Results 1 to 7 of 7

Thread: Vơ Văn Ái: Đạo Bụt của thien su Thich Nhat Hanh thiên về tự kỷ ám thị hơn là khai mở chân tâm.

  1. #1
    Member
    Join Date
    30-07-2011
    Posts
    513

    Vơ Văn Ái: Đạo Bụt của thien su Thich Nhat Hanh thiên về tự kỷ ám thị hơn là khai mở chân tâm.

    Vơ Văn Ái: Nói rằng ông Nhất Hạnh muốn cách mạng Phật giáo Việt Nam th́ không đúng. Đại sư Thái Hư mới là người xứng danh và là nhân vật lịch sử của Phật giáo từ những năm đầu Dân quốc thế kỷ XX ở Trung quốc, khởi xướng cuộc tân vận động của Phật giáo cận đại và hiện đại. Trước Dân quốc, Tăng sĩ bị xă hội khinh rẻ v́ thiếu học, chỉ lo việc cúng kiến, mê tín, nên Đại sư Thái Hư gióng lên cuộc cách mạng Phật giáo trên ba lĩnh vực cơ bản là Cách mạng Giáo lư – Cách mạng Giáo chế – Cách mạng Giáo sản trong hoàn cảnh bế tắc và tiêu trầm của Phật giáo Trung quốc.
    Tư tưởng cách mạng này vượt biên cương chi phối toàn thể sinh hoạt Phật giáo từ Á sang Âu Mỹ. Nhờ những chuyến đi thuyết pháp của Đại sư Thái Hư mà các Hội Học Phật được thiết lập khắp Âu Mỹ Á đầu thế kỷ XX. Tại Việt Nam, Cư sĩ Lê Đ́nh Thám cùng các Đại sư Phước Huệ, Trí Độ, v.v… do đọc sách của Thái Hư mà phát động Phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam từ thập niên 20 đầu thế kỷ XX lan truyền khắp Nam, Trung, Băc kỳ. Sự xuất hiện uy dũng của Phật giáo Việt Nam hai thập niên 50, 60, là thành quả của phong trào Chấn hưng Phật giáo gợi hứng từ công tŕnh, công đức và công hạnh kỳ vĩ của Thái Hư Đại sư. Bản thân ông Nhất Hạnh có một số phát kiến canh tân Phật giáo sau thời gian du học ở Mỹ. Tôi nghĩ ông chịu ít nhiều ảnh hưởng từ giáo phái Tin Lành và thần học Paul Tillich trong các phát kiến của ông.
    Tôi từng viết bài ca ngợi cuốn sách “Hiện đại hóa Phật giáo” của ông trên tạp san Hải Triều Âm ở Saigon giữa thập niên 60. Trái lại, Bùi Giáng th́ chê Nhất Hạnh về cuốn sách này trong “Đi vào Cơi Thơ” do Ca Dao ấn hành, Saigon năm 1969, ở trang 63 như sau: “Nhất Hạnh có nguồn thơ chứa chan. Chúng ta không hiểu v́ lẽ ǵ nguồn thơ đó lại không đủ sức ngăn cản ông, khiến ông h́ hục hiện đại hóa Phật Giáo Uyên Nguyên. Trường hợp Nhất Hạnh là trường hợp một thi sỹ thiên tài bị vướng phải cạm bẫy của triết học Tây phương”. Từ năm 64, 65 tại Saigon, ông thiết lập ḍng Tiếp Hiện cho phép người tu lập gia đ́nh, phát triển trong giới Phật tử thuộc Trường Thanh niên Phụng sự Xă hội ở Phú Thọ Hoà. Trong giới thân cận ông có một người không đồng ư là Nhất Chi Mai, tức cô giáo Phan Thị Mai tự thiêu cho Ḥa b́nh năm 1966. Tôi c̣n giữ bức thư thủ bút của cô ấy về sự bất đồng này.
    Ông Nhất Hạnh dự tính công khai ḍng Tiếp Hiện qua một cuộc họp báo ở Saigon, đưa Phạm Công Thiện làm người đầu đàn phát huy Ḍng mới (thời gian này Phạm Công Thiện là Đại đức Thích Nguyên Tánh). Nhưng Phạm Công Thiện bỏ rơi cuộc họp báo rồi sau đi du học Mỹ, nên việc không thành. Khoảng năm 1967, thời ông đón bà Cao Ngọc Phuợng ở Việt Nam ra cùng sang ở Tokyo, nói là đi nghiên cứu “kinh tế hậu chiến”, ông viết thư cho tôi kèm cương lĩnh và giới luật Ḍng Tiếp Hiện mong tôi tham gia thực hiện và phát triển ḍng tu mới. Nhưng tôi không trả lời. Thực tế là vào giai đoạn giữa thập niên 60, ngoài Nhất Hạnh, tôi biết vài vị Tăng vai vế có khuynh hướng phát động phong trào Tân Tăng Nhật Bản tại Saigon, như cố Hoà thượng TMG là một. Nhưng sau vài thử nghiệm họ gặp phản ứng chống đối quá lớn của quần chúng Phật tử, nên phong trào vụt tắt. Sau này nhờ hoàn cảnh khách quan ở nước ngoài dễ phát triển hơn trong khung cảnh Làng Mai ở Pháp. Về giới Tân Tăng cho phép lấy vợ, th́ Nhật Bản là nước tiên phong và có truyền thống từ thế kỷ XIII. Đọc truyện Kinkakuji của Yukio Mishima sẽ thấy bối cảnh của đời sống Tân Tăng này. Đại sư Thân Loan (Shiran, 1173-1262) tổ khai sáng Tịnh độ Chân tông Nhật bản (Jōdo-shinshū / Shin Buddhism), sau khi làm đệ tử ngài Pháp Nhiên (Hōnen) được Thầy cho phép lấy Ni cô Huệ Tíớc tôi đến thăm chùa Higashi Honganji (Đông Bản Nguyện tự) ở cố đô Kyoto là bản sơn của phái này.
    Vị sư dẫn tôi đi thăm chùa giải thích rằng : “Thấp thoáng sau lưng các vị Sư có bóng người đàn bà. Tại sao không công khai hóa mà cứ giấu giấu diếm diếm ?”. Rồi ông thuật cho tôi nghe việc ra đời của phái Tân Tăng của ngài Thân Loan. Chuyến thăm ấy tôi c̣n chú ư tổ chức Nhân quyền của Tịnh độ Chân tông ngay trong ngôi bản tự này. Có đến 450 nhân viên túc trực. Họ lo cho nhân quyền của giới cùng đinh BurakuminNhật bản, khoảng 3 triệu người sống trong cảnh kỳ thị xă hội. Ban ngày các sư đi làm lụng như người thường (cư sĩ) trong các công xưởng, văn pḥng hay quán ăn.
    Về chùa khi lễ lượt mới mặc y áo tăng sĩ. Cuối thập niên 60, trong mấy năm dài chúng tôi chung sống với nhau dưới mái nhà làm trụ sở Phật giáo ở số 11, rue de Vénus, thị xă Maisons-Alfort, ngoại ô Nam Paris. Thời ấy, ông Nhất Hạnh và bà Cao Ngọc Phượng (sau này cạo đầu xuất gia lấy tên Chân Không) sống đời sống đôi cặp tự do, không giấu diếm, tuy ông không cổi áo công khai hóa ngoài xă hội. Cùng sống với chúng tôi lúc ấy có 7 vị Tăng và 6 cư sĩ. Sau này 5 trong số 7 vị Tăng này đă hoàn tục (một vị hiện sống ở Paris và một vị nay ở Saigon). Kinh Phật dạy y pháp bất y nhân, nghĩa là y vào Pháp Phật mà học và tu, đừng nệ tới con người. Người b́nh dân cũng nói ai tu nấy chứng. Quan điểm tôi, việc lấy vợ hay không chẳng quan trọng cho bằng đức hạnh, tŕnh độ tu chứng và nỗ lực cứu đời.

    Đạo Bụt của ông Nhất Hạnh, ông nghĩ sao ?

    Vơ Văn Ái: Ông Nhất Hạnh có công giới thiệu đạo Phật theo giáo phái Làng Mai của ông ấy cho giới thị dân Âu Mỹ. Những người mà đời sống bị thúc bách, đè nén thường xuyên v́ công ăn việc làm hay đời sống bon chen ở các thị trấn. Nên họ bị Stress.
    Các khóa tu học cuối tuần của đạo Bụt cấm dùng điện thoại, không được xem Tivi, bắt hít thở trong không khí miền quê hay rừng núi, vừa đi vừa hít thở thiền hành...

    Một lối tu tập Yoga. Song tiến xa hơn vào đời sống tâm linh của đạo Phật, th́ dường như Đạo Bụt không thành công. Tôi gặp một số bạn Tây phương thích thú theo học giáo phái Làng Mai nhưng bỏ nửa chừng để quay sang đường lối tu tập Phật giáo Tây Tạng. Đạo Bụt của ông dịu dàng, thiên về tự kỷ ám thị hơn là khai mở chân tâm. Đánh một tiếng chuông mỉm miệng cười, dán những câu thơ / kệ trong pḥng tắm, pḥng ngủ, trẻ em đi học về ôm mẹ nói “Mẹ ơi, con thương mẹ lắm”, v.v… có cái ǵ rất Pavlov, không tự nhiên.
    Chứng tỏ phương pháp này xuất phát từ những con người sống quá lâu trong dồn nén, ẩn ức, bất b́nh thế sự, không thỏa măn t́nh dục. Trong truyền thống tu học Phật giáo của giới xuất gia từ ngh́n xưa th́ các bộ Luật Sa di và Sa di ni nghiêm túc, trang nghiêm, cẩn trọng và có phương pháp hơn nhiều. Đạo là thông lưu không trở ngại. Thiền là hành động tự nhiên hơn sự giải thích bằng ngôn ngữ hay cử điệu. Một cái vỗ vai với người bạn, một ánh mắt đối với mẹ sẽ ư nhị và làm thay những câu nói hay cử động cải lương kia. Ngay việc sử dụng chữ Bụt thay cho chữ Phật thường dụng trong quần chúng Việt Nam qua nhiều thế kỷ, tôi thấy như có ǵ tŕnh diễn, cải lương, lập dị hơn là một thay đổi có tính bản thể. Sự thất bại của đạo Bụt thấy rơ ở các nước Á châu như Nhật Bản, Nam Hàn, Việt Nam. Mười mấy năm trước, chuyến đi thuyết tŕnh của ông Nhất Hạnh tại Nhật thất bại nên ông không c̣n trở lại. Hai Thượng toạ Hộ Tùng Nghĩa T́nh và Hoàn Sơn Chiếu Hùng mà tôi gặp tại Tâm Quang Viện ở Tokyo, thành viên Phật giáo Quốc tế Hiệp lực và ở trong ban tổ chức chuyến đi một tháng cho ông Nhất Hạnh nói với tôi như thế. Hỏi lư do, hai vị bảo rằng người Nhật không chấp nhận lối Pháp đàm và cách tŕnh bày về Phật giáo của ông Nhất Hạnh. Loại “Thiền ôm hít thô sơ” chạm trán với ḍng Thiền thâm hậu Nhật Bản vốn có truyền thống tu chứng thành nếp văn hoá tâm linh cao cả, ắt phải tiêu ma.
    Cho nên đạo Bụt của ông Nhất Hạnh chỉ thành công phần nào tại các nước phương Tây cho giới thị dân và giới cựu quân nhân Mỹ có vấn đề tâm thần sau cuộc chiến khủng khiếp tại Việt Nam. Đó là nói chuyện trong thế giới. Trở về cố hương, Huế là pháo đài của ông Nhất Hạnh, chùa Từ Hiếu là sở hữu kế thừa của ông. Trước chuyến về Việt Nam lần đầu năm 2005, đa số Phật tử Huế xem ông là thần tượng, nếu không là Bụt sống. Họ xem Làng Mai như cơi Tịnh độ. Thế nhưng hành xử của ông khi được tiếp xúc, cùng với cung cách giáo phái Làng Mai đă thất bại nặng nề tại Huế. Tôi chợt nhớ lời phê b́nh của Bùi Giáng nhắc tới lúc năy. Một Tăng sĩ ở Huế viết thư cho tôi có câu : “Chư Tăng ở Huế rất náo nức và hả dạ ngày Thầy Nhất Hạnh mới trở về. Nhưng nay khi Thầy Nhất Hạnh ra đi th́ ai nấy đều ê chề, oán hận thấu trời xanh, mà không nói được nên lời”. Chuyến đầu về Huế năm 2005 hàng bao nhiêu ngh́n Phật tử đón rước, thế nhưng mấy lần sau rất tiêu điều theo lời thuật của Phật tử Huế. Phải chăng đạo Bụt và người dạy đạo Bụt thích hợp với một số thị dân Âu Mỹ, nhưng không hợp với tạng người Việt ?
    Sự mơ mộng hăo huyền của ông c̣n thấy qua lời ông khuyên Tổng thống George W. Bush ngày quân khủng bố Al Qaida đánh sập hai cao ốc TwinTowers ở New York (11.9.2001). Ông lên tiếng trên truyền thông báo chí khuyên Tổng thống Bush đi gặp Ben Laden, hai bên hăy lắng nghe nhau để giải quyết việc đời theo cái điệu “Hiểu và Thương” của giáo phái Làng Mai ! Nội bộ những tín đồ Làng Mai c̣n chưa “hiểu và thương” nhau, nói chi những người ở xa vạn dặm ? Ở đây tôi không muốn đào sâu việc trước ba ngh́n người chết thảm thương trong vụ Twin Towers ở New York, ông Nhất Hạnh chẳng quặn ḷng, lại nhân dịp ấy đưa những con số khổng lồ mấy trăm ngh́n dân Bến Tre bị chết v́ không quân Hoa Kỳ oanh tạc ! Cộng đồng người Việt Tị nạn đă phẫn nộ và phản ứng mạnh mẽ vụ tuyên bố tuỳ hứng này.
    Ông Nhất Hạnh giải quyết “chính trị thế giới” hay “đạo lư thế giới” như vậy quả là “tuyệt tác”. Song không kém phần ngây thơ nếu không nói lẩm cẩm. Giá dụ cách thế ấy là ch́a khoá cho nhân loại đại đồng, hẳn trái đất đă là Thiên đường hay Niết Bàn từ bao đời, Chúa Jesus, đức Phật, Khổng Khưu, Lăo Tử… chắc đă lấy hưu non từ lâu ? Tôi bỗng nhớ lời Mai Thảo phê b́nh cuốn sách “Nói với Tuổi Hai mươi” [8] của Nhất Hạnh trên tạp chí Nghệ Thuật. Cuốn sách gây sôi nổi một thời trong giới trẻ ở Saigon, mà mục tiêu nhằm đánh phủ đầu Phạm Công Thiện với ư thức nổi loạn chống thế hệ cha anh làm cho đất nước điêu linh hai mươi năm trường, mà họ Phạm viết trong sách “Ư thức Mới trong Văn nghệ và Triết học”. Ông Nhất Hạnh khuyên Tuổi Hai Mươi “ Thương nhau, chúng ta sẽ t́m thấy con đường. Thương nhau, chúng ta sẽ làm nên lịch sử”. Mai Thảo phê thứ triết lư ấy khác chi nói “sau cơn mưa trời sẽ nắng” ! C̣n Bùi Giáng th́ phản ứng bằng bài viết “Nói với tuổi Chín mươi”.

    (Té ra ông Bùi Giáng đâu có điên!)
    Last edited by ezekiel; 15-11-2014 at 01:25 PM.

  2. #2
    Member
    Join Date
    30-07-2011
    Posts
    513
    Một kẻ có đầu óc chánh niệm như Nhất Hạnh lại không thấy được những tội ác tày trời của Việt Cộng gây ra với dân miền Nam suốt 20 năm trường. Chánh Niệm mà lại ra trước công luận thế giới bênh vực Việt Cộng là những kẻ tàn ác giết người lành. Chánh niệm mà lại đặt điều tố cáo VNCH là chính phủ tàn ác. “Chánh Niệm” trong những năm sống ở miền Nam không thấy được sự gây hấn của cộng sản Bắc Việt; Chánh Niệm không thấy được Việt Cộng ngày đêm pháo kích vào thành phố, vào trường học giết hại dân lành; Chánh Niệm không thấy Việt Cộng đắp mô gài ḿn xe đ̣; Chánh Niệm không thấy Việt Cộng về làng cắt cổ dân; Chánh Niệm không thấy cộng sản dùng súng AK, B40, hỏa tiển Sam, xe tăng T54, máy bay Mig,… do Nga Tàu cung cấp tấn công miền Nam; Chánh Niệm không thấy cộng sản lọc lừa dùng chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” trong khi chính Việt Công gây chiến với miền Nam từ năm 1954 và Mỹ chỉ đem quân vào miền Nam từ sau 1963 để ngăn sự bành trướng của cộng sản; Chánh Niệm không thấy Việt Cộng tấn công vào dịp Tết Nguyên Đán Mậu Thân là ngày thiên liêng của dân tộc. Chánh Niệm không thấy Hồ chí Minh ra lệnh giết hàng trăm ngàn đồng bào VN trong Cải Cách Ruộng Đất; Chánh Niệm không thấy Việt Cộng chôn sống hàng ngàn người dân Huế trong Tết Mậu Thân… Biết Việt Cộng là những kẻ khủng bố giết người, biết Việt Cộng là Satan của nhân loại mà sư ông Thích Nhất Hạnh đứng ra bênh vực cho kẻ ác th́ chắc chắn đầu óc của ông chỉ mang những Tà Niệm của là một Ác Tăng. Sự sụp đổ của một chế độ nhân ái VNCH làm cho cả miền Nam phải sống khốn đốn với chế độ khắc nghiệt cộng sản là nhờ có bàn tay góp sức của ông đấy sư ông Thích Nhất Hạnh!

  3. #3
    Member
    Join Date
    30-07-2011
    Posts
    513

    Thích Nhất Hạnh Vu khống, Hàm hồkết tội VNCH & Mỹ là hiếu chiến.

    Truoc 1975, Thích Nhất Hạnh đi nói chuyện khắp nơi, lớn tiếng kết tội VNCH là hiếu chiến. Thầy nói: “Tôi ra đi để nói rơ là dân VN không muốn đánh nhau nữa, chỉ muốn ngồi xuống thương thuyết với nhau để đi tới một giải pháp ḥa b́nh, và các cường quốc trên thế giới đừng dùng VN làm một chỗ để tranh dành ảnh hưởng nữa, đừng xử dụng ư thức hệ cũng như bom đạn trên đất nước nhỏ bé này…”

    Ngày 2/6/66, thày tố cáo trước Thượng Viện Hoa Kỳ là Mỹ và VNCH: nguyên nhân gây ra thảm họa chiến tranh tại VN, đă bị nhân dân trong nước hết sức bất măn và chống đối mạnh mẽ. Tội nghiệp cho chính thể VNCH, đă đặt biết bao kỳ vọng vào người “con yêu của đất nước” gửi đi du học. Người con yêu này, thay v́ đem hết kiến thức thu nhận được, trở về phục vụ cho đất nước, cho đồng bào th́ lại “gậy ông đập lưng ông”, dùng dao “đâm sau lưng chiến sĩ.” Lẽ dĩ nhiên, chính phủ VNCH không thể “nuôi ong tay áo”, “nuôi khỉ ḍm nhà” được, nên đành phải cấm cửa đứa con “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” này trở về nơi quê cha đất tổ.

    Không biết thầy lấy danh nghĩa ǵ mà phát biểu thay cho dân VN. Dân miền Nam khao khát ḥa b́nh, nhưng phải là ḥa b́nh đem lại độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc, chứ không phải là loại hoà b́nh dung túng cho chế độ VC độc tài, thối nát, tay sai ngoại bang.

    Sau khi ḥa b́nh đă văn hồi trên đất nước thày NH không trở về VN. Thày ở lại Pháp xây dựng sự nghiệp, đồng thời cũng tiếp tục trải tư tưởng thiên cộng trong các tác phẩm của thày “Hoa Sen trong biển lửa, môt đề nghị ḥa b́nh của Phật Giáo” lên án chính phủ VNCH và Hoa Kỳ đàn áp Phật Giáo, gây cảnh tang tóc cho nhân dân miền Nam, và đề cao chính nghĩa cũng như ḷng yêu nước của MTGPMN. Thày cũng không quên nhấn mạnh: “Trong đầu óc của người VN nói chung, HCM là vị anh hùng dân tôc lănh đạo cuộc đấu tranh chống Pháp.”Những đê tử của thầy có nhiều người lớn tuổi bán nhà bán cửa ở Mỹ để đi về dưỡng già theo lời đường mất của thầy bây giờ không biết làm sao. Ra ngoại quốc trở lại th́ nhà bán rồi, c̣n chỗ nào khác ngoài cách vào “nhà già” sống? Ở trong nước th́ tá túc vào chỗ nào? C̣n riêng cá nhân thầy tuy có bị VC và sư Thích Đức Nghi lât lọng làm cho hư bột hư đường mọi sự th́ cũng đừng buồn. Bởi v́ sự việc VC đối xử với thày hôm nay cũng giống như những ǵ thày đă đối xử với VNCH trước kia. Là người có đọc sách Phật, chắc thầy cũng nh́n thấy “Luật nhân quả” và “quả báo nhăn tiền”. C̣n nếu thày chưa nh́n rỏ th́: Nam mô a di đà Phật, xin ngài khai thông huệ nhăn cho thầy.

  4. #4
    AU LAC
    Khách

    Đài VOA coi thiền sư NHẤT HẠNH như là một người (VN)
    tạo ảnh hưởng Phật giáo đứng thứ nh́ trên thế giới sau Đức Dalai Lama.



    Vào Google search for "leanage thich nhat hanh"
    sẽ thấy hiện ra vô số trang về thiền đường theo cách tu của thầy Nhất Hạnh

    Last edited by AU LAC; 15-11-2014 at 07:24 PM.

  5. #5
    AU LAC
    Khách

    PHÉP LẠ CỦA SỰ TỈNH THỨC

    Tác phẩm có lẻ hay nhất, rất nên nghe, của Thiền Sư Nhất Hạnh:
    (lấy tinh thần Tỉnh Thức của THIỀN TỨ NIỆM XỨ)



  6. #6
    Member
    Join Date
    30-07-2011
    Posts
    513

    Phật giáo nổi loạn tại Sàig̣n năm1966,chống tướng NC Kỳ và Tổng thống NV Thiệu


  7. #7
    AU LAC
    Khách

    KINH VÔ NGĂ TƯỚNG



    Như vầy tôi nghe:

    Một thời Thế Tôn ngự tại vườn Lộc Giả, gần thành Ba Ra Na Si. Đức Phật giảng cho năm thầy Tỳ kheo nghe như vầy:

    Này các Tỳ kheo, sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn là vô ngă, không phải là của ta. Này các Tỳ kheo, nếu các uẩn thật là của ta, th́ chúng không bị đau khổ. Lại nữa, người đời có thể nói xin cho các uẩn của ta như thế này, hoặc đừng như thế kia. Này các Tỳ kheo, các uẩn thật là vô ngă nên hằng bị đau khổ. Lại nữa, người đời không có thể nói xin cho các uẩn của ta như thế này, hoặc đừng như thế kia.

    Này các Tỳ kheo, các ngươi cho sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn là thường hay vô thường?
    Bạch đức Thế Tôn, các uẩn là vô thường.
    Vật chi vô thường, vật ấy là khổ hay vui?
    Bạch đức Thế Tôn, vật ấy là khổ.
    Vật chi vô thường là khổ, có sự biến hoại theo lẽ thường, th́ nên cho vật ấy là của ta, là ta, là tự ngă của ta chăng?
    Bạch đức Thế Tôn, chẳng nên.

    Này các Tỳ kheo, cho nên sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn nào dù trong đời quá khứ, vị lai, hiện tại, bên trong bên ngoài, thô thiển vi tế, hạ liệt thù thắng, gần hoặc xa, các uẩn ấy chỉ là uẩn thôi. Các ngươi nên nhận thức chân lư ấy bằng chánh trí, đúng theo thực tướng như vầy: đó chẳng phải là của ta, chẳng phải là ta, chẳng phải là tự ngă của ta.

    Này các Tỳ kheo, bậc thinh văn được nghe và thấy như thế rồi, liền sanh tâm nhàm chán đối với sắc, đối với thọ, đối với tưởng, đối với hành, đối với thức. Do nhàm chán vị ấy ly tham. Do ly tham tâm được giải thoát. Khi tâm được giải thoát vị ấy chứng đắc tuệ giải thoát, và biết rơ sự sanh đă tận, phạm hạnh đă thành, những ǵ nên làm đă làm, và không c̣n tái sanh nữa.

    Đức Phật thuyết giảng như vậy, năm thầy Tỳ kheo hoan hỷ tín thọ. Khi đức Phật giảng dạy kinh này, th́ tâm của năm thầy Tỳ kheo được giải thoát các vi tế phiền năo, không c̣n chấp thủ nữa.
    Last edited by AU LAC; 16-11-2014 at 07:35 PM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 01-06-2014, 12:40 AM
  2. Replies: 5
    Last Post: 18-11-2013, 11:41 AM
  3. Replies: 0
    Last Post: 01-11-2012, 12:11 PM
  4. Replies: 6
    Last Post: 04-07-2012, 06:57 AM
  5. Replies: 5
    Last Post: 28-09-2011, 07:56 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •