+ Reply to Thread
Page 15 of 15 FirstFirst ... 51112131415
Results 141 to 142 of 142

Thread: Ngày này năm xưa

  1. #141
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    483
    Cách nay 243 năm di dân ở vùng New England dành được độc lập từ nước Anh.
    https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipe...a/Th%C3%A1ng_4
    Ngày 19 tháng 04, 1775
    • 1775 – Chiến tranh Cách mạng Mỹ bắt đầu với chiến thắng của quân thuộc địa trước quân Anh tại Concord, Massachusetts.

    https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A...1ng_M%E1%BB%B9
    https://en.wikipedia.org/wiki/Americ...olutionary_War
    https://fr.wikipedia.org/wiki/Guerre...C3%89tats-Unis
    https://nuocnha.blogspot.com/2018/04...-vung-new.html

    Cách mạng Mỹ

    Một phần của Lịch sử Hoa Kỳ

    Từ góc trên bên trái theo chiều kim đồng hồ:
    Trận Bunker Hill; Cái chết của Richard Montgomery tại Quebec; Trận Cowpens; "Trận chiến ánh trăng"
    Thời gian 19 tháng 4 năm 1775 – 3 tháng 9 năm 1783
    Địa điểm Miền đông Bắc Mỹ, Gibraltar, quần đảo Baleares, Trung Mỹ;
    Các thuộc địa của Pháp, Hà Lan, Anh tại tiểu lục địa Ấn Độ và một số nơi khác;
    Hải phận ven biển châu Âu, biển Caribe, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương
    Nguyên nhân bùng nổ Việc đánh thuế không có đại biểu;
    Sự thống trị trực tiếp của người Anh theo các Đạo luật Tuyên bố,
    Đạo luật Townshend và Đạo luật Cưỡng bức
    Kết quả Người Mỹ chiến thắng và giành độc lập; Nước Anh thất bại, Kư kết Hiệp định Paris
    Thay đổi lănh thổ Anh mất vùng lănh thổ phía đông sông Mississippi và phía nam Ngũ Đại Hồ-sông St. Lawrence cho Hoa Kỳ và Tây Ban Nha, nhượng Đông Florida, Tây Florida, Minorca cho Tây Ban Nha,
    Senegal và Tobago cho Pháp. Hà Lan nhượng Negapatnam cho Anh.
    Tham chiến
    Hoa Kỳ Đế quốc Anh
    Pháp Quân đồng minh Đức
    Tây Ban Nha Onondaga
    Hà Lan Mohawk,
    Cộng ḥa Vermont Cayuga,
    Liên hợp Watauga Seneca,
    Oneida Cherokee
    Tuscarora
    Catawba
    Lenape
    Chỉ huy
    George Washington Lord North
    Nathanael Greene Sir William Howe
    Horatio Gates Thomas Gage
    Richard Montgomery Sir Henry Clinton
    Daniel Morgan Lord Cornwallis
    Henry Knox Sir Guy Carleton
    Ethan Allen Allan Maclean
    Francis Nash Alexander Stewart
    Francis Marion James Agnew
    Benedict Arnold (phản bội) James Grant
    Friedrich Wilhelm von Steuben John Burgoyne
    Hầu tước La Fayette Benedict Arnold
    Bá tước Rochambeau George Rodney
    Bá tước Grasse Richard Howe
    Duc de Crillon Wilhelm von Knyphausen
    Đại biểu Suffren Joseph Brant
    Bernardo de Gálvez
    Luis de Córdova
    Juan de Lángara
    Lực lượng
    Cao nhất: Cao nhất:
    35.000 quân thuộc địa 56.000 quân Anh
    44.500 dân quân 171.000 thủy thủ Anh
    5.000 thủy thủ Hải quân Lục địa (cao nhất năm 1779) 78 tàu Hải quân Hoàng gia(năm 1775)
    34 tàu Hải quân Lục địa(cao nhất năm 1779); 30.000 quân Đức
    53 tàu phục vụ một có thời điểm 50.000 quân thuộc địa trung thành
    10.000 quân Pháp (ở châu Mỹ) 13.000 quân bản xứ
    ~60.000 quân Pháp và Tây Ban Nha (ở châu Âu)
    Tổn thất
    50.000± quân Hoa Kỳ chết và bị thương 20.000± lục quân Anh chết và bị thương
    6.000± quân Pháp và Tây Ban Nha (ở châu Âu) 19.740 thủy thủ chết
    42.000 thủy thủ đào ngũ
    7.554 quân Đức chết
    Chiến tranh cách mạng Hoa Kỳ là cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ chống lại đế quốc Anh.



    Toàn bộ các khu vực trên thế giới từng là bộ phận của Đế quốc Anh. Các lănh thổ hải ngoại thuộc Anh có tên được gạch chân màu đỏ.
    Cuộc chiến diễn ra từ 1775 đến năm 1783, khởi đầu chỉ là cuộc giao tranh nhỏ giữa quân đội Anh và nhân dân thuộc địa có vũ trang ngày 19 tháng 4 năm 1775. Kết quả là thắng lợi của nghĩa quân, buộc Anh phải kư Hiệp định Paris 1783 rút quân khỏi Bắc Mỹ và 13 thuộc địa được độc lập.
    Nguyên nhân
    Từ năm 1763, sau cuộc Chiến tranh Bảy Năm, nước Anh trở thành một đế chế thực dân lớn, kiểm soát rất nhiều thuộc địa, nhưng do người Anh cần chi phí cho cuộc Chiến tranh Pháp-Da đỏ (1756-1763), chính phủ Anh đă áp đặt một lô thuế lớn vào 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ. Lúc này, các thuộc địa đang có truyền thống tự trị sau khi thực dân Anh lăng quên để đối chọi với những điều bất ổn tỷ như nội chiến. V́ vậy, người Mỹ chống đối kịch liệt, họ cho rằng nước Anh không đại diện cho Quốc hội nên không có quyền làm vậy. Vua Anh đành phải cho rút thuế.
    Tuy nhiên, thực dân Anh c̣n để lại một thuế, đó là thuế trà. Năm 1773, ở cảng Boston, Massachusetts, khi tàu chở trà đi qua, có ba nhóm gồm 50 người Mỹ đă ném trà xuống boong tàu, c̣n gọi là sự kiện "Tiệc trà ở Boston", đây là sự chống đối của các thuộc địa đối với thuế trà, sinh ra những tư tưởng về nền độc lập Hoa Kỳ. Cách mạng bùng nổ là một điều chắc chắn sẽ xảy ra.

    Boston (đỏ) trong quận Suffolk (xám+đỏ) tại bang Massachusetts
    Diễn biến
    Cuộc nổ súng đầu tiên ở Lexington, Massachusetts và Concord, Massachusetts.
    Tại Massachussett, Seth Pomeroy, Joseph Warren cùng nhiều tướng khác tấn công nhưng đă bị quân Anh đánh bại trong trận Bunker Hill, Warren tử thương.

    Seth Pomeroy (May 20, 1706 – February 9, 1777) was an American gunsmith and soldier from Northampton, Massachusetts.

    Dr. Joseph Warren (June 11, 1741 – June 17, 1775) was an American physician who played a leading role in American Patriot organizations in Boston in the early days of the American Revolution
    Tuy nhiên, quân Anh phải hứng chịu tổn thất nặng nề và trận đánh trở thành chiến thắng tinh thần của người Mỹ. Sau đó George Washington ở Virginia được đại hội Liên bang cử làm chỉ huy thuộc địa.

    George Washington (22 tháng 2 năm 1732 – 14 tháng 12 năm 1799) (phiên âm : Gioóc-giơ Oa-sinh-tơn) là nhà lănh đạo chính trị và quân sự có ảnh hưởng lớn đối với quốc gia non trẻ Hoa Kỳ từ năm 1775 đến năm 1799.
    Những Người Yêu Nước đánh đuổi quân Anh ra khỏi Boston. Nhưng sau đó họ bị đánh bại ở tiểu bang New York và rút về New Jersey. Trước sự bùng nổ của cuộc chiến tranh ở Bắc Mỹ, vua Friedrich II Đại Đế của Vương quốc Phổ, người tỏ ra chán ghét người Anh, gọi đây là cuộc "chiến tranh hủy diệt", là một thảm họa.

    Friedrich II (24 tháng 1 năm 1712 – 17 tháng 8 năm 1786) là vua nước Phổ, trị v́ từ ngày 31 tháng 5 năm 1740 đến khi qua đời vào ngày 17 tháng 8 năm 1786
    Năm 1776: Tại Philadelphia, Pennsylvania, Thomas Jefferson kư bản Tuyên ngôn Độc lập vào ngày 4 tháng 7 tại Đại hội Lục địa lần 2.

    Thomas Jefferson (13 tháng 4 năm 1743–4 tháng 7 năm 1826)
    Cùng năm đó, có phái bộ sứ thần Hoa Kỳ viếng thăm nước Phổ và yết kiến vua Friedrich II Đại Đế, được nhà vua tiếp đón nồng hậu.
    Năm 1777: George Washington cắt đứt đầu liên lạc của tướng Anh William Howe và John Burgoyne trong trận Saratoga.
    https://s20.postimg.cc/wu00xethp/William_Howe.png
    General William Howe, 5th Viscount Howe, KB, PC (10 August 1729 – 12 July 1814)
    https://s20.postimg.cc/sxmp1l8jx/John_Burgoyne.png
    General John Burgoyne (24 February 1722 – 4 August 1792)
    Burgoyne buộc phải đầu hàng, ông là vị tướng Anh đầu tiên phải đầu hàng. Người Yêu Nước bắt đầu có thế mạnh trong chiến tranh.
    Năm 1778: Benjamin Franklin thành công trong việc đưa quân đội Pháp, dưới quyền Hầu tước Lafayette, vào làm liên minh với Hợp chủng quốc.

    Benjamin Franklin (17 tháng 01 1706 - 17 tháng 4 1790) là một trong những người thành lập đất nước nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ
    https://s20.postimg.cc/xxk59fyq5/Mar..._Lafayette.jpg
    Marie-Joseph Paul Yves Roch Gilbert du Motier (6 tháng 9 năm 1757 – 20 tháng 5 năm 1834), thường được gọi Hầu tước La Fayette
    Không những thế, hai nước Hà Lan và Tây Ban Nha cũng tham gia. Cách mạng trở thành một thế chiến. Năm 1781: Tướng Anh Charles Cornwallis kéo quân về Yorktown, Virginia.
    https://s20.postimg.cc/yabjfsorh/Cornwallis.jpg
    Charles Cornwallis, 1st Marquess Cornwallis KG, PC (31 December 1738 – 5 October 1805), styled Viscount Brome between 1753 and 1762 and known as The Earl Cornwallis between 1762 and 1792
    Tại đây, quân đội Anh của Cornwallis bị nghĩa quân Hoa Kỳ dưới quyền Washington và quân Pháp dưới quyền Lafayyete bao vây. Đường rút lui ra biển của Cornwallis bị chặn bởi một hạm đội Pháp. Cornwallis đầu hàng vào ngày 19 tháng 10 cùng với 6 ngh́n binh sĩ của ông.
    Đây là trận đánh lớn cuối cùng, chiến tranh kết thúc.
    Năm 1783: Vào ngày 3 tháng 9, nghĩa quân (và các đồng minh) kư với quân Anh Hiệp định Paris. 13 thuộc địa độc lập.

    Kư kết Hiệp định Paris sơ khởi, 30 tháng 11 năm 1782.
    Đất nước Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (gọi tắt là USA) được thành lập.
    Ư nghĩa
    Sau cách mạng, Hoa Kỳ trở thành đất nước châu Mỹ đầu tiên đánh đuổi được thực dân châu Âu, làm gương cho các nền độc lập về sau.
    Làm tăng thêm sự mạnh mẽ của Trào lưu khai sáng ở thế kỉ 18.
    Vốn từ khi Cách mạng mới bùng nổ, các sứ thần Hoa Kỳ tại kinh đô nước Phổ đă thỉnh cầu vua Friedrich II Đại Đế công nhận nền độc lập của họ.
    Và rồi, sau khi người Anh bại trận, nhà vua chắp bút kư Hiệp định hữu nghị Mỹ - Phổ vào năm 1785. Đây là Hiệp định thương mại đầu tiên giữa hai nước.
    Tham khảo
    • 1001 nhân vật và sự kiện lịch sử thế giới, Ngọc Lê, phần: Cuộc cách mạng Hoa Kỳ, tr. 120-121
    Xem thêm
    • Cách mạng Hà Lan
    • Cách mạng Pháp
    • Cách mạng Anh

  2. #142
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    483
    Cách nay 19 năm sảy ra vụ thảm sát ở trường Trung học Columbine

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipe...a/Th%C3%A1ng_4
    Ngày 20 tháng 04, 1999
    • 1999 – Hai học sinh tiến hành tàn sát tại Trường Trung học Columbine, Colorado, Hoa Kỳ, sau đó tự sát.

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%...%8Dc_Columbine
    https://en.wikipedia.org/wiki/Columb...chool_massacre
    https://fr.wikipedia.org/wiki/Fusillade_de_Columbine
    https://nuocnha.blogspot.com/2018/04...ham-sat-o.html

    Thảm sát ở Trường Trung học Columbine


    Trường Trung học Columbine nh́n từ trên cao


    Eric Harris (left) and Dylan Klebold (right)

    Địa điểm Columbine, Colorado, Hoa Kỳ
    Thời điểm 20 tháng 4 năm 1999, 11:19 am – 12:08 pm (UTC-6)
    Mục tiêu Học sinh và giáo viên Trường Trung học Columbine.
    Loại h́nh Xả súng trong trường học, Sát hại tập thể, Thảm sát, Thảm sát rồi tự tử.

    Sử dụng chất nổ tự tạo
    Vũ khí Intratec TEC-DC9, Hi-Point 995 Carbine, Savage 67H pump-action shotgun,
    Shotgun hai ṇng cưa ngắn Stevens 311D
    Tử vong 15 (kể cả hai sát thủ)
    Bị thương 24
    Thủ phạm Eric Harris và Dylan Klebold

    Vụ Thảm sát Trường Trung học Columbine xảy ra vào thứ Ba ngày 20 tháng 4 năm 1999 tại Trường Trung học Columbine, Quận Jefferson, tiểu bang Colorado, gần Littleton, và Denver, thủ phủ bang Colorado.
    Thủ phạm gây ra vụ tàn sát trong trường học này là hai học sinh tuổi thiếu niên, Eric Harris và Dylan Klebold.

    Senior year picture, 1998

    Harris was born in Wichita, Kansas. The Harris family relocated often, as Eric's father, Wayne Harris, was a U.S. Air Force transport pilot.


    Senior year picture, 1998

    Klebold was born in Lakewood, Colorado, to Thomas and Susan Klebold. His parents were pacifists and attended a Lutheran church with their children

    Chúng dùng súng giết chết 1 giáo viên, 12 học sinh, và gây thương tích cho 24 người khác, trước khi tự sát. Đây là vụ bắn giết trong trường học có số thương vong cao thứ năm trong lịch sử Hoa Kỳ, sau Thảm họa Trường Tiểu học Bath năm 1927, Thảm sát Virginia Tech năm 2007, Nổ súng tại Trường tiểu học Sandy Hook năm 2012 và Thảm sát Đại học Texas năm 1966.

    Từ vụ thảm sát này đă bùng nổ nhiều cuộc tranh luận về luật kiểm soát súng, cũng như thực trạng sử dụng vũ khí tràn lan tại Hoa Kỳ. Nhiều cuộc thảo luận tập chú vào t́nh trạng băng nhóm và tệ bắt nạt trong trường trung học, cũng như vai tṛ của phim bạo lực và tṛ chơi điện tử trong xă hội Mỹ. Trong số các nạn nhân, có vài học sinh bị giết do khẳng định đức tin của ḿnh trước họng súng, đă trở nên những h́nh mẫu soi dẫn niềm tin tôn giáo cho nhiều người. Vụ bắn giết này khiến gia tăng các biện pháp an ninh tại trường học và một thái độ e dè với văn hoá goth, nhạc heavy metal, các thành phần khả nghi trong xă hội, việc sử dụng thuốc chống trầm cảm trong thanh thiếu niên, sử dụng internet trong tuổi teen, phim ảnh bạo động, và tṛ chơi điện tử bạo lực.

    Dấu hiệu cảnh báo
    Năm 1996, Eric Harris đă lập một website riêng trên American Online, trong đó Harris mở một blog kể chuyện vui và những ḍng nhật kư ghi lại những cảm nghĩ về cha mẹ, trường lớp và bạn bè. Đến cuối năm, bắt đầu xuất hiện trên website này những hướng dẫn về cách tạo ra những tṛ tinh quái, cũng như phương pháp chế tạo chất nổ, tường thuật về những tṛ tai ác mà Harris và Klebold cùng gây ra. Từ đầu năm 1997, trên blog bắt đầu xuất hiện những chỉ dấu biểu thị ḷng căm ghét ngày một gia tăng của Harris đối với xă hội.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Tội ác, H́nh phạt và Báo thù
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Nhật kư và băng ghi h́nh
    Cả hai tay súng bắt đầu viết nhật kư sau khi rời khỏi trung tâm điều trị tâm thần. Chúng ghi h́nh kho vũ khí và cố giữ kín những băng video này.
    Những trang nhật kư cho thấy chúng lập kế hoạch chi tiết tổ chức một vụ đánh bom có thể so sánh với vụ đánh bom ở Thành phố Oklahoma, và những bài quảng cáo về cách đào tẩu sang México, cách cướp máy bay tại Phi trường Quốc tế Denver để đâm vào một ṭa nhà ở Thành phố New York, cũng như những chi tiết về các vụ tấn công.

    Location in Oklahoma County and the U.S. state of Oklahoma.

    Theo dự định, sau khi cho nổ bom tại căng tin, chúng sẽ lùng sục khắp khuôn viên trường học và tàn sát những ai c̣n sống sót, rồi tiếp tục tấn công vào các ngôi nhà chung quanh khi cư dân gần trường đang xúm xít lại xem điều ǵ đă xảy ra; nhưng kế hoạch này của chúng không thành khi những quả bom đă không kích hoạt được.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Vũ khí

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Eric Harris
    • Một khẩu shotgun Savage-Springfield 67H số sêri.:..A23432
    • Một khẩu bán tự động Carbine 9 mm Hi-Point 995

    Carabine Hi-Point 9 959 mm.
    Khẩu shotgun được Harris sử dụng nhiều hơn, cả thảy 25 lần, cũng là khẩu súng Harris dùng để tự sát.

    Dylan Klebold
    • Một súng ngắn bán tự động 9 mm Intratec Tec-9

    Intratec TEC-DC9.
    • Một khẩu shotgun hai ṇng Stevens 311D số sêri: A077513
    Khẩu súng ngắn Tec-9 được Klebold sử dụng nhiều hơn, tổng cộng 55 lần bắn, cũng được dùng để tự sát.

    Cả hai vũ trang với:
    • Nhiều dao ngắn giắt ở thắt lưng
    • Những băng đạn 9mm nhét trong túi
    • Các túi đeo ở thắt lưng chứa đầy đạn shotgun

    Ngày 20 tháng 4 năm 1999: Thảm sát
    11:10 sáng Thứ Ba ngày 20 tháng 4 năm 1999, Eric Harris và Dylan Klebold lái hai ô tô đến Trường Trung học Columbine. Harris và Klebold đậu xe tại hai khu để xe khác nhau trong trường. Từ những địa điểm này, chúng có được tầm quan sát tốt đối với cổng vào bên hông khu căng tin cũng như cổng ra chính của trường. Trước đó, chúng đă đặt một quả bom lửa trong cánh đồng cách trường nửa dặm, được hẹn giờ kích nổ lúc 11:14 sáng nhằm đánh lạc hướng toán cấp cứu. Quả bom đă phát nổ một phần, gây ra một đám cháy nhỏ, do đó chỉ cần một xe cứu hỏa đến để dập tắt.

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Khai hỏa
    Khi những quả bom trong căng tin không nổ, Harris và Klebold gặp nhau cạnh xe của Harris, chúng mang hai khẩu shotgun, một khẩu carbine và một khẩu súng ngắn tự động (tất cả đặt trong một túi vải và một balô), cùng bước về căng tin. Chúng leo lên bậc thang trên cùng ở Cổng Tây, đây là địa điểm cao nhất trong trường. Từ đó có thể quan sát cửa hông khu căng tin tại chân cầu thang, cổng tây ở phía trái và sân điền kinh ở bên phải.

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Injuries and deaths in initial incident
    • 1. Rachel Scott, age 17. Killed by shots to the head, torso, and leg alongside the west entrance of the school.
    • 2. Richard Castaldo, age 17. Shot in the arm, chest, back, and abdomen alongside the west entrance to the school.
    • 3. Daniel Rohrbough, age 15. Fatally injured by shots to the abdomen and leg on the west staircase, shot through the upper chest at the base of the same staircase.
    • 4. Sean Graves, age 15. Shot in the back, foot, and abdomen on the west staircase.
    • 5. Lance Kirklin, age 16. Critically injured by shots to the leg, neck, and jaw on the west staircase.
    • 6. Michael Johnson, age 15. Shot in the face, arm, and leg to the west of the staircase.
    • 7. Mark Taylor, age 16. Shot in the chest, arms, and leg to the west of the staircase.
    • 8. Anne-Marie Hochhalter, age 17. Shot in the chest, arm, abdomen, back, and left leg near the cafeteria's entrance.
    • 9. Brian Anderson, age 17. Injured near the west entrance by flying glass.
    • 10. Patti Nielson, age 35. Hit in the shoulder by shrapnel near the west entrance.
    • 11. Stephanie Munson, age 17. Shot in the ankle inside the North Hallway.
    • 12. William David Sanders, age 47. Died of blood loss after being shot in the neck and back inside the South Hallway.

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Tại Thư viện

    An FBI diagram of the library at Columbine High School, depicting the location of the fatalities

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Injuries and deaths in the library
    • 13. Evan Todd, age 15. Sustained minor injuries from the splintering of a desk he was hiding under.
    • 14. Kyle Velasquez, age 16. Killed by gunshot wounds to the head and back.
    • 15. Patrick Ireland, age 17. Shot in the head and foot.
    • 16. Daniel Steepleton, age 17. Shot in the thigh.
    • 17. Makai Hall, age 18. Shot in the knee.
    • 18. Steven Curnow, age 14. Killed by a shot to the neck.
    • 19. Kacey Ruegsegger, age 17. Shot in the shoulder, hand and neck.
    • 20. Cassie Bernall, age 17. Killed by a shotgun wound to the head.
    • 21. Isaiah Shoels, age 18. Killed by a shot to the chest.
    • 22. Matthew Kechter, age 16. Killed by a shot to the chest.
    • 23. Lisa Kreutz, age 18. Shot in the shoulder, hand, arms and thigh.
    • 24. Valeen Schnurr, age 18. Injured with wounds to the chest, arms and abdomen.
    • 25. Mark Kintgen, age 17. Shot in the head and shoulder.
    • 26. Lauren Townsend, age 18. Killed by multiple gunshot wounds to the head, chest and lower body.
    • 27. Nicole Nowlen, age 16. Shot in the abdomen.
    • 28. John Tomlin, age 16. Killed by multiple shots to the head and neck.
    • 29. Kelly Fleming, age 16. Killed by a shotgun wound to the back.
    • 30. Jeanna Park, age 18. Shot in the knee, shoulder and foot.
    • 31. Daniel Mauser, age 15. Killed by a single shot to the face.
    • 32. Jennifer Doyle, age 17. Shot in the hand, leg and shoulder.
    • 33. Austin Eubanks, age 17. Shot in the hand and knee.
    • 34. Corey DePooter, age 17. Killed by shots to the chest and neck.

    Harris bước sang dăy bên kia, quỳ xuống và bắn vào đầu Cassie Bernall, súng giật vào mặt làm hắn vỡ mũi. Mặc dù nhiều người tin rằng Harris đă hỏi Cassie Bernall "Mày có tin Chúa không?" trước khi hạ sát cô, những người khác cho rằng câu hỏi này là dành cho Valeen Schurr, một học sinh c̣n sống sót.

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Tự sát
    Sau khi rời thư viện, Harris và Klebold đi vào khu khoa học và ném một quả bom lửa vào một căn pḥng chứa vật dụng. Khi quả bom phát nổ, chúng chạy ra xa. Một giáo viên trong pḥng gần đó dập tắt lửa. Chúng đi về hành lang nam, dừng lại và bắn vào một căn pḥng trống, rồi bước xuống cầu thang vào căng tin.
    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Suicide of perpetrators
    • 35. Eric Harris, age 18. Committed suicide by a single shot to the mouth.
    • 36. Dylan Klebold, age 17. Committed suicide by a single shot to the head.

    Lúc 12:05 trưa, hai sát thủ vào thư viện lần nữa, lúc này không c̣n ai ngoại trừ Patrick Ireland nằm bất tỉnh và Lisa Kreutz (đang giả chết). Một lần nữa, chúng nhắm bắn cảnh sát qua cửa sổ, nhưng không thành công. Chúng đến chiếc bàn kế chỗ Matthew Kechter và Isaiah Shoels đang nằm, cả hai đều đă chết. Tại đây, chúng tự bắn vào ḿnh. Lúc 2:38 p.m., Patrick Ireland tỉnh dậy và lết đến cửa sổ, t́m cách ra ngoài. Patrick được các thành viên đội đặc nhiệm SWAT giúp đưa qua cửa sổ thư viện, cảnh giải cứu này được truyền h́nh trực tiếp. Lisa Kreutz, đang bị thương, nằm lại trong thư viện cho đến khi cảnh sát tiến vào hiện trường lúc 3:25 p.m., cô được đưa ra ngoài cùng với bà Neilson, Brian Anderson, và ba nhân viên thư viện.

    Kết thúc
    Đến giữa trưa, đội đặc nhiệm SWAT đă trấn đóng bên ngoài trường, xe cứu thương tất tả đưa người bị thương vào bệnh viện, trong khi gia đ́nh học sinh và nhân viên nhà trường được yêu cầu tập trung gần Trường Tiểu học Leawood để chờ tin tức.
    Cảnh sát xin tiếp tế thêm đạn trong trường hợp hai tay súng cứ tiếp tục bắn trả, nhưng chúng ngưng khai hỏa. Vào lúc 12:45 trưa, đội đặc nhiệm bắt đầu tiến vào từng pḥng trong trường học, kiểm tra từng chiếc bàn và từng chiếc balô. Tất cả học sinh, giáo viên, nhân viên nhà trường được đem đi thẩm vấn và được chăm sóc sức khỏe trước khi tái ngộ với gia đ́nh tại Trường Leawood. Thi thể các nạn nhân được t́m thấy trong thư viện lúc 3:30 p.m.[19]
    4:30 p.m., trường Columbine được tuyên bố là an toàn; nhưng một tiếng sau, 5:30 p.m., thêm cảnh sát được gởi đến v́ vừa t́m ra chất nổ đặt trong băi đậu xe và trên mái nhà. Lúc 6:15 p.m. cảnh sát t́m thấy bom trong một xe hơi trong băi đậu xe, 10:45 p.m. một quả bom phát nổ khi người ta đang cố tháo ng̣i nổ nhưng không ai bị thương dù một chiếc xe bị hư hại.
    Nạn nhân
    12 học sinh và 1 giáo viên thiệt mạng, 24 học sinh bị thương trong cuộc thảm sát; ba người khác bị thương khi cố gắng chạy trốn. Harris và Klebold được cho là đă tự sát 44 phút sau khi chúng bắt đầu cuộc tàn sát.

    T́m kiếm nguyên nhân
    Ngay sau khi xảy ra vụ Thảm sát Trường Trung học Columbine, bắt đầu nổ ra nhiều cuộc tranh luận về nguyên nhân của cuộc thảm sát và người ta đặt câu hỏi liệu có thể làm ǵ để ngăn không cho tội ác xảy ra. Không giống các cuộc tàn sát khác tại trường học, sự kiện cả hai sát thủ đều tự sát gây ra một sự ám ảnh sâu sắc v́ cần có thời gian để t́m ra câu giải đáp, và v́ không có vụ bắt giữ hoặc xét xử nào để các nạn nhân có thể giải tỏa nỗi căm phẫn. Nạn bè phái trong trường trung học thu hút sự quan tâm đặc biệt tại các cuộc thảo luận. Nhiều người cho rằng v́ bị cô lập bởi bạn học cùng lớp khiến Harris và Klebold cảm thấy bơ vơ, mất tự tin và trầm uất, cùng lúc thôi thúc cảm giác muốn được chú ư đến. Một số trường học cho tiến hành các chương tŕnh khảo sát và t́m cách ngăn chặn nạn bắt nạt trong trường học.[20]


    Thư viện Tưởng niệm HOPE tại Trường Trung học Columbine, được xây dựng tại địa điểm xảy ra vụ thảm sát, thay thế cho thư viện cũ nơi nhiều người đă thiệt mạng.

    Harris và Klebold đều là dân hâm mộ các loại video game bạo lực như Doom và Wolfenstein 3D. Một số nhà phân tích cho rằng đây là một trong những nguyên nhân khiến hai sát thủ tự giam ḿnh trong ảo giác bạo lực của video games và các loại h́nh khác như âm nhạc và phim ảnh. Họ giải thích rằng những ám ảnh này đă khiến chúng đánh mất khả năng phân biệt giữa thực và ảo. Phương tiện truyền thông tại Mỹ so sánh cuộc thảm sát với một xuất phẩm điện ảnh năm 1995, The Basketball Diaries, trong đó vai chính Leonardo DiCaprio trong áo choàng đen bắn sáu bạn cùng lớp tại hành lang trường học. Một số nhân chứng liên kết vụ thảm sát với phim Matrix, sản xuất năm 1999. Cha mẹ của một số nạn nhân đă khởi kiện những nhà sản xuất video game nhưng không thành công.[21][22]

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Ảnh hưởng
    Nhiều trường học tiến hành những biện pháp chống t́nh trạng bắt nạt trong trường học cũng như cấm triệt để các loại vũ khí.
    Các trường học trên khắp nước Mỹ áp dụng các biện pháp an ninh mới như buộc sử dụng ba lô trong suốt, máy ḍ kim loại và thuê mướn nhân viên an ninh. Cùng lúc, cảnh sát cũng tái thẩm định chiến thuật và mở những khóa huấn luyện đối phó với những t́nh huống tương tự như ở Trường Columbine, sau khi bị chỉ trích v́ phản ứng chậm của đội đặc nhiệm SWAT khi xảy ra vụ thảm sát.[24]


    The Columbine Memorial.

    Vụ thảm sát đă thúc đẩy nhiều người hô hào có thêm các biện pháp kiểm soát súng. Năm 2000, luật lệ liên bang và tiểu bang buộc lắp đặt khóa an toàn cho các loại vũ khí. Trong khi các luật lệ được thông qua buộc tội những người mua súng cho tội phạm và trẻ em, vẫn c̣n nhiều tranh căi liên quan đến đ̣i hỏi thẩm tra nhân thân của người mua súng.
    Một khu tưởng niệm nhằm "tôn vinh và tưởng nhớ các nạn nhân vụ thảm sát ngày 20 tháng 4 năm 1999 tại Trường Trung học Columbine" được khánh thành ngày 21 tháng 9 năm 2007 tại Công viên Clement, một băi cỏ kế cận nơi các tụ tập tự phát trong những ngày sau khi xảy ra vụ thảm sát để tưởng niệm các nạn nhân. Phải mất tám năm để quyên góp số tiền 1, 5 triệu USD cho chi phí xây dựng khu tưởng niệm này.[25]

    Thảm sát Virgnia Tech
    Seung-Hui Cho, sát thủ trong vụ thảm sát Virginia Tech, từng nhắc đến "những kẻ tử đạo như Eric và Dylan", ngụ ư hai sát thủ trong vụ thảm sát Trường Columbine.[26] Các phương tiện truyền thông thường xuyên so sánh t́nh trạng tâm thần và động cơ của Cho với Eric Harris và Dylan Klebold.

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •