+ Reply to Thread
Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 10 of 17

Thread: Tuổi trẻ Việt Nam nghĩ gì ?

  1. #1
    tran truong
    Khách

    Tuổi trẻ Việt Nam nghĩ gì ?

    Quân đội Philippines thề bảo vệ lănh hải ở biển Đông nhưng Quân đội Nhăn răng VN thề bảo vệ đảng , chỉ biết còn đảng còn mình



    Quân đội Phi thề bảo vệ chủ quyền.


    Các Lực lượng Vũ trang Philippines (AFP) vào ngày 14 tháng 5 lại lên tiếng cam kết bảo vệ lănh thổ của đất nước ở Biển Đông mà Manila gọi là Biển Tây Philippines trong bối cảnh Trung Quốc tăng cường khả năng quân sự tại biển tranh chấp này.

    Tổng Tham Mưu Trưởng Các Lực Lượng Vũ Trang Phillippines, tướng Carlito Galvez, phát biểu như vừa nêu trong cuộc họp báo diễn ra hôm 14 tháng 5 tại Camp Aguinaldo rằng người dân Philippines hăy yên tâm v́ quân đội Phi đang cố hết sức để bảo vệ lănh thổ của đất nước.

    Người đứng đầu các lực lượng vũ trang của Philippines lên tiếng như vậy trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục gia tăng quân sự hóa tại các đảo nhân tạo do Hoa Lục bồi đắp ở Biển Đông. Đặc biệt, Bắc Kinh c̣n đưa tên lửa ra đá Chữ Thập, Subi và Vành Khăn, và nói rằng đây là hành động bảo vệ lănh thổ ôn ḥa mà Trung Quốc cho là cần thiết.

    Trong một diễn tiến liên quan, tàu sân bay do chính Bắc Kinh chế tạo vừa bắt đầu chuyến chạy thử nghiệm trên biển. Tin cho hay chiếc tàu chưa được đặt tên rời Cảng Đại Liên vào sáng ngày 13 tháng 5.

    Động thái này được giới quan sát cho là Trung Quốc quyết tâm xây dựng lực lượng hải quân nhằm khẳng định các tuyên bố chủ quyền lănh hải của nước này ở Biển Đông.
    Nguồn RFA https://www.rfa.org/vietnamese/news/...018095616.html

    ...............


    Phụ̀ng quang Thanh thì tuyên bố ngược hẳn với Tổng Tham Mưu Trưởng Các Lực Lượng Vũ Trang Phillippines, tướng Carlito Galvez : " người dân Philippines hăy yên tâm v́ quân đội Phi đang cố hết sức để bảo vệ lănh thổ của đất nước."




    Phụ̀ng quang Thanh : “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc”

  2. #2
    tran truong
    Khách

    Tướng Lương Xuân Việt chính thức được gắn lon Thiếu Tướng

    NAM HÀN – Tướng Lương Xuân Việt vừa chính thức được gắn lon Thiếu Tướng (2 sao) của quân đội Mỹ trong buổi lễ được tổ chức tại tổng hành dinh của Quân Đoàn 8 (Eight Army), Camp Humphreys, Nam Hàn, hôm 21 Tháng Sáu 2018.

    Tướng Lương Xuân Việt được Thượng Viện Hoa Kỳ chấp thuận thăng cấp thiếu tướng, qua một cuộc bỏ phiếu tại phiên họp khoáng đại hôm Thứ Năm, 25 Tháng Năm, 2017, nhưng nay mới chính thức được gắn 2 sao.



    Trung Tướng Michael A. Bills (trái) giới thiệu Thiếu Tướng Lương Xuân Việt trong buổi lễ thăng chức. (H́nh: Hạ Sĩ Hyun-gyu Yang/Eight Army Public Affairs)


    Ông Việt được vinh thăng chuẩn tướng ngày 6 Tháng Tám năm 2014, hiện là sĩ quan gốc Việt cao cấp nhất trong quân đội Hoa Kỳ.

    Trước khi sang Nam Hàn hôm 1 Tháng Năm năm 2017, Tướng Việt là tham mưu trưởng Bộ Tư Lệnh Lục Quân Trung Ương Hoa Kỳ đóng tại căn cứ Shaw Air Force Base, South Carolina.



    Hai vợ chồng Thiếu tướng cầm lá cờ có ghi chức vụ mới của ông. (H́nh: Hạ Sĩ Hyun-gyu Yang/Eight Army Public Affairs)


    Ông là con trai cố Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến VNCH Lương Xuân Đương, cùng gia đ́nh đến Hoa Kỳ năm 1975, lúc 10 tuổi, và định cư tại Mountain View, California.

    Sau khi tốt nghiệp cử nhân sinh học và cao học khoa học quân sự tại đại học USC, ông t́nh nguyện vào quân đội, mang cấp bậc thiếu úy Bộ Binh năm 1987, và được chọn vào danh sách sĩ quan hiện dịch, đóng tại tiểu bang Colorado.



    Thiếu Tướng Việt vui cười cắt bánh sau khi nhậm chức, được bao quanh bởi gia đ́nh và bạn bè. (H́nh: Hạ Sĩ Hyun-gyu Yang/Eight Army Public Affairs)


    Sau đó, ông lần lượt giữ các chức vụ trung đội trưởng rồi đại đội phó.

    Vài năm sau, ông lên trung tá, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 505, Lữ Đoàn 3, Sư Đoàn 82 Nhảy Dù.

    Rồi ông lên đại tá, làm lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 3, Sư Đoàn 101 Nhảy Dù.

    Khi được thăng chuẩn tướng, ông là tư lệnh phó Sư Đoàn 1 Thiết Kỵ.

    Sau đó, ông làm tư lệnh Bộ Tư Lệnh Huấn Luyện và Trợ Giúp Miền Nam (TAAC South) tại Afghanistan, rồi làm chỉ huy Pḥng 8, Pḥng Tham Mưu Phó, Bộ Tham Mưu Lục Quân.
    Nguồn từ : http://haingoaiphiemdam.net/Tuong-Lu...Hai-Sao)-90877

  3. #3
    tran truong
    Khách

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!

    Thường Đức một địa danh hầu như không tên tuổi . Một chấm bé li ti trên bản đồ VN , nằm heo hút bên rặng Trường sơn ngút ngàn cây cao bóng cả . Những năm 69 -70 cộng quân muốn an toàn trên đường Sinh Bắc Tử Nam , nên đã hai lần thử lửa nhưng đều rước thảm bại não nề .

    Viết về Thường Đức , chẳng có để viết , ngoài là một quận lỵ nhỏ bé , nghèo nàn , dân cư thưa thớt .... nhưng về chiến lược thì nó là vị trí không kém tầm quan trọng .
    Chẳng thế mà khi Mỹ đem quân giúp miền Nam , sau khi phá nát Ấp Chiến Lược của Dương văn Minh , áp lực cộng quân ngày càng đè nặng trên khắp vùng lãnh thổ . Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ thiết lập doanh trại tại đây , nhiệm vụ : ngăn chặn đường xâm lược của quỉ đỏ bằng mọi cách , từ người ngợm đến đạn dược lương thực .... và chót hết là chuyển dân về sống vùng an ninh , được bao bọc , chở che bởi quân lực VNCH .

    Sau này trại bàn giao lại tiểu đoàn 79 Biệt Động Biên Phòng ,rồi sát nhập vào Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân , từ đó trại trở thành hậu cứ tiểu đoàn . Hành quân liên miên , nay đây mai đó . Thỉnh thoảng mới thấy các đại đội của tiểu đoàn này về đây nghỉ dưỡng quân vài tuần , sau những cuộc hành quân khắp Quân Khu 1. Tiểu đoàn thường chỉ để lại đây một trung đội với khoảng vài chục binh sĩ để quản trị hậu cứ.

    Tiểu đoàn 79 BĐQ do Thiếu Tá Hà Văn Lầu 35 tuổi làm Tiểu Đoàn Trưởng, thuộc quyền điều khiển của Trung Tá Chương Thanh Ṭng, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 14 BĐQ .

    Trung Sĩ Khâm - Người lính của lính

    Xóm Chợ Mới, Đà Nẵng - Mùa hè năm 1972

    Chiếc xe lam từ An Hải thả tôi xuống Ngã Tư Quân Đoàn. Trời nắng chói chan, tôi vội vã đi bộ dọc theo con đường trước cổng Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I Quân Khu I (BTL QĐ1/QK1) để về nơi Đại đội 1 đang trú quân rải rác bên trong xóm Chợ Mới. Một khu phố đối diện với BTL QĐ1/QK1.

    Chân bước nhanh nhưng hồn tôi thì vẫn còn lẽo đẽo trên chuyến xe lam chưa chịu rời xa cô bé xinh xinh bên hàng ghế đối diện. Như những lần khác, mỗi khi gặp được cô nàng nào hơi hợp nhãn một tý là tôi thấy tình yêu tràn trề lai láng. Không biết tôi có cơ hội gặp được cô nàng lại lần thứ hai hay không, nhưng tôi đã hăm hở vẽ vời tính chuyện ông Tơ bà Nguyệt cùng nàng sẵn sàng ở trong đầu.

    Chao ôi, cô nàng có một khuôn mặt thật ư là xinh. Và đôi mắt, đôi mắt của nàng đã làm tôi chết điếng trong lòng khi bắt gặp cái nhìn thoáng ngang của nàng, khi nàng biết tôi đang đắm đuối nhìn nàng bên hàng ghế ngồi đối diện. Chỉ với một cái liếc ngang của nàng không thôi mà lòng tôi đã xốn xang dâng lên với biết bao niềm hy vọng, mặc dầu cái nhìn của nàng hình như chưa có vẻ gì thiện cảm cho lắm.
    Đang mơ màng dệt mộng trăm năm với cô bé mới gặp trên xe lam , thì bỗng dưng có tiếng người quát ngay vào mặt tôi :

    - Đi đâu? Đứng lại.

    Giựt mình, tôi chợt nhận ra người đang chận tôi lại, là một người lính Quân Cảnh (QC), có nhiệm vụ giữ an ninh cho bãi đáp trực thăng của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I (BTL QĐ1). Tôi nghĩ trong đầu : - Bộ ông này mới đổi tới đây hay sao mà chận mình lại vậy cà?

    Tôi tính nói , cho tôi băng ngang qua để về nơi trú quân thì có tiếng một người QC khác với ra :

    - Cho nó qua đi. Đại đội nó đóng ở trong kia.

    Vừa nói, người QC vừa ngoảnh cái đầu về hướng nghĩa địa cạnh đó.
    Sau khi băng ngang qua bãi đáp trực thăng của BTL QĐ để đi vào khu nghĩa địa của xóm Chợ Mới, đến trước ngôi đình nằm giữa nghĩa địa, nơi Bộ Chỉ Huy (BCH) Đại đội 1 đang tạm đóng, tôi thấy một vài người lính trong BCH Đại đội đang làm việc bình thường. Tôi đoán là bữa cơm trưa đã được dọn dẹp xong. Thôi thì đành phải thắt lưng đi lại cái quán cơm trong xóm để ăn ký sổ vậy.

    Ngay kế đằng sau cái chợ của xóm Chợ Mới, có một quán ăn bình dân nằm trên con hẻm chính, thông ra con đường Hoàng Diệu. Ngoài món tiết canh vịt, vốn nổi tiếng với đám lính chúng tôi, gia đình người chủ quán còn có 2 cô con gái khá quyến rũ và xinh đẹp. Chả thế mà cả ngôi nhà lẫn quán ăn của họ là nơi tập trung cả quan lẫn lính.

    Kể từ khi Đại đội 1 về trú quân ở vùng này, chủ tiệm thấy tội nghiệp cho đám lính nên cho chúng tôi ăn thiếu nợ, gọi là ký sổ, rồi cuối tháng lãnh lương trả lại. Để gỡ gạc lại sự thất thiệt của họ, chúng tôi phải trả một cái giá cao hơn giá bán trong tiệm một chút. Cho dù có bán với giá cao chăng nữa, nhưng họ cũng không lời lãi bao nhiêu.
    Bởi vì, nếu có ai đó bị chết trận thì coi như họ đành vĩnh viễn mất đi số tiền thiếu nợ đó.

    Nhằm vào giờ trưa nên bên trong quán đông đảo những thực khách, bao gồm cả lính và dân trong xóm.
    Thấy trong quán đã có mấy thằng cùng chung Trung đội đang ngồi ăn nên tôi bèn tạt sang bàn của tụi nó. Vừa kêu tô mì quảng xong thì một thằng trong bọn quắt mắt sang tôi hỏi :

    - Hê, tối hôm qua mày ở đâu?

    Tôi cười trả lời bằng giọng Quảng.

    - Ở bên An "hửa".

    Thấy nó hỏi với ánh mắt lạ thường như có chuyện gi khá quan trọng đã xảy ra nên tôi bèn hỏi ngược lại :

    - Có chuyện gì vậy?

    - (vt)[1] Bộ mày không biết gì hết hả? Tối hôm qua, lính mình bắn nhau với tụi Quân cảnh quá trời.

    Tôi hồi hộp hỏi lại :

    - Bắn lộn với Quân cảnh hả? Sao, mà ... rồi ở đâu?

    Thằng khác xen vô :

    - Ở ngã ba dưới kia chớ ở đâu.

    Vừa nói, nó vừa chỉ tay xéo về hướng đường Bạch Đằng vừa tiếp tục :

    - (vt) Tụi Quân cảnh bắt thằng X... ở trong Đại đội mình. Có đứa nào thấy được chạy về kêu ông Khâm. Ông Khâm nghe vậy, ổng bèn thủ cây M16 chạy ra.

    Thấy câu chuyện đến hồi gây cấn nên mọi người trong quán đều im lặng chăm chú theo dõi. Nhất là mấy người dân trong xóm, họ tò mò lắng nghe để biết rõ hơn về câu chuyện hôm qua xảy ra như thế nào.
    Một đứa khác trong bọn, thấy ai ai cũng đều chú ý lắng nghe nên tỏ ra đây mình cũng rành chuyện không kém, lên giọng hăm hở thuật lại :

    - Thấy ông Khâm tới, tụi QC hơi khớp, bởi vì thấy ổng cao mà bự con , như ông khổng lồ, lù lù xách cây M16 đi tới. Sau ổng lại có mấy thằng ở Trung đội 3 đi theo mà thằng nào thằng nấy cũng cầm theo súng. Teo quá, một thằng QC rút súng ra bắn chỉ thiên thị oai. (vt) Gặp Biệt Động mà, ông Khâm ổng chơi thiệt luôn. Ổng làm một tràng vô trong bánh xe của tụi nó. Thế là tụi nó hoảng hồn gọi máy kêu cứu. Thấy tụi QC gọi máy, ổng liền quay qua làm một băng vô trong máy truyền tin của tụi nó luôn, thế là tụi nó bỏ xe chạy vắt giò lên cổ. Thấy tụi nó dọoc mất, ổng bèn dắt thằng X... đi về. (vt) Ngon chưa?

    Nghe đến đây, một đứa bèn nổi máu anh hùng nói :

    - Tao sẽ xin đi về Trung đội 3. Coi bộ ông này biết lo cho lính. Chơi được à.

    Thằng khác phụ họa thêm :

    - Không những ổng biết lo mà còn biết chịu chơi với lính nữa.

    Thằng nọ, tương đối biết suy nghĩ, nên thực tế hơn :

    - Tao cũng thích ổng nhưng em chả.

    - Sao vậy?

    - (vt) Bộ mày không thấy hả? Cứ chỗ nào mà bị đụng hơi nặng, là Tiểu đội ổng bị kêu vô hay sao.

    Nói tới đây, nó bèn trịnh trọng phang thêm một câu triết lý xanh rờn :

    - Tao còn cần phải sống để bảo vệ tình yêu.

    Cả đám không nhịn cười được , vì thấy cái bản mặt có vẻ thành khẩn một cách tiếu lâm của nó. Một thằng khác có vẻ rành về ông Khâm bèn thong thả thêm vào :

    - Nghe nói hồi còn ở Biệt Kích, ổng làm tới Đại đội trưởng gì đó. Người ta nói ổng đánh giặc chì lắm. Chỗ nào mà bị tụi nó tấn công ghê gớm là người ta kêu Đại đội ổng tới. Tụi du kích ớn ổng lắm. Thấy ổng cao lớn đi trong hàng quân, tụi nó rình bắn sẻ mấy lần mà lần nào cũng hụt, trật lấc. Tụi nó tin là ổng có vía lớn nên ổng đi tới đâu thì tụi nó tránh tới đó. Mà mấy cái thằng Mỹ ở trong trại cũng sợ ổng luôn. Nói tới tên ổng là tụi nó xếp-de.

    - (vt) Mày nói dóc. Nếu mà ổng là Đại đội trưởng thì qua đây , ổng phải mang lon Trung úy, chớ đâu phải Hạ sĩ, Hạ sĩ nhất gì đó?

    Cái thằng có vẻ rành về ông Khâm ngập ngừng :

    - Tao cũng không biết nữa nhưng nghe nhiều người kể như vậy.

    Để cho mọi người tin rằng nó nói thiệt, nó bèn vớt vát chứng minh :

    - Tụi mày có thấy mấy đứa ở Thường Đức đối xử với ổng không? Thằng nào thằng nấy có vẻ nể ổng ra mặt.

    Một thằng khác, như chợt nhớ ra chuyện gì có vẻ khôi hài, tự dưng tủm tỉm cười một mình, nói :

    - Nghe kể lại là ổng cũng hay chọc quê tụi Mỹ lắm, nhứt là mấy thằng tân binh mới qua. Ổng đi ngang mà thấy mấy thằng này đang tán dóc, ổng bèn la lớn bằng tiếng Mỹ “Pháo kích! Pháo kích!”, thế là mấy thằng Mỹ mặt mày xanh lè, nhảy tuột xuống giao thông hào một cái bịch. Nhìn tụi Mỹ, nằm ngồi lồm cồm, mặc mày dớn da dớn dác ở dưới đó, mấy thằng lính mình cười gần chết.

    Rồi nó nói thêm :

    - Mà mấy thằng Mỹ khác , thấy ổng giỡn như vậy, cũng bắt chước ổng la “Pháo kích! Pháo kích!”, chọc quê mấy thằng Mỹ khác.


    Còn tiếp ....

  4. #4
    tran truong
    Khách

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!

    Thật ra, câu chuyện đụng độ với Quân cảnh không xảy ra hoàn toàn như vậy. Mấy nhân vật này đâu có mặt lúc đó, chỉ nghe người khác kể lại rồi thêm thắt cho hấp dẫn.
    Quân cảnh có bắt thằng X... thật. Có người thấy được bèn chạy về kêu H/S Khâm. Ông Khâm nghe xong bèn đi ra xin thả cho thằng X.... Nhưng để cho bảo đảm cái mình xin mà người ta vui vẻ cho, ông Khâm bèn xách theo cây M16.

    Đến nơi, H/S Khâm trình bày với mấy người QC là đơn vị mới đi hành quân về, chết chóc tùm lum. Mấy đứa này may mắn còn sống về đây, nên cho tụi nó đi chơi thong thả trong thành phố vài ngày, chớ tụi nó sống nay chết mai mà bắt bớ tụi nó làm gì, tội nghiệp.
    Thấy có người xin xỏ đúng lúc, mấy ông QC bèn lê thê ca bài "Tui thông cảm anh thì ai thông cảm tui", mà không chịu thả thằng X... ra.

    Nghĩ mình đã nói năng đàng hoàng như thế mà mấy người QC này đã không muốn nghe, lại còn đòi hối lộ. Bực quá, sẵn không ưa cái tính vòi vĩnh bất công, H/S Khâm bèn bắn lên trời một phát. Thấy lính Biệt Động làm dữ như thiệt, mà mấy người QC cũng biết chơi lại cũng chẳng lợi gì, nên thả thằng X... ra cho ông Khâm dẫn về.


    Trung sĩ Khâm – Đoạn Đường Chiến Binh

    Khi tôi về Đại đội 1 thì Hạ sĩ Khâm đã ở đó rồi. Tôi nghĩ lúc này ông đang mang lon Hạ sĩ. Rõ hơn, Hạ sĩ Khâm đã có mặt với đơn vị ngay từ ngày đầu Tiểu Đoàn mới thành lập.
    So với đám lính trẻ chúng tôi, H/S Khâm có vẻ lớn tuổi và già dặn hơn. Kết quả của nhiều năm xông pha ngoài trận mạc.
    Hạ sĩ Khâm thuộc loại người to con cao lớn và vạm vỡ với một khuôn mặt thuộc loại bảnh trai, dáng dấp phong trần. Đặc biệt hơn, ông có một đôi mắt tự tin, quyết liệt, phảng phất nét đôn hậu, thoát ra từ một con người dày dạn phong sương. Như chưa đủ, Trời còn cho ông thêm một giọng nói khá hùng hồn. Mỗi khi cần nói, tiếng của ông sang sảng, thừa khả năng khống chế những giọng nói khác, nếu ông muốn.

    Với một vóc dáng khá nổi bật, đứng trong hàng quân, H/S Khâm là người mà ai cũng dễ dàng nhận ra trước tiên. Đi bên cạnh ông, đám lính chúng tôi luôn bị cảm thấy thua thiệt và lép vế bởi vì cái tướng tá và giọng nói của ông. Bù lại, chúng tôi cũng cảm thấy an toàn vì không sợ bị ai "ăn hiếp".

    Trở ngược vào thời điểm năm 1970, lính Biệt Kích ở Thường Đức, trước khi được đồng hóa trở thành lính của Tiểu đoàn 79 Biệt Động Quân vào tháng 11 năm 1970, H/S Khâm đã từng giữ chức vụ Đại đội Trưởng.
    Cấp số của Đại đội Biệt Kích lúc ấy xấp sỉ vào khoảng hơn 100 người. Khi sát nhập vào QLVNCH, một đại đội Biệt Kích trở thành một đại đội Biệt Động Quân. Những chức vụ trưởng vẫn được giữ nguyên. Người Đại đội trưởng được mang lon Trung úy; người Trung đội trưởng thì mang lon Thượng sĩ; còn Tiểu đội trưởng thì mang lon Hạ sĩ.

    Nghe kể rằng, một thời gian ngắn trước ngày đồng hóa, vì một lý do nào đó, H/S Khâm bị giáng chức xuống còn Tiểu đội Trưởng.
    Có lời đồn rằng vì bản tính ông bộc trực và không khuất phục, nên khi thấy chuyện bất bình, ông không ngại ngùng phát biểu và sẵn sàng bênh vực quan điểm của mình. Có lẽ vì thế mà ông đụng chạm với những người ở cấp cao hơn nhưng không đồng quan điểm. Thế là ông bị tuột xuống vào hàng Tiểu đội trưởng.

    Ngày đồng hóa[2], những người bạn của ông ai cũng đeo lon Trung úy, còn ông thì chỉ mang cái cánh gà luộc. Thế mà sau này, tôi không bao giờ thấy ông tỏ vẻ tiếc nuối hay than thân trách phận, hoặc nhắc nhở người khác biết đến cái quá khứ của mình.

    Chắc hẳn trước đây Hạ sĩ Khâm thật sự đảm nhiệm chức vụ Đại đội trưởng, và những chiến tích lẫy lừng của ông được truyền tụng cũng không phải là chuyện phong thần.
    Bởi vì sau này, tài đánh giặc của ông vẫn được các cấp chỉ huy sau này tham khảo. Những khi cần phải đối phó với tình hình khá nghiêm trọng, những vị Tiểu đoàn Trưởng hay Đại đội Trưởng sau này cũng hội ý với ông. Có khi, ngay cả những buổi họp tham mưu của Tiểu đoàn chỉ dành riêng cho một số sĩ quan tham mưu trong Tiểu đoàn, ông cũng được mời đến dự.


    Trung sĩ Khâm - Người hùng Thường Đức

    Vào khoảng cuối năm 1973 hay đầu năm 1974, với cường độ chiến tranh mỗi ngày một thêm gia tăng. Cũng bắt đầu từ thời điểm này, vấn đề tiếp liệu, quân trang, quân dụng và đạn dược bắt đầu giảm thiểu đến mức ảnh hưởng tới khả năng chiến đấu một cách trầm trọng.
    Để đáp ứng với tình thế, mỗi đại đội thành lập một tiểu đội trinh sát, quy tụ những tay súng lão luyện, khinh địch để làm lực lượng trừ bị cho đại đội cũng như đảm nhận những vai trò hiểm nguy gian nan khác.

    Đối với Đại đội 1, tiểu đội của Trung sĩ Khâm (có lẽ giờ này ông đã mang lon Trung sĩ rồi) vốn đã sẵn có đầy đủ những điều kiện trên, nay chỉ việc đổi tên là họ trở thành tiểu đội trinh sát mà không cần phải huấn luyện lôi thôi.
    Và cũng để cho mọi người có dịp tham gia, ai có đủ điều kiện thì có thể xin gia nhập đơn vị trinh sát. Đây là cơ hội hiếm hoi cho thằng Dũng, cùng trung đội 2 với tôi.

    Đã từ lâu, nó muốn tháp tùng với tiểu đội ông Khâm nhưng không được. Nay có dịp như thế, nó bèn hí hửng vội vàng xin qua.
    Từ ngày tiểu đội trinh sát được thành lập do Tr/S Khâm chỉ huy, họ đã chiến đấu nhiều pha rất ngoạn mục. Có một điều mà tới sau này tôi mới để ý, nói theo kiểu nhà binh, là Tr/S Khâm cầm quân rất mát tay. Dĩ nhiên là tôi chỉ còn nhớ lai rai dăm ba chi tiết mà tôi biết qua, nhưng tôi nghĩ hình như không một người lính nào trong tiểu đội của ông bị thương hoặc tử trận trước ngày trận Thường Đức xảy ra.

    Có lần, cả Đại đội bị phục kích bất ngờ bên trong một cái làng đã bỏ hoang. Vì không rành địa thế và không có nơi trú ẩn, trong khi địch quân đang có sẵn hầm hố trong làng, nên Đại đội phải rút về sau để tái phối trí.
    Trong lúc vội vã, có một người lính trong đại đội đã bị tử thương và bị bỏ lại.
    Tối hôm đó, Tr/S Khâm đề nghị để ông cùng toán trinh sát của ông lẻn vào trong làng mang xác người lính trở ra. Trung úy Tẩm, Đại đội Trưởng Đại đội 1, ngần ngừ chấp thuận vì lo rằng họ có thể bị phục kích, cũng như tụi việt cộng có thể gài mìn dưới xác của người đã chết. Ông cũng dặn rằng nếu bị lộ thì phải rút ra ngay, chứ Đại đội không thể yểm trợ được bởi Tiểu đoàn đã ra lệnh nằm yên tại chỗ.

    Đợi cho mặt trăng hoàn toàn khuất dạng trong đêm, toán trinh sát dọ dẫm trở lại ngôi làng theo một hướng khác. Chúng tôi ở lại hồi hộp theo dõi và chuẩn bị sẵn để tiếp ứng.
    Khi toán trinh sát tiến được vào làng thì bỗng dưng một loạt đạn AK bắn tới. Biết bị lộ, ông bèn kháng cự cầm chừng rồi rút tiểu đội ra sau.

    Từ khi nghe tiếng súng nổ, chúng tôi biết toán trinh sát đã bị lộ nhưng không biết tình huống ra sao. Chúng tôi không biết có lấy xác ra được hay không? Rồi có ai bị thương bị chết hay không? Mãi khá lâu, chúng tôi mới nghe toán ông báo cáo về rằng , đã bị lộ và đang trên đường rút lui. Thật may mắn, tất cả trở về đều bình an không một ai bị thương tích.

    Một lần khác, Đại đội 1 được lệnh giải tỏa một ngọn núi vừa bị cộng quân chiếm cứ có khả năng uy hiếp thành phố Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Tín. Trung úy Tẩm, cho Trung đội 1 và Trung đội 2 lần lượt đánh chiếm. Sau khoảng 2 giờ đồng hồ tấn công với 1 chết và vài người bị thương mà chỉ tiến được gần hơn chứ chưa chiếm được. Để có thể làm chủ đỉnh núi nhanh chóng trước khi cộng quân đưa quân tiếp viện, Tr/U Tẩm bèn kêu Tr/SKhâm dẫn toán trinh sát lên chiếm cấp tốc.

    Không hổ danh Biệt Động, với lối đánh như vũ bão, di động tựa mãnh hổ, cộng với tài đánh lựu đạn của những tay súng thiện xạ, tất cả đều đồng loạt tấn công dưới sự điều động của Tr/S Khâm, phủ một màn lưới kinh hoàng lên trên địch quân. Sau khoảng mươi phút giao tranh, Tr/S Khâm báo cáo về mục tiêu đã được thanh toán và tất cả đều bình an vô sự.

    Trận Thường Đức - Từ ngày 28-7-1974 đến ngày 7-8-1974

    Tại mặt Trận Thường Đức, mục tiêu chính mà cộng quân cần phải triệt tiêu ấy là đồi Thường Đức và cũng là hậu cứ của TĐ79/BĐQ. Chiếm được hậu cứ của TĐ79/BĐQ thì tự nhiên chiếm được trọn vùng Thường Đức.
    Đồi Thường Đức bao gồm 2 ngọn đồi nằm kế cận với nhau như hình con số 8, bên lớn bên nhỏ, theo trục Đông Tây.

    BCH Tiểu Đoàn được đặt trên đỉnh đồi của ngọn đồi lớn, về phia Đông. Bao quanh BCH TĐ, bên ngoài, là vị trí phòng thủ của Đại đội 2, Đại đội 3 và Đại đội 4 (còn có tên là Đại đội công vụ). Đại đội 2 có nhiệm vụ đối phó về hướng Tây Bắc. Đại đội 3 trách nhiệm hướng Đông Bắc. Đại đội 4 lo về hướng Đông Nam giáp lưng với Văn phòng Quận, cũng đồng thời là Chi khu Thường Đức.

    Trên ngọn đồi kế cận nhỏ hơn, về hướng Tây, là nơi đóng quân của Đại đội 1. Nhờ được tiếp giáp với Tiểu Đoàn về phia đông nên Đại đội 1 chỉ cần phải phòng thủ 3 mặt còn lại , là các hướng Nam, Tây và Bắc: Trung đội 1 trông nom về hướng Nam; Trung đội 2 phòng thủ về hướng Tây Nam; Trung đội 3 lo về hướng Tây Bắc.

    Để bảo đảm chiếm được quận Thường Đức, cộng quân cần phải chiếm cho kỳ được ngọn đồi của Đại đội 1. Từ nơi đây, địch quân sẽ dùng nơi nầy làm bàn đạp, để uy hiếp và áp chế Tiểu Đoàn nằm bên ngọn đồi kế cận một cách hiệu quả hơn.
    Vì địa thế của Đại đội 1 mang một lợi ích chiến lược, cho nên cộng quân quyết tâm đánh chiếm bằng mọi giá để có cơ hội chiếm đóng trọn vùng Thường Đức.

    Để thực hiện được điều này, cộng quân đã xử dụng tất cả những hỏa lực chủ yếu, mà họ đã tích tụ 4 tháng trước đó, tập trung vào ngọn đồi của Đại đội 1, để hy vọng sẽ chiếm được nơi nầy.
    Vì vậy, trong suốt toàn thể thời gian của Trận Thường Đức từ ngày 28-7-1974 đến ngày 7-8-1974, ngọn đồi của Đại đội 1 là nơi mà tất cả những phương tiện, dụng cụ giết người hiệu quả nhất , được tuần tự đem ra thực hiện liên tục một cách hăng say. Do đó, nơi đây là nơi xảy ra những trận đánh đẫm máu, khốc liệt, kinh hoàng nhất. Nói một cách đơn giản, ngọn đồi của Đại đội 1 là mồ chôn, là tử địa cho cả hai bên[3][5].


    Còn tiếp ...

  5. #5
    tran truong
    Khách

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!

    Buổi tối trước ngày Thường Đức bị tấn công, cũng là ngày mà Trung đội 1 đến phiên trực có bổn phận đi ra nằm tiền đồn bên ngoài phạm vi phòng thủ của Đại đội 1.





    Tiền đồn được thiết lập như một trại đóng quân nho nhỏ, bao gồm dăm ba cái hầm nổi được bao bọc chung quanh và trên đầu bằng những bao cát. Trại dựng lên cách Đại đội 1 , khoảng non cây số về hướng Tây Bắc. Vì là tiền đồn, nên nơi đây có nhiệm vụ quan sát và báo cáo tình hình, hơn là nghênh chiến với địch quân.
    Cho nên hệ thống phòng thủ không được xây dựng chắc chắn và bảo trì đúng mức.

    Ngay từ đợt pháo kích đầu tiên, Trung đội 1 đã báo cáo về tình trạng bi quan của họ. Mặc dù có lệnh rút về căn cứ, nhưng họ không làm sao có thể di chuyển được khi toàn cả đồi Thường Đức ngập vùi trong cơn mưa pháo. Mãi đến khi cộng quân dứt pháo cho quân tấn công vào tiền đồn, đến lúc ấy Trung đội 1 mới có cơ hội rút lui dần về phía sau.

    Vì muốn làm vua làm quan với toàn quyền sinh sát trong tay, một bọn quỷ đội lốt người đã toa rập với nhau, lập mưu tính kế, lùa hết toàn thể dân chúng từ Nam chí Bắc làm thân tôi mọi cho họ.
    Sau khi quơ được miền Bắc trong tay, bọn này bèn lập khuôn đúc nắn, chế tạo cả một thế hệ u mê, dễ bề sai bảo, để phục vụ cho cái dã tâm của bọn ác ôn này. Thế là cả một bầy cô hồn, lâu la lục súc, đầu trâu mặt ngựa, cầm đuốc xách dao, hí hửng đi đốt làng giết người, theo lệnh của bọn chủ nhân, để được ban phát miếng cơm manh áo.

    Và giờ đây, cái đám cốt đột này đã xuất hiện như những con thú, lúc nhúc chạy lăng xăng, la chí chóe bên ngoài phòng tuyến.
    Không thể rút lui về bằng cách đi trở lại theo con đường mòn xuyên ngang hàng rào phòng thủ, trung đội 1 phải tạt xuống hướng nam, nơi đang có một đơn vị Địa Phương Quân/Nghĩa Quân trú đóng. Kể từ đó, Trung đội 1 bị kẹt luôn ở bên ngoài, và chiến đấu chung với đơn vị bạn cho đến khi cả hai bị tràn ngập.

    Cũng cần nói thêm , về tình trạng quân số tham chiến của Đại đội 1 trong Trận Thường Đức. Trên đường trở về trấn thủ Thường Đức khi đang hành quân tại tỉnh Quảng Tín, lúc đoàn quân xa đi ngang BCH Liên đoàn 14/BĐQ đang đóng tại Núi Đất, mặc dù tình trạng quân số của Tiểu Đoàn đã bị hao hụt, nhưng Tiểu Đoàn được lệnh phải để lại cho Liên đoàn xử dụng toàn thể Đại đội 2 và thêm Trung đội 2 của Đại đội 1.

    Chắc có lẻ Sư đoàn 3 hoặc Quân Đoàn hứa hẹn, yểm trợ tích cực cho TĐ79/BĐQ, trong trường hợp Tiểu đoàn bị tấn công. Hoặc là, Quân Đoàn I cho rằng việc cộng quân tập trung chung quanh Thường Đức chỉ là một đòn nghi binh, nên đưa Tiểu đoàn về để phòng hờ chứ không ý đánh đấm. Hay là Quân Đoàn đánh giá cao khả năng chiến đấu của vài Đại Đội của TĐ79/BĐQ, thừa sức chận đứng sư đoàn việt cộng.
    Có vậy, cho nên Liên Đoàn mới giữ lại hơn một phần ba quân số tác chiến của Tiểu đoàn trước khi trở về trấn giữ Thường Đức.

    Tôi vẽ vời ra mẩu đối thoại chung quanh cái quyết định để lại Đại đội 2 và Trung đội 2 của Đại đội 1 trong một tình thế khá nghiêm trọng như lúc này :

    " Trung Tá Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân nói với Thiếu Tá Hà Văn Lầu, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân :

    - Toa để lại cho moa 50 thằng lính nghen.

    - Thưa Trung Tá, tại sao?

    Tr/T Liên Đoàn Trưởng trả lời :

    - Thì để giữ an ninh cho Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn.

    - Trình Trung Tá . Tụi này mới đánh ở Tam Kỳ về, quân số bị thiếu hụt, mà lại để ở đây 50 thì làm sao tụi tui trám được cái khoảng trống đó? Hơn nữa, tụi nó kéo về cả sư đoàn thì làm sao tôi giữ được Thường Đức với chừng lính nầy?

    Tr/T Liên Đoàn Trưởng thân mật vỗ vai :

    - Có thằng Phòng 7 ở trên đó, nó sẽ trám vào cái chỗ trống đó. Toa cứ yên trí, có gì xảy ra, thằng Sư đoàn 3 sẽ lên tiếp toa ngay. Tụi moa không bỏ toa đâu.

    Thiếu Tá Lầu rời phòng chỉ huy đến gặp Đại Úy Sinh, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân, đang đứng bên ngoài với một số sĩ quan của Tiểu Đoàn.

    - (vt) Liên Đoàn bắt mình phải để lại đây năm chục. Ông nghĩ để Đại đội 2 lại được không?

    Đ/U Sinh thắc mắc :

    - Sao lại phải để lính ở đây? Mà để ... để làm gì, Thiếu tá?

    - Liên Đoàn cần lính để giữ an ninh.

    Đ/U Sinh đảo mắt nhìn quanh những thôn xóm lân cận chung quanh đồi, khẻ nhíu mày nhưng cũng điềm tỉnh cố gắng vớt vát :

    - Để thằng 2 thì được nhưng cũng chỉ có chừng bốn mươi. Thiếu Tá hỏi ở trển có chịu bốn mươi không, hết mẹ nó một Đại Đội rồi.

    - Không được, họ đòi năm chục. Nếu mình để Đại đội 2 ở đây thì thằng 3 phải giăng mỏng ra để trám chỗ thằng 2. Vậy lấy thêm một Trung đội của Đại đội 1 vậy, được không?

    Đ/U Sinh ngập ngừng nhấn mạnh vai trò cực kỳ quan trọng của Đại đội 1:

    - Thiếu Tá biết, thằng 1 nó nằm một mình ở cái đồi bên cạnh. Nếu bị đánh, nó là cái mục tiêu cần phải chiếm trước bằng bất cứ giá nào. Lấy được Đại đội 1 rồi, nó sẽ dùng nơi nầy làm áp lực uy hiếp Tiểu Đoàn. Mất Đại đội 1 thì coi như mất Tiểu Đoàn, mà mất Tiểu Đoàn là mất quận Thường Đức.

    Th/T Lầu bám vào lời hứa của ông Liên Đoàn Trưởng :

    - Tao cũng biết vậy, nhưng mà thằng 3 bị trải mỏng quá. Mà lệnh là lệnh. Thôi ông nói thằng Tẩm để lại 1 Trung đội. Có gì, chắc họ không bỏ mình đâu.

    Biết nói thêm cũng không thay đổi được quyết định, Đại Úy Sinh kêu Trung Úy Tẩm, Đại đội Trưởng Đại đội 1, lại :

    - Mình phải để lại đây 1 Trung độ̀i. Mày coi thằng nào được thì kêu nó xuống xe ở lại đây.

    Không một ông Đại đội Trưởng nào biết có cả sư đoàn cộng quân sắp đánh Thường Đức. Nghe thế, Trung Úy Tẩm suy nghĩ: "Trung đội 1 thì có toán của thằng Sơn, Trung đội 3 thì có tiểu đội thằng Khâm.", bèn quyết định :

    - Thôi ... Để Trung đội 2 ở lại đây với Liên Đoàn.


    Theo hệ thống tổ chức, Đại đội 1 gồm có tất cả 4 trung đội. Trung đội 1, 2 và 3 là những trung đội tác chiến. Trung đội 4, còn có tên là trung đội công vụ, hoặc trung đội súng nặng, bao gồm một số quân nhân chuyên về súng cối. Số còn lại với những khả năng chuyên môn đặc biệt khác, có nhiệm vụ hổ trợ cho BCH Đại đội. Vì không thường đụng trận trực tiếp, nên Trung đội 4 chỉ được trưng dụng khi nhu cầu chiến trường đòi hỏi cấp bách.

    Bình thường, quân số tác chiến của mỗi một trung đội vào khoảng mươi người. Sau lần hành quân tại Quảng Tín, mỗi trung đội chỉ còn lại từ khoảng 8 đến 10 người. Nay lại phải để lại cho BCH Liên đoàn một trung đội tác chiến, Đại đội 1 lãnh nhiệm vụ trấn thủ Thường Đức với quân số chưa tới 30 người, kể cả trung đội công vụ. 30 quân nhân có nhiệm vụ phòng thủ một vòng đai bao gồm xấp xỉ 25 cái lô-cốt. Mỗi một lô-cốt cách nhau trung bình khoảng 10, 15 thước.
    Vào thời cực thịnh, khi quân đội Mỹ còn trấn đóng nơi đây, vòng đai phòng thủ của Đại đội 1 được bảo vệ với khoảng hơn 100 tay súng.





    Giờ đây, Đại đội 1 vốn đã trải quân quá mỏng cho một phòng tuyến quá dài, nay lại thiếu đi trung đội 1, toàn thể Đại đội 1 bây giờ chỉ còn khoảng 20 mạng. Với một quân số ít ỏi, mà phải chịu trách nhiệm một vòng đai phòng thủ quá lớn, lại phải đương đầu với một lực lượng địch quân đông đảo gấp mươi lần với vũ khí dồi dào bất tận.

    Cán cân quân sự đôi bên đã chênh lệch thấy rõ. Câu hỏi bây giờ không phải là chừng nào thắng, mà là giữ được bao lâu? Nếu phép lạ có xảy ra, ấy là sự kiên cường của những người lính thuộc Đại đội 1 đã giữ vững bờ cõi dài thêm được một ngày nữa.

    Cũng may cho Đại đội 1, một phần bên ngoài tuyến phòng thủ của Trung đội 1 và Trung đội 4 là nhà cửa của dân chúng và một cái đồn lính ĐPQ/NQ. Ngay từ ngày đầu, hai tuyến này, thường xuyên bị bỏ trống để dồn quân về hai mặt Tây Nam và Tây Bắc.
    Thêm một may mắn nữa, là cộng quân không biết được 2 tuyến này có lúc đã bị bỏ trống, cho nên bọn chúng không lăm le tiến sang hướng này. Mãi cho đến khi đồn ĐPQ/NQ bị mất thì lúc ấy địch quân mới dọ dẫm mò qua.

    Mặc dầu đã thành công đẩy lui nhiều đợt tấn công, ngược lại, Đại đội 1 cũng phải trả một cái giá không ít. Cứ mỗi lần địch quân xung phong là mỗi lần ta có thêm thương vong và sức phản công của ta bị giảm sút.
    Cứ một lần địch quân tấn công là mỗi lần ta phải bắn trả và đạn dược lại thêm hao hụt. Nếu địch quân cứ tiếp tục gia tăng áp lực, trong khi ta lại không được tiếp tế và bổ sung quân số kịp thời, thì cái viễn tượng thất thủ ngày càng dần thành sự thật.


    Sau nhiều ngày chờ mong, cuối cùng, tin được thả dù tiếp tế làm mọi người khấp khởi vui mừng.
    Lúc thả dù, nhìn từng kiện hàng thoát ra từ lòng máy bay, chở đầy những hy vọng, người lính cảm thấy vui thích lâng lâng theo những cánh dù lượn bay trong không gian.

    Nhưng rồi, niềm vui đó cũng vụt tan nhanh, khi tất cả những kiện hàng, khoảng 5, 7 chiếc, đều lần lượt rơi rớt bên ngoài hậu cứ.
    Như thấy chưa đủ làm người lính tuyệt vọng, tin tức truyền miệng cho biết không chắc có kỳ tiếp tế khác. Thường thì những lời đồn đãi không xa sự thật bao nhiêu. Đợt thả dù tiếp tế lần này, là lần đầu và cũng là lần cuối.

    Có một vài chiếc dù tiếp tế bay lạc vào núi. Có một số rơi vào gần chỗ địch quân. Thấy thế, bọn chúng bèn mon men ra lấy. Người phi công A-37 đang bao vùng bên trên thấy thế bèn lao xuống phá hủy kiện hàng.

    Thấy chiếc phản lực A-37 từ trên trời cao lao vút xuống, những ổ súng phòng không của địch quân từ hai dãy núi hai bên đồng loạt bắn lên liên tu bất tận. Mặc cho những đầu đạn nổ tung chung quanh thân máy bay, chiếc phản lực vẫn tiếp tục vừa bắn vừa lao xuống, thấp, thấp, thấp nữa cho thêm chính xác.

    Đạn khạc ra từ máy bay sủi đất chung quanh chiếc dù tiếp tế. Bọn việt cộng vội vã chạy tán loạn. Mấy ổ súng phòng không vội vã bắn theo. Những người lính nín thở há hốc theo dõi. Đột nhiên, khói bốc ra từ thân máy bay. Chiếc A-37 vẫn tiếp tục lao xuống. Người lính bên dưới lo sợ nghẹn lời :

    - Chúa ơi! Nhảy ra ... nhảy ra.

    Chiếc máy bay vẫn không đổi hướng và tiếp tục lao xuống , rồi nổ tung kế nơi chiếc dù tiếp tế. Một đống lửa to lớn nổ bùng lên. Mọi người lính đăm đăm thẫn thờ nhìn.

    Đó là chiếc phản lực, cũng là chiếc máy bay duy nhất, bị bắn hạ trong Trận Thường Đức[4].
    Nhìn ngọn lửa lan rộng đốt thiêu chiếc máy bay, người lính Tiểu đoàn 79 Biệt Động Quân như cảm thấy ngọn lửa đốt tan luôn tất cả những hy vọng sống còn của chính mình.


    Nhìn ra bãi chiến trường, Trung sĩ Khâm thấy vũ khí cộng quân bị bỏ lại nằm la liệt bên cạnh những tử thi. Để có thể tiếp tục chiến đấu trong tình trạng thiếu thốn về đạn dược, ông bèn nảy ra ý định làm một việc mạo hiểm , là đi ra nơi cộng quân bị bắn hạ, để lấy vũ khí của địch , hòng có thêm phương tiện chống cự. Thấy có thể thực hiện được, ông bèn quan sát định chỗ , đợi trời tối ra lấy mang về.

    Được cả toán tán đồng, Tr/S Khâm bèn lần xuống gặp Tr/U Tẩm. Đến nơi, ông bèn trình bày ý kiến trên. Tuy thập phần nguy hiểm và có cơ bị thất thủ, nếu toán của Tr/S Khâm bị kẹt luôn ở bên ngoài, nhưng Tr/U Tẩm cũng phải đồng ý để cho toán của Trung sĩ Khâm thực hiện.

    Biết họ tính toán đi ra ngoài, tôi thấy sao họ rủ nhau đi làm những chuyện hiểm nguy một cách quá dễ dàng. Tôi chợt nghĩ, hay là họ đã giác ngộ rồi.

    Vào những ngày đầu của cuộc chiến, bản năng sinh tồn đã thúc đẩy tôi chiến đấu để sống còn. Tôi nghĩ những người khác cũng vậy. Mỗi lần phản công là mỗi lần hồi hộp, sợ sệt. Đến khi biết mình không có tiếp viện. Đến khi nhìn đâu cũng chỉ thấy tuyệt vọng. Từ khi, hy vọng đã hoàn toàn tan biến. Từ khi ý tưởng chấp nhận sự an bài thành hình. Từ khi cái chết không còn là mối bận tâm. Mình không mong mỏi nó đến, nhưng cũng không buồn tránh né. Tâm hồn mình, từ đó, bổng dưng trở nên thanh thản.

    Tôi nghĩ những người khác , chắc cũng vậy. Tôi đã bắt gặp những ánh mắt lạ thường qua cái nhìn của họ. Tôi thấy họ hồn nhiên cười đùa rất dễ dàng. Có lẽ vì vậy, họ thản nhiên đi vào chỗ hiểm nguy.

    Khi trời còn sáng, Trung sĩ Khâm xác định và phân chia những mục tiêu để thu thập vũ khí. Trời tối hẳn, toán trinh sát tập trung lại. Họ trao đổi mật hiệu cũng như dặn dò một vài điều cần thiết với người có bổn phận theo dõi. Xong rồi, cả toán lặng lẽ ẩn mình luồn theo một lối đi họ đã vạch sẳn khi chiều.

    Người còn lại bên trong hồi hộp đợi chờ lo lắng. Giả như, nếu có ai dưới chi khu bắn trái sáng lên, thì sẽ làm cho công việc của họ thêm phần trì trệ gian nan. Lo nhất là mấy cái thằng việt cộng bị thương còn nằm rên khóc ở ngoài đó. Lỡ mà nó chợt phác giác ra toán của Tr/SKhâm đi lượm súng, rồi nổi máu anh hùng mà la lối, hay ria một băng vào mình, làm đánh động cái đám việt cộng, thì cả toán sẽ bị thiệt thân chứ không tài nào chạy vô cho kịp.

    Nửa tiếng trôi qua không động tĩnh. Người bên trong chong mắt nhìn trong đêm đen , hy vọng phát hiện được bóng người. Đột nhiên, có tiếng sỏi sạn khua xào xạc vang nhẹ trong không gian. Mật hiệu hai bên được trao đổi. Toán của Trung sĩ Khâm khệ nệ mang về một lô súng ống. Khi đến gần, mùi xú uế của tử thi từ trong đống vũ khí phát ra nồng nặc.

    Như chưa vừa lòng, họ lại trở ra làm thêm một chuyến nữa. Lần này, họ lại khiêng về thêm một máy truyền tin của đám việt cộng với hy vọng tìm hiểu tình hình của địch, nhưng tiếc rằng cái máy đã bị hư không còn xử dụng được.


    Còn tiếp ...

  6. #6
    tran truong
    Khách

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!

    Dù đã cố gắng chống cự bằng những phương tiện kiếm được chung quanh, nhưng đến khi cộng quân bén mảng lên được đến tuyến phòng thủ của trung đội 1, thì tình thế đã bắt đầu đến hồi nguy ngập.

    Đại đội trưởng bị thương, lính thì chỉ còn có vài người. Lúc này, Tiểu Đoàn mới cho lệnh rút về bên kia Tiểu Đoàn cố thủ. Qua bên này rồi, tôi thấy Đại đội 3 cũng tang thương không kém.
    Địch quân giờ đã có mặt trên phạm vi của Đại đội 1. Như được phấn khởi, những cánh quân khác cũng đồng thời tấn công về hướng đại đội 3 và chỗ đơn vị Nhảy toán đang phòng thủ.

    Khi còn bên phòng tuyến Đại đội 1, tôi đã thấy xác cộng quân nằm rải rác từng lớp bên ngoài tuyến phòng thủ Tây Bắc. Qua bên này đồi Tiểu đoàn, với địa thế cao hơn, dù đã quá quen, tôi vẫn không khỏi bàng hoàng khi thấy xác cộng quân nằm la liệt khắp nơi , kéo dài đến tận triền đồi bên kia[5].

    Chắc không bao lâu nữa, đám việt cộng cũng sẽ có mặt tại nơi đây. Họ sẽ thấy xác đồng bọn của họ nằm vương vãi như thế này, liệu họ có hả hê reo hò cho cái vinh quang của họ bên cạnh những bãi thịt xương đó không? Hay họ vẫn thản nhiên nổi lửa, rú rống ca hát, cầm súng nhảy múa, chung quanh thân xác đồng bọn, để tôn vinh cho cái gọi là chiến thắng của họ.

    Có những ai trong bọn họ, còn nhân tính, chợt thắc mắc vào cái giá phải trả cho cái đồi Thường Đức?

    Có những ai trong bọn họ, khẽ lạnh người, nghĩ thế nào nếu nhỡ họ là một trong những con thiêu thân đang nằm ngoài kia?

    Có những ai trong bọn họ, còn lương tri, đặt câu hỏi vào khả năng dụng binh của cấp chỉ huy của họ?

    Có những ai trong bọn họ, bỗng rùng mình, khi nhận ra bản chất dã man, coi quân như cỏ rác của những tên đầu sỏ?

    Có những ai trong bọn họ, đủ sáng suốt, nhận ra rằng họ đã bị lừa phỉnh , mê hoặc làm thân trâu ngựa, để phục vụ cho cái dã tâm xâm chiếm Miền Nam của 5, 7 thằng chóp bu đang chè chén du dương trong các dinh phủ an toàn ngoài Miền Bắc?

    Trận chiến sắp đến hồi ngã ngũ. Chúng tôi đã làm quá sức mình.
    Thằng còn sống, nương theo hoàn cảnh đẩy đưa, quờ quạng đi tìm đường sống trong muôn ngàn lối chết.
    Thằng đã chết, chắc cũng chẳng tiếc gì. It́ ra, nó cũng xách được vài chục thằng bên kia đi theo, hộ tống nó.

    Đại đội 1 bị thất thủ, kéo theo Đại đội 3 rồi Tiểu Đoàn. Chúng tôi, vài đứa, đứng tụ tập bên ngoài miệng hầm BCH Tiểu Đoàn đợi chỉ thị của Tiểu Đoàn trưởng. Thiếu Tá Hà văn Lầu, Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân, nhìn chúng tôi rồi ra lệnh di chuyển xuống làng.
    Quay lưng đi, tôi nghe mang máng ông bảo người sĩ quan Ban 3 Hành quân gởi tọa độ Tiểu Đoàn cho phi pháo lên dập nát.

    Tôi cùng một vài người lính khác theo con đường mòn nối từ BCH TĐ xuống Chi Khu quận Thường Đức. Thấy chúng tôi đi xuống, những người lính của chi khu trong vị trí tác chiến trông theo chúng tôi buồn bã phân vân.

    Đến bờ bên này con sông Côn, tôi và một số những người còn khả năng chiến đấu bàn tính mở đường máu qua sông.
    Trước khi xuống chiếc ghe chở chúng tôi vượt sông, như cảm được cái may mắn của mình đang hồi về chiều, tôi ngoảnh mặt nhìn lại xem còn ai quen , ai biết.

    Tôi thấy Trung úy Tẩm, đầu quấn đầy băng , ngửa về sau, dáng mệt mỏi, ngồi lả người, bất động, trên chiếc ghế đẩu, trong một căn nhà bên kia đường. Đứng bên cạnh là Trung sĩ Khâm, có vẻ như lo âu tình trạng của Trung Úy Tẩm. Tôi bắt gặp ánh mắt của Tr/S Khâm nhìn về hướng tôi , nhưng như không phải nhìn tôi.
    Một ánh mắt đầy u uẩn, xa xăm, tôi chưa bao giờ thấy từ Ts/ Khâm. Một ánh mắt, phảng phất với trăm nỗi đăm chiêu, nhưng đồng thời, như không màng đến những hỗn độn xung quanh[6]. Tr/S Khâm như cũng nhận ra tôi.
    Đó là lần cuối cùng tôi gặp Trung sĩ Khâm.

    Vài tháng sau, tôi nhận được thư , từ Trung sĩ Việt cho biết Trung sĩ Khâm đã bị bắt cùng với Trung úy Tẩm. Sau đó, ông trốn thoát được và đang nằm điều dưỡng tại trại An Dưỡng Quân Đội.



    Trong thư, Trung sĩ Việt nhắn tôi nên viết thư thăm hỏi để an ủi , vì thấy Trung sĩ Khâm có vẻ buồn lắm. Tôi loay hoay không biết nên viết gì. Tôi không biết nhiều về Tr/S Khâm. Trong mấy năm cùng chung Đại đội, gặp mặt cũng thường, nhưng hình như Tr/S Khâm và tôi không bao giờ trò chuyện thăm hỏi thân mật tay đôi.
    Rõ hơn, hình như ông có vẻ như không ưa thích gì tôi. Còn tôi thì cũng chẳng thích giao du với những người không ưa gì tôi. Suy nghĩ mãi, nhưng rồi tôi cũng chỉ gom được, quanh đi quẩn lại, những câu thăm hỏi xã giao chiếu lệ, nhạt nhẽo, thông thường. Cuối cùng, tôi quyết định , thôi không viết thư cho ông.

    Trong cuộc chiến tại Thường Đức, dĩ nhiên, tất cả những quân nhân của Đại đội 1 đều chiến đấu oanh liệt và hầu hết đã hy sinh trong trận này. Nhưng dũng cảm nhất phải thuộc về những người lính của Trung đội 3. Và anh hùng hơn nữa là những tay súng của tiểu đội trinh sát do Trung sĩ Khâm chỉ huy.

    Họ bương bả , dương đông, xông xáo kích tây.

    Họ luôn luôn di động để bảo vệ một phòng tuyến quá dài.

    Họ có mặt bất cứ trên mọi chiến hào để trực tiếp đối đầu với mủi tấn công của địch.

    Họ chiến đấu hăng say trong một hoàn cảnh vô cùng bi đát và tuyệt vọng.

    Họ đảm trách mọi công tác hiểm nguy mà không nề hà hay than vãn.

    Tất cả đều nhờ vào sự nhận định bén nhạy, khả năng cổ xúy, đôn đốc và cách sống tình nghĩa với đồng đội của Trung sĩ Khâm . Đây là kết quả của một con người đặc biệt. Đồi Thường Đức được giữ vững lâu dài, một phần, cũng nhờ vào tài sức của ông.
    Trung sĩ Khâm mãi là người hùng của Đại Đội 1, nói riêng. Và là niềm hãnh diện của Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân nói chung.


    Trung sĩ Khâm - Người con Thường Đức

    Trong trận Thường Đức, có một vài con dân Thường Đức, ý thức nông cạn, hận thù cá nhân, lú lẫn chính tà, đã vạch đường dẫn lối rước giặc tràn về tàn phá đất mẹ quê cha.
    Nhưng cũng có rất nhiều – nhiều người con Thường Đức đã không ngần ngại đứng lên, anh dũng đánh đuổi giặc cướp, bảo vệ làng trên, giữ gìn xóm dưới. Trung sĩ Khâm là một trong những người con anh hùng đó.

    Trong suốt chiều dài trận chiến Thường Đức, Trung sĩ Khâm đã đóng góp một phần trong việc bảo vệ Thường Đức cho tới khi tất cả những tài vật và nhân sự đều kiệt quệ.
    Nếu được tiếp viện vào những ngày cuối, Thường Đức chắc chắn sẽ không bị lọt vào đám cộng quân. Nếu được tiếp tay, Thường Đức sẽ vẫn tồn tại hít thở không khí tự do.

    Được vậy, tất cả, đều nhờ vào những hy sinh, của những người như Trung sĩ Khâm.
    Anh hùng có lúc vẫn bị sa cơ. Tuy thất thủ, nhưng Trung sĩ Khâm vẫn xứng đáng là một trong những người hùng, người con của Thường Đức.

    Sau này, lịch sử chắc chắn sẽ được viết lại nghiêm chỉnh và trung thực bằng những sử gia chân chính. Tôi mong rằng, những đóng góp và hy sinh của Trung sĩ Khâm, trong sứ mệnh bảo vệ Thường Đức, sẽ không đi vào trong quên lãng.

    Viết tặng cho thế hệ tương lai của Thường Đức.

    Thường Đức có một ông Khâm .

    Ngàn thằng bộ đội lục lâm cướp làng.

    Ông Khâm đánh dọc đánh ngang .

    Ngàn thằng bộ đội khóc than kêu Hồ.

    Hồ rằng: “Mấy cháu cứ vô

    đánh cho Nga mạnh, chết cho Tàu phì”[7].

    Ngàn thằng bộ đội ngu si .

    Ôm đầu máu xuống âm ty. Hồ cười.



    Còn tiếp ...

  7. #7
    tran truong
    Khách

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!




    Phụ chú:
    1- (Văng tục) – Tùy bạn suy diễn. Hồi đó nghe thì rất vui tai. Bây giờ thấy nó không thích hợp. Viết lên thì thấy ngượng tay. Đưa vào bài, vài chỗ thôi, chỉ có cốt ý nhấn mạnh ý tưởng, hoặc tăng thêm phần sống động.

    2- Ngày đồng hóa là ngày lực lượng Biệt Kích tại địa phương chính thức sát nhập vào Binh chủng Biệt Động Quân.

    3- Trong bài “Trở lại chuyện ông Thiệu” của ông Lữ Giang được đăng tải trên một ít trang báo của cộng đồng người Việt. Bài viết thiên về chê trách Tông tông Nguyễn văn Thiệu. Tuy nhiên, trong mục "KHÔNG BIẾT ĐỊCH LÀM G̀", bài viết nêu lên 3 điểm chiến lược quan trọng và chỉ trích ông Tông tông đã không nhận ra ý đồ của địch quân mà để cho mất nước.
    Thường Đức là một trong 3 điểm chiến lược quan trọng đó. Nhận thấy những sự kiện liên quan đến Thường Đức có phần đáng tin cậy, cho nên tôi đưa ra đây để rộng đường dư luận với tất cả dè dặt.

    Ấy là, QĐ1/QK1 biết rõ từ tháng 4 rằng cộng quân đang phát triển đường tiếp liệu và huy động một lực lượng hùng hậu để chiếm lấy Thường Đức, thế mà đến cuối tháng 7, QĐ1/QK1 chỉ đưa mỗi Tiễu Đoàn 79 Biệt Động Quân về đối đầu :



    "1.- Dứt điểm Thường Đức.
    Tôi nhớ vào khoảng tháng 4 năm 1974, tôi đang ngồi uống cà phê ở đường Tự Do, Sài G̣n, một người bạn đền hỏi tôi có muốn đi Đà Nẵng không, có chuyện quan trọng lắm. Tôi đồng ư. Chỉ ba tiếng đồng hồ sau chúng tôi đă có mặt tại Đà Nẵng, từ đó chúng tôi được đưa bằng trực thăng lên Thướng Đức. Thuyết tŕnh về t́nh h́nh Thường Đức, thuyết tŕnh viên cho biết bây giờ Cộng quân đă đặt ống dẫn dầu đến A Sao, A Lưới, ở bên kia đèo Hải Vân. Họ sắp chọc thủng Thường Đức để đưa dầu xuống mật khu Hiệp Đức ở Quảng Nam và Quảng Ngăi.
    Sau đó, chúng tôi được trực thăng chở đi xem các đường mới Cộng quân đang làm chằng chịt để tiến quân vào Thường Đức. Chúng tôi hỏi Quân Đoàn tính sao. Thuyết tŕnh viên cho biết đang đợi quyết định của Tướng Ngô Quang Trưởng.

    Muốn giữ Thường Đức phải có ít nhất một liên đoàn Biệt Động Quân. Nhưng sau đó tôi nghe nói Tưởng Trưởng chỉ cho Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân thủ ở đó. V́ nhu cầu chiến lược, Hà Nội đă huy đợng 3 Sư Đoàn đặt dưới quyền chỉ huy của Tướng Hoàng Đan để chiếm Thường Đức. Lúc 8 giờ 30 sáng 7.8.1974, Thượng Đức hoàn toàn bị thất thủ. Tướng Trưởng ra lệnh cho Sư Đoàn Dù chiếm lại, nhưng mặc dầu đă có gắng và tổn thất nặng, Sư Đoàn Dù chỉ chiếm lại được một số đồi xung quanh." Hết trích .


    Cá nhân tôi vẫn thắc mắc không biết sự thật Tướng Trưởng hay đâu đó có ra lệnh cho lính Dù chiếm lại Thường Đức hay không? Bởi vì nếu muốn chiếm lại Thường Đức, với khả năng của 2 Lữ Đoàn Dù, Thường Đức đã được lấy lại chỉ nội trong vòng 1 tuần lễ, và cái mục tiêu như đồi 1062 hay những cái đồi gần đó sẽ tự dưng biến mất và không còn cần thiết.
    Đằng này, một thời gian sau khi Thường Đức đã bị mất, 2 Lữ Đoàn Dù mới được đưa tới, đóng quân tại Quận Đại Lộc, rồi giao tranh lẩn quẩn ở mấy cái đồi 700, 1062 , 1235 v.v... thuộc quận Hiếu Đức, từ tháng này cho tới tháng nọ, mà chẳng có lấy một người lính Dù nào đặt chân lên trên địa hạt của quận Thường Đức, dù chỉ là một tấc đất.

    Điều này, nói lên sự hiện diện của 2 Lữ Đoàn Dù chỉ có ý đồ cầm chân địch quân. Để làm gì? Để cho Đà Nẵng được bình an ngày nào hay ngày đó??? Hay để cho những toan tính nào khác??? Chứ tuyệt nhiên không nhằm mục đích giải tỏa Thường Đức hoặc đánh đuổi địch quân.

    4- Sau nầy, có người quả quyết với tôi rằng có thêm một chiếc máy bay nữa bị bắn hạ nhưng tôi không chắc lắm. Nếu đúng, thì có tất cả 2 chiếc máy bay bị bắn rớt trong trận Thường Đức.

    5- Ngày 1 tháng 8 năm 2012, 38 năm sau ngày chiếm được Thường Đức, đám việt cộng tổ chức lể cầu siêu (bọn vô thần lại làm thêm một màn mị dân) kéo dài 3 ngày từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 8 năm 2012. Lể cầu siêu này có sự hiện diện của Trung tướng Phạm xuân Thệ, người đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tấn công Thường Đức vào năm 1974. Phóng viên H. Chung thuộc Thông tấn xă Việt Nam, cơ quan thông tin chính thức của cái gọi là Nhà nước CHXHCN Việt Nam, thuật lại buổi lể sau đây.





    Cũng cần nói thêm rằng, mặc dầu con số 1.300 địch quân bị tử vong trong thời gian từ ngày 29 tháng 7 đến ngày 7 tháng 8 năm 1974 là do địch quân đưa ra. Tuy con số có vẻ khá nhiều thật đấy, nhưng đối với bản chất chuyên nghiệp dối trá của người cộng sãn, con số tử vong thật sự chắc hẳn cao hơn con số 1.300 mà họ thừa nhận.

    Tuy nhiên, khi đọc con số người chết nhiều như thế này, tôi không khỏi tự hỏi số người bị thương lên đến bao nhiêu? Nếu tính theo tỷ lệ thấp nhứt (5.21 - 9.76) là cứ 1 người bị chết thìcó 5 người bị thương, thì nếu con số tử vong là 1,300 người thì con số bị thương sẽ là 6,500 người. Còn nếu tính theo con số 800 xác chết đã góp nhặt được thì con số bị thương lên đến 4,000 người. Cộng lại, một bên là 7.800, bên kia là 4.800, bị loại khỏi vòng chiến. Cả hai bên, con số bên nào củng đều khủng khiếp cả!!!

    Theo bài báo, con số thương vong đưa ra trên đây chỉ là con số tử vong riêng của sư đoàn 304. Không nghe bài báo đá động gì tới con số chết chóc của sư đoàn 324.

    6- Ánh mắt của Trung sĩ Khâm lúc ấy chứa đựng một cái gì khác thường. Nó in vào tâm khảm và nó cứ đeo đẳng mà mỗi khi nhớ lại tôi vẫn không sao hiểu được. Sau nầy, có thêm những tin tức, và đến khi viết những giòng này, tôi chợt nhận ra: Khi Tr/S Khâm đang nhìn về hướng tôi, lúc ấy, tôi đang đứng bên này đường, sau lưng tôi là con sông Côn. Bên kia sông, là những thôn xóm đã bị cộng quân chiếm đóng. Nhà của ông ở bên đó. Ánh mắt đó, tôi giờ mới ngợ rằng, là ánh mắt lo lắng ưu tư, không biết vợ con giờ này ra sao, an nguy thế nào.

    7- Sau khi chiếm được Miền Nam, Lê Duẩn cựu TBT/đảng CSVN đã tuyên bố: "Ta vào Nam nổ súng là đánh cho Trung Quốc, đánh cho Liên Xô" . Nhân vật Lê Duẩn này, trong men chiến thắng, thấy không cần gì phải dấu diếm nữa nên nói toạc móng heo cho thiên hạ biết rằng, đám chóp bu cộng sãn Nga và Tàu bảo đám đầu sỏ cộng sãn Miền Bắc nhuộm đỏ Miền Nam, để Miền Nam trở thành cộng sản như họ đã làm ở Miền Bắc. Do đó, đám đầu sỏ Miền Bắc vâng lời Nga Tàu lùa quân xâm chiếm Miền Nam.

    Câu nói này đã được sửa lại cho có vẻ bài bản và được trịnh trọng đóng khung bên trên cổng vào nhà mồ của tên đao phủ thủ Lê Duẩn.





    .........................

    Phần trên có thêm ý kiến tác giả , phê phán việc Lữ đoàn Nhảy Dù không giải cứu Quận lỵ Thường Đức ,thật hư thế nào , chỉ là dự đoán . Nhìn chung tình hình toàn miền Nam sau khi Mỹ phủi tay, quân viện cắt giảm , xăng dầu , quân nhu , khí tài đều thiếu thốn trầm trọng .

    Trừ những cuộc đụng lớn , mang tính chiến lược , được yểm trợ tương đối đầy đủ . Ngoài ra hành quân cấp nhỏ , chỉ yểm trợ 2 tới 3 quả pháo binh là hết . Xe cộ 30 lít xăng mỗi tháng . Trong khi cộng quân , chẳng những tiếp liệu dồi dào , vũ khí tân kỳ hơn .... hoả tiễn nhiều nòng , pháo tầm xa 30km ,súng phòng không thay vì bắn máy bay , mang đi bắn người , bắn lô cốt .... SA7 tầm nhiệt , AT-3 Sagger .

    Hậu cứ tiểu đoàn 79 BĐQ sau khi thất thủ , chẳng những tan hoang bình địa , chi khu cũng vậy .Thường Đức hoàn toàn bị thất thủ. Thiếu tá Hà Văn Lầu và Phó quận Vũ Trung Tín bị bắt sống. Thiếu tá Quận Trưởng Nguyễn Quốc Hùng tự sát. Sau đó Đại úy Vũ Trung Tín cũng tự sát.

    Thường Đức chẳng khác một trũng lòng chảo Điện biên trong đổ nát hoang tàn . Nếu chiếm lại , mà cao điểm trong tay giặc , thì đúng là dồn quân cho địch ném đá , trong khi lực lượng đang phải căng mỏng bảo vệ vùng I lãnh thổ .

    Đánh Thường Đức là cách thăm dò ý đồ Mỹ mà thôi . Mỹ nhảy vào tiếp cứu hay bỏ rơi . Vậy thì không giải cứu Thường Đức , có thể đó là cách thử về sự cam kết của Mỹ trong hoà đàm Paris của ông Thiệu . Sau khi thấy Mỹ làm thinh , phe csVN thừa thắng xông lên . Còn VNCH biết không còn mong gì trông gì vào hoà đàm Paris , nên hết di tản chiến thuật đến tái phối trí .

    Dẫn đến bỏ Pleime , Kontum .... Ban mê Thuột và Long Khánh là trận thư hùng cuối cùng , nói lên sức chiến đấu và ý chí của quân lực VNCH cùng nhân dân miền Nam , dù trong thiếu thốn trăm bề và lực bất tòng tâm .

    Trận này csVN chỉ mới đụng với tiểu đoàn trừ 79 BĐQ + ĐPQ + NQ + Thám Báo .
    Tiếp theo kỳ tới ..... đụng Nhảy Dù .

  8. #8
    tran truong
    Khách

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!

    Chiến trường ác liệt Thường Đức (18/8/1974 - 8/11/1974)





    Sau khi Hiệp Định Paris được kư kết vào cuối tháng 1/1973, t́nh h́nh chiến cuộc Việt Nam tạm lắng dịu. Hai sư đoàn Tổng trừ bị (Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến) vẫn c̣n bị lưu giữ tại Quân Khu 1. Lấy Quốc Lộ 1 làm ranh giới, Sư Đoàn Nhảy Dù trấn giữ phía Tây, dọc theo hành lang dăy Trường Sơn, và trách nhiệm luôn phần bảo vệ an ninh Quốc Lộ 1, từ cây số 17 ra tới bờ sông Thạch Hăn (tỉnh Quảng Trị).
    Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) trấn giữ phía Đông từ Quốc Lộ 1 ra đến bờ biển, và từ sông Mỹ Chánh ra đến tận Cổ Thành Quảng Trị ở phía Bắc.

    Các đơn vị thuộc Sư Đoàn Nhảy Dù chiếm những cao địa tới tận chân dăy Trường Sơn, các căn cứ Anne (Động Ông Đô), Barbara (đă giành lại được trong cuộc tổng phản công tái chiếm Quảng Trị). Đây là 2 căn cứ chiến lược chế ngự toàn vùng hành quân.

    Từ An Lổ, cây số 17 (căn cứ Hiệp Khánh, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù) về phía Nam là trách nhiệm của các đơn vị cơ hữu thuộc Quân Đoàn 1. Sư Đoàn 1 Bộ Binh trấn đóng ở phía Bắc đèo Hải Vân. Phía Nam là trách nhiệm của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 2 Bộ Binh. Cả hai khu vực Bắc và Nam đèo Hải Vân đều có các đơn vị Biệt Động Quân, Địa Phương Quân, và Nghĩa Quân trấn giữ.

    Đối đầu với Sư Đoàn Nhảy Dù là Sư Đoàn 325 Trị Thiên của Bắc Việt. Tuy danh xưng là Sư Đoàn Trị Thiên, nhưng thực ra bộ đội của sư đoàn này rất trẻ và nói toàn giọng Bắc.
    T́nh h́nh tổng quát tại Quân Khu 1 sau ngày kư hiệp định tương đối yên tĩnh.

    Vào những tháng cuối năm 1974, sau khi trao đổi tù binh với Hoa Kỳ xong xuôi, Bắc Việt không ngần ngại bắt đầu vi phạm Hiệp Định Ba Lê để thực hiện ư đồ xâm lăng thôn tính miền Nam bằng vơ lực.

    Qua các cuộc trắc nghiệm xem phản ứng của Hoa Kỳ bằng cách mở cuộc tấn công vào tỉnh Phước Long cuối năm 1974, và một số thị trấn khác thuộc Quân Khu 3.
    Thấy Hoa Kỳ không có phản ứng, Cộng Sản Bắc Việt bắt đầu tung các đơn vị chủ lực vào cuộc xâm lược Miền Nam Việt Nam.

    Bộ đội, pháo binh, cơ giới của họ ngang nhiên ào ạt di chuyển trên đường ṃn HCM vào các quân khu 2 và 3 , hàng hàng lớp lớp giữa ban ngày, không cần ngụy trang ẩn nấp như xưa.
    Song song với việc chuyển quân, Cộng Sản Bắc Việt mở mặt trận lớn đầu tiên tại Vùng 1 Chiến Thuật với ư đồ cầm chân các đơn vị tổng trừ bị của QL-VNCH. Hai sư đoàn 304 và 324 Bắc Việt, cùng các trung đoàn pháo, chiến xa bất thần đánh chiếm quận Thường Đức thuộc tỉnh Quảng Nam. Là một điểm chiến lược nhờ địa thế núi rừng hiểm trở.

    Thường Đức là một trong 9 quận của tỉnh Quảng Nam (Đức Dục, Quế Sơn, Thường Đức, Hiếu Đức, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Ḥa Vang và Hiếu Nhơn), được thành lập năm 1962, tách ra từ quận Đức Dục, nằm trong thung lũng Hà Tân, một khu vực nghèo nàn khô cằn sỏi đá ở phía Tây Nam Đà Nẵng , khoảng 60 cây số, và phía Tây là vùng rừng núi trùng điệp chạy dài tới biên giới Việt - Lào khoảng 50 cây số.
    Đây là tiền đồn chiến lược bảo vệ căn cứ quân sự và phi trường Đà Nẵng, một trong những căn cứ lớn nhất của VNCH.

    Năm 1974, Quân Đoàn I đă bố trí Sư Đoàn 3 Bộ Binh trấn giữ tỉnh Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Tín. Sư đoàn này có ba trung đoàn cơ hữu là Trung Đoàn 2, Trung Đoàn 56 và Trung Đoàn 57. Trung Đoàn 2 phụ trách khu vực G̣ Nồi và quận Đức Dục. Trung Đoàn 56 chịu trách nhiệm về hai quận Quế Sơn và Thăng B́nh. Trung Đoàn 57 là trung đoàn trừ bị.

    Hai nơi hiểm yếu và chịu áp lực nặng nhất là Nông Sơn và Thường Đức, được giao cho Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân. Liên đoàn này có 3 tiểu đoàn là 77, 78 và 79.
    Tiểu Đoàn 78 đóng ở Nông Sơn và Tiểu Đoàn 79 đóng ở Thường Đức. Thường nhật quận lỵ Thường Đức do hai Đại Đội Địa Phương Quân bảo vệ. Vào giữa tháng 6 năm 1974, khi được tin Cộng quân có thể tấn công Thường Đức, Tiểu Đoàn 79 mới được đưa từ Quảng Ngăi về trấn giữ vị trí này.





    Địa h́nh Thượng Đức rất hiểm yếu, ba bề là núi cao, có nhiều dốc dựng đứng. Phía Đông bằng phẳng, từ quận Điện Bàn trên giao điểm Quốc lộ 1, Liên tỉnh lộ 4 chạy dọc theo sông Vu Gia dẫn vào Thường Đức dài khoảng 40 cây số, đường sá rất hiểm trở.
    Quận lỵ Thường Đức nằm ngay ngă tư Liên tỉnh lộ 4 và Quốc lộ 14 và cũng là nơi hợp lưu của hai con sông Côn và sông Vu Gia nước sâu, chạ̣y dài từ Tây sang Đông. Chính phủ VNCH cho thành lập quận này nhằm cắt đứt con đường 14, không cho Cộng quân sử dụng để di chuyển vào Nam. Vùng chung quanh đường 14 có bộ lạc Katu sinh sống.


    THƯỜNG ĐỨC 1970 by manhhai, on Flickr


    Trước kia Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) Hoa Kỳ đă xây dựng và để lại một căn cứ pḥng thủ chiến lược với hệ thống giao thông hào liên hoàn trong căn cứ , cùng với 35 lô cốt nửa ch́m nửa nổi, mỗi lô cốt rộng bốn mét, xây dựng bằng xi măng cốt thép bao bọc hai lớp bao cát đặt ngang ở giữa, nhiều công sự có nắp và một hệ thống nhà hầm và hầm ngầm.

    Khu truyền tin, chỉ huy pháo binh, bệnh viện, kho đều nằm sâu trong ḷng đất. Trong khu vực nhà ngầm được chia thành nhiều pḥng. Lực lượng VNCH ở Thượng Đức có Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân Biên Pḥng, hai đại đội Địa Phương Quân, một đại đội Cảnh Sát Dă Chiến, một trung đội Viễn Thám và 16 trung đội Nghĩa Quân, tất cả đặt dưới sự chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Quốc Hùng, quận trưởng.

    Về mặt chiến lược Thường Đức c̣n là một vị trí quan trọng xuất phát các cuộc hành quân trinh sát, khống chế con đường tiếp liệu Trường Sơn Đông mà CSBV vừa mới khai dựng sau ngày kư hiệp định 27/1/1973.
    Từ phía Bắc quân dụng và chiến cụ theo đường ṃn HCM đưa từ A-Lưới đến A-Shau qua Trào đến Bến Giàng nằm trên LTL 4 cách Thường Đức không xa. Tại đây quân CSBV có những kho lẫm , tồn trữ quân dụng tiếp tế cho mặt trận Quân Khu Năm.

    Về chính trị, với việc chiếm đóng Thường Đức, Hà Nội có thể đánh giá được phản ứng của Hoa Kỳ và khả năng tăng viện trợ quân sự cho Sàig̣n. Về quân sự, Hà Nội có thể đánh giá khả năng phản kích, cơ động và hỏa lực yểm trợ của chủ lực VNCH ở Quân Khu 1, đặc biệt là lực lượng tổng trừ bị cơ động chiến lược (Nhảy Dù).

    Đối với Việt Nam Cộng Ḥa, trận chiến Thượng Đức đánh dấu việc vi phạm ngưng bắn của CSBV đă đến một mức độ nghiêm trọng mới. Thường Đức trở thành quận lỵ đầu tiên của VNCH rơi vào tay cộng sản sau ngày ngưng bắn. Đại Lộc và Đà Nẵng sẽ bị đe dọa nghiêm trọng từ hướng Tây chỉ cách thung lũng sông Vu Gia.


    Lực lượng địch tham chiến gồm có :

    - SĐ324B gồm các Trung Đoàn 29, Trung Đoàn 6 & Trung Đoàn 803 di chuyển từ phía Tây tỉnh Quảng Trị xuống tỉnh Quảng Nam

    - SĐ304 Điện Biên, Tư lệnh là Trương Công Phê, Chính ủy là Trần B́nh chỉ huy trực tiếp trận chiến, gồm 3 Trung Đoàn 66, 24 & 36 vừa tham gia trận đánh chiếm căn cứ Dak Pek ở phía Bắc tỉnh Kontum vào giữa tháng Năm đă bí mật di chuyển vào khu vực Thượng Đức.

    - Trung Đoàn 31 thuộc SĐ2 CSBV tăng viện vào lúc cuối trận chiến.

    - 2 Tiểu Đoàn bộ đội địa phương Quảng Đà

    - Một Trung đoàn Pháo và 3 chiếc Chiến Xa.

    Lực lượng địch quân tham gia tác chiến chủ yếu ở Thường Đức là Sư Đoàn 304 với Trung Đoàn 66 được tăng cường Trung Đoàn 29 (c̣n gọi là Trung Đoàn 3) /Sư Đoàn 324, Tiểu Đoàn 1/Lữ Đoàn 219 Công Binh, một đại đội tên lửa A72 (SA-7) và một đại đội tên lửa B72 (AT-3), tất cả từ Quân Đoàn 2 cùng hai tiểu đoàn bộ đội địa phương Quảng Đà.

    Các đơn vị của Quân Đoàn 2 CSBV đă được cơ giới trên con đường chiến lược mới mở Đông Trường Sơn , từ thung lũng Ba Ḷng (Quảng Trị) xuống. Riêng Trung Đoàn 3/ Sư Đoàn 324 vừa mới được cơ giới từ thung lũng A Shau (Thừa Thiên) xuống tham gia đánh trận Dak Pek, sau đó đă cơ động trở lại Quảng Nam đễ tham gia chiến dịch Thường Đức.

    SA-7 và AT-3 đều được gọi là "tên lửa" (hỏa tiển), nhưng công dụng khác nhau.
    SA-7 là hỏa tiển pḥng không, chống máy bay hoặc trực thăng, nhỏ gọn, dài khoảng 1.47 mét với đường kính 70mm nằm trong một ống phóng ngắn có thể bắn từ trên vai.
    AT-3 được chế tạo để chống thiết giáp (xe tăng, thiết vận xa) hoặc bắn vào các công sự chiến đấu kiên-cố.

    Trận Thường Đức do cán bộ Sư Đoàn 304CSBV trực tiếp chỉ huy. Trong cuộc họp chuẩn bị giữa Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 304 với bộ chỉ huy Quân Khu 5 CSBV, đă có việc trao đổi kinh nghiệm sử dụng pháo bắn thẳng có hiệu lực cao ở Nông Sơn.
    Tư lịnh Sư Đoàn 304 CS khẳng định sẽ tiêu diệt Thường Đức với hỏa lực hùng hậu của Bộ Tư Lệnh B5 yểm trợ gồm cấp số trang bị : pháo 85 ly và 105 ly gấp đôi của Sư Đoàn 2 CSBV , lại có thêm súng cối 160 ly có sức công phá lớn, yểm trợ đắc lực cho bộ binh xung phong.

    Quân Đoàn 2 CS tổ chức một bộ phận tiền phương đi cùng với Sư Đoàn 304 do Đại Tá VC Hoàng Đan, phó tư lệnh quân đoàn phụ trách.
    Với nhiệm vụ tấn công chi khu quận lỵ Thường Đức, thử thách quan trọng đối với Sư Đoàn 304 là việc chuyển vận đưa vũ khí đạn dược vào trận chiến.

    Hai tổ trinh sát từ hai hướng hoạt động gởi về báo cáo các kế-hoạch mở đường. Sau khi cân nhắc, cán bộ chỉ huy Quân Đoàn 2 CSBV và Sư Đoàn 304 quyết định mở đường từ Trào vào bến Hiên.
    Con đường này Cộng Sản Bắc Việt phải làm mới 45km, c̣n 21km dựa vào con đường VNCH làm dở dang đă bỏ từ lâu, sửa lại là xe pháo đi được, việc bảo đảm bí mật đưa lực lượng vào chiến dịch cũng tốt hơn. Ngoài việc ghép thuyền chở pháo, và các loại vũ khí , cộ̣ng quân c̣n đóng nhiều bè chuối, bè nứa để vận chuyển đạn và gạo vào chiến dịch .

    Đoạn đường từ bến Hiên vào Thượng Đức dài 17km, phía VNCH thường đưa thám báo ra phục kích, cộng quân chưa thể sửa ngay được. Giai đoạn đầu, cộng quân phải dùng thuyền, bè , chở pháo đạn xuôi sông Côn rồi dùng sức người đưa pháo lên chiếm lĩnh trận địa.
    Quân Đoàn 2 CSBV và Sư Đoàn 304 hạ quyết tâm đến ngày 20-7 phải làm xong đường để đưa các lực lượng chính yếu vào đánh chiếm Thường Đức.

    THUONG DUC 1970 by manhhai, on Flickr
    THUONG DUC 1970
    "CHIẾN DỊCH XUÂN ĐOÀN TỤ BIỂU HIỆN T̀NH THƯƠNG và CHÍNH NGHĨA," chữ trên băng-rôn trắng gần bờ sông, kêu gọi VC về hồi chánh. Photo by Jim Duffy


    Còn tiếp ...

  9. #9
    tran truong
    Khách

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!

    Sau hơn một tháng vật lộn với con đường, đêm 17 tháng 7/1974, các xe pháo của cộng quân đă bí mật kéo vào tập trung ở thôn Hiên. Các đại pháo 122 mm của Sư Đoàn 304 được bố trí trong các làng bản không có người ở, v́ dân đă bỏ đi từ lâu, nay biến thành rừng.
    Cối 160 mm vào tới vị trí an toàn cách căn cứ Thường Đức 3 km. Bộ đội và dân công lại đưa pháo 85 mm vượt qua một băi śnh lầy lên điểm cao 118 để bắn trực tiếp vào Thường Đức.

    Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 304 đặt tại phía Đông Nam núi Hà Sống, tại đây có thể quan sát rơ bộ binh xung phong lên Thường Đức. Sư Đoàn 304 chia thành ba mũi tiến công vào Thường Đức:
    _ Trung Đoàn 66 với Tiểu Đoàn 7,8 và 9 tấn công vào các vị trí VNCH ở trung tâm chi khu quận lỵ .

    _ Bộ đội địa phương, dân quân du kích tấn công vào các thôn xung quanh quận lỵ.

    _ Trung Đoàn 29 của Sư Đoàn 324 chiếm lĩnh các cao điểm ngăn chận viện binh ở ṿng ngoài dọc theo phía Bắc LTL 4.



    Quận lỵ THƯỜNG ĐỨC, tỉnh QUẢNG NAM 1970 - Cầu Hà Tân qua sông Côn by manhhai, on Flickr



    Vi trí Chi Khu Thường Đức
    Lực lượng bạn :
    - Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân Biên Pḥng, Thiếu Tá Hà Văn Lầu Tiểu Đoàn Trưởng và Đại Úy Trương Đ́nh Sinh TĐP.
    - Hai Đại Đội Địa Phương Quân,
    - Một Đại Đội Cảnh Sát Dă Chiến,
    - Một Trung Đội Viễn Thám
    - 16 Trung Đội Nghĩa Quân

    Sau khi Thường Đức rơi vào tay địch , sư đoàn 3 cử 1 trung đoàn lên giải cứu , nhưng không cách nào tiến tới , vì trân địa pháo của địch , cũng như các chốt chặn kiên cố , được bảo vệ bởi địa hình và pháo địch .
    Nhảy Dù phải vào giải toả . Hai lữ đoàn dùng xa luân chiến , giao tranh ngày đêm không ngừng nghỉ :
    - LĐIND do Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh làm Lữ Đoàn Trưởng gồm 3 Tiểu Đoàn 1,8,9 ND và TĐ1PBND :

    * Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, Thiếu Tá Ngô Tùng Châu làm Tiểu Đoàn Trưởng
    * Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù , Thiếu Tá Nguyễn Quang Vân làm Tiểu Đoàn Trưởng
    * Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù, Thiếu Tá Nguyển Văn Nhỏ làm Tiểu Đoàn Trưởng
    * Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù , Thiếu Tá Nguyễn Bá Trí làm Tiểu Đoàn Trưởng.

    - LĐ3ND do Trung Tá Lê Văn Phát làm Lữ Đoàn Trưởng gồm 3 Tiểu Đoàn 2,3,6 ND và TĐ3PBND :
    * Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù, Thiếu Tá Trần Công Hạnh làm Tiểu Đoàn Trưởng
    * Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù, Thiếu Tá Vơ Thanh Đồng làm Tiểu Đoàn Trưởng
    * Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, Thiếu Tá Nguyển Hửu Thành làm Tiểu Đoàn Trưởng
    * Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù Thiếu Tá Nguyển Văn Thông làm Tiểu Đoàn Trưởng

    Diển Tiến :
    Trước khi tấn công Thường Đức, vào trưa ngày 18.7.1974 Cộng quân tung Trung Đoàn 36 / Sư Đoàn 308 CSBV với sự tăng cường của 2 tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 2 CSBV và Tiểu Đoàn 10 Đặc Công tấn chiếm Nông Sơn, nằm hai bên bờ sông Tỉnh Yên, cách quận lỵ Đại Lộc chỉ 16 cây số do Tiểu Đoàn 78 BĐQ trấn giữ.
    Cộng quân đă tràn ngập căn cứ Nông Sơn. Sư Đoàn 3 VNCH liền đưa Trung Đoàn 2, một pháo đội 155 ly, một pháo đội 175 ly và một chi đoàn của Thiết Đoàn 11 Kỵ Binh đánh chiếm lại, nhưng thất bại và bị thiệt hại nặng. Bộ Tư Lệnh QĐ1 phải điều động Liên Đoàn 12 BĐQ (gồm ba tiểu đoàn 21, 37 và 39) vào thay Trung Đoàn 2 mới tái chiếm được.

    Ngày 29/7/1974 Cộng Quân mở cuộc tấn công vào quận Đức Dục do Tiểu Đoàn 21 BĐQ trấn giữ và bắn hoả tiển vào phi trường Đà Nẳng, cùng lúc cho Trung Đoàn 29 tấn công và pháo kích vào Chi Khu Thường Đức.
    Khởi sự Cộng quân đă pháo kích , triệt hạ các công sự pḥng thủ bên trong Chi Khu và tấn công các vị trí tiền đồn của Tiểu Đoàn 79 BĐQ trấn giữ. Kho đạn của quận lỵ bị bốc cháy .

    Chi Khu Thượng Đức mất liên lạc với ba vị trí tiền đồn của Nghĩa Quân, Điạ Phương Quân và hai vị trí tiền đồn của Biệt Động Quân nhưng pháo binh từ Đồi 52 gần Đại Lộc yểm trợ hữu hiệu, gây nhiều thiệt hại cho quân Cộng quân.

    Sau đó, Trung Đoàn 66 CSBV tấn công trực diện vào hướng chính của Chi Khu, dùng bộc phá mở hàng rào, Tiểu Đoàn 7 CSBV bị một Trung Đội ĐPQ chận đứng với một khẩu đại liên 50 (đại liên 12.7 mm) ở Trúc Hà. Cộng quân dùng pháo 85 ly bắn trực xạ diệt được khẩu đại liên 50 của trung đội ĐPQ, Tiểu Đoàn 7 CSBV tiếp tục khai triển đưa lực lượng vào đột phá nhưng cũng không thành công.

    Hướng Tiểu Đoàn 9 CSBV, mặc dù chiến đấu rất dữ dội, nhưng mở đến hàng rào thứ tư th́ bị lính BĐQ đánh trả mạnh mẽ. Cộng quân bị thương vong quá nhiều phải dừng lại. Phía VNCH phản ứng rất nhanh, Không Quân VNCH từ Đà Nẵng bay lên đă ném bom chính xác vào ngay hàng rào.
    Khi Bắc quân bắn nát từng lô cốt và chuyển sang lô cốt khác, TĐ79 BĐQ lập tức đưa quân bám lấy lô cốt sập, bắn chận không cho quân Bắc Việt tiến lên.

    Sáng sớm hôm sau, ngày 30/7/1974 CSBV pháo dử dội và tấn công vào chi khu Thượng Đức, Chi Khu Trưởng bị thương nặng do đạn pháo , nhưng quân ta vẫn giữ vững được pḥng tuyến, các binh sĩ VNCH tiếp tục đánh bật các đợt tấn công của Bắc quân.
    Phi cơ quan sát của VNCH phát hiện một đoàn quân xa và pháo binh của VC di chuyển trên liên Tỉnh Lộ số 4 phiá Tây Thường Đức, Không quân VNCH từ Đà Nẵng đă được gọi đến oanh kich tiêu diệt được 3 chiến xa và nhiều quân xa địch.







    Đây là trận đánh hiệp đồng binh chủng cường tập rất mạnh của Trung Đoàn 66 CSBV .Sau nhiều đợt mưa pháo ,sau nhiều đợt bộ binh tấn công , nhưng vẫn không thành công trước sự chống trả vô cùng anh dũng, quyết liệt của những người lính VNCH được Không Quân từ Đà Nẳng bay lên yểm trợ đắc lực.

    Sau hai ngày đêm tấn công quyết tử , Trung Đoàn 66 vẫn không “mở cửa” được , trái lại bị thiệt hại nặng nề, phải dừng quân cũng cố đội h́nh. Đêm 30/07 Nguyễn Chánh, Tư lịnh phó Quân Khu 5, phải ra mặt trận để chấn chỉnh đội ngũ và quyết định đưa pháo vào gần hơn để bắn trực xạ.

    Ngày 31/7/1974 sau những đợt pháo tập khủng khiếp, Trung Đoàn 66 CSBV liên tục đưa lực lượng tiến sát ṿng đai pḥng thủ , nhưng Tiểu Đoàn 79 BĐQ cùng ĐPQ/NQ Thường Đức chống trả kiêu hùng , khiến cộng quân bị thương vong rất nhiều mà hàng rào quận lỵ vẫn chưa mở được.

    Thiếu Tá Hà Văn Lầu, Tiểu Đoàn Trưởng 79 BĐQ yêu cầu dội pháo ngay lên hầm chỉ huy của ông. Các công sự pḥng thủ cũng như hệ thống giao thông hào đều sụp đổ dưới những đợt mưa pháo kích của CSBV , nhưng lính mũ nâu vẫn giữ vững căn cứ ; cuối cùng Cộng quân cũng chiếm được bãi đáp trực thăng phiá ngoài , đồng thời bố trí quân trên các cao điểm để chế ngự Tỉnh lộ 4 ở phía Đông Thường Đức chờ VNCH phản công , theo đúng chiến thuật "đánh điểm diệt viện."
    Trước sự thiệt hại nặng nề của Trung Đoàn 66, Sư Đoàn 304 phải ra lệnh cho Trung đoàn ngừng tiến công và chuyển sang pḥng ngự giữ bàn đạp đă chiếm được.



    THƯỜNG ĐỨC 1970 - Trại Lực Lượng Đặc Biệt A-109 by manhhai, on Flickr



    Trong ngày nầy quân cộng sản cũng pháo vào các vị trí của Trung Đoàn 2 BB và Pháo Binh đóng tại Đại Lộc. Sau khi tổn thất nặng ở trận Đức Dục vài tuần trước , Trung Đoàn 2 BB đang được tái bổ sung và huấn luyện ở phía tây Đại Lộc, một pháo đội 175 ly được chuyển ra quận Hiếu Đức để yểm trợ cho Thường Đức.
    Sau đợt tấn công đầu tiên của quân CS, Trung Tá Quận Trưởng Nguyễn Quốc Hùng , bị thương găy chân nhưng vẫn báo cáo về Đà Nẵng là giữ được Thường Đức và yêu cầu tăng viện.
    Bộ Chỉ Huy Chi Khu Thường Đức ráo riết huy động binh lính củng cố các công sự pḥng thủ. Phát hiện lực lượng đang bao vây Thường Đức là bộ đội chủ lực CSBV vừa di chuyển từ Quảng Trị vào, Không Quân VNCH đă được gọi tới oanh kích dữ dội vào đội h́nh vây hãm của địch quân.

    Tại chi khu Thường Đức, tổn thất của Biệt Động Quân và các đơn vị trú pḥng ngày càng gia tăng trong khi việc tải thương không thực hiện được do hỏa lực pḥng không ác liệt của cộng quân. Tướng Trưởng điều động một Chi đoàn chiến xa M-48 từ Tân Mỹ phía Bắc Hải Vân vào Đà Nẵng làm trừ bị cho Tướng Hinh khi t́nh h́nh trở nên nghiêm trọng.

    Ngày 1/8/1974 để giải toả áp lực địch, Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lịnh Sư Đoàn 3 BB đă thành lập một Chiến đoàn đặc nhiệm gồm Trung Đoàn 2BB và Thiết Đoàn 11 Kỵ Binh từ Đại Lộc đi dọc Tỉnh lộ 4 tiến về Thượng Đức.

    Ngày 3/8/1974, Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 2BB bắt được một tù binh Bắc Việt ở phía Đông Thường Đức, theo cung từ cuả tù binh nầy cho biết Trung đoàn 29 CSBV đă chiếm giữ các cao điểm 1235 và 1062 để chế ngự tỉnh lộ 4 giữa Thường Đức và Đồi 52 ở phía Tây Đại Lộc, con đường tiếp liệu và tiếp việ̣n cho Thường Đức , trong khi Trung Đoàn 66 của Sư Đoàn 304 được tăng cường lực lượng chuẩn bị dứt điểm Thượng Đức.

    Bắt đầu đợt tấn công mới. Pháo binh CS, đă hạ ṇng bắn tập trung diệt từng lô cốt một của căn cứ. Không Quân VNCH đă gởi phi pháo đến yểm trợ và trọng pháo tác xạ dữ dội vào các vị trí quân CS.
    Nhưng rút được kinh nghiệm của đợt tấn công trước, đội h́nh bộ binh cộng quân áp sát mục tiêu hơn và có công sự chu đáo nên tránh được thương vong nặng như lần trước. Đạn pháo bắn thẳng phá tung những lô cốt c̣n lại, sau đó cối 160 mm , rơi như mưa vào khu trung tâm rồi pháo chuyển lần hướng , cho bộ đội tiến tới.

    Mặc dù được tăng cường Tiểu Đoàn 1/57, Chiến đoàn của Trung Đoàn 2 tiến rất chậm trước sự kháng cự của Trung Đoàn 29 CSBV và hỏa lực pháo binh hùng hậu của Cộng quân dọc theo các cao điểm 1235 và 1062 cạnh LTL4.
    Trong khi tại Thường Đức, t́nh h́nh trở nên nguy kịch khi lính Biệt Động Quân sắp cạn kiệt đạn dược cũng như lương thực. Không Quân VNCH cố gắng thả dù tiếp tế khẩn cấp vào ngày 5 tháng 8 nhưng do hỏa lực pḥng không ác liệt của Bắc Việt, tám kiện hàng tiếp tế đều rơi ngoài chu vi pḥng thủ.
    Một oanh tạc cơ A-37 bị bắn rớt khi định tiêu hủy các kiện hàng tiếp tế không may rơi vào khu vực do quân CSBV kiểm soát.


    Lo ngại về mối đe dọa nguy hiểm lớn cho Đà Nẵng từ hướng Tây của Đại Lộc, Tướng Trưởng khẩn cầu trực tiếp với Đại Tướng Cao Văn Viên cho Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù từ Sàig̣n ra tăng viện đồng thời ra lệnh cho Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù đang pḥng thủ phía tây Huế chuẩn bị di chuyển vào Quảng Nam, nhưng các hoạt động này đă không c̣n kịp để cứu văn t́nh thế cho Thượng Đức.

    Mặc dầu liên tục pháo vào Thường Đức từ ngày 29 tháng 7, cường độ pháo trong đêm 6 tháng 8 gia tăng với trên 1,200 đạn pháo. Ở hướng chính của căn cứ, Cộng quân dùng bộc phá liên tục để mở ngõ , nhưng binh sĩ VNCH trong hầm ngầm chui ra các lô cốt đă bị sập, bắn trả quyết liệt. Đến 7 giờ sáng ngày 6 tháng 8/1974, Địch quân vẫn chưa vào được quận lỵ.

    Suốt một ngày và đêm 6 tháng 8/1974 chiến đấu liên tục, Tiểu Đoàn 9 CSBV đă mở được cửa đột phá và đánh chiếm được một số lô cốt , tuyến chiến hào thứ nhất.
    Nhưng khi tiến vào trung tâm, các mũi công của Cộng quân bị khựng lại trước hệ thống hỏa lực dày đặc của Binh Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa. Tiểu Đoàn 79 BĐQ cùng lính Địa Phương Quân/Nghĩa Quân ở Thường Đức quyết không đầu hàng nên đă chiến đấu vô cùng quyết liệt, đánh trả các cuộc xung phong của CSBV đến người lính cuối cùng và đến viên đạn cuối cùng.

    Trên trời, máy bay A-37 , liên tục quần đảo bắn phá và bổ nhào trút bom , đánh ngay vào khu vực hàng rào căn cứ, giúp quân đồn trú ở Thường Đức giữ vững khu vực c̣n lại. Những người lính mũ nâu anh hùng của Tiểu Đoàn 79 BĐQ tiếp tục đẩy lui một đợt tấn công nữa vào đêm này.



    Vietnam war - by Wally Beddoe - Không ảnh Quận Thường Đức, tỉnh Quảng Nam by manhhai, on Flickr
    Góc trái phía trên là hậu cứ tiểu đoàn 79BĐBP - Trại LLĐB cũ



    Khoảng 1 giờ sáng ngày 7-8, cộng quân chuyển hướng tiến công của Tiểu Đoàn 9 thành hướng chủ yếu. Đến 5 giờ 30 phút ngày 7 tháng 8 năm 1974, sau khi củng cố lực lượng và bố trí lại đội h́nh, Trung Đoàn 66 mở đợt tấn công cuối cùng đánh chiếm quận lỵ Thượng Đức.
    Hỏa lực của pháo binh CS bắn chi viện cho Tiểu Đoàn 8 tiếp tục mở cửa. Bộc phá nổ cuốn theo lớp hàng rào cuối cùng. Những người lính BĐQ, ĐPQ và NQ c̣n lại rút vào lô cốt ngầm , bắn ra như mưa bão .

    Tiểu Đoàn 9 chiếm được khu Địa Phương Quân tiến xuống khu cảnh sát, quận lỵ. Tiểu Đoàn 7 từ hướng tây bắc đă sang hướng Tiểu Đoàn 9, đánh vào khu Biệt Động Quân. Lúc 8 giờ 30 phút ngày 7 tháng 8/1974, Sư Đoàn 304 đă tràn ngập cứ điểm Thượng Đức. Tiểu đoàn trưởng BĐQ báo cáo mở đường máu rút lui trước khi liên lạc bị mất vào trưa ngày 7 tháng 8.




    Trận Thượng Đức năm 1974 trong chiến tranh Việt Nam - Battle of Thuong Duc 1974 in Viet Nam war . Các binh sĩ tiểu đoàn 79 BĐQ chờ tản thương



    Thường Đức trở thành quận lỵ đầu tiên của Việt Nam Cộng Ḥa rơi vào tay quân Bắc Việt sau ngày ngừng bắn và một cơ hội cho Hà Nội đánh giá phản ứng và khả năng yểm trợ VNCH của Hoa Kỳ khi chiến sự bắt đầu leo thang.

    Do chủ quan về khả năng chiến đấu của chủ lực cơ động cùng pháo binh hùng hậu yểm trợ, Trung Đoàn 66 của Sư Đoàn 304 đă phải trả một giá đắt, thiệt hại nặng nề với 75% quân số thương vong .
    Tiểu Đoàn 79 BĐQ cùng các người lính ĐPQ/NQ và CSDC của chi khu Thường Đức kiêu hùng , cộng thêm yểm trợ tích cực và hữu hiệu của Không Quân từ phi trường Đà Nẳng đă chận đứng và đánh bật hàng loạt tấn công kéo dài suốt 9 ngày đêm.

    Các người lính VNCH đă không chịu đầu hàng mà chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng, cho đến giọt máu cuối cùng. Nhưng sự hy sinh anh dũng này đă đi vào quên lăng do địa thế hẻo lánh, không được nhiều người biết đến. Và bị nhiều biến cố khác xảy ra liên tục làm chiến công Thường Đức phai nhạt .

    Sư Đoàn Nhảy Dù tham chiến :

    Ngày 8/8/1974, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù cùng 3 Tiểu Đoàn trực thuộc 1, 8, & 9ND được khẩn cấp không vận đến vùng hành quân Đại Lộc bằng phi cơ C130, một ngày sau khi Thường Đức thất thủ, trong khi các thiết bị nặng như đại bác 105-ly và xe cộ , được đưa bằng tàu của Hải Quân.
    Sau khi nghỉ đêm tại Quận Hiếu Đức, sáng hôm sau Lữ Đoàn I ND di chuyển bằng GMC hướng về quận Đại Lộc, qua Ái Nghĩa, cầu Ch́m. Đoàn xe dừng tại đây, mọi người ba lô súng đạn gọn ghẽ, mở đội h́nh từ từ tiến vào vùng hành quân.

    Ngày 11/8/1974 Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù cùng 3 tiểu đoàn 2, 3 & 6 , di chuyển bằng phi cơ từ Phú Bài xuống phi trường Đà Nẵng, trách nhiệm án ngữ ở quận Hiếu Đức , sau khi bàn giao khu vực trách nhiệm cho Liên Đoàn 15 Biệt Động Quân / Quân Khu 1.

    Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù và Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng (Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù) cũng di chuyển đến Đà Nẵng đặt bản doanh tại phi trường Non Nước ở phía Nam Đà Nẵng.
    Trên vùng đồi núi chập chùng nằm phía bắc thung lũng sông Vu Gia, Liên Tỉnh Lộ 4 gồ ghề và ngoẳn nghèo nối liền Thường Đức với khu vực đồng bằng duyên hải, 2 bên trái phải là 2 dăy núi cao chót vót trùng điệp chạy chụm lại, 2 dăy núi gặp nhau tại một khe núi rất hẹp, có tên là Ba khe, với ngọn đồi 52 trọc đỏ ối nằm ngay yết hầu con đường độc đạo chạy từ Đại Lộc vào Thường Đức, sâu nữa là vùng Bến Giàng rồi Khâm Đức.

    Biết Quân Lực VNCH sẽ t́m cách chiếm lại Thường Đức . Địch quân đă có ư đồ từ lâu cho Trung đoàn 29 chiếm giữ những ngọn đồi ở phía Nam của dăy núi. Dọc hai bên sườn đồi, hầm hố được xây dựng rất kiên cố. Họ cưa cột nhà của dân chúng đem gác thành khung chữ A, tháo tôn trên mái nhà đặt lên mặt, rồi tấn đất cát chặt lên trên.
    Từng chiếc hầm kiên cố, nếu một quả đạn 105 ly có nổ trên nắp hầm cũng chả ăn thua ǵ, địch vẫn ngồi bên dưới ung dung kéo thuốc lào.



    Còn tiếp ....

  10. #10
    tran truong
    Khách

    Thường Đức : mồ chôn nước Việt !!

    Địch đă xây dựng hệ thống pḥng thủ này từ lâu lắm rồi. Họ đă khống chế toàn vùng từ khuya, nhưng vẫn để cho con đường độc đạo này thông thương qua lại, dân chúng vẫn ra vào, quân ta vẫn đi lại lui tới tưởng như vô sự. Nhưng nếu thử tung một toán trinh sát lấn sâu sang bên lộ thử xem, địch quân đang nằm trong đó. Cho nên khi địch lật úp bàn tay th́ toàn bộ lực lượng Sư đoàn 3BB và Biệt Động Quân tan tác trong nháy mắt.
    Vị sĩ quan Đại đội trưởng ĐĐ/BĐQ trấn thủ đồi 52 khi chạy thoát về gặp Nhảy Dù, chỉ c̣n có một người lính mang máy PRC-25 đi theo, ông ta vẫn chưa kịp hoàn hồn. Cách Liên Tỉnh Lộ 4 khoảng 6 km về phía Bắc, đồi 1235 nằm ở phía đông Thường Đức là đỉnh cao nhất, trong khi Đồi 1062 cách đó khoảng 2 km về phía Nam có vị trí chiến lược quan trọng có thể quan sát khống chế toàn bộ khu vực Liên Tỉnh Lộ 4 và thung lũng sông Vu Gia từ Thường Đức kéo dài cho đến Đại Lộc.

    Theo con đường độc đạo ngoằn ngoèo, những toán quân của Sư Đoàn 3 Bộ Binh, của Biệt Động Quân đang nhớn nhác di tản từ Thường Đức ra. Nương theo đoàn binh lính là những dân lành, gồng gánh bồng bế nhau t́m đường thoát hiểm.
    Những loạt đại bác 130 ly của địch từ núi sâu bắn rải theo đoàn người dọc trên mặt lộ. Mỗi khi một cụm khói bốc lên, đoàn người lại ngă xô xuống. Khi cụm khói tan đi, có dáng người loạng choạng đứng lên lê lết bước, có dáng người vẫn nằm yên một chỗ phơi thây trên mặt đường.

    Trung Đoàn 29 CSBV đă đóng chốt trên những ngọn đồi nằm sát Liên Tỉnh Lộ 4 và đă thiết lập một đài quan sát pháo binh ở trên đỉnh 1062 để có thể pháo chính xác vào các vị trí của Việt Nam Cộng Ḥa trong khu vực Đại Lộc và kiểm soát tất cả mọi chuyển động trên Tỉnh lộ 4.
    Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù được giao cho nhiệm vụ chiếm lại đồi 1062 cùng các ngọn đồi lân cận tiếp giáp với Liên Tỉnh Lộ 4 trong khi Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù bảo vệ Đà Nẵng ở hướng Tây qua quận Hiếu Đức.
    Các Tiểu Đoàn Nhảy Dù thay phiên nhổ từng chốt Cộng quân bám chặt trong những hốc núi trong suốt một tháng trời, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù tiến dần lên Đồi 1062.
    Sau khi các cánh quân của Nhảy Dù đă vào tuyến xuất phát. Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lịnh SĐND cho các đơn vị tiến dọc theo đường đỉnh dăy núi Sơn Gà rồi trực chỉ Thường Đức. Nỗ lực chính là Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù. Trong khi đó Lữ đoàn 3 lục soát xung quanh thung lũng Đại Lộc, và làm thành phần trừ bị sẵn sàng tiếp ứng.



    Thuong Duc 1970 - Trại LLĐB A-109 by manhhai, on Flickr
    Từ trại LLĐB cũ nhìn xuống sông Vu Gia



    Giai đoạn I của cuộc hành quân:

    Ngày 18/8/1974 Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù bắt đầu xung trận, tuyến xuất phát khởi từ làng Hà Nha. Hà Nha là một dải đồng bằng hẹp, bên trái là con đường độc đạo dẫn vào Thường Đức, bên phải giáp với chân của rặng Sơn Ya ( c̣n gọi là Sơn Gà) cao ngất trời xanh.
    Các đơn vị Nhảy Dù chia thành từng toán nhỏ đeo bám trên các sườn núi để diệt các chốt Cộng Sản bằng lựu đạn, vừa vượt tuyến xuất phát khoảng 1 cây số, th́ chạm mạnh với đich quân, họ phải giành giựt từng ngôi nhà, từng gốc cây trên con đường độc đạo dẫn vào quận Thường Đức.
    Đoạn đường 5 cây số vô cùng gian nan hiểm trở, với nhiều bẫy và pháo tập gài sẵn của địch. Đoàn quân Nhảy Dù súng hờm trên tay, cẩn trọng trải rộng đội h́nh dấn bước vào ḷ lửa đang sôi sục Đây quả thật là một thử thách, đo lường sự can đảm, kinh nghiệm và kỹ thuật chiến đấu của các chiến sĩ Nhảy Dù , trước khi họ thực sự tham dự một trận đánh để đời quanh ngọn đồi đẫm máu 1062.

    Về phía CSBV,Trung Đoàn 29 bị tổn thất quá nặng phải lùi dần về sau , nên Quân Khu 5 Cộng Sản phải điều động Trung Đoàn 31 của Sư Đoàn 2 CSBV vào thay cho Trung Đoàn 66 đang giữ Thường Đức để đơn vị này ra tăng cường cho Trung Đoàn 29 hầu làm chậm lại bước tiến của Nhảy Dù. Cộng quân cũng đă đưa Trung Đoàn 24 của Sư Đoàn 304 từ Quảng Trị vào chiến trường vào đầu tháng 9/1974 tăng cường cho mặt trận.
    Sáng ngày 18/8, ba Tiểu Đoàn 1ND, 8ND và 9ND vượt tuyến xuất phát, BTL/SĐ Nhảy Dù cũng đă tung các đơn vị Đại Đội 19, 21 và 27 Đa-Năng hoạt động để đánh lạc hướng t́nh báo địch.( 12 Đại Đội Đa Năng là những Đại Đội thiện chiến ưu tú của SĐND, được tổ chức ngoài bảng cấp số. Quân số rút ra từ các đơn vị thông thuộc và được huấn luyện khả năng tác chiến như một Đại Đội độc lập).

    Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh, LĐT/LĐIND ra lệnh Tiểu Đoàn 8 tiến theo Tỉnh Lộ 4, dọc bờ sông Vu-Già bảo vệ cánh trái trục tiến quân tiến chiếm làng Hà Nha 1 và Hà Nha 2 ở phía Đông đồn Địa Phương Quân cũ (trên cao điểm 52). Thiếu Tá Nguyễn Quang Vân, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 8 chuyển lệnh cho Đ/U Phạm Văn Hiệu dàn Đại Đội 83 xung phong thần tốc tấn công thẳng vào làng Hà Nha để giải tỏa đồn Địa Phương Quân.

    Khi Trung đội 1/83, Trung Đội Trưởng là Thiếu Úy Hoàng Văn Tiến vào gần tới bờ làng th́ quân CS Bắc Việt đồng loạt khai hỏa. Các binh sĩ Dù bắn trả mănh liệt. Trung Đội 2 do Thiếu Úy Nghiêm Sỉ Thành chỉ huy nhào vô cứu bồ vừa bắn vừa hô xung phong vang rền làm địch hoảng hốt bỏ chạy hết. Nhờ đó tổ khinh binh của Tiến nhảy vào chiếm được bờ làng, Đại Úy Hiệu bảo Thành ngưng tác xạ, và Thiếu Úy Tiến dẫn toàn bộ Trung Đội vào mục tiêu và bung rộng về phía Tây bờ làng.

    Sau 40 phút giao tranh, Đại Đội 83 hoàn toàn làm chủ làng Hà Nha. Đ/U Hiệu cho bố trí, binh sĩ canh gác cẩn mật, đào hầm hố củng cố vị trí chiến đấu. Kết quả tịch thu vài súng cá nhân v́ quân số địch cỡ một trung đội, Cộng quân chỉ chống trả yếu v́ thấy các binh sĩ Dù đánh giặc hăng hái và bị nhiều mặt tấn công.
    Địch tức giận thua trận nên dùng đại bác không giật từ các cao điểm bên kia bờ sông bắn trực xạ vào làng Hà Nha. Xạ trường quan sát của địch thật là chính xác.

    Trong khi binh sĩ Đại Đội 83 đào hầm hố, gài ḿn Claymore, ḿn chiếu sáng, đặt lính gác giặc, Đ/U Phạm Văn Hiệu điều chỉnh hỏa tập cận pḥng với sĩ quan tiền sát, anh cận vệ dọn cơm cho Hiệu ăn ở cái bàn nhỏ trước một ngôi nhà tranh. Hiệu thấy trời sáng trăng, sợ địch ở đỉnh cao bên kia sông trông thấy, nên bảo dọn vào nhà.
    Vừa ăn được nửa chén cơm th́ nghe "đùng" một tiếng, cái bàn gỗ trước nhà bị nguyên một trái SKZ-57 ly không giật. Hiệu giật ḿnh! Nếu sớm chừng 5 phút th́ nguyên tổ chỉ huy của Đại Đội 83 đă tan tành.

    Sau đó địch khai hỏa tứ phía, sơn pháo trực xạ từ các đỉnh núi bên kia sông, hỏa tiễn 122 ly, đại bác 130 ly liên tục pháo kích vào làng Hà Nha. Dứt tiếng pháo th́ cả tiểu đoàn địch đồng loạt tấn công biển người vào Đại đội 83.
    Nhờ đă chuẩn bị hố chiến đấu vững chắc, các binh sĩ Nhảy Dù đă bắn trả mănh liệt. Hiệu cho súng cối 60 ly bắn yểm trợ sơ khởi, sĩ quan tiền sát gọi bắn các hỏa tập cận pḥng. Thiếu Úy Hoàng Văn Tiến và Thiếu Úy Nghiêm Sĩ Thành ra lệnh bấm ḿn claymore, hàng loạt địch ngă gục, súng đại liên M-60 và súng cá nhân AR-15 bắn tới tấp. Hết lớp này tới lớp khác, quân CS Bắc Việt cứ nhào tới định tràn ngập mục tiêu làng Hà Nha.

    Tiến và Thành thật can đảm, hai sĩ quan nầy ra ngay tuyến ngoài đốc thúc binh sĩ chống cự. Nhưng những loạt đạn vô t́nh đă kết liễu đời hai người hùng trai trẻ của Đại Đội 83. Đây là hai sĩ quan đầu tiên của Tiểu đoàn 8 ND ngă xuống trên mặt trận Thường Đức, mở đường cho năm sĩ quan Trung Đội Trưởng sau đó theo chân Tiến , Thành ra đi không hẹn ngày về.
    Đ/U Hiệu điều động Trung Đội 3 của Thiếu Úy Lê Mậu Sức qua trám lỗ hổng, nhưng Sức cũng bị thương nặng (phải di tản). Chỉ c̣n Chuẩn úy Thạch Huôn và Đại Úy Hiệu đốc thúc các binh sĩ Dù cố thủ. Cầm cự đến trời sáng th́ địch rút lui để lại rất nhiều vũ khí, xác địch và một số tù binh.

    Trong lúc đó, Tiểu Đoàn 1 do Thiếu Tá Ngô Tùng Châu chỉ huy, đi cánh phải của Lữ Đoàn, tiến chiếm mục tiêu đầu là cao điểm Đông Lâm, rồi theo đường đỉnh dăy Sơn Ya tiến về hướng Tây tới 1062. Đây là một đồn bót cũ, địa thế xung quanh trống trải, dọc dài xuống tận chân núi. Các đại đội tiến quân dưới cơn mưa pháo của quân CS Bắc Việt, họ phải xung phong thần tốc bám sát và đánh cận chiến , để địch không sử dụng được các băi pháo mà họ đă chuẩn bị sẵn.
    Thiếu Tá Nguyễn Văn Quư (Tiểu Đoàn Phó) chỉ huy 2 Đại Đội thanh toán các tổ cảm tử quân Việt Cộng đang đóng chốt trên những điểm cao, những hốc đá cheo leo dọc theo dăy Sơn Gà. Một trở lực lớn là quá nhiều ḿn bẫy (thuộc loại "ḿn hơi" làm bằng nhựa nhỏ cỡ hộp thịt ba lát). Loại ḿn này có thể hủy diệt 2 chân nếu dẫm phải. Tại đây Đại Đội 11 bị tổn thất 2 chiến sĩ v́ ḿn hơi này.


    Hôm sau, Lữ Đoàn phải tăng phái toán rà ḿn của Đại Đội 1 Công Binh Dù để mở đường. Mục tiêu Đông Lâm được chiếm lĩnh dễ dàng v́ không có lực lượng pḥng ngự của địch. Tuy nhiên các chiến sĩ Dù vẫn gặp khó khăn trước những tấn công lẻ tẻ bằng súng đại bác không giật từ những hốc đá. Một toán tiền quân của Đại Đội 11 đă diệt được toán tiền sát viên pháo binh của địch gồm 2 người đă chết do cụt chân v́ ḿn hơi và một người c̣n sống với đầy đủ máy truyền tin, bản đồ, và địa bàn.
    Từ đó vị trí các lực lượng bạn không c̣n bị pháo kích chính xác nữa. Sau khi chiếm được Đông Lâm, hai Đại Đội 11 và 14 trực chỉ tới mục tiêu B.

    Tiểu Đoàn 9 ND giữ trục chính, đi dọc theo cánh đồng rộng phía Bắc sông Vu Gia, chiếm lĩnh dăy đồi thấp có rừng chồi che phủ. Từ dăy đồi thấp phía Nam dăy Sơn Gà, Trung Úy Nhơn, Đại Đội Trưởng Đại Đội 92, Trung Úy Thăng, Đại Đội Trưởng Đại Đội 94, Đại Úy Trọng, Đại Đội Trưởng Đại Đội 91, cùng Đại Đội 93 của Đại Úy Tường phải băng qua một cánh rừng tràm để đến đồi 383 rồi mới tiến sát tới đỉnh 1062 .
    Các chiến sĩ của Tiểu Đoàn 9 không sao qua được b́a rừng dưới chân núi Đông Lâm, v́ hỏa lực từ cứ điểm B1 trên sườn núi chế ngự. Cứ điểm này vô cùng kiên cố, vừa ở cao, vừa được che chở bởi các tảng đá lớn chồng lên nhau. Tiểu Đoàn 9 đă dùng rất nhiều phi pháo nhưng vẫn không tiêu diệt được. Đại Úy Tửu bị thương chân nên Đại Úy Đinh Văn Tường (Tức Tường Ruby) từ Đại Đội 90 ra thay thế.

    Từ đỉnh Đông Lâm, Tiểu Đoàn 1 nhờ lợi thế hơn 2 cánh quân bạn, nên tiến quân tốc độ cũng nhanh hơn. Do đó Tiểu Đoàn 1 từ cao điểm đă bảo vệ hữu hiệu sườn phải cho Lữ Đoàn. Qua sự phối hợp hàng ngang với Tiểu Đoàn 9, Tiểu Đoàn 1 đă cho lệnh Đại Đội 11 đánh bọc hậu phía sau xuống cứ điểm B1, nơi địch đang cầm chân tiền quân của Tiểu Đoàn 9.

    Xuyên qua thung lũng, Đại Úy Thể dẫn quân tấn công vào phía sau B1 một cách bất ngờ ở ngay sau lưng địch. Đối diện với Cộng quân là Tiểu Đoàn 9 Dù , đang bị cầm chân ở tại dốc đá. Nhờ lợi thế cao, Đại Đội 11 để lại một trung đội ở B để đóng chốt và giữ ba lô cho các trung đội khác. Thành phần c̣n lại tập trung hỏa lực, xung phong đánh thần tốc và tràn ngập cứ điểm B1.
    Quân CS Bắc Việt hoảng hốt xả chốt chạy tán loạn, chỉ trong ṿng 2 tiếng đồng hồ, Đại Đội 11 đă kiểm soát hoàn toàn các đỉnh đá ở phía Nam của B. Chốt B1 được giải tỏa dễ dàng với chiến lợi phẩm là 1 súng cối 61 ly, 1 thượng liên, 7 súng AK, 4 khẩu B-40, 1 điện thoại, một số đạn 72 ly nhưng không t́m được súng. Sau này Tiểu Đoàn 11 của Trung Tá Lê Văn Mễ dùng nơi đây làm chỗ đóng quân tạm thời cho Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn.

    Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù tấn công 1062 :

    Trời sẩm tối, chờ bắt tay với Tiểu Đoàn 9 không được, Đại Đội 11 phải tạm đóng quân đêm tại B và B1. Đêm đó, đặc công địch ḅ trở lại đột kích B1 bằng B-40 rồi bỏ chạy. Chuẩn Úy Tuyến Trung Đội Trưởng hy sinh. Sáng hôm sau 20/8/1974, địch pháo kích mãnh liệt bằng đạn 122 ly vào B và B1 nhưng không chính xác nên không gây tổn thất. Khoảng 11 giờ trưa, Thiếu Tá Quư và Đại Đội 14 bắt tay với Tiểu Đoàn 9 , cùng xuất hiện và đóng chốt tại B2.

    Kế đó, TĐ1ND tiếp tục tiến về cứ điểm C, một tiền đồn mạnh mẽ của quân CS Bắc Việt. Đại Đội 14 đi đầu và chạm địch. Thiếu Tá Nguyễn Văn Quư đi với cánh quân bọc hậu là Đại Đội 11 của Đại Úy Thể. Một phần v́ địa thế hiểm trở, thêm vào đó yếu tố bất ngờ không c̣n nữa. Địch đă chuẩn bị sẵn sàng với hầm hố kiên cố để đón Đại Đội 14. Lại thêm rừng cây cổ thụ cao lớn, ta sử dụng pháo binh rất khó v́ sợ đạn chạm ngọn cây nổ từ cao gây thương tích cho quân bạn.

    Suốt 3 ngày cầm cự, Đại Đội 14 không thể tiến lên được đành phải án binh tại chỗ. Thiếu Tá Quư đẩy Đại Đội 11 thọc sâu về phía Tây rồi từ đó tiến đánh C bằng hướng Nam. Quân Bắc Việt trên cao, quân ta dưới thấp, nhưng nhờ hốc đá nên Đại Đội 11 bám sát tiến lần vào cách mục tiêu C khoảng 200 thước, và phải dừng lại v́ sợ lọt vào tầm lựu đạn. Tiểu Đoàn 1 sử dụng đại bác 57 ly và súng cối 81 ly để có thể bắn chính xác vào mục tiêu. Thiếu Tá Quư cho tập trung 5 khẩu đại liên M-60 chờ cho Tiểu Đoàn bắn hơi cay để địch chạy ra khỏi hầm trú ẩn, th́ tập trung hỏa lực mạnh mẽ bắn phủ đầu địch.

    Đại Đội 14 bất thần xuyên nhanh qua yên ngựa để chiếm C, từng tổ 3 người ḅ dưới hỏa lực tiến vào mục tiêu dùng lựu đạn ném vào pḥng tuyến địch, rồi lập tức xung phong chiếm hầm hố địch làm đầu cầu. Kế đó họ bung rộng ra đánh chiếm từng hầm một. Thừa thắng Thiếu Tá Quư đẩy Đại Đội 14 qua thẳng 1062, nhưng mọi dự tính không xảy ra như mong muốn, và cũng từ đó Đại Đội 11 và Đại Đội 14 phải trả giá rất đắt.

    Sau khi địch tháo chạy v́ sự tấn công quá dũng mănh của các chiến sĩ thiện chiến Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, hai Đại Đội 11 và 14 chia nhau bố trí lập vị trí pḥng thủ sơ khởi để ngăn ngừa địch phản công. Một trận mưa cối sơn pháo 120 ly của Bắc quân bủa xuống, tiếng nổ vang khắp rừng già, khói phủ mù mịt trận địa. Nhờ bung rộng và hầm hố kiên cố của địch để lại, nên binh sĩ ta tránh được thiệt hại nặng nề bởi trận mưa pháo tập trung và chính xác này.

    Càng tiến gần về 1062, địa thế càng hiểm trở, rừng rậm hơn, cây to nhiều hơn, sườn càng dốc đứng hơn.
    Từ cứ điểm C nh́n lên mục tiêu, ở cao hơn 2 ṿng cao độ (theo bản đồ quân sự tương đương 20 thước). Cách xa chừng 150 thước, ta thấy rơ địch đang lố nhố chạy tới chạy lui tăng cường pḥng thủ. Thiếu Tá Quư gọi xin pháo binh bắn "cắm chỉ" lên mục tiêu đó ngày và đêm. Đây được gọi là mục tiêu D, một trong 5 đỉnh của 1062.
    Giữa C và D là một thung lũng (eo yên ngựa) sâu khoảng hơn 20 thước. Như vậy quân ta nếu tấn công mục tiêu D, ít nhất phải vượt lên một dốc đứng cao tới hơn 40 thước. Từ D, địch thỉnh thoảng bắn trực xạ bằng đại bác và thượng liên xuống mục tiêu C, nhưng không gây thiệt hại đáng kể nào cho quân bạn.

    Lúc nầy Tiểu Đoàn 8 và 9 c̣n cách quá xa 1062, chỉ có Tiểu Đoàn 1 là gần và đang ở cao địa, không ai bảo vệ cạnh sườn để tiếp ứng kịp thời. Địa thế địch hiểm trở dễ thủ khó công. Địch chuẩn bị chiến trường đợi ta với những trận địa pháo và hầm hố kiên cố.

    Đỉnh 1062, có 5 đỉnh nhỏ. Năm đỉnh nhỏ này nằm theo thế liên hoàn, yểm trợ cho nhau bằng hỏa lực dễ dàng. Diện tích rộng khoảng 2 đại đội mới bao phủ nổi. Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù quyết định đột kích đêm và lợi dụng gió Đông làm một trận hỏa công. Lực lượng xung kích gồm 2 Trung Đội với Thiếu Úy Lê Văn Bá chỉ huy một Trung Đội thuộc Đại Đội 14 và Thiếu Úy Trần Thanh Quang chỉ huy một Trung Đội của Đại Đội 11.
    Đây là 2 Sĩ Quan xuất sắc đă từng lập nhiều thành tích chiến thắng cho Tiểu Đoàn. Đại Đội 11 làm thành phần trừ bị sẵn sàng tiếp ứng kịp thời cho lực lượng tấn công. Tần số liên lạc thuộc nội bộ của Đại Đội 11 do Thiếu Tá Quư trực tiếp chỉ huy. Hỏa lực yểm trợ gồm súng cối 60 ly và 81 ly đă được chuẩn bị yếu tố tác xạ sẵn sàng.

    Sáu giờ chiều, ánh sáng mặt trời trong rừng già đă tắt hẳn. Hai Trung Đội bắt đầu xuất phát. Thiếu Úy Quang dẫn trung đội đi bên trái, trung đội Thiếu Úy Bá bên phải. Họ giữ đội h́nh đi song song và cách nhau khoảng từ 30 đến 40 thước. Pháo Binh 105 ly của ta vẫn đều đều bắn cắm chỉ trên mục tiêu để địch lo trốn trong hầm, không ngóc đầu lên quan sát quân ta đang di chuyển. Một giờ, hai giờ, rồi 3 giờ trôi qua. T́nh h́nh vẫn yên tĩnh, một thứ im lặng ngộp thở, v́ mọi người đều lo cho số phận của đồng đội của ḿnh. Hệ thống liên lạc vẫn tốt, Thiếu Úy Quang th́ thầm trong máy:

    - Rất gần địch, tiếng chửi thề của chúng nó nghe rơ mồn một, đích thân.

    - Được! Cẩn thận nghe Quang! Thiếu Tá Quư trả lời nho nhỏ trong máy với giọng Huế chay.

    Bỗng nghe một loạt đạn nổ bên phải rồi im lặng. Pháo Binh ngưng tác xạ, hai cánh quân vừa bắn vừa hô xung phong vang rền cả núi rừng hoang vu. Lửa bắt đầu cháy trên mục tiêu, nhiều nhất là bên cánh Thiếu Úy Quang. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù xin Pháo Binh chuyển tác xạ về hướng Tây để bắn chận quân địch. Tiếng của Quang vang trong máy:

    - Chiếm được đỉnh rồi đích thân! Hầm quá nhiều và kiên cố, làm toàn bằng cây to. Mấy đứa con đang bung rộng chờ cánh quân bên phải!

    Trời tối đen như mực, vẫn chưa liên lạc được Thiếu Úy Bá. Mười lăm phút sau, Thiếu Tá Quư đứng dưới mục tiêu C thấy trên D có từng cụm lửa lóe lên chen lẫn trận địa pháo bằng súng cối sơn pháo 120 ly của địch.
    Tiếng của Quang vang lên trong máy:

    - Chúng pháo dữ quá đích thân, nhưng hầm hố kiên cố, không sao!

    Rồi hàng loạt tiếng đạn AK-47 kêu rít, tiếng Quang hét trong máy:

    - Chúng nó phản công, đông lắm! Cho Pháo Binh bắn trên đầu tôi, tụi nó đông như kiến! Mau lên! Pháo! Pháo mau lên!

    Ban đêm trời tối, Đại Đội 11 trừ bị cho Quang và Bá đang ở lưng đồi yên ngựa. Trung đội Thiếu Úy Bá th́ không liên lạc được ngay từ loạt đạn đầu, sau này mới biết được Bá và 4 binh sĩ đă hy sinh v́ ḿn claymore (Việt Cộng lấy của Sư Đoàn 3 Bộ Binh) ngay từ lúc đó.



    Còn tiếp ....

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 120
    Last Post: 13-01-2017, 04:13 AM
  2. Replies: 7
    Last Post: 22-04-2013, 07:18 AM
  3. Đề nghị BĐH giải thích thắc mắc
    By nguoibatcao in forum Hộp Thư Liên Lạc
    Replies: 3
    Last Post: 08-04-2011, 02:18 AM
  4. MỪNG TUỔI BÀ NGHỊ.
    By NguyễnQuân in forum Giao Lưu - Giải Trí
    Replies: 3
    Last Post: 21-02-2011, 11:26 AM
  5. Replies: 66
    Last Post: 25-10-2010, 11:31 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •