhà ở số 1 Mai Xuân Thưởng, trông ra Hồ Tây, chỉ cách trường 200 mét. Đây là một quăng thời gian hạnh phúc của đời tôi. Đồng nghiệp th́ có Hoàng Xuân Hăn dạy Toán, Nguyễn Văn Huyên dạy Sử, Kontum dạy Vật lư"[19].

    Ngoài ra, ông c̣n học thêm chữ nho và văn chương cổ điển Việt, tham gia phác họa cuốn Việt Nam Văn Phạm với nhóm Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, hợp tác làm Việt Nam Tự Điển với nhóm Khai Trí Tiến Đức: "Bỗng nhiên tôi nhớ năm 1936, sau chuyến về nước ở luôn, tôi bắt đầu học chữ nho và góp phần làm cuốn Việt Nam Văn Phạm của Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, và cộng tác biên soạn tự điển Khai Trí Tiến Đức"[20].
    Trong thời kỳ này, ông làm phụ tá cho thị trưởng Hà Nội. Georges Boudarel, trong bài nghiên cứu tựa đề Le tort de parler trop tôt - Sai lầm v́ nói sớm quá, chủ đích dịch và giới thiệu bài Qua những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất xây dựng quan điểm lănh đạo với độc giả Pháp, đă phân tích khá rơ tâm trạng Nguyễn Mạnh Tường và thành phần ưu tú của đất nước theo Việt Minh năm 1945, như sau:

    "Trở về Bắc Kỳ, năm 1936, ông dạy văn chương Pháp tại trường Bảo Hộ và trường Cao Đẳng Công chánh. V́ cứ in hoài những tập tiểu luận ngẫu hứng từ những ngày sống ở Pháp, đă để lại trong ông những cảm tưởng không phai mờ (...) cuối cùng, ông trở thành đệ nhị phụ tá cho Thị Trưởng thuộc địa Hà Nội.

    Dù hết sức ngưỡng mộ Paris và nước Pháp (khó có thể làm hơn), nhưng tới giờ phút quyết định, Nguyễn Mạnh Tường trong sâu thẳm của tâm hồn, vẫn là người Việt. Dường như ông nghĩ, ḿnh chỉ trung thành với những lư tưởng hun đúc ở Paris: độc lập, tự do, nhân quyền và dân quyền. Năm 1945, cùng toàn bộ thành phần ưu tú của dân tộc (kể cả các vị giám mục thời ấy), ông đi theo chính phủ Hồ Chí Minh"[21].

    1940, ông nghỉ dậy học, mở văn pḥng luật sư: "Năm 1940, Pháp thua trận, Nhật đưa quân vào Đông Dương, lập ra một Hội Đồng, do Phạm Lê Bổng đứng đầu, vận động nông dân bán lúa, gạo cho Nhật. Họ muốn tôi tham gia nhưng tôi từ chối. Họ lại gây khó khăn, tôi nộp đơn xin từ chức, ra mở văn pḥng luật sư ở phố Trần Hưng Đạo[22] đây là nghề tôi đă tập sự bên Pháp"[23].

    Theo Nguyễn Đ́nh Nhân, "Từ năm 1942 đến 1945: ông mở pḥng luật sư chung với hai đồng nghiệp Trần Văn Chương[24] và Vũ Văn Hiền"[25].

    Tháng 10/1945, Hồ Chí Minh kư sắc lệnh lập thêm Đại Học Văn Khoa, Nguyễn Mạnh Tường được cử dạy văn chương Tây phương.


    Còn tiếp ...

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 5 users browsing this thread. (0 members and 5 guests)

Similar Threads

  1. Chuyện nghe được từ ngướ không quen
    By Dac Trung in forum Tin Việt Nam
    Replies: 1
    Last Post: 10-10-2012, 12:25 AM
  2. Replies: 0
    Last Post: 03-05-2012, 10:37 PM
  3. Bắt Buộc Phải Nghe
    By Dean Nguyen in forum Tin Việt Nam
    Replies: 2
    Last Post: 19-01-2012, 08:34 PM
  4. Replies: 3
    Last Post: 31-07-2011, 05:33 PM
  5. Tưởng Niệm Tháng 4 Đen Nghe Nhạc Lính VNCH
    By Camlydalat in forum Giao Lưu - Giải Trí
    Replies: 18
    Last Post: 25-04-2011, 06:28 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •