+ Reply to Thread
Page 1 of 4 1234 LastLast
Results 1 to 10 of 33

Thread: V̀ SAO CHÚNG TA PHẢI CĂM THÙ HỒ CHÍ MINH?

  1. #1
    Member Sydney's Avatar
    Join Date
    13-08-2010
    Posts
    2,818

    V̀ SAO CHÚNG TA PHẢI CĂM THÙ HỒ CHÍ MINH?



    19/5 – ngày mà đảng CSVN vẫn tuyên truyền đó là ngày sinh Hồ Chí Minh. Đó là một trong những điều dối trá của đảng CSVN bởi v́ có nhiều sự bất nhất trong đó. Nếu căn cứ theo lá thư Nguyễn Tất Thành tại Marseille ngày 15/9/1911 gửi tổng thống Pháp để xin vào học trường thuộc địa tại Paris lấy từ cuốn Ho Chi Minh: A Life của William J.Duiker th́ phía dưới lá thư kư: Nguyễn Tất Thành, Sinh tại Vinh, 1892 con trai ông Nguyễn Sinh Huy (tiến sĩ văn chương) sinh viên tiếng Pháp và Trung.

    Theo Jacques Dalloz trong cuốn ” Les Vietnamiens dans la Franc-Maçonnerie coloniale ” (Người Việt trong hội tam điểm thuộc địa ) th́ trong đơn xin vào Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) vào đầu năm 1922, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Nguyễn Ái Quốc, ghi trong phiếu cá nhân rằng ông sinh ngày 15/2/1895.

    Trong tờ khai của ông tại Đại sứ quán Liên Xô ở Berlin, vào tháng 6 năm 1923, th́ ngày sinh là 15/2/1895 . Hộ chiếu Tổng lãnh sự quán Trung Hoa tại Singapore cấp ngày 28/4/1930 cho Tống Văn Sơ ghi năm sinh là 1899.

    C̣n theo sử gia Daniel Hémery, dựa theo các nguồn của kho lưu trữ của chính phủ Pháp có một tờ khai tại sở cảnh sát Paris năm 1902, Hồ Chí Minh lại khai là sinh ngày 15/01/1894. Cũng theo ông này th́ có một nguồn tin khác nữa là khai sinh của Hồ Chí Minh được những người làm chứng ở Kim Liên xác nhận đă được cơ quan mật thám xác lập năm 1931 (tức khoảng 40 năm sau) th́ chỉ ra ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung vào tháng 03 năm Thành Thái thứ 6, tức khoảng tháng 04 năm 1894.

    Và cho dù, cho đến bây giờ, người ta vẫn chưa thể khẳng định Hồ Chí Minh có phải là Hồ Quang hay Hồ Tập Chương hoặc là Nguyễn Tất Thành th́ điều đó cũng không phải là quan trọng nhất. Về cơ bản, 99% các bằng chứng, phân tích lư thuyết và sách vở đă chứng minh Hồ Chí Minh là người khác Nguyễn Tất Thành. Chỉ c̣n lại 1% chờ vào kiểm chứng DNA để khẳng định 100% điều đó. Cá nhân người Viết tin tưởng Hồ Chí Minh là Hồ Quang hoặc Hồ Tập Chương. Nhưng điều đó không quá quan trọng, mà điều quan trọng đối với tôi th́ dù Hồ là ai trong số Nguyễn Tất Thành, Hồ Quang, Hồ Tập Chương th́ hắn ta đều là tội đồ của dân tộc Việt Nam. Và dưới đây là những lư do chính yếu đó.

    V́ sao HCM dám vô lễ với các vị tiền nhân khi gọi Trần Hưng Đạo là Bác xưng Tôi? V́ sao HCM nói yêu nước mà lại hai lần viết thư cho Thực Dân Pháp mong muốn đi học trường dạy làm quan cai trị cho Pháp ? V́ sao HCM và Trường Chinh kêu gọi học tiếng Tàu thay cho chữ quốc ngữ?Tất cả những điều đó cho thấy họ Hồ chưa bao giờ coi dân tộc Việt Nam, tiền nhân Việt Nam là điều thiêng liêng. Hắn ta chỉ muốn quyền lực cho bản thân khi làm tay sai cho cộng sản đỏ để có thể có quyền lực mà thôi. Khi xin làm quan cho Pháp không được th́ quay ra làm tay sai cho cộng sản. Hắn ta chưa bao giờ có ư định t́m đường cứu nước. Hắn ta chỉ tự cứu đói cho bản thân hắn và gia đ́nh hắn ta mà thôi.

    V́ sao ông TT Ngô Đ́nh Diệm lại luôn mặc quốc phục VN, c̣n HCM lại luôn mang trên ḿnh những bộ đại cán của Tàu ? V́ sao HCM lại viết thơ kêu gọi cứu Trung Quốc là tự cứu ḿnh ? V́ sao HCM và PVĐ kư công hàm công nhận HS – TS là của Tàu ? Đơn giản bởi v́ hắn ta chưa từng biết đến ḷng yêu đất nước Việt Nam (nếu là Thành) , hoặc là hắn ta chính là một tên gián điệp của Tàu cộng. Dù là lư do nào đi chăng nữa. Hắn ta chính là tội đồ của người Việt chúng ta.

    V́ sao Hồ Chí Minh kêu gọi “Sinh bắc tử nam”, “Đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng?” V́ sao họ Hồ lại giết người dân vô tội trong CCRĐ ? Đơn giản bởi v́ hắn ta muốn nội lực dân tộc bị suy yếu để cho Tàu cộng dễ dàng điều khiển Việt Nam. Trong khi đó, hắn ta có trong tay quyền sinh, quyền sát dân tộc Việt. Thật là thâm độc và ác ôn.

    V́ sao họ Hồ ăn cắp thơ “Nhật kư trong tù” của người khác ? V́ sao hắn ta viết sách tự ca tụng ḿnh bằng bút danh Trần Dân Tiên ? V́ sao hắn ta giết người đầu gối tay ấp với hắn là Nông Thị Xuân ?V́ sao hắn vợ nọ con kia mà tự kêu “Bác cả đời v́ nước v́ non, bỏ quên hạnh phúc” ? Tất cả điều đó minh chứng cho sự dối trá, vô liêm sỉ, không hề có ḷng tự trọng của họ Hồ. Đồng thời chứng minh con người độc ác của hắn ta.

    Đối vơi tôi, dù ngày 19.5 có phải là ngày sinh chính xác của họ Hồ hay không th́ đó cũng chẳng quan trọng. Quan trọng là chúng ta cần phải nhận ra tội ác của hắn đối với dân tộc Việt Nam. Chỉ mong những người trẻ đừng thờ ơ với vận mệnh đất nước và nhận ra bộ thật của đảng CSVN, của Hồ Chí Minh để mau chóng đứng dậy cứu nước. Mong tất cả người VN đừng ngủ quên trong những tuyên truyền giả dối…!!!

    Chính v́ vậy ! Cả dân tộc Việt Nam phải căm thù Hồ Chí Minh.

    Đặng Chí Hùng
    17/05/2017

    SOURCE: https://baovecovang2012.wordpress.co...dang-chi-hung/

  2. #2
    Member Sydney's Avatar
    Join Date
    13-08-2010
    Posts
    2,818

    APRIL 7, 2015 BY VIVI099 CIA Giữ Bí Mật Bắc Việt Đầu Hàng Vô Điều Kiện năm 1973



    CIA ém nhẹm Bắc Việt tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” năm 1973 . Chiến dịch Nixon cho ném bom 12 ngày đêm tại Bắc Việt năm 1972 . Được gọi là chiến dịch Linebacker II là chiến dịch quân sự cuối cùng của Hoa Kỳ chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong Chiến tranh Việt Nam, từ 18 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm 1972.

    – Ted Gunderson (1928 – 2011), nhân viên của FBI tại Los Angeles và Wahsington DC tiết lộ là sau chiến dịch Operation Linebacker của Hoa Kỳ, Bắc Việt tuyên bố đầu hàng đầu hàng vô điều kiện. Ngũ giác Đài nhận điện tín này, nhưng CIA buộc ép nhẹm nguồn tin và thuyên chuyển tất cả các nhân viên có trách nhiệm ra khỏi nhiệm sở. Do đó, “Việt Nam Cộng Ḥa” không hề kiểm chứng nguồn tin này.

    – USA President Ronald Reagan (Tổng Thống Mỹ) :
    Chấm dứt chiến tranh VN, không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. V́ lẽ cái giá phải trả cho loại Ḥa b́nh đó, là ngàn năm tăm tối, cho thế hệ sinh ra tại VN về sau.

    Bức điện tín đầu hàng vô điều kiện của Bắc Việt

    1. Vài nét về Ted Gunderson, chủ tài liệu liên quan đến bức điện tín
    – Cựu Đặc vụ hành sự FBI và cựu Giám đốc FBI Los Angeles,
    – Từng điều tra vụ Marilyn Monroe và John F. Kennedy,
    – Từng phanh phui những tội các của FBI và những thế lực Do Thái đứng phía sau như Bilderberg và Illuminati,
    – Từng bị tin tặc tấn công vào các máy tính cá nhân, từng bị sách nhiễu, đe dọa, bức hại và toan tính sát hại,
    – Cuối cùng bị hạ độc bằng Arsenic và qua đời ngày July 31, 2011
    Dưới đây là nguyên văn Tiếng Anh mà Đỉnh Sóng ghi ra từ YouTube liên quan cùng với phần chuyển ngữ, tất cả dựa theo khả năng hạn chế.

    “I also received some information recently in my tours and lectures, and what have you. I did a TV show in Long Beach, California. One of the gentlemen involved in the show was in the U.S. army at one time. He told me that in the spring of 1973 we had bombed all the North Vietnamese supply lines, we had mined their harbors, they were cut off; and one of his associates was in the communication room in Saigon, and this is, of course, a classified job. And when he was in this room he received this message from the North Vietnamese, “We surrender unconditionally.” He passed it on to his superiors; and all army personnel were immediately ushered out and replaced by state department personnel. It’s shortly thereafter that Kissinger met with the north Vietnamese officials in Paris, France. Why do these things happen?”

    (Tôi cũng đă nhận được một số thông tin gần đây trong những chuyến đi và thuyết tŕnh, v.v.. của tôi. Tôi đă thực hiện một chương tŕnh truyền h́nh ở Long Beach, California. Một trong những người liên quan trong chương t́nh có thời đă phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Ông ta nói với tôi rằng chúng ta đă dội bom tất cả những đường tiếp tế của cộng sản Bắc Việt, chúng ta đă gài ḿn những bến cảng của họ, chúng đă bị cắt đứt; và một trong những cộng sự viên của ông lúc bấy giờ đang làm việc tại trung tâm truyền tin ở Sài g̣n, và đương nhiên đó là một công tác tối mật. Khi đang ở trong pḥng, ông ta nhận được điện tín nầy của Bắc Việt, “Chúng tôi đầu hàng vô điều kiện.” Ông ta chuyển điện tín đó lên cho thượng cấp; và tất cả nhân viên quân sự lập tức bị thuyên chuyển hết và được thay thế bởi nhân viên của Bộ Ngoại Giao. Chẳng bao lâu sau Kissinger đă họp với các viên chức Bắc Việt ở Paris. Tại sao lại xảy ra những chuyện như thế?)
    2. Sự thật về Chiến Tranh VN : Đánh nhưng không được thắng – Bruce Herschensohn, Prager University
    Dưới đây là nguyên văn Tiếng Anh do Đỉnh Sóng chép ra từ YouTube cùng với phần chuyển ngữ, tất cả dựa theo khả năng hạn chế:

    “Decades back, in late 1972, South Vietnam and the United States were winning the Vietnam War decisively by every conceivable measure. That’s not just my view. That was the view of our enemy, the North Vietnamese government officials. Victory was apparent when President Nixon ordered the U.S. Air Force to bomb industrial and military targets in Hanoi, North Viet Nam’s capital city, and in Haiphong, its major port city, and we would stop the bombing if the North Vietnamese would attend the Paris Peace Talks that they had left earlier. The North Vietnamese did go back to the Paris Peace talks, and we did stop the bombing as promised.

    On January the 23rd, 1973, President Nixon gave a speech to the nation on primetime television announcing that the Paris Peace Accords had been initialed by the United States, South Vietnam, North Vietnam, the Viet Cong, and the Accords would be signed on the 27th. What the United States and South Vietnam received in those accords was victory. At the White House, it was called “VV Day,” “Victory in Vietnam Day.” The U.S. backed up that victory with a simple pledge within the Paris Peace Accords saying: should the South require any military hardware to defend itself against any North Vietnam aggression we would provide replacement aid to the South on a piece-by-piece, one-to-one replacement, meaning a bullet for a bullet; a helicopter for a helicopter, for all things lost – replacement. The advance of communist tyranny had been halted by those accords.
    Then it all came apart. And It happened this way: In August of the following year, 1974, President Nixon resigned his office as a result of what became known as “Watergate.” Three months after his resignation came the November congressional elections and within them the Democrats won a landslide victory for the new Congress and many of the members used their new majority to de-fund the military aid the U.S. had promised, piece for piece, breaking the commitment that we made to the South Vietnamese in Paris to provide whatever military hardware the South Vietnamese needed in case of aggression from the North. Put simply and accurately, a majority of Democrats of the 94th Congress did not keep the word of the United States.
    On April the 10th of 1975, President Gerald Ford appealed directly to those members of the congress in an evening Joint Session, televised to the nation. In that speech he literally begged the Congress to keep the word of the United States. But as President Ford delivered his speech, many of the members of the Congress walked out of the chamber. Many of them had an investment in America’s failure in Vietnam. They had participated in demonstrations against the war for many years. They wouldn’t give the aid.
    On April the 30th South Vietnam surrendered and Re-education Camps were constructed, and the phenomenon of the Boat People began. If the South Vietnamese had received the arms that the United States promised them would the result have been different? It already had been different. The North Vietnamese leaders admitted that they were testing the new President, Gerald Ford, and they took one village after another, then cities, then provinces and our only response was to go back on our word. The U.S. did not re-supply the South Vietnamese as we had promised. It was then that the North Vietnamese knew they were on the road to South Vietnam’s capital city, Saigon, that would soon be renamed Ho Chi Minh City.
    Former Arkansas Senator William Fulbright, who had been the Chairman of the Senate Foreign Relations Committee made a public statement about the surrender of South Vietnam. He said this, “I am no more distressed than I would be about Arkansas losing a football game to Texas.” The U.S. knew that North Vietnam would violate the accords and so we planned for it. What we did not know was that our own Congress would violate the accords. And violate them, of all things, on behalf of the North Vietnamese. That’s what happened.
    I’m Bruce Herschensohn.”

    Phần chuyển ngữ: Sự thật về Chiến Tranh VN

    Nh́n lại những thập niên trước, vào cuối năm 1972, Miền Nam VN và Hoa Kỳ rơ ràng đang thắng Chiến Tranh VN, hiển nhiên là thế. Đó không chỉ là quan điểm của riêng tôi. Đó là quan điểm của kẻ thù của chúng ta, những viên chức của chính phủ Bắc Việt. Chiến thắng rơ ràng khi Tổng Thống Nixon ra lệnh cho không lực Hoa Kỳ dội bom những mục tiêu kỹ nghệ và quân sự ở Hà Nội, thủ đô Bắc Việt và ở Hải Pḥng, hải cảng chính của họ, và chúng ta sẽ ngưng dội bom nếu Bắc Việt tham dự Hội Đàm Paris mà họ đă rời trước đó. Bắc Việt không trở lại bàn hội nghị, và chúng ta không ngưng dội bom như đă hứa.
    Vào ngày 23 tháng Giêng năm 1973, Tổng Thống Nixon đọc một bài diễn văn toàn quốc trên truyền h́nh vào giờ cao điểm, cho biết Hội Đàm Paris đă được kư tắt bởi Hoa Kỳ, Nam VN, Bắc Việt, Việt Cộng, và Hiệp Định sẽ được chính thức kư vào ngày 27. Những ǵ mà Hoa Kỳ và Nam VN nhận được trong hiệp định đó là một thắng lợi. Tại Ṭa Bạch Ốc, người ta đă gọi đó là ngày “VV Day – Victory in Vietnam Day.”
    Hoa Kỳ đă hậu thuẫn chiến thắng đó với một bảo đảm đơn giản bên trong Hiệp Định Paris, theo đó: nếu Miền Nam yêu cầu chiến cụ để tự vệ chống lại bất kỳ cuộc xâm lăng nào của Bắc Việt th́ chúng tôi sẽ cung cấp viện trợ thay thế (replacement aid) cho Miền Nam trên căn bản từng cái một và một đổi một (piece-by-piece, one-to-one replacement), nghĩa là, một viên đạn đổi một viên đạn, một trực thăng đổi một trực thăng, đối với tất cả những thứ bị mất. Bước tiến của chế độ độc tài cộng sản đă bị chặn đứng bởi hiệp định đó.

    Thế rồi tất cả đều tan vỡ. Và sự thể như thế nầy: Vào tháng Tám của năm tiếp theo, 1974, Tổng Thống Nixon từ chức do hậu quả của vụ Watergate. Ba tháng sau khi ông từ chức là những cuộc bầu cử quốc hội tháng mười một và trong đó những thành viên của Đảng Dân Chủ thắng lợi vẻ vang trong Quốc Hội mới và nhiều thành viên đă lợi dụng đa số mới của họ để chấm dứt tài trợ cho chương tŕnh viện trợ quân sự mà Hoa Kỳ đă hứa, một đổi một, bội ước lời cam kết của chúng ta đối với Miền Nam VN ở Paris là sẽ cung cấp bất kỳ chiến cụ nào mà Miền nam cần trong trường hợp bị Bắc Việt xâm lăng. Nói một cách đơn giản và chính xác, đa số những đảng viên Đảng Dân Chủ của Quốc Hội khóa 94 không giữ lời hứa của Hoa Kỳ.
    Vào ngày 10 tháng Tư, 1975, Tổng Thống Gerald Ford đă trực tiếp nói chuyện với những thành viên Quốc Hội đó trong một buổi họp hỗn hợp buổi tối, được truyền h́nh trên toàn quốc. Trong bài diễn văn đó, ông tha thiết kêu gọi Quốc Hội hăy giữ lời hứa của Hoa Kỳ.

    Nhưng trong khi Tổng Thống Ford đọc diễn văn, nhiều thành viên Quốc Hội bước ra khỏi pḥng họp. Nhiều người trong số họ đă đầu tư vào sự thất bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Họ đă tham gia các cuộc biểu t́nh phản chiến trong nhiều năm. Họ sẽ không cho viện trợ. Vào ngày 30 tháng Tư, Miền Nam đă đầu hàng và những trại cải tạo được dựng lên, và hiện tượng người vượt biển bắt đầu. Nếu Miền Nam nhận được vũ khí mà Hoa Kỳ đă hứa với họ th́ kết quả đă khác đi? Sự khác biệt đó đă được chứng minh. Giới lănh đạo Bắc Việt đă thú nhận rằng lúc bấy giờ họ đang trắc nghiệm Tổng Thống mới Gerald Ford, và họ đă chiếm từ làng nầy đến làng khác, rồi đến những thành phố, tỉnh lỵ; và phản ứng duy nhất của chúng ta là bội ước. Hoa Kỳ không tái viện trợ Miền Nam như chúng ta đă hứa. Chính lúc đó Bắc Việt nhận thức được rằng họ đang trên đường tiến đến Saigon, thủ đô của Miền Nam, sau đó được đổi tên thành TP Hồ Chí Minh.
    Cựu TNS William Fulbright, nguyên Chủ Tịch Ủy Ban Đối Ngoại Thương Viện, đă đưa ra một công bố chính thức về sự đầu hàng của Miền Nam. Ông nói, “I am no more distressed than I would be about Arkansas losing a football game to Texas.”

    (Tôi không thấy đau khổ ǵ mấy, chẳng khác nào khi thấy Arkansas thua Texas một trận đá bóng.)
    Hoa Kỳ biết rằng Bắc Việt sẽ vi phạm hiệp định Paris và chúng ta đă chuẩn bị cho chuyện đó. Điều mà chúng ta không biết là chính Quốc Hội của chúng ta sẽ vi phạm hiệp định đó. Và vi phạm, về mọi mặt, thay cho Bắc Việt. Đó là những ǵ đă xảy ra. Tôi là Bruce Herschensohn.

    ** Sau khi Saigon thất thủ, hơn một triệu người Miền nam bị đưa vào các trại cải tạo ở miền quê. 250 ngàn người đă chết ở đó, do bị hành quyết không xét xử, tra tấn, bệnh tật, và suy dinh dưỡng. Giữa năm 1975 và 1995, hai triệu người Việt đă trốn chạy khỏi nước, vượt Biển Đông bằng những chiếc thuyền thiếu trang bị để đi t́m tự do. Ước tính có khoảng 200 ngàn người vượt biển nầy đă chết – do bị chết ch́m và bị hải tặc giết. Ngày nay Việt Nam vẫn có một chính phủ cộng sản, nhưng họ đă bỏ hết những lư thuyết kinh tế cộng sản, những lư thuyết mà họ đă hy sinh bao nhiêu sinh mạng của đồng bào của họ để theo đuổi.


    * SOURCE: https://vivi099.wordpress.com/2015/0...kien-nam-1973/

  3. #3
    Member Sydney's Avatar
    Join Date
    13-08-2010
    Posts
    2,818
    3. Nhận định bên lề

    Trong khi hơn 96% hệ thống truyền thông nằm trong tay Tập đoàn Do Thái quốc tế và Mỹ Cộng th́ công việc truy t́m thông tin, tài liệu, nhận định, và phán xét trung thực về Chiến Tranh VN chẳng khác nào ṃ kim đáy biển, v́ hầu hết các hảng thông tấn, các trang mạng, đài truyền thanh truyền h́nh, những tờ báo hàng đầu đều nói một thứ tiếng của Do Thái được chuyển ngữ sang tiếng Anh, cùng phục vụ một chủ nghĩa độc tài mềm, cùng bị kiểm soát bởi một chính sách ngân hàng trị và Do Thái trị, cùng gián tiếp hay trực tiếp cỗ xúy một loại trật tự được mệnh danh New World Order hayOne-government World – thực chất là một loại thế giới đại đồng hoang tưởng do tập đoàn Do Thái thống trị. Hiện cảnh đen tối của một chính quyền Mỹ thân cộng Do Thái trị ngày nay là nh́n đâu cũng thấy Do Thái và sờ đâu cũng chạm phải bàn tay lông lá của Do Thái từ CIA, FBI, truyền thông, Internet, đại học, Hollywood đến hành pháp, tư pháp, lập pháp, v.v…; và đâu có Do Thái ở đó có Mỹ Cộng.

    Những kẻ đi t́m sự thực như Ted Gunderson luôn bị chúng khủng bố và truy sát bằng mọi cách; những kẻ khác th́ co đầu rụt cổ v́ sợ bị ghép tội bài Do Thái, cùng lắm chỉ ṿng vo đập quanh bụi rậm. Hậu quả là Do Thái và Mỹ cộng xem phần c̣n lại của thế giới như một bầy trẻ con, ngây thơ về chính trị và nhút nhát như bầy gấu trúc. Hầu hết các bài viết, nhất là những bài của những tay viết blog cho VOA, BBC, RFA, RFI, v.v…, đều viết theo đơn đặt hàng của Do Thái, Mỹ Cộng, và Việt Cộng, dưới môt h́nh thức nào đó và theo một kênh tuyên vận nào đó. Chín mươi phần trăm của những bài viết nầy là vỏ bọc đường nghe rất bùi tai và nh́n rất mát mắt, nhưng chỉ để phục vụ 10 phần trăm c̣n lại dùng chứa thuốc độc nhằm đánh bóng Mỹ Cộng hay Việt Cộng hay cả hai.

    Tuy nhiên, nếu nh́n vào toàn cục vấn đề và căn cứ trên những tài liệu, dù là hiếm hoi, được chính phủ Hoa Kỳ bạch hóa về những cuộc đi đêm mà Washington đă tiến hành với Bắc Kinh nhằm bán đứng Miền Nam hay thậm chí cả Việt Nam cho Trung Quốc dưới sức ép và đồng lơa của tập đoàn Do Thái và cộng sản quốc tế để đổi lấy quan hệ ngoại giao và thương mại với Trung Quốc, về chủ trương đánh Cộng Sản nhưng không được thắng, v.v… th́ bức điện tín đầu hàng vô điều kiện nói trên không hẳn là bịa đặt. Nhưng tại sao Bắc Việt đầu hàng mà Mỹ vẫn tiếp tục đánh? Theo thiển ư của chúng tôi, đầu hàng với Mỹ không thành vấn đề; đầu hàng với Trung Quốc mới là mục tiêu tối hậu của cả Mỹ lẫn Tàu. Ở điểm nầy, v́ muốn có được những quyền lợi với Trung Cộng, Mỹ ra sức phục vụ quyền lợi của Bắc Kinh trước đă, nghĩa là giúp Bắc kinh thôn tính Việt Nam thông qua Đảng Cộng Sản VN và trên xương máu dân tộc VN ở cả hai miền. Cũng ở điểm nầy người ta mới thấy Chiến Tranh VN là cơ hội bằng vàng để đế quốc Tàu tiếp tục giấc mộng thôn tính Việt Nam sau hơn ngàn năm không thực hiện được.

    Cả Mỹ lẫn Tàu đă đạt được mục tiêu chung sau những cuộc không tập B52 kéo dài; và sau đó, v́ muốn bảo vệ đảng, Bắc Việt đă quỳ gối đầu hàng Bắc Kinh và kư những mật ước nhượng đất nhượng biển và nhượng cả chủ quyền cho Trung Cộng. Việc Mỹ làm ngơ cho Trung Cộng chiếm Quần Đảo Hoàng Sa của Việt Nam có lẽ cũng nằm trong khuôn khổ những mật ước như thế nhưng đă có trước khi chiến tranh chấm dứt. Như thế kẻ thắng chiến tranh VN là Trung Cộng chứ không phải Bắc Việt; Bắc Việt chỉ là một thây ma được Mỹ, Tàu, Do Thái vớt lên từ địa ngục để thi hành sứ mạng Thái Thú cho Thiên Triều.

    Những người sinh ra và lớn lên trong hệ thống tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ của cộng sản và ngay cả những người cộng sản được xem là “mở mắt” như Bùi Tín, Phạm Chí Dũng, Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Dương Thu Hương, chẳng hạn, có lẽ không bao giờ chấp nhận sự thực đó, v́, đối với những người nầy, làm thế chẳng khác nào chối bỏ “ảo ảnh đời ḿnh,” chối bỏ một huyền thoại giúp họ tiếp tục ngẩng mặt lên tiếng với đời. Những đám người nầy có thể “trái dạ” với đảng cộng sản nhưng dứt khoát không tự phản bội chính ḿnh. Nếu không có huyền thoại đó th́ cách nay bốn mươi năm họ chỉ là nhưng kẻ mù quáng đi trong doàn quân ma được Mỹ, Tàu và Do Thái tha chết và vớt xác lên từ địa ngục đồng thời trao cho chiếc bánh vẻ “đại thắng mùa xuân” để sau đó đạo quân ma nầy tràn vào Miền Nam cướp của giết người. Nếu không tin các ông các bà cứ hỏi Trần Đăng Thanh, một đại tá VC thuộc Học Viện Quốc Pḥng của chế độ Hà Nội th́ biết ngay. Cũng có thể các ông các bà đều biết sự thực nhưng không dám công khai thú nhận; các ông các bà vờ mở mắt nhưng chỉ mở một mắt để khỏi thẹn với lương tâm và tiếp tục đi trong mộng du.

    Ngày nay các ông các bà được giải quyết sang Mỹ chẳng khác nào lá rơi về cội, gặp lại ân nhân ngày trước, thế thôi. Một số người cộng sản vẫn thường bóng gió so sánh cộng sản VN với giới lănh đạo Tây Đức, Bỉ, với Bắc Quân Hoa Kỳ trong cuộc Nội Chiến, thậm chí với cả chính quyền Hoa Kỳ trong Đệ Nhi Thế Chiến đă thắng Nhật. Làm như thế là hiếp dâm lịch sử v́ cố t́nh đặt một thây ma được vớt lên từ địa ngục ngang hàng với những kẻ chiến thắng đích thực, đặt đạo quân đồ tể ngang hàng với loài người có lương tri, liêm sỉ, và trí tuệ, đặt một đám gia nô thái thú ngang hàng với những con người thực sự làm chủ đời ḿnh và giúp dân tộc làm chủ vận mệnh của đất nước. Hăy nh́n kỹ những ǵ đám đồ tể đă làm trong suốt bốn mươi năm qua trên đất nước Việt Nam để đặt tên đám thái thú thời đại nầy cho đúng. .

    Đỉnh Sóng
    Nguồn: Đỉnh Sóng

  4. #4
    Member Sydney's Avatar
    Join Date
    13-08-2010
    Posts
    2,818
    Hoài niệm và phản tỉnh về ngày 30 tháng 4 năm 1975 để giải ảo ngụy sử, hoà giải dân tộc và xây dựng đất nước.

    Đỗ Kim Thêm
    06-05-2015

    Tóm lược: Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày toàn thắng của ĐCSVN và là ngày đại bại của toàn dân tộc Việt Nam. Chúng ta có các lư do chính đáng để không tham gia mừng lễ kỷ niệm chiến thắng, nhưng cần giúp đỡ nhau để có ư thức phản tỉnh về ư nghĩa tưởng niệm, hoà giải và trách nhiệm đối với những hậu quả của ngày này.

    Hiện t́nh Việt Nam là đang bị nguy cơ hơn bao giờ hết; v́ về mặt nội trị có quá nhiều bất ổn mà vẹn toàn lănh thổ, tham nhũng và nợ công là chính; về mặt đối ngoại có quá nhiều tổn thương, v́ lănh đạo đặt quyền lợi Trung Quốc và quyền lợi riêng lên trên quyền lợi của dân tộc là chính. Hoa Kỳ sẽ không là một lá chắn an toàn cho Việt Nam v́ Hoa Kỳ không có phép lạ để biến đổi nội t́nh và ngoại cảnh cho Việt Nam. Hoa Kỳ cũng đủ thông minh để không bao giờ chống Trung Quốc thay cho Việt Nam.

    Mọi vấn đề hiện nay của Việt Nam có thể sẽ được giải quyết được một phần nào khi có sức mạnh dân tộc mà sự hiểu biết của toàn dân, đồng thuận chính trị, và quyết tâm chuyển hướng là chính và đường lối thực tiễn là thay đổi hiến pháp dân chủ, nâng cao đạo đức và giáo dục, tăng trưởng kinh tế, tôn trọng trí thức và pháp luật, thực thi nhân quyền và dân quyền và bảo vệ thiên nhiên.

    Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày khởi đầu cho trang sử Việt, mà một thế hệ hậu chiến trưởng thành và sẽ đảm nhận trách nhiệm chính trị cho đất nước. Thế hệ hậu chiến không cần có một lư tưởng cầu toàn để canh tân đất nước hay các biện pháp xé rào để cứu Đảng, mà cần nhất là có một ư thức bừng tỉnh về sự tồn vong của dân tộc.

    ***

    Kư ức thay ngụy sử?

    Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày quan trọng trong lịch sử của Việt Nam, v́ là ngày kỷ niệm 40 năm chiến tranh kết thúc. Hiện nay, các thế hệ tham chiến hầu như đă lần lượt ra đi hay đang quên đi những hậu quả của chiến cuộc. Thời gian dài này cũng đủ để làm một thế hệ hậu chiến trưởng thành mà không vướng bận với kư ức thuộc về lịch sử.

    Tuy thế, có một sự khác biệt giữa kư ức và lịch sử. Kư ức là một điều kiện thiết yếu tự tại và có một giá trị đặc biệt cho lịch sử. Kư ức riêng tư tạo nên bản sắc cá nhân và kư ức tập thể tạo nên bản sắc xă hội. Cả hai đặc thù văn hoá này nếu kết hợp nhau được sẽ làm thành một lịch sử chung cho dân tộc. Để phác thảo lịch sử, sử gia cần có kư ức văn hoá, một sự thật của lịch sử và đây là một trong những điều kiện khách quan làm khởi điểm cho chính sử.

    Nhưng trong hiện tại vấn đề soi sáng lịch sử ít được quan tâm, bởi v́ chúng ta đang có những nhu cầu bức thiết, đó là hiểm hoạ Bắc thuộc và bất lực của chính quyền trước những khát vọng của toàn dân về toàn vẹn lănh thổ, xây dựng dân chủ, phát triển kinh tế, nâng cao công b́nh và tôn trọng nhân quyền.

    Nh́n lại sau 40 năm dài th́ thực tế cho thấy dù là kư ức của các chứng nhân lịch sử đang nhạt nhoà và bản sắc của đất nước đang tàn phai, nhưng người Việt vẫn c̣n bị ám ảnh bởi những chiến tuyến trong quá khứ, đề cao thành quả chiến thắng măi làm cho việc hoà giải giữa người Việt c̣n khó khăn và những giá trị phổ quát trong xu thế thời đại như tự do, dân chủ, nhân quyền và trọng pháp lại chưa áp dụng. Lư do chính là người Việt đă không có và sẽ không thể chia sẻ một quá khứ chung của lịch sử cận đại.

    Nếu chúng ta muốn xây dựng một chính sử Việt Nam cho hôm nay và mai sau, th́ giải ảo ngụy sử là một nhu cầu tất yếu. Vậy vấn đề là liệu có nên khơi động lại kư ức cá nhân hay tập thể hoàn toàn độc lập với mọi dị biệt và đối kháng với ngụy sử để làm cơ sở được không?

    Thế hệ tham chiến và quá khứ

    Thế hệ tham chiến nghĩ ǵ về quá khứ và để làm ǵ trong hiện t́nh? Chiến tranh Việt Nam nằm trong bối cảnh quốc tế của Chiến tranh Lạnh và lại là một thí dụ điển h́nh trong khu vực về Chiến tranh Ủy nhiệm. Không riêng Việt Nam mà hầu như nhiều quốc gia đều h́nh thành bằng bạo lực. Trong cả một thời kỳ dài, tranh đấu bằng bạo lực là một phương tiện hiển nhiên, nó tạo nên một loại văn hoá chung và trở thành một sự thực khách quan của lịch sử. Chiến thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một bạo lực cách mạng để thống nhất đất nước và là một sản phẩm của lịch sử.

    Công việc chọn lọc quá khứ để giải ảo lịch sử cũng có nghĩa là làm sống lại quá khứ, một phần hay toàn bộ kư ức của cá nhân hay tập thể. Phủ nhận hay quên đi quá khứ, cả hai nỗ lực này là bất khả. Không ai muốn quên lăng quá khứ oai hùng, v́ mục đích kéo dài hạnh phúc đă hết là để làm quên đi thực tế bất hạnh. Quên lăng quá khứ thương đau th́ không thể dễ dàng v́ là một ám ảnh c̣n vang động trong hồn như một loại bịnh tâm thần kinh niên không trị được. Khép lại quá khứ và cảm nhận nó trong mối quan hệ với hiện tại và tương lai, cả hai việc đ̣i hỏi chúng ta có một ư thức phản tỉnh mà không bị dồn ép cực đoan bằng một ư thức hệ đă lỗi thời hay xí xoá dễ dăi bằng những thành tựu kinh tế nay đang sa sút.

    Để trả lời các vấn đề này, thế hệ tham chiến lập luận là kư ức của các chứng nhân lịch sử sẽ mai một và kư ức của tập thể chỉ có tính địa phương. Đoàn kết dân tộc là một vấn đề trọng đại của lịch sử đất nước, chúng ta hăy để cho sử gia làm việc, v́ họ có khả năng gạn đục khơi trong các tồn đọng cuả quá khứ để tŕnh bày khách quan hơn và có tác động hữu hiệu hơn. Bất hạnh cho chúng ta là sử Việt bị ngụy tạo quá nhiều, nên không thể lư giải và thuyết phục các sự thật lịch sử cận đại.

    Ngụy tạo chính sử

    Có một sự khác biệt giữa quan điểm về lịch sử của người phương Tây và Việt Nam. Khi người Mỹ nói đó là chuyện lịch sử, mọi người cùng yên tâm nghĩ là toàn bộ vấn đề xảy ra được ghi chép cẩn thận và nghiên cứu nghiêm túc (That is history; it is totally a record). Khi người Việt nói đó là chuyện lịch sử, chúng ta phải dè dặt hơn, v́ đó là một biến cố quan trọng đă xảy ra (It is a most importat thing); sự kiện c̣n ngờ vực, đúng sai hay hay dở c̣n cần xét lạ, v́ tùy theo thời điểm và quan điểm chính trị. Đây không phải là một khám phá mới lạ, v́ đă có vô số các bằng chứng về các sai lầm trong sử Việt, mà những ví dụ chính cho thấy các tầm mức tác hại nghiêm trọng của vấn đề ngụy tạo.

    Thứ nhất, theo sử th́ Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) giải tán ngày 11 tháng 11 năm 1945, nhưng thực tế th́ Đảng tiếp tục hoạt động trong bí mật, sau đó lại công khai cho đến ngày hôm nay. Không có sử gia nào bỏ công cải chính sự kiện này của ĐCSVN và Đảng Lao Động, dù là h́nh thức.

    Thứ hai, vai tṛ của ĐCSVN trong việc giành độc lập. Thực ra, Việt Nam chưa độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn, v́ Đảng không cướp được chính quyền từ tay Nhật và Pháp, mà của chính phủ Trần Trọng Kim vào ngày 19 tháng 8 năm 1945 và về sau gọi đó là Cách mạng tháng Tám.

    Việt Nam thâu hồi chủ quyền độc lập ngày 8 tháng 3 năm 1949 theo Hiệp Định Elysée. Điểm đặc biệt của Hiệp định là Việt Nam thống nhất và độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp. Sau đó, ngày 23 tháng 4 năm 1949 Quốc Hội Nam Kỳ đă giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị và sát nhập Nam Phần vào lănh thổ Việt Nam. Do đó, Việt Nam đă được thống nhất năm 1949 về ngoại giao và chính trị.

    Không ai bỏ công phân biệt ư nghĩa cao cả của công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc do ngoại xâm và phương cách bất chánh để cướp chính quyền trong nội chính. Xác minh thời điểm chính xác cho sự độc lập cũng bị quên lăng.

    Thứ ba, cuộc đời của Hồ Chí Minh là một chuyện dài không đoạn kết. Bao nhiêu sách vở khác nhau viết về xuất xứ, hành tung, khả năng, quá tŕnh hoạt động và tư cách đạo đức của ông. Mỗi lúc lại có một khám phá mới làm cho sự thật về cuộc đời của ông càng huyền bí hơn.

    Nhu cầu tuyên truyền chính trị nhất thời là lời giải thích quen thuộc. Các nhà nghiên cứu đă (phải) suy tôn ông lên làm thần thánh, rồi một thời gian sau, v́ lư do chính trị khác, lại hạ bệ. Nhiều tác phẩm viết về ông, nhưng ông không có một chỗ đứng vững chắc trong lịch sử. V́ ông là một nạn nhân của lịch sử quái ác nên các vấn đề tiểu sử, công nghiệp, đời tư của ông c̣n cần phải tiếp tục soi sáng.

    Thứ tư, đấu tranh quân sự có phải là một giải pháp tối ưu duy nhất hay kết hợp với các giải pháp nghị trường và ngoại giao cũng là điều kiện khả thi?

    Trước trào lưu đấu tranh giành độc lập tại các nước Á Phi đang dâng cao nên Pháp đă ư thức vấn đề này. Từ năm 1947 Pháp đă quyết định không tái lập chế độ thuộc địa và tôn trọng nguyện vọng độc lập của nhân dân Việt Nam bằng cách đăng kư Việt Nam là một quốc gia độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp tại Liên Hiệp Quốc. Đó là một thắng lợi ngoại giao và pháp lư mà Đảng Cộng Sản đă phủ nhận và về sau giải thích là Pháp đem quân trở lại Việt Nam để tái lập chế độ thuộc địa.

    Do đó, khi nhân danh giành lại độc lập dân tộc, họ chiến đấu vũ trang chống Pháp, nhưng bằng cách độc quyền yêu nước và độc quyền lănh đạo quốc gia. Trái lại, các nước châu Á khác đă chủ trương đấu tranh ôn ḥa, không bạo động và không liên kết với Cộng sản Quốc tế, mà thành công của Ấn Độ (1947) là một thí dụ, dù bối cảnh phức tạp hơn Việt Nam nhiều.

    Thứ năm, ĐCSVN sử dụng chiêu bài đấu tranh chống Pháp và chống Mỹ như một chiến thuật để đạt mục tiêu chiến lược là cướp chính quyền. Họ đă chống đối bất cứ giải pháp chính trị và ngoại giao nào không cho họ độc quyền đấu tranh và lănh đạo quốc gia, mà Hiệp định Genève và Paris là hai cơ hội lịch sử.

    Dù Hiệp định Genève chỉ là để định ranh giới ngưng bắn và không áp đặt những giải pháp chính trị, nhưng thống nhất Nam Bắc thuộc quyền dân tộc tự quyết, một cơ hội mới về tổng tuyển cử mở ra và sẽ do hai miền ấn định. Lănh đạo cả hai miền đă không đủ nỗ lực để thực thi biện pháp tổng tuyển cử, một cơ hội không tốn xương máu. Đó là một quan điểm sai lầm của cả hai và trở thành một bất hạnh cho dân tộc hiếu hoà.

    Hiệp định Paris là một hiệp ước ngoại giao và có tác dụng chính trị, nhưng là một cơ hội khác mở ra nếu các bên đồng ư “thực hiện từng bước bằng phương pháp hoà b́nh trên căn bản thương nghị và thỏa thuận giữa Miền Bắc và Miền Nam, không bên nào cưỡng ép bên nào, không bên nào thôn tính bên nào.” (Điều 15).

    Phát động chiến dịch Hồ Chí Minh để thôn tính miền Nam không phải là phương pháp ḥa b́nh như đă kư kết. Vi phạm Hiệp định Paris lại là một thành tích tự hào về sự phản bội của chính ḿnh và chấp nhận hy sinh xương máu của thế hệ thanh niên cuối cùng của miền Bắc.

    Thứ sáu, Đại Thắng Mùa Xuân là đỉnh cao chói lọi trong trang sử đấu tranh của ĐCSVN, nhưng Ted Gunderson (1928 – 2011), nhân viên của FBI tại Los Angeles và Wahsington DC tiết lộ là sau chiến dịch Operation Linebacker của Hoa Kỳ, Bắc Việt tuyên bố đầu hàng đầu hàng vô điều kiện. Ngũ giác Đài nhận điện tín này nhưng CIA buộc ép nhẹm nguồn tin và thuyên chuyển tất cả các nhân viên có trách nhiệm ra khỏi nhiệm sở. Dĩ nhiên, Việt Nam không hề kiểm chứng nguồn tin này.

    Tóm lại, các vấn đề quan trọng trong chính sử cận đại như ư nghiă đích thực của chiến tranh, kết hợp các phương tiện khả thi để giải quyết xung đột, những hy sinh và thành tích cần được giải ảo trong một phương cách mới hơn, khi mà có vô số các nguồn tài liệu được liên tục giải mật. Quan trọng nhất là chúng ta phải có can đảm nh́n vào sư thật của lịch sử trong một nhăn quan mới.

    Cho dù ngày nay ngụy sử đă không thể phản ảnh được toàn bộ quá khứ và chính sử cũng không hẳn là mất đi hết trong những ǵ c̣n sót lại nơi ḷng người, nhưng điều may mắn hơn cho chúng ta là lịch sử vẫn c̣n được truyền tụng, mà kư ức cá nhân và tập thể cần hồi tưởng là thí dụ điển h́nh.

    Những người Việt đang ở vào lớp tuổi bốn mươi hay trẻ hơn không có kư ức về chiến cuộc, v́ họ chưa sinh ra. Dĩ nhiên, họ có quyền đặt câu hỏi v́ sao Việt Nam chưa thể canh tân đất nước và hưởng độc lập dân tộc và họ phải gánh chịu một di sản tồi tệ như ngày hôm nay. Khi ngụy sử không thuyết phục được họ, th́ kư ức của các bậc cha ông c̣n sống sót sẽ đóng vai tṛ ǵ?

  5. #5
    Member Sydney's Avatar
    Join Date
    13-08-2010
    Posts
    2,818
    Kư ức chiến cuộc nhạt nhoà

    T́nh yêu về dĩ văng vốn bẩm sinh trong tâm hồn người Việt; họ thích ôm ấp kỷ niệm trong mơ hồ và không muốn dùng ngôn ngữ để diễn đạt những cảm xúc trân qúy. Kư ức là nhớ lại; một người không có trí nhớ là một người không c̣n bản sắc riêng. Nhưng ngược lại với kư ức là quên lăng; ai phải dồn ép quá khứ, thường là người không b́nh thường và hoặc sẽ mang bịnh ức chế. Một người trưởng thành không có kư ức sẽ măi là một trẻ con.

    Kư ức tập thể theo Maurice Halbwach quan trọng hơn. Nó vượt qua khuôn khổ kinh nghiệm sống của một cá nhân, hằn sâu, tiêm nhiễm vào một tầng lớp xă hội, một thế hệ trong một giai đoạn của dân tộc và tạo thành bản sắc chung. Một dân tộc không có kư ức lịch sử cũng là một dân tộc chưa trưởng thành.

    Khi xưa, Tản Đà có than thở “Dân hai lăm triệu, ai người lớn?, Nước bốn ngh́n măm vẫn trẻ con.” Lời thơ ai oán được truyền tụng như một lời cảnh tỉnh về t́nh trạng dân trí trong thời Pháp thuộc. Trong chiến tranh, Trịnh Công Sơn cũng đă nhắc nhiều đến thân phận đất nước, nhưng thê thiết nhất là “Ôi, đất nước u mê ngàn năm“. Điều ngạc nhiên là cả hai danh tài này sống trong hai thế hệ cách biệt nhau, nhưng lại cùng một tâm trạng, dù không hề quan tâm đến chính sử và kư ức.

    Nhưng làm sống lại kư ức không dễ, v́ có một cái ǵ đó thiếu b́nh thường mà có quá nhiều thí dụ làm cho chúng ta ngạc nhiên.

    Thứ nhất, nhân ngày 30 tháng 4 mà nhân dân thủ đô Hà Nội kéo băng và biểu ngữ với nội dung “Hân Hoan Chào Mừng Ngày Giải Phóng Thủ Đô”. Vô ư hay là trớ trêu trong một kư ức nhạt nhoà? Không ai biết.

    Thứ hai, ngược lại, nhân ngày này mà một số người Việt hải ngoại cũng có tổ chức“Ngày Diễn Hành Cho Tự Do”. V́ là buổi diễn hành nên ít có thuyết tŕnh về ư nghĩa trọng đại về một ngày lịch sử của đất nước để người tham dự cảm thấy có trách nhiệm hơn đối với những hậu quả của ngày này. V́ tự do hoài niệm mà đôi khi cũng có nhiều nơi c̣n có kết hợp với lễ Lao Động với dạ tiệc và khiêu vũ thâu đêm là chính. Đó là sáng kiến giải trí cuối tuần kéo dài trong hoàn cảnh mới, nên không đem lại một âm vang tưởng niệm nào trong đau buồn, nhớ những nguời nằm xuống và người trốn chạy.

    Thứ ba là chuyện không có quyền công khai tưởng niệm những người nằm xuống trong chiến tranh biên giới Trung – Việt. Khơi động kư ức lại cần có ư kiến chỉ đạo? Hồi sinh kư ức càng thêm chua chát khi lănh đạo hân hoan đón tiếp lănh đạo bạn để cùng “Thành Kính Tưởng Niệm Các Liệt sĩ Trung Quốc Hy Sinh V́ Chính Nghĩa”trong Tiết Thanh Minh, một việc làm đúng theo chính sách đề ra.

    C̣n nhớ về Ngày Hoàng Sa và Trường Sa lại càng khó hơn, cụ thể nhất là vụ thảm sát Gạc Ma. Trước đây binh sĩ không được phép chống trả với Trung Quốc nên đem lại một cái chết tập thể; chính quyền luôn che dấu sự thật và nay lại không cho phép tưởng niệm và ghi công và không nêu tên kẻ thù, đó là một hành vi xoá bỏ kư ức có định hướng.

    Những người chiến đấu c̣n sống không được tri ân, đăi ngộ và chỉ c̣n âm thầm xót thương cho đời nhau. Họ cũng bất hạnh giống như các cựu chiến binh Mỹ, làm điều vô ích cho kẻ vô ơn và cuối cùng lại chứng kiến trớ trêu của lịch sử mà đó lại là định mệnh của ḿnh.

    Thứ tư là chuyện những người di tản buồn lại càng buồn hơn, khi phải nhớ tới những thuyền nhân qua cơn phong ba bảo táp, chưa hưởng được tự do và cuối cùng phải yên nghỉ nơi đảo vắng xứ người. Trùng tu mộ phần đă khó, sơn tặng cho họ một lá cờ trên mộ phần và lập đài tưởng niệm trên các đảo cũng bị nhà nước CSVN t́m cách áp lực ngoại giao nên không được phép. Thân nhân cũng đành khép lại quá khứ theo chính sách.

    Thứ năm là vấn đề gọi tên kư ức. Thảm sát hay chiến thắng Mậu Thân? Định danh kư ức cũng cần thảo luận như gọi tên cho cuộc chiến. “Chống Mỹ xâm lược“ mà hơn 5000 ngàn thường dân Việt và vài ân nhân người Đức phải chết oan uổng, th́ không thể nào gọi là thắng lợi huy hoàng và có thể giải thích thuần lư.

    Những hung thủ c̣n sống sót cũng không đủ can đảm đính chánh về cáo giác của các nhân chứng trong “Giải Khăn Sô Cho Huế“. Dù tai họ c̣n nghe và mắt họ c̣n thấy phản ứng của nạn nhân khác c̣n sống, nhưng khác với Hitler đă tự xử, hung thủ yên tâm hơn để nghiên cứu về Huế học, mà họ quên đi đối tượng nghiên cứu khẩn thiết nhất của Huế học là làm sáng tỏ việc tàn sát. Tên tuổi và hành vi của họ vẫn bị ràng buộc với lương tâm và lịch sử.

    Chúng ta là có vô số kư ức cá nhân có giá trị lịch sử: Giải Khăn Sô Cho Huế, Muà Hè Đỏ Lửa, Dấu Binh Lửa, Đường Đi Không Đến, Xương Trắng Trường Sơn, Thiên Đường Mù, Nổi Buồn Chiến Tranh và Đèn Cù là những thi dụ chính. V́ là tự truyện cá nhân nên có sự đăi lọc nhất định theo ư nghĩ cảm nhận và tùy theo cái gọi làlieux de mémoire của tác giả (các địa điểm liên hệ tới biến cố xăy ra để trở thành kư ức, một khái niệm của Pierre Nora). Thực ra, nhân chứng lưu giữ kư ức, họ chỉ là một người sống trong những biến cố kinh hoàng trong lịch sử, mà họ không hiểu tại sao, không lường đoán được hậu quả và giải thích các tầm mức phức tạp của diễn biến.

    Do đó, chúng ta cần có sử gia, v́ kư ức cần khách quan hoá theo phương pháp sử học, một tiến tŕnh đến sau và có chọn lọc. Sử gia đối thoại với nhân chứng, v́ nhân chứng biết rơ hơn các biến cố. Họ diễn dịch, sưu tầm và biên tập theo một hệ thống nhất định thành một loại đề tài chung.

    Dù kư ức về chiến cuộc nhạt nhoà, nhân chứng lần lượt ra đi, quá ít sử gia chân chính, nhưng lịch sử không thể nguy tạo kư ức. Chính kư ức làm nên lịch sử. Kư ức không phải là vấn đề riêng của sử gia. Lịch sử không thuộc về sử gia, mà cho tất cả những người có liên quan và có tinh thần trách nhiệm. Những người đứng ra tổ chức các lễ tưởng niệm với các phương tiện truyền thông hiện đại cũng là một thí dụ.

    Các buổi lễ truy điệu, báo chí, sách vở sẽ làm sống lại các kư ức tập thể. Những h́nh thức nghi lễ “hoành tráng“ của phe thắng cuộc không mang nhiều ư nghĩa đích thực để t́m ra bản chất của tưởng niệm. Những đề tài thảo luận nghiêm chỉnh về ư nghĩa của tưởng niệm là quan trọng hơn.

    Nhờ thế, chúng ta viết lại lịch sử bằng cách khám phá những sự dị biệt trong kư ức với tinh thần trách nhiệm. Kư ức dị biệt của cá nhân là một phương tiện thông đạt dùng trong sinh hoạt hằng ngày khi thảo luận về những biến cố lịch sử. Ngược lại, kư ức tập thể là một sản phẩm xă hội, đẩy mạnh cho việc h́nh thành một bản sắc văn hoá dân tộc. Nhưng biết t́m đâu bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Việt?

    Bản sắc dân tộc tàn phai

    Dù là gọi là đất nước hay dân tộc cũng chỉ là một. Dân tộc là một ngôi nhà chung chứa đựng một linh hồn chung. Hồn thiêng này có hai phần: phần một nằm trong quá khứ, là một di sản thuộc toàn dân và kư ức lịch sử là một thành phần. Phần hai nằm trong hiện tại. Đó là tinh thần đồng thuận, cùng ước mơ chung sống để phát triển và lưu truyền giá trị của một di sản không thể phân chia. Khái niệm dân tộc này của Ernest Renan không phải là chủ nghiă dân tộc đă bị lạm dụng quá nhiều trong quá khứ.

    Bản sắc văn hóa dân tộc gồm các đặc tính được duy tŕ trong quá tŕnh của lịch sử và được kết tinh thành những biểu tượng để phân biệt với các dân tộc khác. Nó tạo thành những chuẩn mực giá trị cho xă hội và thể hiện tâm lư dân tộc mà các kư ức văn hoá là thí dụ.

    Kư ức văn hoá theo Jan Assman gồm có việc sử dụng chính sử, tự truyện, h́nh ảnh và nghi lễ đặc biệt cho một xă hội trong một thời kỳ; mọi sự vun bồi này sẽ tạo nên một h́nh ảnh chung cho bản sắc dân tộc. Nhờ thế mà chúng ta có thể hiểu được giá trị truyền thống.

    Chúng ta có thói quen ca ngợi bản sắc dân tộc và đơn giản hoá vấn đề, nhưng kỳ thực, bản sắc cá nhân phức tạp, v́ dựa vào hoàn cảnh và điều kiện xă hội địa phương, thuộc về một thế hệ nhất định, một tôn giáo, một đoàn thể nghề nghiệp và tŕnh độ giáo dục nào đó. Bản sắc thay đổi liên tục trong suốt cuộc đời qua những biến cố của riêng ḿnh.

    Mô tả về bản sắc đất nước càng khó hơn v́ theo ḍng lịch sử, có quá nhiều biến chuyển sẽ thay thế cho các kư ức cũ phai mờ, tạo thành những bản sắc mới. Tùy theo thời điểm hay địa điểm mà bản sắc đất nước có thể tiến hay thoái hoá. Các thay đổi về giá trị qua từng thế hệ kết hợp nhau trong liên tục và tái tạo.

    Trong một thời kỳ dài đấu tranh, Đảng đă bao nhiêu lần nói là “thống nhất đất nước ta sẽ xây dựng lại ngàn lần tươi đẹp hơn”. Nhưng chiến thắng năm 1975 cho phép Đảng có lư do tự phong một bản sắc mới là “trung tâm phẩm giá của loài người và lương tâm của thời đại”. Bản sắc cường điệu này không thuộc truyền thống chân thành của dân tộc. Đảng đă không thể trau dồi bản sắc, và chiến thắng không đem lại tự do và cơm áo cho toàn thể dân chúng trong thời b́nh.

    Dù thành tựu đổi mới kinh tế có đem lại cho sung túc cho một thiểu số, nhưng Đảng không thể nâng cao bản sắc văn hoá v́ giáo dục xuống cấp, đạo đức suy đồi, thờ ơ của dân chúng và gương xấu của chính quyền là trở lực. T́m lại bản sắc dân tộc đă đánh mất là điều không thể thực hiện được trước mắt, v́ thành tựu của các biện pháp cải cách giáo dục và nâng cao đạo đức không thể là kết quả dễ được t́m thấy trong một sớm một chiều.

    Đă đến lúc đất nước cần có bản sắc mới như là một vai tṛ kết nối, một khái niệm và một thành tố để xây dựng lịch sử. Nhưng làm sao nối kết những kư ức văn hoá dị biệt trong bối cảnh hiện nay. Thực ra, không ai có đủ viễn kiến để tiên đoán chuyện lư thuyết.

    Nhưng sử gia không c̣n đi t́m những giá trị biểu tượng xa xưa, v́ các biến động mới có những giá trị làm cho lịch sử độc đáo hơn. Họ dùng ngày 30 tháng 4 năm 1975 làm một phương tiện nhằm tạo ra huyền thoại chính trị duy nhất cho khởi điểm mới về kư ức lịch sử cận đại. Với 40 năm trôi qua, thời gian lắng đọng để họ cùng t́m hiểu về ư nghĩa của ngày 30 tháng 4. Do đó, giải ảo về nội dung ngày này cần được đặt ra.

  6. #6
    Member Sydney's Avatar
    Join Date
    13-08-2010
    Posts
    2,818
    Phản tỉnh về ư nghĩa của ngày 30 tháng 4 năm 1975

    Ngày 30 tháng 4 năm 2015 là một ngày để chúng ta nhớ về ngày 30 tháng 4 năm 1975 và t́m hiểu những ǵ mà dân tộc đă sống trong 40 năm qua. Bằng kinh nghiệm sống với chế độ, với các sử liệu mới, lư trí khách quan và tự do phê phán giúp cho chúng ta nhận ra sự thật. Sự thật sẽ giải phóng cho chúng ta.

    Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là biểu tượng khởi đầu cho một tiến tŕnh tương phản phức tạp. Giá trị biểu tượng của ngày này là một nghịch lư bi đát. Chiến tranh kết thúc giải phóng cho tất cả mọi người trong mọi hoàn cảnh, nhưng không phải chỉ là vinh quang mà c̣n là tủi nhục; ngày miền Nam thoát khỏi chiến tranh cũng là ngày mà miền Bắc hiểu rơ hơn thế nào là giải phóng và hy sinh cho chính nghĩa. Cả nước vừa được giải phóng lại vừa bị hủy diệt trong một hoàn cảnh mới, không phải chỉ là thiệt hại vật chất mà c̣n là tinh thần, một vấn đề bản sắc.

    Dĩ nhiên, chúng ta phải chấp nhận những ǵ đă xảy ra vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, v́ không thể thay đổi được, dù c̣n bị ảnh hưởng hậu quả cho đến hiện nay. Chúng ta không thể tách rời ngày 30 tháng 4 năm 1975 với ngày 3 tháng 2 năm 1930, ngày thành lập ĐCSVN, đó là một nguyên nhân khởi đầu mọi thay đổi trong các trang sử Việt.

    Với ư thức phản tỉnh chúng ta có thể nói cho nhau hôm nay về ư nghĩa đích thực của ngày 30 tháng 4 là đây là một ngày toàn thắng trong tiến tŕnh cướp chính quyền của ĐCSVN và là một ngày đại bại của toàn dân tộc Việt. V́ sao?

    V́ nh́n lại quá khứ của công cuộc tiến nhanh tiến mạnh lên XHCN chúng ta chỉ thấy một bóng tối kinh hoàng. Đó là các biện pháp truất hữu ruộng đất, ngăn sông cấm chợ, đánh tư sản mại bản, bài trừ văn hoá đồi trụy, thanh niên xung phong, kinh tế mới và học tập cải tạo. Theo sau là thảm kịch thuyền nhân, chiến tranh Tây Nam và phiá Bắc. Cuối cùng là kinh tế kiệt quệ để rồi ĐCSVN phải chịu có biện pháp xé rào và đối mới để nuôi dưỡng chế độ.

    Với một cơ hội mới và tiềm năng cao để tái thiết hậu chiến và hàn gắn vết thương chiến tranh, nhưng đến năm 2015 mà Việt Nam c̣n tụt hậu thua Lào về canh tân công nghiệp, tŕnh độ phát triển dân chủ kém hơn Campuchia, cạnh tranh kinh tế suy yếu hơn Hàn quốc, phát minh khoa học thua xa Thái Lan, năng lực lao động thấp nhất trong khu vực, nhưng t́nh trạng vi phạm nhân quyền và bất công xă hội lại là trầm trọng nhất.

    V́ nh́n về tương lai chúng ta càng lo sợ hơn v́ không biết đất nước và con người sẽ đi về đâu. Chủ nghĩa tư bản thân tộc tạo ra một xă hội thị trường hỗn loạn trong một nhà nước sơ khai là nguyên nhân, mà tham nhũng lên ngôi thượng đỉnh, đạo đức suy sụp tận đáy, giáo dục băng hoại và môi sinh cạn kiệt là hậu qủa. Trong khi hiểm hoạ Bắc thuộc là hiện thực, th́ bất ổn cá nhân, bất trắc kinh tế và bất công xă hội vẫn c̣n kéo dài.

    Tóm lại, chúng ta có các lư do chính đáng để không hân hoan tham gia mừng lễ kỷ niệm chiến thắng, nhưng cần giúp đỡ nhau để có ư thức phản tỉnh về ư nghĩa tưởng niệm, hoà giải và tỉnh thức trong ngày 30 tháng 4. Nhờ thế, chúng ta sẽ thấy có trách nhiệm hơn đối với những hậu quả của ngày này trong tương lai.

    Ngày tưởng niệm

    Hồi tưởng thuộc về một phần trong đời sống tâm linh của chúng ta. Ai đă sống trong ngày 30 tháng 4 với đầy đủ ư thức và nhận xét, th́ cũng tự hỏi là ngày này ḿnh làm ǵ và ở đâu và sự ràng buộc của ḿnh trong biến cố này.

    Ngày 30 tháng 4 là một ngày để chúng ta tưởng niệm về tất cả những người quá cố của hai miền, những người đă tin là ḿnh chiến đấu cho chính nghĩa của đất nước. Chúng ta không thể quên họ và cầu mong họ siêu thoát. Đau đớn nhất là các chiến sĩ giải phóng quân; bây giờ họ không c̣n cơ hội để nhận ra rằng họ đă bị phản bội; tất cả công lao của họ là vô ích và vô nghĩa; cái chết của họ chỉ là phục vụ cho các mục tiêu cướp chính quyền của giới lănh đạo vô nhân đạo.

    Chúng ta sống trong gọng kềm của lịch sử dân tộc và là nạn nhân phải hy sinh cho quyền lợi của giới lănh đạo. Cả một dân tộc không ai có tội cá nhân; không ai có tội với lịch sử. Có tội ít hay nhiều chỉ có thể quy kết cho tập thể lănh đạo, v́ họ thiếu trí tuệ và thiếu bản lănh; họ chỉ phục vụ cho ngoại bang, chủ nghĩa phi dân tộc và không t́m cách tiết kiệm máu xương.

    Chúng ta cũng hoài niệm về những nổi đau khổ của thân nhân c̣n sống; đặc biệt là nữ giới, đau khổ v́ sự mất mát về tất cả những ǵ không thể giữ được từ vật chất cho đến tinh thần. Đó là đau khổ qua bị thương tổn và tật nguyền, đau khổ v́ buộc phải chịu mất tài sàn, mất người thân yêu, mất nhân phẩm, cảm xúc bị tổn thương, cưỡng bức lao động, bất công nghiêm trọng và tra tấn dă man, đói khổ, giam cầm và trốn chạy.

    Ngày hoà giải

    Ngày 30 tháng 4 là ngày mà chúng ta không những tưởng niệm cho những người nằm xuống mà c̣n muốn ḥa giải giữa người Việt c̣n sống với nhau. Chúng ta t́m kiếm ḥa giải, nhưng không thể ḥa giải với những người đă nằm xuống và những người không c̣n kư ức. Số phận chung của dân tộc liên kết chúng ta với nhau thành một định mệnh chung trong ước muốn chung sống trong ḥa b́nh và thịnh vượng.

    Trong đời sống hằng ngày, người Việt chỉ muốn sống an vui trong hiện tại và không muốn nhớ những chuyện vô nhân đạo trong quá khứ. Chúng ta chấp nhận và chịu đựng sự khắc nghiệt do số phận an bài, đó là chuyện tinh thần được đặt ra bên cạnh các nhiệm vụ khác.

    Nhưng ngày 30 tháng 4 là một vết rạch hằn sâu trong lịch sử cho toàn thể, nên có một nghịch lư xảy ra, người Việt có tinh thần hồi tưởng và sẽ luôn hồi tưởng khi có cơ hội. Bốn mươi năm sau khi kết thúc chiến tranh, dân Việt vẫn c̣n bị phân chia. Chúng ta cảm thấy chưa thuộc về nhau bởi v́ chúng ta đă sống và nghĩ không cùng trong một nhận thức về quan điểm đấu tranh. Đó là một gánh nặng trong lịch sử mà chúng ta vẫn c̣n bị mang ít nhiều tổn thương.

    Làm sao chúng ta có thể xoá bỏ vết hằn khôn nguôi nếu không có hoà giải? Thực ra, kinh nghiệm quốc tế cho thấy hoà giải không chỉ là tha thứ của nạn nhân về sai trái của thủ phạm, mà c̣n là một đồng thuận giá trị về chính trị. Đầu hàng là một thay đổi thái độ của phe thua cuộc trước phe thắng cuộc, một quyết định hợp lư của lư trí của phe thua cuộc và cần được thể chế chính trị của phe thắng cuộc bảo vệ. Vai tṛ luật pháp là điều kiện thể chế tiên quyết để bảo vệ họ. Khuôn khổ cho hoà giải là b́nh đẳng trước pháp luật, thực thi dân chủ, tôn trọng nhân quyền và dân quyền của phe thắng cuộc. Sự đồng t́nh của cả hai phe sẽ đem lại ư nghiă chung sống. Đó là một khuôn khổ xây dựng lại mối quan hệ và niềm tin cho xă hội và tạo lập một cộng đồng cho tương lai.

    Dầu bối cảnh tranh chấp khác nhau, các nước Nam Phi, Nam Tư củ, Bắc Ái Nhĩ Lan, Sierra Leone, El Salvador, Guatemala và Rwanda đă t́m ra một căn bản đồng thuận cho tiến tŕnh hoà giải, mà đạo đức là mục tiêu và luật pháp là phương tiện. V́ say men chiến thắng mà kinh nghiệm hoà giải chính trị hậu xung đột không là vấn đề quan trọng để Việt Nam quan tâm học tập, cải tạo tập trung là trường hợp minh chứng ngược lại.

    Sau ngày Đổi Mới, Việt Nam khởi đầu tiến tŕnh hoà giải chính trị bằng Nghị Quyết để nhằm thu hút tài năng trí tuệ và đóng góp tài chánh. Nghị Quyết không đề ra sư tương thuận của phe thua cuộc; khuôn khổ pháp luật làm nền tảng và tinh thần đạo đức dân tộc làm nội dung cho hoà giải cũng không có. Việt Nam chỉ đo thành tựu Nghị Quyết bằng lượng kiều hối, du lịch và giao lưu văn nghệ trong ngoài. Hoà giải loại này không đem lại một niềm tin chung hướng về tương lai.

    Trong nỗ lực hoà giải có một thử thách chung cho hai phía. Sẵn ḷng ḥa giải phải phát sinh từ trong nội tâm và do ngoại cảnh, không phải là vấn đề mà phe thắng cuộc đ̣i hỏi nơi phe thua cuộc theo tinh thần Nghị Quyết, nhưng là tự nội tâm của mỗi phe đ̣i hỏi nơi chính ḿnh, đó là khởi điểm quan trọng nhất.

    Cụ thể là liệu phe thắng cuộc có thể thực sự tự đặt ḿnh trong hoàn cảnh của phe thua cuộc đựợc không hay phe thua cuộc có tin tưởng vào thành tâm hoà giải của phe thắng cuộc được không? Liệu Nghị Quyết một chiều có phải là một cơ sở ràng buộc nhau không? Cả hai phải nhận ra những gánh nặng của nhau, xem có chịu đựng nhau không và có quên quá khứ được không?

    Cả hai phe làm ǵ trong tiến tŕnh này? Chủ yếu là phe thắng cuộc cần có ư thức hơn để t́m lại nguyện vọng trung thực của phe thua cuộc; thay v́ diễn binh mừng chiến thắng chỉ khơi động lại ḷng thù nghịch, phe thắng cuộc nên can đảm hơn là đem tàu ngầm hiện đại ra biển Đông để bày tỏ quyết tâm trước Trung Quốc, phô trương này sẽ gây tác động hoà giải dân tộc cao hơn. Thay v́ ngăn cản tưởng niệm, nên thành tâm bày tỏ thương tiếc những người của hai phiá đă hy sinh bằng cách xây một tượng đài chung, một h́nh thức tỉnh ngộ về sự lầm lạc chung của cả dân tộc trong cả một giai đoạn lịch sử. Họ nên đăi ngộ người đóng góp c̣n sống, một h́nh thức xoa dịu thương đau xă hội; nỗ lực hoà giải với người đối kháng và trực tiếp đối thoại trong tinh thần dân chủ là thực tế hơn, v́ không phải ai có quan điểm đối lập chính trị với chính quyền cũng đều là những phần tử suy thoái đạo đức và phản động.

    Phe thua cuộc cũng cần có nhận định nghiêm chỉnh hơn về ư nghĩa cao cả của tha thứ. Tha thứ là t́m hiểu và mến yêu người sai phạm. Hiểu nhau là v́ đă t́m thấy lại nhau trong một quá khứ chung lầm lạc. Yêu mến nhau là v́ cùng có một số phận và ư chí chung sống để xây dựng tương lai đất nước.Thực tế ngược lại. Một số không nhỏ của phe thua cuộc tự nguyện t́m đến phe thắng cuộc v́ những bả lợi danh cuối đời, những lạc thú do những chênh lệch giá cả tại quê nhà, ngay cả những hạnh phúc thoáng qua như tiếng c̣i hụ đưa đón. Đó là một sự sĩ nhục mà một số trong phe thua cuộc tự tạo ra, v́ trong khi cho đến ngày hôm nay, vẫn c̣n có rất nhiều người khả kính, can trường và liêm chính trong chiến bại.

    Tương lai của hoà giải không ai biết được, nhưng khởi động một trào lưu nhận thức mới về tinh thần hoả giải là khẩn thiết, v́ các thế hệ tham chiến sẽ lần lượt ra đi và các thế hệ nối tiếp sẽ không đủ quan tâm để giải quyết.

  7. #7
    Member Sydney's Avatar
    Join Date
    13-08-2010
    Posts
    2,818
    Ngày tỉnh thức

    Ngày 30 tháng 4 năm 2015 bắt đầu một chương mới trong lịch sử Việt Nam và một thế hệ mới đang trưởng thành. Giới trẻ không có các kư ức dị biệt và không chịu trách nhiệm về những ǵ đă xảy ra trong quá khứ, nhưng họ đang và sẽ có trách nhiệm đối với những ǵ sẽ trở thành lịch sử. Họ sẽ đóng một vai tṛ chính về số phận của con người, đất nước và dân tộc trong khoảng thời gian bốn mươi năm tới. Nhưng ngày 30 tháng 4 năm 1975 lại có ư nghĩa tỉnh thức v́ kư ức cá nhân kéo dài chỉ trong bốn mươi năm. Nếu kư ức phai nhạt th́ những ǵ quan trọng khác c̣n lại cũng không c̣n ư nghĩa. Thế hệ tham chiến cần giúp cho giới trẻ hậu chiến t́m hiểu về sự thật của lịch sử, không thiên vị theo ư thức hệ, trốn chạy trách nhiệm và nhân danh đạo đức. Đâu là giá trị tỉnh thức trong ngày 30 tháng 4?

    Chúng ta cần can đảm để nói cho thế hệ hôm nay biết là hiện t́nh Việt Nam là đang bị nguy cơ hơn bao giờ hết; v́ về mặt nội trị có quá nhiều bất ổn mà vẹn toàn lănh thổ, tham nhũng và nợ công là chính; về mặt đối ngoại có quá nhiều tổn thương, v́ lănh đạo đặt quyền lợi Trung Quốc và quyền lợi riêng lên trên quyền lợi của dân tộc là chính; nay lại hy vọng là Hoa Kỳ đoái thương dân Việt. Nhưng thực tế, Hoa Kỳ sẽ không có phép lạ nào để biến đổi nội t́nh Việt Nam hôm nay và sẽ không là một lá chắn an toàn cho Việt Nam mai sau. Mỹ đủ thông minh để không bao giờ chống Trung Quốc cho đến xương máu của người Mỹ cuối cùng thay cho Việt Nam, như miền Bắc Việt Nam đă hănh diện chống Mỹ thay cho Trung Quốc trong quá khứ.

    Do đó, giới trẻ nên tỉnh thức để tránh lầm lạc của bậc cha ông. Đó là do khuấy động các ư thức hệ đối nghịch, hận thù lầm lạc và gian dối lẫn nhau mà Việt Nam đă có chiến tranh. Do bất tài, bất xứng và bội t́nh mà thế hệ cha ông đă không để lại được một non sông gấm vóc cho con cháu thừa hưởng; “Gia tài của mẹ, mộtnuớc Việt buồn“, nếu nói theo nhạc của Trịnh Công Sơn.

    Từ tỉnh thức này mà giới trẻ sẽ lưu truyền các kư ức lịch sử và không để bị lôi cuốn vào những hận thù và chống đối nhau, mà cố gắng liên tục học hỏi để t́m cách chung sống với nhau trong t́nh hiếu hoà và nhất là sẽ có ư thức trách nhiệm nhiều hơn cho tương lai đất nước.

    Thế hệ hậu chiến và tương lai

    Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày khởi đầu cho thế hệ hậu chiến trưởng thành. Họ có trách nhiệm chính trị cho đất nước trong thời kỳ mới. Nhưng họ phải nghĩ ǵ và làm ǵ để canh tân đất nước và t́m lại độc lập cho dân tộc?

    Nghĩ ǵ? Thách thức vô cùng to lớn khi thế hệ hậu chiến cần có nhiều ư thức và kinh nghiệm hơn để đảm nhiệm trọng trách này. Đó là vấn đề c̣n mở rộng để tranh luận, nhưng họ có bốn khó khăn chính.

    Một là, họ không kế thừa một phương sách khả thi nào. Đảng đă không thể lư giải được cơ chế Kinh tế Thị trường và Nhà nước Pháp quyền theo định hướng XHCH là ǵ. Đảng cũng tự nhận là đă theo một đường lối không có cho đất nước. V́ nhận hư thành thực cho nên Đảng cũng không thể hoàn thiện đường lối này cho đến cuối thế kỷ XXI. Nhưng Đảng sẽ vượt qua các chống đối bằng cách dùng bạo lực đàn áp để duy tŕ chế độ, một bất hạnh cho toàn dân.

    Hai là, họ không thể phát huy các kinh nghiệm cuả bậc cha ông. Các kinh nghiệm của Cách Mạng Tháng Tám và Đại Thắng Mùa Xuân không c̣n phù hợp với trào lưu đấu tranh bất bạo động cho Việt Nam, mà đó là một giải pháp tương ứng khả thi. Thành quả cuả Cách Mạng Đông Âu, Đông Đức, Miến Điện và Muà Xuân Á Rập là những bài học mới thích hợp hơn, nhưng họ chưa thể huy động được dân chúng v́ thái độ vô cảm chính trị của đa số.

    Ba là, họ không thể hy vọng là được Đảng chuyển giao quyền lực cho dù họ có khả năng và tâm huyết, v́ thân tộc của lănh đạo c̣n vây quanh. Trong một xă hội thị trường đang thay đổi hỗn loạn, họ không thể tiên đoán được là đổi mới chính trị sẽ h́nh thành như thế nào. Tất cả đều tuỳ thuộc vào một số quan niệm về tương lai, những cách đánh giá khác nhau về ư nghĩa của xu hướng hiện nay và về các chuẩn mực để giải quyết các khác biệt, thí dụ như vi phạm nhân quyền và tự do báo chí.

    Bốn là điều kiện ư thức về truyền thống lịch sử và chuyển hoá chính trị. Từ thắng lợi của việc cướp chính quyền mà Đảng tự hào về thành tích làm nên “Ư nghĩa Lịch sử” cho dân tộc. Nhưng ư nghĩa lịch sử này không phải là những ǵ đă được Đảng tuyên bố, mà giới trẻ cần khám phá lại. Nhu cầu giải ảo ngụy sử và niềm tin về tương lai dân chủ cần đến các điều kiện trí thức. Đó là kiến thức và ư thức về chính sử và dân chủ, để từ đó làm cơ sở cho tinh thần xây dựng. Kiến thức là khởi điểm cho ư thức và có kiến thức th́ mới có ư thức để xây dựng một ư chí chung sống.

    Tuy nhiên, thực tế bi quan hơn, v́ sử học và kinh tế chính trị học không c̣n thu hút giới trẻ, một môn mà người học không muốn học và người dạy không muốn dạy. Sự tụt hậu là do một hệ thống giáo dục gian dối và ngụy sử làm mất niềm tin về giá trị cuả toàn xă hội qua nhiều thế hệ.

    Ư thức về lịch sử và dân chủ do đào tạo mà ra, có tính thuần lư v́ do lư trí hướng dẫn và được đăi lọc qua thời gian. Học chính sử giúp giới trẻ lư luận và phán đoán về sự thật của lịch sử. Ư thức về lịch sử sẽ tạo nên một thái độ chung đối với lịch sử, một khả năng để giải ảo, một loại trách nhiệm cá nhân đối với xă hội và có t́nh cảm dân tộc.

    Do đó, hy vọng c̣n lại là giới trẻ sẽ phát huy tinh thần t́m hiểu và mến yêu lịch sử và giá trị của dân chủ. Sự thật lịch sử sẽ là bước khởi đầu và giới trẻ phải t́m kiếm sự thật giữa ḍng lịch sử. Giới trẻ có thể so sánh lịch sử tương lai như một ḍng sông, nhưng các ḍng nước sẽ luôn biến đổi mà họ đang khởi đầu bơi lội và cũng không biết đi về đâu, như một câu nói quen thuộc là “Người ta không thể tắm hai lần trong cùng một ḍng sông“. Nhưng có ư thức lịch sử và dám dấn thân làm lại lịch sử cho dân tộc là một hy vọng khởi đầu.

    Làm ǵ? Giới trẻ cần thảo luận để nhận ra điều kiện đem lại hoà b́nh và thịnh vượng cho đất nước. Mọi vấn đề hiện nay có thể sẽ được giải quyết được một phần nào khi có sức mạnh dân tộc mà sự hiểu biết của toàn dân, đồng thuận chính trị, và quyết tâm chuyển hướng là chính và đường lối thực tiễn là thay đổi hiến pháp dân chủ, nâng cao đạo đức và giáo dục, tăng trưởng kinh tế, tôn trọng trí thức và pháp luật, thực thi nhân quyền và dân quyền và bảo vệ thiên nhiên. Nhưng sự hợp tác về một chính sách ngoại giao Trung-Việt ổn định và tương kính là khả thi, khi Việt Nam đủ khả năng chứng tỏ là một người bạn đối tác đích thực b́nh đẳng và không phải chỉ bằng ngôn ngữ bóng bẩy như hiện nay. Với nỗ lực của nhiều thế hệ, chúng ta hy vọng là Việt Nam sẽ đạt được một phần nào những mục tiêu này.

    Việt Nam sẽ đi về đâu? Không ai biết rơ, nhưng chắc một điều là đất nước dù năng động đến đâu đi nữa, th́ Đảng cũng sẽ không c̣n phép lạ khi Đảng không tự chuyển hoá. Thế hệ hậu chiến không cần có một lư tưởng cầu toàn để canh tân đất nước, một ảo tưởng trí thức để thăng hoa bản sắc văn hoá hay các biện pháp xé rào để cứu Đảng, mà cần nhất là có một ư thức bừng tỉnh về sự tồn vong của dân tộc.

    ______________

    Bài Đọc Quan Tâm

    – 30.4.1975 – Ngày Tự Thú của csVN
    – 30.4.1975 – Ngày Hận Thù của csVN
    – VNCH – Sau 30 năm tị nạn csVN
    – Danh Ngôn Chủ Nghĩa Cộng Sản
    – 30 câu nói về Cộng Sản
    – Chiến tranh nam bắc Mỹ
    – Ngô Đ́nh – Hiểm Họa Xâm Lăng
    – Ngày Quốc Hận – 30.4.1975
    – Ghi Chú : Việt Nam – Trung Cộng
    – Hồ Chí Minh – Tên Diệt Chủng thế kỷ 20
    – TT Thiệu – Ḥa b́nh của nấm mồ
    – Quốc Ca – Cờ Vàng – Cờ Đỏ
    – Quốc Hận – 30.4.75 Tại Sao ?
    – Ḥa Giải – Ḥa Hợp – Dân Tộc
    – Thanh Trừng – Nội Bộ Đảng csVN


    * SOURCE: https://vivi099.wordpress.com/2015/0...kien-nam-1973/

  8. #8
    Tran Truong
    Khách

    Ngày 19/5/1946

    Ngày này năm 1946 là ngày ô nhục của lịch sử Việt Nam . Ngày treo cờ toàn khắp Hà Nội , đón tiếp toàn quyền Đông dương , đô đốc D'Argenlieu . Chào mừng thực dân Pháp chính thức quay lại đô hộ VN bởi Hồ Chí Minh, với tư cách chủ tịch chính phủ Liên hiệp kháng chiến, kư thỏa ước Sơ bộ với Pháp , chiều ngày 6-3-1946 , tại số 38 đường Lư Thái Tổ, Hà Nội .

    Đô đốc D'Argenlieu là cao uỷ Pháp tại đông Dương, nghĩa là vừa đại diện nước Pháp, vừa được xem là nhà lănh đạo các nước đông Dương. Việt Nam kư thỏa ước Sơ bộ 6-3-1946 theo đó điều 1 ghi rằng Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp. Hồ Chí Minh đón rước D'Argenlieu nghĩa là đón rước quốc trưởng đến thăm Hà Nội.

    Việc Hồ Chí Minh kư thỏa ước Sơ bộ với Pháp, chính thức hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Pháp tại Việt Nam, hoàn toàn trái ngược với lời thề diệt Pháp của toàn dân khi tŕnh diện chính phủ vào ngày 2-9-1945, gây sự bất b́nh trong các đảng phái chính trị và trong đại đa số quần chúng. VM ra lệnh treo cờ trong ba ngày 18, 19 và 20-5-1946. Việt Minh cho biết treo cờ không phải để chào đón đô đốc D'Argenlieu, mà để mừng sinh nhật Hồ Chí Minh, ngày 19-5 .

    Hồ Chí Minh không bao giờ nói đến chuyện sinh nhật của ḿnh, nay tự nhiên bày ra chuyện mừng sinh nhật. Trong khi đơn xin vào hội Tam Điểm, Nguyễn Ái Quấc tức Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Cung, tự khai là sinh ngày 15-2-1895 !

    Cũng từ đây - 1946 - tài liệu của đảng CSVN, Hồ Chí Minh tức Nguyễn Sinh Cung lúc nhỏ, sinh ngày 19-5-1890. Ngày sinh nầy được đưa ra chính thức , được ghi vào sử đảng , hòng khỏa lấp ngày bán nước cho Pháp , bắt dân treo giăng cờ xí , đón rước toàn quyền đông dương ngự giá HN !!!

    Khơi lại ngày 19/5 , tức nhắc lại niềm tủi nhục , nỗi đau lòng của người dân Hà Nội nói riêng , và của dân tộc Việt Nam nói chung . Hãy quên ... và cho nó vào thùng rác !!!

  9. #9
    Member Nguyễn Mạnh Quốc's Avatar
    Join Date
    25-03-2011
    Posts
    2,544

    V́ sao chúng ta phải căm thù HCM..; lạm bàn đôi diều ....!

    ngày 19 05 - 2017... trời lại nắng nhưng mát lạnh...

    nhân câu truyện về cụ Chủ tịch Xă nghĩa thay tên và đổi cả ngày sinh tháng đẻ..
    lăo hủ xin có dôi điều góp ư cho vui ...;
    một là chứng tỏ cái tài dấu tên đổi họ để che mắt đối phương làm cho chúng hoa mắt không biết tên nào người nào và..,

    hai là đối với ngày sinh tháng đẻ.. th́ khoa học biện chứng duy vật th́ ngày sản ra thấy không đẹp bèn.... chui vào.. rồi lại chui ra chứ có khăn ǵ vài ba con số, chứ c̣n tài xuất quỉ nhập thần tinh ranh luồn lọt th́ đâu có thua tài điệp viên 007 !!

    Để cho thần tượng tôn sùng của Đảng trở nên hấp dẫn hơn... Đảng Xă Nghĩa VN cũng nên đem tài liệu của vị : cha già dân tộc.." sang Hong Kong, t́m đến nhà ông vua truyện " chưởng..." . Nhờ Kim Dung soạn thành truyện kiếm hiệp với cái tên ;
    ..... thiên hạ kỳ tài bạo chúa An Nam....
    Như vậy cái môn Sử kư của lănh tụ sẽ được dàn trải rộng khắp các chương sử Đảng, trở thành sử lập quốc của nước CHXHCNVN trong suốt thời gian. mà bác đă sống cho đến nay...đem giảng dạy trong ngành Giáo dục. Như vậy. khỏi phải mất công làn ṃ đến quá tŕnh lập quốc.. đến dă sư.. đến truyền thuyết như truyện Trọng Thuỷ -Mị Châu.. hay trăm con trăm trứng.
    Với ngọn bút biến hoá tài t́nh vẽ vời cho nhân vật chính...một pho Sử hay hơn truyện " chưởng vơ lâm kỳ bí.." nhuw những truyện mà Kim Dung đă sáng tác ra.. hay ngay như những nhân vật kỳ bí như Sở Lưu Hương của tác giả Cổ Long cũng phải thua luôn....
    tuổi trẻ Việt Nam sẽ thích thú đọc.. và ham học sử nhiều hơn.. câu truyện trăm năm trồng người sẽ mau tới đích hơn là như ngày nay hết lịch sử biến chế đến Lịch sử viết theo phong văn Xă nghĩa.. không c̣n phải mầy ṃ như "xẩm ṃ ngă ba của ai nằm kế bên.." nữa vậy.... đôi gịng phiếm loạn ....../. nmq

  10. #10
    dân say
    Khách

    CSHN ngày nay tiếp tục đạo đức hô chí minh cúi đầu truớc Ngoại bang

    Quote Originally Posted by Tran Truong View Post
    Ngày này năm 1946 là ngày ô nhục của lịch sử Việt Nam . Ngày treo cờ toàn khắp Hà Nội , đón tiếp toàn quyền Đông dương , đô đốc D'Argenlieu . Chào mừng thực dân Pháp chính thức quay lại đô hộ VN bởi Hồ Chí Minh, với tư cách chủ tịch chính phủ Liên hiệp kháng chiến, kư thỏa ước Sơ bộ với Pháp , chiều ngày 6-3-1946 , tại số 38 đường Lư Thái Tổ, Hà Nội .

    ....
    Phải nói chính xác là hồ chí minh can tâm t́nh nguyện cúi đầu chào đoán toàn quyền thực dân Tây .. Loại SỬ như vậy tụi CSHN pag3i giáo dục lếu lại như Mèo dấu C..cho cái đám trẻ sanh sau đẻ muộn để hầu tiếp tục truyền thống cha ông của chúng ma tiếp tục cúi đầu chào mừng tụi 5-SVPK vào xứ VN thoă mái,.

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 77
    Last Post: 20-06-2017, 03:29 AM
  2. KHI ĐỒNG MINH NHẢY VÀO
    By Sydney in forum Tin Việt Nam
    Replies: 0
    Last Post: 12-05-2016, 10:23 AM
  3. Replies: 0
    Last Post: 01-08-2013, 12:07 PM
  4. Replies: 2
    Last Post: 07-07-2012, 07:04 AM
  5. KẾT QUẢ TRĂM NĂM TRỒNG NGƯỜI - HỒ CHÍ MINH
    By nguoibatcao in forum Tin Việt Nam
    Replies: 1
    Last Post: 21-06-2011, 09:29 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •