+ Reply to Thread
Page 17 of 21 FirstFirst ... 7131415161718192021 LastLast
Results 161 to 170 of 207

Thread: Mái Vú Làng Tôi Ơi...

  1. #161
    tran truong
    Khách

    Tôi bị bắt _ Trần vàng Sao

    Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính), một người làm thơ ở miền Nam, nhưng vào những năm 60 của thế kỷ trước, đứng lên chống lại chế độ chính trị của miền Nam lúc đó để cuối cùng “đi về phía bên kia” và chính ở đây anh đă vướng phải một tai hoạ rất tệ hại cho bản thân.
    Anh được đưa ra miền Bắc trị bệnh: ở nơi đây, sau một thời gian quan sát, anh đă ghi lại những suy nghĩ của ḿnh về cái gọi là “hậu phương xă hội chủ nghĩa” đó bằng nhật kư và chính v́ những suy nghĩ ghi thành chữ viết này anh bị các đồng chí của ḿnh tố cáo, truy bức, nguyền rủa, phỉ nhổ, cô lập, đến chỗ như anh cho biết anh không c̣n được coi là con người nữa ... mà đă thành “một con vật, một con chó " !

    ......................



    Tôi ở Hà Nội chơi với bọn thằng Ngô, T́nh, đến chơi nhà chị Ngọc Trai, anh Doăn Triều, đến với mấy đứa nhỏ ở trường Chu văn An… Gần hết phép tôi sang K10 ở Gia Lâm, nghe nói có nhiều anh em ở Huế mới ra ở bên đó. Tôi gặp thằng Nguyễn Đắc Xuân ở đây. Hắn đau gan th́ phải, trông hắn xanh và ốm. Hắn mới được kết nạp đảng và đang c̣n thời kỳ dự bị. Tôi hỏi thăm bạn bè, hắn nói:

    – Thằng Điềm kư giấy sinh hoạt đảng cho tao đó.

    Trước đó ngày 30.07.1973, thằng Điềm có viết cho tôi:

    “Vừa rồi anh Tường ra Hà Nội, Đính có gặp không?… Tháng 4.1973, đổ về trước ḿnh đi đồng bằng, có về Ưu Điềm. Ngày Hiệp định có hiệu lực là ngày ḿnh ở đó, nhưng lại là ngày choảng nhau. Từ đó đến nay ḿnh về rừng làm báo Cứu Lấy Quê Hương.

    ……….

    “Ḿnh vẫn ở trong rừng. Chuyện phục hồi của ḿnh vẫn chưa giải quyết được. Chỉ v́ ḿnh đi ở nhiều cơ quan, đi công tác luôn. Ḿnh không buồn rầu lắm v́ mọi người chung quanh cũng hiểu ḿnh”.

    Hết phép, tôi định lên Phú Thọ, th́ ông Hoàng Lanh, Phó bí thư thành ủy Huế ra công tác ghé lại K10. Ông Lanh nói tôi ở lại để làm việc với ông. Tôi bảo tôi phải đi đúng phép, không được trễ hạn. Nếu ông muốn tôi ở lại làm việc với ông, ông phải báo cho Ban Thống Nhất và Cục đón tiếp cán bộ B biết.
    Ông Lanh nói: “Cậu đừng lo, tôi sẽ điện báo cho các anh biết là cậu phải ở lại Hà Nội để làm việc với Thường Vụ Thành ủy Huế”. Ư ông Lanh lúc đó là muốn tôi vào Quảng Trị làm công tác giáo dục. Ông nói: “Cậu cứ yên tâm về K100. Có ǵ tôi sẽ báo. Hiện nay Quảng Trị đang cần những người như cậu”.

    Về Phú Thọ, Lê Thị Thu một lần đi chơi với tôi có nói: Lần nào anh về Hà Nội cũng có đứa đi theo. Anh có biết đứa nào không? Cái thằng mê con Đào Quảng Ngăi đó. Anh đừng tin mà nói chuyện với hắn chi hết đó. A thằng Tân, phải thằng Tân. Hắn đâu có phải là đảng viên.

    Thu: không đảng viên mới phấn đấu. Phấn đấu th́ vô trong rừng mà phấn đấu. Ưng vô đảng mà lại sợ chết. Tôi sực nhớ ra thằng Tân ở cùng một pḥng với ông bí thư đảng ủy. Vậy là hắn bị dụ. Hắn là 1 thằng khoảng gần 30 tuổi, ốm yếu cả về cơ thể lẫn tinh thần. Giọng nói hắn cụt và nghe những tiếng cuối cùng hay bị mắc trong cổ. Cười, th́ hắn cười rộng miệng. Tôi nghi là hắn hoàn toàn bị động về việc theo dơi tôi.

    Khoảng năm 1978, 1979 t́nh cờ tôi gặp hắn ở Ty thương binh xă hội. Hắn đă có vợ người Hà Nội. Hắn vẫn ăn mặc tươm tất, đầu chải ướt và vẫn không vào đảng được.

    Ngày 20.05.1974, tôi nhận được thư của Nguyễn Đ́nh Nghĩa đề ngày 14.05.1974 ở Lệ Kỳ, Quảng B́nh. Nghĩa báo tin cho tôi biết người anh bạn con d́ của tôi là Lê Văn Sắc vẫn c̣n sống. Tôi mừng vô cùng. Lâu nay bạn bè chúng tôi vẫn nghĩ là Lê Văn Sắc đă chết ở Phú Vang lúc rút ra khỏi thành phố trong đợt tổng tấn công đầu xuân Mậu Thân 1968.
    Có người bảo là đă thấy Lê Văn Sắc ôm khẩu AK chết gục đầu trên giường ruộng. Thật ra lúc đó anh bị bắt và bị giam ở Phú Quốc. Sau hiệp định Paris, anh được trao trả và bây giờ đang an dưỡng ở T72, Sầm Sơn – Thanh Hóa. Lê văn Sắc, Nguyễn Đ́nh Nghĩa và tôi cùng thoát ly lên chiến khu 1 lần, 6-1965.

    Cuối năm 1966 trên đường đi công tác, Lê Văn Sắc lọt vào ổ phục kích của địch ở Châu Chữ – Nam Ḥa, bị bắt và bị giam ở lao Thừa Phú. Đầu năm 1968, giải phóng nhà lao, ra tù chưa được 1 tháng, anh lại bị bắt. Nghĩa cùng bị bắt trong đợt này lúc trên đường rút lên xanh. Cả hai đều được trao trả cùng một lúc.

    Sau khi tŕnh bày với ông trưởng pḥng và bí thư chi bộ, tôi đến gặp ông bí thư đảng ủy tŕnh đơn xin đi phép vào Sầm Sơn thăm người anh. Ông Bí thư đảng ủy phê trong đơn: “Đồng ư. Đề nghị K100 cấp giấy phép cho anh Đính”. Ông Hư, trưởng K100, người B́nh Định, nh́n tôi:

    – Anh đi ǵ mà đến nửa tháng?

    – Tôi phải về Hà Nội hỏi thăm tin tức về anh tôi và đường đi đến T72.

    – Thôi được. Anh đi 10 ngày là đủ rồi.

    Sáng 22.05.1974, tôi về đến Hà Nội. Đây là lần thứ hai trong năm 1974 tôi về Hà Nội. Tôi loanh quanh ở Hà Nội hỏi thêm tin tức về Lê Văn Sắc và Nguyễn Đ́nh Nghĩa cho đích xác. Ngày 27.05.1974 tôi về Sầm Sơn. T72 là nơi đón tiếp những người được trao trả từ Phú Quốc. Sau thời gian bồi dưỡng sức khỏe, học tập chính trị, những người này sẽ được phân loại để sắp xếp công tác.

    Nhà cửa ở đây làm theo kiểu láng trại dă chiến, tranh tre lá nứa. Chung quanh không có cây cối, nhưng v́ sát bờ biển nên rất thoáng mát. Cuộc gặp gỡ không ngờ giữa anh em bạn bè chúng tôi quá xúc động. Có thằng ḿnh không ngờ lại gặp được ở đây. Thằng Nghĩa, anh em trong xóm gọi là Chó Chữ (lúc nhỏ tên Chó, con bác Chữ) bị Mỹ bắn què chân, bây giờ phải đi cà niễng, ôm vật tôi trên sạp tre, chảy nước mắt.

    Ông anh bạn con d́ tôi, mới trên dưới 35 tuổi mà tóc bạc trắng, má tóp, răng hư, người gầy như que củi. Những cuộc tra tấn và những ngày biệt giam ở Phú Quốc đă làm cho con người anh ta như thế. Thằng Nguyễn Đ́nh Nghĩa có khá hơn, c̣n sức, nhưng cũng đă đừ ra rồi. Rồi cùng với những anh chị em mới quen biết khác, chúng tôi quây quần nói chuyện, chuyện cũ, chuyện mới, lúc buồn có người khóc, lúc vui chùi nước mắt cười to tiếng.
    Ba bốn cô gái ngồi đó, cô nào cũng ốm tóp, xanh xao, đôi mắt cũng chưa hết vẻ thất thần. Mấy cô nói: “Có ở tù như bọn em đây mới hiểu được nhau. Nói thật, bọn con gái chúng em chẳng có đứa nào c̣n tốt lành hết. Như em th́ cũng bị mấy chục thằng. Thân tàn ma dại hết rồi. Đứa nào bây giờ cũng bịnh. Bọn con gái phục vụ ở đây không dám đi chung nhà tiêu với tụi em. Bọn hắn sợ lây. Nói vô duyên chớ, sau này ai mà thèm lấy bọn em”. “Thôi tù lấy tù cho rồi”. “Chưa chắc”.

    Anh Sắc cho tôi biết là người em ruột của anh tên là Lê Văn Tư cũng đă chết. “Ra khỏi nhà lao, tao về nhà kéo thằng Tư đi theo. Trên đường rút lên núi, lúc lội qua sông ở Hà Trữ – Vinh Thái, thằng Tư bị trực thăng bắn chết, t́m không ra xác”.

    Tôi ở Sầm Sơn được năm, sáu ngày. Đáng lẽ tôi ở thêm vài ngày nữa, nhưng một đợt học tập, kiểm điểm ở đây sắp bắt đầu. Trong thời gian học tập, mọi người phải hạn chế việc tiếp khách và không được ra khỏi trại. Anh Sắc bảo tôi: Khoảng 1 tháng nữa, học tập xong, anh sẽ ra Hà Nội.

    Từ đó, 1 vài tháng tôi lại về Hà Nội. Chị Trai và anh Doăn Triều cho tôi biết là Ban Thống Nhất không đồng ư cho tôi về Trại sáng tác B ở Hà Nội. Anh Triều nói: “Chỉ có cách về Trại sáng tác B mới cứu được mầy. Mầy c̣n ở các K điều dưỡng th́ có ngày khô xương”. Chị Trai nói: “Ḿnh sợ cậu sẽ điên mất”.

    Khoảng tháng 6, 7, Thái Ngọc San lên Phú Thọ gặp tôi. Một buổi sáng, khoảng 5 giờ, lúc đó trong pḥng mới có 1 vài người dậy, tôi đang ngồi uống nước với anh Bính, thằng San lù lù bước vào. Mi ṃ cách răng mà lên đến đây? Tao lên Hương Canh, nhưng đến Hương Canh nghĩ lui nghĩ tới tao ngồi luôn trên tàu, đi thẳng lên đây. Thằng San ở chơi với tôi gần một tuần.

    Tôi ở Phú Thọ thêm một mùa xuân, một mùa hè, một mùa thu và một mùa đông nữa. Trong trí nhớ của tôi, chỉ c̣n những h́nh ảnh về mùa hè và mùa đông ở đây là rơ ràng. Tôi nhớ lẫn lộn bầu trời, cây cối giữa mùa thu và mùa đông. C̣n mùa xuân th́ hầu như tôi không nhớ ǵ hết. Tôi ghi trong cuốn sổ lịch.


    Ngày 14.10.1974

    Buổi sáng mùa đông đầu tiên ở Phú Thọ, gió dư của cơn bảo số 8 đang rớt ngoài vịnh Bắc Bộ. Lạnh trong con mắt, nơi vết loét cũ của dạ dày tôi rồi. Những buổi sáng mùa đông ở Vỹ Dạ, trời lạnh và cây cối khô ráo; những hàng sầu đông rất buồn.

    Ngoài a-trô-pin ra tôi không c̣n một thứ thuốc dạ dày nào khác.

    Trong t́nh cảnh của tôi lúc này tôi chẳng viết ǵ được. Kinh khủng nhất là tôi không nghĩ tới chuyện làm thơ. Tại sao lúc đó tôi không nghĩ cách viết lén lút, rồi nhờ bạn bè cất giấu. Tôi mệt mỏi. Tôi không làm thơ, tôi không viết nhật kư, tôi chỉ ghi chép lúc đọc sách. Tôi cứ sợ nếu sau này tôi có cơ hội viết th́ biết đâu tôi đă ră rời rồi. Óc năo tôi đă lỏng ra. Những tư tưởng, suy nghĩ của tôi không biến được thành chữ nghĩa.
    Tôi bị dồn nén, tôi quẫn trí, tôi quanh quẩn với ḿnh. Dạ dày tôi cứ rỉ máu, những cơn đau lên ngực, thốn thấu năo. Lửa bốc trong đầu tôi. Tôi ră rời. Tôi điên rồi. Nhiều khi tôi muốn hét lên một tiếng thật to rồi hộc ra một đống máu. Quá tức, tôi là một thằng tù không bị giam trong ngục và những người chung quanh không bao giờ thả tôi ra.

    ***

    III. Về Hà Nội

    Sáng 17.01.1975, ông Thụ, bí thư chi bộ gác tôi ở , bảo tôi xuống văn pḥng lănh đạo K để làm việc. Không biết có chuyện ǵ đây? Tôi nói với anh Bính: Chắc tôi sắp chuyển đi đâu đây. Anh Bính nói: tôi mong mọi việc đều tốt lành cho anh.

    Tôi xuống văn pḥng. Ông Hư, trưởng K100 và ông bí thư đảng ủy khối bệnh nhân đă ngồi đó. Ông Hư nói:

    – Có lệnh chuyển anh về Cục.

    Ông đưa cho tôi 1 tờ giấy. Đó là công văn số 104CB/CĐ ngày 15.01.1975 của Cục đón tiếp cán bộ B do ông Phan Văn Thuận, Cục phó, kư điều tôi về Cục, không nói để làm ǵ.

    Ông Hư nói:

    – Anh chuẩn bị đồ đạc khi nào có xe về Hà Nội chúng tôi báo. Về đó anh sẽ biết lư do.

    Tôi đoán là anh Triều và chị Trai vận động cho tôi về Hà Nội đây. 2 ngày sau, người ta báo cho tôi hiện nay K không có xe về Hà Nội, do đó tôi phải đi tự túc, tiền tàu xe Cục sẽ thanh toán. Tôi biết ngày hôm trước có một chuyến xe đưa mấy ông lănh đạo ở đây về Hà Nội họp nhưng họ không muốn cho tôi đi cùng với họ.
    Nhân cô Thu và cô Đào về Hà Nội, tôi nhờ hai người mang vác đồ đạc giùm. Trước khi đi tôi tặng anh Bính cuốn Tự do của Roger Garaudy. Đưa tôi ra ga, anh Bính nói: “mong anh đi một nơi nào khác không phải là 1 K điều dưỡng. Bọn ḿnh sẽ gặp nhau, tôi sẽ vào Nam lại”.

    Ngày 21.01.1975 tôi về đến Hà Nội, vất vả nhất là bọn tôi phải ôm đồ đạc từ ga Hàng Cỏ đến chợ Đồng Xuân để lên tàu điện về trường Chu Văn An (?) rồi từ đó đi bộ qua 11A Hoàng Hoa Thám.

    11A Hoàng Hoa Thám – Cục đón tiếp cán bộ B, cái cổng mở toác hoác, đường qua cổng không có bực cấp mà chỉ là một cái dốc chuồi xuống. Tôi quá ớn và quá chán cái chỗ này rồi. Tôi vào gặp ông Phan Văn Thuận, Cục phó.

    – Anh mới về à? Mấy bữa ni tôi chờ anh. Thôi thế là tốt rồi.

    Ông Thuận cho tôi biết là Tiểu ban văn nghệ miền Nam thuộc Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam xin tôi về Trại sáng tác B và các anh trên đă đồng ư. Ông Thuận bảo:

    – Tôi sẽ báo cho anh Doăn Triều và chị Ngọc Trai biết. Anh cứ ở lại đây. Cứ thong thả. Anh muốn đi đâu cũng được. Giấy tờ chuyển anh về đă xong hết. Đây, anh cầm lấy.

    Tôi ra chỗ hội trường là nơi tạm nghỉ báo cho Thu và Đào biết. Đào nói:

    – Bọn em mừng cho anh.

    Tôi cười, chắc là tôi c̣n nhiều gian nan nữa. Đào bảo Thu ở lại giúp tôi sắp xếp lại đồ đạc một chút, Đào có việc phải đi. Trưa đó cả chị Trai và anh Doăn Triều đến.

    – Cảm ơn anh Triều và chị Trai vô cùng.

    Chị Trai nói:

    – Điều quan trọng là cậu phải về với bọn ḿnh cái đă. Sau đó th́ thế nào hẵng hay.

    Anh Triều:

    – Chỉ có cách đưa mầy về đây mới cứu được mầy. Mầy ở đây nghỉ. Sáng mai tao lấy ô tô đưa mầy về. Mầy sẽ để đồ đạc ở nhà bà Trai. Mọi việc sẽ sắp xếp sau.

    Tôi nói:

    – Ngày mai tôi sẽ mang đồ đạc đến nhà chị Trai. Tôi sẽ nhờ bọn thằng Ngô.

    Chiều hôm đó, tôi đến 56 Quán Sứ gặp thằng Ngô. Sáng hôm sau hằn với thằng T́nh xuống 11A Hoàng Hoa Thám, chở đồ đạc của tôi về nhà chị Trai ở 6 Lư Thường Kiệt. Thấy tôi, thằng Ngô cười:

    – Răng rứa mi? Tụi hắn buông tha giả dớm mi rồi à? Thoát được, ở gần với bọn tao là vui rồi. Dù sao th́ cũng đỡ khổ.

    Thằng T́nh nói:

    – Theo bà Trai th́ mi coi như công tác A, nhưng vẫn hưởng chế độ B.

    Thằng Ngô:

    – Tức là Ban Thống nhất với cái Cục đón tiếp vẫn quản lư mi.

    Tôi cười:

    – Tao đă được thả ra đâu. Đời nào tụi nó chịu buông tha tao.

    Buổi trưa hôm đó, thằng Ngô, thằng T́nh và tôi ăn cơm ở nhà chị Trai. Tôi nói với chị Trai trong lúc chờ đợi sắp xếp việc làm, tôi ở chơi với bọn thằng T́nh. Mới đầu anh Triều và chị Trai định đưa tôi ở một căn pḥng nào đó của một đoàn văn công, nhưng đoàn này đi diễn xa chưa về. Sau đó, chị Trai bảo tôi tạm thời ngủ tại pḥng làm việc của Tiểu ban văn nghệ miền Nam ở 51 Trần Hưng Đạo. Nhưng ở đó việc đi lại hơi vất vả, đi chơi khuya về kêu cửa rất khó, mà bạn bè đến gặp cũng quá phiền.

    Cuối cùng anh Triều và chị Trai đưa tôi về ở nhờ nhà anh Châu Đ́nh Du trong khu tập thể bên ngoài pḥng triển lăm Vân Hồ. Ngày 27.01.1975 tôi về nhà anh Du. Anh Châu Đ́nh Du, người Huế là một nhà điêu khắc nổi tiếng ở Hà Nội. Vợ anh là người Hà Nội. Vợ chồng anh có hai đứa con gái c̣n bé và một đứa con trai đang ăn bột. Nhà anh chật. Anh cho tôi mượn cái ghế bố kê ở lối ra vào cạnh cái bàn tiếp khách nhỏ làm chỗ ngủ.

    Anh chị Du đi làm suốt ngày. Cả hai vợ chồng đối đăi với tôi rất tốt. Nói là ở trại sáng tác B, nhưng thật ra tôi cũng chẳng biết mặt mũi cái Trại sáng tác này như thế nào. Tôi biết anh Triều và bà Trai tạo điều kiện cho tôi về Hà Nội, thoát khỏi cái cảnh tù túng lâu nay của tôi. Công việc của tôi được giao là t́m đọc những bài viết về văn học và triết học ở miền Nam trên sách báo miền Bắc và ghi lại những nhận xét của ḿnh.

    Ông Bảo Định Giang, Ủy viên thường trực Đảng đoàn Văn nghệ, bảo tôi:

    – Chúng tôi đă t́m cách đưa anh về đây. Anh c̣n ở các K viện miền Nam là anh c̣n bị hành hạ, cho đến khi nào anh phẳng như tờ giấy… thế này.

    Ông đưa bàn tay xa xa trên mặt bàn:

    – Chị Trai và anh Triều sẽ sắp xếp công việc của anh. Nếu có ai hỏi anh về đây làm ǵ, anh cứ bảo là hỏi chúng tôi. Chúng tôi là người chịu trách nhiệm về công việc của anh.

    Chị Trai nói:

    – Nếu họ biết công việc của cậu, họ sẽ phản đối và gây khó khăn cho cậu.

    Tôi ăn cơm ở nhà ăn tập thể của Hội nhà văn, 49 Trần Hưng Đạo. Mọi tiêu chuẩn, chế độ ăn uống do Cục đón tiếp cán bộ B chịu. Tôi vẫn hưởng chế độ B, 1 tháng 21 đồng tiêu vặt. Hàng ngày thỉnh thoảng tôi đến tiểu ban văn nghệ miền Nam nói chuyện, mượn sách. Không vào thư viện, gặp lúc bọn thằng Ngô rảnh tôi đi chơi với chúng.
    Lâu lâu tôi về Hà Đông gặp thằng Lê Ích Đề (lúc này Lê Ích Đề đă ra công tác A, làm việc ở Ty giáo dục Hà Tây). Nơi tôi hay đến ngoài bọn thằng T́nh, thằng Ngô là nhà bà Trai và nhà anh Triều. Nhà anh Doăn Triều ở phố Bà Triệu gần nhà anh Châu Đ́nh Du, tối tối tôi hay sang uống nước nói chuyện. Tôi với thằng Ngô cũng hay ghé nhà Nguyễn Xuân Thâm ở Bà Triệu. Khi nào có hảo mấy đứa ra Cổ Tân hay các quán dọc đường uống bia hơi. Chen lấn bở hơi tai mới mua được mấy ly, đă thèm. Lúc này thằng Thái Ngọc San đi tham quan ở Hungary hay đi chữa bệnh ở Quế Lâm th́ phải.

    Tôi về Hà Nội gặp lúc các cơ quan làm việc thông tầm. Sáng nào tôi cũng dậy sớm đi bộ từ khu triển lăm Văn Hồ đến 51 Trần Hưng Đạo ăn cơm. Nhiều buổi sáng ăn không nổi, nhưng tôi không có cà mèn để bới nên buổi trưa đành chịu đói.
    Buổi chiều, có lúc đi chơi về trễ, nhà ăn đóng cửa, thấy cơm để trong tủ mà chịu. V́ làm việc thông tầm, nên mỗi khi đến thư viện, tôi mua một ổ ḿ nhỏ bán tự do, bốn hào, hoặc hai ba cái bánh rán, mỗi cái 2 hào để ăn trưa. Khi hết tiền th́ nhịn.

    Về Hà Nội tôi thoát được t́nh cảnh bị nḥm ngó của những người chung quanh. Ngoài những lúc đi chơi với bạn bè, tôi vẫn giữ thói quen đọc sách. Chỉ có về đêm tôi phải đi ngủ sớm để tránh gây phiền hà cho vợ chồng anh Châu Đ́nh Du. Đó là điều cực khổ của tôi. Và, tôi viết, tôi làm thơ. Tôi muốn đọc lại những ǵ tôi viết, nhưng tôi không c̣n 1 cái ǵ hết, thơ tôi đă bị tịch thu.

    Tôi chỉ c̣n lại một bài duy nhất, bài “Chiến tranh nhân dân và đồng chí” chép trên tờ giấy croquis. Sau những ngày bị khảo tra ở K65, t́nh cờ tôi nhặt được tờ giấy đă bị ṿ nhàu này trong góc pḥng dưới giường thằng Nguyễn Viết Trác. Lúc nh́n thấy bài thơ này tôi xúc động, như thể lâu nay ḿnh đánh mất ḿnh bây giờ t́m thấy ḿnh. Tôi viết, tay tôi chưa cứng. Tôi viết, lâu quá, lâu quá, máu óc, tinh thần tôi không ra chữ được. Tôi phải b́nh tĩnh. Tay tôi chưa cứng, nhưng óc năo và miệng lưỡi lâu nay bị nén lại, tôi chưa lấy được đà. Tôi ghi ở đầu 1 cuốn sổ tay:

    "Có một lúc lâu tôi không nhớ ḿnh ra ngoài đường gặp ai tôi cũng ngó , cứ vác mặt đứng như người lạ không biết đi đâu không biết đi đâu."

    Ở Hà Nội những ngày này tôi mang cái tâm trạng đó.
    Không có điều chi buồn , không có điều chi vui , không mệt mỏi không chán không no , không b́nh thường , không quá độ , không biết ḿnh đang đi đang ngồi đang nói đang thở tôi không là ǵ hết


    (26.02.1975)

    Tôi muốn được yên ổn. Những cơn dạ dày thỉnh thoảng lại hành hạ tôi toát mồ hôi. Tôi uống Atropine, trước 1 ống, bây giờ phải 2 ống mỗi khi đau. Loáng thoáng một hai lần tôi thấy 1 người tên Sung trên 40 tuổi thường đội mũ cát dạ màu đen ở 51 Trần Hưng Đạo. Có lần thấy tôi ở trong đi ra, hắn đứng phía ngoài đường một bên cửa hông ra vào ngó chăm hăm tôi. Tôi nh́n hắn nhưng hắn là ai.

    Anh Triều nói: “thằng Sung hỏi tao: hiện nay mày làm ǵ? Hắn nói với giọng dọa dẫm. Tôi báo cho các anh biết, Cục 78 vẫn theo dơi thằng Đính đó. Tao bảo hắn, việc của các anh các anh cứ làm. Tôi nói với anh Triều và chị Trai: “Tôi chẳng sợ ǵ cả. Đằng nào th́ tôi cũng bị đối xử như một con vật rồi. Tôi phải sống để gặp mẹ tôi”.


    Còn tiếp ....

  2. #162
    tran truong
    Khách

    Tôi bị bắt _ Trần vàng Sao

    Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính), một người làm thơ ở miền Nam, nhưng vào những năm 60 của thế kỷ trước, đứng lên chống lại chế độ chính trị của miền Nam lúc đó để cuối cùng “đi về phía bên kia” và chính ở đây anh đă vướng phải một tai hoạ rất tệ hại cho bản thân.
    Anh được đưa ra miền Bắc trị bệnh: ở nơi đây, sau một thời gian quan sát, anh đă ghi lại những suy nghĩ của ḿnh về cái gọi là “hậu phương xă hội chủ nghĩa” đó bằng nhật kư và chính v́ những suy nghĩ ghi thành chữ viết này anh bị các đồng chí của ḿnh tố cáo, truy bức, nguyền rủa, phỉ nhổ, cô lập, đến chỗ như anh cho biết anh không c̣n được coi là con người nữa ... mà đă thành “một con vật, một con chó " !

    ......................



    Tay tôi chưa cứng, nhưng óc năo và miệng lưỡi lâu nay bị nén lại, tôi chưa lấy được đà. Tôi ghi ở đầu 1 cuốn sổ tay:

    Có một lúc lâu tôi không nhớ ḿnh
    ra ngoài đường gặp ai tôi cũng ngó
    cứ vác mặt đứng như người lạ
    không biết đi đâu không biết đi đâu.


    Ở Hà Nội những ngày này tôi mang cái tâm trạng đó.

    Không có điều chi buồn
    không có điều chi vui
    không mệt mỏi
    không chán
    không no
    không b́nh thường
    không quá độ
    không biết ḿnh đang đi đang ngồi đang nói đang thở
    tôi không là ǵ hết
    (26.02.1975)


    Tôi muốn được yên ổn. Những cơn dạ dày thỉnh thoảng lại hành hạ tôi toát mồ hôi. Tôi uống Atropine, trước 1 ống, bây giờ phải 2 ống mỗi khi đau. Loáng thoáng một hai lần tôi thấy 1 người tên Sung trên 40 tuổi thường đội mũ cát dạ màu đen ở 51 Trần Hưng Đạo. Có lần thấy tôi ở trong đi ra, hắn đứng phía ngoài đường , một bên cửa hông ra vào ngó chăm hăm tôi. Tôi nh́n hắn như hắn là ai.

    Anh Triều nói: “thằng Sung hỏi tao: hiện nay mày làm ǵ? Hắn nói với giọng dọa dẫm. Tôi báo cho các anh biết, Cục 78 vẫn theo dơi thằng Đính đó. Tao bảo hắn, việc của các anh các anh cứ làm.
    Tôi nói với anh Triều và chị Trai: “Tôi chẳng sợ ǵ cả. Đằng nào th́ tôi cũng bị đối xử như một con vật rồi. Tôi phải sống để gặp mẹ tôi”.

    Từ những ngày đầu tháng 3, sau khi quân giải phóng đánh chiếm Buôn Mê Thuột, ngày nào ở Tiểu ban Văn nghệ miền Nam cũng đông người. Các văn nghệ sĩ tấp nập đến đây để xin vào Nam, trong số này có những người mới ở chiến trường ra chữa bệnh hoặc an dưỡng. Mặt mày ai cũng hớn hở. Người nào cũng nói tiếng to và cười luôn miệng, chuyện nói là xoay quanh của cải, vật chất ở các đô thị miền Nam, vùng hiện bị địch tạm chiếm.

    Những ngày tháng 3 này chúng tôi thường gặp nhau ở nhà chị Trai, nhà anh Triều, ở quán cà phê hầm Trần Hưng Đạo. Sau ngày 26.03.1975, ngày Huế được giải phóng, chúng tôi gặp nhau hầu như hàng ngày. Lúc này San, Quê đang tập trung ở K10 chuẩn bị vào Huế, nhưng thường xuyên có mặt ở Hà Nội.

    Những ngày này Hà Nội ồn ào. Ở 51 Trần Hưng Đạo, người ta xúm bên cái radio bán dẫn, chúi đầu, chổng tai, la hét, nghiến răng, vỗ tay, hoan hô, chửi đổng. Người ta sướng, người ta nhảy, người ta cười. Có được 1 miền Nam Mỹ ngụy để lại là miền Bắc có thêm của cải vật chất.
    Các văn nghệ sĩ háo hức muốn vào Nam ngay để viết, vẽ, làm thơ, làm nhạc. Miền Nam sẽ có nhiều đề tài, miền Nam sẽ là chất men để sáng tạo.

    Lúc đó tôi ghi: ngày 23.3.1975, BBC nói: “Huế gần như trống không, không chợ búa” .

    Huế, im và câm.

    Thành phố: nhà, tường và ngói, những phết sơn bất động
    đường cứ dài, mất và đứt , ở đầu xa
    người chạy trốn vội vă;
    người ở lại: những con mắt sau khe cửa – những cái tṛng giả
    im lặng, câm chờ
    những cái đầu quay lại
    những con mắt quay lại, không có nước mắt
    thù ghét
    căm giận
    tủi hờn
    nhục nhă
    hy vọng
    chết

    ngục
    không khóc
    không cười
    không la hét
    Cách mạng
    Chiến thắng


    Ngày 28.03.1975, trong buổi phát thanh 21 giờ 30, đài tiếng nói Việt Nam đưa tin: 3000 người ở Thừa Thiên theo nhau lên tàu chạy trốn, tàu ch́m, chết hết. Tin loan theo các hăng thông tấn phương tây. Cô phát thanh viên khi đọc tin này, giọng tàn nhẫn. Cô cố nhấn mạnh con số 3000 nhằm tố cáo tội ác của Mỹ ngụy, nhưng lạnh quá, tàn nhẫn quá. Nghe tin này, một nhà thơ nổi tiếng lâu nay buột miệng: “Đồ ngu”.

    Thời gian này, cán bộ miền Nam ở các viện điều dưỡng lục tục tập trung về K15, K10 chuẩn bị vào Nam. Khoảng đầu tháng 4, Thái Ngọc San, Vơ Quê vào Huế. San gửi thư ra cho tôi báo là có về nhà tôi và đă gặp mẹ tôi. San nói là tôi phải t́m cách mà vào, trong này (Huế) không có vấn đề ǵ nghiêm trọng đối với trường hợp của tôi.

    Đúng lúc đó, một số cán bộ văn nghệ của Thừa Thiên Huế ra Bắc chữa bệnh và dưỡng sức , hiện ở trại sáng tác B đang làm thủ tục vào Nam. Nhân đó, anh Doăn Triều thảo một công văn (do ông Bảo Định Giang kư) gửi Ban Thống nhất trung ương và Cục đón tiếp cán bộ B xin cho tôi đi cùng với những người này.

    Tôi cầm công văn lên Cục đón tiếp cán bộ B gặp ông Phan Văn Thuận, Cục phó và ông Hai (tôi không rơ chức vụ của ông Hai, chỉ biết ông ta có quyền quyết định trong việc điều động cán bộ B).
    Hai ông đồng ư. Đầu tháng 4.1975, tôi cùng 1 lần với những anh em quen biết là Nguyễn Quang Hà,Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Đệ được chuyển về K15 ở thị xă Hà Đông để bồi dưỡng và chờ ngày vào Huế.

    Đến K15 vài ngày, tôi sang Ty Giáo dục Hà Tây bảo thằng Lê Ích Đề lên Cục xin vào Nam ngay. Cục đón tiếp đồng ư và hắn về K15 ở cùng pḥng với tôi.
    Những ngày chờ đợi ở K15 thỉnh thoảng tôi về Hà Nội kiếm thêm 1 ít sách để vào Huế tặng bạn bè. Ngày đi chưa biết, nhưng có thể đi bằng máy bay. Nếu đi máy bay mỗi người ngoài ba lô, túi sách tay, có thể mang theo thêm 20 kg nữa.

    Ngoài những thứ cần dùng lúc đi đường tôi bỏ vào ba lô, c̣n toàn bộ là sách. Tôi đựng sách trong một cái bao lớn và lấy 1 cái ba lô cũ cắt hết quai và túi ngoài bỏ sách vào, thắt miệng lại, nặng, nhưng vẫn là túi xách.
    Ngày 6.4.1975, ông Bảo Đ́nh Giang, Ủy viên thường trực đảng đoàn văn nghệ gửi công văn cho Cục đón tiếp cán bộ B và K15 đề nghị “sắp xếp cho tôi, Tô Nhuận Vỹ, Quang Hà, Nguyễn Đệ được vào Huế gấp trong đợt đầu tiên vào ngày 18.4.1975” để kịp triển khai công tác.

    Anh Triều và chị Trai sợ có những trắc trở bất lợi cho tôi nếu ở K15 dài ngày. Nhưng rồi đợt đó chúng tôi không đi được. Khoảng sau ngày 20.4, tôi về Cục đón tiếp , nhận sinh hoạt phí. Tôi gặp ông Hai.

    - Anh cho tôi nhận quyết định sinh hoạt phí để lảnh tiền.

    Ông Hai nh́n tôi ngậm ngự một lát, kéo hộc bàn rồi đóng lại, nói:

    - Chiều, chiều hai giờ cậu lại đây.

    - Người nào cũng nhận tiền lâu rồi mà tôi vẫn chưa có.

    Ông Hai:

    - Ờ, ờ, th́ chiều, chiều…

    Chiều tôi đến. Ông Hai nói:

    - Quyết định sinh hoạt phí của mi có lâu rồi, vẫn là quyết định cũ, 50 đồng. Với mức lương này khi vào Huế sẽ không có lợi cho mi cả về mặt chính trị và về việc xếp lương cho mi sau này. Ông Bảo Định Giang có gửi công văn đề nghị xếp cho mi 68 đồng trước khi vào nam. Nhưng Ban thống nhất không đồng ư. Mấy lần tao định đưa quyết định cho mi, nhưng nghĩ cũng tội mi. Tao nghĩ thôi mi cứ vô Huế đi, không cần quyết định nữa, sau răng đó hăy hay. Nhưng không có quyết định th́ mi không có tiền đi đường. Thôi, tao cứ đưa cho mi, ít ra mi cũng có được vài chục.

    Ông Hai đưa cho tôi bản sao Quyết định số 1097 QĐ của Ủy ban thống nhất do Phó chủ nhiệm Phan Triêm kư ngày 31.12.1974 (Bản sao do Cục phó Vơ Công Nghị kư ngày 1.1.1975). Vẫn là Quyết định cũ, xếp tôi 50 đồng sinh hoạt phí.

    Sáng 28.4.1975, đoàn đi Nam được thông báo: 10 giờ sáng 30.4.1975, đoàn sẽ lên đường tại sân bay Gia Lâm. Máy bay sẽ hạ cánh tại sân bay Phú Bài, Huế.
    Sau đó, các đoàn Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định… sẽ đi đến địa phương của ḿnh bằng ô- tô. Để tránh bị tắc đường ở cầu Long Biên, 3 giờ sáng ngày 30.04, đoàn sẽ xuất phát.

    Ngày 29.4.1975, 17 giờ 20, c̣n 10 phút nữa là hết giờ làm việc, một ông bước nhanh vào pḥng tôi ở, qua khỏi cửa dừng lại, ngó quanh. Đó là ông trưởng đoàn của đoàn Thừa Thiên. Thấy tôi, ông ta bước thêm ít bước nữa. Ông ta chỉ tay vào mặt tôi:

    - Ngày mai anh ở lại, anh không đi nữa. Có lệnh đ́nh chỉ chuyến đi Nam của anh.

    Tôi hỏi ngay:

    - V́ sao?

    - Tôi không biết, đó là lệnh trên. Tên anh đă bị gạch trong danh sách của đoàn.

    Hết giờ làm việc rồi. Tôi có chạy đi kêu cứu ở Hà Nội cũng không kịp. Mấy thằng Vỹ, Hà, Đệ nh́n tôi chỉ “ủa” một tiếng. Tôi lên văn pḥng. Văn pḥng K đóng cửa.
    Văn pḥng đảng ủy cũng đóng cửa. Tôi xuống nhà ăn, chỉ có mấy người phục vụ đang dọn dẹp. Tôi quay lại văn pḥng, cũng không có ai. Tôi hỏi 1 người làm việc trong K t́nh cờ đi qua. Cô ta bảo:

    - Các ông về nhà hết. Vô ích, chẳng được ǵ đâu.

    Tôi trở về pḥng. Thằng Phương, phóng viên quay phim mới tập trung để di chuyển sau, nói:

    - Tôi biết trước rồi là ông Đính không được đi. Trưa nay, đến văn pḥng đảng ủy có việc, t́nh cờ tôi nghe mấy ông nói với nhau rồi.

    Mấy thằng Vỹ, thằng Hà, thằng Đệ, đứa nào cũng: “tại sao thế?”, “v́ sao nhỉ”, “sao lại có chuyện này?”… chẳng có đứa nào bận tâm thêm nữa, đứa nào cũng lo sắp xếp đồ đạc để sáng mai đi sớm.
    Ba giờ sáng ngày 30.04.1975, tôi đưa mấy đứa ra xe. Xe chạy, có đứa nói với: “ở lại mạnh khỏe nghe!”.

    Tổ cha bây.
    Khoảng 8 giờ sáng ngày 30.4, một vài người mang vác ba lô, đồ đạc vào pḥng. Người chỉ dẫn, nhân viên của K15, bảo tôi:

    - Anh mang đồ đạc đi nơi khác, để chỗ này cho người khác nằm.

    - Đi nơi khác là đi chỗ nào? Tôi sấn lại trước mặt anh ta.

    - Tôi không biết.

    Tôi không nói thêm với hắn nữa. Tôi lên văn pḥng. Ông Thiệt, trưởng K đang đứng trước cửa ra vào. Tôi hỏi liền:

    - Tại sao các anh lại không cho tôi đi?

    Ông ta nói:

    - Tôi không biết, đó là lệnh trên.

    - Thế bây giờ tôi ăn ở , ở đâu?

    - Chúng tôi xem như anh đă vào Nam. Anh không có tên ở K15 nữa. Chúng tôi không có trách nhiệm ǵ về anh hết.

    Tôi tức rồi:

    - Ông nói cái ǵ lạ thế?

    Ông ta khiểng cái chân gỗ quay vào pḥng:

    - Anh lên Ban thống nhất mà hỏi.

    Tôi về pḥng th́ thấy ba lô đồ đạc của tôi đă dồn đống trong góc dưới sàn nhà. Một thằng cha nào đó ló mặt vào:

    - Anh Đính lên pḥng làm việc.

    Hắn đưa tôi đến văn pḥng đảng ủy. Một ông mặt to, người béo ngồi sẵn sàng ở đó. Tôi biết rồi, ông ta là ủy viên thường vụ đảng ủy phụ trách tổ chức. Ông ta nói giọng Quảng Nam :

    - Anh ngồi xuống đó. Tôi báo cho anh biết hiện nay anh không được ở đây nữa. Chúng tôi coi anh như đă vào Nam.

    Tôi nói to:

    - Tôi không nói với anh. Tôi không cần phải gặp anh. Anh không có quyền gọi tôi đến đây.

    Ông đứng dậy:

    - Tại sao tôi lại không có quyền. Tôi là trưởng ban tổ chức, anh nên nhớ như vậy.

    Tôi cười:

    - Anh là trưởng ban tổ chức của Đảng, mắc mớ ǵ đến tôi.

    Tôi bỏ đi ra ngoài. Ông ta nói giọng giận dữ:

    - Tôi biết anh là ai rồi?

    Tôi quay lại, đứng trước bàn, chỉ tay vào mặt ông ta:

    - Tôi là ai, anh nói nghe nào? anh dọa tôi hả?

    Ông ta hừ hừ . Tôi bỏ đi ra. Về pḥng, tôi mang đồ đạc gửi cho Hoàng Thị Thọ ở một dăy nhà gần đó. Thọ ở Huế vừa mới ra, chuẩn bị đi học 1 lớp ǵ đó. Tôi về Hà Nội.
    Chị Trai, anh Triều thấy tôi th́ chưng hửng. Anh Triều nói:

    - Mấy thằng cha ở K15 chơi mầy đó. Tụi nó ghét mầy.

    Chị Trai lắc đầu:

    - Tụi thằng Vỹ, thằng Hà, thằng Đệ quá tệ, chẳng có phản tứng ǵ cả. Nếu mầy ở K10 mà bị như thế, thằng San, thằng Quê cũng bỏ ba lô xuống không đi, đấu tranh cho kỳ được.

    2 giờ chiều tôi xuống Cục đón tiếp, nhưng không gặp ông Thuận. Tôi ghé qua thằng Ngô. Thằng T́nh và thằng Ngô thấy tôi cũng ngă ngửa ra :

    - Tưởng bở, cứ tưởng bở!

    - Nguyễn Đính đi Nam, đánh dấu than 1 cái! A ha!

    Thằng Ngô lắc đầu:

    - Tụi hắn chơi quá thiểm mi hí. Kêu trời không thấu.

    Chiều, tôi đến nhà ông Thuận. Ông Thuận nói:

    - Đây là do mấy cha ở K15 tự tiện không cho mi đi. Tao có biết ǵ đâu. Nếu biết sớm th́ có thể can thiệp được.

    - Gần hết giờ làm việc họ mới báo cho tôi biết.

    Ông Thuận chắc lưỡi:

    - Tao sẽ t́m cách đưa mi về Huế.

    Ngày 9 hay 10.5.1975 tôi về K15 với giấy giới thiệu của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam:

    Ban thường vụ Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam xin giới thiệu đồng chí Nguyễn Đính là cán bộ trại sáng tác B đến K15 hỏi ngày và phương tiện đi lại. Nếu K15 không giải quyết được phương tiện xin cho biết lư do và trả lời bằng công văn. Yêu cầu các đồng chí giúp đỡ đồng chí Đính làm tṛn nhiệm vụ.
    Hà Nội, ngày 8.5.1975
    TL Ban TV Hội LHVHNT VN
    Nguyễn Xuân Bàng


    Còn tiếp ....

  3. #163
    tran truong
    Khách

    Tôi bị bắt _ Trần vàng Sao

    Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính), một người làm thơ ở miền Nam, nhưng vào những năm 60 của thế kỷ trước, đứng lên chống lại chế độ chính trị của miền Nam lúc đó để cuối cùng “đi về phía bên kia” và chính ở đây anh đă vướng phải một tai hoạ rất tệ hại cho bản thân.
    Anh được đưa ra miền Bắc trị bệnh: ở nơi đây, sau một thời gian quan sát, anh đă ghi lại những suy nghĩ của ḿnh về cái gọi là “hậu phương xă hội chủ nghĩa” đó bằng nhật kư và chính v́ những suy nghĩ ghi thành chữ viết này anh bị các đồng chí của ḿnh tố cáo, truy bức, nguyền rủa, phỉ nhổ, cô lập, đến chỗ như anh cho biết anh không c̣n được coi là con người nữa ... mà đă thành “một con vật, một con chó " !

    ......................



    Ông Thiệt, trưởng K15, nói:

    - Tôi đă nói với anh rồi. Chúng tôi không có trách nhiệm ǵ với anh nữa. Anh lên Ban thống nhất mà hỏi.

    Hai ngày sau, tôi đi với chị Trai về K15. Chị Trai vào gặp ông Thiệt. Chị kể: " Ḿnh báo cho ông ta biết rằng, chính ông và ban lănh đạo K15 đă tự tiện không cho cậu đi. Cục đón tiếp và Ban Thống nhất không biết ǵ về chuyện này. Ḿnh nói, không cho đi, các anh cũng không nói lư do tại sao. Đă không cho đi, các anh lại không cho người ta ăn ở. Thế bây giờ anh Đính sẽ sống như thế nào?
    Ḿnh làm một trận thật dữ. Nếu các anh cho thằng Đính là phản động, các anh cứ bắn chết nó đi. Các anh đừng hành hạ người ta như thế."

    Tôi về Hà Nội để đồ đạc ở nhà chị Trai, sống lang thang với thằng Ngô. Thỉnh thoảng tôi đến nhà chị Trai, anh Triều, tạt qua nhà Nguyễn Xuân Thâm ăn cơm, ngủ.
    Kệ cha mệ nội, có ra sao th́ ra. Tôi cũng chẳng ngọ ngoạy ǵ được. Tôi thường ăn cơm với thằng Ngô, những bữa cơm tồi tàn, dộng vào cho đầy bụng, rồi ra khỏi nhà ăn, vác mặt ngó cây cối Hà Nội lá xanh màu ngọc.

    Những bữa cơm tập thể, những bữa cơm làm tê liệt sức phản kháng, chống đối. Thần kinh, sinh lư đều mỏi mệt, lỏng ra hết cả, tê ra hết cả. Ăn cho có ăn, nói là đă ăn. Đến nhà ăn, không nh́n ai, không hỏi ai, ch́a phiếu lấy phần, cái muỗng trong túi, cúi mặt ăn, nuốt, nghỉ một lát, ngó mặt vào khoảng không, xọc xọc cái muỗng vào cái tô men, rau, đậu phụ, su hào, bắp cải, magi, ngậm miệng lại nuốt những thứ c̣n lại trong miệng, rồi cúi đầu, xúc, ăn.

    Rồi 1 bữa, đă ăn rồi. Ra ṿi nước, rửa muỗng bỏ vào túi áo, túi xách. Về pḥng nằm một chút, đi làm. Sáng, trưa, chiều lại như thế.
    Ăn cơm với thằng Ngô cũng kẹt. Hắn có tiêu chuẩn. Tôi th́ chẳng c̣n mấy đồng, lại không có tem gạo. Nhiều bữa tôi lang thang ngoài phố, buổi sáng ăn một bát ḿ nước hai hào, no.

    Thằng Ngô nói:

    - Mi liệu thế nào, chứ sống thế này th́ ăn ở ra sao đây.

    Tôi làm thinh. Thằng Ngô thường đưa tôi đến nhà bà Thúy Hà ở khu tập thể của Công ty quốc doanh phát hành phim , nói chuyện chơi. Có lần bà Hà lục túi xách của thằng Ngô , thấy có 1 ổ bánh ḿ, bà lắc đầu:

    - Cái ông Ngô, ông Đính này, cứ bánh ḿ thế này th́ sống sao nổi. Trưa nay hai ông ở lại đây ăn cơm. Tôi mới mua gạo đấy.

    Bà mở nắp cái thùng thiếc để trên đầu giường:

    - Đấy, gạo đấy. Các ông thấy chưa? Trưa nay tôi đăi hai ông ăn cơm, không độn đâu nha!

    Bà Hà nói chuyện rất vui, giọng bao giờ cũng dữ dằn, nóng nảy đầy vẻ chống đối. Bà nói:

    - Mấy thằng ở bên Tây về bao giờ cũng giở cái giọng dạy đời, động viên lên lớp bọn này. À, các anh các chị phải biết hănh diện ḿnh là những người Việt Nam được sống ngay trên đất nước ḿnh vào thời đại này … Đủ thứ chuyện. Nói ǵ chúng nó cũng không chịu nghe, chịu hiểu. Chỉ khi về nhà bọn ḿnh thấy những bữa ăn như thế này chúng nó lại tỏ ra ngơ ngác, chẳng hiểu ǵ cả.

    Bà quay sang chuyện khác:

    - Bây giờ miền Nam của các ông đă được giải phóng rồi. Các ông vào sẽ thấy, những đám thanh niên nam nữ cứ ùa ra đường, nhảy cỡn lên, reo ḥ: “như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng…” và rồi sau này sẽ sáng mắt ra… như bọn này hồi năm tư.

    Tôi nhớ 1 lần quá tức cười và cũng quá cực cho tôi với thằng Ngô. Hôm đó hai đứa tôi đi chơi đến hơn 8 giờ tối mới về 6K, nơi ở và ăn tập thể của đài Giải phóng. Thằng Ngô nói:

    - Tao có báo cơm cho mi rồi.

    Nhà ăn vắng và tối, ghế đă để lật ngửa lên bàn. Chỉ c̣n 1 ngọn đèn không sáng lắm và 1 cái bàn ăn có đậy lồng bàn trong góc pḥng gần cửa ra vào nhà bếp. Tôi và thằng Ngô ngồi xuống. Thằng Ngô giở lồng bàn.

    - Răng nhiều và ngon rứa mi?

    Thằng Ngô hất cái đầu lên ngúc ngúc:

    - Hôm nay ăn tươi! Mi không biết à?

    Ăn tươi là ăn sướng và có thịt! Chừng được nửa bữa ăn, 1 bà ở sau bếp chạy lên. Tôi nghe tiếng cái cán chổi vất cạch xuống nền nhà. Bà ta nhảy dựng lên:

    - Chết tôi rồi, ông Ngô ơi! Những 4 phần đấy, ông Ngô ơi! Làm sao bây giờ đây, ông Ngô ơi!

    Thằng Ngô cũng sững ra. Hắn ngừng nhai, nhướng mắt lên:

    - Tôi có biết đâu, cứ tưởng 2 phần. Sao bác không ghi lên bàn cho tôi biết. Thôi được, bọn tôi ăn lỡ rồi, để tôi đền sau.

    Bà ta cứ la lên:

    - Đền, sao mà đền được. Bây giờ đêm hôm tôi đào đâu ra 2 suất thức ăn chứ? Mà hôm nay lại ăn tươi, mới chết tôi chứ!

    Hai đứa tôi cứ ăn, lỡ rồi. Về pḥng thằng Ngô nói:

    - Đă mi hí!

    - Quá no!

    Đầu tháng 5, chị Trai cho biết là sẽ có một đoàn cán bộ của Hội Văn nghệ Việt Nam đi vào Nam do nhạc sĩ Đỗ Nhuận làm trưởng đoàn. Ngày 5.5.1975, anh Doăn Triều đă viết thư cho ông Phan Văn Thuận nhờ ông nói với ông Hưng, Cục trưởng Cục đón tiếp xin ông Đặng Thí cấp cho tôi 1 giấy giới thiệu để tôi có thể đi phép với đoàn của Hội Văn nghệ.

    Tôi đă gặp ông Thuận hai ba lần. Ông nói:

    - Ở đây người ta xem danh sách của mầy đă chuyển vào Huế trong chuyến đi ngày 30.4. Tao sẽ cố gắng giúp mi.

    Tôi đoán ông Thuận có cấn cái ǵ đây trong việc này. Không có đầy đủ giấy tờ, tôi khó đi được và vào Huế sẽ gặp nhiều rắc rối. Anh Triều nói:

    - Tao đi khắp, cục trưởng, cục phó ǵ cũng bảo: giấy tờ của mầy đă chuyển về Huế. Tao đề nghị họ cho 1 công văn xác nhận điều đó, họ không làm.

    Ngày 19.5.1975, Đảng đoàn văn nghệ có gửi cho ông Phan Triêm, Phó chủ nhiệm Ủy ban thống nhất, 1 công văn như sau:
    Kính gửi:
    Đồng chí Phan Triêm
    Ủy ban thống nhất của Chính phủ
    Sau khi nghiên cứu thẩm tra trường hợp đồng chí Nguyễn Đính, chúng tôi xét thấy , không có vấn đề ǵ quan trọng, đây chỉ là vấn đề cũ ở K như các đồng chí biết mà thôi.

    Chúng tôi xét thấy có thể đưa đồng chí Đính trở về công tác ở Huế tùy theo sự phân công của địa phương. Vậy trân trọng đề nghị các đồng chí giải quyết thủ tục cho đồng chí Nguyễn Đính có thể kịp đi theo đường giao liên của đoàn cán bộ Hội Văn nghệ , chuyến chiều ngày 21.5.75.
    T.M Đảng đoàn Văn Nghệ
    U.V Thường trực
    Bảo Đ́nh Giang


    Tôi lại đi gặp ông Thuận. Ông Thuận nói:

    - Chịu. Tao cũng hết sức với mi đó. Mi cứ đi theo đoàn Văn nghệ. Miễn là mi đến Huế. Đính ơi, tao mong mi qua khỏi cầu Mỹ Chánh, qua khỏi cầu Mỹ Chánh là cứt hết, ỉa hết. Thôi mi đi mạnh giỏi.

    Chỉ có cách đi duồng với đoàn của Hội Văn nghệ, tôi mới vào Huế được. Chị Trai và anh Triều muốn làm cho tôi yên tâm :

    - Mi cứ đi không can chi đâu.

    Tối 20.5.1975, tôi ở lại nhà chị Trai. Thằng T́nh, thằng Ngô thấy tôi cả hai đứa đều cười to:

    - Được đi thiệt hả mi?

    Hai đứa nói chuyện với tôi tới khuya mới về.

    - Thôi mai đi mạnh giỏi.

    Thằng T́nh cho tôi 10 đồng, thằng Ngô cho 10 đồng. Thằng Xuân tới sau cùng cho 10 đồng. Sáng mai, chị Trai dúi vào tay tôi 1 xấp, có tới ba bốn chục. Lúc này tôi chẳng đồng nào hết.
    Sáng sớm 21.5, tôi ra 51 Trần Hưng Đạo. Khoảng 7 giờ 1 chiếc ô tô con đến, có 4, 5 người đă ngồi ở trong. Trong số này tôi có quen 1 vài người. Trưởng đoàn là ông Đỗ Nhuận không biết lư do ǵ không đi. Ông Chế Lan Viên đến tiễn anh em, thấy tôi, cười:

    - Bà Trai, ông Triều tài thật. Thế là anh Đính đi được rồi.

    Thằng Ngô và thằng T́nh lay hai vai tôi, cầu mong tôi đi trót lọt. Anh Triều và chị Trai lên xe đưa đoàn đi. Khi chúng tôi đến Giáp Bát, một đoàn tàu
    quân sự đă đậu sẵn ở đó. Tàu sắp chạy, chị Trai bảo:

    - Ḿnh mong rằng trên đường đi , ḿnh không nhận được một cái điện nào ách cậu lại.

    Anh Triều trước khi xuống tàu bảo:

    - Tao gửi lời thăm mạ.

    Rồi anh bỏ vào tay tôi 1 gói giấy nhỏ, tôi biết anh cho tôi tiền.

    - Đến Huế là viết thư báo cho tụi ḿnh biết ngay nghe.

    Tàu chạy. Mỗi lúc tôi mỗi xa dần Giáp Bát. Tôi xúc động. Người tôi như rung lên. Tôi bàng hoàng ngơ ngác. Tôi vui và tôi sợ, tôi lo. Không ai ở trong toa tàu cùng đi với tôi biết tâm trạng của tôi lúc này.
    Họ đang náo nức về 1 chuyến đi xa hoàn toàn kỳ lạ chưa từng có trong cuộc đời họ. Cả thảy là 17 người, họ là nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhà nhiếp ảnh, cán bộ giáo dục, văn hóa … Không có ai là người Huế, có 1 người quê ở miền Nam, nhưng sau năm 54 tập kết ra Bắc. Tôi có quen 1, 2 người, trong đó có anh Ngô Văn Phú 1 người làm thơ tiếng tăm ở Hà Nội.

    Suốt dọc đường đi tôi hay nói chuyện với Ngô Văn Phú. Quân số trong giấy tờ là 32, nhưng có lẽ những người kia v́ biết chuyến đi này vất vả , qua nhiều trạm bằng nhiều phương tiện khác nhau nên không đi.
    Tàu chạy, tôi cứ không yên trong bụng. Tàu dừng ở 1 ga nào đó tôi nhấp nhỏm. Tôi chỉ có 1 giấy giới thiệu do ông Bảo Đ́nh Giang kư. Cứ mỗi lần tàu dừng, cứ mỗi lần có người đi qua tôi cứ phập phồng. Tôi sợ bị lôi cổ xuống.

    Nhưng suốt ngày hôm đó , chỉ có 1 lần người kiểm soát vé xem giấy của đoàn. Đến Vinh, chúng tôi vào trạm nghỉ đợi xe. Chúng tôi được phân tán ở trong nhà dân. Người phụ trách trạm thông báo cho đoàn biết: tất cả đồ đạc, quân trang phải quân sự hóa để khi có xe là đi ngay; phải đề cao cảnh giác, coi chừng bọn trộm cắp, nhất là khi lên đường vào lúc tảng sáng; phải đề pḥng kẻ gian có thể giả gây ra những đám cháy hoặc những vụ ẩu đả , để thừa cơ dễ bề trộm cắp đấy.

    Ngày đi càng kéo dài, càng qua nhiều trạm càng chờ đợi, tôi càng lo. Đang nằm đu đưa trên vơng, 1 người ở trạm bước vào thông báo 1 điều ǵ đó, tôi giật ḿnh. Đang ăn cơm, ông trạm trưởng đi ngang qua nh́n vào, tôi ngừng nhai, bỏ chén xuống. Biết đâu ḿnh bị chận lại giữa đường. Ở 1 binh trạm cuối cùng, đoàn phải chờ hơn 2 ngày mới có xe.
    Lần này, v́ không có xe lẻ, chúng tôi phải đi ghép theo 1 đoàn xe bộ đội chuyển quân. Xe chúng tôi đi không có mui trần và đi gần sau cùng. Chúng tôi ngồi
    bệt giữa sàn. Sắp qua cầu Bến Hải, cả đoàn xe dừng lại. Không biết có chuyện ǵ đây? Đây vẫn là miền Bắc, ḿnh vẫn có thể bị bắt và buộc phải quay về Hà Nội.

    Một vài người đứng dậy nh́n ra trước. Tôi vẫn ngồi yên, lấy thuốc hút. Tin được chuyển từ xe chỉ huy dẫn đầu: qua miền Nam, đường tốt, không được chạy nhanh, phải giữ đúng cự ly.

    Xe qua cầu Bến Hải. Gió mát. Tôi đứng dậy nh́n chung quanh. Bên kia là miền Nam. Xe qua cầu, xuống dốc. Chạy 1 đoạn xe dừng lại. Hàng quán 2 bên đă khác, màu sắc đă có xanh đỏ tím vàng, lủng lẳng cái treo, cái xếp chồng, trong tủ, trên sạp…
    Và lần đầu tiên tôi thấy những cô gái đội mũ mặc đồ bộ. Vài người trên xe nhảy xuống. Tôi bước vào 1 cái quán. Hàng hóa lạ mắt. Tôi hỏi mua 1 bao Bastos xanh.

    Biết tôi là ở miền Bắc vào bà bán hàng nói giá tiền Bắc, h́nh như 5 hào th́ phải. Xe chạy. 1 người trên xe chỉ xuống đường.

    - Ḱa, xe hoong đa!

    Và cũng là lần đầu tiên tôi thấy 1 chiếc xe Honda. Sắp qua hết Quảng Trị rồi. Đoạn đường này trong trí nhớ của tôi chỉ mơ hồ; thị xă Đông Hà loáng thoáng c̣n lại cờ và khẩu hiệu.
    Ở 1 đoạn trống 2 bên nhà cửa thưa thớt mới dựng vội vă bằng gỗ, tôn, cót cũ chắp vá, 1 đoàn người mặc quần áo lính ngụy lếch thếch, người có mũ, người vấn khăn trên đầu, người đi giày, người đi dép, người nào cũng có 1 cái bọc nhỏ mang, xách trên lưng trên tay, rải rác bên cạnh là những anh bộ đội mang súng đi kèm.

    Tù binh. Đoàn người đi ngược chiều với xe chúng tôi, phía bên phải sát lề đường. Họ lầm lũi như những cái bóng màu đất đen, trước mặt là 1 vùng đất trống, cát và cây dại, không xa lắm là núi.
    Tôi cứ cố nh́n những cột cây số. Trời, cầu Mỹ Chánh, cầu Mỹ Chánh! Xe qua cầu rồi, xe qua cầu rồi! Tôi thoát thiệt rồi à? Tôi vui, tôi sướng, tôi hết phập phồng.

    Có bị lôi cổ xuống đây th́ cũng cứt hết, chẳng có chi mà sợ nữa. Đă tới An Lỗ, bên kia là Sịa, nhất Huế nh́ Sịa. B. K dix-sept. Tôi mở bi đông ực 1 ngụm nước. Xe xóc, nước tràn cả mặt mũi, chảy xuống cổ. Tôi mát. Trường trung học Hương Điền rồi. Tôi thấy núi Kim Phụng, độn Ngang và dốc Kết Nghĩa mà dưới chân dốc này tháng 6.1966 tôi đă bị thương.
    Và cầu An Ḥa, bên kia là đường xe lửa và ga An Ḥa. 1 tấm bảng to bằng xi măng dựng bên đường: ĐỊA PHẬN THÀNH PHỐ HUẾ, chữ trắng trên nền lục đậm.

    - Đến Huế chưa?

    Tôi nói :

    - Coi như đây là Huế rồi.

    Nắng, trời nắng như nắng to của những ngày tháng 11. Mây đục nên không chói. Tôi cứ tưởng là xe sẽ qua đường Trịnh Minh Thế rồi qua cầu Trường Tiền. Xe đi thẳng, qua cầu Giả Viên. Nước chảy dưới cầu, cứ xuôi nữa là Vỹ Dạ.

    Ông trưởng đoàn nói với lái xe đổ chúng tôi ở Ga Huế.

    - “Biết rồi, tôi đă đi lại nhiều lần trên tuyến đường này”.

    Xe dừng lại. Chúng tôi vội vă xuống xe. Cảm ơn đồng chí lái xe. Có 2, 3 người đi thẳng về trạm Phú Bài để đi Quảng Nam. Tôi, ông Ngô Văn Phú và 1 người nữa đi bộ về 26 Lê Lợi để xin xe lên đón đoàn. Tôi đă ngửi được cái mùi của Huế.

    Quen mà lạ. Trong ḷng tôi cứ lao xao như lá long năo lao xao hai bên đường , tôi đi với những tiếng nói quen thuộc chung quanh. Và con sông trước mặt, con sông mà cách đây 10 năm mỗi buổi chiều từ Hải Cát trở về cơ quan C90, tôi với Nguyễn Thiết ngồi trên đỉnh Ba Dốc, bên chân núi Kim Phụng chỉ thấy thấp thoáng qua những rặng cây.

    Trường Pellerin, Cư Xá giáo sư đại học, Phủ Thủ hiến, ngă 3 qua cầu Nam Giao lên Từ Đàm, rẽ vào chùa Vạn Phước là nhà của ngoại tôi. Trường Luật, trường Quốc Học, trường Đồng Khánh, Thừa Phủ, tỉnh đường. Bệnh viện Huế là lạ và mới đối với tôi. Đến đây, đường Lê Lợi sáng ra và bị cắt , bằng 1 khoảng rộng.


    Còn tiếp ....

  4. #164
    tran truong
    Khách

    Tôi bị bắt _ Trần vàng Sao

    Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính), một người làm thơ ở miền Nam, nhưng vào những năm 60 của thế kỷ trước, đứng lên chống lại chế độ chính trị của miền Nam lúc đó để cuối cùng “đi về phía bên kia” và chính ở đây anh đă vướng phải một tai hoạ rất tệ hại cho bản thân.
    Anh được đưa ra miền Bắc trị bệnh: ở nơi đây, sau một thời gian quan sát, anh đă ghi lại những suy nghĩ của ḿnh về cái gọi là “hậu phương xă hội chủ nghĩa” đó bằng nhật kư và chính v́ những suy nghĩ ghi thành chữ viết này anh bị các đồng chí của ḿnh tố cáo, truy bức, nguyền rủa, phỉ nhổ, cô lập, đến chỗ như anh cho biết anh không c̣n được coi là con người nữa ... mà đă thành “một con vật, một con chó " !

    ......................



    - Cầu ǵ đây?

    Tôi nói:

    - Chắc là Cầu Mới. Lúc tôi đi chưa có cầu này.

    Hết Cercle, Trung tâm Văn hóa Pháp, Thư viện Đại học, 1 đoạn qua khỏi trường Thành Nhân nữa là đến 26 Lê Lợi, trụ sở của Ban Vận động thành lập Hội Văn nghệ Thừa Thiên – Huế.
    Người quen có, người lạ có, gặp ai tôi cũng mừng, cũng cười, cũng vui. 26 Lê Lợi cho 1 chiếc ô tô lên ga chở đoàn về. Tôi nhờ Vơ Quê điện báo cho Thái Ngọc San. Quê bảo San đi vắng và có nhắn lại. Tôi mượn Quê chiếc xe đạp đi về nhà liền. Tôi chỉ mang theo cái ba lô, c̣n mấy bao sách gửi cho Quê. Lúc này khoảng 3 giờ chiều ngày 25.05.1975.

    Con đường Thuận An cao hơn và rộng ra. Hai bên đường không có ǵ thay đổi lắm. Tôi ghé vào quán chị Thuận. Chị Thuận la lên:

    - A, thằng Đính đây ni!

    Những năm tôi thi thành chung và tú tài, lúc đi coi bảng về ngang qua quán chị, chị hỏi: "răng, Đính?" Tôi ngúc đầu. Chị vội vă chạy ra chợ báo cho mẹ tôi biết: “thằng Đính đâu rồi”.
    Tôi vào xóm. Đoạn đường này trước kia đâu có rải nhựa. Tôi rẽ trái, đường đất như cũ. H́nh như chiều hôm qua ở đây có mưa. Nhà cửa vẫn như cũ, có 1 vài nhà xây lại.

    Đến nhà tôi rồi. Vẫn hàng chè tàu; hai cột trụ vàng mốc rêu. Mấy ḥn đá kê làm bậc cấp vẫn c̣n, trong đó có 1 ḥn như con số 1 lùn cụt nằm giữa. Bốn năm đứa nhỏ đang chơi dưới gốc cây vú sữa.
    Những đứa nhỏ ngưng chơi vây quanh tôi. Ngôi nhà bây giờ so với ngôi nhà trong trí nhớ của tôi c̣n lại nhỏ đi rất nhiều. Cây vú sữa che kín gần hết sân. Và mặt trước ngôi nhà, màu vôi hơn 40 năm không quét trông lại âm u hơn. Tôi bỏ cái ba lô xuống đất, đu người lên song cửa sổ nh́n vào trong. Nền nhà
    như mới chùi, có chỗ c̣n ướt.

    Sau này tôi mới biết là ngói trụt nên nhà bị dột. Tôi bước lên hiên nhà. Tôi hỏi mấy đứa nhỏ cứ luẩn quẩn bên tôi:

    - Này mấy em, con Bi đâu rồi?

    Con Bi là con o Lài của tôi. 1 đứa chỉ 1 đứa con gái khoảng 12 tuổi đứng cạnh tôi:

    - Đây, con Bi đây!

    - Anh Đính đây Bi nờ! Bi có ch́a khóa không?

    Con Bi đưa cho tôi ch́a khóa. Nó không nói ǵ hết, cứ ngó tôi. Tôi mở cửa. Tôi vẫn nhớ cách mở cửa. Cái cửa này mở ở ngoài rất khó. Vào nhà tôi mở hết các cửa sổ.
    Mọi vật vẫn như ngày tôi c̣n ở nhà, vẫn để nguyên chỗ cũ. Chỉ có trước bàn thờ che một tấm màn bằng vải bông màu xanh nhạt lẫn màu lục đă ố vàng, cũ hết rồi. Bức kính thờ th́ đă mờ bụi. Tôi ngồi lên bức ngựa gơ. Những đứa trẻ vẫn cứ nh́n tôi. Tôi nh́n quanh trong nhà. Tôi xuống nhà bếp. Tôi đi lên nhà; có 1 mùi ẩm mốc dễ chịu.

    - A, mệ Đính nơi tề!

    1 đứa nhỏ bước xuống 1 bậc cấp trước hiên la to. Tôi bước ra cửa. Chị Thuận cầm tay dắt mẹ tôi lên thềm. Mẹ tôi vừa bước vừa khóc:

    - Thằng Đính mô rồi, mô rồi.

    Tôi cầm hai tay mẹ tôi, d́u mẹ tôi ngồi lên ngựa. Mẹ tôi cứ khóc:

    - Mạ tưởng con không về nữa.

    Chị Thuận cũng rơm rớm nước mắt. Mẹ tôi lấy trong túi áo ra 2 gói bastos luxe để giữa ngựa:

    - Chị Thuận cho đó. Con hút đi.

    Tôi bóc thuốc hút. Mẹ tôi ốm và đen, tóc bạc gần hết rồi. Bây giờ mẹ tôi ngồi đó, hai bàn tay cứ mở ra nắm lại, khi để trên chân, khi để trên ngực, lâu lâu lại đưa tay áo lên lau nước mắt.

    Sông mang phù sa đỏ, chảy ra biển muôn năm, người mang hồn sông đỏ, ḷng như biển vô cùng.

    - Mạ đang bán trên Đập Đá, chị Thuận chạy lên nói con về rồi. Chị gánh về dùm cho mạ.

    Chị Thuận cười:

    - Chị lên nói với mạ: Chị Đính ơi, thằng Đính về rồi. Mạ cuống lên. Mạ bán gần hết rồi.

    Tôi hỏi mẹ tôi:

    - Rứa bữa ni mẹ bán cháo chi rứa.

    Chị Thuận nói giùm:

    - Thôi th́ đủ thứ. Khi th́ cháo gà, khi th́ cháo ḷng. Bánh bột lọc nữa. Bữa ni rứa là mau hết đó, chớ thường khi mô cũng 10, 11 giờ đêm. Có khi tới gần sáng.

    Những người hàng xóm đến thăm mỗi lúc một nhiều. Chị Rạm, nhà ở trước mặt nhà tôi, nói:

    - Mạ cứ nói em e chết rồi. Thôi rứa là mạ vui. Vui rồi.

    Quay sang mẹ tôi, chị cười:

    - Chị sướng chưa, bữa ni hết khóc rồi. Chào Đính ơi, đêm mô cũng khóc, cũng ḥ, cũng hát.

    Nói ngang đây, chị Rạm chảy nước mắt. Chị hỏi tôi:

    - Đi rứa có cực không em?

    - Dạ, cực chứ.

    Thằng Thái Ngọc San về. Đi theo hắn là 1 cô bé người nho nhỏ. Thằng San ngúc ngắc cái đầu, cười:

    - Mạ thấy chưa, con nói hắn c̣n mà mạ không tin.

    Mẹ tôi nói:

    - Hắn tội lắm, lâu lâu lại về gặp mạ, nói mạ đừng lo, mai mốt thằng Đính về.

    Thằng San giới thiệu cô bé với tôi, Phan Lê Dung. Mẹ tôi định đi nấu nước, thằng San nói để hắn nấu. Mẹ tôi ra ngoài sân nói chi đó với thằng San và Dung. Té ra mẹ tôi dặn đừng cho ai nấu hết, mẹ tôi sợ bỏ thuốc độc.
    Ngó quanh không thấy con Bi đâu, tôi hỏi:

    - “a, con Bi đâu rồi?”.

    Con Bi mới đi đâu về đang hớt hơ hớt hải đứng ngoài cửa. Thấy tôi về, nó 3 chân 4 cẳng chạy lên chợ Đông Ba báo cho mẹ nó, là o tôi biết là tôi đă về.
    Chiều rồi. Cơn mưa hôm qua làm cho khí hậu dịu đi. Trời không có nắng nữa. Tôi ra đứng ngoài thềm nh́n cây cối. Thằng Trần Đại Lang, 1 thằng bạn cũ đến thăm tôi.
    Hắn là đại úy bộ binh. Tôi hỏi thằng Phạm May ở đâu. Thằng Lang nói, thằng May là thiếu úy, phụ trách phân chi khu Phú Vang. Có lẽ bây giờ hắn kẹt ở Đà Nẵng. (Bây giờ th́ cả 2 thằng đều đi HO, 1 thằng HO7, 1 thằng HO10).

    Thằng Lang đi rồi, hai anh bộ đội đóng quân ở nhà bên cạnh bước vào nhà tôi. Hai anh bảo nghe tôi ở miền Bắc mới vào, đến thăm và khuyên tôi nên lên cơ quan ở lại đêm, t́nh h́nh an ninh ở đây chưa bảo đảm.
    Trước khi thằng San và Dung lên, hắn cũng nói tôi nên lên chỗ hắn làm việc ở lại. Tôi bước vào nhà thắp 3 cây hương lên bàn thờ.


    IV. Ở Huế

    Sáng hôm sau, ngày 26.05.1975, tôi với thằng San ra uống cà phê trước mặt Bưu điện Huế. Tại đây, và về sau này, tôi thường gặp 1 vài người vốn quen biết trước kia, có người là cơ sở của cách mạng, có người mới tham gia.
    Ở những quán cà phê vỉa hè , trong những ngày mới đầu này, hiếm lắm mới thấy những người đă thoát ly lên rừng lâu năm. Nhiều đứa quen biết cũ thấy tôi quá mừng:

    - Giải phóng rồi mà không thấy mi, đứa nào cũng nghĩ là mi chết rồi. Răng chừ mới về Đính.

    Tôi cười không nói ǵ hết. Sau này, có đứa loáng thoáng nghe kể về sự tích của tôi, hoảng và t́m cách tránh tôi. Liên hệ với tôi th́ không có lợi ǵ cho sinh mạng chính trị và con đường sống trong chế độ mới này của họ. Tôi nói với thằng San là tôi về nhà 1, 2 ngày rồi mới gặp tổ chức.

    Bây giờ tôi đi thủng thẳng về nhà. Kể từ nay tôi có thể nói tôi về nhà được rồi. Tôi không cảm thấy ḿnh xa lạ. H́nh như tất cả đều c̣n lại trong trí nhớ của ḿnh. Tôi chỉ có cái cảm giác, sau 10 năm đi xa, con đường Thuận An rộng ra và cao hẳn lên, c̣n căn nhà của tôi th́ nhỏ lại.

    Trở về Vỹ Dạ là trở về với tuổi thơ của ḿnh, gặp lại tuổi thơ của ḿnh, sống với tuổi thơ của ḿnh, sống với ḿnh. Tôi ở nhà tôi như lâu nay , tôi không đi đâu hết. Tất cả đều thân mật và gần gũi.
    Những lỗ đạn bắn trên tường, trên song cửa sắt hồi 52-53, những h́nh tôi vẽ lúc nhỏ bằng bút ch́ và mũi dao trên tường có hơi mờ đi. Con trâu gỗ găy đầu vẫn nằm dưới góc bàn thờ. Những vết bùn của trận lụt năm 1953 c̣n mắc trong các kẹt tủ. Rồi tôi quanh quẩn ngoài vườn trong nhà. Cây vú sữa cao và rậm quá, tháng năm vẫn c̣n trái chín.

    Cây hải đường vẫn như thế. Tôi mở tủ sách ra, tất cả như c̣n nguyên. Chẳng có chi thay đổi, chỉ có âm u và tàn tạ hơn. Mẹ tôi bảo sau khi tôi đi có người đến đ̣i sách tôi mượn, mẹ tôi nói, để chờ thằng Đính về đă.
    Những chồng phích ghi chép của tôi được xếp gọn gàng trong 1 góc. Những ǵ của tôi, có dấu vết của tôi có thể gợi cho mẹ tôi nhớ tới tôi , đều được cất giữ, không ai động đến được.

    Những năm sau này, khi tôi đă có vợ con, tủ sách báo cứ vơi dần, khi năm ba quyển, khi 1 chồng đem qua chợ Đông Ba hay ra chợ Vỹ Dạ đổi lấy gạo. Thời buổi này gạo quư hơn sách.
    Cuộc cách mạng này kinh khủng thật. Không phải nó chỉ thay đổi tâm tính, thái độ, tư tưởng của từng con người mà thay đổi vị trí của từng đồ vật trong từng nhà, cái ghế, cái bàn, cái tủ, cái giường, tôn lợp trên mái nhà, lư hương trên bàn thờ … đều thay đổi chỗ, xếp đặt lại tất cả.


    Hôm qua cái bàn c̣n để đó, hôm nay không c̣n nữa, cái bàn đă đi qua nhà khác, đă ở ngoài chợ. Cuộc cách mạng này đă phá hết, phá tan hết những ǵ mà từng gia đ́nh đă ḅn mót bao nhiêu năm nay từ ông cha đến con cháu để nuôi sống ḿnh, để tồn tại với đời. Và những người làm cách mạng đă thay thế những ǵ mà họ đă phá sạch bằng công an, bằng quyền lực trấn áp, bằng mệnh lệnh, khẩu hiệu, băng cờ.


    Tôi nghe nói, khoảng năm 1972-1973, trong chiến dịch Phượng Hoàng, bọn cầm quyền ở Huế đă đưa lên đài truyền h́nh và dán ảnh tôi và thằng Nguyễn Đ́nh Nghĩa khắp thành phố, kêu gọi chúng tôi chiêu hồi và hứa sẽ thưởng tiền cho người nào bắt được chúng tôi , hoặc chỉ điểm chúng tôi. Bọn chúng không biết tôi lúc đó đang hoạn nạn ở Sơn Tây.

    Chúng tưởng tôi và thằng Nghĩa đă lọt về thành phố và đang hoạt động nằm vùng. O Lài tôi kể rằng nghe dưới trụ sở quận Phú Vang có treo ảnh tôi, o
    lót tót chạy về xem. Vừa bước chân vào cửa quận, 1 người quen ở trong làng, lúc đó đang bị gọi về thẩm vấn v́ có liên quan với Việt Cộng, nói ngay: “O đi mô rứa? Lên cho rồi! Có bóng thằng Đính treo trong a. Lên cho rồi!”.

    Nhưng o tôi cứ vào. “Để tui vô coi thử có phải thằng Đính không?”. “Chà, cái bóng của mi đẹp thiệt. Không biết nó kiếm ở mô ra”. O nói với tôi, suốt 10 năm tôi đi, bọn công an, mật vụ, dân vệ cứ ŕnh rập chung quanh nhà tôi hoài. Nhiều lúc o tôi đi bán bánh về khuya, tụi hắn chặn trong xóm, khi th́ giả đ̣ mua bánh c̣n, khi th́ cứ tự tiện giở rổ rá ra, xáo hết lá bánh lên xem. “Tụi hắn cho là tao có giấu truyền đơn”. Có lần tụi dân vệ xộc vào nhà (nhà o tôi ở sát nhà tôi) giữa lúc o đang cúng.

    Bọn hắn nói: “Chà, hai mạ con mà cúng nhiều dữ hí! Ăn chi cho hết”. Tụi hắn cho là o tôi giả đ̣ cúng để tiếp tế cho Việt Cộng. Tôi theo Việt Cộng, o tôi nhất định phải có liên hệ. Khoảng 2 tháng sau tôi đă lên núi, 1 hôm o đang làm ǵ đó trong nhà bếp của tôi, bỗng nghe thịch 1 cái, 1 gói giấy từ trên nhà rớt xuống. “Tao hết hồn. Đây là gói truyền đơn hay giấy chi đó mà trước khi đi mi nhét lên mái. Tao đút liền. Nhưng cũng khun, tao thắp 3 cây hương
    trong bếp, may trong nhà c̣n mấy tờ giấy tiền vàng bạc, tao lấy đút liền, rồi đút mấy cái tờ giấy của mi. Đụng ai vô th́nh ĺnh tao nói là đút vàng bạc”.

    C̣n mẹ tôi sau năm 1968, hễ nghe ở đâu có Việt Cộng bị bắt hoặc bị bắn chết, xa mấy cũng ḷ ṃ đến xem có phải con ḿnh không. “Này, cái mụ này, tới đây làm chi hỉ?”. Thấy mẹ tôi lăm xăm đi tới mấy thằng lính nạt.
    Mẹ tôi nói: “Nghe dưới ni có bán gà vịt rẻ tui xuống mua”. “Gà vịt mô mà gà vịt. Đi cho rồi!”. Đêm nào mẹ tôi cũng thắp hương van vái bốn phương trời mười phương Phật và ba tôi phù hộ cho tôi tai qua nạn khỏi.

    Cả xóm giữa đêm khuya nghe tiếng ḥ ở xa đều biết mụ Đính đi bán đă về. “Có một thằng con mà bây giờ không biết sống chết ở nơi mô nữa, tộ̣i thiệt!”. Mấy người hàng xóm kể: “Mỗi lần mạ̣ đi bán về khuya, nhớ mi, buồn khóc rồi uống rượu. Trời mưa, đường trơn, bổ lên bổ xuống. Có bữa tao phải gánh giùm gánh cháo về nhà. Về đến nhà, thấy cây đèn leo lét, rồi mạ ngồi nơi cửa hát, có khi ngồi rứa bà ngủ quên luôn”.

    Càng về sau không chịu nổi cảnh trống vắng, cảnh cô quạnh, mẹ tôi đi bán có khi ngủ luôn ngoài chợ. Về nhà, thấy nhà thấy cửa mà không thấy tôi, mẹ tôi chịu không nổi.
    Hai ba hôm sau, tôi đến Ban tổ chức thành ủy ở 16 Lư Thường Kiệt, tŕnh diện và để nhận công tác. Tôi cũng cứ tưởng bở. Ông Ngô Yên Thi, Trưởng ban tổ chức thành ủy, cho biết là tổ chức thành phố không có quyền, tôi phải qua tổ chức tỉnh, phải có quyết định của tỉnh, thành phố mới nhận tôi được.

    Tôi đến Ủy ban nhân dân cách mạng kiêm quân quản tỉnh Thừa Thiên (?) đóng ở ṭa hành chính của chính quyền cũ. Tôi lên lầu. Căn pḥng to rộng, nhiều bàn ghế. Tôi hỏi pḥng tổ chức. Người ta chỉ cho tôi đi đến bàn cuối pḥng phía bên trái gặp đồng chí cụt tay. Tôi nhớ không chắc, h́nh như ông ta tên Trác. Tôi đưa giấy giới thiệu của đảng đoàn Văn nghệ và giấy giới thiệu của đoàn đi Nam.

    - Tôi ở Hà Nội mới vào.

    Ông ta đọc, rồi quay ngược lại hai tờ giấy để trước mặt tôi.


    Còn tiếp ....

  5. #165
    tran truong
    Khách

    Tôi bị bắt _ Trần vàng Sao

    Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính), một người làm thơ ở miền Nam, nhưng vào những năm 60 của thế kỷ trước, đứng lên chống lại chế độ chính trị của miền Nam lúc đó để cuối cùng “đi về phía bên kia” và chính ở đây anh đă vướng phải một tai hoạ rất tệ hại cho bản thân.
    Anh được đưa ra miền Bắc trị bệnh: ở nơi đây, sau một thời gian quan sát, anh đă ghi lại những suy nghĩ của ḿnh về cái gọi là “hậu phương xă hội chủ nghĩa” đó bằng nhật kư và chính v́ những suy nghĩ ghi thành chữ viết này anh bị các đồng chí của ḿnh tố cáo, truy bức, nguyền rủa, phỉ nhổ, cô lập, đến chỗ như anh cho biết anh không c̣n được coi là con người nữa ... mà đă thành “một con vật, một con chó " !

    ......................



    - Anh là Trần Vàng Sao?

    - Phải

    Tôi tŕnh bày 1 vài điều về trường hợp của tôi.

    - Anh c̣n giấy tờ ǵ nữa không?

    - Tôi có trong danh sách của đoàn Thừa thiên vào Huế sáng 30.4.

    Ông ta nh́n tôi:

    - Giấy tờ này chưa đủ.

    Ông ta gơ gơ ngón tay của bàn tay c̣n lại lên hai tờ giấy nói xẵng giọng:

    - Đây là giấy giới thiệu tiêu chuẩn ăn đi đường. Thế c̣n lệnh hành quân đâu? Phải có lệnh hành quân, không thời ai biết đi B1, B2 hay B3, B4. Phải có lệnh hành quân!

    Tôi nói cho ông ta biết là đoàn chỉ cho tôi mượn giấy này và phải trả lại. C̣n lệnh hành quân th́ đoàn phải giữ. Vả lại, những người cùng đi chung với tôi, bây giờ đă phân tán các nơi, khó t́m họ được.

    - Phải có lệnh hành quân. Có lệnh hành quân mới nhận anh được.

    Tôi về 26 Lê Lợi, may là gặp ông Vơ Trấp đang ở đó. Ông đưa cho tôi lệnh hành quân của Bộ tư lệnh hành quân Quân Giải phóng nhân dân miền Nam. Ông bảo tôi:

    - “thôi anh giữ luôn, tôi cũng chẳng cần nữa”.

    Sáng hôm sau tôi lại lên pḥng tổ chức tỉnh, đưa lệnh hành quân cho ông cụt tay. Ông ta chỉ ngó qua, rồi trả lại cho tôi:

    - Trường hợp của anh hơi gay đây. Anh không có giấy giới thiệu của Ban thống nhất trung ương. Tỉnh không nhận anh được.

    Tức máu lên, tôi nói:

    - Anh bảo tôi phải có lệnh hành quân, có lệnh hành quân rồi anh bảo phải có giấy của Ban Thống nhất. Tôi đă nói với anh rồi , là tên tôi nằm trong danh sách đoàn Thừa Thiên vào đây ngày 30.04.

    - Trường hợp của anh khác.

    Trường hợp của anh khác. Tôi đừng tưởng bở. Anh thanh niên trông nhỏ hơn tôi , ngồi bàn bên cạnh với ông cụt tay:

    - Trong danh sách của đoàn ngày 30.04 có tên anh Đính.

    Ông cụt tay làm như không để ư lời anh thanh niên nói. Ông ta ghé sát anh thanh niên nói ǵ đó, rồi nh́n tôi một cái, đưa tay đẩy tờ lệnh hành quân về phía tôi sát cạnh bàn.
    Tôi cầm tờ giấy quay đi. Tôi về lại ban tổ chức thành ủy. Ông Ngô Yên Thi trả lời : “Tỉnh không nhận, chúng tôi cũng chịu. Thành không có quyền”. Ông ta nói như cười.

    Tôi về. Lúc này, tôi hay lên chỗ thằng Thái ngọc San làm việc , Cơ quan Mặt trận thành phố , ở chơi, gặp bạn bè nói chuyện và thường ở lại ăn cơm. Ở chỗ này tôi đă bắt đầu thấy những bộ mặt không mấy thiện cảm với tôi.
    Những thằng ở rừng về, những đứa mới tham gia làm lơ tôi. Bạn bè đă có kẻ nh́n tôi bằng con mắt ái ngại. Nhiều đứa đă cố ư tránh tôi. Cách mạng đang thắng lợi , mà tôi là 1 tên phản động chống đảng.

    Thằng th́ cho tôi không ở trong hàng ngũ của nó, đứa th́ sợ quen tôi sẽ bị nguy đến sinh mạng chính trị. Chơi với tôi thằng nào cũng thấy không những không có lợi mà c̣n mang họa vô ích.

    Nhiều đứa vốn quen nhau ở Huế, sau lên rừng thường thấy mặt nhau t́nh cờ gặp tôi cũng giả đ̣ không thấy. Tôi bị coi khinh. Cho tới hôm nay những năm 91, 92, 93 này, những thằng bạn cũ ngày trước , sắp đi HO cũng lánh mặt tôi và những anh em khác. “Hiểu cho tao với, để cho tao đi trót lọt cái đă, không lỡ nửa chừng bị ách lại th́ quá cực”.

    Thằng Trần Hữu Thục nói với tôi sáng 31.07.1993 như vậy. Bọn tôi thông cảm bọn hắn.
    Cũng có thằng gặp tôi không dám chào hỏi. Hắn ngụy, tôi cách mạng. Nên khi chạm mặt, những đứa này khựng lại: “À, à anh…”. Anh cái cục cứt à… chơi với nhau lúc nhỏ, anh chi mà anh”.
    Rồi nắm tay nhau đi uống cà phê, nói chuyện đời. Cũng có đứa mấy lâu thấy tôi giữa đường, lại giả tảng không thấy. Đến khi có dịp gặp nhau, hắn nói: “nói thiệt, mi đi bên tê về, tau cũng ngại. Tau ngụy mà. Lỡ chào mi, mi lơ th́ sao. Nhưng khi thấy mi ngày nào cũng đi bộ qua Đập Đá, quần áo lùi xùi, tau chẳng ngại chi nữa”. Tức cười thiệt.

    Cuối tháng 6.1975, tôi nhận được giấy mời đến Ban tổ chức thành ủy làm việc. Mời anh Trần Văn Đính mở ṿng đơn tức Trần Vàng Sao đóng ṿng đơn. Tôi lại đến nhà số 16 Lư Thường Kiệt. Ông Trưởng ban tổ chức nh́n tôi:

    - À anh.

    Ông ta nói miệng tưởng như cười. Da mặt ông hơi ch́, môi thâm, hai hàm răng có khi khít lại:

    - Trường hợp của anh có nhiều khó khăn, anh Nhân ạ (H́nh như lúc đó ông gọi tôi là Nhân, tên ở Chiến Khu của tôi).

    Và ông ta nói lại những điều đă nói với tôi bữa trước, rằng tỉnh không nhận tôi, thành không thể giải quyết, bố trí công tác cho tôi được. Tôi nói:

    - Tôi là cán bộ của thành ủy cho ra Bắc chữa bệnh. Bây giờ tôi trở về, th́ thành ủy phải sắp xếp công tác. Sao anh lại nói thành phố không có quyền.

    Ông ta lại nói miệng như cười:

    - Tôi cũng biết thế. Thành phố hiện nay rất thiếu cán bộ, mà những người như anh th́ lại rất cần, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc tổ chức. Anh phải hiểu cho.

    Ông ta đưa cho tôi một tờ giấy:

    - Anh sang Ban tổ chức tỉnh ủy gặp ông Lê Thái Tâm. Chỉ có ban tổ chức tỉnh ủy mới giải quyết được trường hợp của anh.

    Giấy giới thiệu cũng viết bằng mực tím, cũng Trần Văn Đính, mở ngoặc đơn tức Trần Vàng Sao, đóng ngoặc đơn. Tôi sang Tam Ṭa vào 1 pḥng ở khoảng giữa dăy nhà về phía bên phải. 1 ông mặc quần áo ngủ đang ngồi trên giường. Ông ta đứng dậy đi tới bàn giấy bên cửa sổ gần cửa ra vào. Tôi đưa giấy giới thiệu.
    Ông ta à 1 tiếng. Tôi kéo ghế ngồi. Ông ta mở hộc bàn, lấy 1 tờ giấy đưa cho tôi.

    Ban chấp hành Đảng bộ
    Thừa Thiên-Huế
    Ban Tổ chức
    Số 196/TC
    Ngày 30 tháng 6. 1975

    Kính gởi: Ban tổ chức Trung ương
    Ủy Ban thống nhất Trung ương
    Đồng chí Nguyễn Đính quê ở Thừa Thiên cùng đi với đoàn đ/c Đổ Nhuận vào Thừa
    Thiên chúng tôi chưa tiếp nhận được v́:
    - Địa phương chưa có yêu cầu
    - Chưa có giấy tờ thuyên chuyển hợp lệ
    Vậy chúng tôi xin chuyển đ/c Đính trở ra Ban để đảm bảo thực hiện đúng theo nguyên
    tắc thủ tục điều động của Ban đă quyết định.

    TM. Ban tổ chức Tỉnh ủy
    Trưởng Ban
    Lê Thái Tâm



    Ông ta nói:

    - Bây giờ anh phải ra Bắc. Ở đây chúng tôi không nhận anh.

    - Thế tôi đi bằng cách nào?

    - Anh sang tổ chức thành mà hỏi. Thành sẽ giải quyết.

    Tôi đứng dậy, kẹp 2 ngón tay vào 1 góc tờ giấy vừa bước ra vừa nói, chào anh. Qua Ban tổ chức thành ủy, ông trưởng ban bảo:

    - Tổ chức tỉnh ủy trả anh ra Bắc th́ phải lo phương tiện cho anh chớ .

    Tôi nói:

    - Tỉnh lại bảo thành phố giải quyết.

    Thôi về cho rồi. Tôi dại thiệt. Mắc chi mà phải loanh quanh luẩn quẩn tự ḿnh hành hạ ḿnh. Ở Hà Nội th́ t́m cách vào Huế. Vào Huế lại chạy chỗ này qua chỗ khác để xin làm việc. Chu cha, tham gia cách mạng bao nhiêu năm nay không lư về không à, mất mặt. Tôi dại thiệt. Mắc chi mà chạy đôn chạy đáo cho cực mà nhục như thế.

    Qua cầu Mỹ Chánh rồi th́ cứt hết. Cứ về nhà ở với mạ, ngó cây cối chim chóc là vui sướng rồi. Tôi dại quá.

    Tôi ngó ông trưởng ban tổ chức thành ủy:

    - Tỉnh nói qua thành, thành nói qua bên tỉnh. Thôi tôi về.

    Tôi về. Đường Lư Thường Kiệt buổi sáng trời không nắng to. Qua Pḥng thông tin Hoa Kỳ, đối diện hơi chếch một chút có hai cây dừa mọc cong trước cửa ngõ một ngôi nhà, tàng lá che đến lề đường. Người ta kể có 1 ông bán phở gánh cách đây mấy chục năm, nửa đêm qua đây bị 1 trái dừa khô rớt bể đầu chết ngay tại chỗ.
    Không biết có thiệt hay không? À, ở nhà ḿnh , c̣n một quyển sách mượn của Pḥng thông tin Hoa Kỳ từ năm 1965, chưa trả th́ đă trốn lên núi, cuốn La Jeunesse de Lénine (Three who made a revolution của Bertram D. Wolfe), bản dịch tiếng Pháp của René Guyonnet.

    Tôi ra quán cà phê Bưu điện. Ba bốn đứa đă ngồi ở đó. Thằng San hỏi:

    - “Răng mi?”.

    - “Như cứt họ”. Cà phê ngon thật.

    Tới ngang đây , tôi coi hết nước rồi. Nhưng chưa ngất ngư nên tôi vẫn c̣n cố. Tôi phải biết rằng người ta không bao giờ để cho tôi chết, người ta sẽ làm cho tôi hoàn toàn bất lực, tê liệt, mất hết tác dụng. Chế độ này muốn cho tất cả mọi người đều trở thành những kẻ bị thiến hoạn về tư tưởng.

    Hai ba ngày sau đó, theo lời khuyên của bạn bè, 1 buổi chiều, tôi đến gặp ông Trần Thanh Văn (Trần Anh Liên), Bí thư thành ủy Huế , tại nhà riêng của ông ở 14 Lư Thường Kiệt.
    Ông Văn là người lịch thiệp và khiêm nhường. Ông người Hà Nội. Hồi ở trên rừng hay gặp ông và nói chuyện với ông. Tất nhiên là ông ta đă được báo cáo về tôi rất rơ. Tôi đưa cho ông cái công văn của Ban tổ chức tỉnh ủy gửi trả tôi lại cho Ban thống nhất trung ương. Ông Văn xin lỗi đă để kính trong pḥng. “Thôi anh đọc cho tôi nghe cũng được”. Nghe xong, ông Văn nói giọng hơi gắt:

    - Làm ǵ đến nổi phải thế. Chỉ cần 1 cú điện thoại là được thôi.

    Ông hỏi tôi:

    - Thế anh đă gặp anh Lanh chưa?

    Tôi biết ông Văn hỏi tôi như thế , v́ trước kia tôi là cơ sở của ông Lanh, phó bí thư thành ủy. Tôi nói:

    - Tôi có gặp anh Lanh. Anh Lanh chỉ nói là “tại cậu hết”, rồi bỏ đi.

    Ông Văn mời tôi uống nước và hút thuốc. Tôi nói:

    - Tôi đến gặp anh để báo cho anh biết trường hợp của tôi, không rồi sau này các anh lại nói v́ sao không cho các anh biết.

    - Thế bây giờ anh có định ra Bắc không?

    - Không, không khi nào tôi ra Bắc hết.

    Ông Văn gật đầu:

    - Anh đừng dại mà ra Bắc. Anh mà ra Bắc là bị nắm đầu liền.

    Ông c̣n nói động viên tôi 1 vài câu nữa, và câu cuối cùng là “để tôi hỏi ư kiến của các anh ở thường vụ xem sao”. Tôi về nhà. Trời bắt đầu tối. Cây vú sữa lá vẫn lao xao. Con chó mực vẫy đuôi mừng.
    Mẹ tôi đi bán chưa về. Tôi thắp 1 cây đèn để giữa nhà, rồi giở lồng bàn ra, trên cái mâm gỗ, 1 tô cháo, 1 tô canh, một cái chén úp trên cái đĩa. Tôi rót 1 ly nước chè uống ực 1 cái, rồi rót thêm 1 ly nữa, bắc 1 cái ghế ra ngồi trước cửa nhà lớn hút thuốc ngó trời đất cây cối. Đứa nhỏ bên hàng xóm ru em hát : bên cạn thời chống, bên su thời chèo…

    Một lát sau, có 1 đứa nhỏ đứng ngoài hàng chè tàu thấy trong nhà có đèn nói với vào:

    - Anh Đính, anh Đính ơi! Chút nữa anh đem đèn ra cho mụ. Mụ nói mụ bới cơm rồi.

    Tôi về ở nhà. Cỏ trong vườn mới làm đă mọc đầy. Buổi sáng tôi nhổ lông gà, lông vịt hay rửa ḷng heo ḷng ḅ giúp mẹ tôi. Buổi trưa tôi bắc bánh bột lọc, khoảng 2 giờ mẹ tôi gánh cháo ra chợ Vỹ Dạ, chiều tối lại lên bán trên mũi Đập Đá trước lầu Hữu Ước.

    Tôi ở nhà hết đọc, viết, lại lên chỗ thằng San chơi. Trước tôi c̣n hay lên, nay chỉ thỉnh thoảng. Trong bạn bè, anh em quen biết đă có nhiều tiếng x́ xào về việc tôi bị tống cổ ra Bắc.

    “Nghe nói thằng Đính hồi ở miền Bắc có làm thơ chống Đảng và nói xấu Bác Hồ”, “Nghe đâu ở miền Bắc thằng Đính bị kết tội chống Đảng, chống chế
    độ”, “thằng Đính phản động”, “uổng thiệt, tham gia cách mạng bao nhiêu năm!”, “H́nh như thằng Đính có bị đấu tố, khiếp thật!”.

    Cứ như thế, những dấu hỏi, dấu than như thế cứ xa gần x́ xào quanh tôi, lúc nhỏ, lúc to, lúc miệng này qua tai khác, lúc trợn mắt thở phù trong pḥng kín, trước mặt, sau lưng, đầu ngơ, bên cạnh nhà.
    Không có tên công an khu vực nào nơi tôi ở , không lẽo đẽo bên tôi cách này thế khác. “Thằng Đính là 1 tên phản động chống Đảng, chống
    chế độ, làm thơ nói xấu Bác Hồ”. Đời tôi tàn rồi.

    Một hôm tôi đi chơi về, thấy trên bàn có 1 mảnh giấy để lại : Đính, Cố gắng dàn xếp với trên tổ chức. Nếu không th́ về Vỹ Dạ nằm tu. C̣n ra Bắc th́ dứt
    khoát không ra. Chỗ tao cũng hơi rắc rối. TNS

    Tôi hiểu ư thằng Thái Ngọc San , là tôi không nên đến chỗ hắn làm việc nữa. Nhiều đứa đă tránh xa tôi. Nhiều đứa đă ngó lơ giả đ̣ không thấy tôi. Nhiều đứa cực chẳng đă phải chào tôi cho có lệ. Và nhiều đứa cũng cứ về nhà tôi chơi, đi uống cà phê với tôi rất thân mật.

    Một buổi sáng có tiếng xe Honda tắt máy ngay trước cửa ngơ. 1 anh chàng mặc quần áo bộ đội, đội mũ cối, dắt xe vào. Lại mệt nữa, tôi giật ḿnh, thôi công an rồi. Anh ta bước lên thềm, đứng trước cửa. À, thằng Năm ở Ban tuyên giáo thành ủy. Anh ta chào tôi:

    - A, anh Nhân.

    Anh ta lấy trong xắc cốt ra 1 phong b́, đưa cho tôi. Tôi mở ra, công văn của thành ủy :

    Thành ủy Huế
    Số 072/CV
    CÔNG VĂN

    Anh Nguyễn Đính (Trần Vàng Sao) là cán bộ của cơ quan Thành ủy được Thành ủy giới thiệu ra Bắc chữa bệnh từ 1969 nay đă trở về Huế. Hiện nay anh Nguyễn Đính chưa có đủ giấy tờ chính thức của Trung ương. Trong khi chờ đủ giấy tờ để bố trí công tác chính thức, Thành ủy Huế tạm sắp xếp anh Nguyễn Đính ăn ở tại cơ quan Tuyên huấn Thành ủy (diện khách).
    Thành ủy Huế quyết định:
    Ban Tuyên giáo thành chịu trách nhiệm quản lư việc ăn ở của anh Nguyễn Đính. Ban Kinh tế Thành bảo đảm tiêu chuẩn ăn ở. Ban tổ chức tiếp tục giải quyết thủ tục giấy tờ của anh Nguyễn Đính. Các Ban chiếu công văn này để thi hành.
    Ngày 20.07.1975

    TM Thành ủy Huế
    Phó bí thư
    Hoàng Lanh


    Tất nhiên những người lănh đạo ở đây không thể thả lỏng tôi mà phải quản lư chặt tôi. Hơn nữa nếu họ không cho tôi làm việc th́ sẽ gây ra 1 dư luận dù nhỏ không có lợi cho họ trong giới sinh viên, giáo chức, văn nghệ sĩ ở Huế.
    Đằng nào tôi cũng là 1 trong những sinh viên Huế đầu tiên thoát ly tham gia kháng chiến chống Mỹ. Và bây giờ tôi được nhận làm “diện khách”. Khi thằng Ngô ở Hà Nội vào thăm nhà nghe chuyện này hắn cười thật to:

    - Diện khách! Tham gia cách mạng bao nhiêu năm bây giờ về làm… diện khách. Quá mất dạy. Hắn chơi mi đó.

    Ba ngày sau tôi lên ở nhà số 22 Lư Thường Kiệt làm khách của Ban tuyên giáo thành ủy Huế. Tôi không làm ǵ hết chỉ ăn, ở. Trần Phá Nhạc, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thượng Khanh, Vơ Quê cũng ở đây. Buổi sáng, buổi chiều tụi nó sang cơ quan ở 20 Lư Thường Kiệt làm việc, tôi nằm đọc sách hoặc về nhà hay đi lang thang.

    Trưa, chiều ăn cơm với tụi nó. Trong số anh em ở đây tôi thân với Trần Phá Nhạc hơn, mặc dù mới quen. Tôi hay đi uống cà phê với Nhạc. Buổi tối 2 đứa thường chở nhau bằng xe đạp loanh quanh luẩn quẩn trong thành phố.
    Tôi được cho ăn ở, hưởng các tiêu chuẩn, chế độ như anh em khác, nhưng không làm ǵ hết. Thật ra lúc này tôi chẳng là cái ǵ hết để cho họ phải theo dơi xem tôi có liên hệ với những phần tử xấu hay địch hoặc xem sự tiến bộ của lập trường, tư tưởng của tôi đến mức độ nào. Tôi chẳng là cái ǵ cả và họ cũng chẳng cần tôi.

    Vấn đề là tôi phải bị quản lư và đối với dư luận, tôi vẫn không bị bỏ. Tôi kệ cũng không được. Tuần đầu, tôi cứ ở 22 Lư Thường Kiệt. Về sau chán tôi cứ về nhà luôn. Tôi ăn cơm ở nhà, ngủ ở nhà. Có khi 2, 3 ngày tôi không đến 22 Lư Thường Kiệt. Và tôi cũng chẳng có ǵ buồn phiền, chán nản, mệt mỏi. Tôi về nhà tôi và sống với mẹ tôi.

    Tôi có anh em bạn bè thân mật của tôi.


    Còn tiếp ....

  6. #166
    tran truong
    Khách

    Tôi bị bắt _ Trần vàng Sao

    Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính), một người làm thơ ở miền Nam, nhưng vào những năm 60 của thế kỷ trước, đứng lên chống lại chế độ chính trị của miền Nam lúc đó để cuối cùng “đi về phía bên kia” và chính ở đây anh đă vướng phải một tai hoạ rất tệ hại cho bản thân.
    Anh được đưa ra miền Bắc trị bệnh: ở nơi đây, sau một thời gian quan sát, anh đă ghi lại những suy nghĩ của ḿnh về cái gọi là “hậu phương xă hội chủ nghĩa” đó bằng nhật kư và chính v́ những suy nghĩ ghi thành chữ viết này anh bị các đồng chí của ḿnh tố cáo, truy bức, nguyền rủa, phỉ nhổ, cô lập, đến chỗ như anh cho biết anh không c̣n được coi là con người nữa ... mà đă thành “một con vật, một con chó " !

    ......................



    Tôi không c̣n nhớ ngày nào tháng nào nữa, đâu khoảng tháng 6, không biết có phải không, trước ngày đổi bạc lần thứ nhất 1 ngày, một buổi chiều, từ nhà lên , đang đi trên đường Lư Thường Kiệt tôi bị gọi giật lại “Nhân, Nhân ơi!”. Tôi dừng lại. Ông Hoàng Lanh đang ngồi trên ô tô với người nhà từ ngôi nhà số 10 ṿng qua bên kia đường.

    Ông ta ló đầu ra cửa xe. Tôi đứng phía bên này đường.

    - Nhân, bắt đầu từ bữa ni anh làm việc ở Ban tuyên giáo nghe. Có điện Hà Nội vào rồi. Rứa thôi nghe.

    Sáng hôm sau tôi ghé 20 Lư Thường Kiệt làm việc và được cho làm ở tiểu ban tuyên truyền. Công việc chẳng có ǵ, vừa làm vừa chơi cũng được. Chỉ có vất vả là thời gian tôi về khu phố Vĩnh Lợi làm công tác bầu cử Quốc hội.
    Tôi không có xe đạp. Mỗi ngày tôi phải đi bộ từ nhà lên trụ sở Ủy ban nhân dân Vĩnh Lợi, trưa về nhà ăn cơm. Ăn xong đi liền, chiều lại về nhà. 2, 3 ngày tôi phải đến cơ quan báo cáo t́nh h́nh.

    May lúc đó chân cẳng tôi c̣n tốt.
    Phần đông những người ở Ban tuyên giáo là những anh em bạn bè quen biết. Không khí làm việc vui vẻ, thân mật. Một buổi trưa gần hết giờ làm việc,
    Nguyễn Đắc Xuân đứng nói với tôi cạnh cửa ra vào:

    - Đính ń, tao đă đề nghị mức lương của mi là 56 đồng. Tao phải đấu tranh dữ lắm. Có nhiều người không đồng ư. Tao ở trong ban xếp lương của cơ quan. Mi thấy rứa có được không? (tôi nhớ h́nh như thằng Xuân nói: “tao đă xếp cho mi”).

    Tôi hỏi:

    - Rứa lương mi mấy?

    - Ờ… ờ 73.

    - Rứa à.

    Tôi không nói ǵ nữa và cũng không để ư đến thái độ của hắn. Mấy ngày sau đó, cũng khoảng gần trưa, ông Trần Duy Ưu, Trưởng Ban tuyên giáo, bảo tôi vào pḥng làm việc của ông, ông gần gặp riêng tôi.
    Sau khi nói cho tôi biết là thường vụ Thành ủy đă có quyết định xếp lương cho cán bộ, ông đưa cho tôi tờ quyết định về mức lương của tôi: 56 đồng (cán sự 2). Ông nói:

    - Anh thấy thế nào?

    Tôi ngó tờ quyết định không nói. Tôi biết cách đây mấy ngày cán bộ Ban tuyên giáo đă nhận quyết định lương. Riêng tôi th́ có khác là thủ trưởng cơ quan gọi vào pḥng riêng để đưa quyết định và hỏi ư kiến. Ông ta nhắc lại:

    - Chúng tôi đề nghị mức lương của anh là 56 đồng, và thường vụ đă thống nhất ư kiến. Anh thấy sao?

    Tôi nói:

    - Tôi được cho đi làm việc là may rồi. C̣n xếp bao nhiêu là quyền các anh.

    Khoảng cuối tháng 5 đầu tháng 6.1976, thằng Xuân một hôm đang ngồi làm việc, trong pḥng chỉ có tôi và hắn, vừa cười vừa nói:

    - Nghe mi có người yêu rồi phải không? Con Hay làm ở khu phố Vĩnh Lợi chớ chi nữa?

    - Ừ, mà răng đăng?

    - H́nh như con Hay là con sĩ quan ngụy phải không mi?

    - Mi đảng viên mi phải sợ. Tao yêu ai th́ tao yêu.

    Chắc là họp chi bộ thằng Xuân có nói ǵ đó về chuyện của tôi nên sau đó ông Trưởng ban tuyên giáo hỏi tôi:

    - Nghe anh đă đặt vấn đề với cô Hay nào đó công tác ở Ủy ban Vĩnh Lợi phải không?

    Ông ta cũng vừa cười vừa nói giọng Thừa Thiên làm dáng pha Bắc :

    - Mà cô ấy là con của một ông thiếu tá ngụy?

    Tôi cười:

    - Trung tá anh ạ, và đă từng làm quận trưởng quận Phú Vang.

    Lúc này Ban tuyên giáo đă dời ra số 1 Hoàng Hoa Thám. Một số người đă chuyển đi công tác nơi khác. Vơ Quê ra Hội Văn nghệ, Trần Phá Nhạc qua đài truyền thanh Huế, Nguyễn Thượng Khanh xin đi học đại học y khoa.
    Từ lâu tôi đă biết thế nào tôi cũng phải đi khỏi chỗ này. Mà thật ra trong cái guồng máy tổ chức của chế độ này , tôi không có 1 chỗ nào cả. Tôi đă bị đuổi. Có người đă bảo tôi: “một thằng như mi, ai mà để công tác ở ban tuyên giáo”.

    Tôi đă nghe khi gần khi xa, khi to khi nhỏ từ những người ở trong cơ quan hoặc từ những người thân của những người trong cơ quan rằng , tôi sẽ chuyển về công tác ở Ủy ban nhân dân xă Hương Lưu.
    Tháng 6.1976, tôi có quyết định của Thường vụ thành ủy về Hương Lưu. Một buổi sáng tôi đang ngồi làm việc, thằng Lăm cán bộ Ban tổ chức ở pḥng bên cạnh , lăm xăm bước vào đến bên cạnh thằng Nguyễn Khoa Điềm, cúi gập ḿnh lên bàn nói nhỏ nhỏ chi đó rồi đi ra.

    Thằng Lăm vừa ra khỏi cửa, thằng Điềm, lúc này là phó ban tuyên giáo phụ trách tiểu ban tuyên truyền, ngẩng mặt lên gọi tôi:

    - Anh Đính, tôi có chuyện cần bàn với anh.

    Bàn làm việc của tôi đối diện với bàn của hắn. Tôi ngồi xuống cái ghế để trước mặt bàn hắn:

    - Thường vụ quyết định anh về công tác ở Hương Lưu. Anh nghĩ sao?

    Tôi nói:

    - Tôi đi đâu là quyền của các anh.

    Tôi quay lại bàn làm việc, vừa mới ngồi xuống th́ thằng Lăm lại sang. Và cũng như lần trước hắn cúi gập ḿnh lên bàn thằng Điềm và đưa cho thằng Điềm 1 tờ giấy, rồi đi về. Thằng Điềm lại ngẩng mặt lên:

    - Anh Đính, anh cho tôi nói cái này 1 chút.

    Tôi bước sang. Thằng Điềm đưa cho tôi 1 tờ giấy: Quyết định của Thường vụ thành ủy do ông Hoàng Lanh, phó bí thư phụ trách tổ chức kư, điều động tôi về công tác tại Ủy ban nhân dân xă Hương Lưu với chức vụ đă sắp sẵn, trưởng ban văn hóa thông tin. Quyết định đă kư cách đây ba ngày. Điềm nói:

    - Tôi cũng không biết ǵ về việc này.

    Tất cả sự việc diễn ra trong ṿng chưa đầy 5 phút. Sau 1 ngày tôi nhận quyết định, ông trưởng ban tuyên giáo gặp tôi nói:

    - Đi công tác về , tôi mới biết là anh đă có quyết định tăng phái về Ủy ban nhân dân xă Hương Lưu.

    Tôi nói:

    - Anh Điềm, bí thư chi bộ cũng nói với tôi là anh không biết ǵ về chuyện này.

    Bây giờ anh là thủ trưởng cơ quan và là thành ủy viên , anh cũng bảo là anh mới biết. Thế là thế nào? Cách đây 1 tháng, anh Nguyễn Đắc Xuân đă nói với tôi là tôi sẽ về Hương Lưu. Hôm qua, đến lấy cá tôi chào chị Vững tôi về Hương Lưu. Chị Vững cười: tôi biết lâu rồi, chi bộ họp đă nói chuyện chú sẽ về Hương Lưu.
    Và, nhân tiện đưa tiễn mấy ông cán bộ ở Hà Nội vào giảng dạy ở trường đảng thành phố, tôi được mời ghép đến ăn mấy cái kẹo, uống một hai ly trà gọi là tiễn đưa tại trường đảng ở đường Phan Đ́nh Phùng.

    Tôi về công tác ở Ủy ban xă Hương Lưu từ tháng 6.1976 đến 31.12.1976. Văn hóa thông tin ở các khu phố, xă là băng cờ, khẩu hiệu trang trí trong các ngày lễ và các buổi họp của ủy ban.
    Hằng ngày tôi đến cái pḥng nhỏ số ….. đường Thuận An ngồi chơm rơm với 1 cậu thanh niên làm công tác văn hóa thông tin kiêm đánh máy cho Ủy ban và 1 cô y tá nói chuyện với nhau, ngó xe cộ và người đi đường qua lại. Căn pḥng này trước là hiệu may của 1 người đă bỏ đi Nam, được chia làm 2, một bên là
    ban văn hóa thông tin, 1 bên là trạm y tế.

    Buổi chiều cán bộ định suất nghỉ, c̣n cán bộ tăng phái đi làm việc, tôi tới ngồi 1 chút rồi cũng đi về.
    Có 1 hôm, bà Hoa, bí thư chi bộ xă Hương Lưu, hỏi tôi: “Tối nay, 7 giờ, anh đến nhà tôi, có 1 đồng chí công an ở tỉnh muốn gặp anh. Không can chi đâu, anh đừng lo”.
    Tối đó tôi đến nhà bà Hoa. 1 ông khoảng trên 40 tuổi, mặc quần áo công an đang ngồi nói chuyện với bà Hoa giữa nhà. Ông ta nói:

    - Hôm nay tôi nhờ chị Hoa mời anh đến đây cho tiện, tôi có 1 vài chuyện muốn hỏi anh.

    Ông ta cười :

    - Anh đừng lo. Không phải chuyện của anh đâu.

    Rồi ông ta hỏi tôi:

    - Chắc anh đă đọc tờ Văn nghệ B́nh Trị Thiên số 1. Anh thấy nội dung của h́nh vẽ của Bửu Chỉ trên tờ b́a như thế nào?

    À, tôi biết rồi. B́a trước và b́a sau của tờ Văn nghệ B́nh Trị Thiên số 1 đang “có vấn đề” và đang gây dư luận xôn xao ở thành phố này. Các ông lănh đạo tỉnh đang bực ḿnh. Tôi nói:

    - Trang b́a vẽ 1 nhà máy và 2 đường sắt đi đến nhà máy. Thế thôi.

    Ông ta ậm ừ trong miệng rồi hỏi nữa:

    - À, à… thế anh có quen với anh Bửu Chỉ không? Anh thấy anh Bửu Chí là người thế nào? Tôi hỏi như thế v́ anh là người tham gia cách mạng đă lâu.

    - Tôi mới quen anh Chỉ gần đây thôi. Tôi chưa hiểu anh Chỉ cho lắm, cho nên tôi không thể nói ǵ về anh ấy.

    Lần khác, lúc đó tôi được phân công vào tổ bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố ǵ đó tôi không c̣n nhớ tại địa điểm thôn Phao Vơng. Khoảng 10 giờ đêm, trong lúc tổ bầu cử đang kiểm phiếu, có 3, 4 thanh niên ăn mặc thường phục ngang nhiên bước vào ngó nghiêng, ngó ngửa, chỉ trỏ nói tiếng to, chẳng coi ai ra ǵ cả, tất nhiên là theo sau có 1 cán bộ Ủy ban.
    Công an về kiểm tra nắm t́nh h́nh xem có bọn phản động, chống đối phá hoại bầu cử hay không. Một tay thanh niên nói giọng miền ngoài đến
    trước mặt tôi hỏi:

    - Phiếu bầu có ǵ lạ không anh Đính?

    Nhiều lần làm công tác bầu cử tôi biết là công an thường đến những địa điểm bầu cử và ngay cả Ủy ban thành phố trong đêm kiểm phiếu để kiểm tra những phiếu bất hợp lệ, và phiếu trắng có những dấu viết phản động, chống chế độ như thế nào.

    Tay này nh́n tôi gật gật đầu. Hắn có 1 khuôn mặt choắt, láng, trông trợt trợt, h́nh như tên Dũng th́ phải. Hắn nói:

    - À, chắc anh không biết tôi, chứ tôi th́ tôi biết rơ anh lắm, anh Đính nghe.

    Tôi nói:

    - Tôi làm hướng dẫn cho cử tri đi bỏ phiếu nên không biết. Anh hỏi những người kiểm phiếu.

    Trong lúc đó, những người đi cùng với hắn đang lục lọi, trăn qua trở lại những phiếu bầu mà chúng nghi là có vấn đề ở bàn kiểm phiếu.
    Cuối tháng 12.1976, tôi có quyết định lên công tác tại pḥng văn hóa thông tin thành phố Huế. Chuyển chỗ này, chuyển chỗ khác không bao giời tôi được báo trước, chớ đừng nói là hỏi ư kiến trước.
    Th́nh ĺnh 1 cái người ta đưa quyết định cho tôi. Vừa bước chân vào trụ sở Ủy ban, 1 người nói:

    - A, ông Đính, ông có quyết định về pḥng văn hóa thông tin. Sướng chưa? Nhận quyết định mà đi này.

    Ngày…. tháng 1.1976 tôi cưới vợ. Vợi tôi tên là Nguyễn Thị Hay lúc này đă thôi làm việc ở khu phố Vĩnh Lợi, đang học lớp y sĩ xă ở trường y tế B́nh Trị Thiên.
    Trong thời gian tôi làm việc ở Pḥng văn hóa thông tin th́ xảy ra đại hội văn nghệ tỉnh Thừa Thiên.
    Tôi tưởng như thế này dẫu sao tôi cũng được yên. Bây giờ tôi lại bị bới ra. Một tên phản động làm thơ chống chế độ, nói xấu lănh tụ như tôi ai mà cho dự đại hội văn nghệ.

    Tôi nghe nói là thường vụ tỉnh ủy và thành ủy không đồng ư để tôi dự đại hội. Có cái nghiệt , tôi vốn là ủy viên ban chấp hành Chi hội Văn nghệ Giải phóng Trị Thiên. Ông Tường gặp tôi ở trước cửa trường Đại học sư phạm lúc tôi đi làm việc về, nói: “Tao đă đề nghị anh Lanh cho mi dự đại hội văn nghệ”.

    Ông Tường làm như tôi nghe tin này th́ mừng lắm. Tôi nói “Thôi anh ơi, thêm mệt cho tôi. Anh có cho tôi năm đồng ba trự th́ tôi mừng, tôi cám ơn anh. Chớ chuyện đó… tôi không thiết. Anh để cho tôi yên”.
    Nói thật, tôi chẳng thiết ǵ về chuyện dự đại hội văn nghệ và cũng chẳng để ư ǵ đến chuyện này nữa. Tôi có lư của tôi. Như tôi hằng ngày vẫn viết, vẫn làm thơ, không bao giờ tôi nghĩ là thơ tôi sẽ được đăng báo hay xuất bản.

    Rồi 1 buổi chiều tôi vừa ra khỏi cổng Pḥng văn hóa thông tin, số 1 Trương Định, ông Trưởng pḥng đi hon đa ra, dừng xe lại: “Anh Đính, chi bộ đă đồng ư để anh tham dự đại hội văn nghệ”.
    A, tức cười chưa! Về sau tôi bị tố là 1 kẻ không biết ăn năn hối cải; đảng đă khoan hồng và độ lượng với tôi như thế mà tôi th́ cứ chống đảng, chống chế
    độ.


    Còn tiếp ...

  7. #167
    tran truong
    Khách

    Tôi bị bắt _ Trần vàng Sao

    Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính), một người làm thơ ở miền Nam, nhưng vào những năm 60 của thế kỷ trước, đứng lên chống lại chế độ chính trị của miền Nam lúc đó để cuối cùng “đi về phía bên kia” và chính ở đây anh đă vướng phải một tai hoạ rất tệ hại cho bản thân.
    Anh được đưa ra miền Bắc trị bệnh: ở nơi đây, sau một thời gian quan sát, anh đă ghi lại những suy nghĩ của ḿnh về cái gọi là “hậu phương xă hội chủ nghĩa” đó bằng nhật kư và chính v́ những suy nghĩ ghi thành chữ viết này anh bị các đồng chí của ḿnh tố cáo, truy bức, nguyền rủa, phỉ nhổ, cô lập, đến chỗ như anh cho biết anh không c̣n được coi là con người nữa ... mà đă thành “một con vật, một con chó " !

    ......................



    Trước đó, lúc tôi c̣n ở Ban tuyên giáo thành ủy, trong thời gian Ban vận động thành lập Hội Văn nghệ Thừa Thiên , chuẩn bị in tập thơ “Huế từ ấy”, ông Tường nói tôi , chép bài “Bài thơ của một người yêu nước ḿnh” của tôi để in vào tuyển tập này. Khi tôi đưa bài thơ cho ông Tường ở 26 Lê Lợi, ông nói :

    - ” “Đính ơi, tao nghĩ mi đừng để tên Trần Vàng Sao nữa mà để tên Nguyễn Đính. Nguyễn Đính th́ ai cũng biết”.

    - “Anh nói chi lạ rứa? Anh mà c̣n ... c̣n sợ à?”.

    - “Ư của ông Trần Hoàn như thế?”.

    - “Đăng hay không là quyền anh, đổi tên tác giả là quyền tôi. Tôi không bao giờ đổi tên Trần Vàng Sao hết. Nếu đăng anh không được quyền đổi tên tác giả. Tôi sẽ kiện có một tên Nguyễn Đính ăn cắp thơ Trần Vàng Sao”.

    Một hôm tan buổi họp ǵ đó ở ty văn hóa thông tin (lúc đó ở số ….. Lê Lợi), ông Trần Hoàn, trưởng ty, gặp tôi trên thang gác đi xuống nói: “Nhân, nhân ơi, thôi được rồi, cứ để tên Trần Vàng sao trong bài thơ của anh. Vừa rồi tờ Văn nghệ Giải phóng ở Sài g̣n đă đăng lại bài thơ đó và để tên Trần Vàng Sao”.

    Thằng cha quá khôi hài. H́nh như lúc đó không biết có phải là Lê Nhược Thủy hay không , có viết về bài thơ này của tôi trên Văn nghệ Giải phóng. Tác giả tỏ ra có cảm t́nh với bài thơ của tôi.

    Sau này khi ra tờ Văn nghệ B́nh Trị Thiên, rồi Sông Hương, bạn bè khuyên tôi nên đăng thơ cho vui, “chỗ anh em với nhau, ai vô đó”. Tôi không chịu.

    - “Cái thằng chi lạ”.

    - “Rứa mi làm thơ rồi cất trong tủ à, hay chỉ đọc cho con Bồ Câu nghe thôi à?”

    (Bồ Câu là đứa con gái đầu của tôi). Tôi chỉ cười. Lúc Sông Hương sắp ra số 1, có người rủ tôi: “mi phải gửi bài đăng Sông Hương số 1”. Tôi lắc đầu, Sông Hương ra được vài số, thằng Điềm đến nhà tôi nói tôi đưa 2 bài thơ cho hắn đăng.
    Tôi nói: “thôi đăng làm chi. Tao không thích”. Hắn mượn tôi 1 số bài đem về đọc. “Cho mi mượn đọc, chứ đừng đăng”. Lúc này thằng Điềm làm Tổng biên tập tạp chí Sông Hương.

    Mấy ngày sau tôi gặp hắn đ̣i mấy bài thơ với lư do tôi chỉ có một bản duy nhất đó. Hắn báo là bà Mỹ Dạ mượn. Tôi lên nhà ông Tường liền và lấy lại mấy bài thơ về. May quá.
    Một bữa khác, gặp tôi bà Mỹ Dạ nói:

    - “Anh Điềm bảo Dạ: răng chị lại đưa mấy bài thơ lại cho thằng Đính. Chị cứ chọn mà đăng. Mà răng anh chướng rứa, anh Đính? Đăng cho vui chứ”.

    - “Thôi chị ơi!”.

    - “Anh sợ à?”.

    - “Đụng tôi bị tù th́ làm răng?”.

    - “Anh ở tù th́ bọn này bói”.

    - “Rứa ai nuôi con tôi?”.

    - “Nói rứa thôi, đưa thơ đăng đi anh Đính”.

    Anh em bạn bè khuyên nhủ, nói nhiều lần, cầm ḷng không đậu, tôi đưa bài “Những ngày c̣n nhỏ của tôi ở Vỹ Dạ” để đăng. Bài thơ dài nên chỉ trích đăng 1 số đoạn có chừng mực.
    Từ đó, nhờ tấm ḷng của bạn bè, thỉnh thoảng thơ tôi lại được đăng ở Sông Hương. 1 số bài trong những bài này của tôi đă bị báo chí, đài phát thanh, đài truyền h́nh và nhiều người có chức quyền ở tỉnh này xỉ vả tôi dữ tợn, tóm một lời, họ cho tôi là phản động. Có người ở báo Công an B́nh Trị Thiên gọi tôi là chó, rằng lúc ở Hà Nội , Đảng đă khoan hồng cho tôi mà nay tôi lại không biết điều … Nhưng đó là những chuyện xảy ra về sau này. Những tháng năm này cả nhà tôi đói.



    Chủ Nhật, ngày 12.11.1977.
    Có khi đầu óc tôi trống không. Tôi không muốn nghĩ ǵ hết. Tôi đi rồi đứng lại. Phố xá cứ đông người, ồn ào. Ở 1 vài góc đường người ta đứng đông lại, quần áo giày dép, khăn mũ đủ thứ đủ loại, ta có địch có, nửa ta nửa địch có, thứ này 1 nửa, thứ kia 1 nửa, đeo vào người, choàng lên vai, vắt lên cổ, đội lên đầu, không cần kiểu cách và làm đẹp; mặc cho có mặc, đeo cho có đeo.

    Những khuôn mặt trắng bệch, không tái xanh, không mốc meo, không béo đỏ, hơi hốc hác 1 tí, phấn khởi; những khuôn mặt mở toét miệng cười, những khuôn mặt b́nh tĩnh, tuổi trẻ để ria … Đầu óc tôi trống không.
    Huế đang có những ngày như tết. Trời ấm, không có nắng, không biết được trưa sớm, không phải để mưa, đôi khi loáng thoáng 1 chút gió, rồi mất đi, cây cối lại đứng yên.
    Đă có ngày mưa vào buổi trưa buổi chiều, rồi lại có nắng. Trời cứ không chừng độ như thế này.
    Như buổi mai này chủ nhật và tôi nghỉ phép 15 ngày, tôi ngồi ở nhà, trời cũng yên lành vô cùng. Chim kêu trên mái ngói…

    Thứ hai, ngày 12.12.1977.
    Buổi sáng tươi tốt và có tiếng gà gáy, tiếng trẻ con nói ngoài đường. Mùa đông không có mưa to suốt ngày. Thỉnh thoảng 1 vài cơn mưa lào rào vào buổi trưa, buổi tối.
    Sáng sớm , trời chưa nắng kịp, rồi trưa trưa nắng hửng, trời lại trong và ấm ấm. Có khi suốt buổi mai không có chút nắng, trời không phân biệt được trưa sớm. Những ngày này ở Huế hay như thế.

    Huế thường bắt đầu 1 ngày bằng cái b́nh yên và lặng thinh của trời đất vào buổi sớm mai và hết 1 ngày vào lúc không c̣n tiếng động to và rất vắng, thành phố lại dần dần yên tĩnh. Những ngày mới giải phóng, về đêm thành phố này yên tĩnh một cách kỳ cục.

    Đường vắng, cái vắng vẻ đó vốn không phải của Huế, nó nặng và câm, chứ không phải b́nh yên. Buổi sáng ở Hà Nội cũng có khác. Tinh mơ Hà Nội yên lặng, rồi khi không ào ào lên tiếng người, tiếng guốc dép, xe cộ.
    Huế chưa có được cái không khí đó, từ sự yên tĩnh sang sự ồn ào không phải th́nh ĺnh, khi không , nổi ào lên, mà dần dần từng lúc từng chặp, từng nơi, từng chỗ cho đến khi trời sáng trắng ra; có khi cái ồn ào đó lại ngưng đi 1 chút.

    Theo đúng ngày khai trong giấy khai sinh, hôm nay, ngày 12 tháng 12.1977, tôi chẵn 36 tuổi. 36 tuổi có 1 đứa con trai hơn 15 ngày tuổi và với những cơn dạ dày cứ khi có khi không b́nh thường.

    Thứ Hai, ngày 2.1.1978
    Tôi đă không có th́ giờ , để trong đêm 31.12.1977 viết vài chữ vào đây. Con tôi đau và hết gạo. Một ngày đầu năm, trời không nắng, trời không mưa, trời không biết được buổi mai, buổi chiều, trời cứ như trời những ngày tết. H́nh như đêm mồng 1 trời có mưa cho có và suốt ngày mồng 2 trời mưa to. Bây giờ mới có 1 cơn mưa đầu mùa đông. Thôi tôi tức ngực lắm rồi, đi ngủ đây.

    Thứ tư, ngày 4.1.1978
    Câu chuyện được kể như thế này, không phải, 1 thằng bé bảy tám tuổi kể thế này: lâu nay con không có bữa mô ăn no hết, có ngày con chỉ được 1 chén cơm, mấy anh và em con cũng rứa. Cả nhà cứ bị say sắn hoài.
    Đứa em út 2 tuổi khi mô cũng được ăn nhiều hơn, nhưng ăn rồi em con nó cũng cứ khóc. Mạ con chết rồi, mạ uống thuốc chuột mạ chết. Và mấy ngày ni, con và anh em con được ăn no, ăn bữa mô cũng c̣n dư cơm bắt nhiều, lại có thịt gà, thịt heo nữa, mỡ loạn lắm. Mai th́ đưa đám mạ con. Con không khóc được.

    Thứ năm, ngày 12.01.1978.
    1 tuần ăn muối, thỉnh thoảng có 5 hào ruốc và mỡ. Hết gạo, hết ḿ, không có củi. Ván, gỗ mặt ghế, chân bàn, chân ghế cũ đều đem chẻ chụ̣m. Sữa của mạ con Bồ Câu trong và không cương như trước nữa.
    Tôi xin được 3 trái đu đủ ở cơ quan về xào với ruốc. Vợ tôi nói: mấy bữa ni sữa có hơi cương nhờ có đu đủ. Ngày 7.1., Bồ Câu phải bú b́nh, mỗi ngày 2 bữa, và chỉ mới bú được sữa hộp 2 ngày, nay phải bú nước gạo với đường. Cơn dạ dày cứ hành hạ tôi, không kịch liệt, cứ ngấm ngầm, kéo tôi gục xuống.
    Cả nhà vẫn vui v́ Bồ Câu ngoan. Hôm nay, Hay mua phần gạo của ḿnh. Không có chuyện tiêu chuẩn người đẻ, vẫn có độn. Được vậy là quá quư rồi. Tôi nói với vợ nấu 3 lon đi em, gạo không a.



    Thứ Ba, 13.6.1978
    Một con chuột chạy băng qua đường Trương Định, từ connex này sang connex khác (trước kia ở đây là 1 quán cà phê). Con chuột chạy từng bước một, nhổm từng bước một , cố hết sức đẩy cái thân của nó di chuyển, nhưng không vội vàng, không trốn chạy. Phía trên lưng con chuột, 1 đôi ba sợi lông con dài mọc trên 1 vệt trắng loét có vảy.

    Đoạn cuối cùng của cái đuôi cũng trắng bệch và cùn ở đầu mút. Thân con chuột cong lên, nó chập choạng chạy. Nó dừng lại, ḅ lui 1 mô đất hơi cao rồi vất vả từng bước đục vào connex. Tôi không gớm guốc chi con chuột hết, tôi không tởm. Tôi thấy nó quá tồi tệ, quá bần tiện và quá cực. Con chuột đă không cần trốn tránh khi thấy con người. Nó hết sức và quá mệt rồi.

    Chủ Nhật, 29.10.1978
    Cả nhà ăn bột ḿ xay từ ḿ hột, trừ Bồ Câu. Được như thế đă là quư lắm rồi. Hầu như vợ tôi và tôi chẳng tiêu 1 xu ǵ cho riêng ḿnh hết. Cuộc sống vất vả nhưng vui. Bây giờ chỉ cần có những thứ có chất bột độn vào dạ dày, không phải khi nào cũng được đầy, miễn là có để ấm bụng. 1 tô bún, 1 bữa ăn có cá thịt, dù rất ít, chỉ là họa hoằn.

    C̣n ngoài ra có khi không có nước mắm mà ăn. Vợ tôi gầy, tôi hay đau. Mẹ tôi không được khoẻ. Sức đọc và viết có giảm đi, v́ thức khuya không được dài. Nếu vợ tôi đủ ăn, chỉ cần cơm nhiều hơn, thêm 1 ít thức ăn có chất tanh là béo, con tôi sẽ khá hơn.

    Mọi thứ mua theo tiêu chuẩn cung cấp, kể cả chỉ một bao thuốc tôi cũng bán, trừ nước mắm, mỡ và những thứ cần thiết cho bữa ăn. Tệ hơn nữa là hôm qua mua được 2 cân cà rốt, 1 bắp su cũng phải bán 1 nửa để mua gạo. Cơn dạ dày cứ đau rất bất thường, hầu như không ngày nào không đau, không đêm nào tôi ngủ được thẳng giấc.
    Cơ thể thường ră rời và mệt mỏi.

    Thứ Ba, ngày 31.10.1978
    Mong có 1 bữa cơm không, ăn với cá, cá vụn, với muối và 1 chút ớt.

    Thứ Hai, 22.07.1979
    Nhà cứ không có gạo hoài. Có nửa lon, 1 lon dành cho Bồ Câu. Phải bới sắn non, nhưng chỉ vài ba bữa, c̣n th́ quá non. Hay chưa có được gạo. Giấy trả về làm việc từ 1.6. Chúng mày không có gạo th́ chúng mày đói chứ tao có đói đâu.

    Gạo.
    Bây giờ ai cũng chỉ mong, không phải bữa nào cũng cơm mà sắn cũng được, mỳ hột cũng được. Miễn là dộng vào cho đầy cái dạ dày. Ước mơ của thiên hạ th́ cũng đơn giản thôi: làm sao bữa nào nồi cũng đầy cơm, đầy tràn ra, đến nỗi hôi khói. Có cơm ăn với chi cũng được, với muối, nước mắm th́ tuyệt rồi.

    Người ta không ao ước ǵ hơn nữa. Không có mơ ước, không có hy vọng.
    Và không ai dám nói ra những suy nghĩ của ḿnh về chế độ, thậm chí những suy nghĩ của ḿnh về 1 người thứ ba cho 1 người thứ 2 nghe. Người ta phải nói láo hoặc nói nhỏ.

    Kinh khủng thật. Thành ra có 1 không khí chính trị giả dối trong dân chúng.
    Nhưng mà chưa ai chết ngay cho. Có người nói: không chết tươi ngay mà chỉ chết ṃn, chết dần; ngày nào cũng cố ráng làm việc. Cố t́m cho ra những thứ chi ăn được dộng vào miệng.

    Chưa lúc nào người lao động làm việc cật lực, siêng năng, hết sức như bây giờ, chưa bao giờ lao động lại có ư nghĩa thiết thân như bây giờ. Lao động không phải là một cách để tồn tại của con người. Lao động để có cái ăn, để khỏi chết, để khỏi ḅ, rồi quỵ xuống như con vật. Thành ra cái ư nghĩa của lao động đă đạt đến đỉnh cao của nó: người ta lao động cho chính thể xác của người ta sống và để cho nhân loại c̣n có con người đang ngu ngoe, động đậy trên trái đất này. Lao động để sống như 1 con vật, chứ không phải để thành người.


    Ngày 28.7.1979
    … không phải người ta không cần ǵ nữa hoặc mất hết ḷng tin mà người ta không c̣n biết tin là ǵ nữa, người ta không có ḷng tin. Nói đúng ra là thế này: Bây giờ không phải người ta khủng hoảng niềm tin (đó chỉ là 1 cách nói chữ). Bởi v́ người ta không thể sống mà không tin vào 1 cái ǵ cả, kể cả người không có lư tưởng vẫn tin vào cái không có lư tưởng của ḿnh.

    Điều dễ sợ là con người bây giờ sống bị buộc phải tin, và sự bị buộc phải tin này như một bệnh dịch lan từ người này sang người khác, nó khống chế người này đến người khác; nó kiểm soát, nó đe dọa, đọa đày, vật vă. Nó làm cho con người mất cá tính và tư cách của ḿnh. Nói gọn lại, nó đẩy con người và cũng tự con người đó đẩy ḿnh sống trong 1 t́nh trạng ngột thở không cựa quậy được. Người đó tự giam cầm ḿnh.

    Tôi có nói với 1 người quen: người nào là trí thức bây giờ họ cũng không biết cái trí thức của họ là ǵ nữa, và họ phải dùng cái tri thức của họ ở đâu và để làm ǵ. Sự hiểu biết bây giờ là cái cùm để cùm người có trí thức lại. Mô Phật. Đồ tư sản, bọn tiểu tư sản , bây đă ăn phải cái bả tự do của bọn tư sản rồi!.

    Thứ Hai, 31.12.1979
    Một hai ba ngày một tuần mẹ tôi, vợ tôi, tôi , ít khi có cơm ở trong bụng. Bồ Câu có bữa ăn bánh canh, và cơm th́ thường với nước ruốc hoặc muối. Cả nhà không no, mệt ră rời chân tay. Tôi không thức khuya được, mắt mờ đi rất nhiều, và những cơn dạ dày.


    Thứ Sáu, 1.2.1980
    Đói và những cơn dạ dày, cỡ nửa tháng nay cả nhà chưa khi nào được 1 bữa no. Một tuần gần đây th́ chuối non nấu với ruốc và bột sắn, bột ḿ, ḿ sợi. Bồ Câu chỉ có cơm với ruốc hoặc nước mắm. Có bữa Bồ Câu cũng không có cơm.

    Tôi không có đủ sức nghĩ đến những chuyện khác.
    Thèm ăn, vợ tôi có nhiều bữa đói lả đi. Tôi lại đi ỉa ra máu. Ngày mai sẽ mua được gạo tháng 2. Có chắc họ bán gạo vào ngày mai không?
    Thương Bồ Câu quá.

    Khoảng tháng 11, 12.1979, tại Pḥng văn hóa thông tin thành phố Huế đă xảy ra vụ “Biên bản 68 trang”. V́ vụ này tôi bị đẩy về lại xă Hương Lưu. Những người lănh đạo thành phố này đă quy tộ̣i tôi và 1 số người khác là đă kích động, xúi giục cán bộ nhân viên Pḥng văn hóa thông tin quấy phá, làm loạn, chống lănh đạo, thóa mạ đảng.

    Trưởng pḥng văn hóa thông tin lúc đó là 1 tay gian ngoan và bần tiện. Biên bản 68 trang đánh máy là biên bản của buổi họp ngày 7.12.1979 của công đoàn Pḥng văn hóa thông tin và Pḥng thể dục thể thao , tố cáo ông ta đă lợi dụng việc thảo luận của cán bộ nhân viên về dự thảo Hiến Pháp mới (bằng văn bản báo cáo tổng hợp các buổi họp thảo luận) để buộc tội 1 số cán bộ là đă không tin tưởng vào sự lănh đạo của đảng, và trong quá tŕnh làm việc đă lợi dụng khả năng, kể cả những khuyết điểm, sai lầm của cán bộ nhân viên dưới quyền của ông ta , làm thủ đoạn để tiến thân v.v…

    Buổi sáng 1 số anh em đến Pḥng văn hóa thông tin để đánh máy biên bản, cô Khánh, em của Nguyễn Khoa Điềm, nói riêng với tôi:

    - “Anh Điềm có bảo em nói với anh, là anh em làm như thế (tức là đă phê b́nh, tố cáo những thủ đoạn của ông Trưởng pḥng trong các buổi họp) là đủ rồi. Thành ủy Huế đă biết. Không nên làm biên bản gửi lên Thường vụ. Làm như thế sẽ không có lợi cho anh”.

    Tôi nói:

    - “tất nhiên chúng ta không làm ǵ được tên trưởng pḥng này. Nhưng chúng ta phải tỏ thái độ của chúng ta. Bây giờ chúng ta không gửi biên bản lên thành ủy, anh em sẽ bảo chúng ta sợ và đă thỏa hiệp”.

    Biên bản gửi lên thành ủy. Nguyễn Đức Hân, phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế phụ trách văn xă, đến Pḥng văn hóa thông tin họp các cán bộ chủ chốt (tôi không được dự), vừa vuốt ve, dụ dỗ, vừa trấn áp, đe dọa và nói cho họ biết , tôi là 1 người như thế nào: lập trường và tư tưởng phản động, chống đảng, chống chế độ, làm thơ nói xấu Hồ Chủ Tịch v.v…

    Sau cái màn gợi ư, thổ ngọt và hăm dọa này, ngày 19.12, ngày 21.12 và ngày 31.12.1979, Nguyễn Đức Hân hầm hầm kéo 1 đoàn cán bộ thành ủy và Ủy ban nhân dân đến Pḥng văn hóa thông tin để đàn áp.
    Nguyễn Đức Hân kết tội tôi và 5 anh em khác là “một làn gió độc, 1 đám hồng vệ binh lộn xộn, có xu hướng biệt phái, xúi giục, quấy phá, gây chia rẽ nội bộ, dùng cách đấu tranh hợp pháp chống địch ngày trước , để đấu tranh chống ta nhằm làm 1 cuộc đảo chính nội bộ, thóa mạ đảng, xúc phạm đến tổ chức…”.

    Ông ta xỉ vả tôi “Đảng rất độ lượng, rất chân t́nh đối với anh Đính. Anh quấy cái Pḥng thông tin này hơi nhiều.
    Anh Đính đáng ra là bị xử lư khác, nhưng khi ở miền Bắc vào anh được thành ủy nhậ̣n ngay. Anh là 1 quần chúng lạc hậu...”. Rồi tôi được gọi lên Pḥng tổ chức Ủy ban.

    Ông Lớn, trưởng pḥng, bảo thẳng tôi:

    - “Ủy ban chuyển anh về công tác ở Hương Lưu”.

    Tôi hỏi:

    - “có phải v́ chuyện vừa xảy ra ở Pḥng văn hóa mà tôi phải về Hương Lưu không”.

    - “Làm ǵ có chuyện đó”.

    Và những người đồng ḷng với tôi rồi cũng phải mỗi đứa mỗi ngă, bằng cách này hoặc bằng cách khác.
    Đói, cực, vợ tôi bỏ làm việc Nhà nước. Tháng 4.1979, tốt nghiệp trường trung cấp y tế tỉnh, lớp y sĩ xă, tháng 6 đi làm ở trạm y tế Vĩnh Lợi, lương định suất 36 đồng cộng 2 đồng chuyên môn là 38 đồng, lương thực 11 cân, nhưng 2 tháng sau mới cho mua, đầu năm 1980 vợi tôi xin nghỉ. Xoay xở buôn chèo bán chẹt chi cũng c̣n hơn đi làm cho Nhà nước, có điều nghỉ làm việc th́ mất tiêu chuẩn 11 cân lương thực với giá cung cấp.

    Vợ tôi đi Vinh, gọi là đi buôn, năm bảy cân phân đạm, một hai tá bút ch́, vài cân cà phê bột … Một chuyến bốn năm ngày, vất vả v́ phải trốn bọn thuế vụ, 1
    phần nữa là bọn quái cướp giựt tự do trên tàu. Đến chuyến thứ 7 th́ lỗ, cà phê bị bắt ở Ga Vinh. Liều thêm 1 chuyến thứ 8, th́ vợ tôi đau. Sau đó, vợ tôi đi bán thuốc lá, bánh kẹo tại các sân băi biểu diễn văn nghệ, rồi triêng gióng lên chợ Thông, Lựu Bảo mua thơm mít về chợ Đông Ba bán, rồi qua chợ Đông Ba gánh nước đá thuê, coi ngó hàng hóa cho người ta…

    Vợ tôi nghỉ việc có 2 tháng tôi mới đi cắt tiêu chuẩn gạo. Kệ, gian được tháng nào đỡ tháng nấy, nhưng phải cắt, không họ sẽ trừ vào phần tôi, th́ cũng như không.


    Thứ Tư 28.05.1980
    Sáng nay, tôi đi làm giấy cắt tiêu chuẩn lương thực của vợ tôi.
    Cô gái ngồi đối diện trước mặt tôi cầm bút ghi vào tờ khai lương thực ở phần vợ tôi – 11 (trừ 11). Mang sang: Hay; giảm –11, bắt đầu từ 6.1980. Tôi lạnh hết cả thân thể, lạnh lắm.

    Tôi hơi ngẩng đầu lên 1 chút rồi cúi xuống. Tôi đến đóng dấu rồi cứ cầm cuốn sổ đọc cho đến khi đi ra ngoài đường. Tháng 8.1980, tôi về công tác ở UBND xă Hương Lưu.



    Còn tiếp ....

  8. #168
    tran truong
    Khách

    Tôi bị bắt _ Trần vàng Sao

    Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính), một người làm thơ ở miền Nam, nhưng vào những năm 60 của thế kỷ trước, đứng lên chống lại chế độ chính trị của miền Nam lúc đó để cuối cùng “đi về phía bên kia” và chính ở đây anh đă vướng phải một tai hoạ rất tệ hại cho bản thân.
    Anh được đưa ra miền Bắc trị bệnh: ở nơi đây, sau một thời gian quan sát, anh đă ghi lại những suy nghĩ của ḿnh về cái gọi là “hậu phương xă hội chủ nghĩa” đó bằng nhật kư và chính v́ những suy nghĩ ghi thành chữ viết này anh bị các đồng chí của ḿnh tố cáo, truy bức, nguyền rủa, phỉ nhổ, cô lập, đến chỗ như anh cho biết anh không c̣n được coi là con người nữa ... mà đă thành “một con vật, một con chó " !

    ......................



    Người ta giao cho tôi một công việc hết sức tức cười, thư kư văn pḥng. Tôi ngồi ch́nh ́nh trước một cái bàn sắt to nặng đặt choán gần hết cửa ra vào của văn pḥng Ủy ban.
    Công việc của tôi là đối chiếu các bản sao giấy khai sinh, bằng cấp v.v… với bản chính, nhậ̣n công văn, bỏ vào các cặp b́a cứng có hai chữ “Tŕnh kư” để ở ngoài, rồi đúng giờ đem vào cho ông chủ tịch, phó chủ tịch kư. Thằng Thái Ngọc San cười:

    - “Thằng Đính làm thư kư mà không được kư”.

    Trong anh em bạn bè có đứa nói:

    - “Về quách cha cho rồi Đính ơi”.

    Ông Tường bảo:

    - “Chỉ có thiền sư mới đi làm việc như mi”.

    Tôi làm việc ở Ủy ban Hương Lưu đâu được 5 tháng, 1 hôm, ông Chủ tịch bảo tôi:

    - Chi ủy và thường trực Ủy ban đang họp cần gặp tôi để bàn 1 số công tác.

    Vào pḥng, tôi thấy đầy đủ bộ sậu của cấp ủy và ủy ban. Tay bí thư chi bộ bảo tôi:

    - “Anh Đính ạ, anh về đây cũng không phải do chúng tôi yêu cầu. Và công việc của anh đang làm hiện nay xét ra th́ … trong tổ chức của văn pḥng Ủy ban không có và vả lại… không hợp với khả năng của anh…

    Tôi ngắt lời hắn:

    - Tôi cũng như anh, tôi thi hành quyết định của trên. Tôi có xin về đây đâu và công việc của tôi đang làm là do các anh sắp xếp.

    Tay bí thư chi bộ là cháu của bí thư thành ủy lúc này, lúc ở trên rừng làm việc ở bộ phận nhà in, sau giải phóng, công tác ở Pḥng tổ chức Ủy ban thành phố, và bây giờ là bí thư chi bộ xă Hương Lưu.
    Nói qua nói lại 1 lúc, tay bí thư chi bộ đề nghị tôi phụ trách công tác thương binh xă hội. Tôi không nhận, lư do là tôi không phải là đảng viên nên không thể dự họp với cấp ủy xét duyệt hồ sơ thương binh, liệt sĩ.

    Ông phó bí thư làm chủ tịch Mặt trận tổ quốc xă nói tôi làm công tác lao động. Tôi từ chối v́ không thích. Có 1 người nào đó gợi ư tôi làm thông tin văn hóa, nhưng chỉ nói chiếu lệ, nên không ai để ư. Tay bí thư chi bộ nói:

    - Thôi thế này, các đồng chí ạ, anh Nhơn làm liên lạc mới bỏ việc. Công tác liên lạc của Ủy ban thiếu người. Mà xét ra cũng chẳng c̣n công việc nào phù hợp với anh nữa, chỉ có việc này. Anh nhậ̣n cho. Chúng tôi cũng không biết phải giải quyết thế nào nữa.

    Tôi nhận làm liên lạc xă. Tay bí thư vừa cười vừa nói:

    - Anh nhớ là anh làm liên lạc luôn cho chi bộ nữa đó, anh Đính nghe.

    - Trong giờ hành chính.

    Tôi vào ngồi ở cái bàn sắt to nặng đặt ch́nh ́nh giữa cửa ra vào của văn pḥng Ủy ban xă. Hàng ngày tôi đến Ủy ban, không có việc th́ ngồi hút thuốc đọc sách, có công văn, giấy mời th́ tôi đi đưa, khi lên Ủy ban thành phố, khi về các tổ trong xă.
    Ngay ở Ủy ban, có nhiều người không tin tôi làm liên lạc. “Anh làm liên lạc thiệt hả, anh Đính?”. “Thiệt chứ chơi à?”. Mấy ông tổ trưởng dân phố thấy tôi đi đưa giấy mời cũng nói: “bữa trước tưởng nhân tiên anh đưa giùm, té anh làm liên lạc à? Anh nói chơi?”.

    Tôi cười:

    - Ngoài công tác liên lạc ra tôi c̣n nhiệm vụ giữ ch́a khóa văn pḥng Ủy ban, sáng chiều phải đến sớm mở cửa, hết giờ làm việc khóa cửa lại.

    Nhậ̣n 1 xấp giấy mời, tôi nhờ 1 đứa nào đó khóa cửa, rồi đi tuốt. Thường tôi nhờ người đưa giúp giấy tờ, gặp ông ở tổ 3, tôi nhờ đưa cho tổ 4, tổ 5, hoặc gặp ai đó giữa đường tôi cũng nhờ.
    Vui nhất là ở thôn Phao Vơng, 1 thôn vạn đ̣ trên sông Hương. Có giấy mời đi họp, tôi ra bờ sông gọi đ̣. “Chi rứa anh Đính?”. “Có giấy Ủy ban mời họp, nhờ bác đưa giúp”. “Anh Đính ń, tổ trưởng tổ .. ra làm ngoài biển rồi”. “à, tổ trưởng tổ … con đau, nhờ anh báo lại Ủy ban như rứa”.

    Thành ra tôi quen nhiều bà con ở đây. Nói thiệt bà con ai cũng cám cảnh cho tôi. Tôi cứ cười. “Tưởng anh đi bao nhiêu năm về bà con nhờ, té ai từng đời…”, “Ai ngờ thằng Đính con mệ Đính bây giờ như rứa”.

    Làm liên lạc, đám lănh đạo ở ủy ban chẳng ai hạch sách tôi. Hồi c̣n làm cái chức thư kư văn pḥng, mấy cái tay chủ tịch, phó chủ tịch cứ tiếng to tiếng nặng với tôi. “Tôi đă bảo, thứ hai, thứ tư, thứ sáu là ngày kư giấy tờ, sao hôm nay thứ 5 anh lại đem vào đây”. “Tôi đă bảo sáng thứ 7 hội ư cán bộ văn pḥng là không giải quyết giấy tờ, sao anh lại…”.
    Tôi chỉ nói: “nhưng mà dân họ cần… th́ này… thế này…”.

    Một buổi sáng đầu tháng 4.1981 tôi lên Ủy ban thành phố lănh lương, lúc đi ra th́ gặp ông Nguyễn Văn Kháng, cán bộ pḥng tổ chức tại pḥng trực. Ông Kháng cười:

    - Chuyến ni được truy lănh, sướng hí!

    - Truy lănh chi rứa anh Kháng?

    - Anh được lên lương tháng trước rồi mà.

    - Có mô, vẫn 56 đồng.

    - Th́ chính tôi ghi quyết định và gửi về Hương Lưu cho anh mà. Anh lên hỏi ông Lớn đi. Nhưng đừng nói tôi nói nghe.

    Tôi lên pḥng tổ chức gặp ông Lớn, trưởng pḥng. Ông Lớn nói:

    - Có, có quyết định tăng lương cho anh. Nhưng sau đó xét công việc của anh làm ở Hương Lưu hiện nay, nên Ủy ban đ́nh lại.

    Tôi trở xuống pḥng trực, ông Kháng c̣n đứng đó. Ông Kháng nói:

    - Rứa là thằng chi đó phó chủ tịch của Hương Lưu chơi ông đó.

    Tôi nói:

    - Lúc đi phép Sài G̣n về , tôi có nghe nói là tôi có quyết định tăng lương và hiện tay phó chủ tịch cất. Tôi hỏi hắn, hắn nói, tôi không biết, làm chi có.

    - Đúng là hắn chơi ông. Chắc hắn cho rằng hắn là phó chủ tịch, đảng viên mà lương chỉ 50 đồng, c̣n anh làm liên lạc đă hơn lương hắn rồi mà lại c̣n được lên lương nữa. Chắc hắn gặp ông Lớn phản đối việc tăng lương cho anh. Thằng bần tiện.

    Ngày 16.05.1981 tôi viết đơn gửi Ủy ban nhân dân thành phố Huế xin nghỉ việc , lư do: đau dạ dày và vết thương cũ tái phát, không làm việc được. 1 tháng sau, 16.6.1981, tôi viết đơn báo cho Ủy ban xă Hương Lưu biết tôi đă xin nghỉ việc và bắt đầu từ ngày 18.6.1981 tôi sẽ không đến Ủy ban làm việc nữa.
    Ông chủ tịch nói tôi bàn giao công việc. Tôi nói:

    - “Có ǵ mà bàn giao. Tôi chẳng giữ giấy tờ sổ sách ǵ cả”.

    Và bắt đầu từ ngày 18.6.1981 tôi không đi làm việc nữa.
    Tôi không đi làm việc cho Nhà nước, anh em bạn bè ai cũng mừng cho tôi. “Đáng lẽ mi phải về từ lâu rồi. Về là phải, mà phải về”. “Đứa nào nghe mi thôi việc cũng đồng ư”. “Đồng ư mi nghỉ việc là hết sức khó khăn cho mi, cả nhà mi đang đói. Nhưng mi có tư cách của mi. Không thể để cho người ta làm chi th́ làm”.

    Có đứa c̣n nói: “anh không đi làm việc, tôi sợ gia đ́nh sau này có chuyện không ổn, v́ anh phải sống nhờ vợ. Mà nói thật ra anh đừng giận, nếu người đàn bà mà làm ra tiền… “. Mấy người hàng xóm nói: “Anh nghỉ việc là phải. Làm cái việc chi mô cho cực”. “Anh thôi làm việc rồi phải không? Làm chi cho nhục”.

    Mẹ tôi 1 hôm đi chợ về, kêu tôi bảo: “mạ th́ không biết, mạ ra ngoài chợ nghe họ nói bữa ni con không đi làm trên xă nữa. Họ nói: chị nói thằng Đính đừng đi làm nữa, làm chi ba cái việc không ra chi mà cũng làm cho xấu”.

    1 tháng sau khi tôi nghỉ ở nhà, Pḥng tổ chức thành phố gởi giấy gọi tôi lên. 1 anh cán bộ của pḥng hỏi tôi:

    - “Anh xin nghỉ dưỡng sức 1 thời gian hay xin nghỉ luôn? Anh muốn chúng tôi giải quyết thế nào?”. Tôi nói:

    - Anh cứ xem trong đơn của tôi. Tôi xin nghỉ việc không đi làm nữa. C̣n giải quyết thế nào là việc của các anh. Đúng chế độ và thủ tục th́ tôi nhận.

    Anh cán bộ này tôi có quen sơ hồi ở trong rừng.

    - Anh chỉ nên xin nghỉ vài tháng đi chữa bệnh. Dại chi mà nghỉ luôn, anh Nhân.

    Lúc tôi đi về ngang qua pḥng tài vụ, cô kế toán gọi lại:

    - Anh Đính vào lănh lương

    Tôi nói:

    - Tôi có đi làm đâu mà lănh lương .

    - Anh cứ lănh. Anh xin nghỉ việc mà Ủy ban chưa có quyết định, chúng tôi cứ phát lương và anh cứ lănh.

    Môt lần sau cô phát lương c̣n phát cho tôi cả tiền hao ṃn xe đạp. Tôi nói:

    - Ngó tức cười chưa, lúc c̣n đi làm th́ lại không có tiền hao ṃn xe đạp.

    Trước kia có lần đến lănh lương tôi nói với người phát lương:

    - “Sao ai cũng có tiền hao ṃn xe đạp mà tôi lại không có”.

    - “V́ anh khai không có xe đạp”.

    - “Th́ đi bộ cũng phải hao ṃn chân cẳng chớ chị?”.

    Tôi ở nhà làm việc nhà chơi với con, đọc sách, viết. 2, 3 tháng rồi 5, 7 tháng.

    Tháng 9.1981
    buổi trưa
    tôi ngủ 1 giấc dậy
    năng nề chân tay
    rồi nhắm mắt lại
    tôi bỏ việc ở nhà chơi với con
    tuổi thơ không biết có cuộc đời này
    con khóc nhưng không biết được cha mẹ con muốn cười
    cho hai bàn tay hai bàn chân nhẹ nhàng
    tôi ngó con tôi cười
    rồi chơi rồng rắn
    để xin khẩu súng bắn cái đùng
    cho tới khi đứt đuôi
    hết
    (trong sổ tay ghi hàng ngày)


    Ngày 27.10.1981, tôi viết xong bài thơ dài về khúc đầu của quãng đời này của tôi với đề tựa: “ Tôi được thả ra và sống như tù”.

    Những ngày của tháng 12.1981 tôi viết trong nhật kư: Vợ tôi nói: anh ở nhà để được yên tĩnh mà chữa bệnh dạ dày .Tôi mệt và đau .Tôi muốn được yên tĩnh . Bây giờ th́ đang lạnh. Tôi đang bị dạ dày hành. Những cơn đau dữ dội, toát mồ hôi, muốn mửa. Trong những giấc ngủ tôi cứ thấy ḿnh được ăn. Những cục thịt đầy mỡ , nổi lều bều trong 1 cái bát để trước mặt.

    … Có khi tôi cảm thấy ḿnh kiệt lực, bụng thắt lại, thân thể hễ đụng vào là đau như bị đánh. Tôi không muốn suy nghĩ ǵ thêm. Trời khô có trăng, lạnh. Đêm yên tĩnh. Mệt qúa. Đôi khi tôi sống lơ đăng, không chịu suy nghĩ ǵ hết. Tôi nghĩ về 1 bữa ăn ngon trong gia đ́nh, nghĩ tới những đĩa thịt, nghĩ tới nổi vất vả của mẹ tôi và vợ tôi.
    Tôi thích thằng điên, thằng hề và đứa con nít. Tôi viết về thằng điên, thằng hề và đứa con nít.


    Ngày 25.10.1981, tôi làm bài “Bản thánh ca của một tên hề mất trí là thi sĩ – hay là Sự tích tôi làm hề” với mấy câu mở bài:
    tôi tên hề mất trí
    nói lời công an theo dơi
    và làm thơ bị bắt
    tôi kư tên tôi
    Nguyễn Đính

    Ngày 25.12.1981, tôi ghi trong sổ tay:
    1981 năm trước Chúa ra đời ở Bết-lê-hem
    1981 năm sau ở Huế gạo 10 đồng 4 lon
    Tôi chảy 2 hàng nước mắt
    Con ơi
    Con cứ làm con gà gáy o o
    buổi trưa buổi chiều buổi sáng làm chi


    Dần dà về sau có nhiều đứa anh em quen biết khuyên tôi nên đi làm lại, đi làm cho vui với anh em. Tôi nói:

    - “Tao ở nhà tao mới vui”.

    Ông Tường cũng nói:

    - “Thôi, đi làm đi”.

    - “Sao trước kia anh nói tôi đừng đi làm nữa? Chỉ có nhà thiền sư mới chịu đựng như mi?”.

    - “Trước khác, bây giờ mi qua hội văn nghệ, có anh em…”.

    Tôi không chịu.
    Nhiều khi tôi đổ bực khi thấy mấy thằng thường xúi tôi đi làm bước vào nhà:

    - “Ê, về chơi nói chuyện trên trời dưới đất chơi, chứ đừng nói chuyện tao đi làm lại nữa nghe”.

    Có đứa c̣n gặp vợ tôi xúi:

    - “Hay, nói với thằng Đính đi làm với bọn anh cho vui đi. Nghỉ ở nhà lấy chi mà ăn?”.

    Vợ tôi nói:

    - “Làm chi cũng được, nhưng với Nhà nước th́ không. Anh biết không từ ngày anh Đính nghỉ ở nhà, cái dạ dày có đỡ đau đó”.


    Ngày 7.3.1982
    Tôi ở nhà gần 9 tháng rồi … Lúc này tôi viết nhiều hơn đọc. Thức khuya không nổi. Dạ dày hay trở chứng. Thèm thịt và đường quá sức, cả nhà đều thèm. Tôi mệt mỏi, chẳng để ư ǵ đến thời sự.
    Em sắp đẻ, tháng 3 âm th́ đẻ. Lấy chi mà ăn. Không lư lại nói liều, trời sinh trâu th́ trời sinh cỏ.

    Trăng sáng, trời bắt đầu nóng. Khí trời khó chịu. Đêm không có gió. Cây cối im không.
    Ghi hàng ngày trong tháng 3, 4.1982.


    Ngày…
    tôi ăn 1 củ sắn sượng
    và mửa ra máu

    Ngày…
    trời mưa to hết 2, 3 ngày không tạnh
    tôi ở nhà hút thuốc ngó ra đường
    nước nổi bọt đầu miệng cống
    người mua chai bao , rao lên mấy tiếng

    Ngày…
    tôi đọc 1 bài thơ cổ
    có câu
    chỉ tay lên trời viết
    Chữ không
    tôi cười tôi dại dột

    Ngày…
    Có 1 thằng điên bị bắt đang lúc lượm cơm đổ trong đống rác
    người ta nói nó làm giặc


    Còn tiếp ....

  9. #169
    tran truong
    Khách

    Tôi bị bắt _ Trần vàng Sao

    Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính), một người làm thơ ở miền Nam, nhưng vào những năm 60 của thế kỷ trước, đứng lên chống lại chế độ chính trị của miền Nam lúc đó để cuối cùng “đi về phía bên kia” và chính ở đây anh đă vướng phải một tai hoạ rất tệ hại cho bản thân.
    Anh được đưa ra miền Bắc trị bệnh: ở nơi đây, sau một thời gian quan sát, anh đă ghi lại những suy nghĩ của ḿnh về cái gọi là “hậu phương xă hội chủ nghĩa” đó bằng nhật kư và chính v́ những suy nghĩ ghi thành chữ viết này anh bị các đồng chí của ḿnh tố cáo, truy bức, nguyền rủa, phỉ nhổ, cô lập, đến chỗ như anh cho biết anh không c̣n được coi là con người nữa ... mà đă thành “một con vật, một con chó " !

    ......................



    Ngày…
    một người ngó trước ngó sau
    nói to cực quá

    Ngày…
    Cờ treo ngoài đường
    mít tinh trong hội trường
    phố xá đông ồn ào
    tiếng vỗ tay hoan hô trong máy

    Chủ nhật…
    1 người mù chết trôi
    không có ai nhận xác

    Thứ bảy…
    trời mưa dông
    phố không đèn
    hơi đất bốc lên mặt

    Ngày 19.04.1982, vợ tôi sinh đứa con thứ 2, vợ chồng tôi đặt tên là Bờm , buổi sáng tháng 4 anh đưa em đi đẻ , đang mùa gặt , gạo có hơn vài hột
    anh mừng em đẻ dễ
    và con trai
    Cây cối 2 bên đường c̣n ướt
    Mẹ thắp 1 nạm hương tạ ơn trời đất và ông bà
    ……….

    Ngày 15.5.1982
    Cả nhà không có 1 giác
    Bồ Câu ăn cơm với muối
    may có gạo
    Nam mô A Di Đà Phật


    Một hôm tôi đi chơi ngang qua Ủy ban thành phố, 1 đứa quen gọi vào. Tôi đang nói chuyện với nó, ông Lớn, trưởng pḥng tổ chức đang đứng đó thấy tôi, nói:

    - “À, anh Đính, may gặp anh ở đây. Tôi định nhắn anh lên. Mời anh lên pḥng cho tôi gặp”.

    Ông đưa cho tôi 1 bức thư không có phong b́ của ông Nguyễn Đức Hân, Phó chủ tịch, gửi cho tôi. Ông Hân viết: “Anh Đính, Cho anh thôi việc th́ dễ, nhưng nghĩ hoàn cảnh khó khăn của anh hiện nay, lại có mẹ già đau yếu, nên tôi để anh chuyển công tác … Bên Hội Văn nghệ có gợi ư xin anh về…”

    Hèn chi mấy đứa bên Hội Văn nghệ cứ rà rà về nhà tôi cù rũ tôi đi làm. Tôi nói với ông Trưởng pḥng tổ chức:

    - Tôi xin nghỉ việc, chứ không phải xin chuyển công tác. Ông Lớn bảo tôi là anh Hân có nhắn là tôi đến nhà anh Hân cho anh gặp. Tôi nói:" V́ anh Hân nhắn anh, tôi nhờ anh nói lại với anh Hân: Tôi không có việc ǵ để gặp anh Hân tại nhà riêng hết. Nếu anh Hân cần gặp tôi, anh cứ đến nhà tôi."

    Ngày 8.3.1982, tôi ra Hội đồng giám định y khoa làm thủ tục để về.
    Cuối tháng 4.1982, tôi nhận giấy báo sau ngày 1.5 lên Ủy ban thành phố nhận quyết định thôi việc. Cô Huê, cán bộ pḥng tổ chức, bảo tôi đáng lẽ hôm nay tôi nhận quyết định, nhưng các anh nói là để Ủy ban xem xét lại đă.
    Cô nói, cuối tháng 5 anh lên nhận. Cô Huê có đưa cho tôi xem tờ quyết định đánh máy, nhưng chưa kư.

    Cuối tháng 5.1982, tôi nhận quyết định thôi việc. Quyết định ghi tôi có 22 năm 4 tháng công tác liên tục, về hưu, thôi việc v́ mất sức lao động, được trợ cấp hàng tháng bằng 65% lương chính cộng khu vực là 44đ 09 (bốn mươi bốn đồng chín xu). Quyết định do Phó chủ tịch Nguyễn Đức Hân kư ngày 20.5.1982.

    Tôi hỏi cô Huê, cán bộ pḥng tổ chức:

    - Sao quyết định trước ghi lương tôi là 56 đ, quyết định này lại ghi 64 đ?

    Cô Huê trả lời:

    - Ủy ban mới quyết định cho anh lên 1 bậc lương.

    Tôi nói cô Huê cho tôi xem quyết định tăng lương. Cô Huê bảo, không có tờ quyết định chỉ căn cứ vào Quyết định nghỉ việc thôi. Nhưng tôi chỉ được hưởng lương mới 64 đ này 1 tháng mà thôi.

    Ngày 1.7.1986, Sở thương binh xă hội B́nh Trị Thiên xét lại trường hợp của tôi và cho tôi hưởng trợ cấp hưu trí.
    Thời gian công tác: 30 năm 2 tháng
    Trợ cấp hàng tháng: 75% lương = 217đ 50
    Vào lúc này đây, tôi đi vô đi ra, cuốc đất, bửa củi, quét nhà, đi chợ, nấu ăn, đọc sách, làm thơ, viết nhật kư, ghi chép, chơi với 2 đứa con, vẽ cho chúng học, lui tới với anh em bạn bè lúc cốc rượu, lúc chén trà điếu thuốc, cực quá, nhiều khi là 5, 3 cái tàn vấn lại. Người ta có thể hành hạ tôi, nhưng tôi không thể tự hành hạ ḿnh được.

    Tôi muốn yên ổn. Nhưng cho đến bây giờ tôi vẫn cứ bị nḥm ngó.

    Vỹ Dạ, ngày 1.9.1993
    Nguyễn Đính
    Nguồn: talawas 2005

    Hết tuồng .....

  10. #170
    tran truong
    Khách
    Tuồng hết cho Trần vàng Sao . Ôi chỉ cần đọc lên cái tên Vàng Sao là biết con người liền tút suỵt . Hề .... hề ... theo cộng mà không rõ bản chất cộng , thì chỉ từ chết tới bị thương .

    À .... mày dám ôm chân đảng chặt hơn tao ôm .... thì mày phải chết . Tao mới Vàng Sao , chứ sao lại mày ? Tên ấy chỉ tao mới xứng đáng !

    Thế là hết đời Trần vàng Sao tức Nguyễn Đính . Vì thế " Đời sau " có thơ rằng :

    NGUOI GOP Ư
    nơi gửi Hoa Kỳ

    Lấy tên là Trần Vàng Sao

    Tưởng ḿnh chọn đúng "cờ đào vinh quang"

    Lung linh năm cánh sao vàng

    Ai dè cờ của Việt Gian Cộng Hồ

    Của lũ bán nước bưng bô

    Biết lầm, chống lại, chúng "vồ" anh thôi

    Chúng "chơi" anh đến tận nơi

    Nó "cắn' anh suốt quăng đời dại ngu

    “Ngu” này ngu đến thiên thu

    Mà "chưa ân hận" cho dù thế nao

    Rơ là gă Trần Vàng Sao

    Ngu như rứa đó mà nào nhận ngu



    Wednesday, December 05, 2012

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. TA ĐĂ LÀM LĂNG PHÍ ĐỜI NHAU
    By Thanh-Thanh in forum Thơ Văn Tự Sáng Tác
    Replies: 0
    Last Post: 24-11-2016, 09:55 AM
  2. LUẬT THƠ ĐƯỜNG LUẬT CỦA HOÀNG THỨ LANG
    By dqtran in forum Thơ Đường luật
    Replies: 25
    Last Post: 04-01-2015, 10:27 PM
  3. Tiên lăng 2
    By zanbiill in forum Tin Việt Nam
    Replies: 0
    Last Post: 23-02-2012, 03:09 AM
  4. Hai tên láng giềng
    By Vinh Phan in forum Tin Việt Nam
    Replies: 2
    Last Post: 26-06-2011, 05:55 AM
  5. CÔNG LÀNG SEN
    By hatka in forum Giao Lưu - Giải Trí
    Replies: 0
    Last Post: 29-12-2010, 02:25 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •