Page 47 of 49 FirstFirst ... 3743444546474849 LastLast
Results 461 to 470 of 481

Thread: Ngày này năm xưa

  1. #461
    Member vanthanhtrinh's Avatar
    Join Date
    28-01-2011
    Posts
    545
    [QUOTE=nguoi gia;255203]Góp nhặt buồn vui thời điêu linh (7/7)

    http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/...i-cai-tao.html
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/01...u-linh-77.html

    Tù cải tạo
    .....

    Tôi cũng là người nghiện thuốc nhưng chưa bao giờ hút thuốc lào, có thể v́ thành kiến với loại thuốc này nên có lúc dù thèm thuốc lá nhưng chưa bao giờ thử ‘phê’ thuốc lào. Theo Đào Duy Anh, cây thuốc lào có lẽ từ Lào (Ai Lao) du nhập vào Việt Nam nên mới có tên gọi như thế. Sách Vân Đài loại ngữ của Lê Quư Đôn và Đồng Khánh dư địa chí gọi cây thuốc lào là tương tư thảo, cỏ tương tư.

    Hút thuốc lào phải dùng điếu cầy là một ống tre, sang trọng hơn th́ dùng điếu bát với một ống nhỏ bằng trúc để hút khói được gọi là xe điếu. Trong cải tạo th́ chỉ có loại điếu cầy làm từ ống tre nhưng nhiều khi ‘vă’ quá, người ta có thể dùng lá chuối hoặc giấy cuộn lại, miệng ngậm một ngụm nước là có thể ‘phê’ ngay. Phê đến độ có ‘anh nuôi’ ngồi trước chảo nấu cơm, hút một ‘bi’ thuốc xong rồi cứ thế đâm đầu vào bếp lửa trong cơn say thuốc.....

    ...Không chắc lắm.Chúng tôi có ở chung với một số Biệt kích Vàng Pao,BK Lào.Họ gọi thuốc lào là "Quắn Keo":Thuốc Việt.Người Việt th́ gọi lả Thuốc Lào.Không biết tại sao.Vă lại thuốc Lào chỉ trồng được và nổi tiếng ở vùng Tiên lăng Hải Pḥng.Sau này dân Băc di cư có đem giống thuốc Lào vô trồng ở Cái Sắn,Rạch Giá.Thuốc lào Cái Sắn cũng say lắm nhưng mà nó đen chứ không vàng và không phê bắng thuốc lào Tiên Lăng.

  2. #462
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    824
    Không chốn dung thân (1/2)

    http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/...ng-than-1.html
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/01...hinhhoiuc.html


    Truyện ngắn

    Hắn cầm trong tay tờ giấy khổ A4 mang tiêu đề Quyết Định của Bộ tư lệnh Quân khu 7. Phần trên của Quyết Định có 3 gạch ngang đầu ḍng:

    - Thực hiện chính sách khoan hồng của Chính phủ nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam đối với sĩ quan, hạ sĩ quan thuộc chế độ cũ đang học tập ở các trại tập trung.

    - Xét tinh thần học tập trong quá tŕnh cải huấn biết ăn năn hối cải và phấn đấu tốt.

    - Xét đề nghị của đơn vị trực tiếp quản lư và hội đồng xét duyệt quân khu.

    Sau 3 khúc gạch đầu ḍng, Quyết Định đưa ra 3 điều:

    Điều 1. Cho ____ sinh ___
    Cấp ____ số lính ___
    Chức ¬¬___ của chế độ cũ học tập tập trung tại hộp thư 7590 L1T5.

    Phải đến tŕnh diện Công an Phường (xă), Quận (Huyện) địa phương nơi cư ngụ. Số ___, khóm ___, Phường ___ , Đà Lạt.

    Điều 2.

    Khi trở về địa phương hoặc các ngành, đơn vị nhận xử dụng phải chấp hành tốt mọi quy định về luật pháp và sự quản chế của chính quyền cơ sở địa phương hoặc đơn vị nhận xử dụng. Thời gian quản chế Sáu tháng, sau thời gian đó nếu được chính quyền địa phương hoặc cơ quan đơn vị xác nhận là tiến bộ và được chính quyền nơi cư trú đồng ư th́ sẽ được chính thức khôi phục quyền công dân.

    Điều 3.

    Pḥng quản huấn, Ban chỉ huy Trại quản huấn trực tiếp quản lư đối tượng và đương sự chiếu quyết định thi hành.

    Quyết Định do Thiếu tướng Đào Sơn Tây thuộc Bộ tư lệnh Quân khu 7 kư ngày 15 tháng 9 năm 1978 và phía bên trái là ḍng chữ “Sao y ngày 15/9/1978, Bộ tư lệnh Đoàn Là Ngà, Trung tá Nguyễn Trọng Phu”.

    Cuối cùng là đọan
    Ghi Chú: “Giấy này không có giá trị đi đường. Trong thời gian quản chế việc quy định bao nhiêu ngày tŕnh diện 1 lần do chính quyền địa phương từng xă, phường quy định”.

    ***

    Cầm Quyết Định trong tay, hắn thấy vui-buồn lẫn lộn. Vui v́ đă ra trại cải tạo sau gần 3 năm học tập khổ ải nhưng cũng buồn v́ không biết tương lai cuộc đời ḿnh sẽ đi về đâu. Vợ con đang ở Sài G̣n, có sổ gia đ́nh của chế độ cũ hẳn hoi, thế mà lại phải đến tŕnh diện công an thành phố Đà Lạt để được xum họp với... bố mẹ. Thôi kệ, hăy cứ về Sài G̣n cái đă.

    Sài G̣n năm 1978 đă thay đổi nhiều quá. Đó là sự đổi thay từ con người đến khung cảnh xung quanh. Sài G̣n với hơn ba triệu dân trước 75 nay có lẽ chỉ c̣n hơn 2 triệu. Một số gia đ́nh ‘ngụy’ đă được chính quyền cách mạng, nửa đe dọa nửa khuyến khích, đi lập nghiệp tại các vùng kinh tế mới nếu không có việc làm ổn định. Có những gia đ́nh từ kinh tế mới không sống nổi nên về lại Sài G̣n, nhà cửa không c̣n nên t́m chỗ định cư tại những mái hiên, gầm cầu.

    Người Sài G̣n giờ chỉ đi dép chứ không c̣n thấy giày. Thanh niên th́ áo bỏ ngoài quần, xuề x̣a sao cho giống như những cán bộ cách mạng từ miền Bắc mới vào. Phụ nữ chỉ có áo bà ba, phần lớn được ‘cải tạo’ từ chiếc áo dài ngày xưa. Đổi đời rồi nên những chiếc áo dài tự nhiên phải biến mất. Không c̣n những móng tay sơn đỏ, không c̣n giày cao gót, không c̣n jupe serê và cũng biến mất hẳn những chiếc mini jupe. Phụ nữ ra đường không cần son phấn, làm đẹp cho ai khi chồng của họ vẫn c̣n tập trung cải tạo, đẹp để làm ǵ khi cố gắng vất vưởng qua ngày, đoạn tháng.

    Buổi sáng ra đường gặp nhiều người mang túi vải để đựng lon Guigoz cơm và lon đồ ăn. Họ là những công nhân nhà máy, lao động phổ thông và cũng có cả cánh chợ trời chuyên chặn khách đi đường với câu quen thuộc: “Có ǵ bán không anh?”.

    Sài G̣n gần như trở thành một thành phố của những người mang túi vải, nếu trong tay có thêm một cái gậy nữa th́ người Sài G̣n trở thành... cái bang, đệ tử trung thành của vua ăn mày Hồng Thất Công trong truyện Kim Dung!

    Xe Honda ít hẳn đi. Lớp th́ ‘trùm mền’ nằm trong nhà v́ khó kiếm xăng, lớp th́ cán bộ mua để đem ra Bắc. Cũng v́ thiếu xăng, một số xe chuyên chở hành khách được cải tạo... chạy bằng than với nồi hơi hừng hực lửa than gắn ở phía đuôi xe. Đề tài ‘tiến-bộ-khoa-học-kỹ-thuật’ này khiến cho xe đang chạy từ 70 đến 90 km mỗi giờ xuống c̣n khoảng 20 đến 35 km. Bên cạnh đó, xe ‘cải tạo’ c̣n có tiếng động cơ gầm thét, bỏ lại sau lưng khói bụi và cả những cục than đỏ hồng trên mặt đường. Hành khách mặt mày nhem nhuốc v́ bụi than, lại c̣n phải xuống xe đẩy phụ mỗi khi xe chết máy. Hoạt cảnh hành khách ḥ nhau đẩy xe chẳng khác nào... ḥ kéo pháo của bộ đội trên chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954!

    Sài G̣n đang thực hiện chủ trương ‘công-tư-hợp-doanh’. Các loại xe đ̣ chạy đường dài đều trở thành thành viên của công ty vận tải hợp doanh do các quan chức nhà nước nắm quyền điều hành. Chủ xe dùng xe của ḿnh để góp vốn vào công ty. Mỗi chiếc xe góp vốn được nhà nước định giá một cách tùy tiện, có khi chỉ bằng 5 hay 10% giá thực tế.

    Phần tài sản đóng góp lại được công ty ‘quốc-hữu-hóa’ dưới h́nh thức mà các thành viên diễn tả bằng một câu thật ư nhị: ‘mua chịu, trả dần, mỗi lần một ít’. Thế cho nên, có chủ xe dù không c̣n là thành viên công ty, thậm chí đă qua đời, mà công ty vẫn chưa thanh toán hết tiền mua xe. Dù có được thanh toán hết th́ số tiền đó cũng chỉ đủ mua một chiếc ‘xô-xích-le’, tiếng lóng để chỉ xe xích lô.

    ***

    Ngày lên Đà Lạt tŕnh diện hắn phải ra bến xe Lê Hồng Phong chầu chực xếp hàng từ 4 giờ sáng nhưng vẫn không mua được vé xe đ̣. Hôm sau, rút kinh nghiệm nên khôn ra: 3 giờ sáng đă có mặt, lấy một cục gạch để xí chỗ trong khi ngồi ngủ bù giữa trời khuya. May qúa, cuối cùng cũng có được một chỗ trên xe ‘cải tạo’ chạy bằng than để về Đà Lạt. Hắn mỉm cười một ḿnh, chiếc xe ‘cải tạo’ chở anh chàng cũng vừa tốt nghiệp cải tạo để lại vợ con ở Sài G̣n lên Đà Lạt xum họp với bố mẹ. Cuộc đời thật nhiều oái ăm...

    Đà Lạt mộng mơ ngày nào giờ th́ chẳng có ǵ để mơ mộng. Người ta chỉ nghĩ đến cái thiết thực nhất: miếng cơm manh áo. Đà Lạt nay thật sự là của người Đà Lạt v́ khách du lịch ngày nào đă biến mất. Tất cả mọi người đều lo ‘cơm, áo, gạo, tiền’, th́ giờ đâu cho những chuyến du lịch lên ‘xứ lạnh’ Đà Lạt cách ‘xứ nóng’ Sài G̣n có 305 km. Du lịch đă trở thành chuyện xa xỉ trong bối cảnh thiếu ăn.

    Đồi Cù thơ mộng ngày nào nay chỉ là băi thả ngựa, thả ḅ. Thung lũng T́nh yêu không c̣n là nơi hẹn ḥ yêu đương. Vườn Bích câu cỏ mọc nhiều hơn hoa. Hồ Than Thở cũng chẳng ai ngó ngàng đến v́ người dân Đà Lạt chỉ biết than thở trong nhà, cần ǵ ra đấy... Sân vườn của các biệt thự sang trọng giờ được cải tiến thành vườn rau của những cán bộ được nhà nước cấp nhà, cấp đất.

    Rạp ciné Ḥa B́nh nay đă đổi tên thành ‘Rạp chiếu bóng 3-4’ để kỷ niệm ngày thành phố Đà Lạt đổi đời: 3-4-1975. Trên tháp cao của rạp hát mang ḍng chữ: “Nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam Muôn năm”. Trường Lycée Yersin đă âm thầm đổi tên. Trường Trần Hưng Đạo (Bảo Long) xưa kia chỉ dành cho nam sinh, Bùi Thị Xuân (Phương Mai) cho nữ sinh, giờ th́ trộn lẫn, âm dương đuề huề.

    Cà phê Tùng, có mặt tại Đà Lạt từ hơn nửa thế kỷ, vẫn c̣n đó nhưng không c̣n mang âm hưởng tiếng nhạc êm dịu như ngày nào, thay vào đó là những bản nhạc ‘đỏ’ hừng hực không khí chiến tranh ‘hào hùng’ của cuộc chiến đă qua. Người ta có thể nghe lọai nhạc-t́nh-đỏ như “Cùng mắc vơng trên rừng Trường Sơn, hai đứa ở hai đầu xa thẳm...”.

    Cà phê Tùng và ‘Bastos xanh’ một thời đă gắn bó với cuộc đời học sinh rồi sinh viên của hắn. Dạo đó, bên cạnh nhạc cổ điển và nhạc trữ t́nh Việt Nam, cứ hàng tuần vào ngày Thứ Năm chú Tùng cho nghe nhạc Pháp qua giọng của Francoise Hardy, Sylvie Vartan... Hắn và lũ bạn thích ngồi Tùng một phần v́ khoái được ngắm các cô Bùi Thị Xuân trên đường dẫn vào khu Ḥa B́nh. Buổi tối, nếu may mắn c̣n bàn ngoài balcon th́ thật thú vị, trong cái lạnh se sắt của Đà Lạt được ngồi ngắm thành phố ch́m trong màn sương...

    Về Đà Lạt tŕnh diện hắn phải ăm bám theo bố mẹ v́ không có tên trong sổ hộ khẩu nên không đủ tiêu chuẩn lương thực. Tiêu chuẩn gạo, trên lư thuyết, mỗi người mỗi tháng được mua 13kg gạo ‘mậu dịch’ do cửa hàng lương thực phường bán ra theo ‘sổ gạo’ cấp theo đầu người. ‘Sổ gạo’ đă đi vào ngôn ngữ hàng ngày. Người ta thường ví von: ‘Mặt trông rầu như mất... sổ gạo’.

    Trên thực tế chỉ mua được từ 3 đến tối đa 5kg gạo, phần c̣n lại được quy đổi sang các lọai lương thực phụ như hạt bo bo cứng như đá, bột ḿ Liên Xô viện trợ, ḿ sợi vụn, khoai lang sùng, khoai ḿ chạy chỉ...

    Ai sinh ra cái củ ḿ?
    Hỏi: Để làm ǵ? Đáp: Để mà ăn!
    Nước nhà măi măi khó khăn
    Dân ḿnh măi măi phải ăn củ ḿ


    Gạo hẩm th́ ướp đủ thứ mùi: từ mùi mốc cho đến mùi... cứt gián, lại thường trộn lẫn với thóc, bông cỏ và những hạt sạn, có hạt to bằng hột bắp. Người ta bảo đó là lọai gạo được chôn dấu từ bưng biền để nuôi bộ đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nay đă thắng Mỹ nên đem ra cung cấp cho dân!

    Chỉ tiêu mỗi tháng một hộ có thể mua 2kg thịt, thường được chia làm hai hay ba đợt. Tiếng là ‘mua’ nhưng thực tế là ‘xin’ v́ người ta tranh nhau, có ǵ mua nấy. Tiếng là thịt nhưng chỉ ṭan bạc nhạc, mỡ vụn, xương xẩu. Có người tự hỏi, thế c̣n những phần ngon biến đâu hết? Xin thưa cứ ra chợ trời, t́m ǵ cũng có.

    Cán bộ mậu dịch thường tuồn hàng ra ngoài thị trường tự do với giá cắt cổ để hưởng chênh lệch. Không ít người trong số họ chỉ sau vài năm phục vụ trong ngành thương nghiệp đă trở thành ‘tư-sản-đỏ’. Để vào được ngành này, họ phải hối lộ cấp trên, chạy chức, chạy quyền. Đến một lúc nào đó, người ta bỗng thấy xă hội biến thành hai cực rơ ràng: kẻ thống trị và người bị trị.

    Cuộc sống mới đă manh nha mầm mống tiêu cực, điển h́nh nhất là những phong b́ hối lộ:

    Phong lan, phong chức, phong b́
    Trong ba thứ ấy, thứ ǵ quư hơn?
    Phong lan ngắm măi cũng buồn
    Phong chức th́ phải cúi luồn vào ra
    Chỉ c̣n cái phong thứ ba
    Mở ra thơm nức, cả nhà cùng vui


    Ngay tại các cơ quan nhà nước cũng chỉ đủ thịt cung cấp theo tiêu chuẩn cho khoảng 2/3 số công nhân viên chức. Cũng v́ thế phải tổ chức bắt thăm xem ai... trúng thịt. Nhân viên phụ trách ‘tiếp phẩm’ là người chỉ chịu đứng sau Ban lănh đạo cơ quan về mặt quyền lực. Họ có thể cân thiếu nhưng chẳng ai dám lên tiếng trong cái xă hội được mỉa mai là “mua như cướp, bán như cho”. Những ngày lănh thịt, cả khu tập thể công nhân nhà máy vui như Tết nhưng cũng có những gia đ́nh buồn như đi đưa đám chỉ v́ không được trúng thăm lănh thịt.

    Công nhân viên chức c̣n được hưởng tiêu chuẩn cấp phát: từ chất đốt (than, củi, dầu lửa), vải vóc đến xà pḥng, bột ngọt, kim chỉ theo chế độ tem phiếu. Có gia đ́nh liên tục mấy tháng chỉ toàn lĩnh vải của các cơ sở sản xuất quốc doanh mà chẳng thấy bóng dáng xà pḥng. Có nhà toàn nữ nhưng lại được lĩnh tiêu chuẩn quần đùi, áo may-ô và dao cạo râu. Có người đă làm thơ ‘lảy’ Kiều:

    Bắt phanh trần phải phanh trần
    Cho may-ô mới được phần may-ô


    Thiếu tiền mặt, cơ quan thường trả lương bằng sản phẩm. Thường th́ làm ở cơ quan nào th́ được hưởng lương theo sản phẩm của cơ quan đó: sản xuất cao su th́ được lĩnh cao su. Không hiểu nếu cơ quan làm ra... bao cao su th́ nhân viên dùng sao cho hết ông đại sứ “Cabốt Lốt”. Tiền lương của công nhân được thể hiện qua 4 câu thơ, đọc lên thật thấm thía:

    Lương chồng, lương vợ, lương con
    Đi ba buổi chợ chỉ c̣n... lương tâm
    Lương tâm đem chặt ra hầm
    Với rau muống luộc khen thầm là ngon


    ***

    Con chim bị ná nên đậu cành nào cũng ngơm ngớp lo sợ. Hắn lên tới Đà Lạt, việc đầu tiên là vội vàng đến tŕnh diện công an phường cho hợp pháp. Anh công an phường nói giọng miền Nam, chắc hẳn là ‘du kích đổi đời’ hay không biết chừng lại là “Ông-Ba- Mươi”.

    Thanh niên miền Nam có một số đang từ ‘xanh’ bỗng hóa ‘đỏ’. Ngày 30/4 họ xuất hiện với chiếc băng đỏ trên tay với nhiệm vụ, không biết ai giao, điều khiển giao thông, giữ ǵn an ninh trật tự. Về sau, chính quyền sàng lọc số thanh niên băng đỏ này để ‘bồi dưỡng’ trở thành... cán bộ cách mạng tại chỗ. Và dĩ nhiên, lớp thanh niên này c̣n ‘đỏ’ hơn cả những bôn-sê-vích thứ thiệt.

    - Trước đây anh làm ǵ?
    - Tôi dạy học ở Trường sinh ngữ quân đội Sài G̣n.
    - Bây giờ phải gọi là thành phố Hồ Chí Minh – Anh công an ‘sửa lưng’ hắn – Dạy học mà cũng lên tới cấp Trung úy hả.
    - Trong quân đội cứ đủ ngày đủ tháng là lên lon thôi.
    - Anh đă có gia đ́nh chưa?
    - Một vợ bốn con, tất cả đều sống tại Sài G̣n.

    Anh công an nhíu mày, có thể v́ thấy đă hơn một lần sửa lưng hai chữ Sài G̣n mà đương sự vẫn chưa thuộc bài.
    - Vợ con ở thành phố Hồ Chí Minh sao lại về Đà Lạt với bố mẹ?

    Câu hỏi như cởi mở tấm ḷng, hắn vội vàng lên tiếng:
    - Tôi cũng không hiểu tại sao trong Quyết định lại nói về Đà Lạt.

    Sau vài giây suy nghĩ, anh công an giải quyết vấn đề một cách nhậm lẹ:
    - Đà Lạt không nhận anh v́ anh có gia đ́nh ở thành phố Hồ Chí Minh.

    Hắn thấy đă được găi đúng chỗ ngứa nên cầm Quyết định... rút lui có trật tự. Bỏ lại sau lưng thành phố Đà Lạt với đầy ắp kỷ niệm thời niên thiếu, hắn lại khăn gói trở về Sài G̣n. Hắn bỗng thấy ḿnh trở thành một kẻ lưu lạc trên chính đất nước Việt Nam. Hắn nhận ra rằng ḿnh chỉ là kẻ đứng bên lề xă hội mới: không hộ khẩu, không quyền công dân và trước mắt là không quyền hưởng chế độ lương thực hàng ngày chứ nói chi đến những nhu yếu phẩm...

    Một lần nữa lại lên cửa quan. Về Sài G̣n, hắn tŕnh diện công an phường nơi vợ con đăng kư hộ khẩu. Công an phường không giải quyết, bảo phải lên Công an Quận, nơi này lại đá trái banh lên Công an Thành phố. Tại đây, họ bảo Quyết định cho về Đà Lạt th́ cứ về, nếu như trên ấy không nhận th́ phải có lư do bằng văn bản.

    Trong ṿng một tuần lễ, hắn lại ṃ về Đà Lạt lần thứ hai. Bầu không khí tại trụ sở công an phường trong buổi làm việc lần thứ hai có vẻ cởi mở hơn sau khi hắn đă ‘biết khôn’: sai em gái mang cây thuốc ba số 5 đến nhà công an bằng cửa sau. Hắn tŕnh bày với anh công an phường:

    - Tôi đă về Sài G̣n, à quên, thành phố Hồ Chí Minh. Họ bảo nếu Đà Lạt không nhận th́ phải giải thích lư do bằng văn bản...

    Anh cán bộ trẻ bỗng dưng sốt sắng:
    - Được, tôi ghi ngay trên Quyết định của anh.

    Thế là mặt sau của Quyết định ghi thêm: “Quyết định cho anh... về Đà Lạt với bố mẹ là không hợp lư v́ đương sự có vợ con đăng kư hộ khẩu thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh”. Bên dưới là chữ kư và con dấu đỏ chót của công an Đà Lạt.

    Giă từ Đà Lạt lần này hắn mang tâm trạng của một kẻ phải rời xa quê hương nơi có cha mẹ và anh em sinh sống. Không biết đến bao giờ mới được gặp lại. Thời buổi kinh tế khó khăn, việc đi lại tốn kém, nhiêu khê, kẻ ra đi luôn mang ư nghĩ ‘một đi không trở lại’.

    Giă từ mái trường Trần Hưng Đạo nơi có bao kỷ niệm của thời học tṛ. Ngày xưa, thằng MTT, bạn cùng lớp với hắn, bỗng dưng trở thành người nổi tiếng cả nước qua truyện Ṿng tay học tṛ của NTH. Nó và cô giáo H. yêu nhau và kết qủa là họ có một đứa con ra đời khi ông-bố-trẻ vẫn c̣n mài đũng quần ở trường trung học! Ṿng tay học tṛ là tiểu thuyết mà cách mạng đánh giá thuộc loại “văn chương đồi trụy dưới thời Mỹ-Ngụy”.

    TCP, bạn học cùng lớp, người Việt gốc Chàm ở Ninh Thuận, trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng vào thập niên 60-70 với những bản nhạc t́nh ướt át. Ngày c̣n đi học, P. và hắn tham gia ban nhạc trường Trần Hưng Đạo, chính vào thời điểm này những bài Bây giờ tháng mấy, Mùa thu mây ngàn của P. được ban nhạc trường lăng xê trong một đại nhạc hội bằng giọng hát của chính tác gỉa. Rồi đài phát thanh Đà Lạt ghi âm, phổ biến bài hát trên sóng. Đến khi P. về Sài G̣n phút chốc bỗng nổi tiếng khắp miền Nam. Có lần gặp lại P. ở Sài G̣n hắn hỏi kháy: Bây giờ mấy tháng rồi hỡi em?

    Tất cả chỉ c̣n là kỷ niệm của một thời đi học. Giờ th́ xin giă biệt thành phố mộng mơ, giă biệt những buổi chiều lang thang t́m hái hoa dại với người yêu học tṛ trong Vallée d’Amour, giă biệt những đêm không ngủ, phóng xe máy Puch chỉ để... đếm cột đèn quanh hồ Xuân Hương...

    Giă từ căn nhà nơi hắn trải qua thời thơ ấu. Căn nhà nằm trên con đường Lê Thái Tổ, sau này đổi là Hùng Vương. Đà Lạt có con đường Trần Hưng Đạo nổi tiếng với những biệt thự đẹp nhất thành phố. Điểm nối tiếp giữa Trần Hưng Đạo và Lê Thái Tổ là ‘Xóm Bà Thái’, phát âm nghe như ‘Summer time’, là chốn ăn chơi do chị em ta kinh doanh nghề không vốn. Đối diện với xóm ăn chơi là gara sửa xe hơi mang tên Mẹc-ti-nét.

    Đi hết con dốc Lê Thái Tổ sẽ gặp một ngă ba, một đường dẫn đến Trại Mát và một đường xuống Trại Hầm nổi tiếng với trái mận Đà Lạt. Ai đó cũng khéo đặt những cái tên tương phản giữa Trại Mát và Trại Hầm!

    Từ căn nhà trên đường Lê Thái Tổ có thể nh́n thấy những chuyến xe lửa từ Đà Lạt đi Tháp Chàm vào khoảng 7 giờ sáng, đến 4 giờ chiều lại có chuyến về từ phía bên kia thung lũng. Chiều chiều hắn và bọn trẻ ngưng mọi cuộc chơi để vẫy tay chào mừng khách đi tàu lên Đà Lạt. Đôi khi cũng có những cái vẫy tay đáp lại từ phía bên kia nhưng xa quá nên chẳng thấy mặt người. Một kỷ niệm khó quên của thời thơ ấu...

    (C̣n tiếp)

    (Trích Hồi Ức Một Đời Người)

    ***

    16 Comments on Multiply

    [color=redBài quá dài, phải cắt bớt[/color]

  3. #463
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    824
    Không chốn dung thân (2/2)

    http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/...ng-than-2.html
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/01...hinhhoiuc.html

    Không chốn dung thân
    Truyện ngắn

    (Tiếp theo)

    Hắn thất vọng vô cùng khi rời trụ sở công an thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này trên mặt sau của tờ Quyết định đă có thêm ư kiến: “Không giải quyết cho đương sự được đăng kư hộ khẩu với vợ con v́ thành phố Hồ Chí Minh đang có kế họach giăn dân”.

    Cả một tương lại u ám hiện lên trước mắt. Không hộ khẩu đồng nghĩa với một cuộc sống bất hợp pháp và có thể bị bắt bất cứ lúc nào, nhất là vào thời gian ‘cao điểm’ như Quốc khánh 2/9, sinh nhật Bác Hồ 19/5 và một lô những ngày kỷ niệm như Cách mạng tháng tám, Chiến thắng Điện Biên Phủ... Đó là thời điểm chính quyền tăng cường kiểm tra hộ khẩu vào ban đêm, truy lùng những phần tử chống đối cách mạng nhằm bảo vệ an ninh cho những ngày lễ lớn.

    Hắn thuộc lọai ở ‘lậu’ trong gia đ́nh vợ con v́ ngay cả giấy tờ tạm trú cũng không có. Nhiều lúc hắn tự đánh giá ḿnh c̣n thua xa đám x́ ke ma túy, đĩ điếm đang lộng hành trong xóm. Tuy thuộc thành phần bất hảo nhưng họ vẫn có quyền công dân, vẫn có hộ khẩu, vẫn có sổ gạo, chỉ có hắn là ‘không-mảnh-giấy-lận-lưng’. Hắn không phải là công dân, dù chỉ là phó-thường-dân hạng bét trong cái xă hội đổi đời này.

    Tuy nhiên, khát vọng ‘được-sống-b́nh-thường’ lúc nào cũng nung nấu trong ḷng. Điều phải làm trước mắt là kiếm được một việc làm để xung quanh không ḍm ngó. Cuối cùng, qua giới thiệu của bạn bè, hắm t́m được chân ‘lao động phổ thông’ trong một tổ hợp xây dựng. Đă ‘tốt nghiệp cải tạo’ nên hắn rất thấm nhuần tư tưởng ‘lao động là vinh quang, lang thang là chết đói và... phản động là vô tù’.

    ‘Lao động phổ thông’ là một danh xưng rất kêu nhưng thực chất chỉ là chân sai vặt. Ngay đến cả anh phụ hồ cũng có quyền sai: lấy cái ki, xúc đống xà bần đi, chuyển đống gạch này ra đằng kia... Mấy hôm đầu đi làm lao động phổ thông hắn bị quần tơi tả, làm bù đầu, toát mồ hôi mà vẫn không hết việc. Cũng may, xếp của toán ‘lao động phổ thông’ trước đây là lính không quân, đi học tập tại chỗ có 3 ngày, nên khi biết hắn là sĩ quan cải tạo ‘mới-ra-trường’ nên ưu ái dành cho ‘trung úy’ một công việc cố định: đập gạch.

    Những viên gạch bông lót nền nhà cũ được đào lên và công việc của hắn là dùng búa đập nhỏ để sử dụng thay cho đá dăm khi đổ bê-tông. “Cái khó nó không bó cái khôn’, bằng chứng là người ta sáng tạo gạch vụn thay đá dăm. Giữa t́nh h́nh khó khăn, người ta thậm chí c̣n sáng tạo cách đổ ‘bê-tông cốt tre’ thay cho ‘bê-tông cốt thép’...

    Công trường xây dựng hắn làm việc ở ngay góc đường Nguyễn Du-Thủ Khoa Huân, đó là một ṭa nhà 8 tầng thuộc Công ty Thép miền Nam. Sau này, mỗi khi đi ngang, ngước nh́n ṭa nhà sừng sững hắn vẫn tự hào là người trét mát-tít toàn bộ cửa kính ṭa nhà sau khi công tŕnh không c̣n cần đến gạch để đổ bê-tông! Người lao động phổ thông cũng có những tự hào riêng của họ.


    Một bà chị họ thấy em út làm lao động phổ thông vất vả quá nên đề nghị hắn vào chợ B́nh Tây trông hàng cho bà. Cuộc đời hắn lại bước sang một ngă rẽ bất ngờ khác. Giờ th́ được lên chức ‘anh trông hàng’ sau khi từ gĩa chân sai vặt tại công tŕnh xây dựng.

    Chợ B́nh Tây được một người Hoa – Quách Đàm – xây dựng vào năm 1928. Quách Đàm xuất thân nghèo khổ, làm nghề mua bán ve chai, sau đó đổi sang các nghề mua bán da trâu, vi cá và bong bóng cá. Khi đă có chút vốn, Quách Đàm bước vào nghề mua bán lúa gạo và trở nên giàu có với hăng buôn Thông Hiệp.

    Giữa nhà lồng chợ B́nh Tây có vườn hoa phun nước và Quách Đàm cho đặt một bức tượng của ḿnh bằng đồng với kích thước như người thật, xung quanh có 4 con sư tử cũng bằng đồng. Sau 30/4, bức tượng bị ‘hạ bệ’ và thay vào đó là một bàn thờ bằng kính để bạn hàng thắp nhang cầu ‘mua may, bán đắt’.

    Chợ B́nh Tây là đầu mối xuất hàng từ Chợ Lớn đi các tỉnh miền Tây. Việc mua bán giữa các bạn hàng chủ yếu dựa trên chữ tín, chẳng cần hoá đơn phức tạp, không cần chữ kư rườm rà mà chỉ là cuốn sổ để ghi hàng nhận và giao. Khách hàng ở tận miền Trung hay miền Tây chỉ cần gởi giấy yêu cầu cho một người quen mang tới là hàng hóa giao đến tận nơi. Ngược lại, đối với các chủ sạp, việc quan hệ với nhà phân phối cũng diễn ra dưới h́nh thức ‘gối đầu’ hoặc kư gởi hàng để hưởng hoa hồng.

    Hàng ngày chợ nhộn nhịp mua bán, hàng được đóng thành những gói nhỏ để dễ tẩu tán khi qua các trạm kiểm soát. Tất cả những lọai hàng không qua tay ngành thương nghiệp đều được coi là hàng lậu. Chính v́ thế, hầu như chủ hàng trên đường di chuyển đều được xếp vào lọai ‘con phe’, một từ mới chỉ dân buôn lậu. Công an, thuế vụ, quản lư thị trường có thể kiểm tra túi, thúng, bao, sọt của bất kỳ người nào khả nghi và bất kỳ ở đâu. Ở nhiều nơi, chỉ một đọan đường vài cây số các địa phương có thể đặt gần chục trạm kiểm soát hàng hóa. Sau này, nhà nước phải nh́n nhận hiện tượng ‘ngăn sông, cấm chợ’ là một trong những chính sách sai lầm của chính quyền cách mạng.

    Để đối phó với những trạm kiểm soát, dân buôn cũng sáng tạo ra 1001 cách qua mặt. Buôn nhỏ th́ mặc quần 2 lớp để đựng gạo đem từ miền Tây về Sài G̣n. Buôn thịt th́ đắp thịt heo quanh người, thậm chí c̣n giả làm đàn bà chửa, để vượt trạm. ‘Mánh’ độc đáo nhất là một con heo sau khi làm thịt được vận chuyển bằng cách giả làm người ngồi hai chân dạng sang hai bên, áo mưa trùm kín và trên đầu đội thêm cái nón để qua trạm kiểm soát...

    Từ ngày lên chợ B́nh Tây trông hàng cho bà chị họ, cuộc sống của hắn và gia đ́nh có vẻ khá hơn trước. Bữa cơm trưa tại chợ có phần ‘chất lượng’ hơn, chiều về bà chị c̣n san sẻ ít thịt để “thím nó và các cháu thêm chút bồi dưỡng”. Tuy nhiên, hắn vẫn cảm thấy có ǵ không ổn trong tiến tŕnh đổi đời từ một giảng viên rớt xuống anh trông hàng mgoài chợ... Dù cuộc sống ở chợ có phần dễ thở hơn nhưng hắn muốn tự lập, tự thân làm một việc ǵ đó bằng chính sức lực của ḿnh chứ không thể suốt ngày dơ ‘bộ-mặt-mốc’ đứng trông hàng.

    Trong thời gian ngồi chợ B́nh Tây, hắn làm quen với một cơ sở làm bếp ḷ dầu hôi trong Chợ Lớn, vốn là bạn hàng cung cấp sản phẩm cho cửa hàng của bà chị. Ông chủ là người Hoa, vui tính và rất thông cảm với người đi cải tạo về. Sản phẩm của ‘x́ thẩu’ là họng ḷ dầu hôi, h́nh tṛn có khoảng 12 tim nối b́nh chứa dầu hôi với miệng ḷ. Ngoài ra c̣n có những linh kiện như ống lon úp ngược lên miệng ḷ và một chụp ḷ có đục lỗ thông hơi giúp ngọn lửa lên thẳng miệng ḷ. Dầu lửa là một nhu yếu phẩm thuộc nhón chất đốt do nhà nước bán theo tiêu chuẩn nên ḷ dầu hôi khá phổ biến với các bà nội trợ v́ sạch sẽ và tiện lợi hơn ḷ dùng than hay củi.

    Thời thế tạo anh hùng, dù chỉ là ‘anh hùng’ trong việc bỏ mối họng ḷ dầu hôi. Với chiếc xe đạp mini mượn của một bà cô, hằng ngày hắn rong ruổi đạp xe đến các chợ để bỏ mối họng ḷ. Hắn lên một lộ tŕnh thật ‘khoa học’ để sao cho các mối hàng được ghé mỗi tuần. Gần như mọi chợ ở Sài G̣n đều có vết chân hắn: mới đầu là các chợ nhỏ như chợ Ông Tạ, chợ Lăng Cha Cả, chợ Phú Nhuận, chợ Thiếc, chợ Ḥa Hưng, chợ G̣ Vấp, chợ Quang Trung, chợ Xóm Chiếu, chợ Đa Kao, chợ Thái B́nh, chợ Bàn Cờ, chợ Thị Nghè rồi lan rộng đến các chợ có tầm vóc hơn như chợ Bà Chiểu, chợ Tân Định, chợ Bến Thành.

    Hằng ngày, nắng cũng như mưa, hắn rong ruổi trên chiếc xe đạp mini đến khắp các chợ. Trên ghi đông và yên sau xe treo lủng lẳng họng ḷ, ống bơ, chụp ḷ để ‘tiếp thị’ các bạn hàng. Những lần tiếp xúc đầu tiên các bà chủ xạp có phần ngạc nhiên khi anh chàng ‘thầy chẳng ra thầy, thợ chẳng ra thợ’ đến bắt mối. Giải thích với các bà chủ xạp là ít vốn nên hắn chỉ ‘mua đứt, bán đọan’ chứ không thể ‘gối đầu’, các bà cũng thông cảm, hơn nữa không phải mất công vào tận Chợ Lớn lấy hàng.

    Sáng sớm hắn đi xe buưt đến nhà bà cô gần chợ Thái B́nh mượn xe đạp rồi đạp thẳng vào Chợ Lớn lấy hàng. Từ đó hắn tỏa đi khắp các chợ theo một lộ tŕnh đă sắp xếp trước. Chiều về bà cô trả xe, đi bộ ra chợ Bến Thành rồi từ đó đón xe buưt Lăng Cha Cả về đến nhà. Cứ thế, cuộc đổi đời diễn ra một cách trầm lặng.

    ***

    Cuối thập niên 70 người Sài G̣n âm thầm vượt biên. Bạn bè chừng một tuần không thấy mặt là người ta nghĩ ngay đến những chuyến vượt biển. Gặp lại người quen với cái đầu trọc lóc ta nghĩ ngay đến chuyện ra khơi nhưng không gặp may mắn nên bị cạo đầu ngồi tù. Cửa nhà bỗng nhiên khóa im ỉm sẽ được suy diễn là cả gia đ́nh đă ra ra đi.

    Cơn sốt bỏ nước ra đi diễn ra ngày càng tăng nhiệt kéo theo phong trào học tiếng Anh lén lút. Gia đ́nh khá giả th́ mời thầy đến tận nhà kèm riêng hoặc một nhóm góp chung tiền mời thầy đến để luyện tiếng Anh. Cái nghề giảng viên Anh ngữ của hắn tưởng chừng như đă hết đất dung thân nay bỗng nhiên sống lại. Thế là một cuộc ‘đổi đời’ lại bắt đầu: đang từ anh bỏ mối ḷ dầu hôi nhảy lên làm thầy.

    Năm 1971, hắn được đào tạo giảng viên Anh ngữ tận bên Hoa Kỳ, sau đó lại được Trường Sinh ngữ Quân đội gửi đi tu nghiệp một lần nữa năm 1974. Với tŕnh độ tiếng Anh và kinh nghiệm giảng dậy, anh bán ḷ trở thành một người thầy đáng tin cậy của những người ôm mộng vượt biên.

    Tài liệu giảng dạy vào thời điểm đó chỉ dựa vào các bộ sách English for Today, English 900 và American Streamline. Cái khó là thầy phải sáng tạo một số giáo tŕnh đáp ứng được nhu cầu thiết thực của người học: làm sao giao tiếp được với người bản xứ, nghĩa là chú trọng đến phần đàm thoại, không câu nệ văn phạm, văn viết hoặc đọc.

    Hắn đă từng mất rất nhiều học tṛ, ra đi vội vă không kịp từ giă thầy. Chẳng biết họ có đến được đảo hay bỏ ḿnh giữa biển khơi. Người Sài G̣n thường nói “nếu con đi thoát th́ con nuôi má nhưng nếu con chết th́... con nuôi cá”.

    Học tṛ ra đi nhiều, chỉ mỗi ông thầy là ở lại v́... thiếu ‘cây’ để lên tầu. Người Sài G̣n khi đó có thói quen gọi 1 lượng vàng là ‘cây’. Hắn lo phải chạy ăn từng bữa cũng đă thấy bở hơi tai th́ ‘cây’ đâu để tính chuyện vượt biên? Nhưng có lẽ ‘thánh nhân đăi kẻ khù khờ’ nên có một gia đ́nh học tṛ người Hoa khá giả, đăng kư cho hắn một xuất ‘vượt-biên-bán-chính-thức’. Điều kiện khá dễ dăi: ‘đi trước, trả sau’! Có lẽ họ cũng tin tưởng vào tŕnh độ Anh văn của thầy giáo sẽ hỗ trợ gia đ́nh họ trong những bước đầu...

    Sài G̣n rầm ŕ bàn tán về chính sách ‘vượt-biên-bán-chính-thức’ của nhà nước dành cho các ‘x́ thẩu’ Hoa kiều. Đơn giản v́ họ là những người giàu nhất nước, tha hồ mà thu hàng đống ‘cây’ vàng. Người ta c̣n đồn họ vượt biên bán chính thức bằng cả tàu sắt nhưng lại cũng có tin nhiều chuyến đi đă bị lừa.

    Sau một đêm suy nghĩ, đắn đo, hắn quyết định phải chụp lấy cơ hội để thoát. Không đất dung thân cho hắn ở nơi này. Không hộ khẩu, không việc làm ổn định, không tương lai nếu cứ tiếp tục cuộc sống bên lề xă hội. Ra đi cũng đồng nghĩa là đương đầu với những bất trắc nhưng ít ra cũng c̣n một chút ánh sáng nơi cuối đường hầm với hy vọng cứu được vợ con. Ở lại là tiếp tục ṃ mẫm trong một đường hầm tăm tối, hoàn toàn không có lối ra.

    Chiếc tàu chở hắn vượt biên ‘bán chính thức’ đón khách ngay tại chân cầu Cát Lái thuộc địa phận Thủ Đức. Người ta lên tàu vào buổi chiều, có cả một số thân nhân đưa tiễn. Tàu bằng gỗ, chỉ dài hơn 10m, khoang bên dưới đàn ông ngồi bó gối, xếp lớp như cá ṃi, phía trên là trẻ em và phụ nữ. Dù mang tiếng là đi ‘bán chính thức’ nhưng mọi người vẫn căng thẳng trước những bất trắc của cuộc hành tŕnh hứa hẹn nhiều sóng gió.


    ***

    Sóng gió đâu chưa thấy mà chỉ nghe tiếng súng AK đồng loạt nổi lên cả ở hai bên bờ. Lực lượng vũ trang quận Thủ Đức lên tàu, ra lệnh cho tài công lái tàu về... bến Bạch Đằng. Tại đây có hai chiếc Molotova chờ sẵn để đưa những người vượt biên về thẳng... khám lớn Chí Ḥa. Thủ tục nhập trại giam tiến hành một cách nhanh chóng: phụ nữ và trẻ em được thả ngay c̣n đàn ông sau khi khai báo họ, tên, địa chỉ được đưa vào 2 pḥng giam thuộc khu AH trong ḷ ‘bát quái’ Chí Ḥa.


    Không ảnh khám Chí Ḥa

    Có nhà văn đă từng viết: đối với người tù Sài G̣n, khám Chí Ḥa được ví như trường đại học Harvard của Mỹ, Eton của Anh và Sorbonne của Pháp. Có lẽ ông nhà văn muốn ám chỉ ‘bất đáo Chí Ḥa phi hảo hán’?

    Nếu ở Mỹ có Ngũ Giác Đài, c̣n gọi là Lầu Năm Góc, th́ ở Việt Nam có Chí Ḥa là một công tŕnh xây dựng h́nh bát giác khép kín với một tầng trệt và 3 tầng lầu. Mỗi cạnh của h́nh bát giác là một ô, được đánh số từ A đến H. Toàn bộ nhà tù được chia thành 6 khu, trong đó khu ED là tù chính trị, AH dành cho tù vượt biên và các khu c̣n lại dành cho tù h́nh sự, trong khu FG c̣n có cả các pḥng tù nữ.

    Trên một khu đất rộng khoảng 7 hécta, hơn 200 pḥng giam đều hướng về tâm h́nh bát giác, nơi có một tháp nước với lỗ châu mai hướng về các pḥng giam với 4 loa phóng thanh và trên đỉnh là một cột cờ. Tháp mước mang h́nh tượng một thanh gươm lớn yểm âm dương, càn khôn, vũ trụ. Thanh gươm cắm mũi xuống đất nhắc nhở một khi đă lọt vào ṿng bát quái rất khó t́m được lối ra.


    Thanh gươm "yểm" ḷ bát quái

    Chí Ḥa là vùng đất ‘linh thiêng’ vẫn thường xảy ra sấm sét mỗi khi giông băo. Có đến ngàn lẻ một huyền thoại về khám Chí Ḥa, điển h́nh như ‘con-ma-vú-dài’ thỉnh thỏang vẫn chọc phá tù nhân. Tại đây c̣n lưu lại máy chém có từ thời Pháp thuộc được chuyển từ khám Catinat sang và do Đội Phước phụ trách. Người cuối cùng chết dưới máy chém này là Ba Cụt, tức Lê Quang Vinh, tướng Ḥa Hảo, dưới thời Ngô Đ́nh Diệm.

    Có những đêm khuya thanh vắng hắn giật ḿnh tỉnh giấc v́ tiếng hét lanh lảnh của phạm nhân: “Báo cáo cán bộ, pḥng... có người cần cấp cứu!”. Hai chữ ‘cấp cứu’ dội lại trong ḷ bát quái nghe như tiếng gọi của tử thần từ một nơi xa xăm nào đó.

    Có những đêm giă từ Chí Ḥa của những phạm nhân vừa ra ṭa nhận án để lên đường đến các trại cải tạo lao động. Họ tổ chức đêm ‘nhạc sống’ từ pḥng giam. Họ hát từ nhạc vàng đến vọng cổ, từ blue đến rock để các bạn tù ở pḥng khác cùng thưởng thức. Họ bất cần v́ đă nhận án và sẽ sớm gĩa từ Chí Ḥa. Xen lẫn với giọng nam có cả những giọng nữ cũng tham gia văn nghệ ‘live show’ bỏ túi...

    Cuộc sống tại Chí Ḥa khác hẳn với sinh hoạt ở trại cải tạo. Ở Chí Ḥa chỉ quanh quẩn với 3 bức tường và 1 hàng chấn song sắt. Ngày hai bữa cơm, tuần được phép xuống sân tắm rửa, giặt giũ một lần trong ṿng 20 phút. Ở trại cải tạo, dù cũng mang tiếng là ở tù, nhưng không gian rộng răi hơn để sinh họat. Quan trọng hơn cả, Chí Ḥa gom đủ thành phần xă hội phức tạp trong khi cải tạo chỉ chung một thành phần sĩ quan ‘ngụy’.

    Tiếng là khu tù vượt biên nhưng trong pḥng cũng xen lẫn một số tù h́nh sự chưa kết án. Đám thiểu số này lại nổi bật giữ đám tù vượt biên, nắm trọn quyền ‘sinh sát’, chúng giữ từ chức Trưởng pḥng, Phó pḥng đến Trật tự viên, Thư kư, Tổ trưởng. Trong pḥng luôn xảy ra chuyện ‘đi-chợ-đêm’, nhất là sau những ngày thăm nuôi. Thủ phạm thường là những tay h́nh sự, không thăm nuôi. Bọn chúng ra tay vào ban đêm khi những người tù ngủ say, chúng lục giỏ cói để t́m thức ăn khô và thường thanh toán ‘chiến lợi phẩn’ ngay tại chỗ để phi tang.

    Người nằm bên cạnh ‘khổ chủ’ dù có thấy nhưng vẫn phải làm ngơ v́ sợ trả thù. H́nh thức trả thù kinh sợ nhất là màn ‘hỏa tốc’: đốt bao nylon cho chảy thành nhựa rồi quăng vào nạn nhân. Nhựa nylon nóng hổi bám chắc vào da thịt với âm thanh xèo xèo nghe rợn tóc gáy. Nhựa nylon cũng c̣n được tận dụng trong việc chế tác những vật dụng giải trí như đổ quân cờ domino và cờ tướng. Trong pḥng hắn có một cao thủ, cựu đại úy không quân ‘ngụy’, chuyên đánh ‘cờ mù’, nằm vắt tay lên trán trong khi những tù khác quây quần quanh bàn cờ, ‘bề-hội-đồng’ mà vẫn không sao thắng nổi kẻ nằm thảnh thơi không nh́n bàn cờ!

    Ghẻ là căn bệnh phổ biến nhất ở Chí Ḥa. Thoạt đầu chỉ xuất hiện một cách nhẹ nhàng, thấy ngứa giữa những kẽ tay, sau đó h́nh thành những mụn nước rồi mụn mủ sưng tấy và ngứa ngáy khắp thân thể, nhất là vào ban đêm. Cái ghẻ lây từ người này sang người khác trong điều kiện tắm giặt hạn chế và vệ sinh thiếu thốn nên trong pḥng lúc nào cũng có mùi tanh tanh khó chịu. Tuy nhiên, găi ghẻ cũng có cái thú-đau-thương của nó.

    Khởi đầu là ‘bản đàn’ du dương, rần rần v́... ‘găi-đúng-chỗ-ngứa’. Khi cơn sướng đạt đỉnh điểm, ngón đàn mang lại sự đau đớn, tê rát lúc mụn ghẻ tóe máu. Sự nhức nhối biến thành một cực h́nh, nhất là vào ban đêm. Đó là thời gian lư tưởng nhất để những con cái ghẻ đục khoét dưới da và ṃ sâu vào thịt.

    Hắn và những người ‘đồng hội đồng thuyền’ sống chung với ghẻ đúng 9 tháng, tương đương với 3 lệnh tạm giam, mà không hề trải qua một cuộc ‘chấp pháp’ tức thẩm vấn điều tra. Tất cả đều khai trong lần làm thủ tục vào Chí Ḥa là họ ra đi ‘bán-chính-thức’ sau khi đă đóng ‘nghĩa vụ’ với nhà nước.

    Ngày ra khỏi ḷ bát quái, những người đi cùng chuyến tàu được tập họp điểm danh rồi được dẫn ra đến cửa khám, hoàn toàn không một mảnh giấy lận lưng. Hắn lại tiếp tục sống bên lề xă hội. Không chốn dung thân!

    (Trích Hồi Ức Một Đời Người)

    ***
    6 Comments on Multiply

    ...

    caibang9 wrote on May 6, '11
    nguyenngocchinh said “Người cuối cùng chết dưới máy chém này là Ba Cụt, tức Nguyễn Văn Vinh, tướng Cao Đài, dưới thời Ngô Đ́nh Diệm.”
    Xin GS NNC chỉnh lại tên của Tướng Ba Cụt là Lê Quang Vinh cho chuẩn. Xin đa tạ,
    Quư bạn nào muốn biết thêm về Tướng Ba Cụt-Lê Quang Vinh xin vào
    http://dankeu.com/~/goto/tran-nguon-...vinh-1244.aspx

    nguyenngocchinh wrote on May 6, '11
    caibang9 said “Xin GS NNC chỉnh lại tên của Tướng Ba Cụt là Lê Quang Vinh cho chuẩn. Xin đa tạ,”
    Xin cám ơn anh LHQ về tên của tướng Ba Cụt. Tôi đă chỉnh sửa.

    caibang9 wrote on May 6, '11
    nguyenngocchinh said “Xin cám ơn anh LHQ về tên của tướng Ba Cụt. Tôi đă chỉnh sửa.”
    :>))))

    thahuong82 wrote on Sep 26, '11
    Rất hay, rất trung thực v́ tôi cũng trải qua ḥan cảnh tương tự như anh và phải 3 ch́m,7 nổi 6 cái linh đinh mới tới được bến tự do…

  4. #464
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    824
    Mấy đoạn đường đời

    http://chinhhoiuc.blogspot.com/2016/...n-uong-oi.html
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/01...hinhhoiuc.html

    Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2016
    Đường đời

    “Mấy đoạn đường đời” là bài tự truyện về gia đ́nh người Chỉ huy phó Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch tại Phan Thiết sau biến cố 30 Tháng Tư. Tác giả bài viết, N. K., là một cô giáo, người vợ tù một ḿnh nuôi 4 đứa con c̣n nhỏ dại. Sau nhiều năm cơ cực, gia đ́nh định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. và đây là bài viết về nước Mỹ đầu tiên của bà.

    Bằng một giọng văn mộc mạc nhưng chân t́nh, cộng thêm những t́nh tiết rất “đời thường”, N.K. kể lại cho người đọc những gian truân của một người vợ tù cải tạo trong thời “điêu linh” và một kết cuộc “có hậu” vào cuối đoạn đường đời.

    ***

    Bây giờ ở Mỹ đang mùa Xuân. Đi đâu tôi cũng gặp hoa muôn màu muôn sắc rực rỡ, chim chóc hót líu lo, gió mát nhẹ nhàng thổi.

    Hôm nay tháng tư lại về. Tôi thấy ḷng ḿnh chùng xuống khi nhớ lại những ngày sau 30-4-75. Hồi đó, khi c̣n ở Việt Nam, tôi đă khóc biết bao mỗi khi tháng tư về. Bây giờ h́nh như không c̣n nước mắt để khóc nữa, nhưng vết thương ḷng qua bao nhiêu năm tháng vẫn chưa lành.

    Tôi nhớ sư bà Huyền Không ở Phan Thiết đă từng nói với tôi: "Bao nhiêu đau khổ vây quyện đời con, nhưng dù ḥan cảnh nào, con vẫn là một người vợ hiền, một người mẹ tốt nghe con."

    Đời tôi, nhờ niềm tin tôn giáo, nhờ Ơn Trên che chở mà tồn tại đến ngày hôm nay. Thuở nhỏ tôi là con bé yếu đuối, đau ốm liên miên, mấy lần suưt chết đuối trên sông Hương, mấy ai ngờ có ngày oằn vai "gánh" cả một gia đ́nh sáu người, rồi cuối cùng vượt đại dương đến Mỹ để sống những ngày cuối đời nơi đất khách quê người nhưng lại đậm t́nh đậm nghĩa.

    1. Những ngày trước 30-4-75

    Lúc đó, gia đ́nh chúng tôi ở Phan Thiết, trong khu trại gia binh. T́nh h́nh chiến tranh sôi sục, nhất là những ngày đầu tháng tư. Mỗi ngày tôi hồi hộp theo dơi tin tức thời sự qua đài BBC, hăi hùng với tiếng súng ầm ầm từ những cuộc giao tranh. Ông Chỉ Huy Trưởng Quân Y Viện đă lặng lẽ bỏ đi, để lại cho ông xă tôi, Chỉ Huy Phó, một ḿnh vừa cứu thương, vừa điều khiển Quân Y Viện. Tôi hoang mang, lo sợ.

    Để rảnh tay lo việc công, anh ấy cho năm mẹ con tôi di chuyển vào Sài G̣n, trước ở tạm nhà người bà con. Tôi hồi hộp trông tin anh từng ngày, từng giờ mà không biết hỏi ai, chỉ biết cầu nguyện Phật Trời che chở. Tôi cứ băn khoăn lo lắng không biết rồi vợ chồng c̣n gặp nhau không. Thôi th́ phó mặc cho số phận đẩy đưa.

    Ông xă tôi là người lúc nào cũng hết ḷng về công vụ. Hồi mới ra trường, anh đổi ra làm việc ở Quảng Trị. Gặp trận Hạ Lào, anh ấy mỗi ngày phải thường trực giải phẫu 24/24 để cứu thương bệnh binh. Lúc đổi về Quân Y viện Đoàn Mạnh Hoạch, Phan Thiết, anh vẫn một ḷng tận tụy với nhiệm vụ. Anh không mở pḥng mạch tư kiếm thêm tiền, không lươn lẹo ăn bớt thuốc men trong Quân Y Viện. Do đó, anh rất được quân nhân các cấp trong QYV thương yêu quư mến.

    Sau khi tôi và các con đi rồi, biết tỉnh B́nh Thuận sắp thất thủ, anh ấy lo di tản các thương binh c̣n nằm ở Quân Y Viện vào Vũng Tàu. V́ mặt sau của Quân Y Viện là biển, và lúc bấy giờ các tàu Hải Quân VNCH c̣n khá nhiều, nên việc di tản được suông sẻ. Đến lúc tỉnh B́nh Thuận bị lọt vào tay Cộng quân (19-4-75) th́ ông xă tôi mới theo tàu Hải Quân vào Sài G̣n.

    Chúng tôi gặp lại nhau. Chỗ ở trọ không tiện chút nào. Người bà con có nuôi hai con chó. Đêm nào chúng cũng leo lên chỗ chúng tôi nằm (v́ giành giường của tụi nó) gây tiếng động ầm ĩ, chẳng ai ngủ được. Chúng tôi lại đi xin ở nhờ một người bà con khác. Nhà này có ba tầng. Lúc dọn đến chúng tôi được cho ở tầng ba, c̣n hai tầng kia Mỹ mướn.

    Ngày hôm sau, chúng tôi được biết có một tàu Mỹ sắp đi Thái Lan. Nếu chúng tôi lanh trí, ngơ lời xin "quá giang" th́ chắc được chấp thuận rồi. Một phần v́ ḷng yêu quê hương, không muốn rời bỏ quê cha đất tổ, một phần v́ chưa sống với Việt Cộng và cũng chủ quan anh ấy thuộc ngành y đâu có tội lỗi ǵ nên ở lại. Đời mấy ai học được chữ ngờ! Cũng v́ không biết chớp lấy thời cơ đó mà cuộc đời xô đẩy gia đ́nh tôi vào hoàn cảnh oan nghiệt.

    2. Thời làm vợ tù

    Sau lệnh đầu hàng của vị Tổng Thống ba ngày, chúng tôi trở lại Phan Thiết và rồi tôi trở thành vợ tù.

    Tôi bị rơi vào hoàn cảnh một thân một ḿnh nuôi chồng và bốn con c̣n nhỏ dại, chưa được chuẩn bị để thích ứng với t́nh huống này! Thời trước 1975, cả hai vợ chồng sống bằng đồng lương ít ỏi của nhà nước. Lương nhà giáo quá khiêm tốn, ai cũng biết rồi. C̣n anh ấy là một bác sĩ quân y thanh liêm, tận tâm với trách nhiệm, không mở pḥng mạch tư kiếm thêm tiền mà dành hết thời giờ cho công vụ. Do đó, tôi đă phải tiện tặn hết mức để không mang công mắc nợ. Khi anh đi tù tôi không c̣n chút tiền dư bạc để. Do đó tôi rơi vào hoàn cảnh đôi vai gầy guộc, ốm yếu của tôi gánh hai gánh nặng thân t́nh, ngang ngửa nhau, không thể bỏ gánh nào được cả.

    Từ khi Việt Cộng chiếm miền Nam, gia đ́nh chúng tôi không c̣n được ở trong khu gia binh QYV Đoàn Mạnh Hoạch nữa. Tôi phải xin tá túc nhà ông TTP, cũng là sĩ quan của Quân Y Viện. Khi ông xă tôi vào tù, tôi thấy không thể ở nhà người ta măi nên t́m cách ra ở riêng. Dốc hết tư trang ngày cưới, tôi mua một miếng đất trên động cát thuộc phường Phú Thủy, Phan Thiết. Nơi đó có sẵn một căn nhà lá lợp tôn, để ngoài giờ đi dạy ở trường cấp 2B (tôi được lưu dụng với đồng lương đủ cho chục ngày chơ!), tôi “lao động sản xuất thêm” để tự cứu ḿnh và cứu gia đ́nh.

    Các con tôi bị xô vào hoàn cảnh nghèo khó. Nhờ vậy chúng trở nên khôn trước tuổi. Con chị mới 9 tuổi đă biết đi chợ nấu ăn, giặt đồ, dỗ em. Khi nào em khóc (thằng út mới 3 tuổi) th́ con chị ra chặt mía, róc, chẻ nhỏ rồi đút cho em ăn. Thằng em trai kế nó, mới 8 tuổi cũng đă biết cùng với mẹ đi xin phân heo, cuốc đất, tưới nước để trồng khoai lang, khoai ḿ, biết xắt lát củ khoai phơi khô để dành thăm nuôi cha nó, biết cất lại một phần khoai để ăn độn với gaọ cho đỡ đói, v́ gạo tiêu chuẩn có bao giờ ăn đủ cho 5 người! H́nh ảnh đáng thương nhất là con bé H. L. 5 tuổi ngồi đưa vơng cho thằng em 3 tuổi, vừa đưa vừa hát à... ơi nghe đau ḷng đứt ruột! Khi trái chùm ruột chín, con bé tự ư giă muối ớt, đựng chùm ruột trong chiếc rỗ nhỏ, rồi đem ra đầu hẻm nhà ḿnh mời các bạn nhỏ trong xóm mua.

    Tội nghiệp các con tôi! Các con tôi cũng đói lắm, cũng thèm nhâm nhi chùm ruột với muối ớt lắm, vậy mà... Có người mẹ nào tim không quặn thắt, ruột không đứt từng khúc từng đoạn trước những t́nh cảnh này!

    Cuộc sống của 5 mẹ con tôi trong căn nhà lá ấy, không sao kể xiết nỗi thống khổ, vất vả và đói khát. Tôi nhớ một câu văn của Thạch Lam: "Đói như cào ruột, đói như chưa từng thấy bao giờ." Bây giờ th́ tôi đă có kinh nghiệm xương máu cái nghèo, cái đói đây! Nghèo đến nỗi khi đổi tiền, tôi không đủ tiền để đổi nữa. Học tṛ hàng xóm tốt bụng đưa tiền nhờ đổi giùm, sau đó tặng cho chút đỉnh gọi là "để cô mua bánh cho mấy em."

    Ông xă vào tù rồi, phải mất mấy tháng sau, tôi mới được giấy cho đi thăm nuôi. Đây là lần thăm nuôi đầu tiên. Thời gian thật ngắn, vui th́ ít mà xót xa lại nhiều. Tôi cảm xúc viết vài ḍng thơ nói lên nỗi bi ai của tôi sau khi về nhà:

    “Khóc hết nước mắt đêm thâu
    Sáng nay tươi tỉnh em vào thăm anh.
    Chân em thoăn thoắt, nhanh nhanh,
    Quản chi xách nặng, thênh thênh đường dài.
    Ra đi định nói bao lời,
    Đến khi gặp mặt hỡi ơi nghẹn rồi!
    Bàn ngăn hai đứa ai ngồi
    Lù lù một đống, muốn sôi gan ḿnh.
    Nói qua quưt, chuyện loanh quanh....
    "Mấy con sức khỏe?" Băn khoăn hai người...
    C̣i huưt: "Năm phút rồi thôi!"
    Bây giờ đôi ngă, đôi nơi chia lià!”


    Có dạo đi thăm nuôi ông xă, tôi gởi cho anh ấy mấy đồng để mua đồ ăn thêm. Nhiều tháng sau, lúc ra thăm trở lại, hỏi anh tiền hôm đó có mua được ǵ không. Anh nói vẫn c̣n nguyên. Tội nghiệp cho cả gia đ́nh tôi! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói v́ không nở "nuốt cái đói khát" của vợ con! C̣n nỗi chua xót, đau đớn nào cho tôi hơn nữa!!!

    Ở tù được hai năm rưỡi th́ anh ấy được thả về. Thôi th́ hết làm thợ mộc, thợ nề, lại đi bốc, đi vác... khi áo blouse xưa không đươc dùng đến nữa. Được hơn ba tháng th́ Ủy Ban Nhân Dân Phường gọi anh ấy đến để "động viên" nhắc nhở "đăng kư" đi kinh tế mới.

    Anh ấy không chịu, lấy lư do: trong trại cải tạo, anh đă được học tập về đường lối, chính sách của nhà nước là sẽ lưu dụng những thành phần chuyên môn, và anh đang chờ đợi. Không ngờ đó lại là cái cớ để họ bắt anh vào tù lần thứ hai, bị ghép vào tội chống nhà nước.

    Lần sau này anh bị đưa vào trại biệt giam. Mấy tháng sau họ mới cho thăm nuôi. Khi gặp mặt, tôi thấy anh xanh xao, u buồn. Anh dặn ḍ: "Lần sau nhớ mua cho anh cây lược dày để chải chí và thuốc Dep để trị ghẻ." Điều kỳ cục là trại này không cho người tù nhận những món như bánh tráng, gạo..., chỉ cho nhận những thứ ăn chơi như: kẹo, bánh, đường, đậu... Lỡ mang đi, bị buộc mang về. Ra về ḷng tôi vừa xót xa...

    Lăo trưởng khóm nơi tôi ở nói với tôi: "Chồng cô sẽ ở tù suốt đời v́ tội phản động." Tôi nghe mà bủn rủn tay chân. Thôi chết rồi, biết làm sao đây! Tiếp theo phường lại "động viên" tôi, biểu tôi đi kinh tế mới. Tôi đáp: "Tôi yếu đuối, 4 con c̣n quá nhỏ, tôi làm được ǵ nơi đó?" Cũng may, nếu nghe lời họ, bây giờ mấy mẹ con tôi biết c̣n sống không?

    Suốt mấy năm gian khổ, khi không thể cầm cự nỗi nữa (năm 1980) tôi xin thôi việc, bỏ Phan Thiết về Long Xuyên để ở gần cha mẹ tôi. (Lúc bấy giờ ông bà đang sống cùng gia đ́nh người anh của tôi.) Ông xă tôi lúc đó c̣n trong tù, tôi phó mặc cho Trời, v́ tôi không c̣n sức lực, không c̣n khả năng đi thăm nuôi nữa.

    Trên danh nghĩa, tôi về Long Xuyên để nhờ anh tôi giúp đỡ. Chưa đầy một tháng th́ anh ấy đưa toàn gia đ́nh đi vượt biên hết. (Sau này tôi mới biết nhiều lần ông ấy đă đi vượt biên không thoát, nên gợi ư tôi về ḥng che mắt công an, phường khóm.)

    Cha mẹ tôi lúc đó đă già. Anh tôi đi, ông bà mất chỗ dựa, lại thêm địa phương làm khó dễ v́ nhà có người vượt biên nên bị khủng hoảng tinh thần, lâu dần sinh bệnh, nhất là mẹ tôi, bà đau ốm liên miên. Cuộc sống ở đây tuy gần cha mẹ tôi, nhưng lúc nào ḷng tôi cũng thấp thỏm lo âu, cứ nơm nớp sợ không biết ngày nào người ta sẽ đuổi ḿnh ra khỏi nhà, chừng đó biết đi đâu?

    Hơn một năm sau, 1981, th́nh ĺnh ông xă tôi được thả về. Từ đây, anh đi chích dạo, bán thuốc lá lẻ, bán vé số, làm đủ mọi nghề cho đến ngày nộp đơn đi H.O.

    3. Từ giấy ra trại tới cuộc phỏng vấn

    V́ bị tù hai lần, ông xă tôi như một con chim bị đạn, cứ lo sợ không biết c̣n bị bắt lại nữa không. V́ thế, lúc nghe người ta kể về việc nộp hồ sơ đi Hoa Kỳ theo diện H.O., ông xă tôi vô cùng e ngại, lo sợ bị gạt, phải chờ đến khi có người bạn đi trước gởi thư về khuyên nhủ ông mới mạnh dạn làm thủ tục để ra đi.

    Giấy ra trại là một vấn đề khiến gia đ́nh tôi không yên tâm chút nào, v́ trên giấy ghi rành rành "tội phản động chống chính quyền"! Chúng tôi hỏi thăm nhiều người, không ai có tờ giấy ra trại ghi như thế cả. Chúng tôi cũng được biết chính phủ Mỹ chỉ cho những thành phần quân, cán, chính chế độ cũ ở tù 3 năm trở lên mới được đi định cư ở Mỹ, c̣n những người chống chính quyền th́ không được. Chúng tôi lại hỏi ư kiến bạn bè và được khuyên làm sẵn một tờ tường tŕnh lư do bị tù lần hai. Vậy là có tờ report chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn.

    Rồi ngày gia đ́nh tôi vào gặp phái đoàn Mỹ cũng tới. Tôi nhận thấy những gia đ́nh H.O. được phỏng vấn trước, hầu như đều được giải quyết mau lẹ, không như gia đ́nh tôi. Những đêm trước khi phỏng vấn, tôi đă cầu nguyện cho mọi việc suông sẻ. Vậy mà, khi gặp phái đoàn chúng tôi vẫn run, nhất là khi bà Mỹ nêu câu hỏi: "Tại sao anh là bác sĩ mà phải đi cải tạo cả 5 năm rưỡi?"

    Ông xă tôi khựng lại. Tim tôi đập th́nh thịch! Lát sau, b́nh tĩnh lại, tôi nhắc: "Anh, tờ report." chừng đó anh mới sực nhớ ra và đáp: "Xin bà đọc tờ report." Sau khi đọc xong, họ OK liền. Vậy là thoát nạn. Lúc ấy cả nhà tôi như vừa chết đi được sống lại.

    4. Thời qua Mỹ

    Gia đ́nh tôi đến Hoa Kỳ năm 1992. Riêng tôi, qua năm sau mới được đi v́ phải ở lại điều trị bệnh. Lúc mới qua, chồng và các con tôi đều nỗ lực làm việc và học hành. Con gái, con trai đều đổ ra shop may: con trai thỉ ủi đồ và cắt chỉ, con gái lănh đồ may. Sau một thời gian, con tôi vào Đại học, nay th́ đă tốt nghiệp và đi làm. Ông xă tôi, lúc mới qua, tự thấy lớn tuổi rồi, nếu học lại để lấy bằng th́ ai thèm mướn nên cũng đành ra shop may lănh đóng khuy nút một thời gian, sau đó vô làm ở một hăng Mỹ chuyên sản xuất nữ trang cho đến ngày nghỉ hưu.

    Riêng tôi, thời gian vất vả trong những tháng năm cũ đă vắt kiệt sức lực của tôi. Tôi chỉ có thể làm những việc lặt vặt trong nhà, chứ không bươn chải nỗi như người khác được.

    Đến Hoa kỳ, không ngờ chúng tôi có cơ duyên gặp lại những người bạn VN thân quen gần nửa thế kỷ, thật là vui! Có hai ông bác sĩ người Mỹ là Colman và Denatale cùng làm việc với ông xă tôi hồi ở Quảng Trị, trước mùa hè đỏ lửa, cũng t́m tới tận nhà thăm chúng tôi.

    Ai dám nói người Mỹ thực dụng, thiếu nghĩa t́nh? Vài tháng trước đây, cô con gái của ông bác sĩ Krainick từ Ohio cũng gọi phone qua hỏi thăm và nhắc lại những kỷ niệm xưa của cha ḿnh với ông xă tôi. (Bác sĩ Krainick ngày xưa dạy ở Đại Học Y khoa Huế, là thầy của ông xă tôi, bị Việt Cộng sát hại năm Mậu Thân.) Thật là đậm đà t́nh người!

    Đời tôi, những lúc vui buồn đều có bạn bè chia xẻ. Hôm tôi gởi bài viết của H.L., con gái tôi, kể chuyện thời đi bán vé số ở Long Xuyên bị người ta nhiếc mắng, chị LT người bạn thân ở Phan Thiết, từ Michigan gọi qua nói trong nước mắt: "Tội quá! Sao hồi đó em thiếu thốn, khổ cực thê thảm như vậy mà không chịu nói ra. Em làm chị đang ân hận là đă không giúp em!"

    Tôi đă câm lặng bao nhiêu năm trời để giữ ǵn cái danh dự gia đ́nh của tôi: "Đói cho sạch, rách cho thơm." "Hăy đứng trên đôi chân ḿnh và ngẩng cao đầu tiến bước."

    Nh́n lại những chặng đường đă qua, tôi tự thấy ḿnh đă tận lực trong vai tṛ người mẹ, người vợ của một quân nhân VNCH trước và sau 30-4-75. Đời tôi sống đơn giản, không đua đ̣i se sua, không xúi giục chồng làm giàu bằng con đường tắt cong queo. Đó là nguyên nhân tôi nhận lănh những cay đắng của cuộc đời, và những tủi nhục của t́nh đời. Tuy nhiên, hạnh phúc nào mà không trả giá bằng đau khổ? Nếm đủ cay, chua, mặn, đắng... chỉ làm cho ta cuối cùng thấy hạnh phúc thêm ngọt ngào hơn.

    Cám ơn cuộc đời đă cho tôi và gia d́nh tôi nếm trải qua đủ mùi vị. Cám ơn nước Mỹ đă đưa gia đ́nh tôi qua đây để đựơc sống những ngày an lành, hạnh phúc.


    N. K.

  5. #465
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    824
    16 TẤN VÀNG CỦA NGÂN HÀNG QUỐC GIA (NHQG)

    https://ongvove.wordpress.com/2018/0...qg/#more-12489
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/01...-tan-vang.html

    NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM GIỮ 16 TẤN VÀNG CỦA NGÂN HÀNG QUỐC GIA (NHQG)…


    “…Qua việc bảo tồn tài sản quốc gia, việc này cho thấy là các công chức của NHQG và người đứng đầu là Thống Đốc Lê Quang Uyển đă làm việc một cách nghiêm túc – với tinh thần trách nhiệm của một công chức…”
    –TS. Đinh Xuân Quân


    Ông Lê Quang Uyển, người có trách nhiệm giữ 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia (NHQG), tài sản của Việt Nam đă qua đời tại Chiang Mai, Thái Lan thọ 81 tuổi. Ông sinh Tháng Chín năm 1937 và mất ngày 26 Tháng Giêng năm 2018.

    Nhân dịp 49 ngày ông mất, tôi xin có bài sau đây

    Trong giới kinh tế tài chính, nhất là vào những năm chót của chính thể Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), ai cũng biết đến Thống đốc trẻ tuổi của Ngân Hàng Quốc Gia là ông Lê Quang Uyển.

    Sau khi tốt nghiệp HEC (Hautes Études Commerciales) tại Paris năm 1960, ông Lê Quang Uyển về Việt Nam phục vụ. Ông đă làm một thời gian ngắn làm cho Ngân Hàng Pháp Á (BFA – Banque Française de l’Asie). Sau đó ông Lê Quang Uyển cũng như nhiều chuyên viên trẻ khác cũng bị động viên vào quân đội và lên đến cấp bậc đại úy.

    Từ quân đội ông được chuyển sang ngạch “chuyên viên Phủ Tổng Thống,” một ngạch công vụ của VNCH dành cho các chuyên viên trẻ, có học thức và nhiều tương lai. Họ được đào tạo để trở thành các nhà lănh đạo tương lai trong ngành kinh tế, tài chính, giáo dục; các công ty của chính phủ – nhà đèn, công ty đường, Air Vietnam,… Và sau này có thể có những trách nhiệm cao cấp trong chính phủ. Ngạch này được thành lập từ thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm để kéo các chuyên viên giỏi phục vụ cho chính phủ VNCH.
    Trong cương vị này, ông đă tham gia nhiều chuyến đi của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, trong đó có chuyên viếng thăm Manilla. Sau này ông đă được đề nghị giữ ghế thống đốc Ngân Hàng Quốc Gia.

    Người ta nhớ nhất về Thống Đốc Uyển là những việc sau:

    Chuyện Tín Nghĩa Ngân Hàng (TNNH hay Con gà đẻ trứng vàng), một x́-căng-đan thời VNCH

    Lúc đó Tín Nghĩa Ngân Hàng là một trong những ngân hàng có tiếng tại Việt Nam, có nhiều chi nhánh tại Sài G̣n, Chợ Lớn và tại các tỉnh (năm 1969, sau khi đậu cao học kinh tế tôi có về làm tập sự tại ngân hàng ở VN và được gởi đi nhiều chi nhánh để biết về các nghiệp vụ tài chính ngân hàng).

    Ban thanh tra ngân hàng của Ngân Hàng Quốc Gia có trách nhiệm theo dơi các nghiệp vụ cho vay của mọi ngân hàng có mặt tại Việt Nam. Một người trong nhóm thanh tra có báo cáo “sơ hở” trong quy tŕnh cho vay của Tín Nghĩa Ngân Hàng và việc này đă trở thành x́-căng-đan tài chính tại Việt Nam. Ông Nguyễn Tấn Đời, chủ tịch kiêm tổng giám đốc Tín Nghĩa Ngân Hàng đă dùng một số bộ hạ, người thân tín trong gia đ́nh để vay các tín dụng. Ông quên rằng những việc làm này cũng khó mà qua mắt các thanh tra ngân hàng của Ngân Hàng Quốc Gia. Những người đi vay mà tài sản quá thấp làm sao có thể thế chấp để đi vay một số tín dụng khổng lồ của Tín Nghĩa Ngân Hàng. Thật ra th́ ông Nguyễn Tấn Đời đă sử dụng những người này, đứng tên vay tiền cho cá nhân ông, rồi ông dùng số tiền tín dụng này để đầu tư cho cá nhân ông.

    Thời đó chưa có tin học hay máy computer, nên muốn kiểm tra phải tới tận nơi và khám xét trực tiếp các hồ sơ cho vay (các sổ sách và tính toán đều làm bằng tay hoặc bằng máy NCR). Thống Đốc Uyển đă tŕnh Tổng Thống Thiệu và thảo luận với ngành cảnh sát h́nh sự để giúp Ngân Hàng Quốc Gia đánh giá các hồ sơ cho vay của Tín Nghĩa Ngân Hàng.

    Thống Đốc Lê Quang Uyển đợi lúc ông Nguyễn Tấn Đời đi nghỉ ở Đà Lạt, để gởi các thanh tra ngân hàng làm cuộc truy t́m các hồ sơ tín dụng gian lận của Tín Nghĩa Ngân Hàng. Các thanh tra chặn mọi cánh cửa của Tín Nghĩa Ngân Hàng ở bến Chương Dương không cho hồ sơ thoát ra ngoài. Trụ sở Tín Nghĩa Ngân Hàng không xa Ngân Hàng Quốc Gia, có lẽ độ 1,000 m và cùng ở Bến Chương Dương. Qua việc kiểm tra này, các thanh tra đă t́m thấy các hồ sơ tín dụng “dởm.” Lúc đó ông Nguyễn Tấn Đời là một tổng giám đốc ngân hàng rất mạnh, có nhiều người che chở và việc kiểm tra sổ sách của Tín Nghĩa Ngân Hàng là một kỳ công – phải được tổ chức như một chiến dịch quân sự.

    Qua việc thanh tra này ông Lê Tấn Đời đă bị đưa ra ṭa. Ông bị tuyên án và phải vào khám Chí Ḥa. Như thế, Thống Đốc Lê Quang Uyển đă làm đúng trách nhiệm của NHQG là thanh tra chặt chẽ hệ thống ngân hàng thương mại dưới quyền ông. Qua việc này, ông đă chận đứng các lạm dụng trong ngành tài chính.

    Việc giúp các chuyên gia khối kinh tế tài chính – gởi đi làm việc tại các bộ

    Một khó khăn của VNCH trong những năm 1970 là thiếu ngân sách và khó tuyển mộ chuyên viên v́ lương thấp. Trong kinh tế, muốn có thăng bằng ngân sách th́ chính phủ sẽ bán một số công khố phiếu ra cho công chúng. Với tiền công khố phiếu, chính phủ dùng bù đắp thâm hụt ngân sách.

    Ngân Hàng Quốc Gia có nhiệm vụ tham gia vào các chính sách tiền tệ và có đóng góp qua việc mua một số công khố phiếu của chính phủ. NHQG mua một số công khố phiếu và tiền lời của công khố phiếu được bỏ vào một quỹ của Ngân Hàng Quốc Gia. Thống Đốc Uyển quyết định dùng số tiền lời này, để trả lương cho nhân viên kinh tế tài chính – mà lúc đó VNCH đang rất thiếu – và cần một số lời được chia cho nhân viên của Ngân Hàng Quốc Gia. Qua việc này, ông thống đốc giúp bồi đắp vào chỗ hổng tài trợ chuyên viên, mà trước đây cơ quan USAID tài trợ nhưng ngân khoản viện trợ lại ngày càng giảm. Qua việc này, một số chuyên gia đă được gởi đi làm tại các bộ như Tài Chính, Nha Thuế Vụ hay Bộ Kế Hoạch, nói chung mọi nơi cần chuyên gia.

    Ông cũng có chương tŕnh kéo các chuyên viên tài chính ngân hàng trẻ gia nhập NHQG, gầy dựng nhân sự cho tương lai ngân hàng. Một số người trẻ, có khả năng và có tay nghề được tuyển mộ vào NHQG làm trong văn pḥng thống đốc.

    Ngoài việc dùng quỹ tiền lời công khố phiếu, Thống Đốc Uyển c̣n sử dụng Quỹ Phát Triển (QPT) Kinh tế Quốc Gia mà ông làm chủ tịch Hội Đồng Quản Trị (HĐQT) gởi các chuyên viên của QPT đi giúp các bộ. Quỹ Phát Triển là một chi nhánh – thành phần của NHQG được vốn của Hoa Kỳ (USAID) trợ giúp. Ngoài việc tái tài trợ các ngân hàng phát triển Việt Nam (Ngân Hàng Phát Triển Kỹ Nghệ, Ngân Hàng Phát Triển Nông nghiệp, SOFIDIV…) Quỹ Phát Triển Kinh Tế Quốc Gia có một số chuyên viên trẻ được gởi đi trợ giúp các Bộ Kế Hoạch, Bộ Tài Chính qua việc tham gia vào công tác xây dựng Kế Hoạch Phát Triển Hậu Chiến, nhất là sau khi Hiệp Định Paris được kư kết.

    Thống Đốc Lê Quang Uyển cũng cố vấn cho Tổng Thống Thiệu chọn người trong khối kinh tế tài chính, trong đó có việc giới thiệu ông Nguyễn Văn Hảo vào Quỹ Phát Triển và sau này làm phó thủ tướng đặc trách về kinh tế tài chính.

    Giữ 16 tấn vàng cho Việt Nam



    Trong những ngày chót của VNCH, Hoa Kỳ muốn VNCH đưa 16 tấn vàng gởi dự trữ tại Ngân Hàng Trung Ương tại New York (một việc làm b́nh thường v́ đa số các nước đều có trương mục với ngân hàng FED New York). Sau khi bàn bạc, Thống Đốc Lê Quang Uyển quyết định gởi các thoi vàng qua Thụy Sĩ, tại Ngân Hàng Banque International Ressettlement – BIR ở Basle.

    Theo kinh nghiệm thế giới, nhiều chính phủ Âu Châu trước đây, khi bị Cộng Sản xâm chiếm họ đă gởi vàng dự trữ tại đây để tránh chiến tranh và sau này giữ được tài sản quốc gia. Một kế hoạch đă được lập lên để chở 16 tấn vàng sang Thụy Sĩ chứ không phải sang Hoa Kỳ. NHQG đă cho mướn một chuyến may bay để chở số vàng này qua Thụy Sĩ.

    Trong lúc hỗn loạn của những ngày miền Nam sắp mất, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích và máy bay được mướn chở vàng không thể đáp xuống Tân Sơn Nhất, v́ vậy kế hoạch gởi vàng qua Thụy Sĩ không thực hiện được.

    Vào những ngày chót, một số nhân viên ngân hàng cấp cao đều được cấp Walkie Talkie để dễ liên lạc với nhau nhằm bảo vệ tài sản cho Việt Nam. Thống Đốc Lê Quang Uyển tử thủ trong NHQG và chỉ mở cửa NHQG khi Cộng Sản mang nhiều xe tăng đến định bắn vào NHQG.

    Cộng Sản lúc nào cũng phao tin đồn là cựu TT Nguyễn Văn Thiệu đă mang 16 tấn vàng đi nước ngoài trong khi nhiều người cũng kể công về việc giữ số vàng này. Vậy sự thật ra sao ?

    Bài báo sau đây của nhân chứng nói về kiểm tra vàng tại NHQG do báo Tuổi Trẻ đăng :

    Bài viết của tác giả Huỳnh Bửu Sơn trên tờ Tuổi Trẻ trích đoạn như sau :

    “…Những ngày đầu Tháng Năm, 1975, tôi vào tŕnh diện tại Ngân Hàng Quốc Gia ở 17 Bến Chương Dương, thủ đô Sài G̣n cùng các đồng nghiệp khác, chỉ thiếu vắng một vài người. Chúng tôi được lệnh của Ban Quân quản Ngân hàng Quốc gia là chờ phân công tác. Trong khi chờ đợi, mỗi ngày mọi người đều phải có mặt tại cơ quan.

    Lần kiểm kê cuối cùng… Việc kiểm kê kho tiền và vàng là việc chúng tôi làm thường xuyên hằng tháng, hằng năm nên cảm thấy không có ǵ đặc biệt. Chỉ có một điều là tôi biết lần kiểm kê này chắc chắn là lần kiểm kê cuối cùng đối với tôi, kho tiền và vàng sẽ được bàn giao cho chính quyền mới. Tôi không lo âu ǵ cả v́ biết chắc rằng số tiền và vàng nằm trong kho sẽ khớp đúng với sổ sách.

    Trong những ngày hỗn loạn, các hầm bạc của Ngân Hàng Quốc Gia vẫn được chúng tôi quản lư một cách tuyệt đối an toàn. Cần nói thêm là các hầm bạc được xây rất kiên cố với hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa thước, các cửa hầm bằng thép có hai ổ khóa và mật mă riêng, được thay đổi định kỳ, mỗi cửa nặng trên 1 tấn.

    Đại diện Ban Quân Quản là một cán bộ đứng tuổi, khoảng 50. Cùng tham gia với ông trong suốt quá tŕnh kiểm kê là một anh bộ đội c̣n rất trẻ, trắng trẻo, đẹp trai và rất thân thiện. Anh hay nắm tay tôi khi tṛ chuyện. Sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh Duyệt – chỉ huy phó đơn vị tiếp quản Ngân Hàng Quốc Gia.

    Số vàng đúc lưu giữ tại kho của Ngân Hàng Quốc Gia vào thời điểm đó gồm vàng thoi và các loại tiền vàng nguyên chất. Có ba loại vàng thoi: vàng thoi mua của Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ (FED); vàng thoi mua của một công ty đúc vàng ở Nam Phi – Công ty Montagu; và vàng thoi được đúc tại Việt Nam, do tiệm vàng Kim Thành đúc từ số vàng do quan thuế tịch thu từ những người buôn lậu qua biên giới, phần lớn từ Lào.

    Tất cả những thoi vàng đều là vàng nguyên chất, mỗi thoi nặng 12-14kg, trên mỗi thoi đều có khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép, mỗi kệ được xếp khoảng năm, sáu thoi vàng. Nhưng qua năm tháng, bị nặng trĩu trước sức nặng của vàng, các kệ thép cũng bị vênh đi.

    Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau… Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này c̣n được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó. Tất cả số vàng thoi và tiền vàng cổ đều được theo dơi chi tiết từng đơn vị, số hiệu, tuổi vàng, số lượng ghi trong một sổ kiểm kê do bộ phận điện toán (computer) của ngân hàng theo dơi định kỳ hằng tháng và hằng năm, hoặc bất cứ khi nào có thay đổi xuất nhập tồn kho. Kết thúc, ai nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền và vàng kiểm kê đều khớp với sổ sách điện toán từng chi tiết nhỏ. Tôi kư vào biên bản kiểm kê, ḷng cảm thấy nhẹ nhơm. Việc bàn giao tài sản quốc gia cho chính quyền mới đă hoàn tất. Sau chiến tranh, ít nhất đất nước cũng c̣n lại một chút ǵ, dù khiêm tốn, để bắt đầu xây dựng lại. Về phía chúng tôi, điều này cũng chứng minh một cung cách quản lư nghiêm túc của những người đă từng làm việc tại Ngân Hàng Quốc Gia…”


    Tác giả Huỳnh Bửu Sơn cũng liệt kê từng tủ và từng hầm kho tàng. Và cuối bài viết, ông ghi:
    “Tổng cộng: 1.234 thoi vàng.”

    Qua việc bảo tồn tài sản quốc gia, việc này cho thấy là các công chức của NHQG và người đứng đầu là Thống Đốc Lê Quang Uyển đă làm việc một cách nghiêm túc – với tinh thần trách nhiệm của một công chức. Đó là niềm hănh diện cho VNCH, không bỏ chạy (t́nh thần trách nhiệm) và rất trung thực. Thống Đốc Lê Quang Uyển là một tấm gương soi sáng cho thế hệ trẻ – cho tinh thần trách nhiệm của công chức miền Nam.



    Thống Đốc Lê Quang Uyển và tù cải tạo

    Ông Uyển, cũng như nhiều người khác, đă phải đi cải tạo trên 3 năm trong Nam (1975-1979). Trái với ông phó thống đốc Ngân Hàng Quốc Gia là ông Dơng, ông Uyển không tŕnh diện liền khi Cộng Sản kêu gọi thành phần nội các ra tŕnh diện học tập (họ không biết là thống đốc Ngân Hàng Quốc Gia có hàm bộ trưởng.) Ông Phó Thống Đốc Dơng đă ra tŕnh diện và bị chết trong trại tù Thanh Cẩm, tỉnh Thanh Hóa. (Tôi c̣n gặp bà Dơng tại Sài G̣n sau khi bà bị trục xuất ra khỏi nhà tại NHQG, khi tôi đi cải tạo về vào năm 1979).

    Ông Uyển là một sĩ quan VNCH cấp bậc đại úy và đă ra tŕnh diện khi Cộng Sản gọi các sĩ quan cấp đại úy tŕnh diện. Ông bị đi tù cải tạo 3 năm.

    Ông Lê Quang Uyển đă đi Pháp cùng vợ v́ bà vợ, chị Geneviève LyLap (một huynh trưởng nữ hướng đạo hệ Scout et Guide de France, bà là công dân Pháp và là nhân viên Ṭa Đại Sứ Pháp tại Sài G̣n).

    Năm 1981, ông Uyển tham gia vào ngân hàng Banque Indosuez. Ông được gởi làm giám đốc chi nhánh tại Saudi Arabia và ở đây đến 1990. Ông đứng đầu chi nhánh “Al Bank Al Saudi Al Fransi” (Saudi French Bank), ngân hàng duy nhất của Pháp tại Ả Rập Saoudi. Sau 1990, ông Lê Quang Uyển được phái đi làm cho nhiều chi nhánh của ngân hàng Indosuez tại nhiều nước khác nhau.

    Ông Lê Quang Uyển đă về hưu tại Chiang Mai, Thái Lan. Ông là h́nh ảnh một công chức VNCH có tư cách và có tinh thần trách nhiệm rất cao. Trong dịp 49 ngày ông qua đời (ba má và gia đ́nh ông Lê Quang Uyển theo đạo Cao Đài), tôi viết vài hàng này để đề cao tinh thần trách nhiệm của cựu Thống Đốc Lê Quang Uyển.

    Với tư cách một chuyên viên trẻ đă từng có thời gian làm việc với ông, tôi xin thành kính chia sẻ nỗi buồn với chị Uyển trong sự mất mát này và cầu mong ông sớm được về miền Cực Lạc.

    California, Chủ Nhật, 18 Tháng Ba, 2018

    TS. Đinh Xuân Quân

    (*) TS Đinh Xuân Quân là cựu nhân viên Quỹ Phát Triển trực thuộc NHQG. Ông là cựu giáo sư Đại Học Luật Khoa, Ban Kinh Tế, Đại Học Saigon (khóa 1974-1975). Hiện nay ông là chuyên gia, cố vấn kinh tế cho Liên Hiệp Quốc (UNDP+World Bank) và USAID tại nhiều nước như Afghanistan, Iraq, Indonesia…

    Nguồn : Thời Báo

    Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu trả lời về 16 tấn vàng:

  6. #466
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    824
    Người Mẹ Tập Kết

    http://chinhhoiuc.blogspot.com/2016/...e-tap-ket.html
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/01...hinhhoiuc.html
    Bài quá dài, phải cắt bớt nhiều chỗ . Xin coi từ đường dẫn


    Thứ Tư, 9 tháng 3, 2016

    Đây là truyện ngắn, không rơ tên tác giả. Thoạt đầu người đọc thấy đây là câu chuyện t́nh cảm giữa hai người phụ nữ: mẹ và con. Đọc hết chuyện, người ta không thể không nghĩ đến một vấn đề rộng lớn hơn: "ḥa hợp, ḥa giải". Trong phạm vi gia đ́nh mà vẫn chưa "ḥa hợp & ḥa giải" được sau 30 năm chiến tranh th́ trong phạm vi xă hội sẽ c̣n rất nhiều rào cảm để cùng bắt tay nhau.

    ***

    Người mẹ tập kết

    Tôi không khó khăn nhận ra mẹ khi bà vừa bước ra khỏi trạm kiểm soát an ninh phi trường. Một tay kéo chiếc valy nhỏ, một vai mang chiếc xách tay, mẹ thong dong như trôi theo ḍng người. Dáng mẹ trông mảnh mai, thanh nhă, linh hoạt dù rằng đă ở cái tuổi tám mươi. Tóc đă bạc phơ.

    Chiếc áo sơ mi màu trắng như giúp khuôn mặt mẹ tươi tắn hơn ngày tôi gặp mười lăm năm trước. Mẹ đưa mắt t́m kiếm. Tôi giơ tay vẫy. Bà mừng rỡ vẫy lại. Tôi cười khi mẹ đến gần: “Chào mẹ!”

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    ***

    Tôi lái xe vào trung tâm thủ đô, chạy ṿng ṿng cho mẹ xem phố xá rồi quẹo sang đường Constitution. Tôi chỉ mẹ xem đài tưởng niệm Washington, ṭa Bạch Ốc và hứa một ngày khác sẽ đưa mẹ vào xem tận bên trong. Mẹ nói mẹ muốn ưu tiên gặp em của mẹ, c̣n việc tham quan chừng nào cũng được. Tôi cho mẹ biết cậu mợ đang chu du Âu châu, hai tuần nữa mới về. Sợ mẹ hiểu lầm, tôi giăi bày:

    “Cậu mợ ghi tên đi chơi trước ngày mẹ báo tin qua đây nên không hủy bỏ được. Con đă xin nghỉ một tháng. Trong tháng đó ḿnh sẽ đi một ṿng sơ khởi nước Mỹ. Mẹ sẽ gặp em trai mẹ vào tuần lễ thứ ba...”

    Tôi ngưng nói khi thấy mẹ xoay mặt về khung cửa kính. Nhân lúc xe qua cầu, tôi cất cao giọng: “Đây là sông Potomac. Đi xuôi ḍng sẽ trông thấy một phần h́nh ảnh rất đẹp của thủ đô. Nhà của con phía thượng ḍng cách đây độ nửa giờ.”

    Mẹ vẫn nh́n quang cảnh thành phố, chỉ có tiếng “thế à” hờ hững vang lên. Tôi nh́n đồng hồ và mừng là đă tới giờ cơm chiều. Tôi nói nhỏ nhẹ: “Suốt ngày đêm trên máy bay, chắc mẹ thèm cơm. Khu thương mại Eden của người Việt vùng này có một nhà hàng nấu món canh chua cá bông lau, cá kho tộ ngon lắm!”

    Bà nói giọng mệt mỏi: “Nói chung th́ mẹ thèm một tô phở.” Một cái ǵ nghẹn ngào đột ngột trào dâng trong tôi. Hai mươi năm tập kết ra Bắc mẹ đă bị đồng hóa. Không chỉ thay đổi cả giọng nói, ngôn từ mà lơ là luôn cả món ăn ưa thích của miền Nam. Tôi ngờ rằng bà không phải là người sinh ra tôi…

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    ***

    Tôi nhấn một chiếc nút trên trần khi xe sắp quẹo vào driveway và lái thẳng vào garage. Trong khi tôi mở cóp nhấc xuống các hành lư, mẹ đi ra phía trước đường. Tôi bước đến bên mẹ khi bà ngắm nghía ngôi nhà, trầm trồ: “Nhà của con đây hả? To và đẹp quá, ngoài tưởng tượng của mẹ. Quang cảnh cũng thật sáng sủa tươi mát.”

    Tôi cười buồn: “Chúng con mới mua năm ngoái và chắc cũng sắp bán…” Giọng mẹ thảng thốt: “Tại sao thế?” Tôi nắm cánh tay mẹ d́u đi: “Mẹ vào nhà nghỉ ngơi. Từ từ rồi mẹ sẽ biết...”

    Tôi bấm số liên hợp và mở toang cánh cửa. Mẹ bước vào, đứng sững người trên tấm thảm nhỏ mang chữ Welcome. Dường như mẹ không tin những ǵ mẹ đang thấy. Mẹ ngập ngừng bước đi, mắt dừng lại từng vật trang trí ở pḥng khách, pḥng gia đ́nh, miệng lẩm bẩm lời tán thưởng.

    Khi mẹ hướng về khu bếp, tôi biết mẹ sẽ ở đây lâu hơn nên lặng lẽ trở ra ngoài mang hành lư vào nhà. Khóa cửa xong, tôi đảo mắt t́m mẹ. Bà đang ở trong pḥng đọc sách, đứng lặng yên trước bàn thờ. Mẹ không nh́n các tượng Phật rất đẹp tôi thỉnh tận Thái Lan.

    Mắt mẹ đang đăm đăm nh́n di ảnh của Huy. Anh mặc áo tiểu lễ hải quân với dây biểu chương, trên một nắp túi là chiếc huy hiệu hạm trưởng và bảng tên Lê Quang Huy. Bên kia là hai hàng huy chương nhiều sắc màu khác biệt. Và Huy đang tươi cười… Mẹ nói bằng giọng ngạc nhiên mà b́nh thản: “Sao con không nói ǵ với mẹ?” Tôi lắc đầu: “Để làm ǵ? Mẹ có biết ǵ về ảnh đâu và chắc cũng không ưa ảnh!”

    Mười lăm năm trước, khi về chịu tang ba tôi, tôi đă từ chối trả lời mọi câu hỏi của mẹ. Tôi muốn cho thấy khi bà đă có can đảm bỏ rơi tôi th́ tôi cũng có can đảm coi như đời tôi không dính dáng ǵ tới bà. Măi gần đây, khi mẹ ngỏ ư muốn qua thăm chúng tôi, Huy khuyên tôi nhận lời, dù ǵ bà cũng là người sinh thành ra ḿnh. Tôi nghe lời khuyên nhưng chỉ một ḿnh tiếp đón mẹ. Huy chết bất thần v́ cơn đột quỵ. Mẹ nh́n khắp bàn thờ rồi quay phắt sang tôi: “Sao không thấy con thờ ba con?”

    “Thờ ba? Tại sao con phải thờ ba?” Mặc dù đă tự nhủ, tôi vẫn không dằn được cơn bực tức bùng vỡ. Mẹ quay đi, lặng lẽ thắp nén nhang cắm vào lư hương, nh́n Phật Bà, nh́n Huy rồi thở dài lặng lẽ bước lên thang lầu.

    Tôi đă từng nghe nhiều tiếng thở dài tương tự của mẹ trong suốt thời gian mười ngày về dự đám táng ba tôi. Tôi đă cho bà thấy tôi không chỉ dửng dưng với người chết mà c̣n lạnh lùng với cả người c̣n sống. Liệu có ai cư xử khác tôi khi suốt quăng đời dài gần bốn mươi năm mà chỉ vài lần được nghe nhắc đến mẹ cha ḿnh bằng lối bông đùa.

    Năm tôi lên mười bốn, sau trận Mậu Thân khói lửa khắp Chợ Lớn Sài G̣n, một bữa, lần đầu tôi nghe cậu nhắc tới ba mẹ. Trong bộ đồ trận rằn ri mang lon trung tá, cậu ra vẻ trịnh trọng: “Nè, Phượng! Con có biết là suưt nữa con đă có dịp trùng phùng ba mẹ con không?” Trong khi tôi ṭ ṃ lắng nghe, cậu tỉnh bơ tiếp: “Nhưng v́ cậu thấy họ không xứng đáng làm bậc cha mẹ, cậu đă đuổi họ về mật khu rồi!”

    Tôi thường cười với mỗi cợt đùa của cậu nhưng lần đó tôi mím môi muốn khóc. Năm hai mươi mốt tuổi, khi tôi đưa Huy về nhà giới thiệu nhân buổi tiệc mừng cậu thăng cấp tướng, cậu nói nhỏ vào tai tôi: “Chà chà! Như vầy là kẹt cậu rồi! Con mà chọn tên hải quân đó làm chồng th́ cậu khốn khổ với chị cậu. Tuy nhiên, nếu con… năn nỉ cậu, cậu cũng liều cho con làm… bà thiếu tá.”

    Tôi vẫn cười thầm về chuyện này v́ bốn tháng sau, sự thể đảo ngược. Chính cậu lại là người phải “năn nỉ” tôi để cả gia đ́nh được lên tàu của Huy rời khỏi Việt Nam. Chúng tôi thành hôn ở Mỹ. Huy trở lại đại học, tôi đi làm ngày đêm. Rồi lần lượt hai đứa con ra đời. Huy ra trường đi làm. Tôi vào đại học. Vất vả mà hạnh phúc. Tôi quá bận rộn để nhớ về quê cha đất tổ, cho tới mười năm sau tôi mới lại nghe tin tức ba mẹ. Lại vẫn do cậu đưa tin. Cậu tôi cho biết đă liên lạc được với chị của ḿnh.

    Không lâu sau đó tôi liên tiếp nhận được thư ba mẹ tôi bày tỏ ḷng khao khát mong nhận được thơ tôi và h́nh ảnh gia đ́nh. Và tiếp đến là những lá thư mong mỏi tôi về Việt Nam. Tôi nhận thư, tôi đọc, ḷng ngơ ngẩn, bâng khuâng nhưng không có chút hứng thú trả lời.

    Thậm chí nhiều năm sau, cái tin ba tôi đau nặng cũng chỉ được đón nhận với ḷng dửng dưng. Huy bảo tôi nên về. Cậu mợ gọi điện bảo tôi phải về. Tôi thưa với cậu mợ rằng tôi không có cha mẹ nào khác ngoài cậu mợ nhưng cậu mợ tiếp tục thúc bách và giảng đạo lư. Tôi rủ cậu mợ cùng về. Cậu bảo cậu không muốn giỡn mặt với chính quyền cộng sản.

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    ***

    Mẹ nằm trong buồng riêng suốt đêm ngày, măi đến tối hôm sau mẹ mới tươi tỉnh hẳn. Tôi rủ mẹ đi ăn đồ biển. Mẹ ăn tự nhiên, ngon lành. Nếm đủ tôm cua nghêu ṣ ốc hến. Luôn cả hào tươi. Lâu lắm mới có dịp ăn ngoài, tôi cũng tận lực nuốt. Trên đường về nhà, mẹ hỏi: “Cậu bảo con có hai thằng con trai. Chúng nó đâu mà mẹ chưa gặp?”

    “Tụi nó đều đă lập gia đ́nh. Mỗi đứa ở mỗi tiểu bang khác nhau, khá xa. Đứa lớn ở Georgia, có hai con, đứa nhỏ ở Texas, đang chờ con đầu ḷng. Con đă sắp xếp để mẹ đến chơi với chúng nó, mỗi đứa vài ngày, sau khi mẹ gặp cậu mợ.”

    Mẹ nh́n tôi, ḍ hỏi: “Con ở đây một ḿnh sao?” Tôi gật đầu: “V́ vậy mà con có ư muốn bán nhà này về sống với mấy đứa nhỏ, luân phiên mỗi đứa một thời gian. Tụi nó đang năn nỉ con về ở chung.” Giọng mẹ ngập ngừng: “Phải thú nhận rằng mẹ vừa trông thấy căn nhà này là mê ngay. Nếu con bán th́ bán cho mẹ. Mẹ con ta sẽ ở đây, măi măi tới ngày mẹ chết…”

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    “Mẹ cũng cần có thời gian sắp xếp mọi việc ở Việt Nam. Năm tới mẹ trở qua sống hẳn với con. Con đồng ư chứ?” Tôi không biết nói ǵ hơn. Tôi như nghe tiếng Huy văng vẳng: “Đừng làm mẹ buồn!” Tôi cố nh́n vào bóng đêm loang loáng t́m h́nh bóng Huy nhưng chỉ thấy ánh đèn đỏ vừa bật ở ngă tư…

    ***

    Sau năm ngày dạo chơi phố xá và ngắm cảnh Nữu Ước, chúng tôi dành hai đêm thử thời vận ở ṣng bạc Atlantic City. Thánh nhân đăi kẻ khù khờ, cả hai mẹ con thắng lớn. Chúng tôi về đến nhà, tẩy rửa xong lớp bụi đường th́ trời tối hẳn. Tôi thấy mệt mỏi nhưng mẹ tỉnh bơ đề nghị để mẹ nấu ăn ở nhà. Tôi nói sẽ ăn ở nhà nhưng mẹ khỏi nấu.

    Mẹ không tỏ ǵ ngạc nhiên khi tôi gọi thức ăn bằng điện thoại. Bà ngồi thoải mái trong bộ ghế êm ái, xem truyền h́nh đưa tin thế vận hội. Tôi sắp đặt chén đũa, khăn ăn và nước ngọt rồi ngồi xuống cạnh mẹ. Chợt mẹ quay sang tôi, giọng ngập ngừng thiếu tự nhiên: “Mẹ phải nói với con chuyện này. Em trai con muốn nhờ mẹ hỏi con giúp nó một việc.”

    Em trai tôi? Tôi từ từ h́nh dung đứa em trai của ḿnh. Tôi đă nhớ ra một h́nh dáng hiền ḥa thường quanh quẩn gần tôi. Cũng như cậu và mẹ, em tôi nhỏ thua tôi năm tuổi. Nhưng nó khác với tất cả chúng tôi là đă không chào đời ở miền Nam. Tôi nh́n mẹ chờ đợi. Giọng mẹ đều đều:

    “Đứa con gái út của nó học rất giỏi. Năm tới lên đại học. Nó muốn nhờ con giúp cháu qua học bên này. Nó không muốn cho cháu ở nội trú. Nó xin cho cháu ở với con. Cơ bản là con không phải tốn kém ǵ hết. Mẹ sẽ lo đi chợ, nấu ăn cho cả nhà...”

    Cơn giận chợt ứ lên ngực làm tôi khó thở. Tôi hít vào một hơi thật sâu. Tôi biết là mở miệng lúc này tôi sẽ nói ra lời cay độc. Tôi nh́n ra ngoài trời đang đổ mưa với những ánh chớp liên hồi. Tôi nhớ tới những cơn mưa đầy sấm sét trong căn nhà thênh thang thuở lên mười.

    Thuở đó cậu tôi đổi đi đơn vị xa và mợ theo cậu. Người giúp việc th́ ngủ gần bếp, xa căn buồng riêng biệt của tôi. Tôi đă vô cùng sợ hăi và từng ước ao có được một đứa em. Bây giờ tôi đâu c̣n cần. Tôi nói chầm chậm: “Th́ ra mẹ qua đây không phải v́ con mà v́ tương lai cháu nội của mẹ!”

    Bà nh́n tôi tỏ vẻ ngạc nhiên: “Con nói ǵ lạ vậy. Tất nhiên mẹ qua đây là v́ con, bởi v́ mẹ muốn bù lại thời gian ba mẹ bỏ bê con. Mẹ không hề v́ cháu nội. Nó chỉ ngỏ lời sau khi biết ư định của mẹ.”

    Mẹ đưa tôi lá thư cầm sẵn: “Đây là thư nó gửi cho vợ chồng con.” Tôi hững hờ nhận. Mẹ tiếp: “Thật ra nó cũng đă hỏi các thủ tục xin ở nội trú. Không có con ở đây, con của nó vẫn qua đây học. Mẹ thấy điều quan trọng là có người ruột thịt cận kề, coi sóc, nhắc nhở.”

    Tôi cười chua xót, không c̣n ngăn được lời mai mỉa: “Ruột thịt? Có là ruột dư với thịt thừa! Và mẹ đă từng cắt bỏ không thương tiếc!” Mẹ nh́n tôi đăm đăm: “Con vẫn c̣n giận mẹ đến thế sao? Lần con về, mẹ đă hết lời giải thích…”

    “Con vẫn nhớ các lời giải thích đó: Ba mẹ đâu có muốn xa con, chẳng qua chỉ v́ muốn góp phần giành độc lập, thống nhất đất nước. Th́ đất nước đă độc lập thống nhất, sao mẹ và cháu nội không ở Việt Nam mà hưởng.”

    Mẹ buông tiếng thở dài. Tôi cũng chợt nhận ra ḿnh vừa buông lời xỉa xói hỗn hào. Tôi trầm giọng: “Con xin lỗi. Hễ nhớ đến những ngày con bị bỏ rơi là cứ muốn nổi xung thiên…”

    “Mẹ phải làm ǵ để được con tha thứ, quên đi chuyện cũ. Con nghĩ lại đi. Ba mẹ đâu có gửi con cho ai xa lạ. Người đó chính là ba mẹ ruột của mẹ. Con lúc nào cũng nhận được trọn vẹn t́nh thương và chăm sóc…”

    Tôi cố giữ giọng b́nh thường: “Ba mẹ ruột của mẹ chớ đâu phải ba mẹ ruột của con! Suốt tuổi thơ của con, con bị bạn bè cười nhạo là đứa trẻ mồ côi, là con không cha không mẹ!” Nước mắt tôi tự dưng ứa ra, rơi dài xuống. Mẹ đứng lên, bước lại ôm choàng lấy tôi. Tôi khóc nức nở trên vai mẹ. Khi muộn phiền đă dịu xuống, tôi nh́n thẳng vào mắt mẹ:

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    ***

    Rời San Francisco trên chiếc xe chở khách chúng tôi ôn lại những địa điểm đă viếng thăm qua ba ngày ở vùng vịnh. Mẹ tỏ vẻ hài ḷng đă được chính mắt chiêm ngưỡng chiếc cầu nổi danh Golden Gate. Mẹ cũng yêu thích cái công viên cùng tên với khung cảnh nên thơ thanh b́nh mà mẹ gọi là hồ Tịnh Tâm.

    Hai ngày ở San Jose, ấn tượng nhất đối với mẹ là những h́nh ảnh sinh động, huy hoàng và lạ mắt của vô số loài sống dưới nước hiển hiện ngay trước mắt trong Monterey Bay Aquarium. Khi chúng tôi về tới quận Cam. Cậu và các con cháu đón chúng tôi ở bến xe, chỉ thiếu có mợ.

    Khi tôi thông báo mẹ sẽ sang thăm gia đ́nh cậu, cậu nói sẵn sàng gặp mẹ nhưng từ chối cho chúng tôi tạm trú. Nhà cậu mợ rất rộng, nhiều buồng ngủ. Vợ chồng con cái tôi mỗi khi qua Cali là ở nhà cậu mợ hà rầm. Cậu mợ hẳn phải đau ḷng khi lần này để tôi ở khách sạn chỉ v́… có mẹ!. Mợ không muốn chứa mẹ trong nhà. Hai đứa em trai của mợ đều bị tập trung, một bỏ xác trong rừng Yên Bái.

    Mỗi ngày trong suốt một tuần, cậu lái xe đến khách sạn đón chúng tôi đi viếng thăm hết nơi này đến nơi khác. Ngày đầu, cậu dành cho khu Little Saigon. Mẹ thú nhận là rất ngạc nhiên về mức phát triển quy mô và sự phồn vinh sang giàu của người Việt tỵ nạn.

    Những ngày kế dành cho danh lam thắng cảnh. Có ngày chúng tôi bay khỏi thành phố đỏ đen Las Vegas về phía Bắc để chiêm ngưỡng Grand Canyon vô cùng kỳ vĩ ngoạn mục.

    Cậu thường dùng khoảng thời gian di chuyển để hỏi mẹ về gia đ́nh và ḍng họ ở quê nhà. Cậu cũng kể về cuộc đời của cậu trong suốt nửa thế kỷ không gặp chị. Tôi vô cùng thú vị được nghe hai chị em nhắc lại những kỷ niệm thời họ sống bên nhau. Thỉnh thoảng cậu và mẹ “đụng” nhau về đề tài chính trị thường là do cậu khởi xướng. Một lần đang lái xe, cậu bỗng nhái cái giọng bắc của mẹ:

    “Thật đáng tiếc! Nếu chị cả đừng… vớ phải cái ông trí ngủ nằm vùng th́ giờ chị em gặp lại dung dăng dung dẻ biết bao!”. Mẹ nở ngay nụ cười đáp trả: “Th́ cũng lỗi ở em. Phải chi em không làm tay sai cho Mỹ Ngụy”. Cậu gật gù ra vẻ tán thưởng rồi bắt sang chuyện khác.

    Hôm đứng trước trường đại học danh tiếng Standford, cậu cười nói: “Tham quan trường này chị có nhớ đến những năm chị dạy ở trường Đảng không? Phải công nhận duy vật biện chứng pháp hay tuyệt. Đảng Cộng sản chủ trương “không có người bóc lột người”. Thế mà ngày nay bản thân Đảng hóa thành “đảng bóc lột người”. Y chang… hủy thể của hủy thể!” Mẹ bật cười gịn tan: “Đúng ra là… phủ định của phủ định!”.

    Một buổi tối về khách sạn c̣n sớm, cậu lân la ở lại. Không biết dẫn dắt từ đề tài ǵ, hai chị em bắt đầu bàn về Hoàng Sa, Trường Sa và sự hiếp đáp của Trung cộng. Bỗng cậu đặt câu hỏi:

    “Ông Bush hứa với ông Dũng là sẽ ủng hộ sự toàn vẹn lănh thổ của Việt Nam. Vậy giả sử Trung cộng tấn công Việt Nam và Mỹ đem quân qua giúp đánh lại Trung cộng, th́ đối với hai quân đội ngoại nhập đó, theo chị th́ phải gọi là ǵ? Tàu là quân xăm lăng, Mỹ là bọn xâm lược?” Mẹ cười duyên dáng: “Gọi thế là…đúng sách vở đấy”.

    Vào ngày thăm viếng Getty Center, một công tŕnh chi phí hàng tỷ đô la, vừa đồ sộ về kiến trúc tân kỳ, vừa là viện bảo tàng nghệ thuật cổ vật hàng thế kỷ, lại vừa quy mô về tổ chức, tất cả chi phí do nhà tỷ phú Paul Getty đài thọ, cậu tôi bất ngờ hỏi mẹ:

    “Nghe đâu chị đang là tỷ phú đỏ. Ngày xưa chị chống Mỹ cứu nước, ngày nay nhà tỷ phú Việt Nam đổi mới đă đóng góp được ǵ để dựng nước?” Mẹ cười: “Chị đang cho xây Đại Nam Quốc Tự thứ nh́. Hôm nào khánh thành chị sẽ mời em về dự”. Cậu cười ra vẻ đắc ư: “Xin hỏi lần này chị đặt ông Hồ ngồi ở đâu?”

    Tôi nhớ vừa đọc tin tức gần đây nói về ngôi chùa vĩ đại mới xây xong có đặt ba bức tượng từ thấp lên cao: Hồ Chí Minh, Khổng Tử, Phật Thích Ca. Tôi lo âu chờ câu trả lời. Mẹ nhởn nhơ: “Em về th́ biết”.

    ***

    Đêm chót trước khi rời Quận Cam trở lại Maryland chúng tôi được cậu mời một bữa tiệc cá 7 món, đặc sản Cali. Khi chúng tôi đến nhà hàng, tôi thật sự ngạc nhiên và vui mừng khi thấy có cả mợ hiện diện. Mợ đứng lên vui vẻ chào hỏi và mời mẹ ngồi bên cạnh. Mợ vốn hoạt bát, nên mẹ lúc nào cũng cười tươi. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Lúc chờ tính tiền cậu hỏi mẹ bao giờ về Việt Nam. Mẹ bảo c̣n lâu, khoảng sáu tháng nữa. Và năm tới có thể là qua ở luôn. Cậu gật gù nh́n mẹ rồi nh́n tôi. Tôi tưởng cậu tán thành quyết định của mẹ nhưng cậu chậm răi nói:

    “Phải nói là rất ngạc nhiên khi nghe chị tính qua Mỹ ở luôn. Chị biết không ông Hồ Chí Minh có làm một câu thơ rất nổi tiếng: đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào! Ba mươi ba năm qua, Ngụy đă nhào Mỹ đă cút. Thế mà giờ đây có người đánh đuổi Mỹ lại muốn… cút theo Mỹ!” Tôi bật cười nhưng kịp hăm khi thấy mặt mẹ sa sầm…

    Về Maryland, theo dự trù chúng tôi nghỉ ngơi ba ngày trước khi bay xuống Georgia và Texas. Nhưng chỉ mới qua đêm, buổi sáng mẹ buồn rầu đổi ư. Mẹ muốn về ngay Việt Nam. Tôi ngỡ ngàng. Nhưng tôi chợt hiểu ra. Câu trêu chọc của cậu đă chạm tự ái mẹ.

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Tôi nh́n mẹ ḍ hỏi. Ánh mắt mẹ ngập tràn âu yếm mà giọng cất lên trầm buồn: “Chắc mẹ sẽ không qua đây thăm con nữa.” Tôi nghe xao xuyến nhưng vẫn lặng thinh. Lời mẹ êm như tiếng thở dài: “Và khi mẹ chết, con cũng không cần phải về…”

    Tôi đứng chết lặng. Tôi có cảm tưởng như tôi đă cư xử quá tệ hại với chính mẹ ḿnh. Ư nghĩ trở thành đứa con bất hiếu khiến tôi buột miệng: “Mẹ! Con sẽ về. Thế nào con cũng về. Cậu đă dạy con nghĩa tử là nghĩa tận.”

    Bà ṿng tay ôm lấy tôi thật chặt, giọng êm đềm: “C̣n đây là lời mẹ dạy, lần đầu mà cũng là lời cuối. Con hăy luôn luôn ghi nhớ: “Chú như cha, cậu như mẹ”. Con gắng giữ sức khỏe. Thôi mẹ đi.”

    Mẹ nắm chiếc cần va ly từ tay tôi. Tôi vụng về ôm lấy mẹ. Mẹ áp má vào má tôi. Tôi nghe chừng thân ḿnh bay bổng. Khi tôi mở ṿng tay, mẹ quay mặt bước đi. Tôi thấy ḿnh quá bất nhẫn, khẽ gọi: “Mẹ!”

    Bà quay lui, chân vẫn bước, đôi mắt hiền từ. Tôi lúng túng vẫy tay, cố nở nụ cười: “Chào mẹ!”

    ***

  7. #467
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    824
    GIỌT NƯỚC MẮT NGƯỜI PHỤ NỮ “BÊN THẮNG CUỘC” (*)

    https://ongvove.wordpress.com/2018/1...en-thang-cuoc/
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/02...ben-thang.html



    Nhà văn Dương Thu Hương

    Dương Thu Hương tự nhận ḿnh là “người rừng”, “mụ đàn bà nhà quê răng đen, mắt toét”. Báo chí Pháp th́ gọi Dương Thư Hương là “Con Sói Đơn Độc”. C̣n lănh đạo CSVN th́ chửi bà là “con đĩ chống đảng”.

    Gọi bằng ǵ th́ gọi, Dương Thu Hương vẫn là chính ḿnh: bản chất chân quê không hội nhập vào thế giới trên mạng, bơ bă, đốp chát, đơn độc, và trên hết, ngay thẳng, hết mực với mục tiêu nhắm tới là tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ, tự do, thoát khỏi cái chế độ hiện nay mà bà gọi là “chỉ sống bằng xác chết, không có bất cứ giá trị ǵ cả.”
    Sinh năm 1948, lớn lên tại miền Bắc vào đúng giai đoạn Cộng sản Hà Nội tung toàn lực lượng nhất quyết bằng mọi giá phải đạt được tham vọng “giải phóng miền Nam thoát khỏi sự kềm kẹp của Mỹ-Ngụy.” (sic)
    Như lời bà kể, cùng với hơn 100 bạn ngang lứa tuổi, bà đă cắt máu xin vào Nam “đánh Mỹ cứu nước”.
    Những trải nghiệm trong chiến tranh, cùng những chua chát của Tháng Tư 1975 đă là chất liệu cho các tác phẩm sau này của bà, như “Những Thiên Đường Mù”, “Bên Kia Bờ Ảo Vọng”, “Khải Hoàn Môn”, “Đỉnh Cao Chói Lọi”, “No Mans Land” (ấn bản Anh ngữ) được dịch sang Pháp ngữ là “Terre Des Oublis”…

    ***
    Dấu mốc quan trọng làm thay đổi hẳn cuộc đời Dương Thu Hương là thời điểm đoàn quân của “bên thắng cuộc” vào Sài G̣n trưa ngày 30 Tháng Tư 1975.
    Trong các bài viết, và trong lần gặp bà ở Paris năm 2005, Dương Thu Hương kể: “Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đă là một ngả rẽ trong đời tôi. Khi đội quân chiến thắng vào Sài G̣n, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười th́ tôi ngồi bên lề đường khóc. V́ tôi thấy tuổi xuân của tôi đă hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp v́ nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà v́ tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lư. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. C̣n toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ v́ nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ…nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đă thua chế độ man rợ.”
    Từ những nhận thức này, Dương Thu Hương trở thành “Con Sói Đơn Độc” ngay giữa bầy đàn của ḿnh, v́ hầu như không có người nào trong hàng ngũ lên tiếng đấu tranh cho dân chủ sau 1975 lại có lối ăn nói bơ bă, “chém đinh chặt sắt” như bà. Bà nói, “chẳng việc ǵ phải kiêng dùng những danh từ mà nhiều người cho là thô bỉ, như là ‘ỉa vào mặt kẻ cầm quyền’, v́ đó là cách nói thuần của người Việt răng đen mắt toét; là ngôn ngữ đích xác của người nông dân khi họ muốn biểu lộ thái độ khinh bỉ và bất chấp. Tôi hành động như thế là có dự tính chứ không phải ngẫu hứng. Tôi rất ghét những thứ ngôn ngữ nhờ nhờ nhạt nhạt.”
    Năm 1997, Lê Khả Phiêu lên làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, từ Washington DC, kẻ viết bài gọi điện thoại về Hà Nội hỏi Dương Thu Hương, rằng cảm nghĩ của bà ra sao về tân lănh đạo CS, bà bốp chát: “ông đă có bao giờ thấy âm hộ của con ngựa già chưa? Đấy, mặt thằng Lê Khả Phiêu thế đấy, nó nhăn nheo y như âm hộ con ngựa già”.
    Và năm 2,000 khi Tổng Thống Mỹ Bill Clinton đến thăm Hà Nội, bà trả lời phỏng vấn của kẻ viết bài qua điện thoại: “Cliton là biểu tượng của một nền dân chủ, là một chân trời khác, một cuộc sống khác mà người ta ao ước.” Và bà cười sảng khoái, thuật lại câu của hàng xóm láng giềng nhà bà họ nói “sao mà xấu hổ thế! tổng thống của chúng nó, của dân Mỹ đứng cạnh mấy ông lănh đạo của ḿnh, mặt nó th́ sáng ngời ngời, c̣n mặt mấy ông lănh đạo của ḿnh sao mà tối tăm thế. Mặt Tổng bí thư Lê Khả Phiêu tuy đă sửa nhan sắc nhưng trông cũng không đẹp cho lắm. Cho nên dân chúng bảo xấu hổ quá. C̣n cánh đàn ông th́ họ rú lên, ối giời ơi! Cái thằng Clinton nó đẹp giai quá! Ḿnh cũng c̣n mê nó nữa là đàn bà. Cho nên một trăm con mê nó th́ cũng phải thôi.” (cười to tiếng, sảng khoái).
    Rồi “Con Sói Đơn Độc” nói tiếp “hàng xóm nhà tôi xem thằng Lê Khả Phiêu là lănh đạo của họ th́ các ông bà ấy xấu hổ nhục nhă; chứ c̣n tôi th́ tôi thấy b́nh thường; v́ từ lâu tôi đă coi mấy thằng lănh đạo chúng nó chẳng ra cái ǵ, cho nên tôi chả việc ǵ phải nhục hộ chúng nó.”
    Chưa hết, “mụ nhà quê răng đen mắt toét” c̣n kể, “một nhà báo Mỹ phỏng vấn tôi và hỏi tôi nghĩ như thế nào về quan hệ của tôi với chế độ, tôi nói thẳng rằng, chế độ Hà Nội là bọn ngửi rắm bọn Bắc Triều Trung Quốc”.
    Đó chính là Dương Thu Hương.
    ***
    Lư do nào lănh đạo Hà Nội chửi bà là “con đĩ chống đảng?”
    Ngồi cạnh cửa sổ căn hộ lầu hai của bà ở Quận 5 Paris, bà cười, kể lại:
    “Trong bài diễn văn tôi đọc ở Đại hội Nhà Văn năm 89, tôi nói rằng đảng cộng sản phải biết ơn nhân dân. Bởi v́ xưa nay họ chỉ nói nhân dân phải biết ơn đảng thôi. Trong bài diễn văn đó, tôi phân tích rằng, cả một dân tộc đă đổ xương máu để kháng chiến chống Pháp và những ǵ dân tộc đạt được là do truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc nhưng đảng cộng sản đă cướp tất cả công đó và nhận vơ là công của đảng. Họ c̣n dậy dỗ quần chúng là phải biết ơn đảng. Hành động như thế vừa đểu cáng vừa vô ơn bạc nghĩa và tự cao tự đại. Những kẻ như thế không xứng đáng để lănh đạo dân tộc.
    Hỏi, bà có bao giờ bốp chát trực tiếp như thế với giới lănh đạo chế độ, Dương Thu Hương cười nửa miệng, nói, “tôi sợ ǵ chúng nó, tôi từng chửi ‘ỉa vào mặt đảng’”.
    Dương Thu Hương kể, “Năm 1998, trong một nghị của trí thức Hà Nội, tôi có đọc bài diễn văn với tựa đề là Nhân Cách Trí Thức. Tại hội nghị đó, ông Nguyễn Văn Linh (Tổng bí thư đảng cộng sản lúc bấy giờ) tỏ ra vô cùng đắc ư với nội dung bài diễn văn của tôi. Ông ta đă ôm hôn tôi thắm thiết và xin bài diễn văn của tôi. Sau đó, vào giờ giải lao, người thư kư của ông ta t́m tôi và chuyển đề nghị của ông Linh muốn tặng tôi một căn nhà tiêu chuẩn dành cho cấp bộ trưởng. Người thư kư này c̣n đề nghị tôi tạm im lặng để cho đảng tự cải sửa. Tôi trả lời rằng, tất cả những việc tôi làm là v́ dân tộc chứ không phải v́ bản thân tôi; và tôi không giàu có nhưng cũng có một căn nhà đủ để ở. Tôi c̣n nói với ông thư kư của ông Linh rằng, hiện giờ đang có hai vạn giáo viên tiểu học ở Hà Nội không có nhà để ở, cho nên nếu nhà nước có ư định th́ nên phân phối nhà cho hai vạn người đó.
    “Một lần khác, nhà thơ Giang Nam lúc đó c̣n sống, chuyển lời của ông Nguyễn Văn Linh mời tôi ăn cơm với vợ chồng ông Linh và cô con gái của ông Linh. Giang Nam c̣n bảo là ông Linh nói rằng, dù sao chăng nữa th́ tôi cũng là người mà nhà nước này yêu mến v́ tôi đă t́nh nguyện chống Mỹ và chống Tầu, và đó là điều chứng minh tôi là người hết sức hy sinh để bảo vệ tổ quốc. Tôi trả lời thẳng thừng rằng, tôi đă đấu tranh cho tự do dân chủ, tôi chỉ ngồi trên cỏ thôi, nên tôi không chơi với vua quan.
    “Tôi nghĩ rằng những lời phát biểu đó của tôi khiến ông Linh phật ḷng. Về phương diện cá nhân th́ hẳn là ông ấy phải phật ḷng, và sau đó th́ ông ấy bị sức ép của cánh bảo thủ, nên ông ấy quay ngoắt lại và ông ta đánh vào các nhà văn mà ông ấy từng khuyến khích họ đừng uốn cong ng̣i bút. Với cá nhân tôi th́ ông ta mắng tôi là ‘con đĩ chống đảng’. Lúc đó tôi nói với một ông trong ban tổ chức đảng rằng, nếu tôi là đĩ th́ may cho cái đảng này; nhưng v́ tôi không đánh đĩ được cho nên tất cả mọi năng lực của tôi đều dồn vào việc ỉa vào mặt đảng. Họ đă chửi tôi như vậy th́ từ giờ trở đi mọi sự đều rơ ràng, không c̣n con đường thứ ba nữa. Nghĩa là tôi dấn thân đến cùng trong mục tiêu đấu tranh cho dân chủ.
    Nhân Dương Thu Hương kể việc Nguyễn Văn Linh muốn tặng bà căn nhà, kẻ viết bài này lại nhớ câu nói để đời của Thi sĩ Hữu Loan, tác giả bài thơ bất hủ “Màu Tím Hoa Sim”.
    Ông Hữu Loan vào Sài G̣n sau 1975 thăm một người bạn cũ là Thi sĩ Hà Thượng Nhân và kể cho người bạn xưng hô “mày tao chi tớ” từ thửa thiếu thời với ḿnh, rằng đảng CS muốn tặng ông căn nhà để ông đừng chống đảng nữa, ông trả lời “Tôi không có th́ giờ làm nhà v́ đang bận làm người”. Hữu Loan c̣n khẳng định thái độ sống của ông, “cả đời là thanh gỗ vuông chành chạnh, cương quyết không để người ta đẽo tṛn lăn đi đâu th́ lăn.”
    Tác giả “Màu Tím Hoa Sim” đă phải trả giá cho cách sống như “cây tùng trước băo” của ḿnh: bị chế độ bỏ tù, sau đó bị giam lỏng tại nhà ở Nga Sơn,Thanh Hóa và kiếm sống bằng những chuyến xe kĩu kịt đá và những mớ bánh chui nhủi của vợ.
    Và Dương Thu Hương, những lời đanh thép đánh thẳng vào đảng như thế khiến bà bị bắt vào Tháng Tư năm 1991 và được thả khỏi nhà tù nhỏ ngày 20 tháng 11 cùng năm đó.


    Phải chăng Dương Thu Hương cắt máu t́nh nguyện vào Nam “đánh Mỹ” v́ muốn phục vụ đảng CS, kẻ viết bài hỏi câu đó và bị tác giả “Những Thiên Đường Mù” đáp trả bằng giọng khinh bạc, ông Thái lầm rồi, “năm 68 tôi vào tiền tuyến là v́ tôi tuân thủ truyền thống cứu nước của dân tộc Việt Nam chứ không v́ phải đảng cộng sản. Tôi c̣n nhớ lúc xẩy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đă phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tự bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết. Thật khủng khiếp. Khi 8 tuổi, buổi sáng khi đi tưới rau, tôi thấy cảnh những người chết như thế và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp. Cho nên tôi nhắc lại, tôi chiến đấu hoàn toàn không v́ cái đảng gây ra cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu người dân như thế”.
    Những năm tháng bị cuốn vào cuộc tàn sát, Dương Thu Hương cho biết, “đến tận bây giờ, cuộc chiến vẫn ám ảnh tôi. Lúc tôi t́nh nguyện vào Nam, số học sinh của cả bốn lớp 10 của trường chúng tôi vào chiến trường khoảng 120 người, vậy mà chỉ 2 người may mắn sống sót, là tôi và một người nữa. Tôi th́ bị bom làm điếc tai bên phải; người c̣n lại là cậu Lương th́ bị cụt một tay và trở nên ngớ ngẩn. Tất cả những bạn khác của tôi không ai sống sót. Khi tôi đi t́m mộ của những bạn đă chết, tôi mới biết, trong những trận đánh mà bộ đội miền Bắc thua, th́ người ta xóa sạch dấu vết và tên tuổi liệt sĩ không được ghi lại. Họ giải thích rằng dân tộc ta là dân tộc anh hùng phải chiến thắng quân thù, nhưng trận này chưa thắng cho nên không thể kiểm kê các liệt sĩ được. Cho nên hàng trăm người chết dưới đáy hồ, dưới đáy vực mà hoàn toàn không ai t́m được tung tích.”
    Đang nói chuyện, nhiều lúc, Dương Thu Hương trôi vào im lặng, kẻ viết bài có cảm tưởng những bóng ma của cuộc chiến đang quay về ám ảnh bà.


    Dương Thu Hương và tác giả tại một quán ăn ở Paris năm 2005

    V́ bị điếc nặng nên bà phải nói rất to th́ mới nghe được giọng ḿnh. Đi cạnh bà trên đường phố Paris, bà nói như quát khiến nhiều người chung quanh nh́n bà tỏ ra khó chịu. Ngồi tại một quán cà phê gần Tháp Eiffel, bà nói, mắt long lên ṣng sọc: “Chế độ hiện nay chỉ sống bằng xác chết thôi. Nó không có giá trị ǵ trong thời đại này cả. Những người lănh đạo chế độ hoàn toàn vô năng và tham nhũng.”
    “Bà tự nhận là ‘kẻ làm giặc’ ngay trong ḷng chế độ, vậy các con bà bị thiệt tḥi ra sao ạ”, tôi hỏi?
    “Tôi đă nói rất rơ với các con tôi, rằng con đường làm giặc là phải chịu tất cả mọi khổ đau; cho nên tất cả mọi người trong gia đ́nh, nghĩa là bố tôi, mẹ tôi, anh em tôi và con cái, nếu ai muốn th́ tôi sẵn sàng viết giấy với ṭa án là không có quan hệ với tôi nữa để tránh cho họ khỏi bị di lụy. C̣n nếu những người muốn tiếp tục đứng với tôi th́ phải chấp nhận khổ đau, thua thiệt và không bao giờ được nói với tôi một lời can thiệp vào việc tôi làm. Bởi v́ tôi biết chắc chắn cộng sản sẽ dùng những người thân thuộc để gây sức ép. Nhiều trường hợp đă xẩy ra đối với những người đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Vợ con, anh em của họ bị công an áp lực phải khuyên can họ không được đấu tranh nên một số người đành bỏ cuộc. Bản thân tôi đă lường trước điều đó nên tôi tuyên bố ṣng phẳng rằng, cả tuổi xuân của tôi, tôi đă hy sinh để nuôi con rồi, nên bây giờ tôi an tâm lao vào cuộc chiến chống lại bọn cường quyền. Tôi bảo các con tôi có thể về sống với bố của chúng hay với một người mẹ khác. C̣n nếu chọn sống với tôi th́ phải chấp nhận khổ đau, v́ chắc chắn chúng sẽ không có chỗ đứng trong chế độ này. Hai con tôi đứa nào cũng hai bằng đại học nhưng vẫn không có việc làm. Con trai lớn của tôi phải sống bằng tất cả mọi việc, từ bồi bàn cho đến gác cổng. . .và bây giờ đi quay phim thuê cho một hăng tư. Cháu gái th́ bán sơn.”
    Kẻ viết bài được gặp con gái lớn của Dương Thu Hương khi cháu thăm mẹ ở Paris; hỏi, các cháu có ủng hộ lư tưởng của mẹ không, cô con nói, giọng cũng mang hơi hướng “người rừng” giống mẹ: “thôi chú đừng nhắc chuyện điên khùng ấy làm ǵ.”
    C̣n Dương Thu Hương nói, “đối với chúng nó, tôi là một người điên. Nhưng dầu sao chăng nữa th́ cũng là t́nh mẹ con, nhất là tôi đă giao hẹn là nếu chấp nhận tôi th́ không được can ngăn việc tôi làm, nếu can thiệp th́ tôi sẽ cắt đứt ngay tức khắc, thành ra chúng nó đành chấp nhận thôi.”
    “Thế c̣n t́nh cảm đôi lứa, gia đ́nh của bà?”
    (Cười) “Tôi là người hoàn toàn thất bại và bất hạnh trong cuộc sống đôi lứa. Nhưng tôi cũng tự cảm thấy hạnh phúc v́ tôi đă tự tiêu diệt tuổi thanh xuân để nuôi con tôi trưởng thành. Con cái tôi không phải bương chải ngoài đường. Trong khi bố nó có thể đi kiếm vài ba người vợ khác. Tôi không cần một xu của ông ta để nuôi con, dù tôi làm giặc và chịu nhiều hậu quả. Đấy là điều hạnh phúc. Nếu không tôi sẽ bị lương tâm cắn rứt. Tôi c̣n một hạnh phúc nữa là tôi đă trả được tất cả những món nợ cho những người bạn tôi đă chết trong chiến tranh. Ít nhất là bằng tác phẩm và những bài viết để vạch trần tội ác của một cuộc chiến tranh phi lư. Tôi cảm thấy hạnh phúc trong sự bất hạnh của ḿnh. Tôi nghĩ rằng số phận đă chọn tôi để trở thành một con người như vậy.”
    “Tiêu phí tuổi trẻ trong chiến tranh để rồi sau đó bị chế độ đầy đọa v́ làm giặc, bản thân th́ không ai dám giao tiếp v́ sợ bị liên lụy; có bao giờ bà chùn bước và muốn buông xuôi?”
    (cười mũi) “Nếu mà tôi chùn bước, buông xuôi th́ tôi đă chùn bước, buông xuôi từ lâu rồi.”
    “Bà tin vào nhân quả?”
    “Tôi hoàn toàn tin vào thuyết nhân quả. Tôi hoàn toàn tin vào kiếp sau. Tôi vẫn dậy con tôi phải sống cho có trước có sau. Nhiều người muốn tôi phải thế này phải thế khác. Tôi trả lời rằng tôi không phải ǵ cả. Tôi chỉ phải sống đúng với những nguyên tắc đạo đức mà gia đ́nh tôi đă dậy tôi và những nguyên tắc mà tôi học được ở đạo Phật. Các con tôi cũng phải theo những nguyên tắc đạo đức đó. Bất luận chúng nó là thường dân hay là người lỗi lạc, tôi đối xử như nhau. Tôi không yêu cầu con cái tôi phải trở thành bác sĩ, tiến sĩ. . ., tôi không yêu cầu như thế. Tôi chỉ duy nhất yêu cầu các con tôi sống tử tế; và đối với tôi đạo đức là cốt lơi.”
    Căn hộ Dương Thu Hương có bàn thờ Phật Thích Ca. Có lần bà nói, đạo Phật giúp bà định được tâm ḿnh; rồi bà đùa, “anh Phật quả là đẹp giai thật.” Tṛ chuyện nhiều với bà th́ biết, bà vẫn không bỏ được cái lối tếu táo “người rừng” chứ thực tâm bà hết mực thờ kính Đức Thế Tôn.
    Dương Thu Hương có nguyên tắc sống đạo đức rạch ṛi, không khoan nhượng. Thăm bà ở Paris, kẻ viết bài xin phép biếu bà chút quà, bà quát lên bảo, không nhận bất cứ vật chất nào của bất cứ ai.
    Những bữa cơm tiệm ở Paris, bà giành trả tiền và khẳng định, nếu kẻ viết bài trả th́ “về Mỹ ngay, không phỏng vấn phỏng viếc ǵ nữa.’
    Đành bó tay chịu thua “mụ nhà quê mắt toét,” cách tôi vẫn gọi bà Hương mỗi khi điện thoại thăm hỏi.
    Bốp chát, bơ bă, không khoan nhượng là Dương Thu Hương.
    Đạo đức cốt lơi cũng là Dương Thu Hương.
    Bây giờ “Con Sói Đơn Độc” đă bước vào tuổi 70, vậy mà ngọn lửa đấu tranh cho một tương lai Việt Nam tươi sáng vẫn ngùn ngụt cháy trong trái tim bà./.

    Đinh Quang Anh Thái
    Tháng Hai, 2018

    (*) “Bên Thắng Cuộc” là tựa cuốn sách của Nhà báo Huy Đức.

  8. #468
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    824
    Tâm Sự Của Một Người Miền Bắc

    https://tiengthongreo.blogspot.com/2...-mien-bac.html
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/02...-mien-bac.html

    24 November 2017

    Lê Nhàn

    “Tính không trả lời câu hỏi này v́ không có thời gian, bởi tuần này đổi thời khóa biểu nên suốt từ 7g tối qua đến 12g trưa nay tôi làm việc liên tục. Về nhà ngủ được một giấc rồi lại phải đi làm, đến giờ mới vừa ăn cơm xong.

    Nhưng thôi, trả lời cho thỏa ḷng người hỏi.
    **
    Nếu như có người hỏi là “Tại sao Nhàn Lê sinh ra lớn lên, học hành ở miền Bắc nhưng bây giờ lại nói người Bắc chúng tôi làm hỏng hết, rồi lại thích miền Nam, lại thích luôn cái chế độ miền Nam trước 1975 nữa… Nhàn Lê đă ăn cháo, đá bát”… nói chung là phụ bạc nơi nuôi ḿnh khôn lớn.

    – Vậy Nhàn Lê trả lời sao ?

    *

    Thưa các anh chị!

    Thưa các bạn và các em!

    Chính v́ tôi đă nh́n quá rơ, tôi hiểu quá thấu nên tôi biết nó hỏng, và tôi nói ra sự thật là nó hỏng.

    1. Tại sao tôi làm bác sĩ?

    Mẹ tôi nói “Con ạ, bây giờ đi bệnh viện mà không có tiền th́ họ không chữa cho ḿnh đâu”.

    Tôi đă nói “Mẹ cố gắng mẹ nhé, lớn lên con sẽ làm bác sĩ, con chữa bệnh cho mẹ khi ấy mẹ sẽ không phải mất tiền nữa, c̣n bây giờ mẹ phải t́m moi cách để giữ lấy mạng sống của ḿnh”.

    V́ lời hứa của đứa trẻ 8 tuổi khi ấy đă thôi thúc tôi vượt qua rất nhiều khó khăn mà không thể kể hết của một đứa con nhà nghèo, đến ăn c̣n không đủ no, ăn 2 bữa cơm độn khoai cho no đă là quá sức của cha mẹ nó, bữa sáng là một điều xa xỉ.

    Tôi hỏi ngược lại, nếu một xă hội tốt đẹp th́ một đứa bé 8 tuổi nó có phải nghĩ tới vấn đề nhức nhối đó không? Hay nó được lớn lên với một tuổi thơ trong sáng, êm đềm và mơ mộng?

    Cha mẹ tôi đă phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để có được hạt gạo mà nuôi chị em tôi trong khốn khó, vậy TÔI PHẢI BIẾT ƠN AI?

    – V́ đất nước phải bước vào thời kỳ quá độ để đi lên Chủ Nghĩa Xă Hội, cho nên đảng và chính phủ đă tập trung xây dựng nên những con người mới XHCN.

    Ở nông thôn, ông bà cha mẹ chúng tôi bị ép buộc vào hợp tác xă, nhưng hậu quả của nó như thế nào th́ ai cũng thấy rơ, một ngày lao động (một công) được tính bằng 800 g thóc, toàn dân đói ră họng nhưng không ai được đi ngược lại chủ trương của đảng và nhà nước.

    Không ai được trồng thêm củ sắn, củ khoai để cứu đói cho đàn con đang tuổi ăn, tuổi lớn của ḿnh.

    Chị em chúng tôi phải đi vớt bèo dưới cái lạnh cắt da, cắt thịt để nuôi lợn, con lợn ấy lớn lên phải bán nghĩa vụ cho hợp tác xă, nh́n họ cướp đi công sức của ḿnh mà nước mắt lưng tṛng, chúng tôi thèm nhỏ dăi miếng thịt nhưng không có ăn, đến tết th́ hợp tác mới chia cho được mấy lạng… Để hậu quả kéo dài cho tới tận bây giờ cứ có mùi nhang là tôi lại thèm ăn thịt luộc (bởi hồi đó Tết thắp nhang cúng ông bà th́ mới có thịt ăn một bữa liếm mép).

    Ai đă nuôi tôi khôn lớn? Cha mẹ tôi hay đảng và chính phủ?

    Ai đă cướp con lợn, ai đă cướp miếng thịt của chị em chúng tôi để giờ đây nói tôi đái bát?


    Dưới cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông, chúng tôi sống hoang dă như những đứa trẻ mà Giáo Sư Ngô Bảo Châu đă nh́n thấy và mô tả. Có ai cho tôi manh áo ấm không? Chúng tôi đi chân trần trên băng giá, có ai cho tôi đôi dép không hay chỉ biết đến cướp đi thành quả lao động của chúng tôi?

    Và nếu hồi đó không có cái chủ trương vào hợp tác xă chết tiệt ấy th́ chiều cao của tôi có lẽ hơn bây giờ ít nhất là 5 cm, khi đi ra quốc tế tôi có thể nh́n ngang chứ không phải như bây giờ là phải ngước lên và tự hỏi rằng “cao như thế có mát hơn không”.

    Thời ấy muốn thịt con gà cũng phải giấu giếm đừng để nó kêu, bởi ăn thịt là có tội, ḿnh nuôi nó lớn nhưng không được phép ăn mà phải bán cho nhà nước … để làm ǵ?

    “Mỗi người làm việc bằng hai để cho cán bộ mua đài mua xe.

    Mỗi người làm việc bằng ba để cho cán bộ xây nhà xây sân”


    Như vậy phải hỏi tôi có hận hay không chứ? Tại sao tôi phải biết ơn, ơn ai? Ơn cái đứa chết tiệt nào nó đẻ ra cái chính sách vận hành ngu xuẩn và dốt nát thể? Để một thế hệ người Việt thấp c̣i và đần độn v́ thiếu dinh dưỡng?

    Ai nuôi tôi lớn kiểu điên rồ như thế để bắt tôi phải biết ơn?

    2. Tại sao tôi yêu miền Nam?

    Khi tôi nửa ăn, nửa nhịn để cố gắng lê lết cho hết 6 năm đại học, có những hôm đi phụ mổ bị té xỉu … nói lời hay ư đẹp là kiệt sức, nhưng thực ra là ĐÓI ĂN.

    Tôi đói ăn suốt 6 năm đại học, chất dinh dưỡng nào để cho tuổi này cạnh tranh tầm vóc với thế giới? Có ai cho tôi xu nào để tôi ăn cho đỡ đói không hay chính mẹ tôi, đến cái bánh cũng không dám ăn mà phải để dành tiền cho tôi, cho dù chỉ là 500 đồng?

    Và sau khi ra trường, tôi long đong lận đận đến 3 năm, cầm tấm bằng mà bao nhiêu lần bật khóc.

    Bố tôi đă nói:

    “Con ạ, ḿnh không có chức, không có quyền cũng không có tiền nên xin việc khó lắm, có lẽ bố mẹ đă bất lực, con hăy tự t́m đường đi cho ḿnh. Xă hội này không có chỗ nào công bằng để đấu sức bằng trí tuệ của ḿnh đâu con.

    Tất cả đều được đo đếm bằng tiền cho dù tiền đó là tiền tham nhũng, cho dù tiền đó là tiền hối lộ. Cho dù đó là tiền tham ô mồ hôi và nước mắt của người dân để họ đút vào túi riêng, cái túi tham vô độ làm cho cuộc sống của người dân trở nên khốn cùng.

    Cha mẹ nuôi 6 năm ăn học đă kiệt sức lắm rồi con”.


    Nhắc lại lần thứ ba là đă có lúc tôi tính đến việc đi vận chuyển ma túy thuê để có tiền xin việc, nhưng may thay chợt nhớ tới câu của nhà Phật rằng “Phàm làm việc ǵ cũng phải nghĩ đến hậu quả của nó” và tôi đă giật ḿnh tỉnh thức. Nếu không th́ có lẽ thân xác này đă trở về với cát bụi hoặc giờ này tôi đang cải tạo với cái án chung thân trong một nhà tù nào đó.

    Có ai và có bao giờ rơi vào t́nh cảnh tuyệt vọng như thế không?

    Chỉ v́ không có tiền xin việc, cho nên tôi hỏi lại đứa nào ăn cháo, đứa nào đái vào bát?

    Nếu không có mảnh đất Sài G̣n cho tôi lưu lạc th́ giờ này có tôi đang ngồi gơ phím không?

    Nếu không có con người Miền nam hiền ḥa th́ tôi có sống được?

    Nếu họ lưu manh lừa lọc khi tôi mới chân ướt chân ráo đến đây th́ cuộc đời tôi sẽ khốn nạn ra sao?

    V́ sao họ lại hiền ḥa như vậy?

    Đó là v́ cha ông của họ sống có nhân, có nghĩa và chính lớp người đi trước đă dạy con cháu họ như vậy, chứ không phải cái thứ lưu manh, lừa đảo.

    Và tôi biết qua những người bạn th́ Sài G̣n cũng không c̣n được như xưa nữa, v́ sao?

    Ai đă làm nó trở nên hoang tàn như thế? Ai đă làm cho nó mất t́nh người như thế?


    “HĂY TRẢ LỜI TÔI ĐI. HĂY TRẢ LỜI TÔI ĐI!”

    Lê Nhàn
    (Nguồn: ttvn.org)

  9. #469
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    824
    Năm Kỷ Hợi nói chuyện… con heo

    http://chinhhoiuc.blogspot.com/2019/...n-con-heo.html
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/02...encon-heo.html

    Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

    Con heo

    Năm 2019 sẽ là năm của con heo, người miền Bắc gọi là con lợn. Con heo hay con lợn cũng đều tượng trưng một con vật xấu xí nhất về “nhan sắc” và kém cỏi nhất về “công trạng” trong 12 con giáp của Âm lịch.

    Tại xứ ta và cả ở Trung Quốc, Nhật Bản, Bán đảo Triều Tiên (gồm Cộng ḥa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Hàn Quốc)… những người sinh vào các năm Hợi (1935, 1947, 1959, 1971, 1983, 1996, 2007) đều được cát tinh Thiếu Dương và Thiên Hỷ giúp đỡ, mang tới không ít cơ hội tiến thân. Đó là theo các chuyên gia bói toán an ủi những người cầm tinh con heo!



    Chân dung heo


    Hẳn các bạn c̣n nhớ, ngày xưa chúng ta có học “Lục súc tranh công”, kể lại chuyện 6 động vật nuôi trong nhà (trâu, chó, ngựa, dê, gà, lợn) tranh nhau kể lể công trạng của ḿnh với gia chủ. Con heo là con vật cuối cùng lên tiếng về thân phận của ḿnh với những lời lẽ có vẻ huyênh hoang, tự măn:


    “Như các chú lao đao đă đáng,
    Heo thong dong ăn nhảy mặc heo.
    Nội hàng trong lục súc với nhau,
    Ai sánh đặng ḿnh heo béo tốt?”



    Và đây là “công trạng” theo lời “báo công” của heo:


    “Vua ngự lễ Nam Giao đại đột,
    Phải có heo mới gọi tam sanh,
    Đừng đừng quen lời nói lanh chanh,
    Bớt bớt thói chê ai ăn ngủ.

    “Ḱa những việc hôn nhân giá thú.
    Không heo ra, tính đặng việc chi?
    Dầu cho mời năm bảy chuyến đi,
    Cũng không thấy một người thấp thoáng.

    “Việc ḥa giải, heo đầu công trạng,
    Thấy mặt heo nguôi dạ oán thù.
    Nhẫn đến khi ngu phụ, ngu phu,
    Giận nhau đánh giập đầu, chảy máu.

    “Làng xă tới lao đao, láu đáu,
    Nào thấy ai gỡ rối cho xong,
    Khiêng heo ra để lại giữa ḍng,
    Mọi việc rối liền xong trơn trải.

    “Phải chăng, chăng phải,
    Nghĩ lại mà coi,
    Việc quan, hôn, tang, tế, vô hồi
    Thảy thảy cũng lấy heo làm trước”.



    “Lục súc tranh công”, ấn bản do Ưu Thiên Bùi Kỷ hiệu đính

    Nhắc đến “quan hôn tang tế” người ta liên tưởng đến “chuyện… con heo” hay c̣n gọi nôm na là “phim con heo”. Hóa ra heo lại c̣n tượng trưng cho “chủ nghĩa phồn thực”, làm chuyện con heo là có đụng chạm đến sex, mà cũng nhờ sex mà con người duy tŕ và phát triển ṇi giống. Thế cho nên nhiều người kết luận… sex mới là công đầu của heo!

    Cũng có một chính khách ở Phương Tây đă không tiếc lời ca tụng con heo nhưng không phải v́ sex. Winston Churchill (1874-1965) làm Thủ tướng nước Anh tời hai nhiệm kỳ: năm 1940-1945, và năm 1951-1955. Ông đă để lại cho đời một danh ngôn thật hóm hỉnh nhưng lại khiến người đọc có nhiều suy nghĩ về cá tính của 3 con vật: chó, mèo và heo.

    Những điều Churchill nói ra đều là sự thật, sự thật đó tiềm ẩn một ư nghĩa trừu tượng về con heo khi đem so sánh với con người:
    "Tôi thích heo. Con chó ngước lên nh́n chúng ta [ngưỡng mộ]. Con mèo nh́n xuống chúng ta [coi thường], c̣n con heo th́ coi chúng ta là… ngang hàng"



    Virgil (Publius Vergilius Maro) là nhà thơ lớn của La Mă cổ đại, người sáng tạo ra thể loại “sử thi”, ca tụng nguồn gốc huyền thoại của dân tộc La Mă. Các thời đại sau tôn sùng ông như một nhân vật huyền thoại, một nhà hiền triết, một bậc tiên tri. Từ thời Cổ đại, tác phẩm của ông đă được giảng dạy ở nhà trường và đă được dịch sang tiếng Hy Lạp cổ.

    Có một danh ngôn của Virgil bao hàm một ư nghĩa sâu xa của triết học về chuyện “con heo có cánh” hay nói khác đi là “con heo biết bay”. Virgil cho rằng mọi người đều có thể làm được những điều kỳ diệu một khi họ nghĩ rằng họ có khả năng để làm điều đó. Ở đây, bài học được rút ra là người ta cần sự tự tin, rồi th́ thành quả sẽ tự nó sẽ t́m đến.


    “Chúng có thể v́ chúng nghĩ chúng có thể”

    Tổng thống Bill Clinton lại phản bác Virgil. Ông cho rằng người ta có thể lắp cánh cho heo nhưng dứt khoát điều đó không có nghĩa là biến nó thành con ó! (Mà con ó lại là biểu tượng của Hoa Kỳ).



    C̣n Tổng thống Barrack Obama lại chế diễu heo. Ông nói đùa: “Bạn có thể tô son lên một con heo. Nó vẫn là một con heo!”. Chắc ư Obama muốn nói “Bộ áo không thể làm nên thầy tu” hay suy diễn sâu xa thêm th́ “Cốt khỉ vẫn hoàn cốt khỉ”!



    George Orwell, nhà văn người Anh, có cả một tiểu thuyết về loài heo trong “Trại súc vật” (Animal farm). Ông kể lại một cuộc “cách mạng” của súc vật dưới sự “lănh đạo” của loài heo, được coi là thông minh nhất trong các loài vật. Súc vật đă lật đổ con người tại một nông trại và tạo dựng nước “Cộng ḥa Súc vật” (Republic of the Animals).

    Thế nhưng, cũng như con người, súc vật gặp phải một “bức tường muôn thuở”: khi quyền lực nắm trong tay sẽ phát sinh mâu thuẫn và dẫn đến thất bại. Dù bất đồng nhưng chúng cũng đă soạn ra “bảy điều răn cơ bản” cho súc vật trong trại và cuối cùng chỉ c̣n lại một điều răn duy nhất: “Tất cả mọi con vật đều b́nh đẳng nhưng… có những con vật b́nh đẳng hơn những con vật khác.”

    (Tham khảo “Trại súc vật” tại https://chinhhoiuc.blogspot.com/2018...ge-orwell.html)


    “Bộ sậu” trong Trại Súc Vật

    Nhà viết kịch nổi tiếng người Anh, George Bernard Shaw (1856-1885), đă từng nhận Giải thưởng Nobel Văn chương năm 1925. Kịch của ông vừa thâm thúy pha lẫn chút khôi hài với thông điệp dùng nghệ thuật để thức tỉnh con người trước yêu cầu phải thay đổi trật tự tư sản với tất cả các thể chế và tập tục của nó.

    Ông viết: “Tôi học được điều này đă từ lâu, không bao giờ vật lộn với con heo. Bạn sẽ làm bẩn ḿnh, ngoài ra, lại c̣n làm con heo thích thú”. Đó là một bài học về xử thế, cũng tựa như ta có câu “Thà làm đầy tớ người khôn c̣n hơn làm thầy thằng dại”!



    Chúng ta trở lại Phương Đông với câu chuyện của Trư Bát Giới trong Tây Du Kư. Lăo Trư mang h́nh hài của một con heo xấu xí và thầy Tam Tạng đặt tên “Bát Giới” với ư là tám ranh giới để tu sửa: không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói bậy, không uống rượu, không trang điểm, không nằm giường quá rộng và ăn chay trường.

    Bát Giới luôn đẩy những người đồng hành vào rắc rối bởi sự lười biếng, thói háu ăn và bản tính háo sắc trước những cô gái đẹp. Bát Giới luôn tỏ ra ghen tị với Tôn Ngộ Không vốn là đệ tử ruột của Tam Tạng. Lúc nào Bát giới cũng t́m cách hạ bệ Ngộ Không và đă có lần “con khỉ” bị đuổi về Hoa Quả Sơn chỉ v́ lời dèm pha của Lăo Trư.

    Trư Bát Giới đă học được 36 trong số 108 phép thiên cương địa sát. Tuy số lượng chỉ bằng một nửa 72 phép của Tôn Ngộ Không nhưng uy lực chỉ có hơn chứ không kém. Mặc dù vậy, do năng lực hạn chế nên phép thuật của Trư Bát Giới tỏ ra thua kém rơ rệt so với Tôn Ngộ Không.

    Trư Bát Giới vốn giữ chức Thiên Bồng Nguyên Soái, người chỉ huy hơn 8 vạn thủy binh ở Thiên Đ́nh. Trong bữa tiệc lớn hội tụ đủ các chức sắc, Trư Bát Giới đă bị hút hồn khi lần đầu tiên nh́n thấy sắc đẹp của Hằng Nga. Cùng với men say của rượu, Bát Giới đă tán tỉnh Hằng Nga và bị nàng tâu với Ngọc Hoàng. V́ lư do này, Bát Giới bị đày xuống hạ giới để theo Tam Tạng đi thỉnh kinh.

    Khi hoàn tất việc thỉnh kinh, tất cả bạn đồng hành của Bát Giới đều trở thành Phật hoặc La Hán. Chỉ riêng ḿnh Bát Giới là không, mặc dù đă có nhiều tiến bộ nhưng Bát Giới vẫn c̣n quá nhiều ham muốn. V́ vậy, Bát Giới được phong là "Tịnh đàn sứ giả" với phần thưởng là công việc "lau dọn bàn thờ", nơi mà Lăo Trư có thể ăn thỏa thích những hoa quả thừa!



    Bát Giới chính là h́nh ảnh của con người vốn đă bị ràng buộc v́ Tham-Sân-Si. Từ thời xưa cho đến thời nay vẫn luôn có những Lăo Trư tái sinh trong cuộc sống hằng ngày!

    ***

  10. #470
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    824
    Đọc thơ Xuân

    https://dongsongcu.wordpress.com/201.../doc-tho-xuan/
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/02...ongsongcu.html

    Posted on January 29, 2019 by dongsongcu
    Trần Doăn Nho


    Sắc mai vàng đón Tết. (H́nh: Dân Huỳnh/Người Việt)

    Trong ngôn ngữ, có lẽ không có chữ nào gợi nên những điều tốt đẹp bằng chữ “xuân”: nắng xuân, mưa xuân, chiều xuân, đêm xuân, ngày xuân, hoa xuân, vườn xuân, sắc xuân, thanh xuân, tuổi xuân, hồi xuân, nghênh xuân, du xuân, t́nh xuân, đón xuân rồi những là bến xuân, phiên gác đêm xuân, nhớ một chiều xuân…

    Xuân nào cũng gắn liền với hy vọng, với sự sáng sủa, với sự tươi vui, nồng ấm và sức sống.

    Tự điển Hán-Việt Thiều Chửu diễn tả chữ “xuân” như sau: “Xuân là đầu bốn mùa, muôn vật đều có cái cảnh tượng hớn hở tốt tươi, cho nên người ta mới ví người tuổi trẻ như mùa Xuân mà gọi th́ tuổi trẻ là thanh xuân 青春 xuân xanh, ư thú hoạt bát gọi là xuân khí 春氣, thầy thuốc chữa khỏi bệnh gọi là diệu thủ hồi xuân 妙手回春.” Xuân c̣n có nghĩa là rượu, cốc rượu đầu Xuân; thời nhà Chu bên Tàu, cứ đến tháng trọng Xuân 仲春 (Tháng Hai) th́ cho cưới xin, v́ thế mới gọi các con gái muốn lấy chồng là hoài xuân 懷春.”

    Chả thế mà nói đến “thơ Xuân” hay “nhạc Xuân,” dù chưa đọc, chưa nghe qua cũng đă cảm thấy vui vẻ, rộn ràng. Xuân, do đó, bao giờ cũng hàm nghĩa tích cực và lạc quan. Hăy nghe Nguyễn Du phác họa mấy nét mùa Xuân:

    “Ngày xuân con én đưa thoi
    Thiều quang chín chục đă ngoài sáu mươi
    Cỏ non xanh tận chân trời
    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”


    Én bay, nắng rực rỡ, cỏ non xanh, cành hoa trắng, h́nh ảnh nào cũng tươi, đẹp, sáng sủa.

    Với Hồ Xuân Hương, xuân gắn liền với xanh, xuân là xanh: xuân xanh. Và cũng gắn liền với cái trong trắng, trinh nguyên của người thiếu nữ mới lớn: tờ giấy trắng. Chả thế mà thời gian c̣n son trẻ của các cô gái được gọi là “xuân th́,” “đương xuân.”

    “Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô ḿnh
    Chị cũng xinh mà em cũng xinh
    Đôi lứa như in tờ giấy trắng
    Ngàn năm c̣n măi cái xuân xanh.”


    Nguyễn Bính về sau này cũng cho là “xuân” th́ đi với “xanh”:

    “Mùa xuân là cả một mùa xanh
    Giời ở trên cao, lá ở cành”


    Với Đoàn Văn Cừ, đó là cảnh làm thơ và viết câu đối ngày Tết:

    “Một thầy khóa g̣ lưng trên cánh phản
    Tay mài nghiên hư hoáy viết thơ xuân
    Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm
    Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ”


    C̣n Anh Thơ, xuân là cảnh sống động ngoài đường làng:

    “Ngoài đường ngơ bùn lầy theo nước chảy
    Thằng cu con quần đỏ cưỡi lưng bà
    Các cô gái đội vàng hương ôm váy
    Miệng tươi cười mừng tuổi những người qua”

    (Ngày Tết)

    Hàn Mặc Tử ví von thời điểm đẹp nhất của mùa Xuân với trái cây chín tới qua cái tựa đề: “Mùa Xuân Chín.” “Chín” ở đây là viên măn, tṛn đầy:

    “Trong làn nắng ửng khói mơ tan
    Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
    Sột soạt gió trêu tà áo biếc
    Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang”


    Chín ngoài trời mà cũng là chín ở trong ḷng những cô thiếu nữ:

    “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
    Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
    -Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
    Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…”


    Nguyên Sa lại thu gọn mùa Xuân vào một chỗ, đó là h́nh ảnh của “em,” người yêu.

    “Mùa xuân em mặc áo vàng,
    Ở trong thơ cổ chim hoàng hạc bay.
    Em vừa xoay nhẹ vai gầy,
    Nh́n coi vũ điệu vào đầy giấc mơ.
    Nh́n coi chỗ cuối bài thơ,
    Nụ hôn màu đỏ trời cho rượu đào.
    Anh nh́n em mới bước vào,
    Nh́n xuân, xuân cát tiếng chào đầu năm.”

    (Thơ Xuân Áo Vàng/Nguyên Sa)

    Xuân là “em.” “Em” là xuân. Nói cách khác, chính t́nh yêu là mùa Xuân.

    Thanh Tâm Tuyền có một cách h́nh dung khác. Xuân là Tháng Giêng. Mà Tháng Giêng th́ cây cỏ “hiện thành người,” là “cỏ non dại dột,” “cây leo yếu đuối.” Mùa Xuân gắn liền với cái non, tơ, yếu, mới chớm:

    “Người ta bảo đêm tháng giêng cỏ cây hiện thành người
    Anh bảo em chúng ta hăy là
    Những cây leo yếu đuối
    Những cỏ non dại dột
    Mùa xuân đ̣i em trong quấn quít chờ đợi”

    (Đêm/Thanh Tâm Tuyền)

    Mùa Xuân cũng là con thỏ hồn nhiên chạy trên cỏ sắc. Xuân biến tóc thành miệng: chuỗi cười, biến đôi môi thành lá và biến nụ hôn thành thành sao: cḥm hôn.

    “Những bước chân thỏ rừng
    Chạy trên cỏ sắc
    Sợi tóc đen như một chuỗi cười
    Trên chúm môi lá biếc
    Những cḥm hôn vội vàng
    Làm những v́ sao đổi ngôi
    Anh muốn làm mới t́nh yêu”

    (Bài Thơ Của Tháng Giêng)


    Mang Xuân đến mọi nhà. (H́nh: Dân Huỳnh/Người Việt)
    Trong lúc đó, từ căn nhà rất đẹp của ḿnh ở Bellevue, tiểu bang Washington, Trần Mộng Tú phác họa đôi nét chấm phá rất riêng về Xuân:

    “Khi em nói cho anh nghe về con dốc cạnh nhà
    con dốc nh́n xuống hồ Sammamish với ḍng nước trong veo
    những chiếc thuyền nhỏ đang căng lên những chiếc buồm
    vải trắng
    giải núi xanh như một nét mày thiếu nữ
    vẽ một đường dài đến tận chân mây
    làm cho trái tim em đập sai một nhịp
    (…)
    Em biết là mùa xuân đă dọn vào
    ở hẳn với em”

    (Mùa Xuân và Thơ Thanh Tâm Tuyền)

    “Mùa xuân đă dọn vào ở hẳn với em,” nghe nhẹ nhàng nhưng đầy quyến rũ!

    ***

    Nhưng đừng tưởng mùa Xuân bao giờ cũng vui, cũng tươi sáng, cũng đầy hy vọng. Trong nhiều trường hợp, Xuân chẳng phải là Xuân: Xuân sầu.

    Chế Lan Viên, khi vẫn c̣n là nhà thơ tự do thời tiền chiến, đă từng nh́n mùa Xuân bằng một cái nh́n vô cùng tiêu cực:

    “Tôi có chờ đâu có đợi đâu
    Đem chi xuân lại gợi thêm sầu
    Với tôi tất cả đều vô nghĩa
    Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau…”


    Buồn, bi quan, tuyệt vọng! Cả hơi thơ lẫn ư thơ như một phủ nhận, đúng hơn, một nghịch lư toàn diện với hai chữ “mùa Xuân!” V́ sao? Nghèo. “Có một người nghèo không biết tết/ Mang ĺ chiếc áo độ thu tàn!” Nó khiến ta nhớ đến những bài thơ Tết độc đáo của Trần Tú Xương:

    “Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo
    Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu
    Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy
    Trà sen mượn hỏi giá c̣n kiêu”


    Một cách trào lộng chua chát về cái nghèo và mùa Xuân!

    Nếu cái nghèo đă đập nát đi h́nh ảnh mùa Xuân th́ chiến tranh lại càng biến mùa Xuân thành bi kịch. Trịnh Công Sơn mô tả một buổi sáng mùa Xuân thời c̣n chiến tranh:

    “Một buổi sáng mùa xuân
    Một đứa bé ra đồng
    Đạp trái ḿn nổ chậm
    Xác không c̣n đôi chân
    Một buổi sáng mùa xuân
    Ngực đứa bé tan tành
    Ngàn hoa đồng cỏ nội
    Cúi xuống nh́n con tim.”


    Thật thảm thiết! Nhưng thảm thiết hơn nữa là cảnh xuân Mậu Thân ở Huế khi bộ đội Cộng Sản tiến vào đánh phá. Xuân Mậu Thân trở thành một mùa Xuân chết, qua lời ca cũng của Trịnh Công Sơn:

    “Xác người nằm trôi sông
    Phơi trên ruộng đồng
    Trên nóc nhà thành phố
    Trên những đường quanh co”


    Chiến tranh chấm dứt, trong lúc những kẻ chiến thắng ồn ào ca ngợi mùa Xuân “đại thắng” th́ hàng triệu người lại khăn gói vào tù. Xuân bây giờ là Xuân tù. Xin đọc vài đoạn trong bài thơ “Tháng Chạp Buồn,” một bài thơ tù của Tô Thùy Yên, được tác giả t́m thấy thời gian gần đây và đưa vào tuyển tập thơ mới vừa xuất bản của ông:

    “Tết này con vẫn chưa về được
    Chân mỏi c̣n lê nặng kiếp tù
    Con nghĩ mà đau muôn nỗi nhớ
    Chín năm ḷng bạc những thiên thu
    (…)
    Trong ấy mùa xuân có đến không?
    Mùa xuân hoa nở má em hồng
    Mùa xuân áo mới như hy vọng
    Nắng mật ngời lên ánh mắt trong

    Ở đây có lẽ xuân không đến
    Rừng núi chưa tan giấc năo nề
    Thương nhớ tràn như con lũ máu
    Ḷng anh đă vỡ những con đê.
    (…)
    Ôi cánh diều băng mùa hạ cũ
    Xương tàn c̣n đọng ngọn tre cao
    Đến nay trời nổi bao lần gió
    Con tưởng oan hồn vật vă đau

    Tết này cha vẫn chưa về được
    Đành hẹn cùng con tết khác thôi
    Con nhớ để dành cây pháo cũ
    Để dành một chút tuổi thơ vui.”

    Thật thấm thía cảnh mùa Xuân ở trong tù!


    ***

    Xin kết thúc bài viết bằng một thứ xuân khác, quen mà khá lạ, không vui cũng chẳng buồn của nhà thơ t́nh yêu Trần Mộng Tú.

    “Đă lâu quá anh không về gơ cửa
    lồng ngực em. Trái đỏ vẫn c̣n nguyên
    (…)
    Em mở áo cho xuân coi lồng ngực
    trái tim em mảnh vườn cũ quê nhà
    cành mai chiết tay ai c̣n in dấu
    thiều quang ơi! Hoa nhớ đến xót xa

    Em mở áo cho xuân coi lồng ngực
    trái tim em như một ngọn hải đăng
    lửa sinh diệt thắp hoài không dám tắt
    bờ bến nào mà cá vẫn bặt tăm

    Đă lâu quá anh không về gơ cửa
    lồng ngực em. Trái đỏ vẫn c̣n nguyên”


    Trong thơ ca xưa nay, ít khi ta thấy có nhà thơ nào trải ḷng ḿnh với “xuân” đến như thế.

    Bâng khuâng và đầy quyến rũ! (Trần Doăn Nho)

    Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-n.../doc-tho-xuan/

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 3 users browsing this thread. (0 members and 3 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •