+ Reply to Thread
Page 274 of 276 FirstFirst ... 174224264270271272273274275276 LastLast
Results 2,731 to 2,740 of 2754

Thread: Nghe Chuyện Hà Nội

  1. #2731
    Tran Truong
    Khách

    Một Cơn Gió Bụi

    Trần trọng Kim , một nhà học giả , một đời viết lách và sưu tầm , đóng góp không ít vào nền văn học nước nhà . Nhưng định mệnh trớ trêu , đã đẩy ông rơi vào cái mốc quan trọng : bước ngoặt lịch sử !!!
    Ông không thích quan trường , ông không ưa chính trị .... chỉ vì thấy tình cảnh đất nước nhiễu nhương ,lòng người ly tán . Vị nể lời của hoàng đế cuối cùng nhà Nguyễn là Bảo Đại , ông đứng ra thành lập chính phủ của nước Việt Nam lần đầu tiên được Độc Lập Thống Nhất , xé bỏ hiệp định Pa tơ nốt ....

    Một Cơn Gió Bụi viết dưới dạng hồi ký . Ghi lại những diễn biến lịch sử một thời đã qua , mà tác giả trải nghiệm .... Xin mời quí vị cùng các anh các chị theo dõi một chứng nhân lịch sử . Giọng văn hơi cổ xưa ....

    ........................



    Chúng tôi ở lại Đồng Đăng chờ đến chín, mười ngày, không thấy tin Hà Nội lên mà cũng không thấy xe ở Nam Kinh xuống đón. Sau cùng ông Nguyễn Hải Thần phải đi điều đ́nh với người sĩ quan coi việc vận tải của quân đội Tàu để đi nhờ xe của họ.
    Sáng sớm ngày 17 tháng sáu mới lên đường. Người sĩ quan Tàu để ông Nguyễn, tôi, và cháu ông Nguyễn cùng ngồi với y trên cái xe jeep. C̣n bọn ông Vũ
    Kim Thành, Hương Kư, Nghiêm Xuân Việt đi mấy cái xe cam nhông đi trước; để ông Măo , người sĩ quan và người thông ngôn đi với chúng tôi ở lại chờ một xe cam nhông sắp đến.

    Chúng tôi đi từ Đồng Đăng đến Nam Kinh chỉ độ hơn 200 cây số mà phải mất hai ngày, tức là đến chiều tối ngày 18 mới tới nơi.
    Đến Nam Kinh tôi vào ở khách sạn, chờ ông Măo mất hai ngày mới thấy ông và hai người kia đến. Hỏi ra mới biết rằng cả ngày 17, chúng tôi đi rồi không thấy xe cam nhông đă hẹn đến.

    Chờ hôm sau cũng không thấy, bọn ông Măo phải thuê xe khác mà đi. Dọc đường ông Măo gặp mấy cái nạn rất nguy hiểm, may là thoát khỏi.
    Trong khi chờ đợi mấy người kia, tôi có dịp biết cả ông Nguyễn Thiện Thuật ở gần Nam Kinh. Ông trước làm Tán tương quân vụ cuối đời Tự Đức, rồi sau đứng chỉ huy quân Cần Vương chống với quân Pháp ở Băi Sậy.

    Bấy giờ tôi bàn với ông Nguyễn Hải Thần xem đi Nam Kinh th́ đi đường nào tiện hơn. Đi lối Côn Minh rất khó và có nhiều trộm cướp, lối Liễu Châu rồi cũng không có tàu bay. Nếu không có tàu bay, th́ ra Hương Cảng đi tàu thủy lên Thượng Hải. Trước sau ông Nguyễn Hải Thần vẫn nói là cùng đi với chúng tôi.

    Mấy hôm tôi ở Đồng Đăng và ở Nam Kinh, tôi thường nói chuyện với ông Vũ Kim Thành, thấy ông là người chơn thực và lại nói thạo tiếng Quảng Đông. Tôi bàn riêng với ông đi lên Nam Kinh với tôi, v́ đến Nam Kinh người sĩ quan Tàu và người thông ngôn ở lại. Vũ Kim Thành bằng ḷng. Chúng tôi nhất định đến ngày 24 tháng sáu khởi hành.
    Sáng ngày 23, ông Nguyễn Hải Thần c̣n đến bàn tính cách đi, nhưng đến 6 giờ chiều ông đến khách sạn nói rằng: Ngày mai tôi sẽ đưa cụ ra Quảng Châu rồi sẽ thu xếp cho cụ đi Nam Kinh. Tôi c̣n phải trở về trù tính việc đánh lấy lại thành Lạng Sơn đă vào tay Việt Minh rồi, sau họ giao lại cho quân Pháp.

    Tôi biết ư ông Nguyễn Hải Thần không muốn đi với tôi, hoặc là trước ông có ư định đi, nhưng sau ông bị bọn người Tàu muốn giữ ông lại để lợi dụng sang cướp phá bên biên giới. Đến 11 giờ đêm, ông lại bảo tôi ông có việc đi gấp, ông không đi Quảng Châu được, để cho Vũ Kim Thành đưa chúng tôi đi.

    Sáng ngày 24, chúng tôi lên xe hơi chở hành khách đi đến chiều tối tới Quí Huyện. Sáng ngày 26 thuê cái xe con đi Nhung Hí, nhưng v́ gặp mưa to và đường xấu, phải ngủ ở cái quán dọc đường.
    Sáng ngày 27 đến Nhung Hí rồi xuống đ̣ đi đến Ngô Châu. Đến nơi xuống thẳng tàu thủy đi Quảng Châu. Đến 5 giờ chiều tàu mới chạy và đến 10 giờ sáng hôm sau mới tới nơi. Vào khách sạn rồi Vũ Kim Thành đi t́m người quen để tính việc đi Nam Kinh.

    Chẳng may lúc ấy những người quen với Vũ Kim Thành đi vắng cả, tàu bay không lấy được, chúng tôi định đi Hương Cảng. Rồi đến ngày mùng 4 xuống chiếc tàu của người Trung Hoa đi Thượng Hải.
    Khi đi trên tàu, chúng tôi gặp một người hạ sĩ quan Tàu từ Nam Kinh về Quảng Châu rồi trở lên, người ấy vui ḷng nhập bọn với chúng tôi để chỉ dẫn đường lối. Nhờ có người bạn ngẫu nhiên gặp đó, chúng tôi đỡ nhiều nỗi khó khăn.

    Ngày mùng 7, tàu vào đậu ở cửa sông Hàng Phố. Sáng ngày mùng 8, tàu vào Thượng Hải. Chúng tôi lên bờ, đem đồ hành lư ra gửi ở nhà trạm xe lửa, rồi đi ăn cơm, đến chiều xe lửa đi Nam Kinh.
    Sáng ngày mùng 9 đến nơi, nhờ người bạn dọc đường chỉ dẫn cho mới thuê được cái pḥng ở khách sạn Đại Ấn đường Thái B́nh Lộ, giá thuê pḥng là 7000 bạc quốc tệ Tàu một ngày.

    Ngày 11 tôi cùng Vũ Kim Thành đến Hải ngoại bộ hỏi thăm tin tức ông Bảo Đại. Gặp ông bộ trưởng ấy là Trần Khánh Vân, nói rằng: Ông Bảo Đại không có ở Nam Kinh. Việc ấy phải sang hỏi ông Bí thư trưởng Quốc dân đảng là ông Ngô Thiết Thành.
    Ngày 12, chúng tôi đến gặp ông Ngô nói chuyện được ông cho biết ư , chính phủ Tàu muốn ông Bảo Đại đến Nam Kinh. Tôi hỏi:

    - Hiện nay ông Bảo Đại ở đâu?

    - Nghe nói ông ấy đi từ Trùng Khánh đến Hương Cảng. Ông có thể làm bức điện mời ông ấy về đây, để tôi gửi đi ngay th́ chóng hơn.

    Tôi bảo Vũ Kim Thành thảo ngay bức điện tín đưa cho người thư kư ở tổng bộ Quốc dân đảng gửi đi. Thế là bao nhiêu sự mong mỏi trong khi đi khó nhọc vất vả dọc đường đến đó là tiêu tan tất cả.
    Nam Kinh lúc đó chẳng có một người Việt Nam nào khác. May nhờ có ông Ngô Thiết Thành cho người đưa giúp cho 500.000 bạc quốc tệ Tàu (5.000 bạc Đông Dương) mới có tiền ở chờ tin ông Bảo Đại.

    Thành Nam Kinh là một nơi thắng cảnh bên Tàu, v́ là một thành đă từng đặt làm kinh đô trong thời Lục Triều, tức là Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần (222-420) rồi đến khoảng đầu thế kỷ XIV, nhà Minh lúc đó mới dựng nghiệp cũng lập kinh đô ở đó và xây thành bao bọc chung quanh dài đến hơn 30 cây số.
    Thành ấy đến nay hăy c̣n nguyên, song những cung điện cũ chẳng c̣n ǵ cả, chỉ thấy chỗ hoàng thành cũ c̣n một mẩu đá h́nh rồng, người ta nói khi xưa đó là cái cầu trong các cung điện.

    Trong thành có sông có núi, có nhiều chỗ là ruộng đất. C̣n các dinh thự và phố xá ở một khu cũng khá rộng. Song sự sinh hoạt và buôn bán không được náo nhiệt như ở Thượng Hải hay ở Quảng Châu.
    Phía đông bắc ngoài thành có cái hồ Huyền Võ là một nơi đến mùa nực, người ta đi du ngoạn rất tấp nập.
    Những nơi cổ tích mà những thi nhân đời Đường như Lư Thái Bạch, Lưu Vũ Tích và Đỗ Mục nói trong thơ văn là Phượng Hoàng Đài, Bạch Lộ Châu, Thạch Đầu, Ô Ly Hạng, th́ nay chỉ c̣n tên không, chứ không có di tích ǵ nữa.

    Sông Tần Hoài chảy từ phía nam thành rồi ṿng qua phía tây trước khi chảy vào Trường Giang. Phía nam sông Tần Hoài có một nhánh từ thành chảy ra. Phía hữu ngạn nhánh sông ấy có những phố xá cũ đông đúc và dưới sông có nhiều thuyền chơi để những khách làng chơi , đến đêm đem những ca kỹ xuống hát xướng chơi bời.

    Sau khi chúng tôi đến Nam Kinh được mấy ngày, Tổng bộ Quốc dân đảng Tàu có cho người đem xe đến đưa chúng tôi đi xem lăng Tôn Dật Tiên ở cách thành Nam Kinh độ 10 cây số.
    Đường đi rất sạch sẽ và ở chỗ gần lăng người ta trồng rất nhiều cây thông. Lăng ở trên núi, làm theo kiểu mới có vẻ tráng lệ lắm. Những bậc thang lên lăng làm rất rộng lớn và khi đến , trên lăng trông xuống phong cảnh rất vĩ đại.

    Cách chỗ ấy độ vài ba cây số, có lăng vua Minh thái tổ, làm ở chân núi trong một khoảng đất rộng lớn, sự kiến trúc cũ kỹ và có phần đă đổ nát. Những tượng người cùng voi ngựa và lạc đà bằng đá ở xa xa mé ngoài , cũng đă sứt mẻ, không mấy cái c̣n nguyên vẹn.

    Trước kia ở Hà Nội, tôi có gặp ông Lưu Bá Đạt, là người Việt Nam sang bên Tàu đă lâu và cố mời tôi sang với ông Bảo Đại , đă về Nam Kinh và đă có cơ sở làm việc. Đến lúc tôi sang đến nơi, th́ chẳng có ǵ cả, hỏi ra, th́ Lưu Bá Đạt và Lưu Đức Trung ở Thượng Hải. Tôi liền điện đi Thượng Hải mời Lưu Đức Trung lên để bàn tính mọi việc.


    Xem tiếp trang 49 ...

  2. #2732
    Tran Truong
    Khách

    Một Cơn Gió Bụi

    Trần trọng Kim , một nhà học giả , một đời viết lách và sưu tầm , đóng góp không ít vào nền văn học nước nhà . Nhưng định mệnh trớ trêu , đã đẩy ông rơi vào cái mốc quan trọng : bước ngoặt lịch sử !!!
    Ông không thích quan trường , ông không ưa chính trị .... chỉ vì thấy tình cảnh đất nước nhiễu nhương ,lòng người ly tán . Vị nể lời của hoàng đế cuối cùng nhà Nguyễn là Bảo Đại , ông đứng ra thành lập chính phủ của nước Việt Nam lần đầu tiên được Độc Lập Thống Nhất , xé bỏ hiệp định Pa tơ nốt ....

    Một Cơn Gió Bụi viết dưới dạng hồi ký . Ghi lại những diễn biến lịch sử một thời đã qua , mà tác giả trải nghiệm .... Xin mời quí vị cùng các anh các chị theo dõi một chứng nhân lịch sử . Giọng văn hơi cổ xưa ....

    ........................



    Lúc chúng tôi chờ tin Lưu Đức Trung chúng tôi ngẫu nhiên gặp một người đàn bà Việt Nam lấy một người Thượng hiệu Tàu, mới trở về Tàu được vài tháng và cùng ở chung một khách sạn.
    Người ấy gặp chúng tôi mừng rỡ lắm, nói là người ở phố hàng Nón, Hà Nội. Hai người vợ chồng ấy thường đi lại nói chuyện, sau thấy tôi mắc bệnh đau bụng, lại ngày ngày nấu cháo và làm cơm cho chúng tôi ăn. Nơi xa lạ, gặp được người xứ sở thật là quư hóa.

    Chiều ngày 14 tháng bảy, Lưu Đức Trung và Trần Quang Tuyên ở Thượng Hải lên, gặp nhau mừng rỡ quá. Ông Lưu đi lấy buồng ở khách sạn Tân An thuộc con đường Trung Sơn Bắc Bộ, rộng răi và mát mẻ hơn. Hai hôm sau ông Lưu trở về Thượng Hải, để ông Trần Văn Tuyên ở lại với chúng tôi và nói mấy ngày nữa có bốn người ở Trùng Khánh là Đinh Xuân Quảng, Phan Huy Đàn, Đặng Văn Sung, và Thường sắp đến Nam Kinh vào quăng ngày 20 tháng bảy. Mấy người ấy đến, cùng ở một khách sạn với chúng tôi.

    Ai nấy đều ngong ngóng được tin ông Bảo Đại.
    Trước khi sang Tàu, tôi biết thế nào rồi Việt Minh và Pháp cũng đánh nhau, nên tôi có dặn nhà tôi và con tôi rằng: hễ tôi đi rồi, có những người Quốc dân đảng đă hứa sẽ t́m cách đưa gia quyến tôi sang Tàu, để ở tạm vùng biên giới ít lâu, chờ cho yên ổn rồi hăy về. V́ lúc ấy, theo lời những người Quốc dân đảng nói th́ ở biên giới Tàu có các tổ chức sẵn sàng của họ.

    Ngờ đâu là một chuyện vu vơ, chứ không có một chút ǵ gọi là có tổ chức. Tôi lên đến Đồng Đăng tôi biết là nhỡ việc rồi, chưa biết tính thế nào mà báo cho vợ con biết để đừng đi nữa. Vả lúc tôi đi con tôi c̣n đau nặng, tôi chắc là không đi được.
    Sau nhân có bọn Hương Kư mà mấy người nữa chạy từ Móng Cái qua đất Tàu, rồi lên Nam Kinh mà trở về Đồng Đăng. Trong bọn đó có con Hương Kư về Hà Nội, tôi viết mấy chữ nhờ đưa cho nhà tôi, bảo đừng đi đâu cả.

    Nhưng người con Hương Kư về lại không đưa cái giấy ấy. Thành ra khi tôi đang ở Nam Kinh, th́ vợ con tôi đi đường bộ không được, ra Hải Pḥng đi tàu thủy tới Hương Cảng, ấy là không may mà lại hóa may, chứ đi đường bộ th́ không biết chết sống thế nào.
    Khi tôi đi qua Hương Cảng vào ngày mồng 4 tháng bảy, chính là lúc gia quyến tôi và ông Bảo Đại đă ở Hương Cảng rồi, mà tôi không biết, cứ đi thẳng lên Thượng Hải.

    Chúng tôi ở Nam Kinh đến ngày 28 tháng bảy, có người bí thư của trung ương đảng bộ Quốc dân đảng Tàu đem cái điện tín của ông Bảo Đại gửi cho tôi, nói rằng: Tôi không có tiền lên Nam Kinh được, gia quyến của cụ cũng ở Hương Cảng.
    Được tin ấy tôi giật ḿnh. Trong cái t́nh cảnh eo hẹp này, một ḿnh tôi c̣n chưa biết xoay xở ra sao để sống được, nay lại cả gia quyến cùng ra nữa th́ làm thế nào?
    Thật là lo quá.

    Lúc ấy tôi xem lại cái ư những người trong chính phủ Tàu muốn ông Bảo Đại cùng ít yếu nhân Việt Nam sang lập một chính phủ Lưu Vong ở Nam Kinh. Song ông Bảo Đại thấy rơ t́nh thế nước Tầu, cho nên ông không đi qua Nam Kinh mà bỏ về Hương Cảng.
    Tôi biết cái ư của người Tàu. Tôi đến trung ương đảng bộ Tàu nói giúp tiền cho tôi đi Hương Cảng để gặp ông Bảo Đại, rồi nếu thuận tiện, tôi sẽ mời ông ấy đến Nam Kinh.

    Quốc dân đảng Tàu cho tôi vay 1.000.000 bạc quốc tệ (một vạn bạc Đông Dương) và tặng tôi thêm 500.000 bạc (5000) để làm lộ phí. Chiều ngày 30 tháng bảy hồi 4 giờ chiều chúng tôi đi xe lửa qua Thượng Hải.
    Sáng hôm sau đến nơi, chúng tôi đến khách sạn chỗ Lưu Đức Trung ở. Tôi nói t́nh h́nh cho ông Lưu nghe và nhờ đi lấy vé tàu bay. Nhờ có giấy của trung ương đảng bộ giới thiệu, nên việc lấy vé tàu bay cũng nhanh chóng.

    Trước chúng tôi định lấy vé tàu bay đi cả ba người, nhưng từ đầu tháng tám trở đi, giá vé tàu bay phải trả gấp đôi, mỗi người phải trả 270.000 bạc quốc tệ, mà tiền chúng tôi chỉ c̣n hơn triệu bạc quốc tệ.
    Tôi bảo lấy hai vé để Vũ Kim Thành đi với tôi, c̣n ông Măo th́ bảo ông chịu khó đi tàu thủy với bọn ông Thường. Ông Măo tỏ ư không bằng ḷng, nhưng v́ t́nh thế bắt buộc không làm sao được.

    Sáng ngày mùng một tháng tám, Vũ Kim Thành và tôi lên tàu bay, 8 giờ tàu bay cất cánh, bay được một giờ tự nhiên nghe một tiếng nổ, nhưng tàu vẫn bay, chỉ thay đổi phương hướng. Th́ ra tàu bay hỏng, phải quay về Thượng Hải nhưng không ai biết. Khi trở về tới nơi mới có giấy báo tàu bay hỏng phải quay trở lại. Đến 10 giờ hơn chúng tôi phải quay trở lại nhà khách sạn.
    Ai cũng lấy làm lạ, v́ đă thấy tàu bay rồi, sao lại trở về. Ấy cũng là may, người cầm lái là người Mỹ, đă thạo việc, biết máy hỏng mà quay trở lại ngay, nếu không mà cứ đi th́ có lẽ chết cả.

    Sáng hôm sau, 6 giờ lại ra trường bay đi Hương Cảng. Đến 1 giờ trưa đến nơi. Đem hành lư vào để nhà khách sạn rồi tôi cùng Vũ Kim Thành đến Quốc dân đảng bộ hỏi thăm chỗ ông Bảo Đại ở.
    Viên thư kư Quốc dân đảng hết ḷng tử tế, đưa chúng tôi đến khách sạn ông Bảo Đại và gia quyến tôi ở. Đến đó gặp vợ con rất là mừng rỡ, nhưng cái mừng lúc ấy chỉ có được một lát thôi, v́ cái lo đến ngay. Lo về nỗi làm thế nào mà sống ở cái xứ sinh hoạt đắt gấp mười lần bên nước nhà.

    Hôm sau tôi gặp ông Bảo Đại, lời đầu tiên ông nói: Chúng ḿnh già trẻ mắc lừa bọn du côn. Tôi đem t́nh thực tŕnh bày rằng:

    - Ngài không về ở Nam Kinh là phải lắm, v́ xem t́nh thế nước Tàu đang có nạn cộng sản, chính phủ Tàu c̣n gỡ không ra, họ làm thế nào mà giúp chúng ta. Tuy bề ngoài th́ họ đối đăi tử tế và nói những chuyện giúp đỡ nọ kia, nhưng sự thực th́ họ không thể giúp ta được việc ǵ ra tṛ đâu. Vậy chúng ta cứ đứng ở ngoài chờ xem t́nh thế biến đổi ra sao sẽ liệu .

    Ông Bảo Đại cũng đồng ư như vậy. Ông lại nói thêm:

    - Chưa biết chừng bọn Tưởng Giới Thạch cũng phải cuốn gói chạy ngày nào đấy.

    Ấy là câu chuyện nói đầu tháng 8 năm 1946 mà sau hóa ra đúng thật. Tôi cùng gia quyến ở tạm khách sạn, mỗi ngày là 15 dollars Hương Cảng, giá mỗi dollars lúc ấy là 7 đồng Đông Dương, c̣n tiền ăn không kể, tức là mỗi ngày phải tiêu đến 30 dollars.
    Vợ con có ǵ bán đi để tiêu dùng. Ngày ngày đi t́m thuê một gian nhà ở, và để cho con đi kiếm việc làm. Cách ba hôm sau, bọn ông Măo, Sung và ông Thường về Thượng Hải.

    Ông Măo đ̣i về Hà Nội. Tôi thấy ông chán nản lắm rồi, tôi cũng nghĩ ông trở về là phải. Ông Bảo Đại ở khách sạn được 10 hôm , sau khi tôi đến gặp ông, rồi ông nhờ một người Tàu thuê cho ông một căn nhà gần trường đua ngựa, ông dọn đến ở đấy.
    Tôi đi t́m nhà thuê không được. Một căn nhà rất nhỏ hẹp ở chung với một gia đ́nh người Tàu mà cũng phải trả bảy tám chục dollars một tháng.
    Ấy là không kể lúc đến thuê phải trả một thứ tiền gọi là tiền trả cho người có nhà, ít ra là bảy tám chục dollars nữa. Nhà thuê không được, công việc con đi làm cũng không có. Làm thế nào?

    Đặng Văn Sung và Vũ Kim Thành vào Quảng Châu để t́m việc làm. Chúng tôi bàn định nếu ở bên Việt Nam Quốc dâng đảng có tiếp tế sang được, th́ vào cả Quảng Châu lập một cơ sở rồi tụ tập hết thảy những thanh niên chạy sang Tàu, và thu xếp cho ai đi học th́ đi học, ai làm nghề ǵ th́ t́m việc cho làm, c̣n ai làm nghề buôn bán th́ lo việc buôn bán v...v...
    Song đó là những điều dự đoán như vậy mà thôi, trăm việc phải có tiền mới làm được. Tin tức ở trong nước đợi măi chẳng thấy ǵ cả. Sau thấy ông Đỗ Đ́nh Đạo ra Hương Cảng cũng ra tay không, thành ra ai cũng ngong ngóng tưởng đợi có tiền đưa ra th́ khởi đầu tổ chức mọi việc.


    Còn tiếp ...

  3. #2733
    Tran Truong
    Khách

    Một Cơn Gió Bụi

    Trần trọng Kim , một nhà học giả , một đời viết lách và sưu tầm , đóng góp không ít vào nền văn học nước nhà . Nhưng định mệnh trớ trêu , đã đẩy ông rơi vào cái mốc quan trọng : bước ngoặt lịch sử !!!
    Ông không thích quan trường , ông không ưa chính trị .... chỉ vì thấy tình cảnh đất nước nhiễu nhương ,lòng người ly tán . Vị nể lời của hoàng đế cuối cùng nhà Nguyễn là Bảo Đại , ông đứng ra thành lập chính phủ của nước Việt Nam lần đầu tiên được Độc Lập Thống Nhất , xé bỏ hiệp định Pa tơ nốt ....

    Một Cơn Gió Bụi viết dưới dạng hồi ký . Ghi lại những diễn biến lịch sử một thời đã qua , mà tác giả trải nghiệm .... Xin mời quí vị cùng các anh các chị theo dõi một chứng nhân lịch sử . Giọng văn hơi cổ xưa ....

    ........................



    Sau thấy Vũ Kim Thành và Đặng Văn Sung ở Quảng Châu ra bảo tôi vào để gặp tướng Trương Phát Khuê là chủ nhiệm quân sự cả vùng Quảng Đông và Quảng Tây để xem có thể thực hiện được cái chương tŕnh của chúng tôi đă dự định không.
    Hôm 19 tháng tám, tôi vào Quảng Châu lại bị tướng Tiêu Văn ở bên Việt Nam trước,làm mọi điều khó dễ, thành ra tôi lại phải trở ra Hương Cảng không gặp họ Trương.

    Lúc ấy ông Bảo Đại ở cái nhà mới thuê không tiện, ông để cái nhà ấy cho tôi ở, chỉ phải trả mỗi tháng 120 dollars mà không mất tiền trà. Song chủ nhà giao hẹn chỉ được ở ba tháng th́ phải trả lại cho người thuê cũ.
    Cách ít lâu nghe tin ông Nguyễn Tường Tam ở Côn Minh đă lên Nam Kinh, rồi lại thấy ông Nguyễn Hải Thần cũng ra Quảng Châu và cho người mời tôi ra nói chuyện. Tôi vào gặp ông, mới biết ư ông muốn lên Nam Kinh. Lúc ấy quốc hội Trung Hoa sắp họp để chuẩn bị hiếp pháp mới.

    Ngồi nói chuyện với ông Nguyễn Hải Thần, tôi nói: Tôi xem nước Tàu không giúp ta về đường thực tế và ngoại giao đâu, cụ đi vô ích. Nhưng nếu cụ đă định đi, th́ nên xin chính phủ Tàu cho chúng ta một cơ sở ở Quảng Châu để tụ tập các thanh niên Việt Nam chạy sang đây được ở với nhau và nuôi nhau cho khỏi đói khổ.

    Ông Nguyễn nhận lời làm việc ấy. Ông lại bảo tôi nên vào gặp tướng Trương Phát Khuê.
    Tôi vào Quảng Châu lần này, có gặp một người đàn bà nói là cháu ông Tôn Thất Thuyết. Khi ông chạy sang Tàu đến cư trú ở vùng Nam Hùng phía bắc tỉnh Quảng Đông, và mất ở đấy, con cháu thành ra người Tàu cả.

    Tôi trở về Hương Cảng, quanh quẩn đă sắp hết hạn ba tháng thuê nhà. T́m đâu cũng không thuê được nhà khác. Con tôi vẫn không t́m được việc làm. T́nh thế rất bối rối, Đặng Văn Sung định t́m cách về nước xem thế nào.
    Đến khi đi chiếc tàu con của người Tàu Bắc Hải, chiếc tàu ấy chở đồ nặng quá, ra khỏi Hương Cảng được ít lâu th́ tàu đắm. Ông Sung may khỏi chết đuối, lại trở về quần áo mất sạch.

    Khi ấy ở Hương Cảng tôi có biết một người Trung Hoa họ Lư, có nhà buôn bán xuất nhập cảng ở Hà Nội và Hải Pḥng, có giúp tôi hai lần, mỗi lần 2.000 dollars, lúc ấy tính vào khoảng hơn ba vạn bạc Đông Dương. Nhờ có món tiền ấy tôi mới duy tŕ được mấy tháng. Sau tôi nghĩ ở Hương Cảng ăn tiêu đắt quá mà nhà không thuê được, chi bằng dọn vào Quảng Châu ở, cơm gạo c̣n rẻ hơn.

    Tôi đem việc ấy bàn với Đặng Văn Sung và Vũ Kim Thành, hai người đều đồng ư kiến như vậy.
    Đến cuối tháng 10 năm 1946, chúng tôi đến Quảng Châu, nhờ người họ Từ thuê cho được cái nhà ở khu Hoàng Xá, gần Sa Diện, mất 120.000 bạc quốc tệ (120 dollars) tiền trà và mỗi tháng trả tiền thuê nhà là 60.000 quốc tệ (60 dollars).

    Tôi về Quảng Châu ở mấy hôm th́ Đặng Văn Sung và Vũ Kim Thành đi Nam Kinh rồi về Đông Hưng bên Móng Cáy, cốt để t́m cách liên lạc với các bạn trong nước, mong lấy được tiền để đem ra làm những việc đă định.
    Trước khi đi Vũ Kim Thành đưa Nguyễn Dân Thanh đă nói ở trên đến ở với tôi để giúp tôi trong khi có giao thiệp với người Tàu và khi tôi có đi đâu, th́ đi làm thông ngôn cho tôi.

    Rồi sau lại có ông Đỗ Đ́nh Đạo ở Hương Cảng cũng vào ở với chúng tôi.
    Quảng Châu là một thành thị lớn lao vào hạng nh́ hạng ba ở nước Tàu, dân cư trù mật, buôn bán phồn thịnh. Phố xá có nơi đường phố sạch sẽ, nhà cửa rộng lớn, nhưng có nhiều nơi đường xá c̣n giữ nguyên vẻ cũ.
    Giữa đường cứ cách độ trăm thước tây lại có một khải hoàn môn bằng đá đục chạm theo kiểu cổ, đề những khoa thi tiến sĩ đời xưa, chắc là để mừng những người thi đỗ về vinh quy.

    C̣n có những đường, những ngơ lát đá tảng, hai bên có cống rănh bẩn thỉu, nhà cửa lụp sụp và không được sạch sẽ lắm.
    Phía dưới, giáp bờ sông có một khu đất gọi là Sa Diện, chung quanh có con sông nhỏ bao bọc, ở trong là những lănh sự quán, nhà ngân hàng và nhà buôn bán của ngoại quốc. Đường xá khu ấy sạch sẽ và không cho xe cộ đi lại.

    Ngoài thành thị có thể gọi là Phiên Ngung, tức là nơi Triệu Đà đóng đô ngày xưa, nay thấy có mấy cái đồi và mấy cái nhà làm theo kiểu mới. Người ta nói đó là nơi Tôn Dật Tiên đóng trụ sở hồi Quốc dân đảng mới khởi lên.
    Đi xa một đoạn nữa là Hoàng Hoa Cương nơi chôn 72 liệt sĩ trong đảng cách mệnh nổi lên đánh nhà Thanh vào khoảng hơn 40 năm về trước. Nay hàng năm đến ngày 29 tháng ba dương lịch có lễ kỷ niệm những liệt sĩ ấy ở đó.

    Bên cạnh Hoàng Hoa Cương, bên kia con đường có cái ngôi mộ một người Việt Nam tên Phạm Hồng Thái. Ngày 19 tháng sáu năm 1925 lấy danh hiệu một phóng
    viên nhà báo, đến ném tạc đạn vào đám tiệc của người Pháp đăi viên Đông Dương toàn quyền Merlin, khi viên ấy sang Sa Diện. Phạm Hồng Thái ném xong chạy trốn, nhảy xuống sông, chết đuối.
    Người Tàu đem chôn ở chỗ bây giờ, có dựng cái bia do Hồ Hán Dân viết , từ đấy đi xuôi một quăng xa, th́ đến khu trường đại học làm trên những ngọn đồi, cây cối sầm uất, đường xá mát mẻ.

    Nước Tàu th́ ai cũng biết là một nước rộng lớn và có rất nhiều người, nhưng có đi qua các nơi mới thấy rơ sự rộng lớn của nước ấy và sự trù mật của dân nước ấy. Xe chở hành khách chạy trung b́nh 25 cây số một giờ mà phải chạy năm sáu giờ mới hết địa hạt một huyện, và có nhiều làng rất trù mật.
    Những làng bên Tàu không như bên ta có lũy tre bao bọc chung quanh. Nhà cửa ở các làng làm thành dẫy ở hai bên đường như ở các thành thị, chen chúc giáp mái nhau.
    Những nhà mái lợp ngói, tường xây bằng gạch sống xếp chồng lên không có vôi hồ, rồi quét ngoài vôi trắng. Nhà làm theo lối một cửa trước và một cửa sau, c̣n th́ không có cửa sổ hay cửa nào khác nữa, trông xa c̣n khá, nhưng đến gần th́ thấy tiều tụy, vào trong nhà lại thấy tối tăm và gà lợn ở lẫn với người, thật là bẩn thỉu.

    Người Tàu thường ưa ở những cái buồng nhỏ hẹp, khi thấy cái buồng nào rộng, th́ họ lấy gỗ ngăn thành mấy pḥng nhỏ để mấy người hay mấy gia đ́nh ở chứ không thích những buồng rộng răi và khoáng đăng.
    Tôi gặp những người đă sang ở bên ta, nói ta làm nhà để buồng là phí đất. Xem cách làm nhà cửa và những nghệ thuật về đường trang sức của người Tàu h́nh như nó phản chiếu cái h́nh tượng của nước Tàu.
    Nhà cửa hay miếu mạo thường làm to lớn vững chắc, có nhiều buồng nhiều ngơ, và có những kiểu trang sức rậm rạp.

    Những người ở thôn quê th́ làm ruộng làm vườn rất chăm chỉ. Đi qua thấy ở chỗ đồng áng có người làm ruộng tát nước như ở bên ta, nhưng họ không tát nước bằng gầu, mà chỉ tát bằng thứ guồng nhỏ đạp bằng chân.
    Những người ấy trông có vẻ đói rách khổ sở. Đó cũng có lẽ là v́ sự chiến tranh và nổi loạn trong mấy chục năm mà gây ra cái hoàn cảnh thê thảm ấy. Những nơi thành thị lớn gần mé biển, như Thượng Hải hay Quảng châu, th́ sự sinh hoạt rất náo nhiệt nhưng xét kỹ ra th́ c̣n kém về đường tổ chức.

    C̣n ở nội địa như ở Nam Kinh cũng có nhà máy điện , song những đèn không sáng hơn ngọn đèn dầu của ta ngày trước. Những cột đèn th́ thường làm bằng cây tre nhỏ, tưởng có gió to th́ đổ hết cả. Dân ở đấy th́ dùng nước sông đầy bùn.

    Tôi c̣n nhớ ở khách sạn Nam Kinh, sáng dậy người ta cho một chậu nước rửa mặt, để một lát th́ bùn đọng ở đáy chậu một lớp khá dầy. Trời nực ai muốn tắm mất độ 300 bạc quốc tệ, mà người ta chỉ cho vào cái thùng gỗ độ chừng hai ba thau nước. Người Tàu gọi tắm là lấy khăn dúng vào nước rồi lau ḿnh, chứ không phải là
    dúng ḿnh vào nước hay là lấy nước dội lên ḿnh.


    Xem tiếp trang 52 ...

  4. #2734
    Tran Truong
    Khách

    Một Cơn Gió Bụi

    Ối cụ Kim ơi , sao cụ nói ra sự thật làm gì , đụng chạm yới "người lạ" "tầu lạ" . Để nó nhảy nhổm vào phá bĩnh, dùng chữ của Bùi Hiền đem viết vào đây .... thì chỉ Boác ... mới đọc được thôi !!!


    Trần trọng Kim , một nhà học giả , một đời viết lách và sưu tầm , đóng góp không ít vào nền văn học nước nhà . Nhưng định mệnh trớ trêu , đã đẩy ông rơi vào cái mốc quan trọng : bước ngoặt lịch sử !!!
    Ông không thích quan trường , ông không ưa chính trị .... chỉ vì thấy tình cảnh đất nước nhiễu nhương ,lòng người ly tán . Vị nể lời của hoàng đế cuối cùng nhà Nguyễn là Bảo Đại , ông đứng ra thành lập chính phủ của nước Việt Nam lần đầu tiên được Độc Lập Thống Nhất , xé bỏ hiệp định Pa tơ nốt ....

    Một Cơn Gió Bụi viết dưới dạng hồi ký . Ghi lại những diễn biến lịch sử một thời đã qua , mà tác giả trải nghiệm .... Xin mời quí vị cùng các anh các chị theo dõi một chứng nhân lịch sử . Giọng văn hơi cổ xưa ....

    ........................



    Một hôm tôi mới đến Nam Kinh, trời nóng mấy người rủ nhau đi đến nhà tắm công cộng, mỗi người phải trả 450 quốc tệ. Người ta đưa cho mỗi người một cái khăn tắm, giống như cái khăn lau bát của ḿnh.
    Đến lúc vào đến buồng tắm, trời ơi, thấy một cái bể tắm nước đục như nước rửa bát mà có đến , năm sáu người đầy những mụn nhọt, ghẻ lở, đang h́ hụp trong cái bể ấy.

    Trông thấy mà rùng ḿnh rồi, c̣n ai dám tắm nữa. Song người Tàu quen như thế rồi, không cho là ghê tởm, dơ bẩn nữa.
    Tính người Tàu rất cẩu thả, không có làm việc ǵ cho đúng hẹn. Xe hàng hẹn đúng 6 giờ sáng chạy, th́ ít ra cũng phải đợi đến 8, 9 giờ mới bắt đầu đi. Khi có việc cần kíp đánh điện tín đi chỗ nào, tưởng chừng năm ba ngày là chậm, thế mà phải đợi hàng tháng mới tới nơi, có khi lại không bao giờ tới.


    Lúc đầu tôi mới đến Quảng Châu, liền nhờ một người bạn của Vũ Kim Thành, trong chi bộ Quốc dân đảng, đưa đến sở bưu điện đánh cái điện tín lên Nam Kinh hỏi một việc, chờ đến mấy ngày không thấy có tin trả lời.
    Sau tôi đă lên đến Nam Kinh được hơn hai tuần lễ cái điện ấy mới đến nơi. Xem thế th́ mới biết công việc làm ăn ở sở bưu điện của Tàu hỗn độn và cẩu thả chừng nào.

    Thượng Hải, tôi thấy một người làm trong sở quan thuế nói rằng những tiền thu vào được mười phần th́ chính phủ chỉ được có ba phần là cùng, c̣n th́ các công chức trong sở ấy chia nhau mất cả.
    Một chính phủ mà công chức làm việc như thế, th́ làm ǵ mà không đổ nát.
    Việc cá nhân đối với nhau cũng vậy, trừ khi nào người ta có những việc quan hệ tới quyền lợi hay tiền bạc, c̣n th́ ít khi người ta giữ đúng lời hẹn. Trước ta thường nghe người Pháp gọi sự hàm hồ cẩu thả của người Tàu là Chinoiserie, thật có sang bên Tàu mới hiểu rơ cái tiếng chế nhạo ấy.

    Xưa ta học đạo Nho, ta tưởng nước Tàu là nước đạo gốc ấy, tất người Tàu dù sao cũng c̣n giữ được cái căn bản nhân nghĩa, lễ trí, ngờ đâu cái nền học cũ đă tiêu diệt mất hết cả, chỉ thấy rặt những sự đa trí xảo, lừa dối.
    Nhất là những nơi thành thị lớn gần miền bể, người ta đắm đuối vào cuộc sống vật chất hèn kém, không thấy ǵ là lễ nghĩa liêm sỉ cả. Các công chức th́ bất cứ việc ǵ cũng có mánh khóe để ăn hối lộ và những thanh niên phần nhiều xem ra rất xa hoa phù phiếm, và hầu hết đều muốn bắt chước sự hành động, cử chỉ của người Âu, người Mỹ.
    *

    Nhưng h́nh như chỉ có cái vẻ Âu, Mỹ ở bề ngoài, kỳ thực th́ Âu Mỹ chẳng phải Âu Mỹ mà Tàu th́ thật chẳng phải Tàu như ta vẫn tưởng tượng. Cái cảnh bề ngoài nước Tàu ngày nay chẳng thấy ǵ là cảnh tượng một nước đă thấm nhuộm lâu đời trong cái đạo học của nho giáo. Tôi nói cái cảnh tượng bề ngoài mà thôi, v́ tôi là người đi qua đường, thấy thế nào th́ nói thế nấy, chứ hoặc giả c̣n nhiều cái tốt đẹp ẩn nấp ở bề trong nữa, th́ không thể biết được.

    Dù sao cái cảm tưởng của một người ở phương xa đă từng học theo đạo nho và chỉ biết nước Tàu nói trong sách cổ, th́ thật là một cái cảm tưởng rất ngao ngán cho giống người học một đàng làm một nẻo.


    Chương 10
    Cuộc Pháp Việt Chiến Tranh


    Trong lúc chúng tôi c̣n ở Hương Cảng, th́ ông Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam đang hội nghị ở bên Pháp. Cuộc hội nghị ở Fontainebleau khởi đầu vào khoảng giữa tháng năm, măi đến tháng chín mà không xong được việc ǵ cả. **
    Khi người Pháp và người Việt đang bàn căi ở bên Pháp, th́ ở Đông Dương, cao cấp ủy viên là Hải quân trung tướng D Argenlieu họp hội nghị kinh tế ở Đà Lạt có đại biểu Nam kỳ Cộng Ḥa quốc, đại biểu Cao Miên, và đại biểu Ai Lao bàn định mọi việc, coi như không có nước Việt Nam.

    V́ vậy mà cuộc hội nghị bên Pháp lại càng gay go thêm, rút cuộc hội nghị ấy không thành kết quả ǵ cả. Đến cuối thượng tuần tháng chín các phái viên Việt Nam xuống tàu thủy về nước.
    Ông Hồ Chí Minh ở lại đến ngày 14 tháng chín năm 1946, kư thỏa hiệp án (Modus vivendi) với ông Marius Moutet, bộ trưởng bộ hải ngoại Pháp.
    Thỏa hiệp án ấy, đại ư nói theo những điều trong hiệp ước sơ bộ trước , mà giữ thái độ thân thiện cho đến thánh giêng năm 1947, là kỳ hạn cuối cùng, hai bên phải họp hội nghị để giải quyết các vấn đề cho thành bản điều ước nhất định.

    Ông Hồ Chí Minh kư bản thỏa hiệp ấy , rồi chính phủ Pháp cho chiếc tàu binh đưa ông về nước. Thế là sau hai kỳ hội nghị ở Đà Lạt và ở Fontainebleau, việc nước Việt Nam không sao giải quyết được.
    Ông Hồ Chí Minh về đến Hải Pḥng vào quăng tháng giêng, Việt Minh tổ chức việc đón tiếp rầm rĩ, nhưng thực t́nh th́ nhiều người ngậm ngùi v́ t́nh thế mỗi ngày một nguy ngập.

    Dân khí tức giận, thà chết c̣n hơn quay trở lại làm nô lệ như trước.
    Quân Pháp ở Bắc Bộ th́ sẵn sàng tấn công cho nên mới có sự xung đột ở Hải Pḥng vào quăng cuối tháng một. V́ thế lực không đủ, lẽ tất nhiên là quân Việt Minh thất bại phải lui ra ngoài Hải Pḥng.

    Hai bên đều xuống lệnh đ́nh chiến, nhưng quân hai bên vẫn cứ đánh nhau.
    Việc dai dẳng như thế đến mấy ngày, trước ngày 19 tháng chạp dương lịch, th́ người Pháp gửi tối hậu thư cho chính phủ Việt Minh bắt phải giao sở công an cho họ, hẹn đến ngày 20 là hết hạn.

    Chính phủ Việt Minh biết là không sao tránh khỏi sự tấn công của quân Pháp bèn mưu sự đánh trước một ngày để mong được thắng lợi trong khi bất ngờ. Xem như vậy th́ người Pháp cũng có một phần khá lớn trong cái lỗi đă gây ra cuộc Pháp Việt chiến tranh kéo dài cho đến ngày nay.

    Trước ngày 19 tháng chạp năm 1946, các yếu nhân trong chính phủ, quân chính quy Việt Minh đă rút ra ngoài cả rồi, chỉ có các đội quân tự vệ ở lại để đánh phá và bắt người Pháp và những người Việt Nam theo Pháp.
    Quân tự vệ chống với quân Pháp trong thành Hà Nội được hai tháng mới rút lui. Trong khi hai bên chống cự nhau , phần th́ quân Pháp bắn phá, nhà cửa phố xá bị đốt rất nhiều. Những phố như hàng Ḥm, hàng Thiếc v...v... bị đốt phá gần hết.

    Những nhà nào chủ nhà bỏ chạy, th́ quân Pháp vào lấy đồ đạc, của cải, rồi sau lại cho bọn người Tàu vào cướp phá. Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân
    tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ, rất quí, tích trữ trong mấy chục năm, đều hóa ra tro tất. Tôi vẫn chưa hiểu v́ lẽ ǵ mà họ đốt nhà tôi, hoặc là v́ đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc là Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bơ tức.

    Cái chiến lược của Việt Minh khi ấy là nếu chiến đấu thắng th́ thôi, không th́ rút ra ngoài, rồi sẽ dùng phương sách du kích và tiêu thổ, nghĩa là đốt phá hết sạch những nhà cửa dinh thự, chỉ để lại đám đất không.
    Đối với nghĩa quân Việt Minh th́ cái phương sách thứ hai có hai chủ đích: một là gây sự cản trở cho quân địch, đi đến đâu không có chỗ cư trú, tiện lợi cho sự du kích của ḿnh.
    Hai là làm cho dân cư ở những phố phường trong các thành thị mất cả nhà cửa cơ nghiệp, rồi đói khổ điêu đứng, chỉ có theo cộng sản là sống , mà không theo là chết.

    V́ thế cho nên có nơi họ phá hoại từ xưa tới nay chưa từng có bao giờ.
    Khi việc chiến tranh đă bùng nổ ở Bắc Bộ, chúng tôi ở bên Quảng Châu ai cũng ngơ ngác, không biết nghĩ sao. Một bên người Pháp cố t́nh muốn lập lại chủ quyền như cũ, việc ấy dù muốn che đậy thế nào mặc ḷng, người ta đă trông thấy rơ khi quân Pháp đổ bộ lên Hải Pḥng và Hà Nội.

    Một bên là Việt Minh đă trải bao phen hứa hẹn giữ nền độc lập của nước nhà, không lẽ lại bó tay chịu hàng phục người Pháp. Thành ra hai bên tuy có hội nghị ở Đà Lạt và ở Fontainebleau, nhưng kỳ thực là dùng mưu thuật để lừa nhau, chứ không có cái ǵ là thành thực th́ không sao tránh khỏi chuyện xung đột được.

    Trong cái t́nh thế ấy, những người ngay chính , v́ nước rất khó nghĩ. Việt Minh th́ chỉ muốn dùng cách áp chế để củng cố địa vị của ḿnh. Ai theo họ th́ họ để yên, ai không theo họ th́ bị bắt bớ, chém giết, mà theo họ th́ nhiều người không làm được những việc họ làm.

    Pháp th́ dùng vơ lực mà đàn áp và dùng quyền mưu để lấy thắng lợi. Người Việt Nam ai đă có ḷng yêu nước th́ không sao theo Pháp được, trừ ra một bọn xu danh trục lợi không kể. Trong cái hoàn cảnh bối rối đau đớn ấy chúng tôi lại thấy những nhà cách mạng ở bên Tàu như bọn ông Nguyễn Hải Thần tuy có ḷng tốt, nhưng không đủ tài năng mà cáng đáng việc lớn.

    Chúng tôi quay về mặt nào cũng không thấy có phương pháp nào giúp được nước.
    Một hôm vào khoảng cuối tháng giêng năm 1947, tức là mấy ngày trước tết nguyên đán năm Đinh Hợi, ông Bảo Đại vào Quảng Châu, có gặp tôi nói chuyện về việc nước nhà.
    Ông rất băn khoăn về việc bắc bộ. Tôi nói rằng:

    - Tuy Việt Minh đă có nhiều điều lầm lỗi, nhưng nay họ đă đứng về phương diện kháng chiến để dành độc lập, th́ họ có cái thế danh chính ngôn thuận, ai làm trái ngược lại là dân chúng không theo. Chúng ta đành phải để thời cơ biến chuyển ra sao rồi sẽ tính. Nay việc chiến tranh đă xảy ra, tức là có bên được bên thua, chờ đến khi t́nh thế rơ rệt, ta sẽ liệu có thể làm được việc ǵ ích lợi cho nước.

    Ông Bảo Đại ở Quảng Châu mấy ngày rồi trở ra Hương Cảng.
    Lúc ấy tôi đang ở trong cái hoàn cảnh nguy ngập, tiền th́ sắp hết, ở trong th́ đă đánh nhau, th́ không mong có sự tiếp tế được nữa. Tôi tính chỉ c̣n đường về Sài g̣n, có bạn bè và bà con có thể tư trợ cho được ít lâu. Tính như thế nhưng biết là thế nào mà về được. Đột nhiên ông Bảo Đại cho người ra
    Quảng Châu mời tôi ra Hương Cảng có việc cần.

    Tôi ra Hương cảng gặp ông Bảo Đại, ông nói rằng: Có một người Pháp bên Đông Dương sang đây, muốn gặp chúng ta để nói chuyện về việc bên nước ta, cho nên tôi mời cụ qua để bàn tính cho kỹ về việc ấy. Người Pháp ấy là ông Cousseau, trước có biết cụ.


    Còn tiếp ...

    * _ Cái này giống y chang như VN hiện giờ , Tây chẳng ra Tây , Việt chẳng ra Việt !!!! Chắc là ra Tàu ... mà thôi .

    **_ Ngày 19/5/46 , theo như TTK thì HCM đang ở Pháp . Thế mà Hànôi treo cờ đón D'Argenlieu đến Hà Nội chiều ngày 18-5-1946. Hồ Chí Minh và D'Argenlieu gặp nhau hai lần trong hai ngày liên tiếp 19 và 20-5-1946, nhưng không đạt kết quả đáng kể.

    Nếu HCM đang ở Pháp , thì không có chuyện treo cờ chào đón sinh nhật HCM được , mà chỉ treo cờ để chào đón đô đốc Pháp D'Argenlieu mà thôi . Nhớ rằng lúc này ông TTK đang bên Tàu , nên không thể biết rõ những gì đang xảy ra trong nước .

  5. #2735
    Tran Truong
    Khách

    Một Cơn Gió Bụi

    Trần trọng Kim , một nhà học giả , một đời viết lách và sưu tầm , đóng góp không ít vào nền văn học nước nhà . Nhưng định mệnh trớ trêu , đã đẩy ông rơi vào cái mốc quan trọng : bước ngoặt lịch sử !!!
    Ông không thích quan trường , ông không ưa chính trị .... chỉ vì thấy tình cảnh đất nước nhiễu nhương ,lòng người ly tán . Vị nể lời của hoàng đế cuối cùng nhà Nguyễn là Bảo Đại , ông đứng ra thành lập chính phủ của nước Việt Nam lần đầu tiên được Độc Lập Thống Nhất , xé bỏ hiệp định Pa tơ nốt ....

    Một Cơn Gió Bụi viết dưới dạng hồi ký . Ghi lại những diễn biến lịch sử một thời đã qua , mà tác giả trải nghiệm .... Xin mời quí vị cùng các anh các chị theo dõi một chứng nhân lịch sử . Giọng văn hơi cổ xưa ....

    ........................



    Hôm sau ông Bảo Đại với tôi gặp ông Cousseau, nói chuyện chiến tranh ở bắc bộ, ai bị bắt, ai bị giết... Sau ông nói rằng:

    - Cao cấp ủy viên Pháp bên Đông Dương muốn hết sức điều đ́nh để đem lại cuộc ḥa b́nh, nhưng v́ Việt Minh lừa dối, nên mới có sự chiến tranh, thật là thiệt hại cho cả hai bên.

    Tôi nói:

    - Cuộc chiến tranh này, do sự tôi biết, là phần lớn tại các ông gây ra. Nước Việt Nam chúng tôi là một nước từ Nam chí Bắc có tính cách duy nhất, đồng một ngôn ngữ, một phong tục lịch sử, mà các ông đem chia từng mảnh, rồi lại lập ra Nam Kỳ Cộng Ḥa Quốc và gây những sự trêu chọc, thật rơ rệt là các ông không muốn ḥa b́nh.

    - Đó là những việc tạm bợ nhất thời mà thôi, v́ có nhiều nơi không theo Việt Minh. Nếu có những người quốc gia đứng đắn ra điều đ́nh th́ nước Pháp sẽ sẵn sàng nhượng bộ.

    - Việc điều đ́nh bây giờ, muốn cho thành công, th́ phải có toàn dân ưng thuận mới được. Mà nay số nhiều dân chúng đă theo Việt Minh, đứng vào mặt trận kháng chiến, tất là phải làm sao cho dân vừa ư mới mong có kết quả.

    - Việc ấy là việc của các ông. Các ông là người yêu nước nên ra sức mà giúp nước các ông. Trong cái t́nh thế ngày nay, cứ như ư ông th́ nước Pháp phải làm thế nào cho người Việt Nam vừa ư?

    - Nước Pháp phải trả cái quyền độc lập cho nước chúng tôi và cho nước chúng tôi thống nhất từ Nam chí Bắc.

    - Việc thống nhất có thể được, nhưng sự độc lập th́ hiện bây giờ chính phủ Pháp chưa nghĩ đến , tôi không thể nói được. Các ông nên t́m những điều kiện cho hai bên có thể thỏa thuận được.

    - Xin để chúng tôi nghĩ kỹ rồi mai chúng tôi xin cho ông biết.

    Tôi về bàn với ông Bảo Đại, rồi kê ra 7 điều sau này để đưa cho ông Cousseau:

    1- Lập lại nền thống nhất của nước Việt Nam, gồm cả ba kỳ và các dân tộc thiểu số như Mường, Mọi, Thái... Nghĩa là lập lại nền thống nhất như các triều trước đời Tự Đức.
    2- Nước Việt Nam chưa được độc lập hẳn, th́ ít ra cũng được hoàn toàn tự trị, người Pháp không can thiệp vào việc cai trị trong nước.
    3- Định rơ cái địa vị nước Việt Nam trong các nước liên hiệp của Pháp. Việc liên kết với Cao Miên mà Ai Lao là việc riêng của mấy nước lân bang chúng tôi. Chúng tôi xin bỏ cái dự án liên bang ở Đông Dương, v́ đó là một cách lập lại chế độ Đông Dương toàn quyền. Chúng tôi nhất quyết không muốn ở dưới quyền một chức toàn quyền như trước nữa. Nước Pháp nên đổi thái độ mà theo đúng tinh thần thời nay, đừng cho đổi cái tên gọi mà vẫn giữ sự thực như cũ.
    4- Nước Việt Nam phải có quân đội quốc pḥng độc lập.
    5- Nước Việt Nam sẽ có các cơ quan tài chính cho đúng với cái nghĩa một nước tự chủ. Chúng tôi sẽ sẵn sàng xét các quyền lợi về đường kinh tế của nước Pháp và các nước lân bang như Cao Miên và Ai Lao cho đúng lẽ công bằng.
    6- Nước Pháp nên định một cái hạn trong mấy năm sẽ cho nước Việt được độc lập hẳn.
    7- Nước Việt Nam sẽ có đại biểu ngoại giao với các nước ở Á Đông và các nước khác có quyền buôn bán với Việt Nam.

    Bảy điều ấy là những điều chúng tôi đưa cho người đại biểu cao ủy Đông Dương là ông Cousseau vào khoảng đầu năm 1947. Ông Cousseau xem rồi nói rằng:

    - Nước Pháp sẽ cho nước Việt Nam được hơn nữa. Chỉ có một điều thứ sáu là hẹn cho hoàn toàn độc lập, th́ nay tôi không dám chắc, v́ tôi không có phận sự bàn về việc ấy.

    Tôi nói:

    - Nước Pháp ưng thuận những điều ấy, th́ phải đảm nhận hẳn ḥi, rồi cựu hoàng Bảo Đại sẽ đứng ra điều đ́nh với quân kháng chiến để đem lại ḥa b́nh. Nhưng cần nhất là phải để cho cựu hoàng hành động tự do, người Pháp đừng ra mặt can thiệp vào việc của ngài làm. Chỉ xin một điều là cho những người làm việc ra Hương Cảng giúp cựu hoàng mà làm việc.

    Ông Cousseau nói:

    - Những việc ấy có thể được cả, nhưng để tôi điện về Sài g̣n và chờ bên ấy trả lời ra sao đă.


    Chương 11
    Về Sài G̣n


    Sau cuộc nói chuyện với ông Cousseau, ông Bảo Đại bảo tôi rằng:

    - Trong cái t́nh thế này, cụ nên về tận nơi, trực tiếp với mấy người cầm quyền của Pháp xem t́nh ư của họ như thế nào. Nếu thật làm được, th́ cụ lại trở ra, ta sẽ trù tính mọi việc.

    Tôi nói:

    - Đây là mới gặp ông Cousseau, ta đă tin ǵ mà về. Một ḿnh tôi về, có bị sao cũng không ngại mấy, nhưng công việc chưa ra ǵ mà đă mắc lừa th́ dại quá.

    Ông nói:

    - Nước ḿnh đang lâm vào cảnh khổ v́ chiến tranh, nay có cơ hội may ra có thể cứu được nước mà ḿnh do dự không làm ǵ th́ sao cho phải, cụ nên nghĩ kỹ.

    Khi ấy ông Cousseau ở lại Hương Cảng để chờ tin bên Đông Dương, tôi về ăn tết nguyên đán ở Quảng Châu. Trước khi về, ông Bảo Đại biết tôi không tiền, có đưa giúp tôi 500 dollars, nhưng hôm sau ra nhà trạm xe lửa bị kẻ cắp lấy mất. Rơ là vận đen, làm việc ǵ cũng đen.
    Sau tết nguyên đán được dăm hôm, ông Bảo Đại cho người bảo tôi đem cả gia quyến ra Hương Cảng. Chúng tôi đi tàu thủy ra tới nơi, đến gặp ông Bảo Đại. Ông nói rằng:

    - Cụ về rồi, tôi có nói chuyện thêm với ông Cousseau, tôi tưởng cụ nên về Sài g̣n và nhân tiện đem cả gia quyến về, chứ để nheo nhóc ở bên này chẳng có ích ǵ.

    Tôi nghĩ: một ḿnh tôi ở ngoài này đă vậy, lại có vợ con chạy ra đây, thiếu thốn đủ mọi đường. Nay đă có cơ hội đem cả về cho yên chỗ là phải. C̣n về việc nước, th́ người Pháp đă muốn điều đ́nh và có ư nhận cho nước Việt Nam thống nhất tự chủ, người ḿnh có đánh nhau đến cùng cũng không thể đ̣i hơn được. Chi bằng ta cứ về cho biết rơ t́nh thực. Nếu thuận tiện làm được ǵ th́ làm mà không th́ thôi, cũng không sao.

    Sau tôi gặp ông Cousseau, ông cũng nói:

    - Nếu cụ bằng ḷng về th́ tôi thu xếp giấy má xong ngay, rồi chờ có chuyến tàu thủy th́ chúng ta cùng về cả. Về bên ấy cụ sẽ có nhà ở và không phải lo ǵ cả.

    Tôi nói:

    - Tôi về chỉ cần gặp được ông cao cấp ủy viên để nói chuyện cho rơ ràng rồi cho tôi trở sang tŕnh bày cho cựu hoàng biết, lúc ấy có làm ǵ mới làm được. Về bên ấy tôi muốn gặp mấy người như ông Hoàng Xuân Hăn, ông Vũ Văn Hiến, để hỏi ư kiến và việc làm.

    Ông nói:

    - Việc ấy rất dễ, và lúc nào cụ trở sang cũng được.

    Công việc định như thế rồi, chờ tàu Champollion ở Thượng Hải đến là về cả. Lúc ấy có ông Đinh Xuân Quảng và Phan Huy Đán ở Thượng Hải mới về Hương Cảng, biết rơ công việc bàn định ấy, đều cùng xin về với chúng tôi.

    Trước khi đi, ông Bảo Đại có dặn cách gửi thư cho ông và lại đưa cho cái thư, bảo tôi về gặp bà Didelot, là chị hoàng hậu, mà đưa tận tay cho bà ấy. Tôi hỏi rằng:

    - Về bên ấy rồi, người Pháp không cho tôi trở sang lại th́ sao .

    Ông nói rằng:

    - Nếu họ không để cho cụ sang th́ tôi c̣n bên này, cụ đừng lo.


    Xem tiếp trang 58 .....

  6. #2736
    Tran Truong
    Khách

    Một Cơn Gió Bụi

    Trần trọng Kim , một nhà học giả , một đời viết lách và sưu tầm , đóng góp không ít vào nền văn học nước nhà . Nhưng định mệnh trớ trêu , đã đẩy ông rơi vào cái mốc quan trọng : bước ngoặt lịch sử !!!
    Ông không thích quan trường , ông không ưa chính trị .... chỉ vì thấy tình cảnh đất nước nhiễu nhương ,lòng người ly tán . Vị nể lời của hoàng đế cuối cùng nhà Nguyễn là Bảo Đại , ông đứng ra thành lập chính phủ của nước Việt Nam lần đầu tiên được Độc Lập Thống Nhất , xé bỏ hiệp định Pa tơ nốt ....

    Một Cơn Gió Bụi viết dưới dạng hồi ký . Ghi lại những diễn biến lịch sử một thời đã qua , mà tác giả trải nghiệm .... Xin mời quí vị cùng các anh các chị theo dõi một chứng nhân lịch sử . Giọng văn hơi cổ xưa ....

    ........................


    Tôi hỏi như thế là v́ tôi vẫn không tin lời ông Cousseau nói, vả lại có một người quen của ông ấy nói với tôi rằng: ông Cousseau nói với người ta rằng: Ông Kim đừng mơ tưởng. Tôi mơ tưởng cái ǵ?
    Tôi về nếu mà người Pháp thành thực, th́ là việc giúp nước trong lúc nguy nan, ngược bằng có ư lừa dối th́ thôi, chứ tôi có mưu cầu danh lợi ǵ đâu mà bảo đừng mơ tưởng.

    Việc đă định rồi th́ cứ về. Sáng ngày mùng 2 tháng hai năm 1947 chúng tôi xuống tàu Champollion, đến ngày mùng 5 đến Sài g̣n, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.
    Trước khi đi ông Cousseau đă giao hẹn về đến Sài g̣n sẽ có nhà ở. Nhưng từ khi đến nơi xem ra bộ , ông lúng túng, tôi bảo ở đây tôi quen ông Trịnh Đ́nh Thảo, chúng tôi hăy tạm lên ở đấy. Thế là chúng tôi thuê xe về cả nhà ông Thảo.

    Ông Trịnh Đ́nh Thảo từ khi ở Huế về, đóng cửa trong nhà, không làm việc ǵ cả. Bất th́nh ĺnh thấy chúng tôi kéo đến, rất lấy làm ngạc nhiên và lo sợ. Lo sợ là không biết chúng tôi về làm ǵ. Sau khi tôi nói chuyện t́nh đầu cho ông nghe, ông mới yên bụng.
    Ở đấy được vài hôm, ông Cousseau nói chưa t́m được nhà. Ông Quảng và ông Đán đi t́m chỗ khác ở. Nhà tôi t́m thấy người anh ruột là ông cử Bùi Khải rồi cũng về đó ở.

    Tôi ở lại nhà ông Thảo, v́ tôi về Sài g̣n là đă giao hẹn từ trước nên giữ kín đừng cho ai biết, chờ đến khi biết rơ sự thực rồi trở sang Hương Cảng, bấy giờ có làm việc ǵ mới làm. Thế mà cách mấy hôm đă có người đến t́m tôi. Tôi phải từ chối không tiếp ai cả.
    Mấy hôm sau nữa, ông Pignon lúc ấy làm ủy viên coi việc chính trị, đến gặp tôi ở nhà ông Thảo, ngồi nói chuyện rất ôn ḥa và cho tôi biết ông cũng đồng ư về mấy điều tôi đă đưa cho ông Cousseau khi ở bên Hương Cảng, nhưng v́ cao cấp ủy viên Pháp là trung tướng D' argenlieu phải về Pháp, chờ cho đến khi ông trở sang mới nói chuyện được.

    Tôi có nhắc lại chuyện cho tôi được gặp những người như ông Hiến, ông Hăn và ông Khiêm, th́ ông Pignon nói rồi sẽ đưa những người ấy vào gặp tôi. Nói thế
    nhưng rồi sau chẳng thấy ai cả.
    Tôi xem cái t́nh thế trong nước phía bên người Pháp, th́ có mấy phái. Có phái th́ muốn lập lại chủ quyền như trước, chỉ thay đổi có cái tên gọi mà thôi. Có phái th́ muốn chủ trương sự lập Đông Cung mới 11 tuổi lên làm vua, để bà Hoàng Hậu nhiếp chính. Có phái th́ muốn ít ra cũng tách nước nam bộ đặt dưới quyền điều khiển ngấm ngầm của họ.

    Rồi mỗi phái có một bọn người Việt Nam, v́ quyền lợi riêng cũng phụ họa thêm vào. Song những người Việt Nam ấy là một thiểu số ít ỏi lắm, mỗi khi họ muốn hội họp để biểu t́nh ǵ đó, chỉ thấy có độ vài ba trăm người là cùng.
    Phía bên người Việt Nam th́ có phái Việt Minh, phái quốc gia và cái phái tôn giáo như Thiên Chúa giáo, Cao Đài giáo và Ḥa Hảo giáo v...v... Song hoạt động hơn cả là phái Việt Minh, nào tuyên truyền, nào thóa mạ, nào ám sát là việc họ thường làm rất táo bạo và hăng hái. Cái phái khác tuy không ưa Việt Minh, nhưng cũng v́ Việt Minh có cái danh nghĩa chống Pháp để đ̣i lại nền độc lập, cho nên có nhiều người khuynh hướng về mặt trận kháng chiến.

    Tôi nghe thấy nhiều người nói rằng: Chúng tôi chẳng ưa ǵ cộng sản, nhưng họ đă có cái tổ chức để kháng chiến, th́ hăy đi kháng chiến đă, rồi sau nếu mà thành công, th́ ta sẽ liệu với nhau, chứ cúi đầu làm nô lệ cho Pháp như trước, thà chết th́ thôi chứ không bao giờ chịu.
    C̣n một phần hoặc v́ quá ghét Việt Minh hoặc v́ Việt Minh áp chế để chuyên giữ độc quyền, cho nên thành ra có phe nọ đảng kia, chia rẽ giết hại lẫn nhau.

    Ông Nguyễn Văn Sâm trước là người đă được bổ làm nam bộ khâm sai, thường đến gặp tôi nói chuyện. Tôi nói với ông rằng:

    - Theo cái t́nh thế này, th́ làm thế nào rồi ta cũng phải điều đ́nh với nước Pháp mới xong việc. Xong muốn cho sự điều đ́nh có lợi cho nước nhà th́ người trong nước phải đoàn kết chặt chẻ với nhau mới được. Nếu không th́ chỉ mắc mưu người ta lợi dụng rồi chẳng được ǵ cả.

    Ông Sâm nói:

    - Ḿnh muốn đoàn kết nhưng Việt Minh đâu có thật ḷng đoàn kết! Họ chỉ muốn ḿnh theo họ để làm tay sai cho họ củng cố địa vị mà thi hành cái chủ nghĩa cộng sản của họ, chứ thực ra họ có thiết ǵ đến quốc gia. Như vậy th́ đoàn kết sao được.

    Tôi thấy thế rất lấy làm buồn và chán nản.
    Người Pháp th́ không hiểu cái tâm lư của người Việt Nam, lại ỷ thế có sức mạnh, muốn làm cho người ta sợ, nào bắt bớ, nào cướp bóc, dâm hiếp, rồi nói chiến tranh là chiến tranh. Làm như thế, cái ḷng phẫn uất của người ta càng ngày càng tăng thêm lên. Họ không biết rằng sự sợ có giới hạn, khi đă quá lắm, khi người ta đâm liều, mà đă liều th́ không có ǵ ngăn cản được nữa.

    Một bên th́ gian ác, hiểm độc ai cũng biết, nhưng lại mượn được cái danh nghĩa rơ ràng. Một bên th́ quyền mưu giả dối, mà lại bạo ngược tàn ác, trái với ḷng người. Như thế làm thế nào mà đem lại ḥa b́nh được.
    Theo cái tư tưởng của người đời xưa bên Á Đông ta, có câu rằng: Công thành bất như công tâm, nghĩa là đánh thành tŕ không bằng đánh lấy ḷng người. Người Pháp chỉ biết lấy vơ lực mà đàn áp, chứ không biết cách làm cho người ta kính phục. Những người họ đem ra làm việc với họ phần nhiều là những người xu nịnh, chỉ muốn thừa thời cơ mà làm sang làm giàu, chứ không nghĩ ǵ đến liêm sỉ, tiết nghĩa.

    Những người ấy người Pháp có thể sai khiến, nhưng đối với dân chúng trong nước, không những là không có uy tín ǵ, mà lại gây thêm cái ḷng oán ghét. V́ người Pháp làm những việc thất sách như thế cho nên cái thế Việt Minh vẫn mạnh và giữ vững được mặt trận kháng chiến.
    Có người Pháp nói rằng: Nếu người Việt Nam không mến người Pháp, sao những nơi thuộc quyền kiểm soát, dân cư càng ngày càng đông hơn trước. Họ lấy thí dụ như khu Sài g̣n, Chợ Lớn trước khi có sự chiến tranh chỉ có 500.000 người mà đến năm 1949 có đến 1.500.000 người.

    Đó không phải là cái chứng xác đáng về sự ḷng dân mến người Pháp. Người ta về chỗ thành thị thuộc người Pháp kiểm soát cũng bị nhiều sự bắt bớ cực khổ, nhưng chỉ có bị một bên thôi, c̣n ở phía thuộc quyền Việt Minh kiểm soát th́ đă bị Việt Minh đàn áp, lại bị quân Pháp đến đánh phá, bắn giết, thành một cổ đôi tṛng, cho nên người ta phải t́m đến chỗ hại ít mà lánh ḿnh.
    Hăy hỏi những người thường ở những nơi thành thị, th́ ai cũng nói ở chỗ bị một cái khổ c̣n hơn ở chỗ bị hai cái khổ. Tựu trung trong những người về ở chỗ đô hội đó, cũng có một số người v́ quyền lợi muốn theo Pháp, nhưng không phải là ai cũng mến Pháp mà về.

    Khi tôi c̣n chờ đợi ở nhà ông Thảo, có người Pháp đến bảo tôi rằng:

    - Chính phủ ở đây có tiền, có nhà in sẵn sàng, cụ nên ra mặt làm việc đi.

    Tôi nói:

    - Tôi về đây cốt để biết rơ cái ư định người Pháp và xem t́nh h́nh trong nước thế nào, rồi ra nói cho cựu hoàng Bảo Đại biết, lúc ấy có làm ǵ hay không mới quyết định được.

    Người Pháp thấy tôi không chịu làm ǵ, bèn nói nọ nói kia. Một hôm tôi thấy trong một tờ báo Sài g̣n, đăng một đoạn rằng: người Pháp đem tôi về, là cốt để tôi không mưu mô bên cạnh ông Bảo Đại. Cái ư ấy có lẽ đúng sự thực. V́ xem ư người Pháp lúc ấy là muốn lợi dụng ông Bảo Đại, mà để tôi gần ông sợ có điều bất tiện, nên mới hứa hẹn đủ mọi điều để đem tôi về.
    Nếu có lợi dụng được th́ dùng mà không th́ để cho xa cách ông Bảo Đại ra, rồi đưa những người thân tín của họ ra làm việc cho dễ. Tôi lại thấy bao nhiêu điều hứa hẹn của ông Cousseau là không có ǵ cả.

    Những người tôi muốn gặp đều không có ai, mà lại thấy những người như ông Phan Văn Giáo, ông Trần Đ́nh Quế, thường muốn đến gặp tôi, tôi không tiếp ai cả. Rồi đến những người cùng về với tôi như ông Đinh Xuân Quảng và ông Phan Huy Đán đều đi làm việc với ông Quế và ông Giáo.
    Khi tôi mới về Sài g̣n, tôi có đến gặp ông cố đạo Moreau do ông Bảo Đại giới thiệu, nói chuyện rất tử tế. Tôi nói:

    - Cựu hoàng Bảo Đại có cái thư riêng, bảo tôi đưa tận tay cho bà Didelot, nhờ cố giới thiệu hộ.

    Cố nói:

    - Bà ấy bây giờ ở Đà Lạt, độ một tuần lễ nữa mới về. Khi nào bà ấy về, sẽ báo cho ông biết.

    Độ hơn một tuần lễ sau, tôi nghe nói bà ấy đă về, tôi cho người hỏi cố Moreau, cố nói:

    - Bà ấy đă về nhưng bận lắm, không biết bà ấy có tiếp được không.

    Cố lại thêm rằng:

    - Bà ấy chỉ yêu cháu bà ấy thôi.


    Xem tiếp trang 61 ...

  7. #2737
    Tran Truong
    Khách

    Một Cơn Gió Bụi

    Trần trọng Kim , một nhà học giả , một đời viết lách và sưu tầm , đóng góp không ít vào nền văn học nước nhà . Nhưng định mệnh trớ trêu , đã đẩy ông rơi vào cái mốc quan trọng : bước ngoặt lịch sử !!!
    Ông không thích quan trường , ông không ưa chính trị .... chỉ vì thấy tình cảnh đất nước nhiễu nhương ,lòng người ly tán . Vị nể lời của hoàng đế cuối cùng nhà Nguyễn là Bảo Đại , ông đứng ra thành lập chính phủ của nước Việt Nam lần đầu tiên được Độc Lập Thống Nhất , xé bỏ hiệp định Pa tơ nốt ....

    Một Cơn Gió Bụi viết dưới dạng hồi ký . Ghi lại những diễn biến lịch sử một thời đã qua , mà tác giả trải nghiệm .... Xin mời quí vị cùng các anh các chị theo dõi một chứng nhân lịch sử . Giọng văn hơi cổ xưa ....

    ........................



    Khi ấy có ông Phạm Khắc Ḥe, nguyên đổng lư văn pḥng của vua Bảo Đại trước, đang ở Sài g̣n, tôi nhờ ông Ḥe đến hỏi bà ấy xem bà ấy có tiếp th́ tôi đến đưa cái thư của ông Bảo Đại cho bà ấy. Ông Ḥe đi rồi về nói rằng: Bà ấy nói không tiếp người làm việc chính trị, nhưng ông Kim có muốn gặp th́ chỉ tiếp trong năm phút thôi.
    Tôi sở dĩ muốn gặp bà Didelot là v́ có cái thư của ông Bảo Đại nhờ tôi đưa tận tay cho bà ấy, chứ có cầu cạnh ǵ đâu. Tôi thấy thái độ của bà ấy như thế, tôi không đến và nhờ ông Ḥe đem cái thư ấy lại cho bà ấy. Tôi kể cái chuyện lặt vặt ấy là v́ có một sự ǵ u ẩn mà tôi chưa rơ.

    Có một điều tôi lấy làm lạ rằng là ở Sài g̣n dưới quyền kiểm soát của người Pháp mà lại có nhiều báo chí Việt Nam công nhiên ra mặt bênh vực Việt Minh. Có người viết trong báo rằng: Tôi lấy làm hân hạnh được là người của Việt Minh.
    Tôi hỏi sao ở đây người Pháp đối với những báo ấy lại rộng răi như thế? Người ta chỉ cười mà không đáp lại.
    Việc làm của người Pháp thật là ngoắc ngoéo khó hiểu. Họ đánh nhau với Việt Minh mà lại dung túng người của Việt Minh. Họ nói muốn điều đ́nh với những người trong phái quốc gia, mà lại cản trở việc làm của phái quốc gia.

    Trong phái này có ông Nguyễn Văn Sâm ra mặt chống Việt Minh, th́ bị người Pháp ghét và bị Việt Minh hăm dọa. Khi tôi gặp ông, tôi khuyên ông rằng:

    - Tôi xem t́nh thế khó lắm, ông có làm việc ǵ phải thận trọng, đừng có khinh xuất mà mắc mưu gian.

    Ông Sâm nói:

    - Tôi cũng biết thế, nhưng không lẽ vận nước gian nan mà ḿnh ngồi nh́n, thà chúng ta cứ đứng ra thành lập mặt trận quốc gia thống nhất để cho người ngoài biết trong sự hành động kháng chiến không phải ai cũng là Việt Minh cộng sản hết cả. Rồi đây chúng tôi sẽ tái bản tờ báo Quần Chúng đă bị đóng cửa từ trước, để bày tỏ ư định chúng tôi.

    Tôi nói:

    - Việc ấy tùy ông, nhưng không nên vội vàng nông nỗi mà hại cho việc các ông làm. C̣n tôi th́ đă nhất định không dính dáng đến việc ǵ cả.

    Hải quân trung tướng D Argenlieu về Pháp bị cất chức, chính phủ Pháp cử ông Bollaert sang thay. Khi ông sang đến nơi, th́ đổi ông Pignon đi làm ủy viên nước Pháp ở Cao Miên, để ông Didier Michel quyền chức ủy viên coi việc chính trị, tôi thấy ủy viên nước Pháp muốn thay đổi chính sách, tôi nghĩ ḿnh đă định không làm ǵ nữa, ở lâu nhà ông Thảo vô ích và có điều không tiện, tôi bèn về nhà ông Bùi Khải.

    Bấy giờ là ngày 29 tháng tư năm 1947. Cao cấp ủy viên Bollaert sang hứa hẹn lờ mờ chưa rơ là ư định của chính phủ Pháp là thế nào. Sau khi ông đi kinh lư các nơi ông cho ông Paul Mus, giám đốc trường hải ngoại nước Pháp, đi gặp ông Hồ Chí Minh để thương thuyết, nhưng h́nh như muốn bắt Việt Minh đầu hàng. Thành ra không xong.
    Cao cấp ủy viên lại về Pháp được toàn quyền hành động để đem lại cuộc ḥa b́nh ở Đông Dương. Ông trở sang, định ra Hà Nội đọc bài diễn văn ấy ở Hà Đông, đại ư nói sẽ cho nước Việt Nam thống nhất và được độc lập trong liên hiệp Pháp theo mấy điều kiện, và cái điều kiện quan trọng nhất là bắt quân Việt Minh phải nộp khí giới mà đầu hàng.

    Thế là bao nhiêu hy vọng của mấy người c̣n tin tưởng ở cái chính sách mới của ông Bollaert mất hết.
    Ngày mùng 8 tháng năm, mấy hôm trước khi ông Bollaert ra bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi ở nhà ông Thảo. Hai lần trước tôi gặp ông Pignon, câu chuyện không có ǵ, nhưng c̣n có ư vị, lần này tôi gặp ông Didier Michel th́ nhạt nhẽo lắm. Ông nói:

    - Sao ông không ra hành động đi, ông c̣n đợi ǵ nữa ?

    Tôi nói:

    - Hành động ǵ? Cái mục đích của tôi về đây là để biết rơ cái ư chính phủ Pháp định đối với Việt Nam thế nào rồi tôi ra nói cho ông Bảo Đại biết, và đến nay tôi chưa thấy ǵ là rơ rệt cả.

    - Ông không đọc những lời diễn văn của ông Ramadier, thủ tướng nước Pháp, và những lời bố cáo của ông Bollaert đă nói à?

    - Tôi có đọc, nhưng đó chỉ là lời diễn văn thôi, chứ chả có ǵ là thiết thực.

    - Thế th́ ông muốn thế nào?

    - Tôi muốn có sự thành thật rơ ràng rồi mới có thể làm việc được.

    - Bây giờ tôi vội về có việc, để sau ta sẽ nói chuyện.

    Từ đó rồi thôi, tôi không gặp người Pháp nào nữa, rồi thấy có những người như ông Phan Văn Giáo, Trần Đ́nh Quế và những người khác, hoặc ở nam hoặc ở trung, hay ở bắc, tấp nập đi lại Sài g̣n -Hương Cảng-Sài g̣n.
    Ông Nguyễn Văn Sâm cũng sang Hương Cảng gặp ông Bảo Đại, đến khi trở về được mấy ngày th́ bị ám sát. Ông vốn là người ôn ḥa trầm tĩnh, ngay chính và hết ḷng lo việc nước. Nhưng v́ ông quá tin người ta xúi dục làm việc vội vàng quá thành ra bị tai vạ, thật là đáng thương tiếc.

    Qua đầu năm 1948 ở Nam Kỳ cộng ḥa quốc, Lê Văn Hoạch phải từ chức. Người Pháp đưa thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân về thay. Ông Xuân nhận chức chủ tịch ít lâu rồi để Trần Văn Hữu lên thay và đứng ra lập Việt Nam Trung Ương lâm thời chính phủ. Đến ngày mùng 5 tháng sáu năm 1948 th́ có hội nghị giữa ông Bollaert và ông Bảo Đại ở vịnh Hạ Long, chuẩn định sự hứa hẹn cho nước Việt Nam được thống nhất và độc lập ở trong khối liên hiệp Pháp.

    Xong cuộc hội nghị ở vịnh Hạ Long, ông Bảo Đại về từ biệt Hương Cảng, đi qua nước Anh chữa mắt, rồi về ở Thụy Sĩ. Đến khi người Pháp đem cựu hoàng hậu và các con sang Pháp th́ về ở nhà riêng ở thành Cannes gần Nice.
    Khi thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân lên làm chủ tịch trung ương lâm thời chính phủ, có viết thư mời tôi về làm cố vấn, nhưng v́ tôi già yếu và lại có bệnh tật, tự biết không làm được việc ǵ ích lợi cho thế cục, nên tôi từ chối. Lúc ấy tôi đă ở Nam Vang được mấy tháng rồi.


    Xem tiếp trang 62 ...

  8. #2738
    Tran Truong
    Khách

    Một Cơn Gió Bụi

    Trần trọng Kim , một nhà học giả , một đời viết lách và sưu tầm , đóng góp không ít vào nền văn học nước nhà . Nhưng định mệnh trớ trêu , đã đẩy ông rơi vào cái mốc quan trọng : bước ngoặt lịch sử !!!
    Ông không thích quan trường , ông không ưa chính trị .... chỉ vì thấy tình cảnh đất nước nhiễu nhương ,lòng người ly tán . Vị nể lời của hoàng đế cuối cùng nhà Nguyễn là Bảo Đại , ông đứng ra thành lập chính phủ của nước Việt Nam lần đầu tiên được Độc Lập Thống Nhất , xé bỏ hiệp định Pa tơ nốt ....

    Một Cơn Gió Bụi viết dưới dạng hồi ký . Ghi lại những diễn biến lịch sử một thời đã qua , mà tác giả trải nghiệm .... Xin mời quí vị cùng các anh các chị theo dõi một chứng nhân lịch sử . Giọng văn hơi cổ xưa ....

    ........................



    Chương 12
    Lên Nam Vang


    Khi tôi về Sài g̣n, trong lưng chỉ c̣n có 20 đồng bạc Đông Dương. Ông Cousseau thấy vậy có đưa tiền, nhưng tôi không lấy. Sau tôi gặp những người quen biết có giúp đỡ ít nhiều để mua thuốc thang và may vá lặt vặt. Tôi đến nhờ ông cử Bùi Khải, ông v́ t́nh anh em, tiếp đăi một cách thành thực và tử tế, các cháu đều hết ḷng kính mến.
    Nhưng v́ cả gia quyến bốn năm người đến ở đấy lâu ngày, ăn không ngồi rồi, nghĩ cũng khó coi. Con gái tôi biết tiếng Anh, có nhiều người muốn học, định đi thuê
    nhà để dạy học, nhưng không thuê được nhà. Sài g̣n cũng như ở bên Tàu, cái nạn khan nhà thật là điêu đứng. Muốn thuê một cái nhà nhỏ, ít ra cũng phải trả tiền trà mất một vài vạn bạc, th́ lấy tiền đâu .

    Sau hai vợ chồng con tôi gặp những người quen nói ở trên Nam Vang, bên Cao Miên, cơm gạo rẻ và dễ thuê nhà, chúng nó mới xin giấy lên Nam Vang. Lên ở nhà khách sạn được mấy ngày chẳng may con tôi bị bỏng suưt chết. Nhờ có những người quen biết trông nom giúp đỡ nên không việc ǵ.
    Nhà ở Nam Vang lại có phần khó thuê hơn ở Sài g̣n, thành ra nhà vẫn chưa thuê được, con tôi phải về ở nhà ông Phạm Chí Tùng trong khi chờ đợi có nhà ở.

    Ông Phạm Chí Tùng là người rất hiền hậu, thấy con tôi lên ở nơi xa lạ, hết ḷng giúp đỡ, coi như anh em trong nhà vậy.
    Con tôi đi Nam Vang chờ đến ba tháng, nhờ ông Pignon can thiệp mấy lần, hội đồng coi việc nhà cửa mới thuê cho được một căn nhà, mở lớp dạy học tiếng Anh, lần hồi cũng đủ ăn tiêu.
    Tôi ở Sài g̣n, có cóp nhặt những sách của tôi, định t́m nhà xuất bản cho in lại. Lúc ấy tôi gặp ông Trần Văn Văn đến thăm tôi. Khi tôi ở Huế, ông có ra làm việc ở bộ kinh tế với ông Hồ Tá Khanh, cho nên đă quen từ trước. Ông thấy tôi ở trong cái hoàn cảnh rất eo hẹp, ông liền cho tôi vay một món tiền khá lớn và ông nhận việc t́m nhà xuất bản để in những sách của tôi.

    Trong lúc nguy nan, gặp được người bạn như ông Trần Văn Văn đến thăm tôi thật là ít có. Ấy cũng là một sự may mắn, nhờ trời dun dủi làm cho đỡ được bao nỗi đau buồn khổ năo.
    Vào khoảng tháng chín năm 1947, th́ cậu Bùi Nam, anh em nhà tôi ở Hà Nội vào Sài g̣n thăm chúng tôi, biết rơ tin tức người nhà. Lúc ấy nhạc mẫu tôi đau nặng chưa biết thế nào, cậu Nam được tin vội vàng ra ngay, ra đến nơi buổi trưa, th́ buổi chiều mẹ tôi mất. T́nh mẹ con, nỗi đau đớn, nhà tôi rất sầu khổ. Cái sầu khổ lúc ấy lại có phần tăng thêm là v́ phải khi loạn lạc, ḿnh phiêu lưu ở đất khách quê người, không thấy được mặt mẹ trong phút cuối cùng.

    Sau tôi nghĩ ở Sài g̣n cũng ngồi không mà con th́ ở trên Nam Vang một ḿnh, ngày dạy học vất vả, bỏ cháu không ai trông coi. Nhà tôi muốn lên ở trên ấy, để cha mẹ con cái cùng ở một chỗ. Vậy nên chúng tôi định qua tết nguyên đán năm Mậu Tư (1948) th́ lên Nam Vang.
    Đến quăng đầu tháng ba năm 1948, th́ rể tôi về đón chúng tôi, rồi đến ngày mùng 6 tháng ba tức là ngày 26 tháng giêng năm Mậu Tư, chúng tôi lên xe hơi chở hành khách lên Nam Vang.

    Lên đến nơi một tuần lễ, tôi đến gặp ông Pignon là ủy viên nước Pháp, xin cái giấy được lưu trú ở đất Cao Miên. V́ ở xứ ấy bấy giờ, những người Việt Nam đi lại rất khó mà ai muốn ở lâu phải có giấy cho ở mới được. Ông Pignon chuyện tṛ một cách vui vẻ và cho giấy một cách rất dễ dàng.
    Ở Nam Vang được yên ổn hơn Sài g̣n, ngày đêm tự do, không có cấm đoán ǵ cả, chỉ phải nóng nực khó chịu. Tôi lên đây nhờ có ông Phạm Chí Tùng và mấy người khác cho mượn sách vở, nhất là những sách vở nói về đạo Phật và đạo Ấn Độ, tôi xem cũng nguôi được nhiều điều phiền năo. Mỗi khi trời mát mẻ, chiều đến tôi chống cái gậy ra đứng bờ sông trông nước chảy, mà nghĩ cuộc đời cũng xoay vần trôi nổi có khác ǵ ḍng nước chảy xuôi.

    Cuộc đời của tôi đi đến đấy đối với người ngoài cho là thật hiu quạnh, song tự tôi lại thấy có nhiều thú vị hơn là những lúc phải lo toan làm công việc nọ kia, giống như người đóng tuồng ra sân khấu, nhảy múa nhọc mệt rồi hết tṛ, đâu lại vào đấy. Đàng này ngồi yên một chỗ, ngắm rơ tṛ đời và tự ḿnh tỉnh sát để biết cái tâm t́nh của ḿnh.
    Tôi nhớ lại câu cổ nhân đă nói: Hiếu danh bất như đào danh, đào danh bất như vô danh. Muốn có danh không bằng trốn danh, trốn danh không bằng không có danh.
    Người có trí tuệ mà biết giữ ḿnh ở chỗ vô danh là bậc cao sĩ tuyệt bậc, nhưng ḿnh đă trót đeo lấy cái danh vào ḿnh, th́ phải t́m cách trốn danh vậy.

    Danh với lợi ở đời là những cái mồi nó dử ḿnh vào cạm bẫy để hành hạ cái thân ḿnh, chung quy chỉ là một cuộc mộng ảo, chẳng có ǵ là thực. Khi đă mắc vào th́ lắm lúc lại phải đi vào những nơi hôi thối, phải bưng mắt bịt mũi, thật là khổ.
    Tôi nương náu ở đây chờ cho t́nh thế yên yên, th́ thu xếp về bắc, là nơi có bà con, bạn bè để khi vui buồn có nhau, c̣n hơn là chỗ xa lạ.
    Đến tháng ba năm 1949, thấy ông Bảo Đại đă điều đ́nh với chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam được thống nhất và độc lập trong khối liên hiệp Pháp, đại khái theo cái nguyên tắc ông Bảo Đại và tôi đă đưa cho người Pháp khi chúng tôi c̣n ở Hương Cảng.

    Giá hai năm trước, chính phủ Pháp đi hẳn vào con đường ấy, có lẽ đỡ được bao nhiêu th́ giờ và sự tổn hại. Song cái tính con người ta bao giờ cũng thế, cứ để cho đến khi bất đắc dĩ mới chịu làm những việc phải làm, c̣n th́ cứ muốn bám lấy cái lợi một lúc, rồi cứ xoay quanh măi thành ra hư hỏng việc lớn. Ḷng tham của người ta không có bờ bến, nếu không đem cái ḷng công minh chính trực mà ngăn ngừa ḷng tư dục, th́ thường hay có những sự tàn ác, gây ra nhiều nỗi đau buồn.*

    Việc ông Bảo Đại điều đ́nh đă được kết quả, như thế cũng đă lợi cho nước Việt Nam rồi nhưng đó mới là phần giao kết, cần phải chờ đợi sự thực hành xem có đúng lời giao kết hay không.
    Khi sự độc lập và sự thống nhất đă thực hiện rơ ràng rồi, th́ ông Bảo Đại phải có cái chính sách cương quyết và biết lựa chọn lấy những người ngay chính đứng đắn ra giúp ông mà làm mọi việc. Nếu lại để cho những người muốn thừa cơ hội mà làm giàu làm sang, th́ khó ḷng mà đem lại ḷng tín nhiệm của dân chúng.

    Việc thành bại sau này, là một bên ở cái ḷng thành thực của người Pháp, một bên là cái chính sách ngay thẳng của ông Bảo Đại.


    Còn tiếp ...

    ---------------------

    *_ Câu trên dành cho csVN chẳng sai . Nhất định đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào đẩ đất nước tan tác dân tình điêu linh . Nay chẳng cái gì ra cái gì !!! Đạo đức băng hoại , mọi thứ suy thoái ....

  9. #2739
    Tran Truong
    Khách

    Một Cơn Gió Bụi

    Trần trọng Kim , một nhà học giả , một đời viết lách và sưu tầm , đóng góp không ít vào nền văn học nước nhà . Nhưng định mệnh trớ trêu , đã đẩy ông rơi vào cái mốc quan trọng : bước ngoặt lịch sử !!!
    Ông không thích quan trường , ông không ưa chính trị .... chỉ vì thấy tình cảnh đất nước nhiễu nhương ,lòng người ly tán . Vị nể lời của hoàng đế cuối cùng nhà Nguyễn là Bảo Đại , ông đứng ra thành lập chính phủ của nước Việt Nam lần đầu tiên được Độc Lập Thống Nhất , xé bỏ hiệp định Pa tơ nốt ....

    Một Cơn Gió Bụi viết dưới dạng hồi ký . Ghi lại những diễn biến lịch sử một thời đã qua , mà tác giả trải nghiệm .... Xin mời quí vị cùng các anh các chị theo dõi một chứng nhân lịch sử . Giọng văn hơi cổ xưa ....

    ........................


    Tôi nay già rồi, không có hăng hái làm được việc ǵ nữa. Tôi chỉ mong được yên ổn, để về nghỉ ngơi cho trọn tuổi già, ấy là cái sở nguyện chân thực của tôi. Vả trong quăng đường tôi vừa đi qua, trải bao những cảnh huống đau buồn khổ sở, may như Trời Phật cứu giúp, tôi duy tŕ được đến bây giờ, mà không trụy lạc vào đâu cả, thật là cái phúc lớn vậy.
    Cho nên tôi thường nhớ bài thơ của một nhà thi sĩ Ấn Độ mà người ta dịch ra tiếng Pháp như sau này:

    La barque à la dérive Au millieu du fleuve de vie, Périlleux et fouetté de vent, Ma barque, sans rames, ballotte, Flottait à la dérive, Mais ton invisible main, Secourable dt pitoyable, A giudé la barque sans voiles Parmi les rochers, au milleu des orages, Jusqúau rivage de sécurité

    Tôi lược lấy ư trong bài thơ ấy mà dịch ra bài thơ song thất lục bát sau này:

    Chiếc thuyền vô trạo

    Sông nhân thế nước trôi cuồn cuộn,
    Giữa ḍng sông gió cuốn ào ào.
    Chiếc thuyền vô trạo lao đao,
    Lênh đênh đây đó biết đâu bến bờ.
    Tay tế độ trong cơ huyền bí,
    Thuyền không buồm e lệ ngoài khơi,
    Đưa qua sóng gió thác ng̣i,
    Đến bên bến nọ là nơi yên lành.

    Nhân khi ngồi rỗi tôi giở quyển nhật kư ra xem rồi viết thành cuốn sách này để sau ai xem th́ biết rơ sự t́nh và công việc của tôi làm trong mấy năm đây đó.
    Bản tâm là tôi viết truyện riêng của tôi, song tôi phải nói đến chính trị của chính phủ Việt Minh và sự hành động của người Pháp ở Đông Dương, là v́ những việc ấy quan hệ với nhau, không nói không ai hiểu manh mối việc tôi làm thế nào.

    Việc người Pháp làm ở Đông Dương có nhiều lầm lỗi, ngay từ lúc đầu không chịu thay đổi cái thái độ với người Việt Nam, cứ tưởng lấy vơ lực mà đàn áp và dùng quyền mưu mà lừa dối để đem người ta vào tṛng như ư ḿnh muốn, không biết rằng ḷng người đă thay đổi, nhân trí đă biến thiên, không thể lấy thế lực mà bắt người ta đi lại con đường cũ được.

    Phàm cái quyền mưu lừa dối là chỉ dùng được khi người ta không biết, nhưng khi người ta biết rơ cái mưu thuật của ḿnh th́ cái mưu thuật ấy không có công hiệu nữa.
    Người Pháp lại có cái tính hay cậy sức mạnh của ḿnh rồi có khi có xảy ra việc ǵ, th́ để cho quân lính đi tàn phá giết hại, có ư muốn cho người ta sợ. Cái phương pháp ấy đối với cái tâm lư của dân tộc khác thể nào tôi không biết, nhưng đối với dân tộc Việt Nam mà chỉ dùng sức mạnh để tàn phá, th́ sự tàn phá càng tàn nhẫn bao nhiêu, sự thù oán ghét giận lại càng tăng thêm bấy nhiêu.

    Theo cái tâm lư người Việt Nam, th́ người ta ưa cái chính sách trong sạch ngay chính, không có phá bậy giết càn. Hễ người Pháp không hiểu chỗ ấy, th́ bề ngoài thế nào mặc ḷng, bề trong không ai phục, th́ làm việc ǵ rồi cũng thất bại. V́ vậy cho nên việc người Pháp muốn đem lại sự ḥa b́nh ở xứ Đông Dương, mà cứ ngoắt ngoéo không cho nước Việt Nam độc lập và thống nhất, lại không thành thực thi hành những điều giao kết, th́ khó ḷng mà giải quyết được cái t́nh thế ngày nay.

    Về phương diện chính trị của người Việt Nam th́ chính phủ Việt Minh đă thất sách từ lúc đầu, chưa ǵ đă đem áp dụng cái chủ nghĩa cộng sản một cách đường đột quá, thành ra ở trong th́ dân t́nh ta thán, mà ở ngoài th́ không có ai muốn giúp đỡ. Trước th́ họ trông cậy ở nước Nga và ở đảng cộng sản ở bên Pháp, sau th́ nước Nga v́ xa cách không giúp được họ việc ǵ, đảng cộng sản bên Pháp thất thế, thành ra ḿnh cô lập, thế bất đắc dĩ nên phải lập ra mặt trận kháng chiến.

    Chính phủ Việt Minh tuy biết lợi dụng cái ḷng ái quốc của quốc dân và nhờ có sự tổ chức chu đáo và sự tuyên truyền khôn khéo, nhưng vẫn không đủ sức để ngăn cản được sự tiến hành của quân địch. Cái chủ nghĩa cộng sản về đường luận thuyết cũng có điều bảo thủ, như là muốn chữa những điều bất công trong xă hội, nhưng về đường kinh tế, th́ lại áp chế quá, làm lắm điều hà khốc và dùng những thủ đoạn quỷ quyệt giả dối, khiến người ta mất ḷng tin cậy.

    Đem cái bất công b́nh nọ mà phá cái bất công b́nh kia th́ dù có thắng lợi đi nữa, cũng không chắc đă vững bền.
    Trong việc làm của Việt Minh cộng sản có hai điều trở ngại. Một là đem cái phương sách hành động ở các nước bạn tây phương sang thi hành ở Việt Nam, có nhiều điều không thích hợp với hoàn cảnh và tính t́nh của nhiều người trong nước cho nên thành ra có nhiều chỗ trái ngược. Đó là một điều trở ngại khá lớn. Hai là v́ cái vị trí nước Việt Nam ở trong cái phạm vi Anh Mỹ theo cái hiện t́nh bây giờ, thế nào người ta cũng không để đất này thành cộng hóa. Chỉ trừ khi nào trống mái rơ rệt, th́ thiên hạ hoặc là đều bị cộng hóa cả, hoặc là đều sống ở trong cái chế độ tư bản cả.

    Lúc ấy dù muốn hay không cũng chẳng làm ǵ được. Trong khi hai cái lư tưởng c̣n đối lập, th́ ḿnh chưa sao thoát khỏi cái thế lực của Anh Mỹ. Như vậy ḿnh cố chấp muốn cộng hóa, th́ tất là chỉ có phần thiệt hại mà thôi, chứ khó ḷng thành công được.

    Đă hay rằng đảng cộng sản có cái tính cách tôn giáo, phải mê và tin, tin là chỉ có ḿnh là phải, c̣n người ta là sai lầm hết cả, song những người làm chính trị có quan hệ đến vận mệnh một nước, phải hiểu thời thế mà tùy cơ ứng biến. Theo ư tôi th́ đó là chỗ những người cầm quyền trong đảng Việt Minh phải liệu mà hành động.


    Dù hay dở thế nào mặc ḷng, đảng Việt Minh đă có cái công lớn tổ chức được cuộc kháng chiến ấy mà nước Pháp phải cho nước Việt Nam được độc lập và thống nhất. Song trong cái t́nh thế quốc tế hiện thời, th́ đảng Việt Minh chỉ làm được đến đấy thôi, không làm hơn được nữa. Nếu cố chấp muốn làm cho được như ư muốn th́ chỉ làm khổ dân hại nước mà không chắc đạt được cái ư của họ.

    Vả cái mục đích ấy định đi đến đâu ? Tại sao người ḿnh đă phơi xương đổ máu trong sáu bảy mươi năm trời từ khi có cuộc bảo hộ của nước Pháp đến giờ? Có phải là tại người ḿnh muốn sống cái đời sống tự chủ của ḿnh, chứ không làm nô lệ ai không? Lẽ nào ta lại theo một cái lư tưởng chưa thực hiện được mà đem ḿnh làm nô lệ một dân tộc khác.
    Dù ta có say mê một lư tưởng nào nữa, th́ cũng nên đi từ từ để cho thời gian dũa ṃn bớt góc cạnh có thể gây ra nhiều đau khổ. Đời chưa đủ khổ hay sao, mà c̣n muốn gây thêm ra nữa.
    Hiện nay đảng Việt Minh có nước cờ đánh rất cao, là tự ḿnh lui bước đi, để cho đảng chân chính quốc gia đứng ra thực hiện sự độc lập và thống nhất của nước nhà, rồi lập thành một chính thể theo đúng cái nghĩa dân chủ đang thịnh hành ngày nay. Cho các đảng phái được công nhiên lấy nghĩa lư mà tranh đấu trên trường ngôn luận, nhưng không được dùng vơ lực mà tranh quyền cướp thế.

    Làm được như thế, tất nhiên là họ giúp cho nước Việt Nam sẽ có cái địa vị rơ ràng trong quốc tế, không ai xâm phạm được nữa. Khi ấy mọi người trong nước phải quả quyết đi vào con đường kiến thiết, ai nấy đem hết tài lực của ḿnh mà học tập và làm việc để đem nước đến cái tŕnh độ cường thịnh như các nước khác.
    Cứ như thiển kiến của tôi, th́ đó là cái phương sách cứu nước rất ngay thẳng và có phần mau chóng hơn cả, không biết các bậc cao minh trong nước nghĩ sao?

    Tôi đem cái ư kiến ấy mà phô bày ra đây, là theo cái t́nh thế hiện thực mà nói, chứ không phải là một điều mơ tưởng. Mà cũng không phải là tôi thiên vị chủ nghĩa nào, hay đảng phái nào, tôi đă nhứt quyết không mưu cầu danh lợi ǵ hết, chỉ mong người trong nước bỏ bớt cái ḷng tư tâm tư lợi mà ra sức giúp cho nước nhà chóng được yên ổn và thịnh vượng, để cùng với thế giới đi lên con đường tiến bộ.
    Cũng bởi tấm ḷng v́ dân v́ nước ấy và thấy khi quốc gia gian nan, không lẽ ngồi nh́n, nên tôi tự biết ḿnh đă già yếu kém cỏi không làm ǵ được, nhưng ít ra cũng theo cái lương tâm mà đem những sự tôi đă biết và đă thấy mà phô bầy ra, để mọi người suy xét cho đúng sự thực. Dù ai có bảo đó là lời nói của một anh hủ nho, tôi cũng cam tâm mà tự cho ḿnh đối với cái tâm của ḿnh đă làm hết bổn phận làm người vậy.

    Hết .

  10. #2740
    Tran Truong
    Khách
    Qúi vị cùng các anh chị đã đọc hết Hồi ký của cụ Trần trọng Kim , biết qua một giai đoạn quan trọng của lịch sử nước nhà Ta đọc để suy ngẫm , chứ không đọc để tin tưởng vào những điều đã đọc . Vì không ai có thể viết hoàn toàn đúng , cũng như không ai có thể viết hoàn toàn đầy đủ .Sau đây mời quí vị cùng anh chị xem thêm phần phụ lục ,có thêm dữ kiện , để hiểu vì sao đất nước mình tang thương như ngày nay .


    Một cơn gió bụi (Trần Trọng Kim, 1949) (62) by Kho tàng kiến thức lịch sử qua ảnh, on Flickr

    Một cơn gió bụi (Trần Trọng Kim, 1949) (63) by Kho tàng kiến thức lịch sử qua ảnh, on Flickr

    Một cơn gió bụi (Trần Trọng Kim, 1949) (64) by Kho tàng kiến thức lịch sử qua ảnh, on Flickr

    Một cơn gió bụi (Trần Trọng Kim, 1949) (65) by Kho tàng kiến thức lịch sử qua ảnh, on Flickr


    Còn tiếp ...

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 4 users browsing this thread. (0 members and 4 guests)

Similar Threads

  1. Chuyện nghe được từ ngướ không quen
    By Dac Trung in forum Tin Việt Nam
    Replies: 1
    Last Post: 10-10-2012, 12:25 AM
  2. Replies: 0
    Last Post: 03-05-2012, 10:37 PM
  3. Bắt Buộc Phải Nghe
    By Dean Nguyen in forum Tin Việt Nam
    Replies: 2
    Last Post: 19-01-2012, 08:34 PM
  4. Replies: 3
    Last Post: 31-07-2011, 05:33 PM
  5. Tưởng Niệm Tháng 4 Đen Nghe Nhạc Lính VNCH
    By Camlydalat in forum Giao Lưu - Giải Trí
    Replies: 18
    Last Post: 25-04-2011, 06:28 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •