Page 64 of 64 FirstFirst ... 14546061626364
Results 631 to 633 of 633

Thread: Ngày này năm xưa

  1. #631
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    988
    Một Đêm Tháng Tư Không Ngủ

    https://sinhhoatdoisong.blogspot.com...-viet-sau.html
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/07...hong-n-gu.html

    TUESDAY, NOVEMBER 13, 2018
    Sau 42 Năm

    Bài viết rất hay, viết sau một đêm tháng Tư không ngủ

    Nguyễn thị Thêm sinh năm 1948 tại Biên Ḥa, cựu học sinh Ngô Quyền. Trước 1975, dạy học. Qua Mỹ năm 1991 theo diện HO, hiện là cư dân Nam Ca Li. Bà kể, “Chồng tôi là lính VNCH. Hai con tôi nay là lính của quân đội Hoa Kỳ. Tôi hết làm vợ lính lại làm mẹ lính.”
    Công việc hàng ngày của tác giả là chăm sóc ông chồng sĩ quan cựu tù bị tâm thần suy nhược”
    Bài viết này là chuyện được viết sau một đêm tháng Tư không ngủ, nhận tin Bà Hạnh Nhơn vừa mất.
    https://vvnm.vietbao.com/ p246459a246554/sau-42-nam
    Sau 42 Năm
    Nguyễn Thị Thêm

    Gia đ́nh tôi cổ hũ và tôi là đứa con gái duy nhất nên bị ràng buộc trong tầm suy nghĩ của mẹ."Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh làm câu trao ḿnh"
    Cái ông Khổng tử ở tuốt bên Tàu vậy mà uy lực ổng thật to rộng. Một người phụ nữ ít học, quê mùa như má tôi lại thuộc nằm ḷng mấy câu giáo điều đó . Thuộc để ép ḿnh vào khuôn khổ cả một đời và truyền lại cho con gái.
    Chúng tôi cùng dạy tư cho một trường trung học công giáo do cha đạo mở ra. Khi ấy anh đă là lính mang lon chuẩn úy. Có nghĩa là anh cũng thuộc lính mới ṭ te. Một sĩ quan mới ra trường c̣n mang nhiều món nợ áo cơm từ cha mẹ. Nơi anh được bổ nhiệm là một quận lỵ nằm giữa những vùng xôi đậu.
    Ban ngày là của Quốc Gia, ban đêm Việt Cộng về thăm dân. Họ nhận tiếp tế, tuyên truyền và rải truyền đơn.
    Người dân như mang mặt nạ, không dám biểu lộ t́nh cảm của ḿnh với lính Quốc Gia. Xung quanh hàng xóm không biết ai là bạn, ai là Việt Cộng nằm vùng . Cuộc sống bấp bênh trong những trận càn của lính và đêm sục xạo, gỏ cửa ŕnh ṃ của phía bên kia. Ấp chiến lược sau khi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bị giết đă không c̣n hiệu lực. Một con đường vô h́nh đă mở ra cho sự phát triển của phe đối nghịch. Đưa đẩy người dân vô tội vào hai gọng ḱm Quốc Gia và Việt Cộng..
    Khi những người bạn đồng minh lần lượt đổ quân vào thôn xóm th́ như giọt nước đă tràn ly. Người dân càng hoảng loạn không biết đâu là chính nghĩa. Những người Mỹ, người Đại Hàn, người Thái Lan súng ống rầm rộ khắp mọi ngơ ngách xóm làng . Người dân quê sợ sệt v́ lần đầu tiên thấy người ngoại quốc lùng sục khắp nơi. Đó là cái mồi lửa thật tốt châm ng̣i cho phía bên kia. Họ tuyên truyền trong dân chúng để kéo chính nghĩa về phía họ.
    Tôi nói điều này ra có nhiều người sẽ phản đối. Nhưng đó là sự thật khi người dân không có được một sự giáo dục rơ ràng về phía chính phủ. Họ không hiểu thế nào là Thế Giới Tự Do và thế nào là Cộng Sản. Họ không hiểu tại sao người Mỹ có mặt ở nước ḿnh.
    Nhan nhản trên đường những người lính Mỹ say sưa. Những cô gái thôn quê bỗng chốc thay da đổi thịt. Từ ăn mặc đơn giản lại ḷe loẹt chói mắt. Một số biến thành gái măi dâm mua vui cho những người lính Mỹ đen, Mỹ trắng. Những người phụ nữ bỏ quên chồng con, diêm dúa trong những bộ quần áo mini ngắn ngủn, son phấn sặc sỡ đi làm sở Mỹ. Những áp phe buôn đồ Mỹ, bán đồ quân tiếp vụ Mỹ, quán rượu mọc ra như nấm. Những đứa bé con lai ra đời, những bào thai bị vất bên đường và thỉnh thoảng phát hiện xác con gái nằm chết trong băi rác. Những tin xấu tràn về thôn xóm, những h́nh ảnh xa đọa lung lay xă hội.
    Đau đớn là ở chỗ chính nghĩa bị hiểu lầm và kẻ gian ngoa đă giành chiến thắng. Những người học sinh trong bộ đồng phục tới lớp buổi sáng. Nhưng sẽ là một liên lạc viên báo cáo tin tức vào buổi tối cho phía bên kia. Những em học sinh mặt th́ già nhưng giấy tờ nhỏ tuổi. Có em đă có vợ, có con nhưng vẫn mang giấy tờ giả đến trường để trốn lính. Những chị ngồi trên xe lam đi chợ nói nói cười cười. Những cô gái đẹp làm người t́nh hờ của lính. Họ là những người nằm vùng của phía bên kia. Nhiệm vụ hoạt động mật, báo tin tức, tiếp tế lương thực, huốc men và tiếp nhận chỉ thị của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
    Trong bộ ngực căng tṛn của cô gái đẹp chứa đầy thuốc trụ sinh. Dưới lằn vải quần mỹ a đen mượt mà kia là những lớp nylon bó thật chặc vào đùi để tiếp tế. Trong gà mên cơm đem đi ăn một ngày, họ ém thật chặt cho 2, 3 người ăn. Sau giờ làm, họ để lại bên rừng cho người của mặt trận về lấy đem đi. Trong làng, đa số là phụ nữ.. Nhưng những đứa bé không cha tiếp tục ra đời mà không ai đặt vấn đề.
    Chiến tranh đă đẩy những người dân chơn chất thành những kẻ phản bội " Ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản " Đừng trách họ, mà hăy trách nhà cầm quyền không bảo vệ được họ. Những người có nhiệm vụ tuyên truyền không dẫn giải cho dân hiểu được sự thật, đâu là bạn, đâu là thù. Những người làm công tác chiến tranh chính trị chỉ làm trên giấy tờ mà không đi vào cái gốc chính là người dân- những người dân quê an phận, hiền lành
    Trong khi đó kẻ gian ŕnh ṃ trong bóng đêm. Những bộ mặt giả nhân nghĩa vừa tỉ tê dụ dỗ, vừa hù dọa khủng bố đă len lỏi vào từng gia đ́nh Những tổ chức bí mật được thành h́nh, biến người dân thiệt thà thành tai mắt, những người đàn bà quê mùa thành những bà mẹ anh hùng..
    Thành phố rộn ră tiếng cười, những bar rượu, những đêm vui thâu đêm suốt sáng. Thành phố không có chiến tranh cho nên thành phố đẹp, thành phố sang. Đất nước VN không phải chỉ là thành phố mà có cả thôn làng, núi, đồi, sông, biển. Thôn làng càng xa xôi nghèo nàn, Việt Cộng trà trộn càng nhiều, càng khó bảo vệ. Người dân không thương yêu ǵ CS nhưng sợ bị trả thù, sợ bị theo dơi, sợ bị nghi ngờ và bị giết oan. Tội nghiệp người dân, một cổ hai tṛng. Dù đang sống dưới chế độ Cộng Ḥa nhưng vẫn bị Mặt Trận khống chế hàng ngày, hàng đêm.
    Gần gũi dân nhất là những người lính Địa Phương Quân. Họ đóng quân ngay trong làng , sống với dân và người họ sợ nhất lại chính là những người dân. Ai đă từng đi lính th́ khắc biết điều tôi nói là sự thật. Chỉ một câu nói lỡ lời th́ tin tức hành quân được bên kia nắm bắt. Và những chuyến phục kích kể như thất bại. hay bị đảo ngược thế cờ.
    Người lính sống trong đường tơ kẻ tóc và người con gái chấp nhận lấy lính là chấp nhận mọi sự rủi may trong đời. Đám cưới đôi khi không dám tổ chức tại địa phương v́ gia đ́nh sợ bị theo dơi và trả thù. Thôn làng do chính phủ VNCH làm chủ mà người dân sợ Việt Cộng hơn Quốc Gia. Đă trễ quá rồi khi nói đến điều này, nhưng tất cả chúng ta đều là nạn nhân của một cuộc lừa đảo.
    Bao nhiêu nhân mạng oan khiên đă chết một cách thảm thương cho cuộc chiến tương tàn . Bao nhiêu thanh niên của nước Mỹ giàu đẹp đă bỏ thây một cách oan uổng trên chiến trường VN. V́ sự sai lầm của cả hai phía. Tất cả tang thương đó đă đổ lên vai, lên đầu của thế hệ chúng tôi. Những người lính, những người vợ lính và những trẻ thơ vô tội.
    42 năm qua rồi, nhưng mỗi khi tháng Tư Đen lại về tôi lại xoay cuồng trong suy nghĩ. Tôi khâm phục cái nh́n thật rơ ràng cốt lơi cuộc chiến VN của Tống Thống Ngô Đ́nh Diệm. Ngài biết thật rơ ràng về Cộng Sản kể cả sách lược bảo vệ quốc gia. Ngài không muốn người Mỹ hay đồng minh đổ bộ vào Việt Nam. Ngài chỉ muốn đựợc tiếp tế vũ khí và ngân sách để bảo vệ và xây dựng đất nước. Ngài lập ra ấp chiến lược là để cắt đứt nguồn tiếp tế lương thực và thuốc men cho phía bên kia. Đồng thời xây dựng một lực lượng bảo vệ xóm làng từ người dân.
    Nhưng tiếc thay ngài đă bị giết chết. Chế độ Đệ nhị Cộng Ḥa không xoay nỗi thế cờ chính trị. Mỹ bỏ rơi VN.. Và sự thất trận đau thương xóa sổ VNCH trong ngày 30/4/75 lịch sử. Vận mạng đất nước nhược tiểu nằm trong tay của những đại cường. Một cuộc mua bán, sang nhượng chính trị. Đất nước ta là món hàng đưa lên bàn cân ngă giá. Kẻ thắng chẳng oai hùng, người thua đầy uất ức. Bốn mươi hai năm qua rồi, nhắc lại thêm ngậm ngùi, đau đớn.
    Bao nhiêu mạng người đă bỏ thây trong cuộc chiến, trên con đường chạy loạn 30/4/1975. Bao nhiêu xác người tù CS bị bỏ thây trên rừng thiêng nước độc. Bao nhiêu xác người bị chết trên biển đông và trong bàn tay của hải tặc. Bao nhiêu? bao nhiêu? Một câu hỏi làm nghẹn ḷng người Việt trên khắp năm châu.

    Thoắt một cái đă 42 năm. những người có mặt và tham dự trong cuộc chiến ngày đó đều đă già. Những mái tóc bạc trắng hay hoa râm, những tâm hồn đầy những vết thẹo quá khứ và chiến tranh. Cố gắng xây dựng một thế hệ tiếp nối.
    Cố gắng sống tốt và làm sống lại một thuở hào hùng. Đôi chân đă yếu, cơ thể hao ṃn. Những người cha, người ông đă tận lực ḿnh v́ hai chữ tự do. Họ thật đáng kính trọng và tự hào. Nhưng trong họ biết bao nhiêu đêm trăn trở, dằn vặt v́ sức tàn, lực kiệt.
    42 năm cho những người di tản. Mấy chục năm cho những người HO đang sống ở một nước khác quê hương ḿnh. Sau 30/4 người sĩ quan VNCH bị tù đày nơi rừng thiêng nước độc. Không một bản án, không biết ngày về.
    Họ được thả ra với một thân thể suy nhược, một tâm hồn loang lỗ những thương đau. Trong họ mọi thứ đều đỗ vỡ, bi thương. Được thả từ nhà tù hẹp ra nhà tù lớn vớ i vài chục đồng lộ phí và một túi hành trang nhẹ tênh. Nhưng họ lại mang quá nặng cái lư lịch đen "Ngụy Quân" đè bẹp cuộc đời và cả gia đ́nh. Có người t́m lại được mái ấm gia đ́nh. Có vợ, có con để dựa nương, bám víu. Có người không c̣n nhà cửa, vợ con thân thích
    Nếu không có chương tŕnh HO không biết bây giờ cuộc sống của những người tù CS sẽ ra sao? Không có chương tŕnh HO. Không có những người liều chết vượt biển t́m tự do . Chúng ta sẽ không có một thế hệ thứ hai thứ ba thành công trên đất nước Hoa kỳ hay trên thế giới. Chúng ta sẽ không bao giờ có một Little Sai Gon trên đất Mỹ. Chúng ta sẽ không thể hảnh diện giơ cao lá cờ vàng và hát Quốc ca. Chúng ta không có xe hoa diễn hành ngày tết Nguyên Đán, Chúng ta cũng không thể có những bảo tàng lịch sử "Quân lực VNCH". Không có tượng đài Đức Trần Hưng Đạo và cũng không thể có những nghị quyết "Vinh Danh cờ vàng" tại nhiều thành phố trên nước Mỹ, Úc, Canada.
    Cám ơn Bà Hạnh Nhơn. Cám ơn những ân nhân đă cứu vớt, đă mở con đường sống cho những người liều chết t́m tự do như chúng tôi.

    42 năm, một thời gian quá nửa đời người. Những chứng nhân lịch sử rất nhiều người đă nằm xuống v́ tuổi già, v́ bệnh tật. Những văn nhân, thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ nỗi danh cũng quá nửa đă ra đi. Một thế hệ VNCH lần lần đi vào quá khứ. Thế hệ tiếp nối lớn lên tại Mỹ , sinh ra tại Mỹ và chúng gia nhập vào ḍng chính để làm một người Mỹ thực thụ.
    Hôm tuần trước tôi đi dự một đám ma. Người chết là một bà bác 90 tuổi. Con cái, người thân quen đến viếng tang đa phần là người Việt, nói tiếng Việt. Nhưng quỳ dưới kia các cháu dâu rễ đa phần là người Mỹ. Bầy cháu cũng là những đứa bé Mỹ lai nói toàn tiếng Mỹ. Cả một đại gia đ́nh nói chuyện với nhau bằng tiếng Mỹ. Người chết chắc hẳn sẽ buồn và không hiểu chúng đang nói chuyện ǵ
    Người tham dự như tôi cũng xót xa cho ngay bản thân ḿnh. Rồi th́ cũng thế mà thôi hay sao? Không? Chúng ta đă có những lớp dạy tiếng Việt. " Tiếng Việt c̣n, nước ta c̣n. " Chúng ta không thể không ḥa nhập nhưng không thể để mất nguồn cội. Những thế hệ VNCH thứ hai thứ ba đang học hỏi để hiểu lư do tại sao chúng có mặt nơi này. Các cháu đang làm sống lại ḍng sử Việt. Các cháu giương cao lá cờ vàng và các cháu tự hào về nó.
    Dù muốn dù không chúng ta cũng đă rời khỏi VN. Mọi việc của quê hương đất nước phải do người trong nước quyết định. Có thay đổi được vận mệnh, có bảo vệ VN khỏi bàn tay xâm lược của Tàu Cộng hay không là do người trong nước thực hiện . Chúng ta chỉ có thể ủng hộ tinh thần, tiếp tay đưa mọi việc ra dư luận quốc tế để làm áp lực.
    Các bạn ơi! 42 năm rồi cho một cuộc chiến, cho một đời người. Con gái tôi sinh ra 3 tháng sau ngày mất nước. Bây giờ cháu đă 42 tuổi, là một phụ nữ trung niên, con cái đă vào Trung học. Người lính VNCH trẻ nhất cũng đă ngoài 60. Những người lính già bây giờ đều đă đi gần cuối cuộc đời. Sống nơi xứ người tuy đầy đủ vật chất nhưng vẫn là nỗi khắc khoải khôn nguôi cho những giấc mơ về một VN tự do dân chủ.

    Tôi yêu quê hương VN tôi lắm. Tôi nhớ gia đ́nh, họ hàng anh em và bạn bè tôi. Tôi nhớ từng con đường, từng góc vườn kỷ niệm của tuổi thơ và tuổi trẻ. Thú thật tôi sợ lắm. Sợ một ngày nào đó tôi trở về không nhận ra đất nước của ḿnh.
    Tôi sợ Trung Cộng sẽ chiếm trọn Việt Nam. Người Việt ḿnh sẽ bị làn sóng người Tàu tràn xuống tịch thu nhà cửa, chiếm cứ ruộng vườn . Họ sẽ đày người Việt ḿnh đi vào những nơi rừng núi hay đồng khô cỏ cháy. Họ sẽ xóa một nước VN như chính quyền hiện nay xóa sổ VNCH . Họ sẽ tàn bạo hơn, quyết liệt hơn, dă man hơn để đồng hóa chúng ta. V́ mộng bá chiếm VN ấp ủ mấy ngàn năm nay đă toại nguyện.
    Một SàiG̣n xưa đă mất. Một nền văn hóa nhân bản đă mất. Có thể rồi đây nước Việt Nam sẽ bị xóa sổ trên bản đồ thế giới Chẳng ai c̣n nhớ đến bà Trưng, bà Triệu, Hưng Đạo Vương, vua Quang Trung....
    Tôi có bi quan quá hay không?
    Xin nhường câu trả lời cho tất cả mọi người.
    Chỉ mong sẽ không bao giờ là sự thật. Chỉ mong được như vậy.
    Xin các đấng tiền nhân, hương linh những anh hùng tử sĩ pḥ hộ cho nước Việt ḿnh vượt qua cơn băo giông này.
    42 năm đă quá đủ cho những thương đau.
    Nguyễn thị Thêm
    Posted by Thoi Chinh Chien at 6:55 PM

  2. #632
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    988
    Bao Giờ Cho Đến... Ngày Xưa

    https://vietbao.com/p190a65064/7/bao...o-den-ngay-xua
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/07...io-cho-en.html

    Bao Giờ Cho Đến... Ngày Xưa
    23/09/2006 00:00:00(Xem: 4641)
    Trần Viết Đại Hưng (VNN)

    Lịch sử của nhân loại từ ngày có mặt trên mặt đất là lịch sử của sự tiến hóa từ thấp lên cao. Từ thuở hồng hoang khai thiên lập địa con người "ăn lông ở lỗ" cho đến khi "ăn no mặc đủ" và tiến đến giai đoạn cuối cùng là "ăn ngon mặc đẹp". Chiều hướng phát triển theo thời gian là chiều hướng phát triển từ thấp lên cao, từ tinh thần đến vật chất. Từ thuở ban sơ khi chế tạo những dụng cụ thô sơ để dùng vào việc cày cấy cũng như săn bắn đến chuyện chế tạo phi thuyền thám hiểm mặt trăng và mới đây là sao Hỏa thời hiện tại là một quá tŕnh cải tiến kéo dài cả ngàn năm. Nói như thế để thấy là thời hiện tại bao giờ cũng khá hơn thời quá khứ và tương lai dĩ nhiên là sẽ văn minh và tân tiến nhiều hơn so với hiện tại.

    Nhưng tại sao vẫn có chuyện nghịch lư là có một số người vẫn tưởng nhớ thiết tha đến thời dĩ văng, một dĩ văng vàng son và êm đềm. Phải chăng thời quá khứ cũng có những ưu điểm của nó mà thời hiện tại cũng như tương lai không thể so b́ kịp" Khi có người tiếc nhớ lưu luyến với dĩ văng đă qua, phải chăng dĩ văng cũng có những ưu điểm vượt trội so với thời gian hiện tại đang sống cũng như tương lai sắp tới.

    Có sống trong thời Cộng sản cai trị khắt khe, độc đoán, người dân mới thấy thời xa xưa tiền Cộng sản là một thời kỳ dễ thở, sung túc, cho dù đó là thời Pháp đô hộ th́ vẫn c̣n hơn xa cái chế độ chuyên chế sắt máu Cộng sản. Thời tiền Cộng sản hơn xa thời Cộng sản cả về mặt tinh thần lẫn vật chất. Rơ ràng v́ quá nung nấu thiết tha với nền độc lập dân tộc mà đa số người dân đă theo Cộng sản và đổ xương máu tranh đấu cho đến khi Cộng sản giành được chính quyền. Tưởng là sẽ có được độc lập, tự do mà ông tổ Cộng sản Việt Nam Hồ chí Minh cho là không có ǵ quí hơn, nào ngờ khi sống dưới chế độ bạo tàn chuyên chế Cộng sản th́ người dân mới thấy thân phận ḿnh là số phận hèn kém của súc vật, không có một chút nhân phẩm làm người. Khi người dân tỉnh táo nh́n ra được sự thực bộ mặt tàn bạo, hung hiểm của Cộng sản th́ cũng quá trễ, bọn sài lang Cộng sản đă dựng nên nền thống trị!

    Nhà thơ Nguyễn chí Thiện là người đă nh́n thấy sự khác biệt của chế độ Cộng sản và chế độ Pháp thuộc và đă đưa ra nhận xét chính xác như sau:

    "Ôi thằng Tây mà trước kia người dân không tiếc máu xương đánh đuổi.
    Nay họ xót xa luyến tiếc vô chừng
    Nhờ vuốt nanh của lũ thú rừng
    Mà bàn tay tên cai trị thực dân hóa ra êm ả!"

    (Đồng lầy - Hoa địa ngục)

    Ông nhận thấy cái khác biệt của hai chế độ Cộng sản và Thực dân đôi khi chỉ là vấn đề danh từ, c̣n bản chất Cộng sản là một chế độ tàn độc, thối tha. Ông đưa ra lời nhận xét chính xác và chí lư và gọi đó là "cái lầm to thế kỷ":

    "Đau đớn lắm cái lầm to thế kỷ
    Sử sách ngàn đời c̣n măi khắc ghi
    Mấy chục năm trời xương máu đổ đi
    Thử hỏi dân đen thu được những ǵ"
    Ngoài một số từ lừa mị kẻ ngu si!
    Người công nhân trước gọi cu li
    Người lính cũ nay gọi là chiến sĩ
    Song vẫn vác, vẫn khuân, vẫn đói nghèo, vẫn bị
    Đẩy đi chiến trường chết hoài, chết phí
    Cho một lũ Trung Ương lợn ỷ!
    Đau đớn lắm cái lầm to thế kỷ
    Sử sách ngàn đời c̣n măi khắc ghi.

    (Đau đớn lắm (1970) - Hoa địa ngục)
    Sống ṃn mỏi trong chế độ khốn nạn Cộng sản, ngoài chuyện đói cơm gạo c̣n phải đối diện với sự dối trá hàng ngày, nhà thơ Nguyễn chí Thiện đă có sự so sánh lạ kỳ khi ông cho chế độ Cộng sản c̣n tàn tệ và yếu kém c̣n thua thời đồ đá. Người Việt Nam thường có câu "Đói cho sạch, rách cho thơm" và "Giấy rách phải giữ lấy lề", nhưng sống trong chế độ Cộng sản người dân đói đến mức không c̣n sạch nổi để đi tới t́nh trạng, "Đói ăn vụng, túng làm liều", con người mất dần phẩm giá để biến thành con vật, sống với bản năng hoang dă, khi đói th́ t́m đủ mọi cách để thỏa măn cơn đói, bất chấp mọi khuôn khổ đạo đức, bất chấp đạo lư làm người đă có hàng ngàn năm gắn liền với dân tộc. Nhà thơ Nguyễn chí Thiện đă đưa ra nhận định là thời Cộng sản c̣n tệ hại thua thời Đồ đá:

    "Nếu phải sống lại thời đồ đá
    Cũng c̣n hơn gấp vạn gấp ngàn
    Cái thiên đường đói khổ miên man
    Toàn giết chóc, tù lao, dối trá!

    (Những ghi chép vụn vặt (185) - Hoa địa ngục)

    Đảng viên Cộng sản Nam kỳ kỳ cựu Nguyễn văn Trấn trong cuốn sách "Viết cho mẹ và Quốc Hội" đă so sánh sự cởi mở trong chuyện ra báo thời Pháp thuộc và sự cấm đoán ra báo trong chế độ cộng sản một cách thẳng thắn và trung thực:
    "Điều rất khó hiểu là trong chế độ xă hội thuộc địa cũ trước đây của xứ Nam kỳ (Cochinchine), người Cộng sản đă dựa vào luật tự do báo chí của chánh quốc (Đế quốc Pháp) mà ra báo L'Avant-garde (Tiền Phong) do đồng chí Nguyễn văn Nguyễn phụ trách, báo Le Peuple và báo Dân Chúng năm 1938 do đồng chí Nguyễn văn Trấn phụ trách mà không xin phép, chỉ có tờ khai báo đơn giản (sinple diclaration) thôi. C̣n ngày nay, trong chế độ xă hội chủ nghĩa - chế độ tự do - mà những người kháng chiến cũ lại không được quyền ra báo, làm báo được, mặc dù Hiến pháp đă qui định các quyền tự do của công dân trong đó có quyền tự do báo chí. Thật là kỳ quặc!"
    (Trích "Viết cho mẹ và quốc hội" trang 392, nhà xuất bản Văn Nghệ, California).

    Đúng là một sự mỉa mai cay đắng khi thấy những người dân Việt Nam như Nguyễn văn Trấn đă đổ xương, đổ máu để góp phần thiết lập một chế độ như chế độ Cộng sản, để rồi không có tự do báo chí mà viết lách, rơ ràng báo chí thời Cộng sản c̣n thua báo chí thời Pháp thuộc. Lịch sử đúng là quay tít ṿng ngược lại!
    Ngoài nhà thơ Nguyễn chí Thiện và Đảng viên Nam kỳ Nguyễn văn Trấn đă nh́n thấy sự tệ hại của chế độ Cộng sản so với chế độ Pháp thuộc, c̣n có những nhà văn cũng nh́n thấy điều nghịch lư ấy và đă lên tiếng nói rơ sự nghịch lư mỉa mai này.
    Hăy nghe nhà văn Nguyễn Tuân tŕu mến nhớ lại thời kháng chiến thấm đăm t́nh người giữa những anh em văn nghệ sĩ. Dĩ nhiên hồi ấy Cộng sản chưa cướp được chính quyền, chúng chưa ḷi nanh vuốt đàn áp độc địa. Những nhà văn theo kháng chiến như Nguyễn Tuân, Phùng Quán đều có trong ḷng một hào khí ngất trời là quyết tâm đánh đuổi quân ngoại xâm Pháp để mang lại độc lập cho dân tộc. Với một dân tộc có truyền thống chống ngoại xâm như dân tộc Việt Nam th́ tâm trạng nung nấu, thôi thúc của người chiến sĩ ra trận lại càng bộc lộ tràn trề, mănh liệt cũng như t́nh người giữa những văn nghệ sĩ chiến đấu thắm thiết và thương yêu dạt dào không kể xiết dù sống trong hoàn cảnh đói rách cực khổ trong những chiến khu. Nguyễn Tuân kể:
    "Cái đại hội Việt Bắc năm bốn tám (1948) là vui nhất. Khổ mà vui, nghèo mà lành, các nhà văn ta lúc đó đói rách lắm mà đẹp lắm, thương nhau lắm. Toàn tâm toàn ư v́ sự nghiệp đấu tranh giải phóng, v́ độc lập và tự do của dân tộc, trong đó có bản thân ḿnh.. Cái kỳ đó tôi có đọc tham luận. Đang đọc dở th́ tôi dừng lại, xin phép đại hội cho tôi kể một chuyện tiếu lâm. Chuyện "cái rắm thơm, cái rắm thối" ấy mà. Sau đó tôi đọc tham luận tiếp. Lúc xuống bục diễn đàn về ngồi ghế chủ tịch, một người... bỏ nhỏ vào tai tôi, "Ông to gan thật. Cái câu chuyện ông kể là có vấn đề đấy."
    Lúc đó, tôi nào để tâm cái vấn đề đó là sao. Và quả là sau đó cũng chả có vấn đề ǵ cả. Tôi vẫn trúng cử với phiếu cao. Cái đại hội năm năm tám (1958) mà nói năng kiểu đó nữa th́ bỏ mẹ chứ chả chơi, th́ dứt khoát là có vấn đề ngay. Đến bây giờ th́ lại càng có vấn đề".
    (Trích từ "Văn học Việt Nam dưới chế độ Cộng sản" của Nguyễn hưng Quốc trang 22, nhà xuất bản Văn Nghệ, California).
    Cũng nhà văn Nguyễn Tuân này khi cuối đời đă lă chă nước mắt mà nói với đàn em văn nghệ rằng, "Tao mà c̣n sống đến giờ này là v́ biết sợ."
    Nhà phê b́nh văn học Nguyễn hưng Quốc giải thích lư do của câu chuyện kể của Nguyễn Tuân:
    "Thật ra, cái không khí cởi mở, thoải mái ấy không phải đợi đến năm 1958 mới bị khai tử. Nó bị khai tử sớm hơn nhiều, từ cuộc tranh luận văn nghệ tại Việt Bắc năm 1949, đặc biệt từ năm 1951, lúc Cộng sản phát động các chiến dịch chỉnh quân, rồi tiếp sau đó, cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu kéo dài măi đến năm 1956. "
    (Trích "Văn học Việt Nam dưới chế độ Cộng sản" của Nguyễn hưng Quốc trang 23).
    Những văn nghệ sĩ theo Cộng sản để kháng chiến chống Pháp như Phùng Quán, Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt với một tâm hồn phơi phới của tuổi thanh xuân, những mong hiến dâng cuồng nhiệt tuổi đẹp nhất đời người là tuổi thanh xuân. Nhưng rồi khi chế độ Cộng sản được thiết lập ở miền Bắc năm 1954 sau chiến thắng Điện Biên Phủ, văn nghệ sĩ mới bắt đầu thấm thía và đau khổ với chính sách siết chặt mọi sáng tác riêng tây của người nghệ sĩ. Bởi vậy mới có hiện tượng Nhân Văn - Giai Phẩm bùng lên phản kháng và yêu cầu Đảng trả lại tự do sáng tác cho nhà văn. Đảng trả lời bằng cách đóng cửa báo và giam tù những người liên hệ đến Nhân Văn - Giai Phẩm. Bản án kéo dài hàng chục năm, biến những tinh hoa của đất nước thành những kẻ tù tội thân tàn ma dại, không c̣n viết lách, sáng tác ǵ được nữa.
    Nhà phê b́nh văn học Nguyễn hưng Quốc c̣n đi xa hơn khi nhận định nền văn học xă hội chủ nghĩa có đặc điểm là một thứ văn học thời phong kiến mà chính những cán bộ tuyên huấn Cộng sản thẳng tay phê phán.
    Nguyễn hưng Quốc viết, "Văn học nghệ thuật, rốt cuộc, cũng chịu chung số phận đi ṿng quanh bi thảm ấy. Văn học truyền bá chính trị của Cộng sản thực chất chỉ là biến thái của quan niệm "văn dĩ tải đạo" đă có từ đời Hán, đời Đường bên Trung quốc. Văn học gắn liền với chính trị, phục vụ chính trị của nhà cầm quyền là một đặc điểm của thời kỳ phong kiến, nói như Lại nguyên Ân, là của nền văn học quan phương, văn học cung đ́nh. Cái gọi là phương pháp sáng tác hiện thực xă hội chủ nghĩa thực chất chỉ là sự kết hợp khiên cưỡng giữa chủ nghĩa cổ điển và chủ nghĩa hiện thực ở phương Tây hồi thế kỷ 18 và 19.
    Trong bài "Văn học Việt Nam trong bước ngoặt chuyển ḿnh" đăng trên báo Văn Nghệ số 45 ra ngày 5-11-1988, Lă Nguyên nhận định:
    "Trong nhiều trường hợp, tư duy nghệ thuật của nhà văn Việt Nam.. đành dừng lại ở tŕnh độ tư duy của thế kỷ 19, thậm chí có cả khuynh hướng quay ngược trở về kiểu tư duy của thế kỷ 17".

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Người dân miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đă có cơ hội sống và thấm thía với sự bạo tàn của chế độ Cộng sản. Dĩ nhiên là họ thương tiếc thời quá văng vàng son, một thời mà họ được sống sung túc về vật chất và thoải mái về tinh thần. Cộng sản thường phê phán sự sung túc, trù phú của miền Nam là "phồn vinh giả tạo". Sau vài năm cai trị, Cộng sản đă biến sự "phồn vinh giả tạo" ấy thành đói khổ thật sự. Người miền Nam nh́n thấy rơ sự khác biệt đó và đưa ra nhận xét so sánh hóm hỉnh và chua cay trong câu nói phương ngôn thời đại:

    "Đả đảo Thiệu Kỳ mua ǵ cũng có,
    Hoan hô Hồ chí Minh mua cây đinh cũng phải xếp hàng."


    Về vấn đề tự do trong cuộc sống th́ họ cũng có ngay nhận xét:
    "Nam kỳ khởi nghĩa tiêu Công lư
    Đồng Khởi lên rồi mất Tự Do"


    (Sỡ dĩ có hai câu này v́ đường Công lư (trước 75) được đổi tên là đường "Nam kỳ khởi nghĩa" sau 75 và đường Tự Do (trước 75) được đổi tên thành đường Đồng Khởi (sau 75)).

    Lại có một nhạc sĩ c̣n đặt vấn đề "ai giải phóng ai" qua bài hát "Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh" khi người nhạc sĩ thấy người đi giải phóng c̣n tệ hại hơn kẻ "bị giải phóng".
    Bài hát có một đoạn lư thú như sau:
    "Nếu tôi có được phép thần thông. Năm năm về trước tôi sẽ đưa anh đi thăm Sài g̣n. Để cho anh thấy rằng: anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh!)"
    (H́nh như tác giả bài hát độc đáo này là nhạc sĩ Nhật Ngân")

    Thật ra chuyện đói khổ sau 1975 không phải là chuyện gây cho dân chúng thù hận Cộng sản. Chính cái chính sách đánh người ngă ngựa trong những trại tù cải tạo dă man đă làm cho người tù và những người thân nhân liên hệ với người tù tử nạn trong tù trở nên thù hận Cộng sản đến xương tủy. Những trại tù do Cộng sản lập ra sau 1975 không cải tạo được ai cả, chúng chỉ tạo cho sự thù hận chất ngất mà không biết đến bao giờ mới xóa tan được.

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Nhân loại đă bước sang thế kỷ 21 rồi, cuộc sống con người dĩ nhiên ngày càng văn minh với đủ thứ phát minh tối tân để phục vụ. Nhưng không phải cứ càng văn minh là con người càng trở nên lương thiện, thuần phác, có khi ngược lại là đằng khác. Thật ra điều này Lăo Tử đă nhận thấy từ hàng ngàn năm trước. Nhà biên khảo Nguyễn hiến Lê đă quảng diễn vấn đề này một cách tường tận như sau:
    "Có thể Lăo tử nhận thấy rằng trong vũ trụ, sinh vật nào càng nhỏ càng thấp như con sâu, th́ cơ thể và đời sống càng đơn giản, chất phác; c̣n loài người th́ thời thượng cổ, tính t́nh rất chấc phác, đời sống rất giản dị, tổ chức xă hội rất đơn sơ; càng ngày người ta càng hóa ra mưu mô, xảo quyệt, gian trá, đời sống càng phức tạp, xa xỉ, tổ chức xă hội càng rắc rối, mà sinhra loạn lạc, chiến tranh, loài người chỉ khổ thêm; rồi từ nhận xét đó mà ông cho rằng một tính cách của đạo là "phác" (mộc mạc, chất phác), loài người cũng như vạn vật do đạo sinh ra đều phải giữ tính cách đó th́ mới hợp đạo, mới có hạnh phúc.

    Chương 32, ông viết:
    "Đạo thường vô danh, phác": đạo vĩnh viễn không có tên, nó chất phác"
    (Trích "Lăo tử" của Nguyễn hiến Lê, trang 72, nhà xuất bản Văn Hóa)

    "Chương 37, ông bảo:
    Trong quá tŕnh tiến hóa, tư dục của vạn vật phát ra th́ ta dùng cái mộc mạc, vô danh (vô danh chi phác) - tức đạo-mà trấn áp hiện tượng đó."

    Chương 28 ông khuyên ta "trở về mộc mạc" (phục qui ư phác).
    Như vậy "phác" là một tính cách của đạo, hoặc một trạng thái của đạo. Lăo tử cũng dùng chữ đó để trỏ chính cái đạo nữa, v́ ông cho nó là rất quan trọng, tượng trưng cho đạo. "Trở về mộc mạc" cũng tức là trở về đạo.
    ("Lăo tử" của Nguyễn hiến Lê trang 73)

    "Lăo tử là triết gia đầu tiên, có lẽ duy nhất ráng t́m nguyên nhân sâu xa sự sa đọa của loài người. Khổng, Mặc chỉ t́m nguyên nhân sự loạn lạc của xă hội đương thời thôi: tại các nhà cầm quyền không theo đạo tiên vương (Nghiêu, Thuấn), tại vua không ra vua, không trọng sự giáo dục bằng lễ, nhạc (Khổng) hoặc tại mọi người không biết yêu người khác như yêu bản thân ḿnh (Mặc) v..v..
    Lăo tử đi ngược lên nữa, bảo không phải vậy. Nguyên nhân chính, duy nhất theo ông là tại loài người mỗi ngày mỗi xa đạo, không sống thuận theo đạo, tức thuận theo thiên nhien, mất sự chất phác, có nhiều dục vọng quá, càng thông minh lại càng nhiều dục vọng, càng xảo trá, tranh giành nhau, chém giết nhau."
    (Lăo tử của Nguyễn hiến Lê trang 106).
    Lăo tử đă suy luận một cách rốt ráo về nguyên nhân của sự loạn lạc, suy đồi của xă hội một cách chính xác như sau:
    "Mà Lăo tử suy luận rất đúng. Con người vốn chất phác, chỉ v́ các ông thánh của Khổng, Mặc đặt ra những giá trị giả tạo (hiền và bất hiền, quí và tiện, danh với lợi), gợi ḷng ham muốn của dân, rồi dạy cho họ khôn lanh hơn nữa, th́ làm sao không sinh ra loạn" Khi loạn rồi, họ đưa ra đức Nhân để sửa (như Khổng), sửa không được, họ dùng tới quan niệm Nghĩa (như Mạnh), hết Lễ tới Pháp, Thuật (như Hàn Phi). Hiện nay khắp thế giới đâu đâu cũng dùng thuật và sức mạnh. Các phương tiện bọn triết gia và chính trị gia dùng mỗi ngày một mạnh lên mà kết quả là xă hội càng loạn, càng sa đọa."
    (Lăo tử của Nguyễn hiến Lê trang 107)
    Từ mấy ngàn năm trước, Lăo tử đă nh́n thấy mối hiểm họa của xă hội con người trên con đường đi tới, Ngày nay nh́n sinh hoạt ở những nước tiên tiến phương Tây, chúng ta thấy ông có một cái nh́n thật sáng suốt và sâu sắc:
    "Tri túc là điều kiện cốt yếu của hạnh phúc mà phương Đông chúng ta biết coi trọng. Ngoài hai câu dẫn trên trong Đạo đức kinh, người Trung Hoa c̣n những châm ngôn này nữa: "Tri túc, tiện thị túc, đăi túc, hà thời túc" (Biết thế nào là đủ th́ sẽ thấy đủ, đợi cho có đủ th́ bao giờ mới đủ") và "Nhân dục vô nhai, hồi đầu thị ngạn" (Ḷng dục của con người không có bờ bến, nhưng nếu nh́n lại phía sau ḿnh th́ đó là bờ bến đấy). Người phương Tây trái lại, muốn được thêm hoài, không biết thế nào là đủ, không biết ngừng lại, cho nên họ tiến mau, phú cường, nhưng chịu họa cũng lớn, và hiện nay đă có nhiều người nghĩ phải chặn lại cái nền văn minh tiêu thụ lại, không cho nó tiến thêm nữa."
    (Lăo tử của Nguyễn hiến Lê trang 111, 112)

    Cho dù văn minh có tiến triển tới đâu và khoa học có tối tân đến cỡ nào đi nữa th́ con người làm sao giữ được tính hồn nhiên của trẻ con th́ đó mới là điều kiện chính để có hạnh phúc. Mạnh tử đă từng dạy: " Bậc có đức lớn vẫn giữ được ḷng ḿnh khi mới sinh ra" (Đại nhân bất thất ḱ xích tử chi tâm). Chứ văn minh càng cao mà con người càng dối trá, gian tham th́ đời sống quả là một tai họa. Người ta thường hướng về quá khứ xa xăm v́ ở thời kỳ đó có con người thuần khiết, trong trắng và đó là điều kiện lư tưởng để xây dựng một cuộc đời hạnh phúc, thương yêu.

    Bài quá dài, phải cắt bớt

    Los Angeles, một chiều se lạnh có nắng nhạt cuối tháng 9 năm 2006
    TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG
    Email: dalatogo@yahoo.com
    (Muốn đọc tất cả những bài viết của Trần viết Đại Hưng, xin vào www.nsvietnam.com rồi bấm vào tên Trần viết Đại Hưng ở bên trái).

  3. #633
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    988
    55 CÂU CA DAO DÂN GIAN BẤT HỦ ĐƯỢC LƯU TRUYỀN SAU NGÀY 30/4

    http://hoangsaparacels.blogspot.com/...u-uoc-luu.html
    https://nuocnha.blogspot.com/2019/07...at-hu-uoc.html

    Tuesday, July 24, 2018
    55 CÂU CA DAO DÂN GIAN BẤT HỦ ĐƯỢC LƯU TRUYỀN SAU NGÀY 30/4/1975



    1. Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lư
    Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do


    2. Đôi dép râu dẵm nát đời son trẻ
    Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai


    3. Chim xa rừng c̣n thương cây nhớ cội
    Việt Cộng về thành làm tội dân ta

    4. Năm đồng đổi lấy một xu
    Thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy


    5. Có miệng không nói lại câm
    Hai hàng nước mắt chan dầm như mưa

    6. Lương chồng, lương vợ, lương con
    Đi ba buổi chợ chỉ c̣n lương tâm
    Lương tâm đem chặt ra hầm
    Với rau muống luộc khen thầm là ngon.


    7. Anh Đồng, anh Duẩn, anh Chinh
    Ba anh có biết dân t́nh cho không ?
    Rau muống nửa bó một đồng
    Con ăn bố nhịn, đau ḷng thằng dân.

    8. Có áo mà chẳng có quần
    Lấy ǵ hạnh phúc hỡi dân cụ Hồ ?
    Có đói mà chẳng có no
    Lấy ǵ độc lập, tự do hỡi người ?

    9. Bác Hồ chết phải giờ trùng
    Nên bầy con cháu dở khùng dở điên
    Thằng tỉnh th́ đă vượt biên
    Những thằng ở lại nửa điên nửa khùng.

    10. Nhà ai giàu bằng nhà cán bộ?
    Hộ nào sang bằng hộ đảng viên?
    Dân t́nh thất đảo bát điên
    Đảng viên mặc sức vung tiền vui chơi.

    11. Ai về qua tỉnh Nam Hà
    Xem lũ đầy tớ xây nhà bê tông..
    Tớ ơi, mày có biết không ?
    Chúng ông làm chủ mà không bằng mày!


    12. Phong lan, phong chức, phong b́
    Trong ba thứ ấy, thứ ǵ quư hơn?
    Phong lan ngắm măi cũng buồn
    Phong chức th́ phải cúi luồn vào ra
    Chỉ c̣n cái phong thứ ba
    Mở ra thơm nức, cả nhà cùng vui.

    13. Đảng ta là đảng thần tiên
    Đa lô (đô-la) th́ được, đa nguyên th́ đừng.

    14. Ngày đi, đảng gọi “Việt gian”
    Ngày về th́ đảng chuyển sang “Việt kiều”
    Chưa đi: phản động trăm chiều
    Đi rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng.


    15. Chiều chiều trên bến Ninh Kiều
    Dưới chân tượng bác, đĩ nhiều hơn dân!


    16. Trăm năm bia đá cũng ṃn
    Bia chai cũng vỡ, chỉ c̣n bia ôm.

    17. Thầy giáo, lương lănh ba đồng
    Làm sao sống nổi mà không đi thồ
    Nhiều thầy phải đạp xích lô
    Làm sao xây dựng tiền đồ học sinh?


    18. T́m em như thể t́m chim
    Chim bay biển Bắc, anh t́m biển Đông
    T́m chi cho phải mất công
    Đài Loan, Hàn Quốc em dông mất rồi.

    19. Trách ai sinh thứ họ Hồ
    Để cho cả nước như đồ vất đi!

    20. Bác Hồ đại trí, đại hiền
    Chơi Minh Khai chán, gá liền Hồng Phong
    Minh Khai phận gái chữ ṭng
    Bác Hồ sái nhất, Hồng Phong sái nh́.

    21. Ngày xưa giặc Pháp mộ phu
    Ngày nay đảng bán dân ngu lấy tiền
    Đảng ta là đảng cầm quyền
    Đảng bán ruộng đất lấy tiền đảng tiêu.

    22. Dịch heo nối tiếp dịch gà
    Bao giờ dịch đảng cho bà con vui.

    23. Bao giờ Hồ cạn, Đồng khô
    Chinh rơi, Giáp rách, cơ đồ mới yên.

    24. Tiên sư Cộng sản Việt Nam
    Suốt đời bán cả giang san nước nhà !

    25. Dân đói mà đảng th́ no
    Sức đâu ủng hộ, hoan hô suốt ngày
    Đảng béo mà dân th́ gầy
    Độn bắp, độn sắn biết ngày nào thôi?

    26. Hoan hô độc lập tự do
    Để cho tớ nhá bo bo sái hàm

    27. Nhân dân th́ chẳng cần lo
    Nhà nước lo sẵn bo bo mỗi ngày
    Hăy chăm tay cấy tay cầy
    Nhịn ăn nhịn mặc chờ ngày vinh quang

    28. Bắt trồng mà chẳng thu mua
    Tại sao đảng nỡ dối lừa nhân dân?
    Tiền cầy, tiền giống, tiền phân
    Một trăm thứ thuế đổ thân gầy g̣
    Dân đói mà đảng th́ no
    Kêu trời, kêu đất, kêu Hồ chí Minh

    29. Thi đua làm việc bằng hai
    Để cho cán bộ mua đài mua xe
    Thi đua làm việc bằng ba
    Để cho cán bộ xây nhà lát sân


    30. Đi làm hợp tác hợp te
    Không đủ miếng giẻ mà che cái l…

    31. Công nhân, vợ ốm con côi
    Lănh đạo nhà gác, xe hơi bộn bề
    Bao giờ cho hết tṛ hề?

    32. Ông Đồng, ông Duẩn, ông Chinh
    V́ ba ông ấy, dân ḿnh lầm than

    33. Ngày xưa đại tướng cầm quân
    Ngay nay đại tướng cầm quần chị em

    34. Giỏi a đồng chí Đỗ Mười
    Lớp ba chưa đỗ đă ngồi bí thư


    35. Vẻ vang thay lănh tụ ta
    Đem dân xuất khẩu bán ra nước ngoài

    36. Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa
    Cúi đầu dâng đảo Trường Sa cho Tàu

    37. Ngày xưa chửi Mỹ hơn người
    Ngày nay nịnh Mỹ hơn mười lần xưa
    Ngày xưa đánh Mỹ không chừa
    Ngày nay con cái lại lùa sang đây
    Ngày xưa Mỹ xấu, Đảng hay
    Ngày nay Đảng ngửa hai tay xin tiền !


    38. Đảng ta chọn tướng họ Lê
    Đức Anh thất đức nên bê lên ngồi

    39. Liên bang Xô Viết vỡ rồi
    Văng Linh, văng Kiệt, Đỗ Mười văng luôn

    40. Nước ta bầu cử tự do
    Lọc qua, lừa lại toàn ḷ Mác Lê

    41. Không đi không biết Tam Đảo
    Đi th́ không biết nơi nào mà ngu.

    42. Trung ương chỉ thị ba cùng
    Đảng viên phải bám quần chùng nhân dân.

    43. Tin đâu như sét đánh ngang
    Bác Hồ đang sống chuyển sang từ trần
    Tin đâu như sét đánh gần
    Bác Hồ đang sống từ trần chuyển sang

    44. Bác Hồ thuở nhỏ bồi Tây
    Đến già Bác lại đu giây Nga Tàu.

    45. Đảo kinh là cái đỉnh cao
    Trí tuệ nên đảng hô hào văn minh
    Đảng viên cán bộ thất... kinh
    Văn minh cho lắm vẫn ḿnh cán ngô

    46. Chị em du kích giỏi thay
    Bắn máy bay Mỹ rớt ngay cửa ḿnh


    47. Tin buồn noan báo trên đài
    Xe tăng bác nái nật hai ba nần!

    48. Tin thua như sét đánh ngang
    Làm Bác chết cứng, lúc đang thay quần
    Hôm qua c̣n sống sờ sờ
    Mà nay bác đă cứng đơ cái ḿnh

    49. Khôn hồn thả cải tạo ra
    Kẻo Ngụy trở lại chết cha Đỗ Mười

    50. Tổ cha cái bọn đười ươi
    Đỗ Tám, Đỗ Chín, Đỗ Mười ăn... "biu"

    51. Trạch Dân có họ Giang mai
    Này dân Trung Quốc đói dài v́ ông

    52. Đỗ Mười sang lạy Trung Hoa
    Kính dâng quần đảo Trường Sa cho Tầu


    53. Anh ṃ địa đạo Củ Chi
    Củ chi là cái củ ǵ? Củ anh?!

    54. Ngày xưa chống Mỹ chống Tây
    Ngày nay chống gậy ăn mày áo cơm

    55. Trồng mía, trồng ớt, trồng hành
    V́ nghe lời đảng mà thành bể niêu
    Trồng tiêu rồi lại trồng điều
    V́ nghe lời đảng mà niêu tan tành

    (Bài do Cánh Hoa Bay sưu tầm.)
    Posted by hoangsaparacels.blogspot.com at 11:57 AM

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 3 users browsing this thread. (0 members and 3 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •