Page 58 of 58 FirstFirst ... 8485455565758
Results 571 to 574 of 574

Thread: Ngày này năm xưa

  1. #571
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    926
    Tiếng nước tôi

    Trong “Tiếng nước tôi” không đề cập đến văn-phạm tiếng Việt. Tôi đề nghị chúng ta coi lại mục lục vài chương đầu của quyển “Việt-Nam Văn-Phạm” của học giả Trần-Trọng-Kim mà tôi đă cho đường dẫn để đem về máy (Bài thứ nhất).
    Chục chương đầu là những điều tôi phải học ở bậc Tiểu học trước khi tập làm luận, viết thư (việc nay không cần, nhưng đây là cách giúp ta sắp xếp các ư nghĩ)
    Chương I: Dạy nói, viết cho đúng mẹo luật
    Chương II: Phép đặt câu (Mệnh Đề: Chủ từ, túc từ)
    Chương III: Danh tự( Người, ngựa, cam quưt…)
    Chương III: Mạo từ (Trước danh từ: cái, các, những…)
    Chương V: Loại từ (Trước danh từ: con, cái, chim …)
    Chương VI: Chỉ Định tự (Nay, này, ấy, kia …)
    Chương VII: Đại Danh tự (Tôi, ta, tớ, nó, anh, chị, …)
    Chương VIII: Tĩnh tự (Lớn, nhỏ, cao, thấp …)
    Chương IX: Động tự (Ăn, uống, ngủ, nghỉ …)
    Chương X: Trạng Tự (chậm, mau,nhanh nhẹn …)
    Chương XI: Giới Tự (Bằng, bới, của …)
    Chương XII: LiênTự (và, rằng, vậy nên …)
    Chương XIII: Tán ThánTự (Ôi, Ơ, Than ôi …)

    Rất mong các bạn coi xong mục “Tiếng Nước Tôi” sẽ dùng tiếng Việt chính xác hơn. Không phải lúc nào ta cũng dùng chữ “Hoàng Tráng” để khen ngợi sự to lớn, đẹp đẽ…
    Mong lắm thay.

    Tiếng nước tôi (19/19)
    http://phu-tran.blogspot.com/2014/12...an-44-dan.html
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/05...ieng-nuoc.html

    Dec 18, 2014
    Tiếng nước tôi: Văn học dân-gian (4.4) / Dân ca Việt-Nam

    4.1 Dân ca Bắc bộ
    4.2 Dân ca Trung bộ
    4.3 Dân ca Nam bộ


    4.4 Dân ca Việt-Nam

    Trong dân ca, tất cả các thể loại -ḥ, lư, hát hội, ...- đều có ở 3 miền, nhưng mỗi vùng có sở-trường riêng của ḿnh nên mới có câu “Nam lư, Bắc thơ, Huế ḥ”. Nhưng đứng trên phương-diện dân ca, tôi sẽ nói: "Nam lư, Bắc hát hội (nhất là Quan Họ), Huế ḥ".

    Dân ca Tây nguyên


    Chúng ta đă nói về dân ca của nhóm người Kinh (87% dân số) nhưng nếu bàn về dân ca Việt Nam, chúng ta không thể quên nền dân ca của các sắc tộc khác, phần lớn tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên (trừ người Hoa, người Chăm và người Khmer).
    So với dân ca của người Kinh, có lẽ người Tây nguyên chú trọng nhiều nơi nhạc khí và những điệu múa-dân vũ (?)

    Một nhà nghiên cứu âm nhạc Tây Nguyên đă nhận xét rằng: "Dân ca của các dân tộc Tây Nguyên là những điệu hát huyền thoại được kết dệt từ ngàn xưa và lưu truyền từ đời này sang đời khác. Nó mô phỏng tiếng vang vọng của núi rừng, tiếng gió lách qua cḥm lá, tiếng chim hót, tiếng suối reo, tiếng thác đổ ào ào... V́ vậy, âm điệu của những bài ca nghe th́ thầm, nhè nhẹ như gió thoảng, lá rơi, như tiếng th́ thầm của tâm hồn con người trên miền cao nguyên huyền thoại".

    Dân ca Tây Nguyên cũng có nhiều h́nh thức như: hát đơn, hát tập thể, hát kể chuyện trường ca (Khan của người Ê-Đê, Hơ-ri Jơrai, Hơ-mon Bahnar ), hát múa, hát đợi chờ, hát giao duyên (đối đáp), hát ru, hát đồng dao (hát tṛ chơi con trẻ), v.v...

    Nội dung dân ca chứa đựng rất nhiều yếu tố của cuộc sống đời thường như t́nh yêu đôi lứa, ca ngợi buôn làng, ca ngợi những chàng trai anh dũng, có sức khỏe phi thường chiến đấu chống lại cái ác để bảo vệ buôn làng, ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp. Có bài c̣n dùng để khẩn cầu các thần linh làm cho mưa gió thuận ḥa, mùa màng bội thu, con người thoát khỏi bệnh dịch... Nội dung nói trên biểu hiện qua nhiều thể loại dân ca lao động, dân ca phong tục tập quán, dân ca nghi lễ tín ngưỡng, ...

    Nếu xét về thang âm, điệu thức th́ dân ca Tây Nguyên có đủ các thể từ thang 3 bậc âm đến 4, 5, 6 và 7 bậc âm. Tuy nhiên dân ca Tây Nguyên chủ yếu dùng điệu thức 5 bậc âm (có hoặc không có bản âm tùy theo từng dân tộc).

    Các nhạc cụ dân gian Tây Nguyên có nhiều và rất độc đáo. Nhạc khí Tây Nguyên thuộc nhiều loại, nhiều nhóm và được chế tác bằng nhiều chất liệu khác nhau.
    Loại đầu tiên được chế tác hoàn toàn bằng chất liệu thiên nhiên như tre, nứa, gỗ, đá, vỏ bầu, dây rừng, sừng trâu, ḅ...;
    loại thứ hai được chế tác kết hợp giữa chất liệu thiên nhiên với kim loại;
    loại thứ ba là hoàn toàn bằng kim loại như: đồng, gang, ch́, sắt...

    Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11, 2005. Sau Nhă nhạc cung đ́nh Huế, đây là di sản thứ hai của Việt-Nam được nhận danh hiệu này.

    Thân mời các bạn nghe
    Dân ca Tây Nguyên: Đứa con của rừng https://www.youtube.com/watch?v=cTo1xhIl9_U

    Các sắc tộc Việt Bắc (Dao, H’Mong, Tày, Thái, Nùng, Mường…) cũng có vẻ riêng của ḿnh : người Thái có có hát lượn, người Tày có hát then , cũng là loại hát đối đáp, người H'mong có hát đối đáp với khèn, kèn lá, hay đàn môi, …

    Thân mời các bạn nghe Dân Ca H'Mông - Đỉnh Núi Có Hoa Chân Núi Thơm (Bản tiếng Trung)


    Hát ru con

    C̣n một thể loại dân ca đơn giản nhất mà nơi nào cũng có, thời đại nào cũng có, một loại nhạc "thính pḥng" mà ca sĩ là người mẹ và thính-giả duy nhất và yêu quí nhất là người con. Đó là Hát ru ru (miền Bắc), c̣n gọi là hát đưa em (miền Trung) hay hát ầu ơ hay là ầu ơ ví dầu (miền Nam).

    Hát ru con là những bài hát nhẹ nhàng đơn giản giúp trẻ con ngủ. Phần lớn các câu trong bài hát ru con lấy từ ca dao, đồng dao hay trích từ các loại thơ hoặc ḥ dân gian, hoặc là lời than văn của chính ḿnh, được truyền miệng từ bà xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau. Do đó, những bài hát này rất đa dạng, mang tính chất địa phương, gần như mỗi gia đ́nh có một cách hát riêng biệt.

    Thang âm của hát ru (do re fa sol la, thuộc loại ngũ cung). Thang âm của hát đưa em miền Trung (do fa sol sib thuộc loặi tứ cung) và thang âm của ầu ơ miền Nam (do mib fa sol la thuộc loại ngũ cung).

    Trong hát ru thường chỉ chú ư đến lời (ca từ) c̣n giai điệu (nhạc lư) th́ mỗi bà mẹ có một giọng trữ t́nh riêng nhưng vẫn gây ấn tượng sâu sắc trong suốt cả cuộc đời người con.

    Miền Trung
    Ạ ơi., chứ mang nặng đẻ dau, cưu mang chín tháng, nghĩa mẹ tay trời trong cạn nuôi con
    Ạ ời đói cơm sách áo ruột mẹ héo hon, khi con no ấm ḷng mẹ vẫn chưa trọn mà thảnh thơi.
    Ạ ơi…
    (Hát ru Huế http://dancavietnam.net/Play/1955/Hat-Ru-Hue.dcv)

    Hoặc
    Hạ ơ….ai về mà nhắn với bạn nguồn, chứ mít non gởi xuống chứ cá chuồn gởi lên.
    Chuột kêu chút chít trong rương, anh đi cho khéo cái đụng giường mẹ la,
    chớ khi xa th́ chỗ ngơ cũng xa, …
    (Hát Quảng Nam http://dancavietnam.net/Play/1953/Hat-Ru-Quang-Nam.dcv)

    Miền Nam, có những câu ru như :
    Ầu ơ Gió đưa bụi chuối sau hè
    Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
    Con thơ tay ẩm tay bồng
    Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng bông.


    Hoặc

    Ầu ơ... ví dầu
    Cầu ván đóng đinh
    Cầu treo lắc lẻo
    Gập ghềnh khó qua...
    Ầu ơ...
    Khó qua mẹ dắt con qua...
    Con đi trường học
    Mẹ đi trường đời...


    Nói về miền Bắc th́ riêng tôi có được diễm phúc ru con tôi ngủ mỗi tối cho đến khi nó 4 tuổi. Tôi ru lại cho nó những bài tôi nghe được của mẹ tôi lúc trước như:
    À ơi... Con c̣ mày đi ăn đêm
    Đậu phải cành mềm Lộn cổ xuống ao À ơi...
    Ông ơi, ông vớt tôi nao
    Tôi có ḷng nào ông hăy xáo măng À ơi...
    Có xáo th́ xáo nước trong
    Đừng xáo nước đục Đau ḷng c̣ con...


    Hoặc mấy câu như:
    Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
    Ai lên xứ Lạng cùng anh
    Bơ công bác mẹ sinh thành ra em...


    Những bài này, tôi cũng có hát tiếp cho thằng cháu ngoại. Hy vọng con cháu tôi sẽ tiếp tục hát ru tiếp cho cháu chắt tôi...

    GS-TS Trần Văn Khê (năm nay đă mừng sinh-nhật thứ 94), một người cống hiến cả đời cho nền âm nhạc dân tộc VN, từng nhắc lại những kỷ niệm của ông về kỹ thuật hát ru mà từ xa xưa ông có dịp nghe tại quê nhà: “Hồi xưa lúc c̣n nhỏ th́ tất cả trong làng tôi đều ru như thế này:
    “À... ơi.... Mẹ ru cái lẽ ở đời, Sữa nuôi phần xác, Hát nuôi phần hồn,
    À... ơi... Bà ru mẹ, mẹ ru con, Liệu mai xa cách con c̣n nhớ chăng
    Ạ ời... Ạ... ơi, Con ơi muốn nên thân người, Lắng tai nghe lấy những lời mẹ ru”.

    Thân mời các bạn nghe:
    Hát ru Bắc bộ https://www.youtube.com/watch?v=D7z8y8i8bmo
    Hát ru Trung bộ https://www.youtube.com/watch?v=E7OUa7O0W6o
    Hát ru Nam bộ https://www.youtube.com/watch?v=jyH2EewEx2A

    Trở về với dân ca
    Từ ngày đi du học, nhớ nhà nên tôi đă nghe dân ca, tôi đă hát dân ca trong những buổi sinh-hoạt văn-nghệ sinh-viên và tôi đă càng ngày càng yêu dân ca, sản phẩm tinh thần quư giá của cha ông để lại. Bao năm nay, quê-hương càng xa vời, tôi lại càng thiết tha với cội-nguồn, với văn-hoá dân-tộc ḿnh.
    Tôi chỉ buồn là giờ đây, muốn đi nghe dân ca cũng chả có ai tổ-chức văn-nghệ mà đi nghe, tôi muốn hát dân ca cũng chả ai muốn nghe.
    C̣n ai thương dân ca? Tôi hy vọng rằng c̣n nhiều lắm.


    Yên Hà, tháng 12, 2014

    Tài-liệu tham khảo
    Dạo một ṿng trên đôi cánh âm nhac Tây nguyên, Đào Huy Quyền
    http://tailieu.vn/doc/dao-mot-vong-t...yen-73680.html

    Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, Wikipedia
    http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%B...2y_Nguy%C3%AAn

    Hát ru (Wikipedia)
    http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A1t_ru
    Posted by Thanh Tuyền and Ngọc Phú at 9:54 AM

  2. #572
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    926
    Quốc Ngữ, Chữ Nước Ta...
    https://vvnm.vietbao.com/p246459a246...u-chu-nuoc-ta-
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/05...u-nuoc-ta.html

    Quốc Ngữ, Chữ Nước Ta...
    28/12/201700:00:00(Xem: 4772)
    Tác giả: Chu Tất Tiến

    Bài số 5279-19-31125-vb5122817


    Tác giả là một nhà giáo, nhà báo, nhà hoạt động xă hội quen biết tại Little Saigon. Tới Mỹ theo diện Hát Ô Một từ 1990. Suốt 27 năm qua, ông không ngừng viết văn viết báo tiếng Việt, tiếng Anh. Trong năm qua, có tới 7 cuốn sách mới. Góp sức với Viết Về Nước Mỹ, ông đă nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ từ những năm đầu, và vẫn tiếp tục góp bài mới.


    ***

    Trong những ngày cuối năm 2017, dư luận trong ngoài nước xôn xao về một dự án của một ông Tiến Sĩ tên là Bùi Hiền, cho rằng chữ quốc ngữ rườm rà, lỗi thời cần phải cải tiến. Khi bị dư luận trong nước chỉ trích, một thành viên của nhóm là tên là Tiến Sĩ Khoa Học Ngữ Văn Đoàn Hương đáp lại rằng: “Không thể một nhóm quần chúng không hiểu biết ném đá!” và cương quyết bảo vệ dự án này. Sự kiện “ném đá” vào những kẻ chê bai chữ Quốc Ngữ này làm tôi nhớ lại một câu chuyện nhỏ liên quan đến tiếng Việt tại Mỹ.

    Năm 2001, tôi được chỉ định đi dậy Anh Văn tại một trường trung học thuộc Học Khu Garden Grove. Điều hơi bất công cho ông Thầy mới đến là phải nhận một lớp gai góc gồm toàn học sinh thuộc loại “Nhất quỷ, nh́ ma, thứ ba học tṛ”, trong đó một số lớn đă bỏ học đi bụi đời, nay mới trở lại trường lớp. Thầy Hiệu Trưởng đă dồn các học sinh loại này vào một lớp đặc biệt và giao cho Thầy, Cô nào có lá gan to th́ đến dậy.

    Khi tôi vừa tŕnh diện, ông Hiệu Trưởng đă nói ngay: “Thầy có dám nhận dậy ở lớp này không? Toàn học tṛ thứ dữ không à!” Tôi chưa hiểu rơ vấn đề, nhưng v́ là dân mới, nên cứ gật đầu, nhận đại. Đúng như lời thầy Hiệu Trưởng nói, học sinh lớp 11 này toàn là thứ dữ, to lớn cồng kềnh. Có em nam sinh cao hơn tôi một cái đầu, em khác có bắp thịt tay gần bằng bắp chuối của tôi. Về phía nữ cũng thế, các em đă trưởng thành lồ lộ, tuy không sắc nước hương trời, nhưng đầy nữ tính quyến rũ. Vừa bước vào cửa lớp, một em nam sinh chận tôi lại, giơ tay ra. Tôi tưởng em muốn bắt tay tôi, nên cũng đưa tay ra, không ngờ, em luồn tay vào ngay túi áo vét tôi, và nói: “Ông Thầy! Có cái ǵ trong túi của ông thế?” Tôi nhẹ hất tay em ra, nhưng miệng vẫn mỉm cười, và nói đùa: “Hey! Em muốn làm trinh thám hả?” rồi bước vội vào trong. Đến sát bàn thầy giáo tôi mới quay lại, cười và tự giới thiệu ḿnh. Sau đó, tôi bắt đầu làm quen với các em, hỏi tên từng học sinh, và cố nhớ những cái tên Mỹ không quen thuộc với người Việt ḿnh một chút nào. Khi đến gần môt em nữ sinh có thân h́nh to lớn, em vẫy tay cho tôi lại gần và khoe với tôi h́nh một đứa bé chừng 2 tuổi. Thấy h́nh trẻ em, tôi buột miệng, nói ngay: “Bé là em út của em hả? Bé đẹp quá! Giống y hệt h́nh Thiên thần!” Cô bé mỉm cười, lắc đầu: “Không phải! Đó là con của em đó! Nó gần 2 tuổi rồi! em là người mẹ độc thân!” Tôi hơi giật ḿnh, nhưng cố làm bộ chia vui với em, khen ngợi đứa bé vài câu xă giao rồi lảng qua chỗ khác.

    Điều tôi muốn viết ở đây là có một câu hỏi của một em nam sinh làm tôi hơi buồn. Em giơ tay hỏi: “Ông Thầy là người ǵ vậy?” Tôi trả lời: “Tôi là người Việt Nam!” Em hỏi tiếp: “Vậy chữ Việt của ông Thầy có giống h́nh con rắn không?”

    Tôi ngạc nhiên, hỏi: “Tại sao em nói vậy?” Em nam sinh trả lời: “V́ em thấy mấy người Á châu khác viết chữ giống mấy con rắn, con rết, quẹo qua quẹo lại!” Tôi mỉm cười, giải thích: “Không phải như em nghĩ đâu! Chữ Việt Nam của chúng tôi cũng từ gốc La Tinh mà ra, giống như tiếng Anh của các em vậy, không có ǵ khác cả! Này nhé, tôi viết tên tôi cho các em xem.” Rồi tôi viết tên tôi lên bảng, và thêm câu: “Tôi yêu tiếng Việt của tôi như các em yêu tiếng Mỹ vậy!” và tôi chỉ cho các em từng chữ a, b, c… của tiếng Việt. Các em học sinh nghe tôi giảng th́ tỏ vẻ thích thú lắm, có em tập đọc tiếng Việt nghe rất tức cười. Từ giây phút đó, các em thân thiện với tôi một cách đặc biệt, nghe tôi giảng bài mà không phá như với những thầy, cô khác. Điều này được chứng minh là sau 2 tiết học, Thầy Hiệu Trưởng hớt hả đi tới lớp tôi, vẫy tôi ra và hỏi, giọng lo lắng: “Sao? Học tṛ có phá thầy không?”Tôi cười, trả lời: “Không! Các em ngoan lắm!” Thầy hiệu trưởng không tin, đứng lại xem tôi giảng bài một lúc thấy “mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh” th́ Thầy lẳng lặng bước đi, trên khuôn mặt hiện rơ vẻ ngạc nhiên.

    Câu chuyện ngắn trên, sở dĩ được viết lại, để chứng minh rằng chữ Quốc Ngữ, mà bây giờ thường gọi là chữ Việt, không phải là chữ viết “rắn, rết” mà là một vốn quư của dân tộc. Tiếng Việt, với căn bản La Tinh, đă làm cho sự liên kết trong văn hóa quốc tế dễ dàng v́ đă giúp cho người ngoại quốc, dù không hiểu tiếng Viêt cũng có thể lơm bơm đọc được và giúp cho những ai muốn học tiếng Việt cũng có thể lănh hội được những tinh hoa của dân tộc Việt một cách dễ dàng. Trong khi ấy, việc học chữ của các quốc gia Á Châu khác có dạng chữ chằng chịt, khó đọc, như chữ Hán, chữ Cam Bốt, chữ Thái Lan, chữ Đại Hàn, nhất là chữ Trung Đông...th́ rất tốn thời gian, có thể nói là cực kỳ khó khăn. Điều không ngờ là chữ Việt hay chữ Quốc Ngữ (chữ viết của Tổ Quốc) lại do những vị tu sĩ ngoại quốc hợp với một số giáo hữu đạo Công Giáo người Việt biên soạn mà lại hoàn toàn thích hợp với người Việt. Người đầu tiên làm công việc La Tinh hóa chữ Việt để thay thế chữ Nôm là Linh mục Di Pina, người Bồ Đào Nha. Ông sống ở Hội An từ năm 1617 đến 1625, trong thời gian này, ông kiên tâm học tiếng Việt và bắt đầu soạn sách học chữ quốc ngữ bằng tiếng La Tinh. Tuy nhiên, công tŕnh của Linh Mục Pina chưa được hoàn thiện và chưa được phổ biến rộng. Đến năm 1624, Giám Mục Alexander De Rhodes mới đến Hội An và với trí thông minh lạ lùng, ông đă học nói tiếng Việt chỉ trong vài tuần lễ. Sau đó, dựa theo sự nghiên cứu của Linh Mục Di Pina, Giám Mục Alexander De Rhodes đă tiếp tục công việc La Tinh Hóa Tiếng Việt, và măi đến năm 1651, ông mới cho ra đời cuốn “Phép Giảng 8 Ngày” và bộ “TựĐiển Việt – Bồ - La Tinh”. Từ đó, chữ quốc ngữ chính thức ra đời, và cũng từ đó, văn hóa Việt Nam được ghi chép lại và cho đến bây giờ, tiếng Việt đă trở thành một di sản Văn Hóa Quốc Tế, đă để lại cho thế giới những tác phẩm khổng lồ như bộ Chinh Phụ Ngâm của Bà Đoàn Thị Điểm và Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều (thế kỷ 18), hay Đoạn Trường Tân Thanh (thế kỷ 19) do Nguyễn Du viết. Rồi tuần tự, như một gịng suối mới khơi ngành về biển, văn hóa Việt Nam đă liên tục phát triển với rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ và những áng văn chương tuyệt thế: Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương, Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương... nhiều không kể hết.
    Đến giữa thế kỷ 20 th́ văn chương Việt Nam phát triển rực rỡ với hàng chục ngàn cuốn sách thơ, truyện, biên khảo, giáo dục, khoa học, nhất là bộ lịch sử đă được biên soạn lại để giảng dậy cho các học sinh hiểu rơ hơn về nước ḿnh và yêu nước ḿnh hơn.

    Có hai điều đặc biệt về chữ Việt:
    Thứ nhất: qua các tác phẩm kể trên, tiếng Việt đă thể hiện được tính hồn nhiên, cởi mở của Dân tộc, t́nh tự quê hương thấm đậm, cũng như tính đạo đức vốn có từ ngàn năm xưa. Người đọc, dù là trẻ thơ hay các vị cao niên, đều thấy thấm đậm Hồn Dân Tộc trong tâm hồn ḿnh. Chữ Việt lại rất dễ đánh vần, dễ đọc, dễ gây vận, tạo vần, thích hợp với sự phát âm của dân tộc Việt, cho nên việc giáo dục trẻ em cũng rất đơn giản, để từ đó, lớp trẻ lớn lên có tâm hồn phong phú về mọi phương diện và dễ phát triển tài năng cùng nhịp với thế giới.
    Thứ hai: không một dân tộc nào trên thế giới có thể so b́ với nghệ thuật làm thơ, làm vè, viết câu ḥ, câu đối, ca dao, và tục ngữ của dân Việt. Hầu như tất cả những ai có đọc sách, đọc truyện đều có thể “xuất khẩu thành thơ”, hay làm vè có vần có điệu. Rồi hàng vạn câu ca dao, tục ngữ (không biết xuất xứ hay tác giả) được đọc lên để răn đời, giáo dục người, hoặc hướng dẫn phong tục, phương pháp làm nông, làm vườn, hay nghệ thuật làm quen trai gái…Hàng vạn câu tục ngữ chỉ ra cách sinh hoạt xă hội. Như thế, chữ Việt chính là Hồn Dân Tộc, là Lịch Sử, là Niềm Hănh Diện của người Việt trên thế giới.
    .


    Một cách vắn tắt, chữ Việt hay chữ Quốc Ngữ có rất nhiều đặc điểm như sau: Vần, Vận, Phụ Âm, và văn chương Hán Việt.



    1-Vần: gồm hai loại Vần: Vần Bằng và Vần Trắc. Vần Bằng gồm dấu Huyền và không dấu. Vần Trắc gồm Sắc, Hỏi, Ngă, Nặng. Hai loại Vần này là căn bản làm cho thơ Việt Nam phong phú một cách lạ lùng, điều mà không một ngôn ngữ nào có được. Thí dụ như trong thơ lục bát:


    Hỡi anh đi đường cái quan
    Dừng chân đứng lại,
    em than đôi lời.



    Trong hai câu này, các chữ “quan, than, lời” là Vần Bằng. Chữ “lại” là Vần Trắc. Nếu đổi Vần của các chữ trên th́ thơ sẽ bị triệt tiêu, thí dụ như:

    Hỡi anh đi trên đường cái
    Dừng chân đứng măi, em vái ông ấy?


    Với thơ Song Thất Lục Bát:


    Chàng tuổi trẻ vốn ḍng hào kiệt
    Xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung
    Thành liền mong tiến bệ rồng
    Thước gươm đă quyết chẳng dong giặc trời.


    (Chinh Phụ Ngâm)


    Với những câu thơ trên, nếu đổi ngược Vận Bằng thành Trắc, hoặc ngược lại th́ không c̣n thơ. Cũng thế, với thể thơ Tám Câu, Bẩy Chữ (Thất Ngôn Bát Cú):

    Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà
    Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
    Lom khom dưới núi, tiều vài chú
    Lác đác bên sông, chợ mấy nhà
    Nhớ nước, đau ḷng con cuốc cuốc
    Thương nhà, mỏi miệng cái gia gia
    Dừng chân đứng lại, trời non nước
    Một mảnh t́nh riêng, ta với ta.

    (Thơ Bà Huyện Thanh Quan)


    Bài thơ này đă làm theo đúng Vần như sau: (T = Trắc, B = Bằng)

    Như thế, thơ Việt lệ thuộc rất nhiều vào Vần.

    2- Vận: Qua một vài dẫn chứng kể trên, chúng ta đă thấy những câu thơ trên đều theo một quy luật nhất định vào Vận. Các câu ca dao dân giă miền Nam cũng phải theo quy luật trên:

    Trồng trầu th́ phải khai mương
    Làm trai hai vợ, phải thương cho đồng.


    Chữ “Mương” và chữ “Thương” cùng một Vận làm cho câu ca dao này linh động và gây nhiều cảm xúc cho người nghe. Bên cạnh thơ Lục Bát, hay ca dao, các thể thơ Song Thất Lục Bát hay Thất Ngôn Bát Cú cũng thế, nếu không có Vận th́ không phải Thơ. Các câu vè dân gian, tuy tác giả là những tâm hồn đơn giản, nhưng vẫn theo luật của Vận:

    Tập tầm vông
    Chị có chồng
    Em ở vá
    Chị ăn cá,
    Em mút xương…
    Chị ăn kẹo,
    Em ăn cốm
    Chị ở Ḷ Gốm,
    Em ở Bến Thành.
    Chị trồng hành,
    Em trồng hẹ.
    Chị nuôi mẹ
    Em nuôi cha…


    3-Phụ Âm: Đây là phần quan trọng nhất trong chữ Việt, đặc biệt là Phụ Âm Kép: ng, tr, gi, nh, kh…

    Những phụ âm kép đă làm cho chữ Việt khác hẳn ngôn ngữ quốc tế, v́ đôi khi, có thế phát ra những âm tương tự, nhưng nghĩa lại hoàn toàn khác hẳn:

    Da người -gia đ́nh, chương tŕnh - trương ph́nh, trai tân - chai lọ, tranh vẽ - chanh -quả, ḍng sông - gịng dơi, dáng điệu - giáng trần, chú trọng - trú đóng, trọc phú - chọc - ghẹo, trở lại - chở xe, chí khí - trí tuệ, vợ chồng - trồng cây, bên trong - chong đèn, gh́ xiết - ǵ vậy, sương xuống – xương xống… Lại có những chữ cùng âm mà đi với nhau nhưng hoàn toàn khác nhau: “chàng trai chai mặt”, hoặc cùng một chữ mà lại khác nghĩa nhau: trăn trở - con trăn…


    4- Chữ quốc ngữ và chữ Hán nôm: Từ những thế kỷ trước, chữ quốc ngữ vẫn được sử dụng để phiên âm chữ Hán sang chữ Việt một cách toàn vẹn. Việc chuyển tiếng Hán sang âm Việt cũng dễ dàng, không một chút khó khăn. Thí dụ như bài Hoàng Hạc Lâu:



    Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
    Bạch vân thiên tải không du du
    T́nh Xuân lịch lịch Hán dương thụ
    Phương thảo thê thê anh vũ châu…



    Những chữ “du du, lịch lịch, thê thê” giữ nguyên âm Hán Việt gợi cho người đọc những t́nh cảm xúc động lạ lùng. Như vậy, Chữ Việt hay chữ Quốc Ngữ, phải nói là phong phú và tuyệt diệu. Nhưng, rất tiếc, trong năm 2017, lại có nhóm “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi” là Bùi Hiền, Đoàn Hương, Lê Đức Luận, Nghiêm Thúy Hằng lại hăng hái cổ vơ cho “chữ Việt mới” do nhóm này biên soạn. Thay v́ chỉnh đốn lại cách dùng chữ ẩu tả từ Bộ Giáo Dục, Bộ Văn Hóa xuống đến dân chúng th́ họ lại đi soạn ra kiểu chữ mới kỳ quặc.

    Hiện nay, những cách dùng chữ bậy bạ rất nhiều. Thí dụ: Đi Phản Phúc (Đi Phản Ảnh và Phúc Tŕnh), đi tham quan chợ, động thái (hành động và thái độ), giải phóng mặt bằng, sự cố kỹ thuật, ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương, phát biểu ấn tượng, đăng kư nghĩa vụ quân sự, siêu sao, tờ rơi, hàm lượng trí thức, h́nh ảnh chất lượng, thủ trưởng, văn nghệ chủ đạo, hát đôi, hát tốp, bức xúc, xưởng đẻ, pḥng kinh nguyệt (pḥng vệ sinh phụ nữ)…và hàng ngàn chữ “không thể hiểu nổi” làm cho văn hóa Việt dần dần mang một sắc thái ngớ ngẩn và thô lậu.

    Nhóm người, này đă huyênh hoang là từng nghiên “kíu” cả thập niên cho việc viết chữ Việt mới. “Sáng kiến” của họ như sau:

    -Thêm: F,W, Z.

    -Bỏ: Đ, Th, Ph, Kh, Ngh, Gh, Gi, Qu, Ch, Tr…

    -Thay thế: thay Ch bằng C, thay Đ bằng D, thay Ph bằng F, thay C bằng K, thay Ng bằng Q, thay Ngh bằng R, thay S, X bằng S, thay Th bằng W, thay D bằng Z, thay Nh bằng N, thay Tr bằng C….

    Thí dụ: Những câu châm ngôn vẫn được treo trên tường của các lớp học, sẽ được viết như sau:

    “Dản Kộn Sản vĩ dại nà cim cỉ nam suên suốt”, “Wủ tướn Quễn Sân Fuck”, “Tổn bí tư Quễn Fú Cọn”…

    Riêng câu bùa chú từ nhiều năm nay: “Hồ Chủ Tịch vĩ đại sống măi trong quần chúng” mà được những em bé người dân tộc tập đọc sẽ là “Hồ củ tịc v́ dái són măi con qần cún…a aa ta…”

    Thông báo cấm tiểu bậy sẽ được viết như sau: “cấm dái”. Nhiều biểu ngữ viết trên tường: “nười nười thi dua. Nà nà thi dua”. Bản tên trường Trương Công Định: “Cường dươn côn dịn”…

    Đến lúc ấy, học tṛ lớp Một sẽ tập đánh vần như sau:

    “Cờ u cu hỏi Chủ. Tờ i tơ cờ Tịch. Hờ ô hô huyền Hồ. Cờ i ki sắc Chí. Mờ i mi nờ Minh…”

    Với cách đánh vần như trên, nhất định 90 phần trăm học sinh lớp Một sẽ bị điên nặng, vừa đi vừa bốc phân gà cho vào miệng, 10 phần trăm c̣n lại th́ sẽ nuốt cả bút ch́. Các Thầy, Cô giáo cũng “tẩu hỏa nhập ma”, có thể vừa giảng bài vừa tiểu ra quần…

    Kết quả kinh hoàng nhất là nếu “tối kiến” này được áp dụng, th́ đến đời con cháu chúng ta, sau khi chúng ta ra đi, sẽ đọc sách giáo khoa mới với loại chữ điên khùng mới, và như vậy, chúng hoàn toàn mù tịt về lịch sử ngàn năm chống Tầu! Chúng sẽ coi tất cả các áng văn chương từ xưa tới nay, các cuốn tiểu thuyết, thơ, biên khảo…là giấy đun bếp. Điều mà chính những cái đầu “vĩ dái” đó cũng sẽ bị thiệt hại v́ cái bằng Tiến sĩ “mua, xin” ngày hôm nay của chúng sẽ không c̣n sử dụng và chúng sẽ thành kẻ vô học. Có thể, lúc đó, Đảng sẽ tội nghiệp chúng mà tặng cho cái bằng được viết như sau: “Tiên si nữ văn Niêm thúi hằn” thay v́ “Tiến sĩ ngữ văn Nghiêm Thúy Hằng” mà chúng đă có. Lúc đó, các đại cố vấn Tầu sẽ khuyến cáo người dân nên học tiếng Tầu cho dễ nhớ. Và như vậy, không cần một tiếng súng, nước Việt Nam hùng vĩ từ ngàn năm sẽ biến thành quận huyện của Tầu! Thật là một âm mưu vô cùng thâm độc của những kẻ bán nước cầu vinh, không có “đầu óc” mà chỉ có 3 cái “đầu gối” này.

    Vậy, để có thể bảo vệ được chữ Việt, chúng ta cần đoàn kết từ hải ngoại về đến trong nước, từ thế hệ già chuyển tiếp thế hệ trẻ, đồng loạt lên tiếng chống đối việc soạn ra loại chữ “phản quốc” này. Có như thế mới bảo vệ được gịng giống Việt có hơn 4000 năm văn hiến.

    Chu Tất Tiến
    Ư kiến bạn đọc

    Bài quá dài, phải cắt bớt

  3. #573
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    926
    Văn hóa chửi

    https://vuthethanh.com/2017/07/22/van-hoa-chui/
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/05...uthethanh.html

    Văn hóa chửi
    Posted on 22/07/2017 by vuthethanh

    Mày tưởng mày có quyền có thế, có người làm ông nọ bà kia mà ăn hiếp gái già này à ? Cứ ra mặt với bà xem! Bà th́ cứ …dứt cái lông l…thứ tám, bà chẻ tạm làm tư, bà trói cổ cái ông tổ năm đời mười đời nhà mày lại, bà vẫn c̣n thừa cái nút hậu !…”.


    Hà Sĩ Phu (kính tặng hương hồn cô ruột tôi)


    Nguồn: http://thuvien.maivoo.com


    “ … Nếu mày có trót dại bắt con gà của bà, nghe bà chửi mà không khôn hồn thả nó ra, mà cả nhà cả ổ mày cứ húc đầu vào ăn cho đầy miệng, th́ bà cứ cho chúng mày ăn cái máu l…, rớt l… của bà đây này.

    Nhiều lúc tôi cứ tự hỏi sao chưa có nhà văn hoá nào nghiên cứu về cái sự “Chửi” nhỉ?. Hôm nay ngồi buồn tôi mở máy vi tính, thử mở “Từ điển Lạc việt năm 2002”, tra hú hoạ chữ Chửi xem sao. Đây là cuốn từ điển Việt Anh, mà lại dùng cho máy vi tính , tôi nghĩ, có lẽ chẳng có chữ ấy đâu, may lắm th́ có một chữ Chửi đơn giản là cùng.

    Tôi nhầm! Các từ về Chửi xếp đầy một trang màn h́nh!

    Này là Chửi mắng, Chửi bới, Chửi đổng, Chửi nhau, Chửi rủa, Chửi thầm, Chửi thề, Chửi tục! Lại c̣n Chửi bâng quơ, Chửi vu vơ, chửi thậm tệ! Chưa hết, có cả Chửi bóng Chửi gió, Chửi chó mắng mèo, Chửi như tát nước, Chửi như vặt thịt, Chửi vuốt mặt không kịp nữa! Ngần ấy chữ Chửi đều có những động từ hay cụm từ tiếng Anh tương ứng. Hoá ra người Anh người Mỹ họ cũng chua ngoa, cũng điên tiết gớm chứ đâu có vừa (nhưng các “đế quốc to” ấy nhất định thua xa ḿnh về cái khoa Chửi , kể cả Chửi đáng khen và Chửi đáng chê).

    Cuốn từ điển c̣n thiếu một khái niệm Chửi tối quan trọng: Chửi như mất gà! Rất may , t́m măi mới thấy cụm từ Chửi này có trong từ điển Việt Hoa của Khổng Đức.

    Nhưng rốt cuộc th́ từ điển ǵ, chữ nghĩa ǵ cũng thua bà cô tôi hết, một người dân quê không biết một chữ quốc ngữ bẻ làm đôi.

    Khoan hăy t́m hiểu v́ sao Gà lại giữ vị trí quan trọng trong khoa Chửi của dân An Nam ḿnh đến thế. Tôi hăy phác qua vài nét nhân thân bà cô ruột, tức cuốn từ điển sống của tôi về Văn hoá Chửi. Ḍng họ nhà tôi, từ bố tôi trở về trước nghèo lắm. Mấy đời chỉ là ông đồ dạy chữ nho, ông chú ruột tôi mới sáu tuổi đă bị đem cho một nhà thờ Đạo v́ ông bà tôi không sao nuôi nổi. Cô tôi đương nhiên không được học hành ǵ, sớm được gả cho một anh thợ cày cũng nghèo kiết xác, là ông cậu tôi. Cậu tôi chẳng may mất sớm, để lại cô tôi goá bụa khi chưa đầy hai mươi với một đứa con gái chưa đầy ba tuổi. Chỉ một đôi quang thúng cũ nát, lèo tèo mấy quả na quả bưởi, mấy chiếc bánh đa, bánh gai…, hoặc mấy mớ rau, con cá, bà đèo đẽo đi khắp chợ Hồ, chợ Gôi, chợ Ngo, chợ Dâu, chợ Keo, chợ Cẩm Giàng, chợ Núi (tức núi Thiên Thai) … trên dưới mười cây số. Áo xống nhuộm bùn (hồi trước các cụ gọi chiếc váy là xống), vá chằng vá đụp, làm chỗ cư trú lư tưởng cho lũ chấy rận. Lúc nào nghỉ chợ là bà lại đem áo xống ra bắt rận, tuốt trứng lép bép và cắn rận đôm đốp.

    Nhưng người cô nghèo khổ ấy thương lũ cháu, thương chúng tôi lắm. Cô cho chúng tôi cái bánh, quả na mà chậm ăn là cô chửi cho mất mặt, à ra đều mày khinh cô nghèo mày không ăn hử? Đến năm tôi đă là giảng viên Đại học (chả ǵ cũng gọi là Trí thức Xă hội chủ nghĩa) mà mỗi lần về thăm cô vẫn cho tiền, này thằng Tụ, cô cho mấy đồng cầm đi mà tiêu. Thương cô lắm mà vẫn phải cầm, chứ đợi cô chửi cho rồi mới cầm ư?

    Nhưng Chửi cũng ba bảy đường Chửi. Bà chửi thương, chửi yêu th́ chỉ chửi “nôm” thế thôi, chứ không có bài. Khác hẳn những khi định hướng vào “kẻ thù”, là những kẻ ăn không ăn nảy của bà, vu oan giáng họa cho bà, cạy quyền cạy thế chèn ép lấn át bà (kiểu như bây giờ ta gọi là vi phạm quyền dân chủ ở cơ sở ấy mà) th́ vũ khí Chửi của bà tung ra đầy tính kỹ thuật , bài bản hẳn hoi và đầy sức lôi cuốn. Một ngón vơ thật sự.

    Hôm ấy bà đi chợ về muộn. Chuẩn bị nấu cơm chiều, vét niêu cơm cháy, vừa ngô, vừa khoai được một bát đầy hú hụ, bà cất tiếng “chích chích chích chích”, “pập pập pập pập” gọi mấy con gà mà bà đă chăm chút cả năm để chuẩn bị ăn Tết. Lũ gà quen tín hiệu đă tề tựu ngay tắp lự. Chờ măi vẫn không thấy con gà mái nâu, đang ghẹ, béo nhất đàn. Bà bổ đi t́m quanh, “điều tra” khắp vườn, khắp xóm. Không thấy. Vẻ mặt bà hằm hằm, mắt bà chợp chợp, tôi biết cơn giận trong bà đă chất chứa đến nhường nào. Nhưng bà lẳng lặng đi nấu cơm. Hai mẹ con bà ăn cơm xong đâu đấy. Mọi nhà đă lên đèn. Tôi nằm chơi trên cái trơng tre giữa sân.

    Đúng lúc làng xóm đang yên tĩnh, ổn định, th́ bài trường ca bắt đầu.

    H́nh như trời phú cho những người nghèo khổ, sống dưới đáy xă hội một cơ quan phát âm, đúng ra là cơ quan phát thanh, có độ vang đủ phủ sóng khắp “địa bàn” cư trú. Phần giao đăi của trường ca mất khoảng mười phút, nhưng cũng đủ cho việc đặt vấn đề. Người nghe đă kịp nhận ra cuộc chửi liên quan đến vụ việc ǵ , bà nghi ngờ cho ai. Sau khi đă khu trú được vấn đề và đối tượng (tất nhiên bà chẳng cần gọi tên chúng ra), bà vào phần chính của việc chửi bới. Bà mạt sát đối thủ bằng những tư liệu rút ra từ gia phả, án tích, dư luận; bà chứng minh tội phạm bằng những chứng cứ và suy luận mà bà đă quan sát và thu thập được ; và cuối cùng là phần h́nh phạt. Bà phạt kẻ bị t́nh nghi phạm tội bằng phương pháp rất nhân đạo là cho ăn và cho uống, thực đơn gồm toàn những thứ sống sít từ cơ thể thiên nhiên của bà. Th́ bà c̣n có ǵ khác ngoài cái vốn tự có ấy?

    Toàn bộ “cáo trạng” từ việc điều tra, luận tội và xử phạt bà làm độ nửa giờ là xong. “Phiên toà” kiểu này có cái “hay” là không cần mời ai đến dự mà vẫn xử được công khai.Thế mới biết kẻ ở thế yếu th́ cứ phải “phátxít“ thôi. Vô chính phủ cũng là một cực của phát xít, nhưng cái phát xít của bà cô tôi vừa đáng yêu, vừa đáng thương, lại vừa đáng tủi làm sao!

    Bà “viết” văn xuôi theo lối biền ngẫu, rất nhiều đoạn rập theo một công thức như lối viết báo cáo hoặc xă luận của những anh không chịu đổi mới ngày nay. Văn xuôi nhưng lại có vần như thơ (có thể đây là tiền thân của loại thơ văn xuôi bây giờ đấy nhá !), lại có lên bổng xuống trầm như nhạc.

    Đặc biệt, vô cùng đặc biệt là đoạn cao trào. Tôi nghe một lần là nhớ suốt đời.

    Đoạn ấy thế này: “ … Nếu mày có trót dại bắt con gà của bà, nghe bà chửi mà không khôn hồn thả nó ra, mà cả nhà cả ổ mày cứ húc đầu vào ăn cho đầy miệng, th́ bà cứ cho chúng mày ăn cái máu l…, rớt l… của bà đây này.(lúc này bà khẽ rướn người lên, hai đầu ngón tay khẽ nhúm chiếc váy đụp nâng lên phía trước, tuy đứng một ḿnh mà bà làm như đang diễn thuyết trước đám đông người). Mày tưởng mày có quyền có thế, có người làm ông nọ bà kia mà ăn hiếp gái già này à ? Cứ ra mặt với bà xem! Bà th́ cứ …dứt cái lông l…thứ tám, bà chẻ tạm làm tư, bà trói cổ cái ông tổ năm đời mười đời nhà mày lại, bà vẫn c̣n thừa cái nút hậu !…”. (Cái sinh lực nữ tính mới đầy uy lực làm sao!)

    Lạ chưa? Cái lông thứ tám? Vậy là trong cái đám lôm xôm ít được thấy ánh sáng văn minh ấy cũng phải có trật tự, ngôi thứ hẳn hoi (cứ như trong trại lính hay trong triều đ́nh xôi thịt vậy)! Không biết cái ngôi thứ này là do chúng cọ xát với nhau mà phân định hay do bà phải đánh số để tiện việc quản lư?

    Để ra quân, bà chưa cần cử các ngôi vị thứ nhất , thứ hai, thứ ba trang trọng làm ǵ, mà mới dùng cái “thằng” thứ tám, thậm chí chả cần cả “thằng” thứ tám nữa, nên bà mới tạm chẻ nó làm tư (khiếp thật, xưa nay người chi ly lắm cũng chỉ chẻ sợi tóc làm đôi là cùng). C̣n ở trận tuyến bên kia th́ bà không thèm chấp cái bọn ăn cắp gà, không thèm trói chúng cho bẩn…cái dây trói của bà, mà lôi cổ hẳn cái ông tổ năm đời mười đời nhà nó ra (bọn này về chầu ông …vải từ lâu rồi mà bà vẫn không tha, v́ chính chúng đă khai sinh ra cái lũ ăn cắp gà vô liêm sỉ này). Binh lực của bà đă tự giảm đi bấy nhiêu lần, binh lực của địch cho phép tăng lên bấy nhiêu lần, vậy mà vẫn chưa cân sức: cái dây trói vẫn quá dài so với cái cổ bự của những ông tổ năm đời mười đời kia, trói cẩn thận đâu vào đấy rồi mà dây vẫn c̣n thừa nhiều quá, lại phải buộc thêm một “múi” nữa cho dây đỡ luề thuề, tức là phải buộc thêm cái nút hậu. Tương quan địch ta chênh lệch như thế th́ chúng c̣n làm sao dám ra mặt với bà được nữa, chứ nói ǵ đến lên mặt , giở thói kiêu ngạo cổ truyền của chúng trước bàn dân thiên hạ?

    Như thế, bản Trường ca đă dùng một “thi pháp” so sánh, tương phản đầy ấn tượng! Thiết kế một bài Chửi khoa học và tinh tế như thế th́ các bậc thâm nho , hay các viện sĩ khoa học mọi thời đều xin bái lạy.

    Thiên nhiên sinh ra muôn loài vốn đă tài t́nh, xă hội loài người tự nhiên cũng tài t́nh như thế. Cứ phải tự cân bằng, cứ phải tạo lấy cái hợp lư để cân bằng lại cái vô lư. Đấu tranh sinh tồn mà sinh ra cả.

    Một lần , đọc bài thơ của một nhà thơ trẻ miền Trung, tôi gặp một tứ thơ độc đáo: “Trong tấn tuồng đời bọn bất lương đă giành đóng hết các vai đạo đức mất rồi”! Bảng phân vai chỉ c̣n các vai phản diện, xấu xa, mà những người bị trị, những người lương thiện, bao giờ cũng chậm chân, đành phải nhận đóng. Không nhận những vai ấy cũng không được. Đă là tuồng đời th́ anh không đóng cũng không được, “lẩn tránh” cũng là một vai của tuồng đời chứ đâu có thoát.

    Khi những kẻ ăn cắp gà lại chi phối luật pháp, lại độc chiếm hết diễn đàn để giảng đạo đức (tất nhiên là đạo đức giả), th́ người mất gà đành phải chửi thôi. Những phụ nữ chịu nhiều tầng ràng buộc nhất chỉ c̣n cách tự vệ ấy để quyết thực hiện quyền ngôn luận, “tự do báo chí” của ḿnh. Bài Chửi độc đáo kia, nghe tưởng cay độc quá, nhưng xem kỹ lại thấy vẫn nhân đạo. Bà vẫn mở đường: nếu mày không sửa chữa th́ bà mới làm như thế, như thế!


    “Chửi” đánh thức lương tâm, đánh thức và nuôi dưỡng công lư. Lương tâm và công lư sẽ lớn lên, chặn tay bọn ăn cắp những “con gà vàng”

    Đấu tranh sinh tồn là cuộc “nội chiến” muôn đời. Đă là cuộc chiến phải có vũ khí, phải có binh pháp. Bọn thống trị khôn ngoan bao giờ cũng lo xa, tước hết vũ khí vật chất và tinh thần của đám bị trị. Nhưng trời sinh voi th́ trời sinh cỏ. Bị lột trần trụi th́ chính cái trần trụi biến thành vũ khí.

    Những giá trị thật mà bị dè bỉu (hoặc giả vờ dè bỉu), đẩy xuống dưới cùng, chính là tiền đề để nó bật lên thành vũ khí, xấn vào tận mặt kẻ làm bộ khinh rẻ nó, cái “Yoni” của các bà chính là một phẩm vật như thế. Trong vơ cổ truyền hay Judo, chính kẻ ở dưới mới chuyển được sang thế thượng phong để chơi ngón “bốc”, ngón “quật”, ngón “ném”. Cho nên , trong văn hoá , kẻ nào đẩy những giá trị cao quư xuống tận đáy chính là tự chuốc lấy diệt vong.

    Chửi là vũ khí của người nghèo bất khuất, người yếu bất khuất. Kẻ mạnh (về lực) hoặc kẻ phi nghĩa mà chửi th́ nhạt thếch, sẽ thành tàn bạo, thô tục, thành lố bịch ngay. Trái lại, dân tộc nào, tầng lớp nào sức sống dai dẳng nhưng bị “yếu kinh niên” sẽ có khả năng mài rũa vũ khí Chửi của ḿnh trở nên hoàn thiện.

    Trong môn Chửi, tên tục của hai “sinh thực khí” có một vị trí độc đáo.

    Cái Linga và cái Yoni đă sinh ra loài người th́ khi con người bị đẩy vào tư thế trần trụi, nguy nan không lối thoát, hai thứ ấy lập tức phải đứng ra đương đầu cứu viện, chiến đấu , với tên thật của nó .Cửa sinh, cửa tử, cũng là cửa thoát. Vậy th́: Yoni-Linga muôn năm! (khẩu hiệu này đáng ra phải hô bằng tên thật).

    Khi dùng cái phương tiện bề ngoài có vẻ rất giống nhau ấy người lương thiện và thằng khùng chỉ khác nhau ở cái mục đích, v́ lẽ phải hay không v́ lẽ phải.

    Đành rằng có chửi cũng chẳng mấy khi t́m lại được gà, nhưng cái “Chửi” đánh thức lương tâm, đánh thức và nuôi dưỡng công lư. Lương tâm và công lư sẽ lớn lên, chặn tay bọn ăn cắp những CON GÀ VÀNG nặng hàng chục tấn, và trả lại cho đời, cho dân những công bằng lớn lao hơn. Ư nghĩa Văn hoá của sự Chửi chính là ở đó.

    Cụ bà Nguyễn thị K., một công dân vô danh trong xă hội, người cô ruột xấu số đáng thương và đáng quư ấy là cuốn từ điển sống của tôi, là một khối văn hoá vừa “vật thể” vừa “phi vật thể”. Trong cuốn từ điển Chửi ấy, nếu thấy cần bổ sung th́ có lẽ chỉ cần ghi thêm khái niệm “Chửi Chữ” nữa thôi.

    Thưa cô, cháu học hành cả đời, hôm nay mới nhận ra cô th́ cô không c̣n nữa.
    Cháu thèm được cô cho một chiếc bánh gai và lại chửi cho một câu như những ngày nào tấm bé.


    Hà Sĩ Phu, 19.4.2005

  4. #574
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    926
    "Tiếng Việt dễ thương qua hai miền Nam Bắc"

    http://bloganhvu.blogspot.com/2013/0...huong-qua.html
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/05...i-miennam.html

    Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013
    Chôm trên mạng: "Tiếng Việt dễ thương qua hai miền Nam Bắc"
    Đang lang thang trên mạng th́ t́m thấy cái này, tôi phải đưa về đây ngay để lưu và ... lâu lâu đọc lại. Cũng chia sẻ đến các bạn luôn nhé, đọc dưới đây này.
    ------------

    Tiếng Việt Dễ Thương Qua 2 Miền Nam, Bắc

    Bắc bảo Kỳ, Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ)
    Bắc gọi lọ, Nam kêu chai
    Bắc mang thai, Nam có chửa
    Nam sẻ nửa, Bắc bổ đôi

    Ôi ! Bắc quở Gầy, Nam than Ốm
    ... Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh
    Bắc định đến muộn, Nam liền la trễ
    Nam mần Sơ Sơ, Bắc nàm Nấy Nệ

    Bắc lệ tuôn trào, Nam chảy nước mắt
    Nam bắc Vạc tre, Bắc kê Lều chơng
    Bắc nói trổng Thế Thôi, Nam bâng quơ Vậy Đó
    Bắc đan cái Rọ, Nam làm giỏ Tre,

    Nam không nghe Nói Dai, Bắc chẳng mê Lải Nhải
    Nam Căi bai băi, Bắc Lư Sự ào ào
    Bắc vào Ô tô, Nam vô Xế hộp
    Hồi hộp Bắc hăm phanh, trợn tṛng Nam đạp thắng

    Khi nắng Nam mở Dù, Bắc lại xoè Ô
    Điên rồ Nam Đi trốn, nguy khốn Bắc Lánh mặt
    Chưa chắc Nam nhắc Từ từ, Bắc khuyên Gượm lại
    Bắc là Quá dại, Nam th́ Ngu ghê

    Nam Sợ Ghê, Bắc Hăi Quá
    Nam thưa Tía Má, Bắc bẩm Thầy U
    Nam nhủ Ưng Ghê, Bắc mê Hài Ḷng
    Nam chối Ḷng Ṿng, Bắc bảo Dối Quanh

    Nhanh nhanh Nam bẻ Bắp, hấp tấp Bắc vặt Ngô
    Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp
    Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi
    Nam nói: mày đi ! Bắc hô: cút xéo.

    Bắc bảo: cứ véo ! Nam : ngắt nó đi.
    Bắc gửi phong b́, bao thơ Nam gói
    Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn !
    Bắc gọi tiền đồn, Nam kêu cḥi gác

    Bắc hay khoác lác, Nam bảo xạo ke
    Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn
    Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay.

    Được đăng bởi Unknown vào lúc Thứ Hai, tháng 4 22, 2013

    3 nhận xét:

    THÍCH THỊT TƯƠI09:22 23 tháng 4, 2013
    _________ đọc rồi đọc nữa vẫn hay______ khen người tổng hợp thiệt dày công phu !!

    Trả lời

    Nặc danh10:42 23 tháng 4, 2013
    Tôi thấy có mấy câu sau bị ngược:

    "Bắc mang thai, Nam có chửa"
    "Bắc lệ tuôn trào, Nam chảy nước mắt"
    "Điên rồ Nam Đi trốn, nguy khốn Bắc Lánh mặt"

    Trả lời

    Nặc danh17:29 23 tháng 4, 2013
    "Bắc vào Ô tô, Nam vô Xế hộp
    Hồi hộp Bắc hăm phanh, trợn tṛng Nam đạp thắng"
    Người Nam gọi là "xe hơi".
    Người Nam gọi là "đạp phanh"
    Trả lời

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •