Tiếng lóng vốn xuất hiện từ lâu và khá phổ biến, có sức lan tỏa rất nhanh v́ là ngôn ngữ chợ búa, vỉa hè, nói ít hiểu liền bất cần ngữ pháp! Có lẽ chỉ các bậc tu hành mới không có (chứ không phải không dùng) tiếng lóng chuyên dùng. Thoạt kỳ thủy đó là tiếng của một giới nào đó (ăn chơi, mánh mung, lính tráng…), là con đẻ của một ngoại cảnh nào đó, không phải "tiếng ḷng", tức không phải của nội tâm, càng không là ngôn ngữ của tư duy.
Định nghĩa thật khó, cách giản tiện nhất là… nói tiếng lóng.

Ở đâu cũng có tiếng lóng nhưng Sài G̣n là đất trẻ, nhiều dân tứ xứ là địa bàn quư hiếm cho tiếng lóng sinh sôi. Bắc Trung Nam, Tây Tầu Ấn, chỉ có Nga là chưa thấy… Thành phố đầu mối công thương nghiệp tạo thành lớp cư dân hoạt bát, nhiều sắc thái, nhiều người cá tính hơi "bốc", trọng nghĩa khí mang tính giang hồ, thích sống thoáng, khoát hoạt. Sài G̣n c̣n là đất cảng nên hơn nhiều nơi khác, sức “ma sát” ở đây rất mạnh, càng mạnh càng bén nhạy trở thành đắc địa của tiếng lóng…một thứ phương ngữ độc đáo của Sài G̣n. Số Dzách là ...Tầu, Năm bờ oan là Mỹ thay nhau có mặt tại Sài thành!
Dân ăn chơi không phải ai cũng ṣng phẳng, nhiều kẻ hay t́m bạn ḅ mộng để bắt địa. Ông chủ quán cà phê La Pagode nếu giờ c̣n sống mà trí nhớ tốt liệu c̣n thắc mắc v́ sao có mấy chàng sinh viên ngày nào cũng kéo đến kêu cà phê lát rồi bỏ đi, chỉ có một người ngồi lại… đọc sách cả tiếng đồng hồ? Không đâu, thưa ông chủ quán, ngồi làm va ly chờ bạn đi kiếm tiền đến… chuộc đó!
Nhớ hồi 1956-1957 ǵ đó, có cô ca sĩ nổi tiếng một lần đi chơi với bạn trai… tới Nhà Bè, hồi ấy c̣n rất hoang vắng. Hai người làm ǵ trong xe hơi chẳng biết nhưng bất ngờ bị tuần cảnh xét hỏi, bèn nói em với ảnh đi… ăn chè. Ối trời, tại Nhà Bè thuở đó mua cả chỉ vàng cũng không có thứ gọi là chè ấy. Thế là trong "từ điển" tiếng lóng, ăn chè ra đời, dùng làm ǵ th́ cứ thử ắt biết.
Sang tới giới công chức, quân nhân thời xưa, không có lệ họp b́nh bầu kiểm điểm, anh nào từ pḥng sếp ra mặt hơi bị không vui th́ biết anh ta được mời lên uống trà, hoặc… uống cà phê đen! Nếu thấy anh ta mệt mỏi hăy thông cảm v́ trong pḥng sếp anh đă phải làm đèn cầy (đứng ngay đơ) cho sếp xát xà bông.

Tiếng lóng sinh ra rất nhanh từ một giới nào đó và đời tiếng lóng cũng ngắn. Khi lính Mỹ ào ạt sang miền Nam, chập choạng tối là những “cây than” (Mỹ đen) hay lảng vảng ở các khu vực bến xe hay những khu b́nh dân. Đám dắt mối, ăn xin, du thủ du thực chế ngay ra OK Salem, tức tiếng bồi cộng với ngôn ngữ h́nh thể, nói bằng miệng th́ ít mà bằng tay th́ nhiều làm ngôn ngữ tiếp thị món gà móng đỏ. Ngày nay việc dùng cái bao cao su được tuyên truyền rộng răi trên pa nô, báo đài và c̣n có cả việc các thanh niên đi phát nó trong các cộng đồng. cái vật này thời trước ở Sài G̣n thường chỉ được hiểu rộng răi là phương tiện ngừa bệnh của dân ăn chơi,họ gọi là áo mưa, chắc là lấy từ chữ capote của tiếng Pháp. Đang khi ấy, một vị tân đại sứ tại Sài G̣n có tên là… Cabot Lodge, thế là trong từ điển tiếng lóng của chốn ăn chơi có ngay “Ông đại sứ” mà ngay cả những “má” ít học nhất cũng sẵn sàng cung cấp mỗi khi khách có yêu cầu!

Ra chợ Bến Thành, những chú lính Yankee đụng ngay đám ăn xin lóc nhóc, một chữ Việt bẻ đôi cũng không biết nhưng tiếng Anh bồi, phương tiện hành nghề th́ đám này xài nhanh như gió, kiểu "nô bà ba, nô mà ma, ghi vờ mi, oăn đồ la”, có nghĩa là "không cha không mẹ, cho tôi một đồng!". Tuy loại ngôn ngữ này không hề có trong bất cứ thứ từ điển nào nhưng “than” nghe là hiểu, không chết liền!
Thời Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng thống, tiếng lóng tông tông dành riêng cho ông ta, người đứng đầu Phủ đầu rồng. Trụ sở hạ viện trở thành Chuồng cu trên mặt báo. Ông Chủ tịch viện này độc chiếm tiếng lóng Hồi dương liệt lăo, do ông quá hom hem nhưng là gia nô nên được cho suốt ngày cầm cái búa. Không nhớ do đâu mà một bà dân biểu nhiều "điển tích" chết cái tên dân biểu nín tè đều do báo chí đặt ra.
C̣n Quế tướng công là… đặc sản dành cho viên Tư lệnh Sư đoàn 2 ở Quảng Ngăi, chuyên sai lính mở cuộc hành quân… t́m quế cho tướng, sau Quế tướng công hiếp dâm một bé gái 12 tuổi, con thuộc cấp nhưng tông tông bỏ qua chắc cũng là cùng hội cùng thuyền chớ đâu xa!
Đất nước thống nhất, người Sài G̣n làm quen - dĩ nhiên rất nhanh, với những xế điếc (xe đạp), xế nổ ( xe máy), đánh quả (phi vụ làm ăn), con phe (dân mánh), một vé (100 đô), bôi trơn (đút lót)... trong đó bôi trơn có tuổi thọ như ông Bành Tổ!

Ngày nay, có hai thứ không phải ngôn ngữ nhưng rất… biểu cảm: Cục gạch cắm miếng giấy (chỗ bán xăng lẻ) và cái phong b́, không biết có nên cho chúng vào từ điển tiếng lóng thông dụng hay không?Có một tiếng không biết có nên cho vào từ điển tiếng lóng hay không, chỉ biết hàng năm cứ đến mùa thi là nó xuất hiện trên các báo: Chọi, nghe rất bạo lực sứt đầu bể trán nhưng lại hiền khô là... thi tuyển vào đại học!

Tiếng lóng sinh nhanh mà già cỗi cũng nhanh cứ như hoa phù dung sớm nở tối tàn. Hoàn cảnh sống khác đi lập tức tiếng lóng bèn đi trước đón đầu thật nhanh cứ như h́nh với bóng. “Chân dài” không chỉ là cặp gị có số đo hơi bị nhiều, mà là đối tác của đại gia trong quan hệ bên tiền bên sắc. Biết chết liền là cách nói đa dạng trong mọi lănh vực, phủ định cũng được mà khẳng định cũng không sao. "Em đẹp không?, Đẹp chết liền (phủ định, chọc), Không chết liền (khẳng định, nịnh) đều không gây mất ḷng cũng không gây cho người đẹp yên tâm là ḿnh đẹp, bởi nó mang tính cách đùa bỡn, sao cũng được! ”Bài này hay không?”, Hay chết liền; Món này ngon chứ?, Ngon chết liền…
Nhắc đến tiếng lóng mà quên nhà văn quá cố Nguyên Hồng là một sự thất lễ. Trước năm 1945 (gọi cho sang trọng là thời tiền chiến), cụ đă lên đời loại tiếng vỉa hè này, đưa nó vào văn chương hẳn hoi. Tiểu thuyết "Bỉ vỏ" - nội cái nhan đề đă là một tiếng lóng (chỉ người đàn bà móc túi) - của cụ đọc thật bá chấy (hết xẩy, khỏi chê)
Lần đầu tiên người đọc được nghe tiếng của giới giang hồ đất cảng Hải Pḥng: Mơi (móc túi); kỳ bẽo (cờ bạc); ṣ quỷnh (người nhà quê); đông địa (nhiều tiền) v.v... Một dân móc túi thuộc loại trinh sát theo dơi một người nhà quê có vẻ có tiền, khi thấy ông ta vào quán cơm bụi, đă báo cho đàn anh biết một cách gần như công khai: Ṣ quỷnh đông địa tranh ṿm (lăo nhà quê có nhiều tiền đă vào quán)!
Trong khi chưa t́m ra ai khác nhà văn Nguyên Hồng, xin cứ tôn xưng cụ là… vua tiếng lóng, v́ nhân vật của cụ nói được nguyên một câu bằng tiếng lóng, c̣n đám hậu sinh trong một câu chỉ đệm được vài từ là cùng.
Cao Thoại Châu

_____________________________


Cũng một bài về tiếng lóng Sài G̣n khác

Một thời, một nơi chốn nào đó, trong đời sống ngôn ngữ dân gian lại nảy sinh ra một số tiếng lóng, một số thành ngữ, một câu hát nhại theo câu hát chính phẩm, hầu hết là để châm biếm, tạo nên nụ cười, hay có khi là để răn đe, t́m sự hoàn thiện trong cuộc sống, chúng chỉ sống một thời rồi tự biến mất, nhường chỗ cho đoạn đời “tiếng lóng” khác đến thay thế. Do đó, việc ghi chúng lại để đọc vui chơi hay phục vụ nghiên cứu văn học dân gian, chỉ có giá trị, khi ghi rơ định vị địa lư và thời gian.

Tỷ như Sài G̣n vào thập niên 60, thịnh hành tiếng lóng “sức mấy” để thay nói bất lực hay chuyện không thể. Phổ biến đến nỗi, một nhạc sĩ đă chọn làm đề tài cho một bài hát đường phố “Sức mấy mà buồn, buồn chi bỏ đi Tám”. Những câu chuyện thuộc loại tiếng lóng đó xuất hiện vào thời buổi Sài G̣n thời chiến, quê hương chiến tranh buồn phiền; “sức mấy” đă trở thành bút hiệu của một chuyên mục phiếm luận trên báo, sau đó một kỹ thuật gia sản xuất c̣i ôtô đă chế ra một điệu c̣i ôtô, bấm c̣i là kêu vang trên phố một ḍng nhạc c̣i auto 9 nốt “tính tính tè tè, tè ti tè ti té”, làm cho đường phố càng náo loạn hơn. Trước đó cũng từ bài ca Diễm xưa của Trịnh Công Sơn mà sinh ra tiếng lóng “xưa rồi Diễm ơi”, mỗi khi có ai lặp lại một đ̣i hỏi nào đó,mà người nghe không muốn nghe thêm nữa.

Thời các vũ trường mới du nhập Sài G̣n như Mỹ Phụng, Baccara, Tháp Ngà, th́ dân chơi gọi Tài-pán tức người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng bóng “Cai gà”, gọi cảnh sát là “mă tà”, v́ police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành “mă tà”. Cũng từ thời thuộc địa, tiếng Tây chế ra tiếng lóng âm Việt rất nhiều như: “gác-dang” tức thuê người làm bảo vệ; tiếng Pháp gardien đọc trại ra thành gác-dang. Cũng như nói “de cái đít” tức lùi xe arriere; tiền cho thêm người phục vụ tiếng Pháp: pour-bois âm bồi gọi “tiền boa”, sau này chế ra là “tiền bo”.

Cũng thời Pháp thuộc, Sài G̣n có nhiều cách nói mà đến nay không ai biết nguyên do. Tỷ như gọi sở bưu điện là nhà dây thép, mua tem dán bao thư gọi là “con c̣”, c̣n nếu gọi “ông c̣” là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi “thầy c̣” tức là các ông chữa morasse các ṭa báo do chữ correcteur, nhưng nói “c̣ mồi” là tay môi giới chạy việc, “ăn tiền c̣” th́ cũng giống như “tiền bo”, nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới.

Thời kinh tế phát triển, đi xe auto gọi là đi “xế hộp”, đi xe ngựa gọi là đi “auto hí”, đến thời xe máy nổ ầm ào, đi xe đạp gọi là “xe điếc”, đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là “đi cấp”, đi khiêu vũ gọi là “đi bum”, đi tán tỉnh chị em gọi là đi “chim gái”, đi ngắm chị em trên phố gọi là “đi nghễ”, gọi chỉ vàng là “khoẻn”, gọi quần là “quởn”, gọi bộ quần áo mới là “đồ día-vía”. Đi chơi bài tứ sắc các bà gọi là “đi x̣e”, đi đánh chắn gọi là “múa quạt”, đi chơi bài mạt chược các ông gọi là “đi thoa”, đi uống bia gọi “đi nhậu”, đi hớt tóc gọi đi “húi cua”. Có một cụm tiếng lóng từ Huế khoảng 1920 – 1950 du nhập Sài G̣n, đó là “đi đầu dầu”, tức các chàng trai ăn diện “đi nghễ” với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là “hết sẩy”, quê mùa chậm chạp gọi là “âm lịch”, hách dịch tự cao gọi là “chảnh”.

Tiền bạc gọi là “địa”, có thời trong giới bụi đời thường kháo câu “khứa lăo đa địa” có nghĩa ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là “xù”, “xù t́nh”, tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là “bắt địa”, ăn cắp là “chôm chỉa”, tương tự như “nhám tay” hay “cầm nhầm” những thứ không phải của ḿnh.

Ghé qua làng sân khấu cải lương hát bội, người Sài G̣n gọi là làng “hia măo”, có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi “kép chầu”, có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng v́ một lư do nào đó không được phân vai diễn gánh hát, đêm đêm họ cũng xách vali trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, th́ kép chầu thay thế vào ngay. “Kép chầu” phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó.

Đào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là “đào thương”, kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là “kép độc”. Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các ṭa soạn báo chí, đó là “café à la… ghi” tức uống café thiếu ghi sổ…Vào làng báo mà tiếng lóng người Sài G̣n xưa gọi “nhật tŕnh”. Nếu thiếu tin lấy một tin cũ nhưng chưa đăng báo để đăng lấp chỗ trống, gọi là “tin kho tiêu”, các loại tin vớ vẩn dăm ḍng từ quê ra tỉnh gọi là “tin chó cán xe”, tin quan trọng chạy tít lớn gọi là “tin vơ-đét” vedette, nhặt từ tài liệu dài ra thành một bài gọn gọi là “luộc bài”, chắp nhiều thông số khác nguồn ra một bài gọi là “xào bài”, truyện t́nh cảm dấm dớ gọi là “tiểu thuyết 3 xu”, các tạp chí b́nh dân xoi mói đời tư gọi là “báo lá cải”. Làng nhật tŕnh kỵ nhất là loan tin thất thiệt, lóng gọi là “tin phịa”, nhưng trong “tin phịa” c̣n có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm ḍ có chủ đích, lóng gọi là “tin ballons” tức thả quả bóng thăm ḍ, hay tin thi đua nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng tư, gọi là “tin Cá tháng Tư”.

Có đến bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. Đó là “tịch”, “hai năm mươi”, “mặc chemise gỗ”, “đi auto bươn”, “về chầu diêm chúa”, “đi buôn trái cây” hay “vào nhị tỳ”, “nhị tỳ” thay cho nghĩa địa và “số dách” thay cho số một… đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư.

Thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung nói chung là chuyện Tầu thịnh hành, người Sài G̣n đă chế ra nhiều tiếng lóng, như ai dài ḍng gọi là “ṿng vo Tam Quốc”, ai nói chuyện phi hiện thực gọi là “chuyện Tề Thiên”, tính nóng nảy gọi là “Trương Phi”. Một số tên nhân vật điển h́nh của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là “Nhạc Bất Quần” tức ám chỉ người ngụy quân tử, đạo đức giả, gọi là “Đoàn Chỉnh Thuần” tức ám chỉ đàn ông đa t́nh có nhiều vợ bé… Sài G̣n là đất của dân nhập cư tứ xứ, nơi tha hương văn hóa bốn phương, nên ngôn ngữ càng thêm phong phú, trong đó tiếng lóng cũng “ăn theo” mà ra đời. Thời Mỹ đến th́ một tiếng “OK Salem”, mà các trẻ bụi đời vừa chạy vừa la để xin ông Mỹ điếu thuốc. Thời gọi súng là “sén” hay “chó lửa”, dân chơi miệt vườn gọi “công tử Bạc Liêu” c̣n hiểu được, Sài G̣n xuất hiện cụm từ “dân chơi cầu ba cẳng” th́ thật không biết do đâu? Có lẽ cầu ba cẳng có tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi “dân chơi cầu ba cẳng”? Đó cũng là lúc các tiếng lóng như “dân xà bát”, “anh chị bự”, “main jouer” tay chơi ra đời, chạy xe đua gọi là “anh hùng xa lộ”, bị bắt gọi là “tó”, vào tù gọi là “xộ khám”. Bỏ học gọi là “cúp cua”, bỏ sở làm đi chơi gọi là “thợ lặn”, thi hỏng gọi là “bảng gót”. Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ K.Ng. qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại t́nh trong túp lều cỏ bị bắt, từ đó “đi ăn chè” trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại t́nh trốn ra ngoại ô.

Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như “chà đồ nhôm” tức “chôm đồ nhà”, “chai hia” tức chia hai chai bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với “cưa đôi”. Lóng thời sự loại này có “tô ba lây đi xô xích le” tức “Tây ba lô đi xe xích lô”. Trong tiếng lóng c̣n chất chứa ân t́nh. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than “buồn như chấu cắn”, hay có người than phiền v́ câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng “lu bu” để thất hứa, nay c̣n có người nhấn thêm “lu xu bu” nại lư do không rơ ràng để trốn việc. Để tạm kết thúc phần dẫn này, tôi muốn nhắc một số âm sắc Bắc Hà. Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành “quả tó”, gọi chiếc xe Honda là “con rim”, gọi tờ giấy 100USD là “vé”, đi ăn cơm b́nh dân gọi là “cơm bụi”, xuống phố dạo chơi gọi là “đi bát phố”, gọi người lẩm cẩm là “dở hơi”…

Nhưng lư thú nhất là nhờ cụ cố nhà văn Nguyễn Tuân mà Sài G̣n nay có một tiếng lóng hiện đại thay cho cụm từ đi ăn nhà hàng theo American style – tiền ai nấy trả. Đó là cụm lóng KAMA, ghép bốn chữ tắt của “không – ai – mời – ai”. Đi KAMA phở một cái, tức cùng đi ăn phở mà không ai mời ai, món ăn cổ truyền nhưng ứng xử là thoải mái. Vào thời văn minh hiện đại, ngôn ngữ tiếng Anh trở thành phổ biến, giới trẻ đă chế ra một tiếng khá văn hoa, như chê một ai đó chảnh, các cô nói “lemon question” tức chanh hỏi – chảnh – (mở ngoặc: hoặc nói chệch đi: lê-mông-wét-trần!).
Lê Văn Sâm
(Nam Kỳ Luc Tỉnh)