Results 1 to 4 of 4

Thread: Hồ Chí Minh: con khủng long ba đầu, chin đuôi—Trần Đức Thảo: Những Lời Trăng Trối

  1. #1
    Member
    Join Date
    25-01-2011
    Posts
    4,929

    Hồ Chí Minh: con khủng long ba đầu, chin đuôi—Trần Đức Thảo: Những Lời Trăng Trối

    Đă có nhiều tác giả tây ta viết về nhân vật Hồ Chí Minh (HCM) riêng cuốn Trần Đức Thảo Những Lời Trăng Trối là cuốn rất đặc biệt v́ sách đă “phân tích sư thật về những hành động khủng khiếp” của họ Hồ bởi một triết gia “lỗi lạc của Việt Nam và thế giới”. Năm 1951 ông bỏ Paris về bưng, qua ngả Mạc Tư Khoa, tham gia kháng chiến chống Pháp; đă từng “trải nghiệm gian khổ trong chiến tranh, trong cách mạng” suốt 40 năm. Nhà triết học họ Trần trước khi mất đă khẳng định, Marx đă gây ra mọi sai lầm và tội ác. Ông c̣n nói, chính “cuồng vọng lănh tụ” đă khiến “ông cụ” là một con người “cực kỳ vị kỷ, bất chấp những chuẩn mực của lương tri, của đạo lư”. Theo ông, đây là “một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời” và “là một con khủng long ba đầu, chin đuôi”.

    Lời trối trăng của nhà triết học Trần Đức Thảo cho biết, “nếu không dám khui ra những sai trái lịch sử của “ông cụ”, không dám đưa ra ánh sáng tội lỗi của Marx th́ không bao giờ thoát ra được t́nh trạng bế tắc chính trị độc hại như hiện nay ở nước ta”. Theo ông, quá khứ cách mạng của Viêt Nam đă tích tụ quá nặng đầy những di sản xấu. Quyển sách dày 427 trang là những lời tâm sự sống động của một nhà tư tưởng giúp độc giả hiểu rơ nguồn gốc của thảm kịch đang bao phủ lên thân phận dân tộc, lên đất nước ta. Ông cảnh báo xă hội Việt Nam “đang bị ung thối bởi căn bệnh xảo trá, căn bệnh thủ đoạn của đảng”. Ông bị tống đi ra khỏi quê hương vĩnh viễn với cái vé đi một chiều, bị đuổi khỏi Saigon, buộc phải đi Pháp, không được trở về Hà nôi.

    Trong cuốn sách, nhà triết học Trần Đức Thảo (1917-1993) đă vạch ra rằng, về lâu về dài, càng thấy ba chọn lựa của “cụ Hồ” mang tính sinh tử với đất nước và dân tộc, đă để lại di sản vô cùng trầm trọng: “chọn chủ nghĩa xă hội của Marx để xây dưng chế độ, chọn chiến tranh xoá hiệp định ḥa b́nh để bành trướng xă hội chủ nghĩa và thống nhất đất nước, chọn Mao và đảng Cộng sản Trung Quốc làm đồng minh, đồng chí”. Sách có 16 chương, một chương chỉ để giải mă lănh tụ; nhưng ở chương nào HCM cũng được đề cập tới. Ông xác nhận, hễ nói tới thảm kịch VN th́ “không thể không nhăc tới ông cụ”. Cố giáo sư quả quyết, ‘phải nói thẳng ra là Mao đă trực tiếp bẻ lái “ông cụ”; và “Trung Quốc muốn nhuộm đỏ Việt Nam theo đúng màu đỏ đậm của Trung Quốc”.

    Đăi ngộ hay bạc đăi

    Triết gia Trần Đức Thảo (TĐT), nổi tiếng về hiện tượng luận, từng tranh căi với Jean-Paul Sartre được đảng Cọng Sản Pháp vận động để được cho về xứ nhằm phục vụ cách mạng v́ “tôi có những nghiên cưú sâu rộng cuộc cách mạng tháng 10 ở Nga và có vốn hiểu biết vững chắc tư tưởng của Karl Marx”. Khi về tới quê hương “tôi bị vỡ mặt và vỡ mộng”; bị nghi là “siêu gián điệp trí thức”. Tên tuổi ông, một thời danh tiếng trời Âu ch́m hẳn. Năm 1991 ông “bị đẩy trở lại Paris”. Thế nhưng, sau khi qua đời ngày 24/4/1993, nhà cầm quyền Hà nội lại truy tặng ông huy chưong Độc Lập; ca tụng ông là nhà triết học lớn của thế kỷ. Họ c̣n cho rằng “”tư tưởng HCM” đă có ảnh hưởng với nhà triết học số một Việt Nam và lúc sinh thời đảng, nhả nước rất mực trọng đăi ông.

    Có thật thế không? Trong chương Đăi ngộ hay bạc đăi, ông nói, những chức vị mà người ta ban cho, “che dấu một đối xử nghiệt ngă và tồi tệ”. Ông cho biết, sự có mặt của ông trong một số sinh hoạt chỉ là “bù nh́n đứng giữa ruộng dưa”. Sự thật “họ chỉ để cho sống; cho tôi khỏi chết đói; chỉ toàn là bạc đăi”. Nhà triết học phân trần, chúng bắt “tôi phải gắng mà học tập nhân dân nghĩa là phải cúi đầu tuyệt đối vâng, nghe lời đảng”. Ông tiết lộ, tuy có chức phó giám đốc trường Đại Học Văn Khoa Sư Phạm nhưng “chưa hề được tham dự bàn bạc ǵ vào việc tổ chức, điều khiển, ngay cả ư kiến giảng dạy cũng không hề có”. Sự có mặt của ông trong các buổi họp hay đi theo các phái đoàn thanh tra là chỉ để “giới thiệu có thạc sĩ triết bên tây về ủng hộ cách mạng”.

    Những điều nói đó phù hợp với bài báo của nhà thơ Phùng Quán Chuyện vui về triết gia Trần Đức Thảo đăng trên báo Tiền phong ngày 11/5/1993: nhờ cái chết của nhà tư tưởng lớn này qua các báo mà rất nhiều người trong nước được biết rằng đất nước chúng ta đă từng sinh ra một triết gia tầm cỡ quốc tế. Ông ta sang tận bên Tây mà chết. Khi sống ở trong nước th́ lôi thôi nhếch nhác hơn cả mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét th́ áo bông sù sụ, mùa nực th́ bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp “Pơ-giô con vịt” mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một ḿnh, một anh dở người”.

    Mưu thần chước quỷ

    Nhiều người tự hỏi bị đối xử cay đắng như vậy sao “bác Thảo lại hay có lúc bật cười như điên”; và bị chung quanh chê bai, chế giễu “bác là người khùng”? TĐT cho hay, ông bắt đầu “hết cười rồi lại khóc” sau khi tham gia đợt th́ hành cải cách ruộng đất ở huyện Chuyên Hóa, tỉnh Tuyên Quang năm 1953. Lương tri trỗi dậy khi thấy lănh đạo “chọn con đường hành động nặng tính cuồng tín, dă man”. Ông nói, “chẳng thà là thằng khùng hơn làm thằng đểu, thằng ác, thằng lưu manh”. Về giai thoại TĐT đi chăn ḅ, theo ông, đó là một sự xấu hổ cho cả nước. Làm nhục một trí thức là lối hành xử của một chính quyền man rợ, bị ảnh hưởng Trung Quốc, buộc họ phải học thuộc ḷng câu “trí thức không bằng cục phân” của Mao.

    Nhà tư tưởng họ Trần nhận xét, Cộng Sản Việt Nam rất sùng bái Trung Quốc, ‘cứ như là con đẻ của đảng Cộng sản Trung Quốc”. Là một nhà triết học, có thói quen t́m hiểu, đánh giá lại, ông thấy “nước ta trồng cây tư tưởng của Marx, cho tới nay cây đó chỉ cho toàn quả đắng”. Chính “cái thực tại tàn nhẫn khi chứng kiến sự đau khổ của con người bị kềm kẹp bởi ư thức hệ” khiến ông muốn “đặt lại vấn đề từ học thuyết”. Triết gia TĐT nói, nhiều lănh tụ “từ lầu đài tư tưởng Marx bước ra đă trở thành những ác quỉ”. Theo ông, “quỉ ấy là ư thức đấu tranh giai cấp”; là thứ “vi rut” tư tưởng độc hại vô cùng; nó phá hoại xă hội, nó thúc đẩy con người đam mê t́m thắng lợi, bằng đủ thứ quỉ kế, để mưu đồ củng cố cho chế độ độc tài, độc đảng.

    Theo nhà triết học số một của Việt Nam, “ông cụ” là một nhà ảo thuật chính trị đại tài: lúc th́ biến có thành không, lúc th́ biến không thành có”. Đúng là “mưu thần chước quỉ” chuyên hành động muôn hướng, muôn mặt, “trí trá c̣n hơn huyền thoại Tào Tháo trong cổ sử Trung Quốc!” Bác Hồ đánh lừa dư luận Âu Mỹ, khi chép lời nói đầu bản tuyên bố độc lập của Mỹ; đánh lừa các đảng trong nước khi thành lập chính phủ đại đoàn kết và mời cựu hoàng Bảo Đại làm cố vấn. Vài tháng sau, Vơ Nguyên Giáp dẹp bỏ; coi họ là phản động; đẩy Bảo Đại sang Côn Minh. “Ông cụ” c̣n được triết gia TĐT gọi là một nhà chính trị “thần sầu quỉ khốc” khi “ông cụ” khôn khéo mưu t́m sự tiến cử của Mao để được đưa về xứ làm lănh đạo duy nhất phong trào cách mạng Việt Nam.

    Cố Giáo sư TĐT kể lại rằng, biết ḿnh bị Đệ Tam Quốc Tế tức Liên Sô loại đuổi khéo về Viễn Đông và biết Mao là thủ lănh các phong trào cộng sản ở Châu Á, “ông cụ” vào làm việc cho Bát Lộ Quân, tuyên thệ gia nhập đảng Cộng sản Trung Quốc; được Mao rất ưu ái. Nhờ vậy, “ông cụ” từng bước loại bỏ tất cả đối thủ Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn văn Cừ… để rồi vươn lên làm Tổng Bí Thư kiêm chủ tịch nước năm 1945. Dù sự tấn phong “ông cụ” ở các đại hội Ma Cao và Hồng Kông bị phản ứng của các khu uỷ, xử uỷ và của “Đê Tam” nhưng nhờ Mao dàn xếp nên đă qua mặt những sự phản đối này v́ họ là những kẻ đă từng nhận được sự nâng đỡ của cộng sản Trung Quốc. Triết gia họ Trần nói thêm, “ông cụ” luôn luôn là người biết chụp bắt cơ hội”.

    Huyền thoại “bác Hồ”

    Vẫn theo nhà tư tưởng TĐT, các nhà nghiên cứu nước ngoài khi viết về HCM họ bị chói ḷa bởi những huyền thoại về “ông cụ” của bộ máy tuyên truyền; họ xử dụng sản phẩm chính thống của đảng th́ làm sao họ hiểu hết được mặt thật của họ Hồ. Ông nói, có một thứ tư liệu rất chính gốc, bộc lộ rơ cái cuồng vọng lănh tụ của “ông cụ”; nó chi phối từ nội tâm. Đó là những tên giả chính “cụ Hồ” đă tự đặt cho ḿnh. Muốn t́m hiểu cặn kẻ, phải phân tách những chuyện biến tư tưởng qua từng giai đoạn đổi tên, đổi họ; từ những cái tên “Tất Thành”, rồi “Vương”, rồi là “Ái Quốc”, chót hết là “Chí Minh”. Đấy là những biểu hiện của một thứ bệnh tâm thần, khao khát danh vọng. HCM chỉ thành lănh tụ cách mạng sau khi không được cho vào học Trường Thuộc Địa để ra là quan.

    Nhà triết học nói thêm rằng, một người tự viết sách đề cao ḿnh, như cuốn “Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ chủ tịch” và “Vừa đi đường vừa kể chuyện” th́ không thể là một người v́ nước v́ dân được. “Ông cụ” đă tạo ra một thời chính trị điên đảo. Ngoài ra, đám quần thần chung quanh “ông cụ”, không tha thứ cho ai dám tỏ ra ngang hàng với “Người”. Họ tôn vinh “ông cụ” làm bác, làm cha dân tộc. Tạ Thu Thâu chết mất xác v́ câu nói “ngoài bắc có cụ, trong nam có tôi”. TĐT cho biết, năm 1946 gặp “ông cụ” trong một buổi chiêu đăi ở Paris, ông đă bất ngờ trước lời khước từ: “cách mạng chưa cần tới chú đâu” của HCM; khi ông tự ư nắm tay “ông cụ” ngỏ lời: “Tôi muốn về nước cùng cụ xây dựng thành công một mô h́nh cách mạng tốt đẹp tại quê hương”.

    Dù thế, triết gia vẫn nhờ bạn bè phương tây giúp ông được vể nước tham gia kháng chiến. Nhờ vậy, ông có cơ hội quan sát một Hà nội và Saigon đang bị lột xác theo sự phát triển của chủ nghĩa xă hội. Một giai cấp thống trị mới đang h́nh thành. Càng quan sát nhà tư tưởng TĐT càng thấy huyền thoại về “bác Hồ” là tác phẩm của “cả một công tŕnh nghệ thuật hoá trang cao độ”. Cái ǵ có giá trị là của bác, của đảng. Họ công kênh “ông cụ” lên làm bậc thần, bậc thánh. Theo TĐT, “phải hít thở cái không khí” thờ kính, phục tùng lănh tụ mới có thể hiểu phần nào những “phương pháp tâm lư tinh vi” tôn sùng HCM. Ông nhấn mạnh, “bác Hồ” chỉ có thể coi như mẫu mực thành đạt về chính trị; “không thể nào là mẫu mực về mặt đạo đức”; v́ cách sống muôn mặt của bác đâu phải là gương sáng.

    Nhà triết học bị kết tội “cầm đầu âm mưu chống đảng” v́ hai bài viết trên Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP), do một số anh em văn nghệ trẻ chủ xướng. Ông cho biết, nếu không có mấy nhà trí thức Pháp đứng đầu là Sartre “tận t́nh quan tâm, chăm sóc” đến ông th́ với mấy tội: tự ư nắm tay bác năm 1946 đ̣i cùng về nước làm cách mạng; từ chối lên án bố mẹ khi khai lư lịch; muốn đấu lư với cố vấn Trung Quốc lúc làm đội viên cải cách ruông đất và vụ NVGP, ông có thể “dễ chết`như chơi”. Năm 1952 triết gia được dẫn đi chào “Bác”. Ban lễ tân dặn ông bốn điều cần nhớ: phải đứng xa “Người” ba mét, chỉ lại gần khi “Người” ra lệnh; không được nói leo, chỉ trả lời câu hỏi; không được chào trước; không được nói tôi phải xưng bằng cháu, gọi “Người” bằng “bác.

    Chư hầu ngoan ngoăn

    Theo sự chiêm nghiệm của triết gia TĐT th́ HCM chưa đọc kỹ học thuyết sách vở của Marx, “tư duy sổi nên chưa tiêu hóa được”; nhưng lại “đọc thuộc ḷng cuốn “Le Prince” của Machiavel”, cuốn chỉ bày tận dụng mọi thứ để người ta sùng bái. “Ông cụ” luôn luôn chứng tỏ một bề ngoài nặng lư trí đến vô cảm; không thiết tha với gia đ́nh; không có bạn hữu thân t́nh. “Ông cụ” rất ghét cánh Tây học. Trong ṿng thân cận, chỉ có toàn hầu cận ít học được ”ông cụ” đào tạo để phục tùng; rồi sau đề bạt lên làm lớn. “Ông cụ” làm thơ là “do cuồng vọng chính trị”, là để “ca ngợi ḿnh” và “hô hào quyết chiến”. Nhà triết học này c̣n cho rằng, trên thân phận HCM có một bóng ma quái nó đè. Đó là “ bóng ma đế quốc bành trướng vô cùng độc đoán, lấn át của Mao.”

    Vẫn theo TĐT, ư thức hệ xă hội chủ nghĩa chỉ là một phương cách giam hăm các dân tộc chư hầu với cái tên đẹp “khối các nước xă hội chủ nghĩa anh em” nhưng thực chất là một đế quốc đỏ; nó kềm kẹp các dân tộc nhược tiểu quanh nó. Đó “chỉ là thứ liên minh ma quái, quỉ quyệt, giả dối”; muốn biến “nước ta thành một chư hầu ngoan ngoăn”. “Ông cụ” v́ tham vọng quyền lực từ ư chí muốn học ra làm quan nhưng không được nên đă lấy học thuyết “giai cấp đấu tranh” làm kim chỉ nam để tạo cơ hội thành danh, thành lănh tụ. Nhà triết học nói, để nắm vững quyền lực “ông cụ” phải thủ vai ông thánh, ông thần”, từ bỏ cả vợ con, mất đi tính người, thẳng tay tiêu diệt những kẻ có tài. Lại thêm, Mao đă cài chung quanh “ông cụ” một đám cực kỳ cuồng tín.

    Trong chương “Hai chuyến di chuyển đổi đời” của cuốn sách, nhà triết học họ Trần cho biết, ông được rời cảnh “sống như bị giam lỏng ở Hà nội” để vào Saigon ở là nhờ sự vận động của một số đồng chí trí thức Nam Bộ. “Saigon đă làm tôi bàng hoàng tới cùng cực. Khang trang và hiện đại; đâu có đói khổ v́ bị Mỹ Ngụy kềm kẹp. Miền Nam đă có một mức độ dân chủ rơ rệt. Miền bắc bị tư tưởng Mac-Lenine làm nẩy sinh những chính sách đầy sai lầm. Sĩ quan của “bộ đội cụ Hồ” đă có “thái độ thô bạo, ứng xử thô bỉ” khi nhục mạ, gọi Dương văn Minh là mày, và bắt cả nhóm phải đứng cúi đầu.” Đấy là những lời thố lộ của TDT mà nhà văn Tri Vũ Phan Ngọc Khuê đă viết lại qua các cuốn băng thu những điều ông tâm sự với một số bạn trong sáu tháng cuối đời ông ở Paris.

    Nhà triết học c̣n thú nhận Trần Dần và Trịnh Công Sơn là hai người đă thúc đẩy ông phải thoát khỏi thái độ hèn nhát đă ngự trị trong đầu óc trí thức và văn nghệ sĩ Hà nội; giới này đă ứng xử đồng lơa với tội ác của cách mạng. Người thứ nhất là Trần Dần lúc ông ta mời viết cho NVGP. Người thứ hai là các bài hát của họ Trịnh. Ngoài ra, những ai từng sống ở Saigon sau 1975, nếu đọc chương “Vẫn chưa được giải phóng” đều nhận thấy những mô tả của triết gia về Hà nội năm 1954 rất giống Saigon sau 30/4/75: “cả con người và xă hội ở đây đă không hề được giải phóng” và thật là “vô lư và nhục nhă” khi so sánh với chế độ cũ. Ông nhận xét: tư hữu kiểu cũ do làm cần cù, tích lũy mà có được; tư hữu kiểu mới do chiếm đoạt bằng chữ kư và quyền lực.

    Cao vọng hơn “bác Hồ”


    Được gợi hứng bởi môi trường miền Nam, trong ṿng 10 ngày TĐT hoàn thành một tập sách nhỏ “Con người và chủ nghĩa lư luận không có con người”. Đây là văn bản phản bác giáo điều, được đón nhận như một bông hoa lạ. Chẳng bao lâu sách bị cấm phổ biến. Giới cựu kháng chiến và nhiều trí thức khác c̣n ở lại trong nước tấp nập tới làm quen với nhà triết học để nghe những “lời tiên tri” là “cách mạng đă biến chất để tư bản man rợ tràn ngập”. Trung Ương thấy số người “phức tạp” đến gặp “bác Thảo” càng ngày càng đông, nên Đảng đă quyết định “anh phải ra đi”. Nhà triết học than “thôi th́ đành mang thân xác ra xứ người”. Qua Pháp, tuy đă một thời vang danh ở Paris, ông vẫn “lâm cảnh sống nay lo mai”, và c̣n bị Toà đại sứ theo dơi kiểm soát chặt chẽ.

    Trong cài xui có cái may. Nhà văn Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê nhờ những lúc nhà triết học bán chữ để kiếm sống qua các buổi thuyết tŕnh ở kinh đô ánh sáng mà đă làm quen thân với ông, được nghe ông tâm sự. Quyển sách ghi lại nỗi hối hận đă thiêu đốt ông vào lúc hoàng hôn của cuộc đời. Nhà văn cho hay ông “sẵn sàng trao mấy cuốn băng cho những ai muốn nghiên cứu về TĐT”. Trong sách nhà triết học có lần đă khẳng định: “tôi có tham vọng cao hơn của “bác Hồ” nhiều lắm”. Đấy là xây dựng “một lâu đài tư tưởng trong đó toàn thể nhân loại đều thể hiện rơ quyền sống của ḿnh, quyền dân chủ bằng lá phiếu của ḿnh”. Nhưng mộng đó không thành, triết gia lừng danh một thời trời Âu bị đột tử. Chúng ta mất đi “một kho tàng trải nghiệm về chiến tranh, về cách mạng”.

    Người chủ trương Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cho biết việc tái bản cuốn sách là để phục hồi danh dự một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam. Trong lời bạt ông viết, “cuộc đời TĐT xem như cuộc đời tan nát v́ “cách mạng” mà ông chọn phục vụ vào năm 1951 nên mọi sự trở nên vỡ lở. Cuộc đời đó có thể xem như một bài học –“an object lesson”- với những ai để cho t́nh cảm, lư tưởng che mờ đi lư trí, kinh nghiệm. Không những ông mất vợ, không có đời sống gia đ́nh, không có tự do trong bóng tối làm những việc ông muốn làm cho quê hương đất nước của ông. Sự nghiệp triết học của ông là một sự nghiệp dang dở.” Sách được xuất bản lần đầu với số lượng ít; tên gốc là Nỗi hối hận lúc hoàng hôn chỉ để thăm ḍ ư kiến thân hữu.

    Những ai yêu “bác Hồ”, những ai coi HCM là tên tội đồ hay các nhà khoa bảng, các học giả, các ông bà phản chiến và những ai c̣n nghĩ đến nước Việt nên đọc cuốn này. Cho tới nay chưa có tác giả nào trên thế giới – ngoại trừ triết gia TĐT- nêu ra được, thật sáng tỏ, những điều vô cùng bi thảm trong thời cách mạng; v́ ông đă trải nghiệm 40 năm trong cuộc. Ngoài ra, ông bà nào giỏi tiếng Tây tiếng Mỹ nên dịch sách ra cho thế giới biết thêm về HCM, kẻ đă lừa mọi người từ Âu sang Á; khiến nhà tư tưởng số một Việt Nam TĐT phải nói thẳng rằng, Napoléon, Hitler cũng có tâm thức tự cao tự đại nhưng “không gian trá đến mức tinh quái” để có những “hành động muôn hướng, muôn mặt, trí trá c̣n hơn cả huyền thoại Tào Tháo trong cổ sử Trung Quốc!”.

    Phan Thanh Tâm


    Saint Paul, 6/2014

  2. #2

  3. #3
    Member
    Join Date
    29-05-2012
    Posts
    396

    2 Ông đại gia hối hận

    Hai Ông đại gia, 1 Ông đại triết gia và 1 Ông đại văn chương gia đều hối hạn về nước và ở lại ngoài Bắc .
    Ông Tường th́ viết quyển : "Người bị dứt phép thông công", khi được qua thăm Pháp .

  4. #4
    Member
    Join Date
    25-01-2011
    Posts
    4,929

    Trể c̣n hơn không

    Quote Originally Posted by nguyenthiep View Post
    http://ngoclinhvugia.wordpress.com/2...ang-ngoc-khue/
    Quote Originally Posted by nguyenthiep View Post
    Hai Ông đại gia, 1 Ông đại triết gia và 1 Ông đại văn chương gia đều hối hạn về nước và ở lại ngoài Bắc .
    Ông Tường th́ viết quyển : "Người bị dứt phép thông công", khi được qua thăm Pháp .
    SÁCH “NỖI HỐI HẬN LÚC HOÀNG HÔN”

    Sách do tác giả Tri Vũ – Hoàng Ngọc Khuê xuất bản tháng 10.2012 tại Pháp. Nội dung viết về ông Trần đức Thảo, sinh năm 1917, giáo sư thạc sĩ dạy môn triết trong ngành đại học tại Paris, một nhà nghiên cứu uyên thâm về tư tưởng Marx, từng tranh luận với đại triết gia Jean-Paul Sartre. Sách cũng ghi lại những kinh nghiệm và nhận xét của ông trong 40 năm sống dưới chế độ xă hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

    Năm 1952, Giáo sư Thảo, được sự hỗ trợ của đảng cộng sản Pháp, trở về nước với hoài bảo phục vụ cách mạng. Ông đi theo ngơ đường sắt xuyên Á, qua đất Trung Hoa, để đến chiến khu Việt Bắc. Sự việc đầu tiên làm ông suy nghĩ, khi cán bộ ở biên giới buộc ông làm tờ khai lư lịch, với yêu cầu lên án ông bà, cha mẹ có liên hệ với phong kiến và thực dân. Ông bác bỏ ư kiến này, để tôn trong sự thật. Vụ này được báo cáo về trung ương. Ông đă vài lần gặp ông Hồ, thấy chủ tịch tỏ thái độ xa cách. Dù nhiệt thành yêu nước, nhưng v́ ông chủ trương một cuộc cách mạng đi đến dân chủ và trọng đạo lư, giải phóng con người, nên bị liệt vào thành phần « có vấn đề ». Do đó, ông không đươc giao nhiệm vụ ǵ cả, có lúc đi dạy hoc, một thời đươc giao việc chăn ḅ ở Ba V́, rồi lâm cảnh khó khăn do thất nghiệp, vợ ly dị đi lấy chồng khác (bác sĩ Nguyễn khắc Viện).

    Năm 1954, sau hiệp định Genève, ông trở về Hà nội, trải qua những ngày sống trong cảnh xă hội mới quá thê thảm. Hà thành ngày trước văn minh, thanh lịch nay không c̣n, kể cả tiếng nói, nhường chỗ cho dân từ các nơi khác đến, quê mùa, tục tằn, thô lỗ. Ông được tham gia một chuyến đi về huyện Chiêm Hóa, để vận động các bần cố nông đấu tố địa chủ, đă chứng kiến vụ những dân làng bị đánh đập dă man, rồi đem ra xử bắn, trước sư hiện diện của cố vấn Trung quốc (chiến dịch cải cách ruộng đất do các cán bộ Tàu ch́ huy). Ông Thảo bị xúc động mạnh, đ̣i các cố vấn này giải thích về căn bản pháp lư của tỷ số giết người ấn định 5%. Các cố vấn này bèn lập phiên ṭa, định đưa Gs.Thảo ra xét, rồi xử bắn về tội phản cách mạng. Sau cùng, chuyện được hoăn lại.

    Năm 1987, Gs.Thảo được phép vô Sài g̣n, nh́n thấy một thành phố khác xa Hà Nội, không đói rách như đă nghe, găp nhiều cựu kháng chiến Miền Nam, nghe tâm sự của những người nay bị gạt ra bên lề, và được họ quư trọng. Ông viết cuốn sách ngắn tựa đề « Con người và chủ nghĩa lư luận không có con người », được tái bản. Hà Nội ra lệnh tịch thu, nhưng sách đă bán sạch. Nhiều người khuyên ông nên đi Pháp, để bảo toàn mạng sống.

    Năm 1991, ông trở qua Pháp, vui mừng gặp lại các bạn hữu, đồng thời bị ṭa đại sứ VN ở Paris theo dơi, gây khó khăn, hăm dọa, ngăn chặn không cho ông diễn thuyết ờ Nhà Việt Nam. Ông cho biết, ông Hồ không mấy quan tâm về lư thuyết của Marx, chỉ làm theo Lénine, Staline, và nhất là Mao. Gs. Thảo đánh giá lại học thuyết của Marx, với kết luận : Marx đă sai lầm.

    Vào lúc xế chiều của cuộc đời, Gs.Thảo tỏ ư hối hận, trong bao năm qua đă giữ thái độ im lặng, tức đồng lơa với những kẻ gây tội ác
    . Ông dự tính ra cuốn sách, chưa thực hiện th́ đột ngột từ trần năm 1993, sau một cơn đau bụng dữ dội, điều khó hiểu. Hũ tro của ông đươc gởi về Hà Nội, nhưng không được ai nhận. Cuối cùng, bà vợ cũ đứng ra lo việc mai táng. Chính quyền Hà Nội đă truy tặng ông huân chương Độc Lập và Giải Thưởng Hồ chí Minh !

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 6
    Last Post: 05-05-2013, 05:51 AM
  2. Replies: 6
    Last Post: 21-11-2012, 01:27 AM
  3. Replies: 0
    Last Post: 15-06-2011, 12:07 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •