+ Reply to Thread
Page 259 of 262 FirstFirst ... 159209249255256257258259260261262 LastLast
Results 2,581 to 2,590 of 2617

Thread: Nghe Chuyện Hà Nội

  1. #2581
    tran truong
    Khách

    Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) _ Chương 23

    ● Trở lại Pháp 10/1989-1/1990
    Mùa xuân 1989, dược sĩ Tống Lịch Cường, anh rể Nguyễn Mạnh Tường ở Paris, viết giấy bảo lănh để ông sang Pháp, chuyến đi do các học tṛ cũ đài thọ.
    Tháng 10/1989, ông đến Pháp, ở nhà nha sĩ Nguyễn Văn Lung, 12 rue d'Auteuil, Paris 16, gần nhà ông bà Hoàng Xuân Hăn, 60 rue Théophile Gautier Paris 16. Địa chỉ trên giấy tờ: 51 Boulevard Montparnasse - 14/1/1990.

    "Năm 1989, ở tuổi 80, những người bạn Pháp Việt mời tôi đi Pháp. Lúc đó, sau Đại Hội VI của Đảng cộng sản, lần đầu tiên trong lịch sử, họ tuyên bố chủ nghiă tự do oe oe chào đời; tôi lợi dụng cơ hội để xin cấp giấy thông hành đi Pháp. Tôi cũng không nghĩ là đơn được chấp thuận với quá khứ chính trị nặng nề như vậy. Nhưng, ngạc nhiên vô cùng, chỉ hai tháng là tôi có giấy thông hành và hộ chiếu xuất ngoại. Chẳng may chính phủ Pháp lại làm khó dễ trong nhiều tháng mới cấp giấy nhập cảnh.

    Đúng là thế giới lộn ngược.
    Tôi đến phi trường Orly một buổi chiều tháng mười. Những người bạn Pháp Việt đón tôi thật cảm động. Sau 60 năm, tôi t́m lại quê hương của trí tuệ tôi cùng với sự đón tiếp ân cần và tế nhị của những trái tim vàng. Sức khoẻ suy nhược bởi 40 năm thiếu dinh dưỡng thể xác và khốn đốn tinh thần làm tôi quỵ ngă. Lần đầu tiên trong đời, ở tuổi tám mươi, tôi vào một bệnh biện của Pháp, và đă được săn sóc hết ḷng. Mười ngày sau, tôi liên lạc lại với bạn hữu và tiếp tục công việc. Trả lời phỏng vấn đài truyền h́nh TF1, thuyết tŕnh hai lần, một ở Clermont L'Hérault, gần Montpellier, nơi tôi đă đến t́m tài liệu về J. Boissières để làm luận án phụ tiến sĩ văn chương, và một lần ở Paris VII. Tôi đến thăm thủ lănh luật sư đoàn Paris"[61].

    Trả lời Phạm Trần:

    "- 80 tuổi rồi, chẳng c̣n dám đặt chương tŕnh ǵ nữa. Có cái ước nguyện ôm ấp bao nhiêu năm nay là được sang đây để cám ơn các ân nhân (hầu hết là học tṛ cũ). Những người đă giúp đỡ tôi mấy chục năm qua. Không có họ th́ tôi không chắc sống tới ngày nay. Mà bây giờ đă sang được. Thế là măn nguyện.

    - Làm sao sang được đây?

    - Mọi chi phí các học tṛ tôi lo. Chứ tôi làm ǵ dám nghĩ một cuộc Âu du như vậy"[62].

    Phượng Linh Đỗ Quang Trị viết:

    "Năm 1990 qua Pháp, thầy được con một ông bạn Pháp cùng học ở Montpellier đóng tiền bảo kê sức khoẻ. Ông bố đă mất nhưng con nhớ bố kể lại, rất khâm phục tài học của thầy Tường, nên đă giúp đỡ. Nhờ vậy mà khi thầy Tường ngă ngất v́ tim yếu tại nhà anh Nguyễn Văn Lung là em Hoàng Xuân Hăn phu nhân, Thầy đă được đưa vào bệnh viện điều trị miễn phí"[63].

    Trong thời gian ở Pháp, ngoài các buổi trả lời phỏng vấn và nói chuyện ở các đài truyền h́nh TF1, FR3, đại học Paris VII v.v... Nguyễn Mạnh Tường c̣n tiếp xúc rộng răi với mọi tầng lớp Việt kiều, đặc biệt ông muốn gặp giới trẻ quan tâm đến t́nh h́nh đất nước và chúng tôi, theo lời yêu cầu của bác sĩ Trịnh Văn Tuất, bạn ông, cũng đă tổ chức một buổi tại nhà. Trong những cuộc gặp gỡ ấy, ông đều nói thẳng nói thật, nhưng khi gặp những câu hỏi có tính cách chính trị, của những người muốn ông mạnh mẽ phản đối nhà cầm quyền, về sự đối xử với ông trong 30 năm sau NVGP, ông ôn tồn trả lời: bản thân ông đă quên mọi oán thù. Về Hồ Chí Minh, ông bảo: hăy để lịch sử phán đoán.

    Lúc đó phong trào cách mạng nhung vừa khởi xuất, hỏi ông tiên đoán ǵ về t́nh h́nh Việt Nam? Ông mỉm cười: Tôi không phải là nhà tiên tri. Việc ǵ phải đến sẽ đến.
    Về phía ông, chuyến đi Pháp dường như là động cơ thúc đẩy ông viết, bởi khi về nước, chỉ trong ṿng bốn năm (từ 1990 đến 1994), ông đă hoàn tất một lượng sách đáng kể.


    Còn tiếp ...

  2. #2582
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) _ Chương 23

    ● Những năm tháng cuối - Thư từ trao đổi giữa Nguyễn Mạnh Tường và Nguyễn Văn Lung

    Chúng tôi công bố những thư viết tay và đánh máy của Nguyễn Mạnh Tường gửi Nguyễn Văn Lung v́ đây là chứng từ đích thực về giai đoạn 1990-1994, thời kỳ ông viết mạnh nhất.

    Francophonie - Cộng Đồng Quốc Tế Các Nước Nói Tiếng Pháp là một tổ chức được thành lập năm 1986, trong khuôn khổ hội nghị thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp tại Paris. Việt Nam tham dự tổ chức này từ tháng 12/1989, nhân chuyến thăm của Alain Decaux, bộ trưởng Đặc Trách Khối Pháp Ngữ. Nha sĩ Nguyễn Văn Lung (1916 - 2009), qua thư từ trao đổi với những người Pháp, chứng tỏ ông đă hết sức vận động Bộ Ngoại Giao Pháp tài trợ để mở các Câu Lạc Bộ Pháp Ngữ tại Việt Nam.
    Luật sư Nguyễn Mạnh Tường chấp nhận việc tổ chức và làm đại diện cho Câu Lạc Bộ Pháp Ngữ Hà Nội. Là bạn thân của Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Lung về Sài G̣n tháng 1/1990 và ở đến tháng 4/1990, lo mở mang Francophonie ở Việt Nam. Nguyễn Mạnh Tường từ Paris về Hà Nội tháng 1/1990. Họ gặp lại nhau tại Hà Nội.

    Tất cả thư từ trao đổi đều viết bằng tiếng Pháp. Nha sĩ Lung trao cho chúng tôi bản chính, và dù ông không nói ra, chúng tôi cũng hiểu, v́ tuổi cao, ông muốn gửi lại người đi sau những chứng từ quư giá về lịch sử văn học để sau này sẽ chuyển về nước. Thư viết ngắn gọn, trực tiếp nói vào việc chính, thỉnh thoảng có vài lời thăm hỏi, vài câu về chuyện gia đ́nh.

    Chúng tôi dịch các phần chính, liên quan đến lịch sử và văn học và lược bỏ việc riêng. Lời thư tỏ hết tâm tư và nguyện ước của Nguyễn Mạnh Tường và nói lên không khí ông sống trong những năm tháng cuối.

    Độc giả sẽ tiếp xúc trực tiếp với ông, không qua trung gian của ng̣i bút nào.



    • Thư ngày 26/1/1990

    Fax từ Sài G̣n của Nguyễn Văn Lung

    Gửi Maharadja Indien, Emir Sarfaraz Husain

    Đại sứ Ấn độ tại UNESCO.



    Lá thư khá dài, có hai mục đích chính:

    - Nhờ Emir Husain trợ giúp mở rộng Francophonie ở Việt Nam, chủ đích tiến tới việc cấp học bổng cho các bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, đi tu nghiệp ở Pháp.

    - Giới thiệu giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, nhân vật văn hoá Pháp-Việt uy tín, nhận giúp Francophonie thực hiện việc đưa tiếng Pháp trở lại Việt Nam ở bậc Trung và Đại học.



    • Thư ngày 10/4/1990

    Nguyễn Văn Lung gửi Nguyễn Mạnh Tường:

    Anh Tường,

    Việc in sách tiếng Việt:

    Sau khi thảo luận với luật sư Hiệp[64] chúng tôi đă quyết định:

    - Anh gửi cho tôi 4 tác phẩm viết tiếng Việt về vấn đề nghiên cứu Hy Lạp-La Tinh.

    - Sẽ cố gắng nhờ Hội Văn Bút Pháp hoặc Mỹ; hoặc nhờ l'ACCT[65](France) giúp đỡ.

    Việc in lại sách tiếng Pháp:

    Về bốn cuốn: Sourires et larmes d'une jeunesse, Pierres de France, Apprentissage de la Méditérénée và Le voyage et le sentiment, tôi sẽ t́m hai cách: Hoặc nhờ l'ACCT in lại. Hoặc nhờ Bộ Ngoại Giao Pháp (qua ông Portiche).

    Tôi đang vận động Bộ Ngoại Giao để xin 20.000 cuốn sách giáo khoa, cho các Câu Lạc Bộ Pháp Ngữ Sài G̣n, Đà Lạt, Huế và Hà Nội. Câu Lạc Bộ Sàig̣n đă hoạt động, Đà Lạt đă có giấy phép. Chỉ c̣n chờ Hà Nội và Huế.



    • Thư ngày 8/4/1990

    Nguyễn Mạnh Tường viết cho Nguyễn Văn Lung:

    "Anh nói với Husain và Portiche rằng việc hợp tác và chương tŕnh Francophonie tiến hành khó khăn, không phải v́ chuyện thơ lại, nhưng có lẽ v́ tài chính, tuy vậy tôi vẫn hy vọng. Anh nhớ nhắc người bạn dạy Sorbonne (mà tôi quên tên), đă hứa giúp việc in sách của tôi ở Pháp. Tôi đang đánh máy những tác phẩm mới: "Hồi ức của một người trí thức và diện mạo Việt Nam trong 80 năm đời tôi, chủ yếu 40 năm dưới sự lănh đạo của cộng sản". Hy vọng cuối năm nay sẽ viết xong. Tôi sẽ mở lại văn pḥng luật sư với sự cộng tác của một trong những luật sư đă tập sự với tôi ngày trước (Luật sư Dương Văn Đam)[66] chúng tôi chỉ chuyên về luật quốc tế, chủ yếu về kinh tế".



    • Thư ngày 1/5/1990

    Nguyễn Mạnh Tường viết cho Nguyễn Văn Lung:

    "Cám ơn anh đă cố gắng giúp tôi trong việc in tác phẩm. (...) Tôi đang cố cho xong bộ hồi kư Larmes et Sourires d'une vieillesse và cuốn Triptyque, cả hai đều viết bằng tiếng Pháp, hy vọng từ giờ đến cuối năm sẽ đánh máy xong. Về Francophonie vẫn đang gặp khó khăn..."



    • Thư ngày 27/5/1990

    Nguyễn Mạnh Tường viết cho Nguyễn Văn Lung:

    "Ông bạn Fouilloux (Les Echelles -2 allée des Ecuyers- Chambourcy) đă chụp được cuốn sách thứ tư của tôi, Le Voyage et le Sentiment- kịch 3 màn. Tôi đă nhờ ông ấy chuyển cho anh một bản để anh có đủ 4 tác phẩm của tôi đă in ở Việt Nam năm 1940 mà chưa in ở Pháp. Anh xem có thể làm ǵ được không, và nhất là nhờ anh ḍ ư nhà xuất bản Việt (mà tôi quên không ghi tên và địa chỉ) xem họ c̣n muốn giữ lời hứa in lại những sách ấy không. Cám ơn anh. Và bây giờ tôi có vài ḍng về Câu Lạc Bộ Pháp Ngữ:

    1/ Nhà cầm quyền Việt Nam chưa động tĩnh ǵ. Họ sợ, không muốn cho phép mở. Có thể phải nhờ sự can thiệp của chính phủ Pháp.

    2/ Phải có trợ cấp để thuê một nơi làm pḥng đọc sách và diễn thuyết. Vấn đề tài chính cũng quan trọng như vấn đề giấy phép của chính quyền".



    • Thư ngày 18/6/1990

    Bác sĩ Lung gửi Fax cho luật sư Tường

    qua Dominique Gallet[67],

    ông Gallet nhờ một dân biểu Pháp sang VN đem lại:

    "Từ tháng tư, khi về lại Paris, tôi vẫn chờ tin của ông Maurice Portiche, về việc gửi những dụng cụ làm việc (sách học, cassettes, v.v...) về các trung tâm dậy tiếng Pháp trong nước, như Sài G̣n, Đà Lạt, Huế, Hà Nội.

    Ông Fouilloux cũng đă chụp được cuốn "Le voyage et le sentiment" (kịch) ở Thư Viện Quốc Gia Pháp và gửi cho tôi. Và bà Musain Claire cũng đă chụp giùm những cuốn c̣n lại. Như vậy, tôi đă có đủ 4 cuốn sách của anh để in lại. Hy vọng sớm t́m được "người bảo trợ" cho việc "làm sống lại" tiếng Pháp ở Việt Nam.

    Khi nào có tin mừng cho các giáo sư và học sinh đang đợi sự bảo trợ để tiến hành chương tŕnh Francophonie, tôi sẽ báo cho anh."


    Còn tiếp ...

  3. #2583
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) _ Chương 23

    • Thư ngày 3/7/1990

    Nguyễn Mạnh Tường gửi ông Tống Lịch Cường[68] nhờ nhắn với ông Lung:

    "Như anh (Cường) đă biết, t́nh trạng Việt Nam càng ngày càng tồi tệ. Dân chủ lùi bước, nhà cầm quyền thắt chặt kiểm soát, dân chúng và trí thức chờ đợi những giờ phút đen tối nhất. V́ thế, những cố gắng xây dựng Câu Lạc Bộ Francophonie trở thành vô ích. Người ta không cho phép tôi hành nghề luật sư tư với tư cách cá nhân. Người ta bắt tôi phải vào Hiệp Hội Chính Thức Luật Sư Nhân Dân (La Corporation officielle des défenseurs populaires) có nghiă là người ta không cho tôi hành nghề luật sư. Đó là hiện t́nh Việt Nam. Nhờ anh gọi điện thoại hỏi Lung xem việc in 4 cuốn sách của tôi tới đâu rồi. Từ khi Lung về lại Pháp tôi không nhận được tin Lung nữa."



    • Thư ngày 21/7/1990

    Nguyễn Mạnh Tường viết cho Nguyễn Văn Lung:

    "Về việc Francophonie, tôi đă nhận được thư Alain Decaux và tôi đă trả lời, đại ư: Có nhiều người ghi tên hơn dự tính. Nhưng cần phải có giấy phép mở Câu Lạc Bộ.
    Chúng tôi đă nghĩ ra một mưu: xin mở một chi nhánh của Hội Hữu Nghị Việt Pháp (đă có) ở Hà Nội, nhưng cũng vẫn cần phải có giấy phép, mà họ không cho!
    Anh có biết hiện nay dân chủ ở Việt Nam đang thụt lùi rơ rệt. (...)
    Anh có tin ǵ về việc in 4 cuốn sách của tôi không?



    • Thư ngày 1/8/1990

    Nguyễn Mạnh Tường viết cho Nguyễn Văn Lung:

    "Tôi đă nhận được thư ngày 16/7/1990 của anh, nhờ Mulheim, giáo sư ở Paris và là chồng người học tṛ cũ của tôi, cả hai đang ở Hà Nội, đem lại:

    Về việc Câu Lạc Bộ Pháp Ngữ, chúng tôi đang định ghép nó vào Hội Hữu Nghị Việt Pháp (Association de l'Amitié France-Vietnam), lập ở Hà Nội một chi nhánh của Hội này, nhưng từ mấy tháng nay, nhà cầm quyền vẫn làm lơ. Tôi bắt buộc phải đứng tên làm đơn xin mở một Câu Lạc Bộ Pháp Ngữ ở Hà Nội, giống như các Câu Lạc Bộ đă có ở Huế, Sài G̣n và Đà Lạt, tôi đang đợi sự trả lời của quan chức Hà Nội. Tôi đă nhận được thư của Alain Decaux và đă trả lời như anh biết (...) Hiện nay vấn đề đáng ngại vẫn là khoản trợ cấp để thuê pḥng đọc sách và diễn thuyết (...). Vậy tôi đợi gặp Alain Decaux và sẽ nói với ông ta. Anh đă nhận được đầy đủ 4 cuốn sách của tôi chưa, nếu không anh liên lạc với ông Fouilloux..."



    • Thư ngày 14/11/1990

    Nguyễn Mạnh Tường viết cho Nguyễn Văn Lung:

    "Thư lại bị mất nữa. Tôi nhờ một người đi Pháp cầm cho anh thư này. Tôi vừa bị từ chối không được mở pḥng luật sư và lá đơn xin mở Câu Lạc Bộ Pháp Ngữ ở Hà Nội cũng bị chận đứng từ nhiều tháng. Tôi hiện rất kẹt, bắt buộc phải dậy học lại để kiếm sống. Th́ giờ c̣n lại dồn hết để viết cho xong cuốn III của tập hồi kư. Cuốn I và 2/3 cuốn II đă tới Paris, trong tay một người bạn vừa về qua Hà Nội, tên là Muldheim, ở số 38 Rue Faubourg St Denis. Hà Nội nghẹt thở hơn trước. Họ chỉ bật đèn xanh cho những tờ báo tố cáo sai lầm và các tội nhỏ của vài người cầm quyền. Nếu họ cho báo chí chút tự do như thế, là để trấn an dân chúng đang sôi động, nhưng điều đó cũng làm mất niềm tin vào Đảng.

    Về việc in bốn cuốn sách của tôi, xem ra không được phải không? C̣n về 4 cuốn biên khảo, viết bằng tiếng Việt, tôi chỉ có một bản thảo duy nhất, và tôi cũng không muốn phải đối đầu với sự nổi giận và ḷng căm thù của chính quyền nếu họ biết tôi in ở Pháp. Vả lại những sách này dành cho người trong nước hơn là độc giả ngoại quốc.

    Hy vọng của tôi là hoàn tất bộ Larmes et sourires d'une vieillesse (chân dung tự họa của một trí thức đă trải qua 80 năm sống trên đất Việt). Bộ sách này sẽ có độc giả Pháp thích. Tôi cố gắng viết xong cuối năm nay".

    Người chuyển thư, ông Tống Lịch Cường, viết thêm mấy ḍng, ngày 6/12/1990:

    "Tường đang bị khó khăn lắm. Sự oán -nếu không muốn nói là căm thù- của những người cầm quyền cộng sản đối với Tường thật bền bỉ. Phải đợi Tường viết xong quyển III hồi kư, rồi mới tính đến chuyện in ấn ở Pháp".



    • Thư ngày 21/1/91

    Trên tấm danh thiếp nhỏ Nguyễn Mạnh Tường viết mấy hàng tiếng Việt:

    "Họ chối từ không cho tôi trở lại làm luật sư. Họ không trả nhời về chuyện Francophonie".

    Ông Tống Lịch Cường, chuyển tấm carte cho ông Lung, viết thêm mấy ḍng tiếng Pháp:

    "Tấm carte này đă được một người quen đem sang Pháp và gửi cho tôi qua đường bưu điện. Chúng ta thấy bao nhiêu dự tính của Tường đổ xuống sông cả, chỉ v́ sự thù hận dă man và mù quáng của những người cầm quyền Hà Nội đối với Tường. "Sự ngu si vô văn hóa đă phá hoại văn hóa", như lời Tường vẫn nói, không ngừng theo anh trong suốt bốn mươi năm qua và vẫn c̣n đang tiếp tục".



    • Thư ngày 23/2/1991

    Nguyễn Mạnh Tường viết cho Nguyễn Văn Lung:

    "Tôi gửi cho anh hai lá thư, nhưng h́nh như anh không nhận được. Những thư từ bạn bè ở Pháp gửi về cho tôi cũng bị bưu điện chận lại. Chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên. Việt Nam quả quyết trung thành với chủ nghiă cộng sản và đóng các cửa ngơ (...) Tôi rất mừng v́ biết là anh và Portiche đă đọc qua hai tập đầu bộ hồi kư của tôi rồi, tập ba cũng đă xong, và tôi đang t́m cách gửi sang Pháp. Nếu Muldheim trở lại Hà Nội tháng 2, tôi sẽ gửi cho anh. Điều cốt tử là làm sao cả ba cuốn đến được Pháp. Nếu có nhà xuất bản chịu in th́ hay quá (...)
    Gần một năm rồi mà những người cầm quyền vẫn làm ngơ không chịu trả lời về việc mở Câu Lạc Bộ Pháp Ngữ ở Hà Nội. Thật tức cười, mà như vậy đấy! Có lẽ phải nhờ đến nhà cầm quyền Pháp can thiệp chăng?


    Còn tiếp ...

  4. #2584
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) _ Chương 23

    • Thư ngày 7/10/1991

    Nguyễn Mạnh Tường viết cho Nguyễn Văn Lung:

    "Đă khá lâu chúng ta không có tin tức của nhau. Nhân bác sĩ Trịnh Đ́nh Tuất (Trịnh Văn Tuất) về, tôi gửi mấy hàng chúc anh mạnh khoẻ. Về phần tôi, từ hai tháng nay, sức khoẻ xuống lắm. Tim đập loạn xạ làm mạch máu lưu thông không đều hoà, tôi bị ngă hai lần, khiến phải nằm rịt trên giường từ hai tháng nay. Tưởng bị liệt cả hay bán thân bất toại v́ hai chân không động đậy được nữa. May mà cố gắng chữa chạy, sau những kỳ đấm bóp và tập đi, dùng các thứ thuốc có chất Coramine, Duxil... nay đă chống gậy đi lại được. Phần c̣n lại của cơ thể vẫn lành mạnh nhất là đầu óc. Cũng chẳng có ǵ lạ, v́ tôi đă quá 82 tuổi và hồi ở Paris đă bị tai biến mạch máu lần đầu, phải vào bệnh viện Pean điều trị. Anh hiểu trong hoàn cảnh như thế này th́ khó làm công việc hàng ngày.

    Tôi mong t́m lại sức khỏe b́nh thường, nhưng mới chỉ là hy vọng".



    • Thư ngày 26/3/1992

    Nguyễn Mạnh Tường viết cho Nguyễn Văn Lung:

    "Để trả lời thư anh, tôi báo tin anh biết là trong mấy năm vừa qua, tôi đă viết xong những tác phẩm sau đây:

    Larmes et sourires d'une vieillesse (Nụ Cười Và Nước Mắt Tuổi Già), ba cuốn!

    Un excommunié (Kẻ Bị Khai Trừ), tiểu thuyết.

    Malgré lui, malgré elle (Mặc hắn, mặc nàng), bi kịch t́nh yêu dưới chế độ cộng sản.

    Partir, est ce mourir? (Đi, là chết?), bi kịch di dân.

    Tất cả những sửa sai để thiết lập sự thật là đối tượng của phần phụ lục cuối sách. Những tác phẩm này được gửi nhà người bạn Fouilloux"[69].



    • Thư ngày 16/8/1994

    Nguyễn Mạnh Tường viết cho Nguyễn Văn Lung vài ḍng ngắn, có câu:

    "Tôi vẫn tiếp tục làm việc, dậy học và hoàn tất cuốn tiểu thuyết mới nhất Palinodies (Phủ nhận) cuốn sách thứ 18 của tôi".



    • Thư ngày 19/1/1996

    Joël Fouilloux gửi thư cho Nguyễn Mạnh Tường:

    "Thưa luật sư,

    (...) Phải đến ngày 14 và 21/6/1995, khi lại thăm ông tại nhà, tôi mới biết rằng cuốn Lư Luận Giáo Dục Âu Châu của ông đă được xuất bản bằng tiếng Việt ở trong nước. Tuy nhiên qua thư từ và tin tức gia đ́nh, ông cũng biết rơ là tôi đang thương lượng với RIASEM ở Đại Học Nice-Sophia Antipolis từ tháng 10/1994 để bảo vệ tập sách này (...)

    Một mặt khác, cho đến tháng 6 vừa qua, ông vẫn c̣n đợi Hà Nội trả lời về việc in bản dịch các cuốn: "Eschyle et la tragédie grecque, Orestia, và Virgile et l'épopée latine. Hiện việc này tiến hành đến đâu rồi?

    Ông Vơ Văn Ái, nhà xuất bản Quê Mẹ, cũng là "nhà xuất bản của ông" do giao kèo mà tôi kư với ông Ái, qua giấy ủy nhiệm của ông, sau cùng, đă cho tôi biết kết quả đáng buồn về cuốn Un Excommunié, Hanoi 1954-1991: Procès d'un intellectuel, tới tháng 4/1992, như sau:

    T́nh trạng tồn đọng (không ghi tới ngày nào) là 802 cuốn. Số sách bán tới ngày 30/6/1995: 323 cuốn trên tổng số phát hành: 1530 cuốn.

    Nhiệm vụ trung gian thân ái mà tôi đă hoàn toàn t́nh nguyện làm cho tới ngày nay, cũng như tất cả những ǵ tôi đă làm cho đất nước ông, được thúc đẩy bởi một nguyện ước sâu xa, thường trực, và kiên quyết, là để góp phần xây dựng lại t́nh bạn Việt-Pháp. Tôi vẫn tin, tôi c̣n tin. Và tôi đă dành cả sinh mệnh và sức lực của tôi trong suốt cuộc đời cho lư tưởng này.

    Trong tinh thần đó, tôi đă "khai ng̣i" cho việc nhận diện lại con người cao quư của ông, về phía Pháp cũng như về phía cộng đồng Việt Nam tại Pháp, bằng mối liên hệ mà tôi nối với nhà xuất bản này, để in cuốn sách tiếng Pháp đầu tiên (của ông) từ gần 50 năm nay. Cố gắng đầu tiên này sẽ được tiếp nối trong cộng đồng di tản hải ngoại bằng việc dịch tác phẩm sang tiếng Việt (dĩ nhiên v́ bản tiếng Pháp không bán được, nên phải ngừng lại).

    Dự tŕnh ban đầu của chúng tôi năm 1991 đă có nhiều thay đổi trong thời gian qua. Ở thời điểm đó, phải hết sức thận trọng. Ông Vơ Văn Ái và tôi đă vô cùng lo ngại ông sẽ bị liên lụy v́ lối hành xử "tự do" của chúng tôi ở Paris. Tôi đă chứng kiến nỗi lo lắng tuyệt đối có tính cách cha con mà ông chủ nhà xuất bản và bà Phương Anh, vợ ông, bộc lộ, về ông.
    Họ đă tin tưởng một cách rất chân thành và với nhiều lư tưởng về sự thành công của dự tŕnh này - dù mục đích thương mại của họ có thế nào chăng nữa. Ngày đầu tiên, họ đă tiếp tôi, với sự vui mừng lạ lùng và mối thân t́nh thực sự. Chúng tôi cùng chia sẻ những cái nh́n về con người và tác phẩm của ông và lợi ích cực điểm trong việc hướng công chúng trở lại với tên ông (...)"

    B́a sau cuốn Un Excommunié, nhà xuất bản trích một đoạn thư của Nguyễn Mạnh Tường viết ngày 16/3/1992 (có thể là gửi cho ông Fouilloux):

    "Tôi muốn hoăn việc in các tác phẩm của tôi v́ hoàn cảnh mới đây khiến tôi phải thận trọng, nhưng ông đă làm tôi vượt con sông Rubicon[70] và ông có lư: Rất nguy hiểm nhưng phải liều. Tôi chờ đợi cái tồi tệ nhất và mong nó không xẩy ra. Nhưng nếu họ dă man đến buộc tội tôi như những trí thức bị kết án phỉ báng chế độ, tôi sẽ vững chân đợi những thử thách, biết trước là tàn khốc. Tôi đă quyết định, nếu sự đó xẩy ra, tôi sẽ nhịn ăn tới chết. Ở tuổi 84, tôi đă trải qua tất cả mọi khía cạnh cuộc đời, và chẳng tiếc ǵ phải từ giă nó. Đời tôi, tôi đă làm tṛn bổn phận của một trí thức trước dân tộc và lịch sử."



    Còn tiếp ...

  5. #2585
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) _ Chương 23

    Việc in những ḍng này, có lẽ đă được toan tính trước, để cảnh báo nhà cầm quyền nếu nặng tay với Nguyễn Mạnh Tường, kết quả sẽ khó lường được.

    Sự "thất bại" của Un Excommunié, là một sự kiện đớn đau nhưng dễ hiểu: Một phần, v́ người Việt có bằng cấp (bác sĩ, kỹ sư...) thường được coi là "trí thức", ít chịu đọc sách, nhất là sách Pháp. Thập niên 1990, c̣n có t́nh trạng phân hoá trầm trọng giữa hai phe Quốc - Cộng ở Paris, khiến cho cuốn Un Excommunié, do nhà xuất bản Quê Mẹ, thuộc phe Quốc in ra, bị phe Cộng sa thải. Hơn nữa, nội dung tác phẩm cũng không phù hợp với nhăn quan của các nhà trí thức phái tả.

    Mặc tuổi cao, bệnh hoạn, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đă miệt mài làm việc, hoàn tất 7 tác phẩm viết về xă hội Việt Nam dưới chế độ cộng sản, mà bộ hồi kư Larmes et sourires d'une vieillesse - Nụ cười và nước mắt tuổi già, gồm ba cuốn. Có thể trong tác phẩm đồ sộ này, một khi được công bố toàn diện văn bản tiếng Pháp, không cắt xén, không biên tập lại, chúng ta sẽ t́m thấy 80 năm đời ông và 80 năm lịch sử Việt Nam trùng hợp. Lịch sử đích thực. Lịch sử của sự thực.

    Những năm cuối đời, nhà văn Nguyễn Mạnh Tường tha thiết mong các tác phẩm của ḿnh được in tại Paris. Vô vọng. Trong thư ông Fouilloux cho biết, ông đă chấm dứt nhiệm vụ và đă trao lại cho con gái luật sư, khi cô đến Paris. Dường như đó là lá thư cuối cùng của ông Fouilloux v́ sau đó ông mất về bệnh tim.




    [1] Em ruột bà Hoàng Xuân Hăn.

    [2] Trần Văn Hà, Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, tự học và quyết tâm là bí quyết thành công, Xưa và Nay, số 11, 1996.

    [3] Theo băng ghi âm Hoàng Cầm nói chuyện với bạn bè.

    [4] Nguyễn Đ́nh Chú, Thầy tôi, Hồ sơ Nguyễn Mạnh Tường, mạng Vietstudies.

    [5] Phong Lê, Nguyễn Mạnh Tường-Một chân dung và một hành tŕnh như tôi hiểu, Hồ sơ Nguyễn Mạnh Tường, mạng Vietstudies.

    [6] Trên các mạng Thông Luận, Vietstudies.

    [7] Jules Boissières, thuộc ngành hành chính dân sự, 1886 đến Bắc Kỳ cùng với Paul Bert và làm phụ tá cho Paul Bert. Paul Bert, bác học và chính trị gia, học tṛ của Claude Bernard, là vị Tổng Trú Sứ - Résident général Bắc và Trung Kỳ có đầu óc tự do, ôn hoà, chủ trương hợp tác Pháp-Việt, ông mở các trường Pháp-Việt đầu tiên ở Bắc và Trung (ở Nam Kỳ có từ 1867). Năm 1886, Paul Bert mất tại Hà Nội. Boissières mất tại Hà Nội năm 1897, ở tuổi 34, nổi tiếng với tập truyện ngắn Fumeurs d'opium - Những kẻ hút thuốc phiện in năm 1919.



    [8] Phạm Trần, Hạnh ngộ cụ Nguyễn Mạnh Tường, Hai thế hệ, một tâm t́nh, Paris, 16/11/1989, tài liệu đánh máy.

    [9] Phạm Trần, bđd.

    [10] Trần Văn Hà, bđd.

    [11] Nguyễn Văn Hoàn, Kỷ niệm về thầy Nguyễn Mạnh Tường, tháng 10/2009, báo Hồn Việt, mạng Vietstudies.

    [12] Phạm Trần, bđd. Theo cuốn Apprentissage de la Méditérannée- Kinh nghiệm Địa Trung Hải, ông đến Madrid tháng 4/1933, rồi đi thăm các tỉnh Tây Ban Nha và đi Ư; năm 1934 sang Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Vậy ông đă nhớ lầm trật tự các chuyến đi, khi trả lời Phạm Trần 60 năm sau.

    [13] Nguyên văn tiếng Pháp:

    Un Annamite de 22 ans, qui s'appelle Nguyen Manh Tuong, vient de décrocher avec une aisance remarquable, à la Faculté de Montpellier, le doctorat en droit et le doctorat ès lettres. Il ne lui a fallu que cinq ans d'études pour obtenir ainsi deux mandarinats occidentaux de première classe. Ce "jaune" intellectuel, s'est particulièrement distingué en soutenant une thèse littéraire sur le théâtre d'Alfred de Musset. Il pourrait sans aucun doute en remontrer à nombre de nos critiques. Le jury lui a adressé des félicitations auxquelles je ne me permettrai pas indigne que je suis, de joindre les miennes.

    On ne compte d'ailleurs plus les jeunes Indochinois qui ont conquis, en France des diplômes de tous genres; ils obtiennent des succès universitaires que nombre de jeunes "barbares blancs", moins bien doués, leur envient... Très travailleurs, très intelligents, et par surcroît, très ambitieux, ces Asiatiques débrouillent, comme en se jouant, les mystères de notre orgueilleuse science, puis retournent dans leur patrie en disant:

    - C'est tout ça, leur fameuse civilisation? De loin, ça paraît formidable, et de près, ce n'est vraiment pas grand'chose!

    Aussi je me demande si nous ne commettons pas la plus grave des imprudences en initiant ainsi aux arcanes de notre "culture" des gaillards qui, rentrés chez eux, ne peuvent plus croire à la supériorité de cette race blanche qui les tient cependant en tutelle.

    C'est très joli d'ouvrir aux indigènes les portes de nos universités, de les bombarder docteurs ès ceci et ès cela, mais nous nous faisons bien des illusions: nous croyons que c'est là un bon moyen d'effacer les souvenirs de la conquête et de passer le plus rapidement de l'ère de la domination à celle de la collaboration.

    Les Jaunes que nous avons badigeonnés d'un intellectualisme blanc ne tournent sans doute pas à l'écarlate quand ils ont regagné les bords du fleuve Rouge, mais enfin beaucoup d'entre eux forment les cadres de ce parti communiste qui, en Europe, se déclare pour l'abolition des patries, mais, aux colonies prêche le nationalisme cent pour cent.

    Comment voulez-vous qu'il n'en soit pas ainsi? Ce qui m'étonne, c'est qu'une jeune Indochinoise -car il est aussi des étudiantes jaunes- rentrée dans son pays avec le diplôme de professeur d'histoire, ne soit pas encore devenue la "Vierge rouge" d'une révolution libératrice en déclarant:

    - A présent, c'est moi qui suis Jeanne d'Arc!

    La sagesse consisterait, me semble-t-il à favoriser le développement des indigènes dans la ligne de leur propre civilisation. A quoi rime, je vous le demande cette thèse d'un Annamite sur le théâtre d'Alfred de Musset, théâtre charmant, raffiné, exquis, tout ce que vous voudrez, mais vraiment peu fait pour donner à un conquis une haute idée de la morale des conquérants?

    N'oublions pas que Gandhi est un diplômé des universités d'outre-Manche et qu'il en donne du fil à retordre, avec son rouet, à l'Angleterre... Soyez tranquille, nous en aurons, quelque jour, notre part.

    Clément Vautel

    Le Journal, 17-7-1932

    [14] Clément Vautel, Mon film (Ống kính của tôi), báo Le Journal (Nhật tŕnh) ngày 17/7/1932.

    [15] Phạm Trần, bđd.

    [16] Phạm Trần, bđd.

    [17] Lycée du Prétectorat, là Trường Bưởi và trường Chu Văn An sau này.

    [18] Ecole Supérieure des Travaux Publics.

    [19] Trả lời phỏng vấn Nguyễn Văn Hoàn, bđd.

    [20] Nguyễn Mạnh Tường, Un Excommunié (Kẻ bị khai trừ, trang 286).

    [21] Le tort de parler trop tôt - Sai lầm v́ nói sớm quá của Georges Boudarel, in trong Sudestasie số 52, tháng 5/1988. Việc NMT làm phụ tá Thị trưởng, Boudarel dựa theo tài liệu trong Souverains et notabilités d'Indochine, Éditions du Gouvernement général de l'Indochine, 1943, trg 99.

    [22] Trước là Gambetta.

    [23] Nguyễn Văn Hoàn, bđd.

    [24] Cha bà Trần Lệ Xuân (bà Ngô Đ́nh Nhu).

    [25] Nguyễn Đ́nh Nhân, Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường từ trần tại Việt Nam, báo Tin Tức, 7-8/1997, Paris.

    [26] Hoà Khánh, Ba giờ với luật sư Nguyễn Mạnh Tường, phỏng vấn ghi âm, viết lại, đăng trên Giai phẩm xuân Quê Mẹ, số 105-106, tháng 1/1990.

    [27] Nguyễn Văn Hoàn, bđd.

    [28] Boudarel, bài đă dẫn.

    [29] Trong bài Đường về Liên khu Ba, Cách mạng Kháng chiến và đời sống văn học, tập 1, trang 155-163.

    [30] Trong Hồi kư Cách mạng kháng chiến, trang 180-183.

    [31] Hoà Khánh, bđd.

    [32] Nguyễn Văn Hoàn, bđd.

    [33] Boudarel, bđd.

    [34] Trần Văn Hà, bđd.

    [35] Cha ông Bùi Tín.

    [36] Kiều Mai Sơn, Nguyễn Mạnh Tường, Luật sư huyền thoại, An Ninh Thế Giới 10/10/2009, mạng Bee.net và Vietstudies.

    [37] Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, trang 293.

    [38] Kiều Mai Sơn, bđd.

    [39] Qua những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, trang 305.

    [40] Khu Ba.

    [41] Chánh án, Bí thư Đảng đoàn.

    [42] Trích dịch Un Excommunié (Kẻ bị khai trừ), Quê Mẹ, Paris, 1992, trang 205-206.

    [43] Boudarel, bđd.

    [44] Thanh Hoá.

    [45] Hoàng Trung Thông kể, Tôn Phương Lan ghi, Trên địa bàn văn nghệ khu Bốn và Việt Bắc, Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học, tập 1, Tác phẩm mới, 1985, trang 184.

    [46] Hoàng Trung Thông, sđd, trang 187.

    [47] Boudarel, bđd.

    [48] YÊU.

    [49] Trích dịch Lettre à un ami de France, Revue Défense de la Paix, tháng 1/1953.

    [50] Trích dịch Un Excommunié, trang 75-76.

    [51] Trích dịch Un Excommunié, trang 76-77.

    [52] Hoà Khánh, bđd.

    [53] Trích dịch Un Excommunié, trang 23-24-25-26.

    [54] Trích dịch Un Excommunié, trang 28 và 30.

    [55] Nguyễn Văn Hoàn, bđd.

    [56] Hoà Khánh, bđd.

    [57] Hoà Khánh, bđd.

    [58] Phạm Trần, bđd.

    [59] Trích dịch Un Excommunié, trang 254- 257- 258.

    [60] Phạm Trần, bđd.

    [61] Un Excommunié, trang 338-340.

    [62] Phạm Trần, bđd.

    [63] Phượng Linh Đỗ Quang Trị, Thầy Nguyễn Mạnh Tường không c̣n nữa, tài liệu đánh máy.

    [64] Luật sư Trần Thanh Hiệp, lúc đó là chủ tịch hội Văn Bút Việt Nam hải ngoại.

    [65] ACCT là Agence de Coopération Culturelle et Technique - Cơ quan hợp tác kỹ thuật và văn hoá, Jean-Louis Roy làm Tổng thư kư năm 1990.

    [66] Đạm hay Đàm, v́ viết tiếng Pháp không để dấu.

    [67] Nhân viên Bộ ngoại giao Pháp.

    [68] Anh bà Nguyễn Mạnh Tường.

    [69] Ông Joël Fouilloux, địa chỉ năm 1989: số 2, Allée des Ecuyers, 78240 Chambourcy, theo nha sĩ Nguyễn Văn Lung, đă mất về bệnh tim, khoảng 1996.

    [70] Rubicon là tên con sông nhỏ ở biên giới Ư và La Gaule cisalpine (tên Ư gọi đất Pháp vùng núi Alpes thuộc Ư). Thành ngữ vượt sông Rubicon do điển tích: Thời xưa, để bảo vệ thành La Mă, có luật cấm Tướng cầm quân từ La Gaule về vượt biên giới này mà không có phép của Nguyên Lăo Nghị Viện (Sénat). Năm 50, César, bất chấp luật, đem quân vượt sông Rubicon, rồi tuyên bố: Việc đă rồi! Từ đó có thành ngữ vượt sông Rubicon.

  6. #2586
    Tran Truong
    Khách

    Une Voix Dans La Nuit Cải Cách Ruộng Đất và Cải Tạo Tư Sản _ Chương 24

    Trong buổi nói chuyện trên RFI tháng 9/1995, trả lời câu hỏi: "Từ sự đoàn kết dân tộc thời toàn quốc kháng chiến 1946, đến thời kỳ phân hoá chia rẽ dân tộc chỉ có 10 năm. Tại sao?" Nguyễn Hữu Đang giải thích:

    "Có thể hiểu việc đó như thế này: Ngay trong cương lĩnh của đảng Cộng Sản Đông Dương cũng ghi rơ là làm cách mạng để tiến tới Cách Mạng Xă Hội Chủ Nghĩa. Cho nên 10 năm sau, nhất định nước Việt Nam phải tiến lên Chủ Nghĩa Xă Hội và muốn tiến lên Chủ Nghĩa Xă Hội th́ phải tiến hành Đấu Tranh Giai Cấp, phải xóa bỏ địa vị, quyền lợi của hai giai cấp bóc lột là giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản.

    Trước kia đoàn kết Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc, giờ đây phải Đấu Tranh Giai Cấp để tiến tới Chủ Nghĩa Xă Hội. Trong Đấu Tranh Giai Cấp như thế th́ quyết liệt lắm, có ảnh hưởng chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao Trạch Đông là quá tả, rất ác liệt, (...) Chúng tôi chống, là chống cái chủ nghĩa Staline và chống chủ nghĩa Mao Trạch Đông.

    Sự thâm nhập của chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao Trạch Đông đưa đến nhiều hiện tượng -nói là chuyên chính th́ chưa đủ- phải nói là cực quyền toàn trị, nó gay gắt ghê lắm. Nó gay gắt ghê lắm! Đảng Cộng Sản đă phạm sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất, rồi th́ Chỉnh Huấn, Chấn Chỉnh Tổ Chức, Đăng Kư Hộ Khẩu v.v... Tất cả những cái đó đều do những cái quá tả, từ phương Bắc nó xâm nhập vào, chứ không phải chờ đến bây giờ nó mới đem cái tả khuynh hữu trí vào nước Việt Nam.
    Cái thời mà cụ Hồ chưa về nước và ông Trần Phú làm tổng bí thư, th́ làm cái cuộc gọi là Xô Viết Nghệ Tĩnh, đưa ra cái khẩu hiện rất quái gở tức là "Trí, phú, địa, hào đánh tận gốc, trốc tận rễ". Nó quá tả như thế th́ c̣n làm sao giành được độc lập! Như thế là chia rẽ dân tộc".

    Lịch tŕnh 10 năm tiến lên Xă hội chủ nghiă ở Việt Nam đă xẩy ra như sau:

    Đầu năm 1950, Hồ Chí Minh bí mật đi Liên Xô và Trung Quốc về. Heinz Schütte phân tích: "Tháng 1/1950, Đại Hội III Đảng Cộng Sản, tuyên bố Việt Nam chính thức đi theo đường lối Trung Quốc và đẩy mạnh chủ trương đấu tranh giai cấp trong cả nước. Điều này dẫn tới việc thủ tiêu những người bị cho là những "phần tử phản cách mạng". Sách vở Trung Quốc, đặc biệt những tác phẩm của Mao được dịch ra tiếng Việt -vài tác phẩm do chính Hồ Chí Minh dịch- để truyền bá những phương pháp của Trung Quốc trong việc vận dụng chủ nghiă Mác-Lê-Mao, trong việc tiến hành cách mạng và cải tạo tư tưởng ở Việt Nam. Tại chiến khu Việt Bắc, từ những năm 1951 đă có các khoá chỉnh huấn tư tưởng dành cho trí thức"[1].

    Mấu chốt cuộc cách mạng vô sản là Đấu Tranh Giai Cấp. Từ Đấu Tranh Giai Cấp nẩy sinh Chỉnh Huấn. Chỉnh Huấn chuẩn bị cho Giảm Tô. Sau Giảm Tô đến Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Tư Sản, và Thanh Trừng Trí Thức. Từ Trung Quốc về, Hồ Chí Minh bắt tay vào việc thực hiện những chiến dịch này từ 1950 đến 1960 để hoàn thành cuộc Cách Mạng Xă Hội Chủ Nghiă.

    Cho đến nay, hai tác giả viết về tiến tŕnh 10 năm tiến lên Xă Hội Chủ Nghiă một cách rơ ràng nhất là Hoàng Văn Chí trong Từ thực dân đến Cộng sản và Nguyễn Mạnh Tường trong Une voix dans la nuit - Tiếng vọng trong đêm. Sách của Hoàng Văn Chí - Mạc Định, dưới dạng nghiên cứu, ra đời từ 1962, nguyên tác tiếng Anh, đă được dịch sang tiếng Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và tiếng Việt do chính tác giả dịch, đă được phổ biến rộng răi và Phạm Thị Hoài đưa lên Talawas những năm gần đây.

    Tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tường, trong khi chờ đợi bản đánh máy, kèm với bản chụp ảnh và bản dịch sẽ đưa dần lên Internet, chúng tôi dịch và giới thiệu những phần chính, giống như việc Boudarel đă làm khi ông giới thiệu bài Qua những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất, xây dựng quan điểm lănh đạo" của Nguyễn Mạnh Tường sang tiếng Pháp cách đây hơn 20 năm. Nhưng trước khi đọc Nguyễn Mạnh Tường, chúng ta cần tóm tắt lại chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất qua sự tŕnh bầy của Hoàng Văn Chí.


    Còn tiếp ...

  7. #2587
    tran truong
    Khách

    Une Voix Dans La Nuit Cải Cách Ruộng Đất và Cải Tạo Tư Sản _ Chương 24

    ● Chỉnh Huấn

    Theo Hoàng Văn Chí, hồi ở Khu Tư, Nguyễn Sơn có viết mấy cuốn sách nhỏ về Chỉnh Quân, Chỉnh Phong, và Chỉnh Đảng[2], v́ không ưa Nguyễn Sơn nên Trường Chinh và Vơ Nguyên Giáp không dùng, chỉ chép lại những nét đại cương, lập nên phong trào Rèn Cán Chỉnh Cơ[3]. Sau này, khi Nguyễn Sơn đă trở lại đất Tầu, năm 1951 và các cố vấn Trung Quốc đă sang Bắc Việt để huấn luyện, Đảng mới áp dụng phương pháp "cải tạo tư tưởng" hoàn toàn theo kiểu Mao, gồm Chỉnh Phong, Chỉnh Đảng hợp lại gọi là Chỉnh Huấn.

    V́ mọi cấp bậc đều phải đi học, nên Chỉnh Huấn chia làm nhiều đợt để mọi người có thể thay phiên nhau nghỉ việc, đi học. Mỗi khoá chỉnh huấn dài ba tháng, thêm một tháng sắp xếp ăn ở. V́ vậy, mỗi chiến dịch chỉnh huấn kéo dài từ 1 năm đến 18 tháng, cán bộ cao cấp đi học trước, rồi về dạy học viên khoá đầu.

    Bài học do Trường Chinh soạn, nhưng một phần được in lại từ cuốn sách Sửa Đổi Lề Lối Làm Việc của XYZ - một biệt hiệu của Hồ Chí Minh - do nhà xuất bản Sự Thật in và chính ông Hồ viết năm 1946. Vẫn theo Hoàng Văn Chí, khi học viên có thắc mắc mà giáo viên đả thông không nổi, th́ ông Trường Chinh, tổng bí thư Đảng sẽ đến. Nếu ông Trường Chinh cũng không thuyết phục được, th́ ông Hồ sẽ thân hành đến. Chưa có thắc mắc nào mà ông Hồ không đả thông nổi.

    Khoá chỉnh huấn 1953-1954, mà ông Hoàng Văn Chí tham dự, gồm 5 bài học:
    1- Thái độ học tập.
    2- Lịch sử cách mạng Việt Nam.
    3- T́nh h́nh mới, nhiệm vụ mới.
    4- Tác phong cán bộ và đảng viên.
    5- Cải Cách Ruộng Đất.

    Bài học thứ 5, về Cải Cách Ruộng Đất, nhắm vào năm điểm chính:

    1/ Bản chất nông dân rất thực tế - tức là hám lợi.

    2/ Vậy để họ phấn khởi, ta nên cấp phát cho họ đủ ruộng đất cầy cấy, thành chủ nhân ông ruộng đất của ḿnh.

    3/ Địa chủ là thành phần bóc lột. Là kẻ thù số một của nhân dân.

    4/ Nhưng chỉ có nhân dân mới biết rơ, ai là địa chủ phản động gian ác.

    5/ Vậy phải để cho nhân dân lănh đạo đấu tố. Đảng đứng sau hướng dẫn.

    Tài liệu chính trong bài học thứ 5 này là bản báo cáo của Trường Chinh đọc tại Đại hội I của Đảng Lao Động, họp tại Việt Bắc từ 14 đến 23/11/1953.
    Trường Chinh lập luận:
    Chế độ cũ là chế độ bóc lột. Việt Nam có 5% dân số địa chủ, chiếm 70% diện tích ruộng đất trong nước. Nếu lấy lại ruộng đất ấy, chia đều cho mọi người th́ mỗi gia đ́nh sẽ được 1 héc-ta. Địa chủ luôn luôn cấu kết với đế quốc Pháp. Địa chủ và đế quốc đều là kẻ thù. Phải tiêu diệt cả hai: Phản đế là tiêu diệt đế quốc Pháp. Phản phong là chống phong kiến, tức là tiêu diệt giai cấp địa chủ[4].

    V́ người Việt không dễ dàng chấp nhận chính sách Cải Cách Ruộng Đất theo kiểu Mao, nên Đảng phải tổ chức các chiến dịch Chỉnh huấn để đả thông tư tưởng. Những người tham dự Chỉnh huấn xuất thân trung lưu hoặc khá giả, họ phải chấp nhận lập luận của Đảng, với hy vọng, nếu có bị ghép vào thành phần địa chủ, th́ cũng là địa chủ tiến bộ, đă theo kháng chiến và theo Đảng[5].


    Còn tiếp ...

  8. #2588
    Tran Truong
    Khách

    Une Voix Dans La Nuit Cải Cách Ruộng Đất và Cải Tạo Tư Sản _ Chương 24

    ● Giảm Tô và Cải Cách Ruộng Đất

    Cuộc Cải Cách Ruộng Đất được thực hiện qua hai chiến dịch: Giảm Tô 1953-54 và Cải Cách Ruộng Đất đích thực 1954-56, đều có đấu tố và xử bắn địa chủ. Hai chiến dịch này không thực hiện cùng một lúc trên toàn quốc, mà làm từng đợt ở những vùng mà đảng cộng sản nắm vững, thành một vết dầu loang.

    Mỗi chiến dịch có 5 đợt. Cả hai chiến dịch đều nhắm mục đích tiêu diệt toàn bộ địa chủ để thành lập chế độ vô sản chuyên chính ở nông thôn.

    Vài tháng sau cuộc "Đấu Tranh Chính Trị" - là cuộc khủng bố từ tối 23/12 Nhâm Th́n tức là ngày 7/2/1953, nhằm ngày ông Táo chầu trời, kéo dài trong nửa tháng, tiêu diệt tất cả thành phần phản động - chính quyền mới bắt đầu thực hiện chiến dịch Giảm Tô.

    Về Giảm Tô[6], từ 1949 đă có sắc lệnh Giảm Tô của Hồ Chí Minh, bắt địa chủ phải giảm thu địa tô 30%, giống chính sách Giảm Tô thuần tuư thực hiện ở Trung Quốc trước 1949, trong vùng Mao chiếm đóng. Chiến dịch Giảm Tô 1953 của Hồ Chí Minh, là phần đầu chính sách Cải Cách Ruộng Đất, có đấu tố và xử bắn địa chủ; chỉ khác Cải Cách Ruộng Đất ở điểm: Giảm Tô giới hạn trong số ít người, c̣n Cải Cách Ruộng Đất, số người bị quy là địa chủ tăng gấp năm lần so với Giảm Tô.

    Thực chất Giảm Tô như sau:

    Một đoàn cán bộ đă được huấn luyện ở Trung quốc giả dạng làm nông dân bí mật về làng. Họ thực hành chính sách gọi là ba cùng - cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với chủ nhà- trong ba tháng, làm giúp mà không lấy công, góp phần ăn với chủ nhà. Họ có nhiệm vụ điều tra và "giác ngộ" người nông dân về sự tàn ác của địa chủ. Người nông dân được "giác ngộ" gọi là "rễ", và công tác kể trên gọi là "bắt rễ".

    Từ đó, cán bộ chỉ hành động qua cái "rễ", và rễ A sẽ kết nạp B, B kết nạp C... việc này gọi là "xâu chuỗi"; B, C, D... được gọi là cốt cán. Sau vài tháng hoạt động như vậy, cán bộ có đầy đủ thông tin về cả làng và sẽ báo cáo bí mật với Đoàn Cải Cách Ruộng Đất đóng ở tỉnh. Cán bộ quy định tất cả các thành phần trong làng, đặc biệt thành phần địa chủ và gán cho người nào những tội ǵ.


    Tới lúc đó Đội Cải Cách Ruộng Đất mới ra mắt công khai, đứng lên điều khiển mọi việc trong làng, thay mặt cơ quan hành chính địa phương. Chiến dịch có 6 bước liên tiếp:

    1/ Định thành phần.

    2/ Phân loại địa chủ.

    3/ Tống tiền: Địa chủ bị bắt rồi, vợ con sẽ phải trả ngay một số tiền gọi là "thoái tô" hoặc "nợ nông dân" tức là phải trả lại số tô đă thu "quá mức" trong 4, 5 năm vừa qua.

    4/ Tố khổ: Nông dân được học tập cách tố khổ, lập danh sách tội ác của địa chủ.

    5/ Đấu địa chủ: Địa chủ được mang ra đấu trường.

    6/ Xử án địa chủ: Vài ngày sau cuộc đấu, một toà án nhân dân đặc biệt tới xă, xử những người bị tố, toà án toàn là bần cố nông không ai có kiến thức về luật pháp.

    Chiến dịch Giảm Tô, đánh vào thành phần địa chủ "đầu sỏ" phản động, bóc lột. Khoảng một năm sau chiến dịch Giảm Tô, Đảng thi hành chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất Đích Thực.

    Cải Cách Ruộng Đất Đích Thực là cuộc thanh trừng quy mô trong toàn quốc, thực hiện ngay trong hàng ngũ Đảng. Đảng viên cũng bị thanh trừng như quần chúng ngoài đảng. Lần này Đảng ấn định cho mỗi xă một con số tối thiểu địa chủ gấp năm lần chiến dịch Giảm Tô. Và như vậy, không đủ con số địa chủ để đánh, phải đánh tới các thành phần dưới là phú nông, có nơi tới cả bần nông.

    Khi Cải Cách Ruộng Đất đợt 5, tức là đợt cuối cùng, chấm dứt, Đảng mới tuyên bố Sửa Sai[7].


    Trong bài phát biểu quan trọng tại Hội Nghị Nông Vận Và Dân Vận Toàn Quốc ngày 5/2/1953, Hồ Chí Minh nói rơ lập trường và mục đích của ông trong Cải Cách Ruộng Đất:

    "Sau 80 năm nô lệ, nhân dân ta nổi lên đánh đổ đế quốc giành độc lập. Bọn phong kiến địa chủ lại mưu bán nước. Trong chính phủ bù nh́n là những ai? Bảo Đại và những tên đầu sỏ khác đều là bọn đại địa chủ phong kiến. Đế quốc lợi dụng phong kiến địa chủ để cướp nước ta. Phong kiến địa chủ bám vào đế quốc để áp bức bóc lột nhân dân ta. V́ thế, muốn kháng chiến thắng lợi không những phải đánh đổ đế quốc mà c̣n đánh đổ cả phong kiến địa chủ".

    Để thuyết phục thành phần xuất thân địa chủ ủng hộ Cải Cách Ruộng Đất, ông hứa: "Vấn đề xuất thân có quan hệ thật nhưng nếu xuất thân là địa chủ nhưng đứng hẳn về phía nông dân, th́ không phải là địa chủ nữa. Trung Quốc gọi những địa chủ hoan nghênh Cải Cách Ruộng Đất là "thân sĩ khai minh". Cho nên, nếu kiên quyết rửa sạch tư tưởng địa chủ th́ dù xuất thân là địa chủ vẫn tham gia được cách mạng".

    Hồ Chí Minh xác nhận sự lănh đạo và trách nhiệm của ông trong Giảm Tô và Cải Cách Ruộng Đất: "V́ giảm tô chưa thực hiện được triệt để nên năm nay (1953) Đảng và Chính phủ phải chủ trương phát động quần chúng triệt để giảm tô. Từ năm 1949 đă có sắc lệnh giảm tô, đến nay đă 4 năm mà vẫn chưa thực hiện triệt để. Xem đó th́ biết rằng giảm tô không phải là vấn đề giản đơn, nó là một bộ phận của giai cấp đấu tranh, giai cấp nông dân đấu tranh với giai cấp địa chủ.

    Đây cũng là một chiến dịch nhưng chiến dịch này to và rộng hơn chiến dịch Hoà B́nh, Tây Bắc v́ nó mở ra khắp cả nước. Nó càng khó hơn đánh giặc, v́ đánh giặc th́ đưa vũ khí ra mà đánh, trong chiến dịch này nông dân không đưa súng đạn ra đánh với địch, nhưng phải dùng một thứ vũ khí mạnh hơn, tức là lực lượng tổ chức và lực lượng đoàn kết của hàng triệu nông dân. Đảng và Chính phủ là Bộ Tổng Tư Lệnh, Bộ Tổng Tham Mưu của cuộc đấu tranh này.

    Cũng như mọi chiến dịch khác, nó phải có chính sách rơ ràng, phương châm đúng đắn, kế hoạch đầy đủ, có tổ chức, có lănh đạo, chứ không phải nói "phóng tay phát động" quần chúng là phóng tay lung tung (...)

    Tư tưởng và hành động phải nhất trí, lư luận và thực hành phải nhất trí, cán bộ trên dưới phải nhất trí, cán bộ và nông dân phải nhất trí, th́ mới chắc thành công"[8].


    Còn tiếp ...

  9. #2589
    Tran Truong
    Khách

    Une Voix Dans La Nuit Cải Cách Ruộng Đất và Cải Tạo Tư Sản _ Chương 24

    ● Cải Tạo Tư Sản

    Chiến dịch Cải Tạo Tư Sản ở thành thị cũng không kém phần khốc liệt và cũng gặp những khó khăn như Cải Cách Ruộng Đất, nghiă là những thương gia, những sở hữu chủ giầu có, phần lớn đă đi Nam hay ra ngoại quốc, Hà Nội chỉ c̣n lại những người buôn bán nhỏ, và giai cấp công chức, trước làm việc cho Pháp, nay đă về hưu mà cụ Cát, cha của Nguyễn Mạnh Tường là một trường hợp.
    Những người này, sau năm 1954, không c̣n được lĩnh lương hưu của Pháp nữa, sống nhờ vào căn nhà - tiền dành dụm một đời- ngày trước ở cả, nay dọn lại, cho thuê một phần để có lợi tức sống qua ngày.

    Chính sách Cải Tạo Tư Sản xác định bất cứ nguồn lợi nào không do bàn tay làm ra, là bóc lột. V́ vậy, người nào có một phần nhà cho thuê, dù lớn dù nhỏ, đều bị chính quyền tịch thu, quản lư và thu tiền thuê nhà. Nhiều người không c̣n nguồn lợi nào khác, đành chết đói.

    Sau những ngày tháng rộn ràng của chiến thắng Điện Biên Phủ, tuy đất nước bị chia đôi, nhưng đến 10/10/1954, khi quân đội Việt Minh tiếp thu Hà Nội, mọi người đều ít nhiều hy vọng ở chính phủ mới.
    Tuy nhiên những tin tức về Giảm Tô và Cải Cách Ruộng Đất bắt đầu lan rộng. Người di cư đi Nam càng ngày càng đông, nhất là thành phần công giáo. Để trấn an dân chúng, năm 1955, chính quyền tạm ngưng chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất trong một thời gian, nhưng rồi vẫn tiếp tục đến 1956. Đợi xong đợt Cải Cách Ruộng Đất đợt 5, cuối cùng, tháng 8/1956, Đảng mới chính thức tuyên bố Sửa Sai.

    Từ 1953 đến 1956, với Chiến dịch Giảm Tô và Cải Cách Ruộng Đất, chính quyền đă tiêu diệt xong thành phần địa chủ ở nông thôn.

    Từ 1956 đến 1960, là cuộc Thanh Trừng Trí Thức trong một quy mô rộng lớn mà NVGP là tâm điểm. Cùng thời điểm ấy diễn ra cuộc Cải Tạo Tư Sản ở thành thị.

    Cả ba giai đoạn Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Tư Sản và Thanh Trừng Trí Thức được Nguyễn Mạnh Tường phản ánh trong tiếu tuyết Une voix dans la nuit.



    ● Une voix dans la nuit.

    Une voix dans la nuit - Tiếng vọng trong đêm có tiểu tựa: Tiểu thuyết viết về Việt Nam từ 1950 đến 1990. Trang cuối ghi: Viết xong ngày 19/3/1993, giữa tuổi 84 và 85.

    Bản thảo đánh máy khổ 20,6x31,1cm gồm 109 trang, thiếu 16 trang đầu. Mục lục đề rơ bốn phần:

    I- Cải cách ruộng đất.

    II- Cải tạo tư sản.

    III- Vấn đề trí thức.

    IV- Độc quyền đảng trị.

    Và thêm phần cuối: Đối thoại giữa một người trí thức và một người cộng sản.

    Vậy có thể hiểu: 16 trang đầu, tác giả tự ư bỏ đi. Đây là cuốn tiểu thuyết chính trị, mô tả và phân tích những giai đoạn chính trong đời sống Việt Nam dưới chế độ cộng sản.

    Nguyễn Mạnh Tường soi ống kính vào chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, t́m hiểu bộ năo điều khiển mà vị lănh tụ tối cao gọi là "tổ chức" để biến những người dân quê hiền lành chất phác thành những kẻ tàn ác trong đấu tố. Ông mô tả guồng máy bào chế căm thù đă được kiến trúc như thế nào, với con mắt quan sát tinh vi của một chứng nhân sống từ bên trong.

    Tác phẩm có giá trị như một tư liệu lịch sử. Nếu Un Excommunié - Kẻ bị khai trừ mô tả phương pháp thanh trừng các trí thức tham gia NVGP, th́ Une voix dans la nuit - Tiếng vọng trong đêm mở địa bàn rộng hơn, truy nguyên đến nguồn cội, t́m hiểu lư do vận hành và mục đích của ba chính sách tiêu diệt: địa chủ, sở hữu chủ, và trí thức, để thiết lập chế độ chuyên chính vô sản, rồi độc tài toàn trị ở Việt Nam.

    Nguyễn Mạnh Tường chú ư đến những ǵ xẩy ra trong hậu trường Cải Cách Ruộng Đất, mô tả quá tŕnh rèn luyện chính trị, học tập căm thù, tập dượt đấu tố, trước ngày vở kịch mở màn thực thụ trên đấu trường.

    Địa điểm là một làng nghèo trong phủ Nho Quan.

    Lan, con gái út một công chức về hưu, nhà ở số 13, phố Hàng Giấy, Hà Nội, đang học năm thứ nhất trường Cao Đẳng Sư Phạm Sinh Ngữ, môn Pháp văn, và Hiên, một bộ đội, cả hai được gửi đi học tập Cải Cách Ruộng Đất. T́nh cờ gặp nhau, t́nh yêu chớm nở giữa hai người. Một cặp thanh niên khác, sau cũng trở thành vợ chồng, đó là Năng, ủy viên chính trị, đội phó đội cải cách, và Thủy, thành viên đoàn Thanh Niên Cộng Sản. Năng và Thủy sẽ trở thành giai cấp lănh đạo.

    Người đọc dễ dàng nhận ra: gia đ́nh Lan chính là gia đ́nh Nguyễn Mạnh Tường mà ông Cát, công chức thời Pháp thuộc về hưu, vai chính trong bi kịch Cải Tạo Tư Sản, là cụ Nguyễn Căn Cát, cha của tác giả. Những nhân vật cùng nhau xuyên qua ba thời kỳ: Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Tư Sản và Thanh Trừng Trí Thức, trong vị trí đối lập: một bên là trí thức, một bên là cộng sản, trong cuộc chiến một mất một c̣n. Vào truyện bằng những ḍng lăng mạn pha lẫn kinh hoàng, Nguyễn Mạnh Tường viết:

    "Mặt trời chiều tan loăng trong ao vàng, quét những tia sáng xiên lên bầu trời phía tây tới tận thiên đỉnh. Theo đúng mệnh lệnh, Nho Quan, chôn vùi trong im lặng chết chóc, không động tĩnh, không một bóng người, chó mèo cũng không dám phóng qua đường! Không biểu hiệu sống nào chứng tỏ những cơn cuồng nộ, tàn ác của phi công địch sẵn sàng thả bom hay nă liên thanh từng loạt.

    Trong cảnh ngày tàn, giữa lúc nhá nhem ma quỷ hiện, Nho Quan biến thành nơi tụ họp của những đoàn người buôn bán, ban ngày ẩn núp trong các làng mạc xung quanh, cách trung tâm thị trấn năm cây số: có người, v́ khôn ngoan hay cẩn thận, đă đào cả hầm sâu ngoài đồng. Nhưng giờ th́ bà tiên hoàng hôn đă cầm cây đũa thần đánh thức mọi người ra khỏi trạng thái hôn mê. (...)

    "Trên không, nền trời xanh thẫm làm nổi bật ánh sáng rực rỡ từ các v́ sao ganh đua nhấp nháy, rung động. Dưới đất, bóng tối âm u dâng ngọn triều, bao trùm lên cảnh vật mênh mông, hàng đoàn bạn hàng đi về phía chợ, vai gánh hai thúng đầy nông sản; những ngọn đèn nhỏ, móc trên đ̣n gánh, theo nhịp chân rảo bước, ngời lên ấn tượng nên thơ của những ngọn lửa vàng dắt tay nhau nhẩy múa"[9].

    Cuốn tiểu thuyết bắt đầu bằng những ḍng thơ mộng đầy bí mật, nhưng rồi tác giả rời dần bút pháp văn chương, để đi vào bút pháp chính trị.


    Còn tiếp ...

  10. #2590
    Tran Truong
    Khách

    Une Voix Dans La Nuit Cải Cách Ruộng Đất và Cải Tạo Tư Sản _ Chương 24

    ● Bài học thứ nhất về sự bóc lột và sự căm thù

    Trên đường đêm từ Nho Quan về làng cách phố phủ hai cây số, Lan và Hiên t́nh cờ gặp nhau, họ theo Đội Cải Cách về đây để sống ba cùng. Đội trưởng là một nhà cách mạng lăo thành và đội phó, Năng, một uỷ viên chính trị. Tám thành viên khác đều là cán bộ làm việc trong những cơ quan kháng chiến, tuổi không quá 20. Đêm đầu trước khi vào làng họ được nhận bài học khai tâm của ông đội trưởng:

    "Thưa các đồng chí, qua những lớp học chính trị, chắc các đồng chí đă biết rằng Đảng ta, sau khi đánh đuổi bọn thực dân hút máu mủ đồng bào, giải phóng Việt Nam khỏi ách nô lệ ngoại bang, trả lại cho người dân phẩm giá và danh dự của họ, đă tự lănh nhiệm vụ tạo hạnh phúc cho dân. Một mai khi người lính thực dân cuối cùng rời bỏ xứ này, khi chúng ta trở lại làm chủ những tài nguyên thiên nhiên của chúng ta, th́ ta phải xây dựng lại tổ quốc và sản xuất.

    Kẻ thù bên ngoài không c̣n dầy xéo lănh thổ, nhưng chúng ta vẫn c̣n vướng mắc kẻ thù bên trong, không kém phần nguy hiểm, v́ tiềm lực của nó rất phức tạp, đa diện, mờ ám, vô h́nh, bí mật và ẩn sâu trong nội tạng! Đó là sự ham thích bóc lột. Nó đẩy tới chỗ chiếm hữu của cải không do ta làm ra bằng mồ hôi nước mắt. Nhưng chúng ta không thể sống như kư sinh trùng trong xă hội, bằng sức lao động của kẻ khác.

    Bản thân tôi chưa dám nghĩ chế độ cộng sản sẽ cố chấp đến độ tuyên bố rằng tất cả mọi hạt gạo kiếm được không do sức lao động, đều là sản phẩm của sự bóc lột con người. Nếu như thế, th́ tất cả các sở hữu chủ, cho thuê động sản hay bất động sản để kiếm lời, đều là bóc lột. Ở thôn quê, mọi địa chủ không cầy cấy đất đai của ḿnh mà cho cấy rẽ, đều là bóc lột. Trong làng này, chỉ có khoảng 15 héc-ta đất trồng cấy. Người giầu nhất có 7 héc-ta. Ba người kia chia nhau chỗ c̣n lại.

    Đến đây, diễn giả ngừng một chút để đợi phản ứng của cử toạ. Không một lời nào cất lên phàn nàn v́ chiến lợi phẩm nhỏ nhoi mà người săn sẽ thu lượm được. Biết rơ những ǵ xẩy ra cho những kẻ hay phản đối, hoặc bướng bỉnh muốn tỏ ḿnh hay ho, ra cái điều "ta đây ǵ cũng biết", tất cả ê-kíp ẩn trong im lặng, ngậm tăm đầy ư nghiă.
    Diễn giả tiếp tục:

    "Trong các đồng chí có người sẽ nghĩ rằng, con thú mà chúng ta lùng bắt không xứng với công săn. Tôi xin trả lời: ta không săn một con thú mà ta săn con trùng của một căn bệnh mà ta phải trừ tuyệt nọc, bằng mọi giá, để nó khỏi nhiễm độc xứ sở, lây lan dân tộc. Xă hội chủ nghiă chỉ có thể chiến thắng sau khi đă tiêu diệt sự bóc lột và những kẻ bóc lột tàn nhẫn và ác độc nhất. Vậy các đồng chí đă hiểu rơ ư nghiă của cuộc cải cách ruộng đất.

    Những ai góp phần vào công cuộc cải cách ruộng đất, cũng là góp sức củng cố vững bền niềm tin vào chủ nghiă cộng sản và cũng tự dọn cho ḿnh một chỗ đứng vinh dự trên Thành đài mới mà chúng ta đang xây dựng".

    Diễn giả lại ngừng một lát để cho những kiến thức mới nhập vào óc người nghe, thấm thật sâu, rồi mới tiếp tục:

    "Thưa các đồng chí, tôi vừa nhắc các đồng chí thế nào là chiến lược cộng sản. Bây giờ tôi sẽ nói tới cái mưu lược phải dùng ở nơi hẻo lánh này, mặc dù nghèo khổ cùng cực, cũng không ngăn được sự bóc lột lan vào tàn phá. Chúng ta sẽ dành những đ̣n thâm độc nhất cho tên đại địa chủ làng này. Việc quan trọng nhất không phải là kết án tử h́nh nó, mà trước hết phải hủy hoại thanh danh nó, giết chết ḷng tự hào của nó, cắt tuyệt những hoài nghi cho rằng nó vô tội, đập vỡ ḷng tự tin của nó về bản thân, về của cải mà nó đă chiếm đoạt bằng tội ác trên lưng người nông dân nghèo mà cuộc sống hàng ngày tưới đẫm mồ hôi và nước mắt, phải hạ nhục nó, kéo nó xuống địa vị con giun ḅ dưới đất mà ta nghiền nát dưới gót giầy!

    Những đăi ngộ mà ta dành riêng cho nó, không chỉ nhắm đưa đến cái chết đáng đời của nó mà hơn nữa, ta phải giật cái ṿng hoa trên đầu nó xuống, cái ṿng nguyệt quế cho phép nó đứng ngang hàng với thánh thần trong đầu óc người dân quê, họ đă quỳ mọp và hiến dâng ḷng sùng kính của họ. Đó là phương tiện hữu hiệu nhất để đem lại cho những kẻ thanh bần này ḷng tự tin và phẩm giá con người.
    Nhưng kết án và trừng phạt kẻ bóc lột, hăy c̣n là nhẹ. Ta c̣n phải bôi đen nó hơn nữa, không chỉ phơi bầy ra ánh sáng những hành vi ghê tởm trái với luật pháp và đạo lư của nó, mà c̣n nên chế thêm vào đó những hành động nhơ nhuốc bị luật pháp và đạo đức kết án. Kẻ bóc lột, có thể không làm những việc này, nhưng v́ bị bản năng kích thích, nó vẫn vi phạm trong đầu. Những người nghiêm khắc, quan tâm đến sự công bằng, sẽ phản đối phương pháp này, nhưng tôi sẽ trả lời là tôi đứng trên b́nh diện chính trị chứ không phải trên khoa pháp lư, và nói theo ư thức quần chúng, ai muốn cứu cánh th́ phải dùng đến phương tiện.

    Thưa các đồng chí, tôi đă cho các đồng chí biết những thông tin cần thiết để thi hành bổn phận của các đồng chí. Tôi không nói quá khi tuyên bố rằng sự bóc lột và kẻ bóc lột là tử thù của chủ nghiă xă hội. Các đồng chí là những cán bộ có kinh nghiệm, là những chiến sĩ xung phong của Đảng. Vận mệnh của Đảng, hạnh phúc và tương lai của dân tộc tùy thuộc vào chiến thắng của chủ nghiă cộng sản mà các đồng chí là những người thợ thủ công. Ngay từ ngày mai, chúng ta bắt tay vào việc. Đảng muôn năm! Chủ nghiă Cộng sản muôn năm!"[10]

    Sau bài học thứ nhất của ông đội trưởng, cả đội lên đường vào làng, mỗi người được phái ở một mái tranh, tập sống ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với chủ nhà, trong cùng một điều kiện sống.


    Còn tiếp ...

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Chuyện nghe được từ ngướ không quen
    By Dac Trung in forum Tin Việt Nam
    Replies: 1
    Last Post: 10-10-2012, 12:25 AM
  2. Replies: 0
    Last Post: 03-05-2012, 10:37 PM
  3. Bắt Buộc Phải Nghe
    By Dean Nguyen in forum Tin Việt Nam
    Replies: 2
    Last Post: 19-01-2012, 08:34 PM
  4. Replies: 3
    Last Post: 31-07-2011, 05:33 PM
  5. Tưởng Niệm Tháng 4 Đen Nghe Nhạc Lính VNCH
    By Camlydalat in forum Giao Lưu - Giải Trí
    Replies: 18
    Last Post: 25-04-2011, 06:28 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •