Cách nay 591 năm, quân Minh và nghĩa quân Lam Sơn tổ chức Hội thề Đông Quan, kế quả tái lập Đại Việt

https://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipe.../Th%C3%A1ng_12
Ngày 10 tháng 12, 1427
• 1427 – Quân Lam Sơn và quân Minh tổ chức Hội thề Đông Quan, tái lập nước Đại Việt.

https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%B...0%C3%B4ng_Quan
(Chuyện lịch sử nước nhà đă 591 năm. Không có phần tiếng Anh, tiếng Pháp.
Bây giờ cần phải dấu để c̣n tiến tới:
“Bên này biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương”)

Hội thề Đông Quan

Hội thề Đông Quan là tên gọi của một sự kiện diễn ra ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi (tức ngày 10 tháng 12 năm 1427), giữa thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn Lê Lợi và chủ tướng quân Minh là Vương Thông

Tượng đài Lê Lợi tại Thành phố Thanh Hóa

Lê Thái Tổ (chữ Hán: 黎太祖; 10 tháng 9, 1385 – 5 tháng 10, 1433), tên thật là Lê Lợi (黎利), là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Hậu Lê – triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông trị v́ từ năm 1428 đến khi qua đời, và sử dụng niên hiệu Thuận Thiên (順天).
(Vương Thông (tiếng Trung: 王通, ?-1452) là một tướng nhà Minh từng là tổng binh quân Minh tại Đại Việt.)


Hai bên lập lời thề rằng sau sự kiện này, bên quân Minh do Vương Thông làm chủ tướng lập tức dẫn quân trở về nước, c̣n nghĩa quân Lam Sơn không được hăm hại quân Minh. Sau sự kiện này, cả hai bên đều làm đúng theo lời thề, nước Đại Việt lập lại ḥa b́nh sau 20 năm bị quân Minh đô hộ.

Hoàn cảnh
Năm 1426, nghĩa quân Lam Sơn chiếm được vùng đất đai rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào phía nam, bao vây, cô lập 2 thành lớn là thành Nghệ An và thành Tây Đô (Thanh Hóa). Tháng 8, năm 1426, Lê Lợi sai 3 cánh quân tiến ra bắc, 3 cánh quân này thắng trận liên tiếp. Viên tướng giữ thành Đông Quan là Trần Trí cầu viện binh, 2 tướng Lư An, Phương Chính từ Nghệ An đem quân về cứu Đông Quan.

Cảnh Thăng Long-Kẻ Chợ những năm 1690 do Samuel Baron miêu tả sau chuyến đi đến Đàng ngoài của ông.
Thăng Long (chữ Hán: 昇龍) là kinh đô của nước Đại Việt thời Lư, Trần, Lê, Mạc, Lê Trung hưng (1010 - 1788). Trong dân dă th́ địa danh tên Nôm Kẻ Chợ được dùng phổ biến nên thư tịch Tây phương về Hà Nội trước thế kỷ 19 hay dùng Cachao hay Kecho.
Vua nhà Minh sai Vương Thông đem 5 vạn quân sang tiếp viện, hội quân ở Đông Quan hơn 10 vạn quân. Tháng 10, năm 1426 Vương Thông bị đánh bại ở trận Tốt Động-Chúc Động, Vương Thông rút vào Đông Quan cố thủ. Vương Thông thế cùng, muốn ḥa, sau đó lại thay đổi ư định, đào hào, đắp lũy, gọi thêm viện binh.


Nghĩa quân Lam Sơn tiến quân ra Bắc

Trận Tốt Động – Chúc Động là trận đánh diễn ra trong các ngày 5-7 tháng 10 năm Bính Ngọ (1426), giữa nghĩa quân Lam Sơn với quân nhà Minh đóng ở Đông Quan (tức là Thăng Long, Hà Nội). Đây là một chiến thắng quân sự lớn của nghĩa quân Lam Sơn và được nhắc đến trong B́nh Ngô đại cáo.

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm;
Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

Năm 1427, vua nhà Minh sai Liễu Thăng đem 10 vạn quân, Mộc Thạnh 5 vạn quân chia làm 2 đường cứu viện Vương Thông. Cánh quân Liễu Thăng bị đánh bại,

Liễu Thăng Thạch, tương truyền sau khi Liễu Thăng bị Lê Sát chém cụt đầu đă hóa đá nơi đây
Liễu Thăng (柳升 hoặc 柳昇, ?-1427), tự Tử Tiêm (子漸), là một vơ tướng nhà Minh, thống lĩnh đạo quân sang cứu viện cho đạo quân viễn chinh của nhà Minh tại Đại Việt trước đây, nhưng sau đó bị nghĩa quân Lam Sơn phục kích và tử trận trong trận Chi Lăng năm 1427.

(Mộc Thạnh (tiếng Trung: 沐晟, 1368-1439), tự Cảnh Mậu (景茂), là một đại thần của nhà Minh được giao nhiệm vụ cai quản khu vực Vân Nam từ năm 1398, sau khi anh trai là Mộc Xuân chết cùng năm này. Thạnh là người từng đem quân hợp cùng Trương Phụ sang đánh nước Đại Ngu của cha con Hồ Quư Ly cũng như đánh bại Giản Định đế và Trùng Quang đế sau đó. Lần cuối cùng đưa quân sang cứu Vương Thông năm 1427 bị quân Đại Việt do Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả chỉ huy đánh bại tại cửa ải Lê Hoa, tỉnh Lào Cai ngày nay.)

Mộc Thạnh sợ hăi bỏ chạy. Vương Thông thế cùng phải mang thư đến nghĩa quân Lam Sơn xin cầu ḥa. Tổng binh Vương Thông và nội quan Sơn Thọ nhà Minh sai viên thiên hộ họ Hạ mang thư đến giảng hoà, xin mở cho đường về. Lê Lợi chấp nhận, lại gởi tặng thổ sản và hải sản.
Vương Thông xin giảng ḥa nhưng vẫn do dự chưa quyết, đem hết quân trong thành ra đánh. Nghĩa quân Lam Sơn đặt phục binh rồi vờ thua chạy, quân Minh đuổi theo, tới ở phục binh, bị đánh tan. Vương Thông ngă ngựa, suưt bị bắt, nghĩa quân tiến quân đến cửa Nam thành, đắp bờ lũy chống giữ. Lê Lợi thân đốc các tướng đem quân đắp lũy từ phường Yên Hoa thẳng tới cửa Bắc thành Đông Quan. Quân Minh chỉ dám ở trong thành không dám ra.
Vương Thông và Sơn Thọ bị vây cùng quẫn, lại xin ḥa. Quốc dân đă bị cực khổ về sự quân Minh cai trị tàn ngược, xin cho đánh gấp, giết cho bằng hết. Lê Lợi đáp:
“ Việc dùng binh lấy sự toàn quân là hơn cả. Nay hăy để cho lũ Vương Thông về nói với vua Minh, trả lại đất cho nước ta, không c̣n trở lại xâm lấn, th́ ta c̣n cầu ǵ hơn nữa, hà tất phải giết hết, để kết mối thù với nước lớn. ”
— Đại Việt thông sử
Rồi Lê Lợi cho ḥa giải, lệnh cho lộ Bắc Giang và Lạng Giang, tu sửa đường sá để quân Minh về nước, sai Nguyễn Trăi soạn tờ biểu, lấy lời Trần Cảo là ḍng dơi vua Trần, xin được làm vua.

Nguyễn Trăi (chữ Hán: 阮廌, 1380 – 19 tháng 9 năm 1442), hiệu là Ức Trai (抑齋), là một nhà chính trị, nhà thơ dưới thời nhà Hồ và nhà Lê sơ Việt Nam.
(Trần Cảo (chữ Hán: 陳暠) là một vị vua bù nh́n do thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn là Lê Lợi lập vào cuối thời kỳ Việt Nam nội thuộc triều đại nhà Minh.)

Nghĩa quân đưa thư trả lời Vương Thông, dùng Lê Quốc Trinh và Lê Nhữ Tŕ làm con tin.
Thái giám nhà Minh là Sơn Thọ, Mă Kỳ đến dinh Bồ Đề làm con tin; Lê Lợi sai con trưởng Lê Tư Tề và Lưu Nhân Chú vào thành Đông Đô làm con tin.
(Lê Tư Tề (chữ Hán: 黎思齊; ? – 1438), hay Quận Ai vương (郡哀王), là hoàng tử nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam. Ông đă cùng cha là Lê Thái Tổ tham gia khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi quân Minh, làm đến chức Tư đồ, thành lập Triều đại nhà Lê Sơ.)
(Lưu Nhân Chú (chữ Hán: 劉仁澍, ?-1433), hay Lê Nhân Chú, là công thần khai quốc nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam, người xă An Thuận Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam)

Hội thề Đông Quan
Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi, tức 10 tháng 12 năm 1427, Lê Lợi, Trần Nguyên Hăn, Lưu Nhân Chú, Phạm Vấn, Lê Ngân, Phạm Văn Xảo, Bùi Bị, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Nguyễn Lư, Phạm Bôi, Lê Văn An, Bế Khắc Thiệu, Ma Luân cùng các tướng nhà Minh: Tổng binh Thành Sơn hầu Vương Thông, Tham tướng Mă Anh, Thái giám Sơn Thọ, Mă Kỳ, Vinh Xương hầu Trấn Trí, An b́nh hầu Lư An, Đô ty Phương Chính, Chưởng đô ty sự Trần Tuyền, Trần Hựu, Giám sát ngự sử Chu Kỳ Hậu, Cấp sự trung Quách Vĩnh Thanh, Hữu bố chính sứ Dặc Khiêm, Tả hữu tham chính là Hồng Bỉnh Lương, Lục Trinh và Lục Quảng B́nh, Án sát sứ Dương Thời Tập và Thiêm sự Quách Đoan làm hội thề ở cửa Nam thành Đông Đô.
https://s20.postimg.cc/ew0337g19/Tran_Nguyen_Han.jpg
Tượng Trần Nguyên Hăn ở thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Trần Nguyên Hăn (chữ Hán: 陳元扞, 1390 - 1429) là nhà quân sự Đại Việt thời Lê sơ. Ông là người thuộc ḍng dơi nhà Trần, nổi bật với việc tham gia khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lănh đạo chống sự đô hộ của đế quốc Minh.
Vương Thông hẹn rằng đến ngày 12 tháng 12 th́ đem quân về nước và sai người đem tờ tŕnh xin trả lại đất đai cho nghĩa quân. Lê Lợi sai giải vây thành Đông Quan, kéo quân lui về, lại sai giải vây cho 3 thành: Tây Đô, Cổ Lộng và Chí Linh; truyền cho nghĩa quân hộ tống các tướng trong 3 thành trên dẫn quân về thành Đông Quan, để cùng về Trung Quốc.


Thành nhà Hồ (hay c̣n gọi là thành Tây Đô, thành An Tôn, thành Tây Kinh hay thành Tây Giai) là kinh đô nước Đại Ngu (quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ), nằm trên địa phận nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.


Chí Linh (hay Linh Sơn) là một ngọn núi thuộc huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa. Chí Linh là một ngọn núi cao, hiểm yếu bậc nhất ở thượng du sông Chu (nay thuộc xă Giao An, giữa Lang Chánh và Thường Xuân).
Bài quá dài, phải cắt bớt

Bài văn hội thề Đông Quan
Ghi rơ: năm Tuyên-đức thứ hai của nước Đại Minh là năm Đinh mùi tháng 11 ngày mồng 1 là ngày Ất dậu qua đến ngày 24 là ngày Mậu thân.

Tôi là đại đầu mục nước An-nam tên là Lê (Lợi) và bọn Trần Văn Hăn, Lê Nhân Chú, Lê Vấn, Trần Ngân, Trần Văn Xảo, Trần Bị, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Trần Lư, Phạm Bôi, Trần Văn An, Bế Khắc Thiệu, Ma Luân, cùng với:
Quan tổng binh của Thiên triều là thái tử thái bảo Thành-sơn hầu tên là Vương Thông, và các quan tham tướng hữu đô đốc là Mă Anh, Thái giám là Sơn Thọ, Mă Kỳ, Vinh xương bá là Trần Trí, Yên b́nh bá là Lư An, đô đốc là Phương Chính, Chương đô ti sự Đô đốc Thiêm sự là Thuế Lự, đô đốc thiêm sự là Trần Hựu, giám sát ngự sử là Châu Kỳ Hậu, Cấp sự trung là Quách Vĩnh Thanh, bố chính là Dặc Kiêm, tả tham chính là Thanh Quảng B́nh, hữu tham chính là Hồng Thừa Lương, hữu tham nghị là Lục Trinh, Án sát sứ là Dương Thời Tập, thiêm sự là Quách Hội.
Kính cáo Hoàng thiên (trời), Hậu thổ (Đất) cùng với Danh sơn (núi), Đại xuyên (Sông) và thần kỳ các xứ:
Chúng tôi cùng nhau phát tự ḷng thành, ước hẹn thề thốt với nhau:
Từ sau khi lập lời thế này, quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông quả tự ḷng thành, đúng theo lời bàn, đem quân về nước, không thể kéo dài năm tháng, để đợi viên binh đến nơi. Lại phải theo đúng sự lư trong bản tâu, đúng lời bán trước mà làm.
Bọn Lê (Lợi) chúng tôi nếu c̣n chứa giữ ḷng làm hại, tự làm việc lừa dối, không dẹp xa ngay quân lính ngựa voi, việc làm không đúng lời nói ngầm sai… Các việc nói trên tuy là không tự ḿnh làm lấy, lại chuyển sang người khác có xâm phạm đến một chút nào tức th́ Trời, Đất, thần minh, núi cao sông lớn, cho đến thần kỳ các xứ, tôi cùng con cháu thân của tôi, và người cả một nước tôi, giết chết hết cả, không để sót lại mống nào.
Về phía bọn quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông, nếu không có ḷng thực, lại tự trái lời thề (đối với việc) người phục dịch và các thuyền đă định rồi, cầu đập đường sá đă sửa rồi, mà không làm theo lời bàn, lập tức đem quân về nước, c̣n kéo dài năm tháng để đợi viên binh, cùng là ngày về đến triều đ́nh lại không theo sự lư trong bản tâu, không sợ thần linh núi sông ở nước An-nam lại bàn khác đi, hoặc cho quan quân đi qua đâu cướp bóc nhân dân, th́ Trời, Đất cùng là Danh sơn, Đại Xuyên và thần kỳ các xứ tất đem bọn quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông, tự bản thân cho đến cả nhà, thân thích, làm cho chết hết, và cả đến quan quân cũng không một người nào về được đến nhà.
Nếu mà cả hai bên đều do ḷng thành cả th́ Trời Đất thần minh đều phù hộ cho đến bản thân ḿnh mạnh khỏe, trong nhà ḿnh vinh thịnh, cùng hưởng lộc vị, đều được b́nh yên.
Trời, Đất thần ḱ cùng soi xét cho!


Diễn biến sau Hội thề Đông Quan

Vương Thông về đến Long Châu, vua Minh đă liệu trước bọn Vương Thông cùng quẫn, việc đă đến thế, không làm thế nào được nữa, đành sai bọn La Nhữ Kính mang thư sang phong Trần Cảo là An Nam Quốc Vương, băi bỏ quân nam chinh, ra lệnh cho Thông trở về Bắc, trả lại đất cho An Nam, việc triều cống theo lệ cũ năm Hồng Vũ, cho sứ thần đi lại.

https://s20.postimg.cc/k256rf3m5/Cho...in_Guangxi.png
Long Châu (tiếng Tráng: Lungzcou, chữ Hán giản thể: 龙州县, Hán Việt: Long Châu huyện, bính âm: Lóngzhōu Xiàn), là một huyện thuộc địa cấp thị Sùng Tả (崇左, Chóngzuǒ) của khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc.

Tổng cộng 10 vạn quân Minh đă được hồi hương an toàn. Tác phẩm B́nh Ngô đại cáo viết rằng:

Trang đầu tiên của bản B́nh Ngô đại cáo
“ ...Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể ḷng trời ta mở đường hiếu sinh
Mă Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mă Anh, phát cho vài ngh́n cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đă tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực ḷng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế ḱ diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay... ”

Dưới đây là danh sách các cống phẩm Lê Lợi gửi sang triều Minh cầu phong, chép theo sách Quân trung từ mệnh tập, thư cầu phong của Lê Lợi:
• Hai pho tượng người vàng người bạc thay cho bản thân để thân để tạ tội, cộng nặng 200 lạng.(1 pho vàng nặng 100 lạng; 1 pho tượng bạc nặng 100 lạng)
• Sản vật địa phương:Lương hương bạc 1 cỗ, B́nh cắm hoa bạc một đôi, cộng nặng 300 cân, Lụa thổ sản 300 tấm, Ngà voi 10 chiếc, Hương xông áo 20 bánh, cộng 130 cân; Hương nén 20.000 nén; Trầm hương, tốc hương 24 khối.
• Số người đầu mục tiến kinh: Đầu mục 4 người là: Lê Dĩnh, Lê Cảnh Quang Lê Đức Huy, Đặng Hậu Lộc. Người giúp việc 4 người là: Đỗ Thế Lănh, Lê Trạch, Đặng Lục, Tŕnh Nghiễm.

• Các hàng trả về:
Hai đài Song hổ phù của tổng binh quan An viễn hầu lĩnh chinh lỗ phó tướng quân.Một quả ấn bạc.
• Các quan và quân nhân: 13.587 viên danh,Quan coi quân: 280 viên, Quan coi dân và điển lại: 137 viên,
Kỳ quân: 13.170 viên danh; Ngựa: 1.200 con.

Số lượng vũ khí do Đại Việt thu được từ quân đội nhà Minh
Bài quá dài, phải cắt bớt

Nhận định
“ Bọn Vương Thông, Phương Chính đă kế cùng, đành giữ thành bền lũy chờ cứu viện. Lửa không nhóm tự cháy, quả nhiên Liễu Thăng từ bắc tiến sang giúp Hạ Kiệt làm càn. Lại thêm Mộc Thạnh từ phía tây cũng tới. Nực cười hai đạo viện binh, giơ càng bọ ngựa chống xe, há chẳng ngu sao! Huống chi lấy chí nhân đánh bọn bất nhân, giặc tất phải khiêng thây mà chịu trói. Thú cùng trong cũi, vẫy đuôi xin tha. Th́ rủ ḷng nhân mà mở lưới Thang, cho múa mộc để phô đức Thuấn. Cuối cùng tha cho mười vạn quân hàng, được toàn mạng mà về bắc. Bốn biển hân hoan chiêm ngưỡng, thỏa ḷng đă được hồi sinh. Phương xa mến đức sợ uy, chúc cống chăm lo hết phận. Ôi ! thịnh thay! ”
— Đại Việt sử kư toàn thư

• B́nh luận về việc Minh Tuyên tông ra lệnh băi binh ở Đại Việt, sử gia Trung Quốc là Cốc Vĩnh Thái viết trong Minh sử kỷ sự bản mạt:
Vương Thông lực yếu mà phải xin hoà, Liễu Thăng lại sang rồi bị thua chết. Sau đó lại xuống chiếu sai sứ sang giao hảo và rút quân về, nhục nhă thực bằng Tân, Trịnh hội thề dưới chân thành, hổ thẹn ngang với Kính Đường cắt đất giảng ḥa vậy"

Minh Tuyên Tông (chữ Hán: 明宣宗, 25 tháng 2, 1398 – 31 tháng 1, 1435), là vị hoàng đế thứ năm của triều đại nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông trị v́ từ năm 1425 đến 1435, tổng cộng 10 năm. Trong suốt thời đại của ḿnh, ông chỉ dùng 1 niên hiệu là Tuyên Đức (宣德), nên sử gia thường gọi ông là Tuyên Đức Đế (宣德帝).


Hậu Tấn Cao Tổ (30 tháng 3, 892[1] – 28 tháng 7, 942[3]), tên thật là Thạch Kính Đường (石敬瑭), là hoàng đế đầu tiên của triều Hậu Tấn, vương triều thứ 3 trong 5 vương triều Ngũ đại, thời Ngũ đại Thập quốc, trị v́ từ năm 936 đến khi ông mất.
• Thời nhà Trần, nước Đại Việt lần thứ 3 đánh bại quân Nguyên, trả tù binh về Nguyên, vua Trần theo kế của Trần Hưng Đạo. Lấy người thạo nghề đi biển, đục thuyền quân Nguyên trên đường về, khiến cho tướng Nguyên là Ô Mă Nhi chết đuối. Sử gia Ngô Th́ Sĩ so sánh việc này với việc làm của vua Lê Thái Tổ khi tha cho quân Minh b́nh yên trở về nước.
Chữ tín là quí báu nhất của nước; đă bảo cho về, lại c̣n dùng kế giết đi, quỷ quyệt như thế, thủ tín với lân bang sao được. Đến sau này vua Lê Thái Tổ cũng trả người Minh về nước, có người nói đến sự đục thuyền cho đắm. Vua không dùng: người Minh cũng không nghi ǵ. Như thế mới thật là Vương giả có đại tín.[20]