Page 1 of 3 123 LastLast
Results 1 to 10 of 25

Thread: Sống Và Chết Ở Sài G̣n-

  1. #1
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609

    Sống Và Chết Ở Sài G̣n-






    [SIZE=3]
    [/SIZE]



    Ôi cố hương xa nửa địa cầu
    Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau


    Ngày mới đến Hoa Kỳ tôi nói: “Tôi mang Sài g̣n trong trái tim tôi…” Tôi muốn nói tôi yêu Sài G̣n, tôi đă sống đến bốn mươi năm trong ḷng thành phố Sài G̣n thương yêu, tôi đă vui buồn, đă đau khổ với Sài G̣n. Nay phải đi xa, tôi mang Sài G̣n theo tôi nên tôi sẽ không thấy nhớ Sài G̣n!
    Sự thật không như tôi nói, không như tôi tưởng.
    Trước hết, câu nói ấy có cái giọng của Sáu Keo: “Miền Nam trong trái tim tôi…”
    Dù tôi có yêu thương Sài G̣n đến chừng nào đi nữa – là Công Tử Hà Đông bên hông Hà Nội, Bắc kỳ chính cống Bà Lang Trọc nhưng tôi yêu Sài G̣n hơn tôi yêu Hà Nội -, dù tôi có sống với Sài G̣n lâu đến chừng nào đi nữa, khi phải xa Sài G̣n tôi vẫn nhớ thương Sài G̣n. Nhớ thương vỡ tim, xé gan, cháy ḷng, đứt ruột như nhớ thương người đàn bà ḿnh yêu, người đàn bà đa t́nh yêu ḿnh cực kỳ, cho ḿnh hưởng tất cả, ḿnh từng sống hạnh phúc bên nàng mà ḿnh phải xa nàng.

    Đêm cuối năm, mưa rơi suốt đêm trên Rừng Phong.
    Canh khuya trằn trọc nằm nghe tiếng mưa đập vào khung kính cửa sổ, tưởng như đang nằm nghe mưa rơi trên mái ngói xanh rêu trong căn nhà nhỏ ở Cư Xá Tự Do, Ngă Ba Ông Tạ Sài G̣n.
    Bồi hồi tưởng nhớ những cây mưa đầu mùa năm xưa ở quê nhà. “Cây mưa”! Đúng là cây mưa. Những năm 1956, 1957 xanh xưa tôi c̣n trẻ, trong loạt bài gọi là phóng sự tiểu thuyết Vũ Nữ Sài G̣n, tác phẩm đầu tay của tôi, tôi viết: “Sài G̣n sau cơn mưa lớn sạch như người đàn bà đẹp vừa mới tắm xong…”
    Hơn bốn mươi mùa mưa sau nhớ lại, thấm và thấy đúng biết chừng nào. Sài G̣n của tôi thuở 1956-1960 thanh b́nh sau những cơn mưa lớn, nhất là những cơn mưa đêm, sạch như người đàn bà đa t́nh yêu tôi, tôi yêu, khi nàng mới tắm xong.
    Sáng nay mưa vẫn rơi trên Rừng Phong.
    Người tha hương lúc nào cũng nhớ quê hương.
    Tết đến. Tết là dịp đoàn tụ gia đ́nh. Tết đến, người tha hương nhớ thương quê hương hơn. Những lời thơ Thanh Nam ray rứt trong tim tôi:

    Ôi cố hương xa nửa địa cầu
    Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau.
    Đâu đây trong khói trầm thơm ngát
    Hiện rơ trời xuân một thưở nào.
    …..
    Tỉnh cơn mê sảng âm thầm
    Ngó ra đất khách mưa xuân hững hờ
    Tháng Tư, cơn sốt đầu mùa
    Gợi trong tiềm thức những giờ oan khiên
    Ghé thân lữ thứ trăm miền
    Nỗi buồn nào cũng mang tên Sài G̣n!


    Tháng Chạp Tây, bánh xe lăng tử đưa tôi đi một ṿng Cali. Đêm cuối năm trong một thành phố nhỏ, tôi xem một phim video về Hà Nội do những người Hà Nội làm. Thành phố Hà Nội được người Hà Nội yêu thương quá cỡ. Hà Nội được yêu thương trước 1945, Hà Nội được yêu thương sau 1945. Có đến 50 bài thơ, bản nhạc được làm để ca tụng Hà Nội và diễn tả t́nh yêu Hà Nội. Trong khi đó thành phố Sài G̣n thương yêu của tôi có ǵ? Thành phố Sài G̣n của tôi được thương yêu, được ca tụng như thế nào? Bao nhiêu? Một bài Sài G̣n Đẹp lắm Sài G̣n ơi của Y Vân, một bài Vĩnh biệt Sài G̣n của Nam Lộc. C̣n ǵ nữa??
    Tôi sẽ viết về thành phố Sài G̣n và t́nh yêu Sài G̣n.



    Sáng nay, tôi làm một cuộc tính sổ những văn nghệ sĩ đă từ giă cơi đời này kể từ ngày 30 Tháng Tư. Bản danh sách của tôi không đầy đủ. Tôi xin lỗi v́ không thể kể tên tất cả những văn nghệ sĩ đă vĩnh viễn đi khỏi cuộc đời. Nhớ được người nào tôi ghi lại người ấy, ghi không theo thời gian mà cũng không theo vần ABC.
    Trước hết tôi phải kể anh Chu Tử Chu Văn B́nh. Anh là văn nghệ sĩ chết trước nhất kể từ ngày 30 Tháng Tư. Anh không chết sau ngày 30 Tháng Tư mà là trong ngày 30 Tháng Tư. Đạn quân thù bắn theo con tầu ngày ấy đưa anh ra biển đă giết anh, thân xác anh nằm trong ḷng đại dương.

    Anh một đời hai lần bị trúng đạn. Một buổi sáng năm 1964 – thời điểm quân đội Hoa Kỳ đang kéo vào tham chiến trên chiến trường Việt Nam – khi từ nhà ở đường Trương Tấn Bửu, Phú Nhuận, ra xe hơi để đến ṭa báo Sống, nhà in Tường Vân đường Gia Long, có kẻ chờ sẵn trước cửa nhà bắn anh nhiều phát đạn xuyên qua cửa xe sau. Có viên đạn trúng cổ anh, xuyên qua miệng. Nguy hiểm cực kỳ nhưng anh không chết. Anh sống được mười năm nữa…
    Và đây là tên những văn nghệ sĩ, những kư giả đă ĺa đời kể từ ngày 30 Tháng Tư 1975 đến sáng hôm nay. Những người ra đi vĩnh viễn từ những ngơ hẹp, những cư xá đông người, những nhà tù Sài G̣n:
    Hoàng An, Mai Anh; Thái Dương Nguyễn Văn Mai, nguyên Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Kư Giả Việt Nam; Nữ nghệ sĩ Hồ Điệp, nhạc sĩ Lan Đài (hai người nghe nói bị chết trên biển khi vượt biên); Mạc Ly Châu; Huy Cường diễn viên điện ảnh; Thi sĩ Bùi Giáng Lá Hoa Cồn; Trần Việt Hoài, thi sĩ, bút hiệu Thiết Bản đạo nhân, chết trong Làng Báo Chí; Thiên Hổ tức Linh mục Nguyễn Quang Lăm, chủ nhiệm nhật báo Xây Dựng, nhà thờ, nhà riêng, nhà in, ṭa báo ở đường Thánh Mẫu, Ngă Ba Ông Tạ, cùng khu với Cà phê Thăng Long của Vũ Văn Cẩn; Cát Hữu; Minh Đăng Khánh – Khánh có nhiều nghề: giáo viên, kư giả, biên tập đài phát thanh giữ chương tŕnh Gia đ́nh Bác Tám, diễn viên kiêm đạo diễn điện ảnh, họa sĩ, dậy hội họa, bị bắt Tháng Tư 1976, đi tù về Khánh bị bại liệt nửa người, vẫn lê lết đi lại được cho đến ba năm sau; Trọng Khương, tác giả Bánh Xe Lăng Tử, Ghen; Thiếu Lang; Ngọc Thứ Lang Nguyễn Ngọc Tú, dịch giả Bố Già (The Godfather, Mario Puzo, từng là sách bestseller). 1985 hai nhà xuất bản Mít Cộng tái bản Bố Già của Tú Lé. Tú bị bắt v́ choác. Sau thời gian nằm ở cái gọi là Trại Phục Hồi Nhân Phẩm Khu Nhà Thờ Fatima, Tú bị đưa ra một trại lao động cải tạo – gọi tắt là Trại Lao Cải – ở miền Trung. Nghe nói sáng sớm, trời lạnh, Tú rít hơi thuốc lào và ngă ra chết; Thi sĩ Bàng Bá Lân; Kư giả Thể thao Thạch Lê tức Trung Tá Lê Đ́nh Thạch, người từng là chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến, anh Thạch đi cải tạo về, qua đời tại nhà ở Khu Cư Xá Sĩ Quan Chí Ḥa; Nguyễn Hiến Lê; Hoàng Vĩnh Lộc, đạo diễn điện ảnh, tác giả phim Người T́nh Không Chân Dung, Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương…; Hoàng Ly, tác giả tiểu thuyết Một Thời Ngang Dọc, Giặc Cái…; Thi sĩ Hoàng Trúc Ly, tác giả hai câu thơ nghe nói là tả nữ ca sĩ Khánh Ly: “Từ Em tiếng hát lên trời, Tay khơi ḍng tóc, tay vời âm thanh…”; Trọng Nguyên; Vương Hồng Sển; Xuyên Sơn; Trần Việt Sơn; Hoàng Thắng; Trịnh Viết Thành; Lê Thanh tức Pḥng Cao; Hai nhạc sĩ lớn Lê Thương; Dương Thiệu Tước; Hồ Hữu Tường; Minh Vồ, chủ nhiệm tuần báo Con Ong; Y Vân, tác giả Ḷng Mẹ, Sài G̣n Đẹp Lắm Sài G̣n Ơi; Hoàng Thư; Trần Lê Nguyễn; Thượng Sĩ; Huy Thanh Nguyễn Huy Thái tức Trường Sơn; Lê Văn Vũ Bắc Tiến; Mặc Thu…


    oOo
    Những văn nghệ sĩ chết trong tù:
    – Anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, bị bắt năm 1984, chết v́ cao áp huyết trong Nhà tù Chí Ḥa năm 1986.
    – Anh Nguyễn Mạnh Côn, bị bắt tháng 3, 1976, tuyệt thực đ̣i Việt Cộng trả tự do năm 1978 ở Trại Lao Cải Xuyên Mộc, bị cai tù không cho uống nước đến chết.
    – Anh Vũ Hoàng Chương, bị bắt tháng 3, 1976, bị tù sáu tháng, về nhà được bẩy ngày th́ qua đời.
    – Dương Hùng Cường – Dê Húc Càn, sĩ quan, đi cải tạo trở về năm 1980; năm 1984 bị bắt lại trong nhóm Biệt Kích Cầm Bút, chết trong sà lim Nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu năm 1987.
    – Huy Vân, sĩ quan, chết trong trại cải tạo ở miền Bắc.
    – Nhạc sĩ Thục Vũ, sĩ quan, chết trong trại cải tạo ở miền Bắc, tác giả bản nhạc “Anh Ở Đây, Bạn Bè Anh Cũng Ở Đây…”


    oOo
    Những văn nghệ sĩ qua đời ở hải ngoại:
    Duyên Anh Vũ Mộng Long, mất ở Paris, 1997. Kư giả Anh Quân, kư giả Nguyễn Ang Ca, mất ở Bỉ quốc, Hùng Cường, Vũ Huyến, An Khê, Vũ Khắc Khoan, kư giả Tô Văn Trần Đức Lai, Tử Vi Lang, Nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh, B́nh Nguyên Lộc, Thanh Nam Trần Đại Việt, Nguyễn Tất Nhiên, nhạc sĩ Thẩm Oánh, Đạm Phong, Nguyên Sa, Mai Thảo – những ông trên đây sống và chết ở Hoa Kỳ. Trần Văn Trạch qua đời ở Paris, kư giả Thái Linh Phạm Linh, chị Kiều Diễm Hồng trang Mai Bê Bi nhật báo Chính Luận ngày xưa, qua đời trong một Nursing Home ở Virginia Đất T́nh Nhân, Hoàng Trọng, Sĩ Phú, Hoàng Thi Thơ ở Cali, Ngọc Dũng ở Virginia, Mai Trung Tĩnh ở Maryland…


    oOo

    Tháng Giêng Tây 2000 gần như tất cả các văn nghệ sĩ VNCH c̣n sống, quân và dân, đều đă rời quê hương đi ra hải ngoại. Họ sống nhiều nhất ở Hoa Kỳ, rồi Úc, Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Anh, Canada.
    Số văn nghệ sĩ c̣n sống ở Thành Hồ có thể đếm được trên mười đầu ngón tay: Tú Kếu Trần Đức Uyển; Lê Xuyên Chú Tư Cầu, bán thuốc lá lẻ ở góc đường Ngô Quyền – Bà Hạt, gần chợ Nguyễn Tri Phương; Huỳnh Phan Anh; Trần Phong Giao; Thế Phong, tác giả Việt Nam Bi Thảm Đông Dương; Hồ Nam; Phan Nghị; Văn Quang; Nguyễn Thụy Long Loan Mắt Nhung; Đằng Giao; Dương Nghiễm Mậu; Cao Nguyên Lang; Vũ B́nh Thư Lă Phi Khanh, tác giả Lệnh Xé Xác; bà Tùng Long, bà Lan Phương; bà Mộng Tuyết; hai nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng; Nguyễn Thị Thụy Vũ; Lư Thụy Ư; nhà thơ nữ Hoàng Hương Trang…
    Văn nghệ sĩ hiện sống ở Thành Hồ ly kỳ nhất, theo tôi, là Văn Quang, tác giả những truyện t́nh Chân Trời Tím, Suối Đam Mê, Tiếng Hát Học Tṛ v.v…

    Văn Quang là Trung Tá Giám đốc Đài Phát Thanh Quân Đội cho đến ngày tan hàng. Anh nhan sắc không hơn ǵ anh em chúng tôi bao nhiêu, nếu có ǵ hơn th́ chỉ là anh hơn chúng tôi cái mác carihom Oméga bộ xương cứu chúa. Nhưng anh có cái số đào huê dễ nể. Anh có đến năm bà vợ – những bà cùng đương sự ăn ở công khai, chính thức vợ chồng với nhau, dù không cưới hỏi, không đăi ăn nhà hàng, trong thời gian dài ngắn không đều là một hai niên, ba bốn niên, tức là không kể những nhân t́nh, nhân bánh lâu lâu sáp lại nhấp nháy, tan hàng. Bà vợ nào của anh cũng nhan sắc trên mức trung b́nh. Đi cải tạo mười mấy mùa thu chết mới được về, Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến bút hiệu Văn Quang, có thừa tiêu chuẩn để đi HO sang Hoa Kỳ, nhưng anh đă không đi.
    Văn Quang không sang Mỹ không phải v́ ghét Mỹ.
    Văn Quang ở lại Thành Hồ không phải v́ ưa Việt Cộng.
    Anh không sang Mỹ v́ anh hùng thấm mệt, v́ đại bàng mỏi cánh, v́ những lư do riêng tư.
    Hiện anh sống b́nh yên trong căn hộ ở chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Quận Ba, Sài G̣n.

    ÁO VÀNG HOA

    Sáng cuối năm trong căn nhà tối

    Em mở tủ nh́n đời ngày cuối.
    Mắt Em buồn bừng sáng mầu hoa
    Em nhớ lại ngày may áo mới.
    Hai năm rồi mặc áo bà ba
    Đời tẻ nhạt như làn tóc rối.
    Áo ướm thân, Em khóc, Em cười…
    Em có biết Em vừa trẻ lại.
    Đây áo hoa vàng, anh chọn, em may
    Như giọt nước trong gịng t́nh ái.
    Trong ưu phiền mắt lặng nh́n nhau
    Em thầm hẹn áo này giữ măi…!

    Em yêu dấu, ngày Em trở lại
    Đất ngàn năm, như cỏ, như hoa
    Anh sẽ mặc cho Em lần cuối
    Áo hoa này rồi tiễn, rồi đưa…
    Em lại hỏi có ngày ta phải
    Chia áo này cho các con ta?
    Em yêu dấu, Em ơi, đừng ngại
    Mặc cho đời tháng lại, ngày qua
    Trong xương thịt ta c̣n giữ măi
    Những cái ǵ riêng của đôi ta.
    Khi Em nằm xuống, khi tàn lửa
    Trong hào quang của những tiên nga
    Khi xe hạc vàng nhung tới cửa
    Đón Em về xa cơi trời xa
    Anh sẽ mở hồn Anh lấy áo
    Mặc cho Em chiếc áo vàng hoa.
    Trong u ám một ngày mây phủ
    Nặng những sầu thương, những xót sa
    Em đóng cửa hồn, che áo mới
    Và ra đường trong chiếc bà ba.
    Hoàng Hải Thủy
    Tháng 7, 1977
    Nhà 259/29 A Phạm Hồng Thái,
    Cư Xá Tự Do, Ngă Ba Ông Tạ, Sài G̣n.
    Last edited by BlackHole; 04-11-2018 at 05:25 AM.

  2. #2
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609
    Gửi các bạn tôi
    sống, chết ở Sài G̣n…

    * Rừng Phong, Hoa Kỳ 2002
    HOÀNG HẢI THỦY







    Mario Puzo, văn sĩ Mỹ, tác giả The Godfather, cuốn tiểu thuyết viết về tổ chức Mafia ở Hoa Kỳ, một bestseller, từng bán 21 triệu cuốn, được dịch ra gần khắp các thứ ngôn ngữ trên trái đất, từ trần ngày 1-7-1999, tại thành phố Bay Shore, tiểu bang New York, thọ 78 tuổi.
    Bạn đọc tiểu thuyết Việt Nam quen thuộc với The Godfather và biết danh tính Mario Puzo qua Bố Già, bản dịch Việt ngữ của Ngọc Thứ Lang. Bố Già được xuất bản ở Sài G̣n năm 1972. Năm 1970 nhật báo Chính Luận đă dịch The Godfather và đăng hàng ngày nơi trang trong theo kiểu phơi-ơ-tông – feuilleton. Nghe nói ông chủ nhiệm Đặng Văn Sung sang Pháp, lúc đó The Godfather được dịch sang tiếng Pháp; ông đọc, thấy hay, đem về giao cho kư giả Trọng Tấu dịch. Tên truyện dịch trên Chính Luận là Cha Đỡ Đầu. Văn phong của Trọng Tấu không có ngôn ngữ côn đồ, du đăng, càn bạt, giang hồ, trẻ trung, nên không hợp với việc chuyển ngữ The Godfather, bản Trọng Tấu dịch lại là bản tiếng Pháp. Cha Đỡ Đầu đăng trên Chính Luận được vài tháng th́ ngừng ngang. Tôi không biết nguyên nhân v́ sao. Những năm ấy tôi không viết ǵ trên Chính Luận nên không hay lui tới ṭa soạn.
    Năm 1972 Nguyễn Đức Nhuận – hiện sống ở Cali, người chủ trương Tuần san Thứ Tư, quản lư nhật báo Sóng Thần cho đến ngày tan hàng – đưa The Godfather bản tiếng Mỹ cho Ngọc Thứ Lang dịch để xuất bản. Ngọc Thứ Lang lấy tên Bố Già và Bố Già trở thành tác phẩm tiểu thuyết ăn khách, bán chạy đáng kể một thời. Ngọc Thứ Lang thành công xuất sắc với bản dịch Bố Già, giọng văn của anh hợp với loại tiểu thuyết đầy kịch tính và bạo lực đặc biệt Mỹ là The Godfather.
    Những năm từ 1984 đến 1988 sống quanh quẩn trong mấy pḥng tù ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Lầu Bát Giác Chí Ḥa, không biết đă bao nhiêu lần tôi kể đi, kể lại chuyện Bố Già cho anh em tù nghe. Nếu bạn theo dơi những chuyện anh em chúng tôi viết về những ngày tù đầy của chúng tôi chắc bạn đă biết chúng tôi gọi những buổi kể chuyện trong tù là “chiếu phim”. Buổi tối anh em tù cần có một người kể chuyện cho nghe, để khỏi phải nghĩ ngợi, để tâm trí bớt lo buồn, nguôi nhớ thương, thần kinh đỡ bị căng thẳng. Kể chuyện ǵ cũng được. Chuyện hấp dẫn, hay, có ư nghĩa càng tốt. Nhạt cũng không sao. Miễn là có kể. Tôi mang danh là tác giả một số tiểu thuyết nên ngay khi biết tôi mới bị bắt vào biệt giam, anh em ở nhiều pḥng tập thể đă mong sau thời gian nằm sà-lim chịu thẩm vấn, tôi sẽ được đưa vào pḥng họ để tôi kể chuyện cho họ nghe. Đáp ứng sự chờ đợi của anh em tôi phải gồng ḿnh kể chuyện.
    Tôi đă kể Thiên Long Bát Bộ, Cô Gái Đồ Long, Kiều, Tam Quốc Chí, Vơ Ṭng Đả Hổ và Vơ Ṭng Sát Tẩu, Ba Người Lính Ngự Lâm Pháo Thủ, Chuyện T́nh Quasimodo và Esmeralda, Chuyện T́nh Cậu Lỗ-mê-đồ yêu cô Duy Liệt v.v… Và tôi kể chuyện Bố Già.

    Bố Già của Ngọc Thứ Lang được in lại và bán ở Hoa Kỳ. Chắc bạn không lạ ǵ cốt truyện Bố Già, tuy nhiên v́ sự liên lạc của câu chuyện, tôi vẫn tóm tắt cốt truyện The Godfather:
    “New York những năm 1946-1947… Ngũ Đại Gia Đ́nh Mafia ngự trị thế giới Tội Ác, trong số có Gia đ́nh Corleone. Mafia là tổ chức của dân Ư di cư sang Hoa Kỳ. Người Mỹ nhận xét dân Y-Ta-Lồ sang Hoa Kỳ nhiều anh làm bậy, chống lại xă hội và pháp luật, ăn cướp, buôn lậu, giết người, làm những chuyện bất hợp pháp; dân Ái Nhĩ Lan di cư sang Hoa Kỳ lại có nhiều người đứng về phe bảo vệ xă hội và pháp luật, nhiều anh làm cảnh sát, tức phú-lít. Don Corleone được gọi là Bố Già v́ làm cha đỡ đầu nhiều anh nhỏ trong cộng đồng dân Mỹ gốc Ư ở NewYork. Chuyện bắt đầu – năm 1946, vừa sau Thế Chiến Thứ Hai – khi nhân vật Mafia tên là Sollozzo dự định đưa ma túy vào thị trường New York. Bố Già Corleone tuy phạm nhiều tội ác, kể cả tội giết người, tống tiền, xây dựng sự nghiệp bằng những tṛ gá thổ, đổ hồ nhưng lại chống việc khai thác ma túy. Bố Già quan niệm: Cờ bịch, đĩ điếm, rượu là những tṛ chơi của đàn ông, đàn ông có khả năng cưỡng lại những tṛ chơi đó. Người mê cờ bịch, đĩ điếm chỉ tan cửa, nát nhà, không đến nỗi chết thảm. Ma túy – cocaine, morphine đầu độc và giết giới trẻ dưới hai mươi tuổi, những teenagers – là thế hệ non dại, chưa biết suy xét, dễ bị cám dỗ. Và sa vào nanh vuốt của ma túy là tự hủy hoại cuộc đời, là chết thê thảm, chết trăm phần trăm, ngàn người như một, không phương thoát chết. Bố Già Corleone không chịu cộng tác với Sollozzo trong việc đưa ma túy vào New York. Trong cuộc nói chuyện giữa Bố Già với Sollozzo có mặt Sonny Corleone, con trưởng của Bố Già. Sonny sẽ kế tục Bố Già khi Bố Già cao tuổi rửa tay cất súng để an hưởng tuổi đời. Sonny để lộ ư muốn Bố Già nhận lời cộng tác với Sollozzo. Việc làm vụng dại đó của Sonny cho Sollozzo thấy một kẽ hở trong gia đ́nh Corleone: Ông bố không ưng nhưng anh con chịu. Việc đưa ma túy vào New York không có Bố Già Corleone cộng tác sẽ không thành công. Sollozzo tổ chức giết Bố Già. Don Corleone bị bắn trên đường phố. Chiến tranh băng đảng bùng nổ giữa những Gia Đ́nh Tội Ác ở New York. Bố Già bị thương nặng nhưng không chết, sau đó anh con Sonny lại bị băng đảng thù địch phục kích bắn chết. Người thay Bố Già nắm quyền lực và chỉ huy Gia đ́nh Corleone là Michael, anh con thứ. Michael từng là sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tham chiến ở Âu Châu trong Thế Chiến Hai”.
    Tôi cảm động v́ t́nh cha con trong The Godfather. T́nh cha con được Mario Puzo diễn tả tuyệt vời trong đoạn Michael vào thăm Bố Già bị bắn, bị thương nặng, nằm một ḿnh ban đêm trong bệnh viện. Trong những buổi tối dị kỳ không bao giờ tôi c̣n có thể lại sống, ở những Pḥng 6 Khu C Một Số 4 Phan Đăng Lưu, Pḥng 1O Khu ED Chí Ḥa, khi kể cho các bạn tù nghe đoạn Michael nửa đêm vào bệnh viện thăm Ông Bố. Tôi xúc động nhớ lại những đêm xưa tôi ngồi lặng bên cha tôi, những lúc tôi cầm tay cha tôi, lúc tôi áp tai vào ngực cha tôi nghe tiếng trái tim ông đập loạn khi ông nằm hấp hối năm xưa, năm 1967.
    Ngọc Thứ Lang dịch đoạn này như sau:

    …Khi Michael ra khỏi xe trước Bệnh Viện Pháp chàng ngạc nhiên thấy đường phố hoàn toàn vắng lặng. Đi vào bệnh viện chàng c̣n ngạc nhiên hơn khi thấy hành lang không một bóng người. Mẹ kiếp, Clemenza và Tessio làm cái ǵ đây? Dù không xuất thân từ West Point họ cũng biết là phải có người gác.
    Những người khách cuối cùng đă ra khỏi bệnh viện, lúc này là gần mười giờ rưỡi đêm. Đă biết số pḥng nên Michael vào thang máy lên thẳng pḥng Ông Già. Không có ai canh trước cửa pḥng. Cửa pḥng mở. Chàng vào pḥng. Có người nằm trên giường, qua ánh trăng Tháng Chạp xuyên qua màn cửa sổ Michael nh́n thấy mặt ông bố. Ngay cả lúc này vẻ mặt ông già vẫn điềm nhiên, lồng ngực ông lên xuống với những nhịp thở không đều. Những ống dây từ những cột thép bên giường gắn vào người ông. Michael đứng đó một lúc để biết chắc ông bố chàng không sao cả, rồi chàng ra khỏi pḥng.
    Chàng nói với y tá: “Tôi là Michael Corleone. Tôi chỉ muốn ngồi với bố tôi một lúc. Chuyện ǵ xẩy ra với những thám tử có nhiệm vụ bảo vệ ông bố tôi vậy cô?”
    Y tá là một em trẻ tuổi, xinh xinh, tự quan trọng v́ trách vụ của ḿnh. “Ồ, ông thân của anh có quá nhiều khách nên làm trở ngại công việc của bệnh viện”, cô nói. “Cảnh sát đến mời mọi người ra trước đây mười phút. Mới đây hai thám tử cũng được sở của họ gọi về. Nhưng đừng lo, tôi vào thăm chừng ông luôn, tôi có thể nghe thấy tiếng động trong pḥng ông. V́ vậy tôi để ngỏ cửa pḥng”.
    Michael trở vào pḥng ông bố. Chàng nhấc điện thoại trong pḥng, gọi về nhà. Sonny trả lời, Michael nói nhỏ: “Sonny, em đang ở bệnh viện. Em đến muộn. Sonny, không có ai ở đây cả. Không một người nào của Tessio. Không một thám tử ở cửa pḥng. Ông già hoàn toàn không được bảo vệ”.
    Giọng chàng run run.
    Im lặng một lúc lâu rồi giọng nói của Sonny vang đến, thấp và cũng xúc động: “Đây là thủ đoạn của Sollozzo mà chúng ta đă nói đến”.
    Michael nói: “Em cũng thấy thế. Nhưng sao nó có thể sai bọn cớm đuổi tất cả những người của ta ra khỏi đây? Có lẽ nào thằng chó đẻ ấy lại mua được trọn gói cả bọn Cảnh Sát New York?”
    “Đừng sợ, nhỏ”. Giọng nói của Sonny xoa dịu. “Ḿnh lại gặp may nhờ em đến bệnh viện vào giờ khuya này. Ở lại trong pḥng ông già. Khóa cửa pḥng lại. Anh cho người đến đó trong mười lăm phút. Ở yên đó, đừng hoảng. Được không, nhỏ?”
    “Em không hoảng”, Michael nói. Lần thứ nhất kể từ khi vụ này xẩy ra chàng thấy cơn thù hận dâng lên trong chàng, cơn thù hận những kẻ thù của ông bố chàng.
    Chàng đặt ống nói và nhấn máy gọi cô y tá. Chàng quyết định làm theo ư chàng mà không làm theo lệnh Sonny. Khi cô y tá vào, chàng nói: “Tôi không muốn làm cô sợ nhưng chúng ta phải đưa ngay ông bố tôi đi khỏi đây. Sang pḥng khác hay sang tầng khác. Cô có thể gỡ những ống dây này ra để ta đẩy giường đi được không?”
    Em y tá nói: “Không được đâu. Phải có phép của bác sĩ”.
    Michael nói nhanh: “Cô đă đọc về ông bố tôi trên các báo. Cô thấy đêm nay không có ai ở đây bảo vệ ông. Tôi được tin có người sắp đến đây giết ông. Xin cô tin tôi và giúp tôi”.
    Em y tá nói: “Không cần phải rút dây ra. Ta đẩy cả bàn thuốc đi theo giường”.
    “Có pḥng nào trống không cô?”, Michael th́ thầm.
    “Ở cuối dẫy”, em y tá nói.
    Việc di chuyển được làm xong ngay, nhanh và hữu hiệu. Michael nói với cô y tá: “Cô ở trong này với ông bố tôi cho đến khi người của chúng tôi đến. Nếu cô ở pḥng trực cô có thể bị nguy hiểm”.
    Lúc ấy chàng nghe tiếng ông bố chàng nói trong giường, giọng nói khàn khàn nhưng vẫn mạnh, “Michael, con đấy à? Chuyện ǵ thế?”
    Micheal cúi xuống giường. Chàng cầm tay ông bố. “Con đây, Mike đây, bố ơi”, Chàng nói. “Bố đừng sợ. Bố nghe con nói nhé, bố đừng nói ǵ, nhất là khi có ai gọi tên bố. Có kẻ muốn giết bố, bố hiểu không? Có con ở đây nên bố đừng sợ”.
    Don Corleone, vẫn chưa biết hết những ǵ xẩy đến với ông, đau đớn ghê gớm, nhưng vẫn mỉm cuời hiền hậu v́ giọng nói quan trọng của anh con út, ông muốn nói với anh, nhưng việc đó quá sức ông. “Tại sao bây giờ bố lại sợ chứ? Người lạ từng đến giết bố từ năm bố mới mười hai tuổi“.

    Những lần kể chuyện mười mấy năm xưa trong tù, tôi kể lời Bố Già trong đoạn này: “Con ơi, Bố không bao giờ sợ cả”.
    The Godfather được thực hiện thành phim năm 1972. Marlon Brando đóng vai Bố Già Don Corleone. Phim được nhiều giải Oscar. Năm 1975 đến và măi măi sau đó khán giả xi-nê Sài G̣n không được xem hai phim The Godfather và The Exorcist – nói là không kịp xem th́ đúng hơn. Nghe nói hai phim The Godfather, The Exorcist đă đến Sài G̣n từ đầu năm 1975 nhưng người nhập phim c̣n ghim lại, đợi ngày lành, tháng tốt mới đem ra chiếu. Ngày lành, tháng tốt của những Thúc Ông là dịp có ngày lễ lớn, như tuần Lễ Giáng Sinh, Tết Nguyên Đán v.v… để rạp có đông khách đến xem. Đi tướt cả nước!
    Hai mươi mùa lá rụng sau, những bộ phim video The Godfather, The Exorcist lén lút vào Sài G̣n, nhưng thế hệ khán giả xi-nê chờ đợi xem phim năm xưa, sau mười mấy năm bẩy nổi, ba ch́m, lênh đênh tới bến, mặt ông nào ông nấy in hằn những vết roi đời, không c̣n hào hứng ǵ với việc xem phim xi-nê, dù có là phim The Godfather. Đọc tiểu thuyết The Godfather và thấy hay đến mấy, hay quá chời, quá đất, tự hẹn khi phim chiếu sẽ đi xem – như tôi chẳng hạn – lỡ dịp được coi The Godfather, The Exorcist năm 1975, năm tôi tuổi đời Bốn Bó đang xoan, sau cuộc biển dâu khi tuổi đời tôi Sáu Bó Lẻ Mấy Que tôi hững hờ với việc coi những phim video The Godfather, The Exorcist. Một thời mê đắm qua rồi, cho qua luôn. Khi tuổi tác đổi khác, tâm trạng độc giả, khán giả mê The Godfather hai mươi năm xưa cũng đổi khác. Thế hệ độc giả, khán giả trẻ hiện nay không c̣n mê chuyện Mafia. Phải chăng đó là nguyên nhân làm cho cuốn tiểu thuyết cũng viết về đề tài Mafia của Mario Puzo, xuất bản năm 1996 – The Last Don: Bố Già Cuối Cùng – không mấy ăn khách?

    . . .
    Last edited by BlackHole; 04-11-2018 at 05:26 AM.

  3. #3
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609


    Mời bạn đọc thêm một đoạn The Godfather, đoạn vào truyện, Bonasera, chủ một Tang Nghi Quán, tức Nhà Đ̣n Đám Ma Mỹ, đến nhà Don Corleone dự đám cưới Connie Corleone, con gái ông Don.
    Bonasera có cô con gái cưng bị hai thanh niên Mỹ đưa đi chơi và cưỡng hiếp. Hai gă bạo dâm, bạo hành đánh cô gái bị thương nặng. Là công dân tốt, Bonasera tin ở pháp luật của nước Hoa Kỳ dân chủ, thưa hai gă làm hại con ḿnh ra ṭa. Hai gă lại là con ông, cháu cha – con Thượng nghị sĩ, cháu Thống đốc v.v… – ṭa xử chúng ba năm tù nhưng cho hưởng án treo. Tức là cho chúng ra về thơ thới hân hoan, không bị tù ngày nào. Thất vọng v́ cái gọi là pháp luật Mỹ, chủ nhà đ̣n Bonasera đến t́m Bố Già Corleone:

    “…Amerigo Bonnasera theo Hagen vào pḥng và thấy Don Corleone ngồi sau cái bàn lớn, Sonny Corleone đứng bên cửa sổ nh́n ra vườn. Đây là lần thứ nhất trong ngày Bố Già tỏ vẻ lạnh lùng. Ông không ôm cũng không bắt tay người khách. Ông chủ nhà đ̣n mặt mũi hốc hác chỉ được mời đến dự đám cưới v́ bà vợ ông ta và bà vợ Bố Già là đôi bạn thân. Amerigo Bonasera không được Bố Già ưa mấy.
    Bonasera mở đầu lời thỉnh cầu một cách quanh co và khéo léo: “Xin ông tha lỗi cho con gái tôi, nó là con đỡ đầu của bà nhà, hôm nay nó không đến chung vui với cô nhà ta được. Con gái tôi c̣n nằm ở bệnh viện”. Bonasera đưa mắt nh́n Tom Hagen và Sonny Corleone ngỏ ư ḿnh không muốn nói chuyện trước hai người này. Nhưng Bố Già mặc kệ.
    “Chúng tôi biết tai họa của cô con gái anh”, Don Corleone nói. “Nếu tôi có thể giúp anh bất cứ việc ǵ, anh chỉ cần nói. Dù sao th́ vợ tôi cũng là mẹ đỡ đầu của con gái anh. Tôi không bao giờ quên vinh dự ấy”. Đây là một lời trách cứ. Ông chủ nhà đ̣n không bao giờ gọi Don Corleone là Bố Già theo như phong tục.
    Bonasera, mặt sám ngắt, đành phải nói: “Xin cho tôi được nói chuyện riêng với ông”.

    Don Corleone lắc đầu: “Tôi trao đời sống của tôi cho hai người này. Họ là hai cánh tay phải của tôi. Tôi không thể sỉ nhục họ bằng cách bảo họ đi chỗ khác”.

    Ông chủ nhà đ̣n nhắm hai mắt lại một lúc, sau đó bắt đầu nói. Giọng nói của ông ôn tồn, đây là giọng ông vẫn dùng để an ủi tang gia bối rối. “Tôi nuôi dậy con gái tôi theo cung cách Mỹ. Tôi tin tưởng Mỹ quốc. Mỹ quốc đă cho tôi có sản nghiệp. Tôi cho con gái tôi được tự do đồng thời dậy cho nó không bao giờ làm gia đ́nh mất danh dự. Con tôi có bạn trai không phải là người Ư. Con tôi đi xem xi-nê với thằng đó. Nó đi chơi đến khuya mới về. Thằng bạn nó không bao giờ chịu đến nhà gập vợ chồng tôi. Tôi chấp nhận những chuyện đó mà không nói ǵ, lỗi tại tôi. Hai tháng trước thằng đó đón con tôi đi chơi, cùng đi c̣n có một thằng bạn nó. Chúng cho con tôi uống whiskey rồi cưỡng hiếp con tôi. Con tôi chống lại. Con tôi giữ danh giá. Chúng đánh con tôi. Như đánh con vật. Khi tôi đến bệnh viện, con gái tôi hai mắt tím bầm, xương sống mũi bị gẫy, xương hàm cũng gẫy. Phải buộc lại bằng dây thép. Con tôi đau, khóc. “Ba ơi… Ba ơi… Sao chúng lại đánh con, sao lại đánh con?”. Tôi khóc”.
    Bonaserra không nói được nữa, ông khóc nghẹn ngào nhưng giọng nói vẫn không bị chấn động.
    Don Corleone, như không muốn, làm một cử chỉ tỏ sự ưu ái và Bonasera nói tiếp, giọng nói của ông trở thành giọng nói của con người đau khổ. “Sao tôi lại khóc? Con gái tôi là ánh sáng của đời tôi, con tôi rất có t́nh. Con bé xinh, đẹp. Nó tin người nhưng từ nay nó không c̣n tin ai được nữa. Nó cũng không bao giờ đẹp lại”. Bonnasera run rẩy, khuôn mặt hốc hác tím sẫm.
    “Tôi đến với cảnh sát như một công dân Mỹ tốt. Hai thằng đó bị bắt. Chúng bị đưa ra ṭa. Chứng cớ quá nhiều, chúng nhận chúng có tội. Chánh án tuyên án chúng ba năm tù nhưng cho hưởng án treo. Chúng được trở về tự do ngay ngày hôm đó. Tôi đứng ngây trong pḥng xử như thằng ngốc, hai thằng khốn nạn đó cười nhạo tôi. Tôi nói với vợ tôi: “Chúng ta phải đến với Bố Già Corleone để xin công lư”.
    Bố Già cúi đầu xuống để tỏ ḷng kính trọng nỗi đau thương của người nói. Nhưng khi ông cất tiếng, những lời ông nói sắc lạnh v́ bị xúc phạm. “Tại sao anh lại đến với cảnh sát? Tại sao anh không đến với tôi ngay từ lúc chuyện này mới xẩy ra?”
    Bonasera nói nhỏ gần như không ra tiếng “Ông muốn ǵ ở tôi? Cho tôi biết ông muốn ǵ. Nhưng xin làm cái việc tôi xin ông làm”. Gần như có vẻ ǵ hỗn xược trong lời nói của Bonasera.
    Bố Già nghiêm trọng hỏi “Anh muốn tôi làm ǵ?”
    Bonasera nh́n Hagen và Sonny Corleone rồi lắc đầu. Bố Già, vẫn ngồi yên trên ghế, nghiêng ḿnh về phía khách. Bonasera do dự rồi cúi xuống ghé sát môi vào tai Bố Già để nói. Bố Già nghe như ông linh mục trong ṭa giải tội, mắt nh́n ra xa, b́nh thản, xa vắng. Hai người trong tư thế đó một lúc thật lâu, cho đến lúc Bonasera ngừng nói và đứng thẳng lên. Bố Già nh́n vào mặt Bonasera, ông này nh́n lại.
    Sau cùng Bố Già nói: “Việc đó tôi không làm được. Anh yêu cầu việc quá đáng”.
    Bonasera nói lớn, rơ: “Tôi xin trả ông bất cứ cái ǵ ông muốn”. Nghe câu đó, Hagen nhích thân ḿnh, đầu lắc nhẹ. Sonny Corleone hai tay khoanh trước ngực cười ngạo mạn quay lại nh́n cảnh trong pḥng lần đầu kể từ khi ông chủ nhà đ̣n vào pḥng.
    Bố Già đứng lên.Vẻ mặt ông vẫn b́nh thản nhưng giọng ông lạnh như thép. “Chúng ta biết nhau từ nhiều năm, anh và tôi”, ông nói với Bonasera, “nhưng cho đến ngày hôm nay anh không bao giờ đến tôi để hỏi ư hay nhờ giúp. Tôi không nhớ có lần nào anh mời tôi đến nhà anh uống cà phê hay không, dù vợ tôi là mẹ đỡ đầu đứa con gái duy nhất của anh. Hăy thành thật. Anh từ chối t́nh bạn của tôi. Anh không muốn mắc nợ tôi”.
    Bonasera nói nhỏ, “Tôi không muốn bị rắc rối”.
    Bố Già dơ tay lên. “Không. Đừng nói. Anh thấy Mỹ quốc là thiên đường. Anh có nghề nghiệp tốt, anh kiếm được tiền, anh nghĩ anh sống hoàn toàn an ninh và anh có thể hưởng thụ cuộc sống như anh muốn. Anh không cần có những người bạn chân chính. Cần làm ǵ, anh đă có cảnh sát bảo vệ anh, có ṭa án, ai có thể làm hại anh và người thân của anh. Anh không cần Don Corleone. Tốt thôi. Tự ái tôi bị tổn thương nhưng tôi không phải là hạng người mời chào những người không thấy t́nh bạn của tôi có giá trị, tôi không ve văn những người coi thường tôi”.
    Bố Già ngừng nói, mỉm cười lễ độ nhưng mỉa mai với Bonasera. “Nay anh đến gặp tôi, anh nói “Don Corleone, thi hành công lư cho tôi”. Và anh không xin với sự kính trọng. Anh đến nhà tôi trong ngày cưới của con gái tôi, anh yêu cầu tôi giết người và anh nói” – giọng nói của Bố Già trở thành riễu cợt, nhại tiếng – “Tôi chi ông bất cứ cái ǵ. Không, tôi không giận đâu nhưng tôi đă làm ǵ để anh đối xử với tôi bất kính đến như thế chứ?”
    Bonnasera kêu lên trong lo âu và sợ hăi “Mỹ quốc tốt với tôi. Tôi muốn tôi là công dân tốt. Tôi muốn con tôi là người Mỹ”.
    Bố Già chắp hai tay lại với vẻ tán thành toàn tâm: “Nói hay. Được lắm. Vậy th́ anh đâu có ǵ để phải kêu rên. Quan ṭa đă tuyên án. Mỹ quốc đă tuyên án. Đem hoa và kẹo đến cho con gái anh trong bệnh viện. Những thứ đó sẽ an ủi nó. Hài ḷng đi. Dù sao chuyện này cũng chẳng quan trọng ǵ, hai thằng đó c̣n trẻ, phá nghịch hơi quá đáng, một trong hai đứa lại là con một chính trị gia có thế lực. Anh bạn Amerigo, anh lúc nào cũng lương thiện. Tôi phải công nhận, dù anh từ chối t́nh bạn của tôi, tôi tin tưởng ở lời nói của Amerigo Bonasera hơn tôi tin lời nói của nhiều người khác. Vậy th́ anh hăy hứa với tôi là anh sẽ bỏ qua vụ này. Việc anh muốn làm không Mỹ chút nào. Tha thứ. Quên. Cuộc đời đầy những tai họa”.
    Sự mỉa mai tàn nhẫn và khinh mạn cùng vẻ giận dữ kiềm chế của Bố Già làm cho ông chủ nhà đ̣n khốn khổ, khốn nạn người mềm như bún, nhưng Bonasera vẫn can đảm nói “Tôi xin ông cho tôi công lư”.
    Don Corleone nói gọn: “Ṭa án cho anh công lư”.
    Bonasera ương ngạnh lắc đầu: “Thưa không. Họ cho hai thằng đó công lư. Họ không cho tôi công lư”.
    Bố Già nh́n nhận sự phân biệt tế nhị ấy với cái gật đầu, rồi hỏi “Công lư của anh là ǵ?”
    “Mắt đền mắt”, Bonasera trả lời.
    “Anh đ̣i hơn thế mà”, Bố Già nói. “Con gái anh c̣n sống”.
    Bonasera miễn cưỡng nói “Xin bắt chúng nó phải đau đớn như con gái tôi đă đau đớn”.
    Bố Già chờ Bonasera nói thêm. Bonasera thu thập hết số can đảm c̣n lại và nói, “Tôi phải trả ông bao nhiêu?”. Câu hỏi như lời than tuyệt vọng.
    Don Corleone quay lưng lại. Đây là hành động biểu lộ sự đuổi khách. Bonasera không đi.
    Sau cùng, thở dài, như người tốt bụng không thể giận lâu hơn nữa người bạn lỗi lầm, Don Corleone quay lại với ông chủ nhà đ̣n, ông này mặt trắng bệch như mặt những thân chủ của Tang Nghi Quán.
    Don Corleone nói dịu dàng, kiên nhẫn. “Tại sao anh lại sợ phải đến nhờ tôi? Anh đến pháp đ́nh và anh chờ đợi cả tháng. Anh chi tiền cho bọn luật sư là bọn biết rơ anh chỉ là thằng ngớ ngẩn. Anh chờ đợi công lư ở một tên chánh án là tên đă bán ḿnh, nó không khác ǵ một con điếm vỉa hè tồi tệ nhất. Năm tháng qua, khi anh cần tiền, anh đến ngân hàng để phải trả những khoản tiền lời cắt cổ, mổ bụng, anh đứng chờ, mũ cầm tay, như thằng ăn mày, trong khi chúng lục lọi đời tư anh, ngửi cả đít anh để xem anh có thể trả nợ chúng được không”.
    Bố Già ngừng nói, giọng ông trở nên nghiêm khắc hơn. “Nhưng nếu anh đến với tôi, tiền của tôi là tiền của anh. Nếu anh đến với tôi để đ̣i hỏi công lư th́ giờ này hai thằng khốn kiếp làm hại con gái anh đă khóc hết nước mắt. Nếu chẳng may người lương thiện như anh mà có kẻ thù, kẻ thù của anh sẽ là kẻ thù của tôi”, – Bố Già đưa tay lên, ngón trỏ chỉ vào Bonasera – “Khi đó, tin tôi đi, thiên hạ sẽ sợ anh”.
    Bonasera cúi đầu, nghẹn lời “Xin là bạn tôi. Tôi nhận”.
    Don Corleone đặt bàn tay lên vai Bonasera. “Tốt”. Ông nói, “anh sẽ có công lư của anh. Có ngày, ngày ấy có thể sẽ không bao giờ đến, tôi sẽ nhờ anh làm cho tôi một việc ǵ đó. Cho đến ngày ấy, hăy coi cái công lư này là món quà tặng của vợ tôi, bà mẹ đỡ đầu con gái anh”.
    Khi cánh cửa pḥng đóng lại sau lưng ông chủ nhà đ̣n biết ơn, Don Corleone nói với Hagen “Giao việc này cho Clemenza, bảo nó dùng mấy tên nào tin được, mấy tên không say máu làm tới khi ngửi thấy mùi máu. Dù sao ta cũng không phải là những tên sát nhân…

    Bạn nghĩ ǵ sau khi đọc đoạn truyện trên đây?
    Tôi nghĩ đó là đoạn truyện tố cáo, đả kích xă hội Mỹ, pháp luật Mỹ, công lư Mỹ, lối sống Mỹ, lư tưởng Mỹ, quốc gia Mỹ, người Mỹ nặng nề nhất, tai hại nhất. Sự đả kích thực khủng khiếp. Con người sống trong xă hội phải được pháp luật và xă hội bảo vệ. Không có sự bảo vệ ấy con người không thể sống được. Con người cổ xưa sống man dă với luật thiên nhiên mạnh được, yếu thua. Con người thời đại ta sống trong xă hội được tổ chức có trật tự, có sự hợp lư. Nhưng cái xă hội Mỹ trong The Godfather của Mario Puzo gần như hoàn toàn không có công lư, không có pháp luật. Nói cách khác công lư, pháp luật Mỹ trong The Godfather không đáng tin cậy, không bảo vệ được người lương thiện.
    V́ nguyên nhân đó bọn Mafia tự thi hành luật pháp của chúng, thi hành pháp luật và công lư theo ư chúng. Nếu bất cứ một nhóm người nào đó cũng tự thi hành pháp luật theo ư ḿnh th́ c̣n ǵ là xă hội nữa??? Con người trở lại thời man dă mạnh được, yếu thua – thời xưa yếu có thể thua nhưng yếu vẫn c̣n có thể sống, thời này yếu không những chỉ thua mà sẽ chết ngắc. Nếu lư luận và việc làm của những nhân vật Mafia như Don Corleone trong The Godfather là đúng th́ trên cơi đời này, ít nhất là ở Mỹ quốc, chỉ những tên hung dữ, bạo tợn, có sức khỏe, có phương tiện giết người và dám giết người… là có quyền sống hay sao???



    Năm 1951 tôi rời Hà Nội vào Sài G̣n. Sáng mùa xuân, phi trường Gia Lâm trắng mưa xuân – mưa bụi, loại mưa đặc biệt chỉ mùa xuân ở Bắc Việt mới có. Hạt mưa thật nhỏ, chỉ những thiếu nữ Hà Nội mặc áo nhung mới có làn mưa trăng trắng bám trên hai cánh tay áo. Áo nhung thôi, những loại hàng khác thấm nước mưa nên không có làn mưa trắng mỏng này.
    Tôi xa Hà Nội năm tôi mười tám khi vừa biết yêu… Năm ấy tôi mang theo cây đàn lên phi cơ nhưng số tôi không khá về mặt đàn địch, ba lần tôi học đàn nhưng rồi tôi cũng bỏ cuộc, không chơi nổi được lấy một bài tủ cho ra hồn như bài La Vie En Rose tôi rất thích. Năm 1950 tôi học đàn thầy Tạ Tấn ở Hà Nội, năm 1951 tôi học đàn thầy Vĩnh Lợi ở Sàigon, năm 1957 tôi học đàn thầy Lâm Tuyền ở Sài G̣n. Ba lần học mà vẫn không đàn được. Quá tam ba bận. Không được là không được.

    Năm 1952 tôi làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, ṭa soạn ở đường Bonard, gần tiệm ăn Kim Hoa cạnh rạp xi-nê-ma Casino de Saigon. Thời ấy – một nửa thế kỷ trôi qua rồi c̣n ǵ – Sài G̣n thanh vắng, đời sống ở Sài G̣n tương đối thanh b́nh, chiến tranh Việt-Pháp diễn ra dữ dội ở miền Bắc, miền Trung, những tờ nhật báo Sài G̣n không có nhiều tin giựt gân – kể cả những tin không giật gân, tin xe cán chó – để đăng. Một hôm có chiếc xe buưt chạy đường Phú Nhuận – Sài G̣n lạc tay lái đâm vào cổng Dinh Gia Long, vài người bị thương nhẹ. Năm ấy Cao Ủy Pháp ở trong ṭa nhà về sau ta gọi là Dinh Độc Lập, chính phủ ta, Thủ Tướng Trần Văn Hữu, ở Dinh Gia Long. Tôi đến nơi xẩy ra tai nạn lấy tin. Đang đứng láng cháng hỏi và ghi chép th́ nghe tiếng người hỏi:
    – Báo nào thế?
    Người hỏi là Nguyễn Ngọc Tú, tức Ngọc Thứ Lang, người những năm 70 là dịch giả tiểu thuyết Bố Già dịch từ The Godfather của Mario Puzo. Đấy là lần đầu tiên tôi gặp Tú. Tú trạc tuổi tôi, công tử Bắc Kỳ – những năm đầu thập niên 50, chúng tôi mới hai mươi tuổi. Tôi vào Sài G̣n đă sớm, Tú c̣n vào Sài G̣n sớm hơn tôi. Gập nhau chúng tôi thân nhau ngay. Tú nói anh từng là nhân viên ṭa báo của ông Hiền Sĩ – tôi quên tên tờ báo này. Đây là tờ báo Việt đầu tiên ra đời ở Sài G̣n sau khi người Pháp trở lại Đông Dương năm 1945. Trong ṭa soạn tờ báo này có anh Trường Sơn Nguyễn Huy Thái, một kư giả kỳ cựu của làng báo Sài G̣n. Một bút hiệu khác của anh Thái là Huy Thanh. Anh đă mất khoảng năm 1998 ở Sài G̣n. Năm 1952 khi tôi gặp Tú và thân với Tú, tờ báo của ông Hiền Sĩ đă đóng cửa từ lâu, ông Hiền Sĩ đă về Chợ Gạo, Mỹ Tho làm Cai Tổng. Có lần tôi gập ông đến ṭa soạn báo Sài G̣n Mới thăm ông bà Bút Trà. Lên Sài G̣n, ông Hiền Sĩ vẫn ăn bận đúng kiểu Cai Tổng Nam kỳ lục tỉnh: đầu đội mũ nỉ, miệng ngậm ông vố, tay cầm ba-toong, mặc bộ đồ sá xẩu, chân đi giép, răng vàng, nói cười rổn rảng.

    Về chuyện Tú là nhân viên tờ báo của ông Hiền Sĩ, tôi phải viết thêm: đấy là chuyện Tú kể với tôi. Mới đây khi nhắc đến Tú, một ông bạn nói Tú du học ở Paris đến năm 1954 mới về nước. Tôi hỏi ai nói, ông bạn nói Tú nói. Tôi biết Tú không đi Tây, đi Tầu chi hết, kể cả Tây Ninh, Tú cũng chưa bao giờ đi. Thành ra chuyện Tú nói với tôi anh từng là nhân viên nhật báo của ông Hiền Sĩ, tôi sợ cũng chỉ là chuyện Tú nói.
    Tú bằng tuổi tôi, học hành lem nhem như tôi, chúng tôi cùng bỏ học sớm, cùng biết tí đỉnh Pháp văn, Anh văn. Tú sắc xảo nước đời hơn tôi, ít tuổi nhưng hay chơi trội: mới hai mươi tuổi đă vào Nhà Cercle Ṣng bạc Kim Chung đánh roulette, hút thuốc phiện. Năm 1955 Tú kiếm được nhiều tiền. Anh in và bán quyển “Tại sao tôi di cư” cho Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Ḥa – thời Bộ trưởng Cao Đài Phạm Xuân Thái. Nghe nói ông Bàng Bá Lân là tác giả quyển sách nhỏ ấy. Sách ra đúng thời điểm. Tú có cả trăm ngàn đồng, số tiền thật lớn thời đó. Anh ăn diện: sơ-mi Valisère hàng nylon mới từ Paris sang bán ở tiệm đồ đàn ông mode nhất, đắt nhất thời đó trên đường Tự Do, dùng đồng hồ vuông mặt đen, mũ Mossant, cặp da nâu bệ vệ như cặp của Bộ trưởng Phạm Xuân Thái, máy chữ portatif, quạt máy Marelli, hút thuốc lá Mỹ Phillip Morris Vàng Kingsize, bật lửa Dupont, ăn cơm Tây, rượu chát v.v…
    Và Tú gặp t́nh yêu. Nàng là cô giáo người Bắc, nhà ở gần nhà Tú – đường Gennibrel, từ sau 1956 là đường Huyền Quang, Tân Định. Cô giáo có chồng. Chồng nàng ra bưng kháng chiến. Nàng ở Sài G̣n dậy học, sống với đứa con nhỏ và bà mẹ, chờ đợi chồng trở về. Chiến tranh chấm dứt, đất nước chia đôi, tháng 12 năm 1954 chồng nàng từ Đồng Tháp Mười tập kết lên tầu Ba Lan ra Bắc. Thấy chồng không chịu trở về, cô giáo thất vọng. Nàng trao trái tim nàng cho Tú. Cuộc t́nh của họ gặp trắc trở. Cô giáo tự tử chết, bỏ lại mẹ già, con thơ. Thật tội. Đời Tú, từ cái chết bi thảm của cô giáo, bắt đầu xuống dốc không phanh. Anh nằm luôn trong một nhà bán thuốc phiện ở hẻm Monceaux, Tân Định – sau 1956 là đường Huỳnh Tịnh Của nối dài. Anh ăn, hút, ngủ trong nhà đó luôn, bán dần đồng hồ, máy chữ, cặp da trả tiền hút. Tú ra khỏi nhà đó hai tay không với bệnh nghiện hút nặng.
    . . .

  4. #4
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609


    Từ sau năm 1954 đất nước chia đôi, nguồn cung cấp á phiện cho miền Nam Việt Nam, nay là Việt Nam Cộng Ḥa, không đến từ Bắc Việt nữa mà đến từ vùng Xiêng Khoảng nước bạn Ai Lao, hoặc vùng gọi là Tam Giác Vàng. Hàng về bằng đường hàng không. Năm 1961, 1962 Ai Lao có nạn binh biến xẩy ra chí chạt: Đại úy Nhẩy Dù Khong Le làm đảo chính, rồi hai ông Hoàng Phoumi, Phouma tranh quyền Thủ Tướng đánh nhau liên miên. Trong một lần hai ông Hoàng Lèo tranh quyền, Vientiane bị giới nghiêm, phi trường Vientiane đóng cửa nhiều ngày. Phi cơ không bay, á phiện Lèo không về được Sài G̣n. T́nh h́nh giới HítTôPhê Việt Nam Cộng Ḥa thập phần nguy kịch. Đệ tử của Cô Ba Phù Dung có thể nhịn ăn nhiều ngày nhưng khônng thể nhịn hút dù chỉ là nửa ngày. Đệ tử Cô Ba Phù Dung có thể thiếu cơm – thực ra là mấy ổng Tiên Ông Phi Yến Thu Lâm săng phú cơm, săng phú luôn cả thịt cá, rau dưa – nhưng mấy ổng không thể nửa ngày không có thoóc. Thời ấy trong giới Hít Tốp có câu nói đùa:
    – Phu Mi, Phu Ma đánh nhau, chỉ có PhuMơ chúng ḿnh là chết!
    PhuMơ: fumeur, tiếng gọi khác là phum, dân phum, tức dân hút thuốc phiện.
    Mà Phu Mơ Mít chết thật. Hàng không về, thuốc tăng giá. Những nhà c̣n thuốc giữ lại không bán ra. Gần như có tiền và chịu giá đắt mấy cũng không mua được thuốc. Mà lính của Cô Ba th́ tuyệt đại đa số là đọi, tức tiên khồng. Chít mất. Chít là cái chắc! Nô thoóc! Không có thoóc! Làm sao bi giờ? Trong cơn nguy cấp ấy không biết ông Con Trai Bà Cả Đọi Hít Tô Phơ thông minh nào có óc khoa học vật lư hóa nẩy ra sáng kiến thần sầu cứu nguy cho thân ḿnh và đồng bạn bằng cách: lấy sái thuốc phiện nấu với nước, lọc đại khái cho nước thuốc không có cặn, rút vào ống chích, chích thẳng vào gân máu. Sáng kiến này dựa trên sự phân tích khoa học: hút khói thuốc phiện vào phổi, phổi đưa chất thuốc vào máu. Tiến tŕnh này mất th́ giờ và tốn thuốc, mười phần thuốc được dùng th́ chất vào máu chỉ được hai, ba phần. Tại sao lại không nấu cho sái tan ra nước – thuốc phiện chưa hút cháy thành sái sao lại không dùng được trong tṛ chích choác này – lấy nước sái chích thẳng vào mạch máu? Chích như vậy là thuốc vào máu đủ chăm phần chăm, ép-phê liền tù t́ tút suỵt, chưa rút mũi kim ra thuốc đă vào đến tim, lại không bị tiêu hao, phí phạm một ly ông cụ nào.
    Thế là từ đó thế giới ma túy Việt Nam Cộng Ḥa có thêm tṛ chích choác. Rồi màn kịch vô duyên mấy trự gà Lèo không bôi mặt cũng đá nhau sặc mắm ngóe cũng phải ngừng, á phiện lại từ Lèo bay về Sài G̣n đều đều, nhưng dân nghiện Sài G̣n đă có thêm tṛ chích choác. Dân nghiện ma túy Âu Mỹ chích cocaine, heroine, gọi chung là bạch phiến, chất trắng. Dân nghiền Việt chích bằng nước sái thuốc phiện, chất nước mầu nâu sẫm hay nhạt, đậm hay đặc, tùy theo số sái và số nước nhiều hay ít. Người đă choác khó có thể bỏ choác. Đang hút 1000 đồng, người nghiện chỉ cần choác 100 đồng là phê khủng khiếp, choác phê hơn hít nhiều. Và choác cũng tàn phá con người nặng, mạnh và nhanh hơn hít rất nhiều. Cai thuốc phiện khó hơn lên trời, nhưng người nghiện hút may ra c̣n có thể cai được – cai: bỏ hút – c̣n choác th́ vô phương. Choác một năm, cơ thể bị tàn phá bằng hít mười năm.
    Tú Lé – Tú bị lé một mắt nên chúng tôi gọi anh là Tú Lé hay Tú Lếch – từ hít sang choác. Những năm 70, Tú chuyên mặc sơ-mi dài tay. Gân máu trên hai cánh tay anh bị chích nhiều quá thành trai cứng, đen ś, trũng xuống như ḷng máng nước. Tú viết cho Tuần san Thứ Tư của Nguyễn Đức Nhuận và lai rai cho nhiều báo khác, lấy bút hiệu Ngọc Thứ Lang. Nhuận đưa The Godfather cho Tú dịch. Tú chọn tên Bố Già và bản dịch Bố Già là một bestseller của tiểu thuyết Sài G̣n những năm 1971, 1972.

    Năm 1976 Tú và tôi đến dự cái gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị cho văn nghệ sĩ Sài G̣n do Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố Hồ chí Minh tổ chức. Cùng dự khóa này với chúng tôi có Nguyễn Đ́nh Toàn, Phan Nghị, Cao Nguyên Lang v.v… Hai mươi mốt ngày học tập, học viên được Thành Ủy cấp mỗi ngày một đồng, tiền công tác phí. Hôm học viên được mua nhu yếu phẩm – đúng hơn được phát số nhu yếu phẩm này – tiền mua lấy từ trong số 21 đồng tiền công tác phí: hai hộp sữa, hai gói thuốc điếu Vàm Cỏ, một kư đường, hai gói ḿ, một cây kem đánh răng, nửa kư bột giặt, hai trăm gam bột ngọt v.v… Lănh nhu yếu phẩm xong học viên Nguyễn Ngọc Tú, tức Ngọc Thứ Lang, tác giả Bố Già, biến mất liền trong hai ngày không đến lớp. Chúng tôi nói với nhau: “Ngọc Thứ Lang mang nhu yếu phẩm đi hưởng bồi dưỡng rồi”. Anh đổi số nhu yếu phẩm ấy lấy thuốc chích.
    Cuối 1976, kư giả Hồ Ông – hiện làm báo ở Sydney, Úc – cho tôi hay: “Anh Tú bị bắt đi phục hồi nhân phẩm trên B́nh Triệu. Anh ấy nhắn về bảo anh lên thăm”. Một sáng, Hồ Ông và tôi trên hai xế đạp lên B́nh Triệu thăm Tú. Trung Tâm cai ma túy của thành phố được đặt trong ṭa nhà Tu viện Fatima. Tu viện vừa xây cất xong, chưa khai trương th́ bị chiếm. Pḥng ốc rộng răi, mát mẻ, sạch sẽ, thênh thang, thừa tiện nghi, hồ nước máy lớn ở vườn sau, tha hồ tắm. Mỗi pḥng dự định dành cho một tu sĩ nay có ba, bốn anh nghiện ở, pḥng không có đồ đạc, bàn ghế ǵ cả, chỉ có mấy cái chiếu trải trên sàn. Đa số là dân choác, bị công an hốt từ những động choác. Rất ít người được gia đ́nh tiếp tế. Anh em vào đây chỉ với một bộ quần áo đang mặc trên người.
    Khi tôi đến gập Tú, anh đă khoẻ, đi lại, ăn uống được. Những vết chích trên da thịt anh bị lở loét nhưng không sao, rồi sẽ lành. Nhiều người cai choác bị lở như vậy. Tú dẫn tôi đến xem tờ bích báo của Trung Tâm Phục Hồi Nhân Phẩm. Báo có 7 bài, một ḿnh Tú viết 5 bài. Nghề của chàng. Tú kể chuyện có nữ kư giả ngoại quốc đến thăm Trung Tâm, Tú nói được tiếng Pháp, tiếng Anh nên ban quản đốc đưa anh ra nói chuyện với khách. Nữ kư giả ngạc nhiên khi nghe nói Tú là dịch giả The Godfather của Mario Puzo. Chắc cô nghĩ, theo những tiêu chuẩn kinh tế thị trường Âu Mỹ, đă là dịch giả The Godfather th́ đâu có thể thân tàn, ma dại quá đến như Ngọc Thứ Lang. Cô nhà báo không tin. Tú được phép về Sài g̣n lấy quyển Bố Già đem lên Trung Tâm cho nữ kư giả thấy là thật.

    Tú nói sau thời gian cai nghiện ở Trung tâm B́nh Triệu, đệ tử Cô Ba sẽ phải đi nông trường cải tạo ít nhất là hai năm, nhưng v́ Tú có khả năng ban quản đốc sẽ giữ Tú lại làm việc ở Trung tâm. Tốt thôi. Đấy là lần cuối cùng tôi gặp Tú. Từ lần chúng tôi gặp nhau đầu tiên năm 1952 đến lần gặp nhau cuối năm 1976, 24 mùa lá rụng đă qua cuộc đời chúng tôi.
    Năm 1977 tôi bị bắt lần thứ nhất. Hai năm tôi sống trong Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Năm 1979 trở về mái nhà xưa tôi được tin Tú đă chết ở Trại Cải Tạo Phú Khánh. Trại này nằm giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Ḥa. Tôi nhớ Tú nói anh sẽ được giữ lại Trung Tâm B́nh Triệu, tại sao anh lại phải đi Phú Khánh? Tôi hỏi và được biết nguyên nhân như sau: một hôm Trung Tâm cần in một số tài liệu. Tú từng làm báo, biết về việc in và nhà in nên ban quản đốc giao tiền cho Tú mang tài liệu về Sài G̣n in. Đến nhà in Tú đặt in, để hai chú bạn ngồi lại, đem tiền in đi luôn. Tú đi choác. Hai chú bạn ngồi va-ly đói dài, tiền ăn cơm trưa không có, tiền lấy đồ in cũng không luôn. Tú biến mất vài ngày rồi cũng trở lại Trung tâm. Ban quản đốc thấy không thể giữ Tú lại nên cho Tú đi trại. Nghe nói một sáng trời lạnh ở Trại Tù Khổ Sai Phú Khánh, Tú rít điếu thuốc lào, đứng tim, ngă ra chết.
    Tú có một bà chị. Năm 1955, khi đất nước ta, bị cắt đứt ở khúc B́nh Định – Quảng Ngăi, sau 9 năm chiến tranh mới liền một giải từ sông Bến Hải đến Mũi Cà Mâu; thời ông Phạm Xuân Thái làm Bộ trưởng Bộ Thông Tin, Tú và tôi đi một chuyến miền Trung. Tú đi với tư cách ủy viên Bộ Thông Tin, tôi là phóng viên nhật báo Sài G̣n Mới. Tú đưa tôi đến thăm gia đ́nh bà chị Tú ở Lăng Cô, trên đường Huế – Đà Nẵng. Ông anh rể Tú năm ấy là Trung úy Bác sĩ Quân Y. Anh rất đàng hoàng – danh từ thời đó là réglo – bà chị của Tú hiền hậu. Sau đó, đến những năm 1960 tôi nghe nói ông anh rể của Tú làm giám đốc một quân y viện ở Đà Lạt. Tú lên chơi, vào pḥng thuốc của quân y viện, đ̣i ch́a khóa, mở tủ thuốc cấm, lấy cocaine, morphine chích loạn cào cào. Nhân viên thấy Tú là em vợ của bác sĩ giám đốc nên không dám ngăn. Khi bác sĩ biết, ông cấm cửa không cho Tú đến nhà nữa.
    Những năm về sau Tú sống trong nhà anh Thạch Thái Phúc, đường Bùi Thị Xuân, Sài G̣n. Anh Phúc là kư giả pháp đ́nh, tức ṭa án. Anh có dáng người bệ vệ, kính trắng, ria mép, lúc nào cũng comlê, cavát, cặp da, ô đen. Không ai dám chứa một ông chích choác không phải là con cháu ḿnh ở trong nhà, anh chị Phúc đă chứa Tú. Nghe nói bà mẹ của anh Phúc và bà mẹ của Tú là hai bà bạn thân. Bà mẹ của Tú ở lại Hà Nội. Năm 1954 khi gia đ́nh anh Phúc di cư vào Nam, bà mẹ của Tú có lời nhờ bà mẹ anh Phúc trông nom, săn sóc Tú. Anh chị Phúc làm theo ư bà mẹ, cưu mang Tú măi. Anh chị cho Tú ăn ở, chỉ có tiền đi choác là không. Anh Phúc thông gia với Minh Vồ Con Ong. Minh đă qua đời năm 1993. Anh Phúc c̣n sống ở Sài G̣n.

    Năm 1986 theo Liên Xô, theo Trung Cộng, Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Nguyễn Văn Linh ban hành “đổi mới” và tuyên bố “cởi trói cho văn nghệ”. Cùng với hằng hà sa số những tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam Cộng Ḥa từng bị lên án là đồi trụy, phản động, tuyên truyền cho thực dân Mỹ, bị tịch thu, bị hủy hoại, tiểu thuyết Bố Già của Ngọc Thứ Lang được in lại. Hai nhà xuất bản tranh nhau in Bố Già: Nhà Xuất Bản Trẻ Thành Hồ và Nhà Xuất Bản Văn Hóa Hà Nội.
    Ngọc Thứ Lang, tác giả Bố Già, chết rồi, hai nhà xuất bản không phải trả tiền bản quyền Bố Già của Ngọc Thứ Lang được in lại ở hải ngoại. Nhà xuất bản Việt ở hải ngoại cũng miễn chi tiền bản quyền cho Ngọc Thứ Lang.
    Mario Puzo, tác giả The Godfather, tiểu thuyết bestseller từng bán đến 21 triệu cuốn, qua đời ở nhà riêng trong thành phố Bay Shore, tiểu bang New York, ngày Một tháng Bẩy năm 1999, thọ 78 tuổi, có năm con, chín cháu. Ngọc Thứ Lang, tác giả Bố Già, qua đời ở Trại Lao Cải Phú Khánh năm 1979, chưa đầy 50 tuổi, không vợ, không con.
    . . .

    Bạn có thể đọc thêm: [SIZE=2]
    Nhân Sofia Coppola đoạt giải Sư Tư Vàng Nhớ Ngọc Thứ Lang
    [/SIZE]

  5. #5
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609





    Chữ Thọ vừa ăn đứt Ngọa Long.
    Bến Nằm dư biết đục hay trong.
    Chỉ thương kiếp đá ai bày trận,
    Để ngấn vàng reo chợt rối ṿng
    “.

    Thơ Vũ Hoàng Chương làm năm 1969, năm nhà thơ 55 tuổi. Năm ấy ông thọ hơn Khổng Minh Gia Cát Lượng một tuổi. Thơ nói đến Ngọa Long – Rồng Nằm. Ngọa Long Gia Cát là Rồng Nằm ở Nam Dương, Trung Quốc. Vũ Hoàng Chương là Rồng Nằm ở Sài G̣n, Việt Nam Cộng Ḥa.
    Tháng Ba 1976 – năm Bính Th́n, tức năm Rồng – Cộng sản Hà Nội phát động chiến dịch bắt giam văn nghệ sĩ VNCH. Trong ṿng hai ngày, hai đêm khoảng ba mươi văn nghệ sĩ ta bị bắt, trong số có các anh Nguyễn Mạnh Côn, Doăn Quốc Sĩ, Trần Việt Sơn, Mặc Thu, Vũ Hoàng Chương…
    Nói đến Vũ Hoàng Chương là nói đến Thơ. Vũ Hoàng Chương không cần có cái danh thi sĩ đi trước tên. Từ năm 1965 Vũ Hoàng Chương không c̣n là thi sĩ nữa, ông là thi bá. Quốc gia Việt Nam Cộng Ḥa sụp đổ tan tành, thi bá cùng những văn nghệ sĩ Sài G̣n chịu chung số phận bi thảm cùng với nhân dân: tù đày, tuyệt vọng, đói khổ, bị sỉ nhục, bị kết tội. Khi Vũ Hoàng Chương là thi bá, ông được người ta trịnh trọng mời về cư ngụ trong biệt thự của người ta ở khu Lăng Cha Cả. Từ những năm đầu 1970, thi bá không c̣n bận âu phục com-lê vét-tông nữa. Thi bá bận áo dài ta. Tết đến, thi bá bận áo sa mầu lam ngọc, cầm quạt giấy, ngồi chụp ảnh trên hiên nhà bên chậu mai vàng, trông phong nhă cứ như thi sĩ Tầu Đường Bá Hổ.
    Cờ đỏ, súng AK, nón cối, giép râu ngơ ngáo vào Sài G̣n. Trong một sớm, một chiều thi bá trở thành “tội nhân” của chế độ Cộng sản. Người ta đuổi ông bà thi bá đi khỏi biệt thự của người ta không chút nể nang. Ông bà thi bá đưa nhau về sống ở khu Khánh Hội, chung nhà với bà quả phụ Đinh Hùng. Tháng Ba 1976 Công an thành Hồ đến nhà đưa thi bá đi. “Người ta” đây là bà Mộng Tuyết, người có thơ trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Chân – Hoài Thanh.
    Cộng sản Hà Nội coi toàn bộ tác phẩm văn nghệ Việt Nam Cộng Ḥa là phản động, đồi trụy. Họ cấm hết, tịch thu, tiêu hủy hết. Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng bị xếp vào loại Thơ Ma Mị, Bệnh Hoạn.
    Những mùa thu lá bay theo nhau qua. Cộng sản vẫn c̣n đó, những anh Cán Cộng làm văn hóa như anh Trần Trọng Đăng Đàn, người từng viết mạt sát Vũ Hoàng Chương, vẫn c̣n đó; nhưng, bất chấp những đổi thay nhân thế – vào những năm 1987, 1988, sau Đại Hội Cộng Đảng thứ Sáu, Tổng Bí thư Đảng Nguyễn Văn Linh tuyên bố “cởi trói” cho văn nghệ – tác phẩm của Vũ Hoàng Chương ngang nhiên xuất hiện trở lại trên những giá bày trang trọng nhất trong các tiệm sách thành Hồ.
    Việt Cộng tranh nhau tái bản tác phẩm của Vũ Hoàng Chương. Nhà xuất bản Trẻ thành Hồ tái bản những tập thơ Mây, Thơ Say, nhà xuất bản Đồng Nai in tập Thơ Vũ Hoàng Chương, nhà xuất bản Hội Nhà Văn Hà Nội tái bản hồi kư “Ta đă làm chi đời ta?” của Vũ Hoàng Chương với vài chương bị cắt bỏ.
    Chỉ mười năm sau ngày Vũ Hoàng Chương bị mạt sát, bị bắt giam, tác phẩm bị cấm đoán, chính những kẻ đă nặng lời mạt sát, đă bắt giam Vũ Hoàng Chương, lại ca tụng Vũ Hoàng Chương ở ngay giữa ḷng thành Hồ. Mời bạn đọc bài viết dưới đây đăng trên tuần báo Thanh Niên, ấn hành ở Sài G̣n năm 1996:
    Câu chuyện văn học: Đọc Hồi Kư “Ta Đă Làm Chi Đời Ta?” – Người viết: Tây Tạng”
    Khi tái bản cuốn “Ta Đă Làm Chi Đời Ta” của nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916-1976), nhà xuất bản Hội Nhà Văn trong lời dẫn đă xem đó là “một trong những tư liệu có thể giúp bạn đọc hiểu thêm về không khí văn học thời ấy” (trước 1945).
    Trong cuốn hồi kư đó Vũ Hoàng Chương kể rằng, sau khi in tập Thơ Say (1940), nhiều bạn thơ của ông nóng ḷng chờ đợi thi phẩm Mây ra mắt, trong đó có Huy Cận. Một hôm gặp nhau ở Cống Chéo, Hàng Lược, Huy Cận tay bắt, mặt mừng rồi ứng khẩu liền hai câu thơ: “Đă lâu gặp lại Chàng Say. Lửa Thiêng xin đợi chờ mây xuống trần“. Ư muốn nhắc tập thơ Mây của Vũ Hoàng Chương. Vừa nghe xong, ông nghĩ rất nhanh rằng có lửa phải có khói và ngâm tiếp hai câu nối theo Huy Cận: “Mây kia chẵng chịu xuống trần. Lửa ơi theo khói lên gần với Mây“. Huy Cận lấy làm thú vị, lôi ngay Hoàng (VHC) vào hiệu phở đầu phố Hàng Đồng, khăng khăng đ̣i đăi Hoàng một chầu kỳ no th́ thôi. Đó là năm 1942.
    Mùa thu năm sau (1943) nhà xuất bản Đời Nay in tập thơ Mây, “nó đă xuống tà tà theo lời gọi âm binh của phù thủy Tô Ngọc Vân (…) Bầu rượu và đám mây đều mầu nâu, b́a sách th́ mầu vàng rực rỡ (…) chiếc bầu rượu này chẳng hiểu có phải Tô Ngọc Vân đă chiêm bao nhặt được ở tận Đông Hải, do Lư Thiết Quài đại tiên bỏ quên hay không. Chỉ biết h́nh thù nó mập tṛn, nét vẽ đậm, và đặt chênh chếch tưởng đâu sắp té ngửa đến nơi, và té ra ngoài b́a sách“.
    Nhà thơ Vũ Hoàng Chương đă viết một cách di dỏm như vậy trong hồi kư trên. Quanh chuyện tập Mây, ông nhắc đến nhóm Xuân Thu Nhă Tập, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Khoát… cách in ấn, tiền nhuận bút có giá thời ấy, chuyện “măi văn”, những bữa tiệc biên bông (ghi nợ) có thịt ḅ tái, gà luộc, chả gị, nấm hương…
    Ngoài Thơ Say, Mây, Vũ Hoàng Chương c̣n là tác giả của Rừng Phong (1954), Hoa Đăng (1959), Cảm Thông (1960), Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Trời Một Phương (1962), Lửa Từ Bi (1963), Bút Nở Hoa Đàm (1967), Cành Mai Trắng Mộng (1968) và cuốn Hồi kư “Ta Đă Làm Chi Đời Ta?” xuất bản năm 1974. Trong đó ông nhắc đến nhiều kỷ niệm liên quan đến những văn nghệ sĩ thời trước, như chuyến tầu có tác giả O Chuột, Dế Mèn Phiêu Lưu Kư, và tác giả Lỡ Bước Sang Ngang cùng đi với ông đến Phủ Lạng Thương. Ba người t́m đến nhà ông Bàng Bá Lân, tuy cả ba “chẳng ai có dịp nhất kiến với ông Bá họ Bàng cả. Không biết đến quấy rày người ta có tiện chăng. Nhưng suy đi, xét lại đàng nào cũng là trong văn giới với nhau. Tương phùng hà tất tằng tương thức. Bạch Cư Dị chẳng đă bảo thế là ǵ!” Quả vậy, cả ba được Bàng Bá Lân tiếp đăi tử tế, cơm nước no bụng, rồi mời khách dạo phố cho tiêu cơm.
    – Đến cầu sông Thương sẽ quay về ngủ cũng c̣n sớm chán.
    Câu nói của chủ nhân có tác động tâm lư khác nhau đối với Tô Hoài, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính.
    Chàng Tô th́ măn ư quá…, được ngao du không mất tiền, lại được ăn ngon và hứa hẹn một giấc ngủ kỹ. Thế là nhất rồi.
    C̣n Hoàng, chẳng vui, chẳng buồn. Cái tỉnh lỵ Bắc Giang này quá quen thuộc. Cả đến con sông Thương nước chẩy đôi ḍng kia, đục phía nào, trong phía nào, Hoàng cũng nhắm mắt mà thấy được (…)
    Bính th́ hận lắm. nhà thơ này cứ tưởng thế nào chủ nhân cũng đăi một chầu hát linh đ́nh, gọi là đánh dấu cuộc hội ngộ “Tứ bất tử” mới xứng đáng chứ. Đi khắp thiên hạ, ṃn gót giày, gẫy bánh xe để t́m “tri kỷ”, mà “tri kỷ” lại bảo dạo phố rồi về ngủ sớm trước mười giờ tối, hỏi có tức không? Thế rồi lỉnh kỉnh đêm ấy Bính cứ ngồi dậy hút thuốc lào vặt hoài“.
    Vũ Hoàng Chương kể tiếp rằng khuya đến ông cũng không ngủ được, cùng Nguyễn Bính liên ngâm một bài nhằm “lấy vần điệu làm binh lực phá cái thành sầu”: “Tô Hoài, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương. C̣i thét vào ga Phủ Lạng Thương…”.
    Trong hồi kư “Ta Đă Làm Chi Đời Ta“, Vũ Hoàng Chương trích lại nhiều đoạn thơ, như tám câu ông ngâm lên trong một chuyến tầu từ ga Đồng Mỏ quay về:

    “Đôi lứa ban đầu mất Lạc Viên
    Cho ta ngàn kiếp nhớ thiên duyên.
    Chiều nay mộng thắm vừa tơ nối
    Vườn cũ ngôi vàng lại gió lên.
    Mây nước dâng cao, hồn chắp cánh
    Trần ai rũ sạch, nẻo về tiên.
    Bao la trăng động niềm ân ái
    Giọng hót chim trời líu ríu men”.


    Bài thơ trên giấy trắng, mực đen c̣n đó mà nhà thơ Vũ Hoàng Chương đă ra đi không về, vĩnh biệt những bạn yêu thơ cách đây chớp mắt đă 20 năm tṛn: 1976-1996! (Tây Tạng)

    Người viết Tây Tạng không nhắc ǵ đến chuyện Vũ Hoàng Chương bị Công an thành Hồ đến tận nhà bắt đi, giam giữ trong khoảng năm, sáu tháng, thả về được vài ngày th́ chết. Gần như tất cả những văn nghệ sĩ Sài G̣n bị bắt trong đợt khủng bố tháng Ba 1976 đều bị đưa vào giam ở Nha Cảnh Sát Đô Thành, rồi sang Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu chịu thẩm vấn, ở đó khoảng một năm, trước khi sang Chí Ḥa chờ đi các trại lao động cải tạo. Không văn nghệ sĩ nào gặp hay nh́n thấy anh Vũ Hoàng Chương ở trong tù. Có thể anh bị giam ở sà-lim (Công an VC gọi theo Tầu Cộng là “biệt giam”) ở nhà tù Tổng Nha Công An Cảnh Sát cũ của ta, hoặc ở Chí Ḥa. Nghe nói khi Công an đọc lệnh bắt giam, anh Chương nói:
    – Tôi chờ các anh lâu rồi. Sao bây giờ các anh mới đến?
    Cũng nghe nói anh là tác giả câu:
    Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lư
    Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do
    “.

    Tôi tin câu trên đây là của anh Chương, phải là thi sĩ lớn như Vũ Hoàng Chương mới làm được câu đó.
    Ngày 24 hay 25 tháng Tư 1975, buổi trưa tôi đi t́m anh Nguyễn Mạnh Côn để từ biệt anh:
    – USIS đưa tôi và vợ con tôi sang Mỹ. Tôi đến chào anh.
    Đến ngày hôm ấy anh Côn vẫn không tin Việt Cộng chiếm được Sài G̣n. Tôi chưa ra khỏi chỗ anh Côn nằm th́ anh chị Vũ Hoàng Chương đến. Lúc này anh Chương đă yếu, anh đi đâu cũng có chị đi theo.
    Khi tôi bắt tay từ biệt anh, anh Chương nói:
    – Tôi bắt tay cậu lần này chắc là lần cuối.
    Anh nói đúng. Tôi nghe nói anh chị Chương bị bà Mộng Tuyết mời ra khỏi nhà, phải về sống trong căn nhà nhỏ của chị Đinh Hùng ở Khánh Hội, nhưng không một lần tôi sang đó thăm anh. Rồi anh bị bắt.. Một chiều buồn, tôi trên xe đạp đi lang thang trong thành phố yêu thương, ḷng sầu năo đến có thể tự tử, ghé vào tiệm cà phê H.M. đường Cao Thắng tôi gặp Văn Thanh; anh cho tôi biết anh Chương từ nhà tù trở về nhà được bẩy ngày th́ chết, mới đưa đi chôn hôm qua. Nhà chùa cho anh chỗ nằm vĩnh viễn. Tôi biết tin anh Chương mất cùng với tin anh được thả.
    Trên đường về Ngă Ba Ông Tạ tối hôm ấy tôi làm tặng anh Chương bài thơ “Đọc Thơ Vũ Hoàng Chương”:

    Một mảnh hồng tiên trĩu ngón tay
    Hương mùa thu mất ngậm ngùi bay.
    Anh vẫn Hoàng Chương, vàng với ngọc.
    Trần ai nào lấm được trời mây.
    Người về ngôi cũ, thơ trầm nhạc
    Tàn lửa hồng hoang, khói Mái Tây.
    Chín ngục A Tỳ ma sửa áo.
    Mười tầng Địa Phủ quỷ cung tay.
    Cười vang một tiếng tan tinh đẩu
    Sáu cửa luân hồi nhẹ cánh bay!

    . . .

  6. #6
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609


    Vũ Hoàng Chương (trái) và Đinh Hùng

    Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng là hai nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam Cộng Ḥa. Hai anh lại là anh rể, em vợ. Cuộc sống của hai người có sự khác nhau: khi sống anh Chương được đời trọng vọng, trọng đăi, anh đi dự nhiều hội thơ quốc tế, anh Hùng sống trầm lặng với công việc chủ biên những chương tŕnh Thơ ở Đài phát thanh. Anh Hùng qua đời năm 1967 khi chế độ Cộng ḥa của ta vững vàng, đất nước của ta, quân đội của ta, văn nghệ sĩ và người ái mộ đi đưa đám anh thật đông, anh nằm ở Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Anh Chương ra đi khi cờ đỏ, giép râu đă vào làm chủ Sài G̣n, anh chết trong quạnh hiu, nghèo nàn. Khi anh mất, bọn chúng tôi lớp ở trong tù, lớp c̣n ở ngoài th́ tối tăm mặt mũi, lo sợ, tuyệt vọng. Tôi chắc không có được mười văn nghệ sĩ đưa tiễn anh Chương đến nơi yên nghỉ cuối cùng.
    Văn Thanh là họa sĩ, làm việc ở nhà in Kim Lai, hơn tôi đến mười tuổi. Chị Văn Thanh có bút hiệu Kiều Oanh, viết một số truyện mỗi ngày trên nhật báo Chính Luận. Khi xuất bản tuyển tập “Yêu và Ghen” chị nhờ tôi viết Tựa. Sau 1975 có lần tôi hỏi Văn Thanh:
    – Nghe nói trước kia anh khoái xă hội chủ nghĩa lắm mà? Anh vẫn chống chế độ cũ. Sao bây giờ coi bộ anh rầu rĩ quá vậy?
    Văn Thanh nói như khóc:
    – Ḿnh không thích chế độ cũ nhưng ḿnh cũng không thể ưa nổi cái chế độ này.
    Anh kể:
    – Được tin ông Chương về, ḿnh mang hộp sữa đến thăm ông ấy. Thấy ḿnh, ông ấy nói: “Ai không đến thăm tôi, tôi cũng không buồn. Chỉ có Văn Thanh mà không đến là không được”.
    Nhờ Văn Thanh, tôi được đọc tập di cảo của anh Chương gồm những bài thơ cuối cùng và tập “Truyền Kiều“. Anh Chương lấy những câu Kiều tám chữ, ngắt đi một chữ làm thành thơ bẩy chữ, những câu Kiều sáu chữ được anh thêm vào một chữ, những chữ thêm này cũng lấy trong Kiều, làm thành thơ bẩy chữ. Toàn tập “Truyền Kiều” là thơ bẩy chữ lấy ra từ những câu thơ Kiều. Tôi vẫn định sẽ chép lại tập di cảo của anh Chương, nhưng lần lữa măi, rồi tôi bị bắt hai năm được về, bị bắt lại… Năm 1990 khi tôi từ nhà tù trở về lần thứ hai, Văn Thanh đă qua đời.
    Nón cối, giép râu vào Sài G̣n, thi bá của ta có hứng làm thật nhiều thơ. Anh chép thơ vào những tờ giấy, cho những người đến thăm anh. Anh viết bằng thứ bút tự anh vót lấy bằng tre già, chấm mực Tầu, những nét chữ bay bay, phơi phới.
    Khoảng cuối năm 1975, khi Việt Cộng chưa bắt giam tập thể giới văn nghệ sĩ Sài G̣n, khi anh Chương vẫn c̣n sống, một đêm đi chơi khuya, tôi về ngủ với Mai Thảo trong căn nhà của anh Nguyễn Đăng Viên ở đường Phan Đ́nh Phùng. Sau tháng Tư 75, Mai Thảo rời căn pḥng Chiều Tím để về ở đây. Bọn Công an thành Hồ bắt hụt Mai Thảo ở nhà này. Trong ngăn kéo bàn ngủ bên giường Mai Thảo có mấy bài thơ của anh Chương. Trong số có bài anh tặng Mai Thảo. V́ chỉ đọc có một lần và thời gian đă quá lâu, có thể hôm nay tôi nhớ không đúng trọn vẹn bài thơ:

    “Giă Từ Hà Nội Đêm c̣n nhớ?
    Bẫy Ngầm ai biết chuyện bây giờ?
    Buồn như Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật,
    Về Đỉnh Trời xem lại Chúc Thư!”


    Có ba bài thơ của anh Chương, tôi chỉ đọc một lần, trong một buổi tối, ở nhà Văn Thanh mà nhớ luôn. Hôm nay để tưởng niệm anh – Tội nghiệp. Ở thành Hồ chúng tôi không làm lễ tưởng niệm anh được, tôi không biết những người yêu thơ Vũ Hoàng Chương ở hải ngoại từ hai mươi mấy mùa lá rụng nay có lần nào làm Lễ Tưởng Niệm nhà thơ hay không? – Khi đặt tên cho khu rừng Elm Arlington nơi vợ chồng tôi đến ở là Rừng Phong, tôi mượn tên Rừng Phong của anh Chương, anh Chương mượn Rừng Phong trong “Rừng phong thu đă…” của Tố Như. Chiều cuối thu, đầu đông ở Rừng Phong, tôi kể lại những lời thơ của anh Chương theo trí nhớ của tôi:

    “Chàng về trong mộng đêm đêm
    Trẻ như măng, thịt da mềm như tơ.
    Xa nhau nàng vẫn mong chờ
    Vẫn ôm trong mộng giấc mơ liền cành.
    Biết đâu chàng đă trở thành
    Xương tàn một nắm vô danh bên trời.
    Bờ sông, băi cát bồi hồi
    Đă khô rồi, đă trắng rồi, biết đâu!
    Chữ Đồng tạc lấy cho sâu
    Ai hay lẻ một nét sầu đến xương!
    Là Nam Bắc, là Âm Dương?
    Lệ hay máu rỏ con đường nào đây!”


    Xin nói thêm một lần nữa: V́ chỉ đọc có một lần những bài thơ này nên có thể tôi nhớ không đúng hẳn. Hy vọng một ngày không xa chúng ta, những người yêu thơ Vũ Hoàng Chương, sẽ được đọc nguyên bản những bài thơ cuối cùng này của thi sĩ Vũ Hoàng Chương trong Thơ Vũ Hoàng Chương Toàn Tập nghe nói hiện đang được biên tập để ấn hành.

    Trong lệnh bắt nhà thơ, lư do bị bắt được ghi là: “Sáng tác và phổ biến thơ văn phản cách mạng”.
    Sau 1975, nếu Vũ Hoàng Chương “chịu” không làm thơ, hay anh làm thơ nhưng không cho ai biết, không đưa thơ anh cho ai, có thể anh đă không bị bắt. Nhưng anh đă làm thơ. Chỉ cần những lời thơ diễn tả nỗi đau thương của những cặp vợ chồng trẻ phải sinh ly, người chồng bị đi tù nơi rừng thiêng, nước độc có thể đă chết, thân xác đă bị vùi trong cỏ cây, người vợ trẻ vẫn mong chồng trở về, đêm đêm vẫn mộng thấy chồng trong giấc mơ ân ái, là đủ để cho nhà thơ bị kết vào tội phản cách mạng và bị bắt giam.
    Ư thơ không mới. “Chàng về trong mộng, liền cành, xương tàn, vô danh, bên trời, bờ sông, băi cát, trắng, khô, chữ đồng, nét sầu…”, những tiếng xưa cũ được tài hoa của thi sĩ làm sống lại và năo nùng mang mang lửa sống. “Chàng về trong mộng đêm đêm” sống lại từ bài “Lũng Tây Hành” của Trần Đào:

    “Thệ tảo Hung Nô bất cố thân
    Ngũ thiên điêu cẩm táng Hồ trần.
    Khả liên Vô Định hà biên cốt
    Do thị xuân khuê mộng lư nhân”.

    (Thề giết Hung Nô chẳng tiếc thân
    Đất Hồ chiến sĩ chết năm ngàn.
    Thương thay xương trắng sông Vô Định
    Vẫn về Em trong giấc mộng xuân).

    Thi sĩ thiên tài làm cho ư thơ xưa sống lại, làm tim ta đau nhói. Bây giờ hơn hai mươi năm sau, những người bị Việt Cộng bắt đi cải tạo nếu c̣n sống tuyệt đại đa số đă đưa vợ con sang ở Hoa Kỳ, những người đă chết… đă chết; nay đọc những lời thơ xưa về một thời bi thảm, có thể ta chỉ thấy ngậm ngùi, nhưng hăy nhớ lại những ngày, những đêm ghê rợn cuối năm 1975, đầu năm 1976, khi những người thân của ta bị gọi đi cải tạo và bị đưa đi mất tích, những lời thơ “Chàng về trong mộng đêm đêm…” làm cho ta vỡ tim.

    Chữ đồng tạc lấy cho sâu
    Ai hay lẻ một nét sầu đến xương.


    Ư lấy từ:
    Tóc tơ căn vặn tấc ḷng
    Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.


    Vũ Hoàng Chương đem lại đời sống mới rạo rực yêu, thương, và đau cho những tiếng “tạc một chữ đồng đến xương”. Chỉ có thiên tài Vũ Hoàng Chương mới biến nổi tiếng khóc của những người Việt phải xa nhau v́ họa Cộng sản trong nửa cuối thế kỷ 20 thành thơ:
    Chữ đồng tạc lấy cho sâu
    Ai hay lẻ một nét sầu đến xương


    Năm 1975 là năm Măo – Mèo. Năm 1976 là năm Th́n – Rồng. Đúng 24 năm, hai con giáp, đă qua kể từ năm 1975. Năm 2000 là Năm Th́n. Tết Năm Th́n 1976 ở Khánh Hội, Sài G̣n, Vũ Hoàng Chương làm bài thơ “Vịnh Tranh Gà Lợn”:

    “Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
    Gà lợn om ṣm rối bức tranh
    Rằng vách có tai, thơ có họa
    Biết ḷng ai đỏ, mắt ai xanh.
    Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
    Ḷng lợn âm dương một tấc thành.
    Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
    Nghe rồng ngân váng khúc tân thanh”.


    Đúng là “thơ có họa“. Thi bá xử dụng tài t́nh lời người xưa – Tô Đông Pha – nói về thơ và tranh của Vương Duy: “Họa trung hữu thi, thi trung hữu họa””. Họa trong “Rằng vách có tai, thơ có họa” là tai họa, là tù đầy, là chết chóc. “Vách có tai” là chuyện Công an gọi một số văn nghệ sĩ không bị bắt đến sở, bắt phải khai báo về đời sống, việc làm của những văn nghệ sĩ khác. Khi nghe nói: “Vũ Hoàng Chương có làm thơ…” họ cho người đến xin những bài thơ mới của thi bá về nộp cho họ. Chỉ cần hai bài thơ vừa kể là họ đă có đủ lư do bắt giam nhà thơ. Bài thơ “Chàng về…” tả nỗi sầu oán của những cặp vợ chồng bị tai họa cải tạo.
    Sau đây là bài thơ thứ ba của anh Chương, tôi chỉ được đọc có một lần là nhớ măi, bài thơ anh làm trong xà-lim:

    “Thấm thoắt vào đây tháng đă tṛn
    Lông hồng gieo xuống nặng như non.
    Một manh chiếu nát, thân tơi tả
    Nửa bát cơm hôi, xác mỏi ṃn
    Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ
    Đêm về gíấc ngủ lại thương con.
    Dầu bao nước chẩy qua cầu nữa
    Hồ dễ ǵ phai được tấc son”.


    Khoảng tháng 7, tháng 8 năm 1975 một tối tôi gặp Hoài Bắc ở Ngă Ba Ông Tạ. Cùng đi xe đạp, chúng tôi ghé xe vào vỉa hè nói chuyện. Quanh chúng tôi đầy bóng tối. Hoài Bắc nói:
    – Bà Văn Cao vào, Văn Cao chưa vào được. Văn Cao nhắn vào nói với Thái Thanh: “Hát như cô mới là hát. Ở ngoài này chúng nó không biết hát”. Trần Dần nhắn bà Văn Cao vào nói với Vũ Hoàng Chương: “Anh yên tâm. Thơ của anh, và thơ anh Hùng không bao giờ mất được…”
    Mới hai, ba tháng sau ngày quân Bắc Việt Cộng vào chiếm Sài G̣n mà đă nói ngay một câu xanh rờn “Thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Đinh Hùng không bao giờ mất”, Trần Dần thật là giỏi, thật sáng suốt. Vũ Hoàng Chương tạ thế trong Năm Rồng 1976. Năm nay, Năm Rồng 2000, tôi nhắc lại lời Trần Dần:
    – Thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Đinh Hùng không bao giờ mất!
    . . .

  7. #7
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609



    Công trường Mê Linh với tượng Hai bà Trưng thời đệ Nhất Cộng ḥa bị phá xập sau 11/1963

    Năm 1982, ở tù hai năm trở về, tôi mới được quen anh Cao Hữu Đính. Anh Đính đă qua đời năm 1992 trong căn nhà của anh ở khoảng giữa nhà thờ Bùi Phát và cổng xe lửa số 6 đường Trương Minh Giảng. Anh nguyên là Tổng thư kư Liên Ban Tôn Giáo Chống CP Ngô Đ́nh Diệm năm 1963, là giáo sư Đại học Vạn Hạnh. Anh hơn tôi gần hai mươi tuổi.
    Tôi gặp anh Cao Hữu Đính lần đầu ở nhà anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Năm ấy, 1982, tôi viết một số bài kể chuyện linh về cuộc sống ở Thành Hồ gửi sang Mỹ, Pháp, Úc. Tôi đưa vài bài để anh Đính đọc. Anh nói:
    – Trước kia tôi có nghe tên anh nhưng tôi không đọc anh. Tôi vẫn tưởng anh chỉ viết được tiểu thuyết, không ngờ anh viết chính luận được quá. Hay đấy.

    Từ đó anh Đính mến tôi, hay đến nhà tôi chơi, đưa tôi đi ăn những chỗ anh thấy có thức ăn ngon, giúp đỡ vợ chồng tôi tất cả những ǵ anh có thể giúp. Anh chị Đính những năm ấy sống tương đối thoải mái hơn nhiều người, anh chị có bẩy, tám người con, năm người sống ở nước ngoài, tất cả các con anh chị đều thành đạt.
    Là nhà nghiên cứu Phật giáo và tích cực tham gia phong trào chấn hưng đạo Phật từ những năm 1940, anh Đính biết khá nhiều về giới giáo sĩ Phật giáo ở miền Trung Việt Nam. Những lúc vui chuyện anh kể cho tôi nghe về tiểu sử, đời tư, hạnh kiểm, hành động của nhiều vị lănh đạo Phật giáo như Ḥa Thượng Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, Ḥa Thượng Thích Trí Thủ, các vị Thượng Tọa Thiện Minh, Quảng Độ, Đức Nhuận, Trí Quang, Nhất Hạnh v.v…
    Là người ngoại đạo, tôi nghe rồi quên ngay. Tháng 3 năm 1984 anh Đính cho tôi biết:
    – Lại có chiến dịch khủng bố Phật giáo đồ. Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát, Thích Nữ Trí Hải bị bắt hôm qua. Cả ba cùng bị bắt trong một buổi sáng. Chưa biết c̣n những ai bị bắt nữa.
    Anh nhấn mạnh:
    – Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Trí Hải là… la crème du Bouddhisme… tinh hoa của Phật giáo.
    Vài ngày sau anh cho tôi biết thêm về vụ bắt bớ lớn ấy:
    – Tuệ Sĩ, Trí Siêu, Trí Hải là những người con cưng của Ḥa Thượng Thích Trí Thủ. Tuệ Sĩ, Trí Siêu bị bắt ở Chùa Già Lam, Phú Nhuận. Cô Trí Hải đang lập một tịnh xá ở Hố Nai, làm chỗ cư trú cho những tăng ni không có tên trong sổ hộ khẩu chùa nào cả. Công an đi xe đến tận nơi mời cô Trí Hải về Sài G̣n. Buổi sáng Ḥa Thượng Thích Trí Thủ được mời đến trụ sở Mặt Trận Tổ Quốc. Trong lúc Ḥa Thượng đi vắng, Tuệ Sĩ và Trí Siêu bị bắt. Ở trụ sở Mặt Trận Tổ Quốc, Ḥa Thượng Trí Thủ được mời nghe cuộn băng ghi tiếng nói của một tăng sinh can tội phản động bị bắt. Tăng sinh này khai Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát và Ni cô Trí Hải là những người trong ban lănh đạo tổ chức phản động. Nghe nói tổ chức này lớn lắm, định lập chiến khu, gây bạo động ở thành phố, có súng. Khi Ḥa Thượng Trí Thủ trở về đến chùa, nghe báo Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát bị bắt, Ḥa Thượng ứa nước mắt.
    Tai họa dồn dập đến với những Phật tử Việt Nam. Khoảng bẩy ngày sau, anh Đính cho tôi biết Ḥa Thượng Thích Trí Thủ, Pháp Chủ Phật Giáo Việt Nam, đột ngột tạ thế. Đấy là những ngày cuối tháng Ba năm 1984. T́nh trạng cá nhân tôi cũng đen tối không kém. Nhiều sự kiện xẩy đến làm tôi lờ mờ cảm thấy xe bông của Sở Công an Thành Hồ lại sắp sửa đến nhà tôi rước tôi đi lần nữa.
    Tháng Giêng 1984 chúng tôi nghe tin mới có một đài phát thanh chống Cộng. Tết năm ấy một số người ở Nha Trang t́nh cờ bắt được tiếng nói của đài phát thanh này. Tin truyền về Sài G̣n. Đầu tháng Hai 1984 anh Đính và tôi nghe được đài. Đó là Đài Phát Thanh Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh.

    Từ ngày ấy đến khi tôi viết những ḍng này ở Rừng Phong, Hoa Kỳ, thời gian đă gần hai mươi năm. Thật nhanh. Tôi nhớ Đài Phát Thanh Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh năm ấy phát thanh mỗi ngày năm lần, mỗi lần một giờ. Đài yếu. Rất khó bắt. Người nào có duyên với đài th́ may tay có lời, bắt được tiếng nói ngay bất kể máy thu thanh xấu tốt. Nhiều người ra-đi-ô thật “sịn” loay hoay ṃ cả nửa tiếng cũng không bắt được đài. Một giờ phát thanh quá lâu. Đài phát thanh bằng băng thâu sẵn. Ba, bốn ngày mới thay một băng. Tin tức không có. Gần như toàn những bài viết đả kích cộng sản. Những ngày đầu vợ chồng tôi náo nức t́m nghe, chúng tôi xúc động khi nghe nhạc hiệu của đài, bài Việt Nam Minh Châu Trời Đông – bản nhạc, lời ca thật hay nhưng đă bị vợ chồng tôi từ lâu quên lăng – chúng tôi xúc động hơn khi nghe tiếng hát Thái Thanh hát bài Quê Em:

    Quê em miền trung du

    Đồng quê lúa xanh rờn
    Giặc tràn lên cướp phá
    Anh về quê cũ
    Đi diệt thù giữ quê
    Giặc tan đón em về…

    Một tối, lúc 11 giờ đêm, tôi nghe đài kháng chiến. Cái ra-đi-ô Sony cũ rích nằm bên tôi trên căn gác lửng, Alice nằm t́nh tang trên cái vơng mắc dưới nhà lại nghe tiếng nói phát ra từ máy rơ hơn tôi. Nguyên do là hệ thống truyền âm trong căn nhà nhỏ của chúng tôi khá ly kỳ. Đêm ấy vợ chồng tôi cùng nghe một bài b́nh luận của Đài Kháng Chiến. Tôi chắc một văn nghệ sĩ nào đó có tŕnh độ hiểu biết khá cao là tác giả bài đó. Đại ư của bài là trước 1975 các văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Ḥa có cái lỗi là không tích cực chống Cộng, nhưng sau 1975 họ có cái hay là không một người nào cộng tác với cộng sản.
    Đây là nguyên văn một câu trong bài chúng tôi nghe được đêm hôm đó:
    –… trong năm 1983 chúng ta đă được đọc văn thơ chống Cộng của Hoàng Hải Thủy, Bùi Hoàng Cầm, Nguyễn Chí Thiện…
    Tôi bồi hồi xúc động với những cảm giác vui, lo, kiêu hănh, sợ hăi lẫn lộn. Tôi được kể tên trước Hoàng Cầm, thi sĩ tôi rất ái mộ. Hết giờ phát thanh, tôi lọ mọ xuống gác, nói với Alice:
    – Em nghe rơ tên anh chứ? Chắc chúng nó phải bắt anh thôi, chúng nó không để anh yên đâu.
    Nhiều người nghe được bài ấy trên đài Hoàng Cơ Minh. Một sáng, anh Nguyễn Văn Đạt, nguyên Đại Tá, nguyên Tỉnh Trưởng B́nh Định những năm 1953-1954, đi chiếc xe đạp mi-ni đến nhà tôi. Tôi được quen anh Đạt qua anh Đính. Anh Đạt đi cải tạo ở miền Bắc về năm 1980. Sáng ấy anh đến chào từ biệt tôi, anh nghe đài kháng chiến gọi tên tôi nên anh biết tôi sắp bị bắt. Vợ chồng tôi cám ơn anh và tiễn anh ra tới hàng ba. Dừng lại bên cửa với chiếc xe đạp mi-ni anh nói với vợ chồng tôi lời cuối:
    – Chị đừng buồn. Chị làm vợ một người chồng có tài, chị phải chịu cái tai của anh ấy.
    Vợ chồng tôi bồi hồi nh́n theo anh đạp xe ra khỏi cư xá. Đấy là lần cuối cùng tôi nh́n thấy anh, nghe tiếng anh nói. Năm 1990 khi tôi từ nhà tù trở về mái nhà xưa, anh Đạt đă qua đời.

    Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Ni cô Trí Hải bị bắt ngày 30 tháng 3, 1984. Chừng một tuần sau Ḥa Thượng Thích Trí Thủ viên tịch. Hai giờ sáng rạng ngày mùng 2 tháng 5 năm 1984 Công an Thành Hồ đem xe bông đến nhà rước tôi đi.
    Tôi lại trở vào cái gọi là Trại Tạm Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, trung tâm thẩm vấn của Sở Công an Thành Hồ, nơi bốn năm trước tôi đă sống hai năm và đă ra thoát. Trở vô lần này tôi lại vào biệt giam Khu C Một. Lần trước tôi nằm pḥng biệt giam – sà lim – số 6 cũng khu này, lần thứ hai này tôi nằm pḥng biệt giam số 10.
    Sau thời gian chịu thẩm vấn, cai tù đưa tôi sang pḥng tập thể số 6 cùng khu. Vào pḥng tôi được xếp nằm cạnh một thanh niên trạc ngoài ba mươi tuổi. Chú kém tôi đến mười lăm tuổi nên tôi gọi là chú, chú gọi tôi là bác. Nằm bên nhau chúng tôi nói chuyện làm quen. Khi nghe chú nói chú là tu sĩ chùa Già Lam, tôi vội hỏi tên chú – v́ anh Đính có cho tôi biết tên người tăng sinh chịu không nổi khổ cực v́ bị nằm sà lim dài hạn nên đă phải cung khai. Biết chú không phải tăng sinh cung khai, tôi cho chú biết tin Ḥa Thượng Trí Thủ đă viên tịch.
    Chú không biết tin ấy, chú cũng chỉ lờ mờ biết dường như Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát đă bị bắt. Chú cho tôi biết chú bị bắt đă ba năm, năm đầu chú bị giam ở đây – Số 4 Phan Đăng Lưu – năm thứ hai chú sang khám Chí Ḥa và bây giờ chú mới được đưa từ Chí Ḥa về đây khoảng một tuần nay để thẩm vấn lại. Chú bị đưa trở lại đây chịu thẩm vấn thêm v́ công an vừa bắt Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát và cô Trí Hải. Nghe tôi nói linh tinh và nói vanh vách về những chuyện Phật giáo, Phật tử v.v… chú hỏi tôi:
    – Bác không phải Phật tử, sao bác biết những chuyện ấy?
    – Ông Cao Hữu Đính cho tôi biết – tôi trả lời – Tôi hay gặp ông ấy lắm.

    Tôi được biết một nhóm tu sĩ Phật giáo và Phật tử liên kết với một số tín hữu Thiên Chúa giáo – đa số là người Việt miền Trung – thành lập một tổ chức chống Cộng có tầm cỡ khá lớn. Nhiều người trong tổ chức đă bị bắt từ ba năm trước (1980) nhưng họ không chịu khai những người lănh đạo họ. V́ họ không chịu khai nên họ cứ bị Việt Cộng giam măi. Mới đây một người trong nhóm bị nằm sà-lim mút chỉ ba năm, không được nhận đồ gửi vào nuôi, ta gọi là tiếp tế, chịu không nổi đă cung khai. Lời khai của người này được thâu vào băng, Ḥa Thượng Trí Thủ đă được công an mời nghe cuộn băng cung khai. Do đó Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát và Ni cô Trí Hải bị bắt.

    Trại Tạm Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, cạnh Ṭa Tỉnh Trưởng Gia Định, nh́n sang Chợ Bà Chiểu và Lăng Ông, là trung tâm thẩm vấn của Sở Công an Thành Hồ. Gần như tất cả người Sài G̣n bị bắt đều bị đưa vào đây thẩm vấn. Đặc biệt trung tâm này chỉ có những tù chính trị, tù vượt biên, tù xâm phạm tài sản xă hội chủ nghĩa (tức ăn cắp của công), không có tù h́nh sự (tức tù trộm cướp, giết người, hiếp dâm).
    Nhóm Biệt Kích Cầm Bút chúng tôi bị bắt sau Tổ Chức Chống Cộng Già Lam một tháng. Chúng tôi ở Số 4 Phan Đăng Lưu 12 tháng: anh Doăn Quốc Sĩ ở khu C Hai, Khuất Duy Trác ở Pḥng Tập Thể 1 khu C Một, Dương Hùng Cường ở Pḥng Tập Thể 3 khu C Một, Trần Ngọc Tự ở Pḥng Tập Thể 5 và tôi ở Pḥng Tập Thể 6 khu C Một. Nhóm Già Lam đi sang Chí Ḥa trước chúng tôi.

    Tháng Năm 1985 tôi đặt chân xuống Thánh Địa Chí Ḥa. Buổi trưa, tay ôm, tay xách hành lư: quần áo, mùng mền, chiếu, tôi theo các bạn bước vào trung tâm Thánh Địa. Đứng trong sân tôi ngửng nh́n, chỉ thấy song sắt và song sắt. Người Sài G̣n bị bắt đi tù nếu chưa vào Khám Chí Ḥa th́ vẫn chưa biết tù đày đích thực là ǵ. Nh́n lên những tầng lầu cao tôi bồi hồi tự nhủ: “Đây Chí Ḥa… Với người tù Sài G̣n, Chí Ḥa giống như Đại học Harvard của sinh viên Mỹ, Eton của sinh viên Anh, Sorbonne của sinh viên Pháp”. Tâm trạng tôi lúc ấy như ḍng suối cuồn cuộn trôi. Tôi sợ hăi và tôi kiêu hănh. Sống dưới cái gọi là chế độ xă hội chủ nghĩa đi tù v́ tội chống đối Cộng sản là một thành tích tốt. Trong hai mươi năm, từ 1954 đến 1975, tôi đă sống, đă hưởng thụ, đă để cho những người khác chết, để cho vợ con những người khác khóc. Bằng những năm tháng tù đày này, tôi trả được phần nào cái nợ sống, được đóng góp một phần công nhỏ của tôi trong công cuộc chung của cả dân tộc. Tôi chỉ là một người tù rất thường như cả trăm ngàn người tù chống Cộng khác. Nhiều người tù đă chết trong nhà tù lớn nhất Đông Dương này. Rất có thể và chẳng có ǵ lạ nếu tôi không c̣n sống để ra khỏi những vách tường này. Nhưng ngày nào trở ra được, mai sau, trọn đời tôi, tôi sẽ kiêu hănh v́ từng sống trong Nhà Tù Chí Ḥa.
    Bẩy anh em chúng tôi, Doăn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự, Lư Thụy Ư, Nguyễn Thị Nhạn và tôi (anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt đă sang Chí Ḥa tháng trước) cùng từ Số 4 Phan Đăng Lưu sang Thánh Địa Chí Ḥa trong một chuyến xe. Vào Khu ED – Ơ Đê – cai tù chia chúng tôi ra, đưa chúng tôi mỗi người vào một pḥng.
    Khu ED là khu giam tù chính trị, tù vượt biên, tù xâm phạm tài sản xă hội chủ nghĩa, tức tù ăn cắp của công, biển thủ công quĩ, hối lộ, buôn trầm, vàng… Những năm 1985, 1986… Pḥng 2, ở dưới đất, là pḥng giam những người bị bắt từ năm 1975. Cộng sản không đưa tù Pḥng 2 khu ED Chí Ḥa đi trại cải tạo, không đưa ra ṭa, các vị cứ bị giam miệt mài đă cả mười năm. Tháng Năm 1985 ở Pḥng 2 đó có các ông Nguyễn Tiến Hỷ, Thái Lăng Nghiêm, Như Phong Lê Văn Tiến, Nguyễn Đan Quế, Trần Thành và chừng hai mươi vị khác.

    Sau chừng nửa giờ đoàn tụ ở trên tù xa, anh em chúng tôi lại tan hàng, Lư Thụy Ư, Nguyễn Thị Nhạn vào hai pḥng nữ 3 và 4 ở dưới đất, ni cô Thích Nữ Trí Hải đang ở một trong hai pḥng nữ ấy. Dương Hùng Cường, Trần Ngọc Tự vào hai pḥng lầu Hai, Khuất Duy Trác vào pḥng 9, tôi vào pḥng 10 lầu Ba, anh Doăn Quốc Sĩ lên lầu Bốn, anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, từ Số 4 Phan Đăng Lưu sang Chí Ḥa trước chúng tôi một tháng, ở pḥng 9 Lầu Ba khu ED.
    Tôi gặp Trí Siêu Lê Mạnh Thát trong pḥng 10 khu ED. Lê Mạnh Thát cùng nhóm Già Lam sang Chí Ḥa trước tôi một tháng. Hai chúng tôi có chung một người bạn tù rất tốt. Anh bạn tù trẻ của chúng tôi là tu sĩ Thiên Chúa giáo: Lê Văn Bẩy đă học xong nhưng không được Việt Cộng cho thụ phong linh mục. Bẩy ăn chung, nằm cạnh tôi ở Pḥng 6 Số 4 Phan Đăng Lưu. Bẩy sang Chí Ḥa cùng chuyến xe với Lê Mạnh Thát. Bẩy quí mến Lê Mạnh Thát c̣n hơn Bẩy quí mến tôi. Bẩy đang ăn chung, nằm cạnh Thát, nên nhờ Bẩy, vừa vào pḥng 10, tôi được ngay người quen đón tiếp, lo cho đủ thứ. Tôi ăn chung, nằm cạnh Bẩy và Thát.
    Tôi gọi Lê Mạnh Thát là thầy, Thát gọi tôi là bác. Thát kém tôi khoảng mười tuổi, có khổ người nhỏ nhắn đúng kiểu bạch diện thư sinh, nước da trắng hơn da con gái, mắt sáng, chưa phải dùng kính lăo khi đọc báo, môi hồng, răng trắng đều đặn và c̣n tốt nguyên, thông minh th́ khỏi nói. Tôi thấy con người Thát đẹp trai, hào hoa phong nhă.

    Tôi trở thành người bạn đồng tù thân thiết nhất của Lê Mạnh Thát ở Chí Ḥa. Trong sáu năm tù lần thứ hai của tôi, chỉ có một năm đầu ở Số 4 Phan Đăng Lưu tôi và Thát không sống chung pḥng, từ 1985 đến 1989 chúng tôi sống gần nhau, sống chung, sống sát nhau suốt ngày, suốt đêm: 4 năm ở Pḥng 10 Khu ED Chí Ḥa, một năm ở Trại Lao Động Cải Tạo Z30A. Sự kiện đặc biệt tôi thấy ở con người Lê Mạnh Thát là suốt năm năm trời sống sát bên nhau, tôi không thấy Thát bị qua một lần cảm cúm, nhức đầu, đau bụng, đau răng, ho hen nào, cũng không một lần ghẻ ngứa. Anh em tù ghẻ lu bù kèn, riêng tôi năm nào cũng bị hai lần ghẻ ngứa, mỗi lần kéo dài khoảng hai tháng, vào thời gian thời tiết thay đổi, nhưng Thát th́ không. Ở tù như mọi người nhưng cả mấy mụn ghẻ c̣m Thát cũng không có. Thát rất ham đọc sách báo. Ở vào số tuổi ngoài bốn mươi, mắt Thát vẫn sáng nguyên, vẫn đọc sách không biết mỏi và không phải dùng kính lăo.

    Sau một năm chung sống, người bạn trẻ Lê Văn Bẩy của chúng tôi ra ṭa. Lănh án 8 năm, Bẩy từ biệt chúng tôi và Pḥng 10 ED để qua khu FG chờ đi Trại Lao Động Cải Tạo. Thát và tôi ở lại bên nhau. Anh em tù cũ ra khỏi pḥng, anh em tù mới vào pḥng rồi ra khỏi pḥng, Thát và tôi cứ ở lại đấy măi. Đến năm 1988 Thát là người tù thâm niên nhất Pḥng 10, tôi là người tù thâm niên thứ hai.
    Gia đ́nh Lê Mạnh Thát chỉ có một ḿnh Thát là con trai, Thát tu hành từ năm mới mười một, mười hai tuổi. Năm 1964 Thát sang Hoa Kỳ học ngành y khoa ở tiểu bang Wisconsin. Học xong Thát từng làm việc mấy năm trong trường đại học Thát tốt nghiệp ở Wisconsin. Năm 1974 Thát trở về Sài G̣n. Tháng Tư 1975 đến, Thái có sẵn re-entry permit của Hoa Kỳ và vé máy bay nhưng không đi. Thát có bà mẹ già và cô em ở Sài G̣n. Cờ đỏ vào Sài G̣n, nhiều tu sĩ Phật giáo bị bắt, bị chết trong tù như Thượng Tọa Thiện Minh, nhiều ông bị bắt, được thả về, bị bắt lại, bị đưa về nguyên quán quản thúc, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương vẫn sống b́nh yên trong chùa Già Lam cho đến Tháng Ba 1984.
    Lê Mạnh Thát giỏi chữ Hán, ít nhất Thát cũng giỏi chữ Hán hơn tất cả những người tù biết chữ Hán từng ở chung pḥng tù với Thát và tôi. Tù Chí Ḥa bị cấm dùng giấy bút, anh em tù chế ra những tấm bảng viết bằng giấy: lấy giấy bao thăm nuôi dán nhiều tờ lại thành một miếng dầy như các-tông, xoa mỡ nước và xà-bông lên mặt giấy, đặt miếng nylon lên, viết bằng que cán chổi. Viết xong bóc miếng nylon, nét chữ mất. Lê Mạnh Thát không nhớ một câu thơ chữ Hán nào cả, tôi đọc cho Thát viết mấy bài thơ chữ Hán tôi thuộc, như:

    Nguyệt lạc, ô đề, sương măn thiên

    Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên

    Hay thơ Tố Như:
    Tây Hồ mai uyển tẫn thành khư
    Độc đáo song tiền nhất chỉ thư

    Tôi đọc, Thát viết chữ. Chúng tôi giúp nhau qua ngày giờ trong tù. Thời gian cứ thế lê thê trôi qua…
    Ở Chí Ḥa có những người tù bị giam đến sáu, bẩy năm mà không “được” đưa ra ṭa xét xử, không “được” đưa đi trại, không được ai hỏi đến, không được báo tin về nhà, không được thăm nuôi. Cứ ở tù riết như bị bỏ quên, như hồ sơ bị mất. Guồng máy tư pháp cộng sản hoạt động rất ́ ạch. Một trong những nguyên nhân làm cho cái gọi là bộ máy tư pháp cộng sản nặng nề, han rỉ, mất đinh ốc, không dầu mỡ hết sức cồng kềnh ấy chạy cà ạch cà đụi là việc họ giam người mà không cần đưa ra ṭa xét xử, giam cho chết luôn là chuyện rất thường.
    Theo lệ kể từ năm 1985 những vụ án chính trị, tổ chức vượt biên, vẫn được đưa ra ṭa xử, hay giải quyết bằng cách đưa can phạm đi trại lao cải sau ngày bị bắt khoảng hai năm. Vụ văn nghệ sĩ phản động bị gọi là bọn Biệt Kích Cầm Bút chúng tôi bị giam tới bốn năm mới đem ra xử, vụ Tổ Chức Già Lam phản động có Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Ni cô Thích Trí Hải, Thượng Tọa Thích Đức Nhuận trong ban lănh đạo – những người bị bắt đầu tiên năm 1980, những người bị bắt cuối cùng khoảng cuối Tháng Năm 1984 – bị ngâm tôm ở Chí Ḥa đến bẩy năm mới đưa ra ṭa.
    Đúng ra vào đầu năm 1986, trước kỳ họp Đại hội Đảng lần 6, Công an Thành Hồ đă quyết định đưa anh em chúng tôi ra ṭa xử, lệnh ra ṭa đă được đọc cho anh em chúng tôi nghe. Hai tờ tuần báo Công An Thành Hồ và Tuổi Trẻ om x̣m loan tin về vụ xử và đăng những bài viết kể tội chúng tôi. Nhưng đến phút cuối cùng họ hoăn xử. Một năm rưỡi sau, 1988, họ mới đưa anh em chúng tôi ra ṭa xử. Lănh án 8 năm, tôi ôm chiếu, xách giỏ, rời khu ED sang khu FG, nằm chờ kháng án lên cái gọi là ṭa trên.
    . . .
    Last edited by BlackHole; 04-11-2018 at 08:14 AM.

  8. #8
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609
    Sau vụ xử chúng tôi chừng ba tháng, vụ Già Lam ra ṭa. Can phạm trong tổ chức Già Lam đến hai mươi người. Chỉ nội cái việc tù phải đứng nghe đọc cáo trạng kết tội từng người cũng đă mất một ngày. Ṭa phải xử đến hai ngày. Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương bị án tử h́nh, nhiều người 20 năm, 15 năm, Thượng Tọa Đức Nhuận lănh án 10 năm, Ni cô Trí Hải 4 năm.
    Trong buổi chiều ngày xử thứ hai Thượng Tọa Đức Nhuận quá mệt, ngất xỉu. Hai tên công an vào pḥng xử khiêng ông ra ngoài. Những tu sĩ Già Lam sau đó trở về Chí Ḥa mà không có Thượng Tọa cùng về trên xe. Mọi người yên trí là bọn công an áp giải tù đă đưa Thượng Tọa đi bệnh viện hay đưa ông về bệnh xá Chí Ḥa để điều trị. Nhưng Thượng Tọa không được cai tù cộng sản chú ư đến như thế. Măi trưa ngày hôm sau chúng tôi thấy cai tù đưa Thượng Tọa về pḥng giam. Th́ ra ông bị bỏ quên trong xe chở tù.

    Xe chở tù – tôi không được đi xe này khi ra ṭa – nghe nói của Liên Xô viện trợ, có ngăn riêng kín mít để nhốt tù tử h́nh hoặc những tù làm dữ, la hét, nguy hiểm. Khi Thương Tọa Đức Nhuận ngất xỉu bọn công an không đưa ông đi bệnh viện mà cũng chẳng chạy chữa, cứu cấp ǵ cả, chúng khiêng Thượng Tọa ra xe, bỏ ông vào ngăn nhốt tù nguy hiểm, khóa cửa lại. Xe về Chí Ḥa, chẳng thằng nào nhớ có ông trong đó, chúng bỏ quên ông luôn, những người Già Lam th́ yên trí chúng đưa ông đi bệnh viện nên chẳng ai hỏi.
    Thượng Tọa Đức Nhuận ngồi cả đêm trong ngăn tù xa. Ông không thể kêu cứu được, có kêu tiếng ông cũng không vang ra được ngoài. Ông cứ ngồi trong đó mà niệm kinh suốt đêm cho đến sáng. Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát chắc là nghe tiếng ông nên đến cứu ông. Thấy trên trần xe có lỗ thông hơi, Thượng Tọa tḥ bàn tay qua cái lỗ đó ra ngoài, vẫy vẫy. Có tên công an đi qua chỗ xe đậu nh́n thấy bàn tay vẫy vẫy, đi lấy ch́a khóa xe lên xe mở ngăn tù xa “giải phóng” cho Thượng Tọa trở về pḥng tù.

    oOo

    Khi tuyên án tử h́nh Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, những người cộng sản đă tính trước. Họ biết thế nào hàng giáo sĩ và Phật Giáo đồ, trong nước, ngoài nước, cũng lên tiếng phản đối bản án và đ̣i giảm án, nên họ chơi đ̣n “giơ cao, đánh khẽ”, cứ tuyên án thật nặng chờ xin là giảm án. Làm như vậy họ được cái lợi: vừa có vẻ nhân đạo, làm thỏa măn số người xin khoan hồng – giảm án rồi c̣n đ̣i hỏi ǵ nữa? – vừa vẫn giáng được những cái án nặng lên đầu hai can phạm. Đành rằng tổ chức Già Lam có mua được mấy khẩu súng nhưng chưa bắn phát đạn nào, chưa làm nổ một trái ḿn, chưa giết chết một tên công an Việt Cộng, làm cái ǵ mà phang họ những hai án tử h́nh, mà giết đến hai người trong tổ chức? Nếu họ hành động nặng hơn thế th́ lấy mức án ǵ mà xủ? Đến tử h́nh là hết mức án rồi. Nếu tổ chức gây bạo động, cho nổ ḿn, bắn chết năm bẩy anh VC th́ chắc là sẽ phải tuyên án tru di tam tộc hay bắn chết hết tất cả những người sống cùng khu phố với can phạm?

    Theo thông lệ – v́ số vụ án dồn đọng quá nhiều, không giải quyết được đúng thời hạn theo luật – những vụ án chính trị, hay vượt biên, phải chờ ít lắm là sáu, bẩy tháng mới được đưa ra xử lại.
    Vụ Già Lam được xử lại chỉ sau hơn một tháng. Trí Siêu, Tuệ Sĩ được đưa từ khám tử h́nh Chí Ḥa trở ra ṭa. Lần này hai người tử tội Già Lam được giảm án xuống 20 năm tù.
    Theo luật của chính Việt Cộng, án tử h́nh chỉ có thể giảm xuống án tù chung thân, Việt Cộng đă phớt lờ luật của chính họ để cho hai tử tù Già Lam từ án tử h́nh xuống thẳng án 20 năm, bỏ qua án chung thân. Cộng sản Việt Nam bắt chước hai đàn anh Nga Xô, Trung Cộng, thường tuyên những cái án thật nặng để rồi sau đó giảm án dần dần mỗi năm ở Trại Lao Động Cải Tạo, gọi tắt là Trại Lao Cải. Người lănh án tù 20 năm khi ở trại Lao Cải nếu chịp ép một bề, chịu làm theo lệnh và tỏ ra sốt sắng làm đúng chỉ tiêu, có thể được giảm án mỗi năm ba tháng. Người án tù chung thân cũng phải đi trại làm khổ sai như những người tù khác nhưng không được giảm án hàng năm. Chỉ sau khoảng từ tám, chín đến mười, mười một năm khổ dịch người tù chung thân mới được phá án, được xuống án 20 năm, đến khi xuống án tù 20 năm đương sự mới được giảm án hàng năm. Trung b́nh người án tù chung thân phải ở tù từ 15 đến 17 năm.

    Khi sống trong khám Chí Ḥa, anh em tù chúng tôi thường bàn tán với nhau về cái tiểu sử nhà tù chúng tôi cư ngụ.
    Tôi có ư định khi trở ra ngoài tôi sẽ t́m biết Nhà Tù này được kiến trúc sư tên là ǵ, người nước nào, vẽ kiểu, ai phụ trách xây dựng Nhà Tù lớn này, Nhà Tù được bắt đầu xây cất ngày nào, hoàn thành ngày nào, tháng nào, năm nào, hết bao nhiêu tiền v.v…

    Khi trở về khu Ngă Ba Ông Tạ và đường phố Sài G̣n tôi thấy Nhà Tù Chí Ḥa chỉ quan trọng, chỉ đáng được t́m hiểu với những người tù đang sống trong ḷng nó. Những người chưa từng một lần đem thân vào Nhà Tù Chí Ḥa chẳng cần biết ǵ về nó. Những thân chủ của Chí Ḥa khi ra khỏi những bức tường kiềm tỏa của nó, khi bỏ những hàng chấn song sắt, những cửa sắt lại sau lưng, cũng quên nó luôn.
    V́ vậy, tôi chỉ mô tả rất sơ lược về kiến trúc Nhà Tù Chí Ḥa. Nhà Tù Hỏa Ḷ Hà Nội đă tiêu rồi..Một ngày nào đó Nhà Tù Chí Ḥa cũng sẽ biến mất.
    Mai sau dầu có bao giờ…
    Một trăm năm sau – hăy nói một trăm năm sau, đừng đao to, búa lớn nói ba, bốn trăm năm sau. Tố Như théc méc thế th́ được. Tam bách dư niên hậu… Hà nhân khấp Tố Như… Ḿnh tính chuyện ba trăm năm là không được – trong số những người Việt Nam đến cơi đời này sau tôi có thể có vài người đọc những ḍng chữ này ṭ ṃ muốn biết nhiều hơn về Nhà Tù Chí Ḥa, nơi từng giam giữ ông cha họ ngày xưa, nơi họ không được thấy.
    Ngày xưa… những năm 1950, 1951, khi Sài G̣n c̣n ít cư dân, khi những con đường c̣n viền những hàng cây xanh – đường Bonard không chỉ có hai mà có bốn hàng cây xanh – khi người Pháp c̣n làm chủ Sài G̣n, nhà tù Sài G̣n được nhân dân gọi là Khám Lớn, và Khám Lớn Sài G̣n nằm ngay giữa trung tâm thành phố: mặt tiền đường Gia Long, tường sau đường Lê Thánh Tôn, nơi bây giờ là Thư Viện Quốc Gia.
    Thời xa xưa ấy – cách nay hơn nửa thế kỷ – người Sài G̣n phạm pháp bị bắt về Bót Catinat, đầu đường Tự Do gặp đường Nguyễn Du. Bót Catinat là nơi tạm giam và thẩm vấn tội phạm. Thời Pháp thường th́ thời gian thẩm vấn ở Bót Catinat chỉ kéo dài mười lăm ngày. Từ Bót Catinat can phạm được đưa sang Khám Lớn Sài G̣n ngay gần đấy. Cái gọi là Sở Lục H́nh – nơi lưu trữ hồ sơ lư lịch các tội phạm – nằm ở sau Ṭa án Sài G̣n, cạnh Khách sạn Embassy. Người tù được c̣ng tay đi bộ từ Khám Lớn sang Sở Lục H́nh ngay gần đó, khi ra ṭa người tù cũng chỉ cần đi qua đường Gia Long là vào được Ṭa án bằng lối cửa bên cạnh. Năm xưa nhiều người có tên trên bảng đường thủ đô Sài G̣n của ta từng bị giam trong khám đường này: Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm. Ông Huỳnh Thúc Kháng và một số ông tù quốc phạm khi từ Côn Đảo về có ghé vào khám đường này nghỉ chân trước khi lên tầu hỏa về Trung, ra Bắc.
    Trong những năm đầu Thế kỷ 20 nhà tù Sài G̣n nằm ngay cạnh Ṭa án Sài G̣n là hợp lư, tiện lợi. Sau năm 1945 dân Sài G̣n ngày một đông hơn, thành phố phát triển, nhiều nhà dân quanh Khám Lớn Sài G̣n trở thành nhà lầu. Người sống trên những nhà lầu đường Lê Thánh Tôn có thể dễ dàng nh́n vào giữa sân Khám Lớn. Người ta không c̣n có thể cứ để măi khám lớn nằm ch́nh ́nh ngay giữa đô thành.
    Nghe nói Nhà Tù Chí Ḥa được các quan Đại Pháp quyết định xây và “đặt viên gạch đầu tiên” rồi được các quan Đại Nhật khánh thành.

    . . .

  9. #9
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609


    Từ 1940 đất nước chúng ta có nhiều thay đổi lớn, Sài G̣n cũng vậy. Quân đội Nhật Bản làm binh biến hạ bệ người Pháp, các quan Đại Pháp bị quân Nhật bắt đi bộ lếch thếch vào những trại tập trung.
    Chiến tranh thế giới chấm dứt, người Pháp theo chân người Anh trở lại Sài G̣n, những anh Tây lai cô-lô-nhần từng bị khổ nhục trở thành bọn Sureté Tây, thẳng tay bắt bớ, tra tấn, hành hạ người Việt. Bọn Tây lai này đối xử với người Việt tàn tệ, dă man, táng tận, đểu giả hơn cả những người Pháp. Theo tôi, sự đểu giả của bọn lai Tây trong chiến tranh Việt-Pháp là nguyên nhân làm cho đa số người Việt chúng ta không ưa những người con lai giống…
    Tôi nghe nói nhà tù Chí Ḥa được xây xong vào khoảng 1945-1946, bắt đầu đón khách từ những năm 1946-1947. Khám Lớn Sài G̣n đường Gia Long trở thành nhà tù nhỏ so với Khám Lớn Chí Ḥa vẫn được duy tŕ. Trong thời gian này người Sài G̣n bị bắt vẫn bị giam, bị thẩm vấn ở Bót Catinat, vẫn sang Khám Lớn Gia Long nằm chờ ra ṭa án bên kia đường, chỉ sau khi có án mới được đưa vào nằm dài ngày trong Nhà Tù Chí Ḥa.
    Năm 1952 Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm ra lệnh phá nhà tù đường Gia Long. Trong một buổi lễ được coi là long trọng và mới lạ Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm đọc bài diễn từ ngắn, cầm búa “đập viên gạch đầu tiên” phá nhà tù. Khi đó tôi là phóng viên nhật báo Ánh Sáng và có cái vinh hạnh được dự lễ phá nhà tù này. Lễ xong, Ông Lớn lên xe về dinh, chàng phóng viên mới vào nghề là tôi ṭ ṃ đi một ṿng xem nhà tù.
    Thời gian qua. Chiều nay ở quê người, tôi tưởng tượng lại h́nh ảnh tôi, chú phóng viên trẻ măng năm xưa đứng ngoài hiên nh́n qua song sắt vào những pḥng giam không có người, những pḥng giam cửa mở, chật hẹp, tối tăm, dơ bẩn, lạnh lẽo. Và h́nh ảnh tôi những năm 1985, 1986, tóc bạc, gầy ốm, đứng sau hàng song sắt nhà tù Chí Ḥa nh́n ra.

    Được phá bỏ từ 1952, khu đất từng là nhà tù Sài G̣n dầu dăi nắng mưa măi đến thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm mới xây nên ṭa nhà Thư Viện Quốc Gia.
    Từ năm 1980 những người cộng sản Việt Nam sau khi ăn hết, vơ vét hết, phá hết, phung phí, tẩu tán hết của cải của đất nước và nhân dân, phải bắt chước đàn anh cộng sản Tầu thi hành chính sách gọi là “mở cửa”. Cũng như nhiều công sở khác, Thư Viện Quốc Gia được mở cửa cho Ba Tầu vào mở cao lâu, rơ hơn là cho Ba Tầu Chợ Lớn mướn nguyên một tầng làm hàng ăn. Vào năm 1994, 1995 nhiều người dân Sài G̣n vẫn đến Thư Viện Thành Phố nhưng không phải để đọc sách mà là để ăn cưới.
    Từ sau hai hàng song sắt Pḥng 10 Khu ED trong bốn năm trời ṛng ră, tôi ngày đêm trông thấy Khu Tử H́nh ở bên kia sân.
    Khu đó vắng bóng người, tối tăm, ảm đạm, tối tăm hơn những khu khác. Tôi kinh sợ khi tưởng tượng tôi phải vào khu đó. Tôi càng sợ hơn khi nghe các chuyện kể về cảnh sống của người tử tù chờ chết trong Khu Tử H́nh Khám Chí Ḥa. Người tử tù bị c̣ng chân suốt ngày, suốt đêm. Ba, bốn giờ sáng cai tù vào đánh thức, cho ăn bữa cuối cùng, thường là cái bánh bao, chai nước ngọt, hai điếu thuốc có cán. Người tử tù bị bịt mắt, bị tọng giẻ, trái chanh hay trái cóc vào miệng, đưa lên xe bít bùng chạy lên băi bắn ở Thủ Đức. Nghe nói tử tù bị đưa lên đứng trên những thùng phuy đổ đầy đất để chịu bắn nên anh em tù thường nói đùa “lên thùng phuy”. Cũng nghe nói nhiều người tù bị nhét trái chanh, trái cóc quá lớn vào miệng nên chết ngạt trước khi bị bắn.

    Tử tù Thành Hồ bị bắn vào lúc năm giờ sáng, xác được chôn ngay ở khu đất cạnh băi bắn. Thân nhân tử tù có thể đến nhận mộ nhưng nếu muốn đặt bia trên mộ, bia phải có hàng chữ “Tội… Chịu án ngày…”
    Những chuyện cộng sản Việt Nam giết người Việt Nam, tôi được nghe trong ngục, làm tôi nhớ một bài viết về chị Vơ Thị Sáu, người được CSVN suy tôn là liệt sĩ, bị người Pháp hành quyết ở Côn Đảo.
    Khoảng những năm đầu thập niên 1980, tôi t́nh cờ đọc được bài viết ấy trong một tập sách Văn dậy học sinh trung học.
    Bài viết tả cảnh người nữ tử tù Vơ Thị Sáu trên đường đi ra pháp trường đă “ngắt bông hoa hồng dại bên đường đưa tặng người lính Bắc Phi sẽ bắn chị…
    Ôi…! Tác phong của người cộng sản Vơ Thị Sáu mới hào hùng, cao đẹp làm sao! Cho đến lúc sắp bị kẻ thù giết, chị vẫn sống đẹp, sống hùng, chị vẫn yêu thương người, chị vẫn tha thứ!
    Đây là bài trong sách giáo khoa, không phải bài đăng trên báo.

    Người viết bài ca tụng ấy phạm hai tội, một là ngu, hai là coi thường người khác. Có thể y can cả hai tội. Có ngu tận mạng và coi thường mọi người y mới viết những chuyện như thế. Y c̣n can tội phản tuyên truyền, bôi bác chế độ xă hội chủ nghĩa, v́ y tả người tù Vơ Thị Sáu khi bị cai tù Pháp đưa đi bắn ở Côn Đảo được cho đi ung dung, thoải mái, không bị bịt mắt, không bị nhét trái chanh hay cục giẻ vào miệng, không bị c̣ng tay, xích chân, bằng chứng là đang đi chị có thể dừng lại, cúi xuống, ngắt bông hồng dại bên đường, đưa cho người lính Bắc Phi sẽ bắn chị…
    T́nh cảnh những người tử tù chính trị Việt Nam bị những người cộng sản Việt Nam đưa đi bắn có thể nói là cực kỳ thê thảm.
    Tôi không ngu đến cái độ nghi ngờ chuyện chị Vơ Thị Sáu hái bông hồng trên đường ra băi bắn Côn Đảo là chuyện không có thật, tất nhiên đó là chuyện bịa, tôi chỉ lấy làm lạ tại sao một bài viết lếu láo, ngu si đến như thế lại có thể được những người cộng sản cho vào sách giáo khoa. Người viết bài có thể ngu si, có thể coi thường mọi người, nhưng c̣n bao nhiêu người cộng sản khác?

    oOo

    Từ khu tử h́nh Khám Lớn Chí Ḥa, Trí Siêu và Tuệ Sĩ xách giỏ sang khu FG sau khi được bỏ án tử h́nh. Hai tu sĩ Phật giáo ở tù không có ǵ hơn anh em Biệt Kích Cầm Bút chúng tôi – không hay hơn cũng không dở hơn – nhưng hai người hơn anh em chúng tôi một chuyện: họ đă vào Khu Tử H́nh Khám Chí Ḥa.
    Chia tay với Lê Mạnh Thát ở Pḥng 10 Khu ED tôi ôm chiếu, xách giỏ sang khu FG trước Thát, nhưng duyên nghiệp giữa Thát và tôi chưa hết.
    Khoảng bốn tháng sau Thát và Tuệ Sĩ từ Khu Tử H́nh lại ôm chiếu, xách giỏ sang ở cùng một pḥng Khu FG với tôi.
    Đă có án, những người tù đồng vụ không c̣n bị chia ra ở nhiều pḥng nữa, những người Già Lam nay được sống chung một pḥng. Ni cô Trí Hải ra ṭa lănh án 4 năm tù, ở tù vừa đủ án kể từ ngày bị bắt, ni cô được về chùa ngay.
    Đoàn tụ với nhau trong một pḥng tù chừng một tháng, nhóm Già Lam được đưa đi trại lao động cải tạo. Lần thứ hai tôi chia tay với Lê Mạnh Thát. Thát đi khỏi Nhà Tù Chí Ḥa vào một buổi sáng cuối năm 1988. Nằm lại Chí Ḥa tôi được tin nhóm Già Lam lên Trại Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai. Cơ may của tôi được đến Z30A là 5/5.

    Ngày 19 Tháng Giêng Ta là ngày giỗ ông thân tôi. Ngày này cũng là ngày tù pḥng tôi được nhận đồ nuôi bên ngoài gửi vào, tôi được ăn xôi ṿ, chè đường, hai thứ mẹ tôi làm rất ngon.
    Hai ngày sau, ngày 18 Tháng Giêng Ta, mùa xuân mới đến trên thành phố thân thương, tôi ôm chiếu, xách giỏ lên xe rời Thánh Địa.
    Bị c̣ng chân ngồi sát cánh với anh em trên sàn xe, nh́n lên qua những song sắt cửa sau xe tôi thấy những ngọn cây, những cột đèn, những đường dây điện, những mái nhà thành phố.
    Con đường xưa tôi đi… Như vậy là trước sau tôi đă ba lần bị c̣ng tay đi trên con đường này – tôi ra ṭa hai lần, một lần đi trại cải tạo.
    Xe ra xa lộ. Khoảng 11 giờ trưa xe ngừng. Tôi theo anh em xuống xe trước cổng trại Z30A, khi xe rời quốc lộ ở Ngă Ba Ông Đồn để chạy vào con đường nhỏ, chúng tôi đă biết chúng tôi đến trại Z30A.
    Năm năm trời sống tù túng trong những pḥng giam, tôi sung sướng đặt chân lên mặt đất đỏ Xuân Lộc. Mặt đất mới mịn, mới mát làm sao! Việc làm đầu tiên của tôi là vào băi cỏ bên cổng trại khoan khoái đi một đường tiểu tiện. Thoải mái rồi tôi trở lên ngồi chồm hổm xếp hàng với anh em chờ, văn huê là “cán bộ quản giáo”, nôm na là cai tù, ra lănh vào trại. Tôi ph́ phèo điếu thuốc rê thở khói xanh lên những cành bạch đàn, sung sướng cảm nhận làn gió mát ve vuốt trên má, cảm nhận hơi ấm của nắng trưa trên tóc, trên vai áo, tim tôi rưng rưng v́ tiếng chim, tiếng lá bạch đàn ŕ rào, năm năm rồi tôi không được nghe tiếng chim hót, tiếng lá reo…
    Đến Z30A tôi gặp lại gần tất cả những ông bạn tù đă sống cùng pḥng với tôi ở Chí Ḥa, đă quen biết tôi, tṛ chuyện, chia ngọt, xẻ bùi với tôi: Mă Thành Công, giáo sư Sử, Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Cao Đài, tù 10 năm, Lê Công Minh, kỹ sư, tù chung thân, Sáu Vui, tổ chức vượt biên, tù 14 năm.

    Cũng tại đây tôi gặp người tù độc đáo Lê Vĩnh Xuân. Xuân từng có thời làm nhân viên Sở Thông Tin Hoa Kỳ, USIS. Xuân bị bắt từ năm 1976, bị nghi là nhân viên CIA được CIA gài lại, bị giam mút chỉ cà tha từ đó măi đến năm 1992 mới được thả. Trong giấy ra trại, tức lệnh tạm tha của Xuân, ghi cái tội danh hết sức ly kỳ là “Can tội: Thông dịch viên”.
    Và ở Z30A tôi gặp lại tất cả những người trong nhóm Già Lam, tôi lại ở chung một pḥng tù với Lê Mạnh Thát. Đến hết năm 1989 tôi đă ở tù cùng một pḥng với Lê Mạnh Thát đúng 5 năm liền.
    Tôi đến Z30A ngày 18 Tết, một năm sau hết án, tôi ra khỏi Z30A ngày Mùng 7 Tết. Lúc 9 giờ sáng tôi ra về. Anh em đi làm hết, trại vắng tanh, Lê Mạnh Thát – ở nhà làm công việc dịch sách – tiễn tôi ra đến cổng trại.
    Đây là lần thứ ba tôi chia tay với Lê Mạnh Thát. Chúng tôi đă ba lần hợp, ba lần tan: một ở Pḥng 10 ED Nhà Tù Chí Ḥa, một ở Pḥng 20 Khu FG Chí Ḥa, một ở trại lao cải Z30A.
    Hôm nay nhớ lại những ngày tù đày và những người bạn tù ở quê hương, tôi bồi hồi tự hỏi không biết duyên t́nh giữa tôi và Lê Mạnh Thát đă hết chưa? Không biết cuộc đời có dàn xếp cho hai chúng tôi hợp tan một lần nữa hay không?
    Tôi đă sống gần sát Trí Siêu Lê Mạnh Thát năm năm, tôi đă thấy một số những cái hay, cái dở – những cái văn huê là sở trường, sở đoản – của con người Trí Siêu Lê Mạnh Thát. Tù và túng. Trong tù người ta thường chỉ thấy những sở đoản của nhau, nhiều lúc tôi cũng coi thường, cũng thấy khó chịu v́ Thát.
    Đầu năm 1990 tôi về Sài G̣n, Thát vẫn ở Z30A. Ngay thời đó mỗi lần nhớ Lê Mạnh Thát tôi vẫn định có dịp sẽ nói với Thát:
    – Khi ở gần núi Thái Sơn thấy Thái Sơn cũng thường thôi, cũng không có ǵ cao lắm. Khi xa Thái Sơn mới thấy Thái Sơn (dù sao cũng vẫn) cao hơn nhiều núi khác.
    Tuêï Sĩ mỗi ngày chỉ ăn một bữa, quá ngọ là không ăn nữa, Trí Siêu ăn chay thật bền và điều độ, bữa nào cũng ăn hết phần cơm tù. Chúng tôi quen lệ ngày được nuôi là bỏ cơm tù, ăn toàn thức ăn người nhà gửi vào, Lê Mạnh Thát trong ngày được nhận đồ nuôi vẫn từ tốn ăn hết bát cơm tù, sau đó mới ăn đôi chút quà cáp gửi vào.
    Có những lúc Thát và tôi ở trần, bận quần sà lỏn, đứng ghếch chân bên song sắt, nói chuyện nho nhỏ với nhau cả giờ. Ngoài pḥng giam là một hành lang rộng, ngoài hành lang ấy c̣n một hàng song sắt nữa, chúng tôi phải nh́n qua hai hàng song sắt mới thấy mảnh trời nhỏ trên cao.
    Một tối mùa mưa chúng tôi đứng đó, trời vừa mưa lớn nhưng lúc ấy đă tạnh và có trăng. Chúng tôi không nh́n thấy mặt trăng nhưng nh́n thấy bóng vừng trăng in trong vũng nước đọng trong hành lang.
    – Này thầy – tôi nói với Thát – Thầy thấy bóng trăng kia chứ? Nó là ảo ảnh nhưng tôi nghĩ tôi có thể cho nó là thật, v́ tôi biết có vầng trăng thật trên trời kia, v́ có vầng trăng thật trên trời nên mới có bóng vầng trăng trong vũng nước này.
    Trong tù tôi thấy có nhiều anh em đêm đêm ngồi thiền, tất cả những tu sĩ Già Lam ở chung pḥng tù với tôi đều không ai ngồi thiền hay tĩnh tọa. Tôi cũng chẳng thấy ai trong họ tụng kinh hay làm những cử chỉ, hành động chứng tỏ họ là sư săi.
    – Khi ở xa Thái Sơn tôi thấy quả thật Thái Sơn có hơn nhiều núi khác.
    Ư tôi muốn nói là, trong 5 năm trời sống gần – phải nói là quá gần – Trí Siêu Lê Mạnh Thát, có nhiều lúc tôi coi thường Lê Mạnh Thát, khi xa và nhớ lại tôi thấy con người, cuộc sống của Lê Mạnh Thát, ở một tầm cao hơn con người và cuộc sống của nhiều người tôi đă gặp.
    . . .

  10. #10
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609



    “….Gặp những ngày trời đất xuống mầu như thế, người khách xa nhà, cả trăm người như một, đều cảm thấy buồn tê tê trong ḷng mà tự nhủ: “Ờ, đúng là mùa thu ở Bắc. Trời này có rượu ngon đem uống th́ tuyệt trần đời!”


    “Thế th́ cái ngày trời đất xuống mầu ấy ra sao mà người ta lại rầu rầu trong dạ, sầu sầu muốn uống một cái ǵ? Thôi, ai c̣n lạ ǵ cái thời tiết ở miền Nam nước Việt nhơng nhẽo đến chừng nào; buổi tối nóng như điên, nửa đêm xoay ra lạnh lúc nào không biết; chiều sấm chớp ầm ầm, yên trí có mưa th́ một lát sau trăng lại sáng trưng; ấy thế mà chính lúc người ta đang yên trí là nóng c̣n lâu th́ mưa trút xuống rào rào làm cho ai cũng ngạc nhiên tự hỏi: “Quái, sao năm nay mưa sớm thế?” Thế rồi khi ai cũng tưởng là mùa mưa bắt đầu th́ chọc trời cũng không một hạt nước, trời nóng đến cái mức làm người ta mờ cả mắt, nhức cả đầu; nhưng có một buổi tối kia đi ăn đầu cá với một người yêu xa cách lâu ngày ở cầu B́nh Lợi th́ tự nhiên trời đổi gió, giăng tơ lên ngọn cỏ. lá cây để đến lúc sắp đứng dậy ra về anh cảm thấy như có môt cái lưới buồn rũ từ trên trời xuống nước, lan tràn ra khắp cả mặt đất chân mây và gói ghém luôn cả anh cùng với tâm óc anh vào đó.
    “Lau lách ở ven hồ kêu lên những tiếng ŕ rào y như thể những tiếng than nhỏ bé; nước vỗ vào bờ nghe trầm trầm; qua những chùm lá, qua những cành cây, gió ŕ rào như kể chuyện xa xưa và giục người ta xích lại gần nhau cho ấm cơi ḷng hơn một chút….”. (Thương Nhớ Mười Hai – Vũ Bằng)



    Văn của anh Vũ Bằng, trong tác phẩm “Thương Nhớ Mười Hai”, chương viết về Tháng Tám: “Tháng Tám: Ngô đồng nhất diệp lạc, thiện hạ cộng tri thu“.
    Một buổi sáng tôi đang ngồi viết, bỗng nghe có tiếng ǵ văng vẳng như tiếng chim tôi từng được nghe từ lâu lắm, từ những năm xa xưa ở tỉnh lỵ Hà Đông hiền ḥa, thân thương của tôi; tiếng chim mà từ ngày theo cha mẹ rời khỏi tỉnh Hà Đông, tôi không c̣n bao giờ được nghe thấy nữa. Tiếng chim gáy: “Curuucu…”
    Tôi ngừng viết ngoảnh nh́n. Trên thành của sổ pḥng tôi mở ra Rừng Phong có con chim đậu. Con chim lông mầu nâu nhạt pha sắc xám, nhỏ hơn chim bồ câu. Nó là con chim gáy tôi thấy ở những cánh đồng lúa vàng sắp chín quanh tỉnh Hà Đông năm mươi năm xưa. Mèn ơi…! Ở Hoa Kỳ cũng có chim gáy như ở quê ta ư? Không những chỉ có mà c̣n giống y boong. Không khác một ly ông cụ. Bánh xe lăng tử sang Mỹ gần năm mùa thu vàng hôm nay tôi mới thấy con chim gáy Mỹ. Thấy tôi nh́n, con chim đủng đỉnh đi đi, lại lại trên thành cửa sổ. Nó gáy lên như để cho riêng tôi nghe: “Curuucu…” Đúng nó là con chim gáy. Tiếng gáy của nó y hệt tiếng những con chim đồng loại gáy trên những bụi tre làng miền Bắc quê tôi khi cánh đồng vàng mầu lúa chín!

    Những năm 1940, 1941, 1942 tôi đă lớn. Mỗi năm vào mùa lúa chín, ông bố tôi thường mang súng bắn chim đi bắn một hai lần ở những cánh đồng quanh thị xă Hà Đông. Ông có khẩu súng hai ṇng, calibre 16, mua ở nhà Chaffanjon, Hà Nội. Năm 1945 Việt Minh tịch thu khẩu súng ấy. Tôi đi theo ông bố tôi trong những buổi sáng chủ nhật đi bắn chim gáy ngày xưa. Cứ đến mùa lúa chín là ngoài đồng có chim gáy và tôi thấy mơ màng ẩn hiện h́nh ảnh chú nhỏ mười, mười một tuổi, xách cái túi đựng chim, đi theo ông bố trong những cánh đồng vàng lúa ngày xưa.

    Tôi nghĩ cứ đến mùa lúa chín mới có chim gáy; chim gáy sống bằng lúa. Ở xứ Mỹ này cả trăm cây số quanh thành phố thủ đô không có cánh đồng lúa nào, chim gáy lấy ǵ mà sống? Sao chim gáy có thể sống giữa cái thành phố mặt đất đầy xi-măng này? Tôi nẩy ra ư viết về chim gáy, về những sáng chủ nhật tôi theo ông bố tôi đi bắn chim gáy ngày xưa ở Hà Đông. Những ư nghĩ miên man đến trong tôi như như những đợt sóng.
    Tôi bỗng nhớ anh Vũ Bằng. Trong tác phẩm Thương Nhớ Mười Hai tôi đọc năm xưa anh có viết về chim gáy. Tôi đi t́m quyển Thương Nhớ Mười Hai.
    Nơi tôi sống nhờ có ba nhà sách. Ngay lúc này không nhà nào có quyển Thương Nhớ Mười Hai. Mà tôi th́ lại cần có sách để xem lại, để viết ngay. Sách được tái bản chùa ở Hoa Kỳ, nhưng chờ order sách từ Cali gửi sang th́ đến bao giờ. Tôi cầu cứu bạn tôi là Tạ Quang Khôi, người chúng tôi gọi đùa là Tạ Ống Khói v́ nước da của anh. Anh Giáo Khói của chúng tôi có con làm ở Thư Viện, anh có thể nhờ mượn sách. Giáo Khói trả lời: “Có Thương Nhớ Mười Hai ngay!”
    Tôi được quen biết ông nhân sĩ P.Ng. H, một cựu giáo sư học giả ở cùng đồng đất Virginia. Ông H. yêu sách, nhà có thật nhiều sách. Tôi mượn của ông tập Tam Quốc Chí của Tử Vi Lang dễ đă đến hai mùa lá rụng chưa đem trả. Trong khi chờ đợi được anh Giáo Khói cho mượn sách, tôi đem bộ Tam Quốc Chí đến nhà trả ông H. và hỏi ông có quyển Thương Nhớ Mười Hai không? Lập tức, ông cho tôi mượn quyển Thương Nhớ Mười Hai in lại mới toanh.
    Tôi bồi hồi cầm quyển sách. Một chiều xanh năm vàng xưa anh Vũ Bằng hẹn tôi đến nhà in Nguyễn Đ́nh Vượng đường Phạm Ngũ Lăo, trước rạp xi-nê Thanh B́nh, nơi có ṭa soạn các báo Văn, Tuổi Ngọc; anh cho tôi quyển Thương Nhớ Mười Hai do Nhà Nguyễn Đ́nh Vượng vừa xuất bản. Thời ấy sách báo ta in bằng giấy mầu vàng, sang lắm là giấy Nhật, nhưng cũng là loại giấy rẻ tiền, giấy sốp nên sách có bề dầy. Nay trên tay tôi quyển Thương Nhớ Mười Hai năm 1999 in giấy trắng tinh, nên dầy chỉ bằng nửa quyển Thương Nhớ Mười Hai năm 1972. Quyển TNMH trên tay tôi do nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 1993. Tôi đọc trang cuối: “In 1.000 cuốn, khổ 13x19cm tại Xưởng In CTVHQ 11 (Công ty Văn Hóa Quận 11). Số giấy phép: 126/XBVH. In xong tháng 9 năm 1993”.
    Cộng sản Bắc Việt tái bản “Thương Nhớ Mười Ha”i – và có thể đă tái bản “Vĩnh Biệt Phù Dung” (Cai, tên truyện VBPD trước năm 1945). Họ tái bản những tác phẩm của Vũ Bằng, như họ đă tái bản những “Thơ Say”, “Mây”, “Rừng Phong”, “Ta Đă Làm Chi Đời Ta” của Vũ Hoàng Chương. Họ đă bắt giam Vũ Hoàng Chương, họ đă lên án tất cả những tác phẩm văn học, tiểu thuyết của quốc gia Việt Nam Cộng Ḥa là phản động, đồi trụy; họ đă tịch thu, tiêu hủy những văn phẩm này. Nhưng như Vũ Hoàng Chương đă nói trong thơ anh ngay từ những tháng ngày đen tối, vô vọng nhất cuối năm 1975: “Miệng túi càn… khôn thắt nổi danh“, những người Việt cộng sản miền Bắc không thể chối bỏ được những giá trị văn học, nghệ thuật của quốc gia Việt Nam Cộng Ḥa.

    T́m trong Thương Nhớ Mười Hai tôi thấy anh Vũ Bằng không viết về chim gáy mà viết về chim ngói: “Tháng Chín, gạo mới chim ngói”. Thời gian trước mắt tôi mới là sắp đến Tháng Tám Trung Thu nên tôi mời bạn trở lại với Tháng Tám ở quê hương ta qua lời diễn tả của tác giả Thương Nhớ Mười Hai:

    “Mùa thu ở Bắc cũng đến với người ta như thế. Bây giờ mỗi khi thấy trời trở gió, không gian bàng bạc một mầu ch́; mỗi khi thấy lá rụng ở các công viên như những người đau ngực, bay lào xào trên mặt đất hanh hao, mỗi khi thấy lá tre rụng vèo xuống các ao hồ nằm yên ả trong những lớp bèo rong, bèo tấm, có ai biết rằng tôi nhớ lại những ǵ không? Cứ đầu tháng tám, trời Bắc Việt buồn se sắt, đẹp năo nùng, sáng sáng thức dậy vào lúc c̣n tối đèn, cầm cái áo ma-ga mẹ lấy từ trong rương ra cho ḿnh, húp bát cháo đậu kho và ăn ba nắm xôi lạc do mẹ mua cho rồi đút hai ba đồng xu, đồng kên sủng soẻng trong túi áo đi qua dẫy Nhà Thờ, thẳng một lèo lên dốc Hàng Kèn, có ai biết rằng tôi đă trông thấy những ǵ và nghĩ những ǵ không?
    “Lúc ấy, trời đă sang thu. Lá cây nhội ở hai bên đường đi ra dốc Hàng Kèn vươn những cái thân gầy lên trên trời và mỗi khi có gió thổi th́ từng chiếc lá vàng lại rụng xuống, xoay nhiều ṿng, rồi đậu trên những cái vai trắng muốt của các pho tượng mỹ nhân cởi truồng trong công viên ở cuối Phố Nhi, gần cái hang đá thờ Đức Mẹ.
    “Cái mà bây giờ tôi c̣n trông thấy rơ từng ly từng tí là một cậu bé xách cái cặp da nặng trĩu đi học một ḿnh, vừa đi vừa ôn lại một bài văn xuôi có vần…
    “….Lẩm nhẩm ôn lại bài học rồi cậu học tṛ bé nhỏ ấy nh́n lên bầu trời bàng bạc và nhẩy nhót như một con chim sẻ. Là v́ y biết là mùa thu đă bắt đầu, các cây nhội chi chít quả, chim hét về nhiều, chắc chắn y có nhiều hy vọng bắn được nhiều để về nuôi, nếu c̣n sống, hay rán lên cho mèo ăn, nếu chẳng may chim bị trọng thương mà chết.
    “Tuy nhiên, chỉ có ư tưởng của tôi theo chân được cậu bé ấy mà thôi, v́ cậu bé ấy chỉ là cái bóng của chính tôi năm mươi mấy năm về trước. Thương thương cậu bé vô tội ấy biết chừng nào!”
    Anatole France. Bài La Rentreé des Classes?? Lâu quá không được đọc lại bài văn, chỉ c̣n nhớ đại khái: Anatole France tả ngày tựu trường, cậu học tṛ nhỏ đi qua vườn Luxembourg mùa thu, thấy những pho tượng đá trắng và “…những cánh lá vàng đi trong những cái cây run rẩy… et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent…”

    Ảnh hưởng cũng chẳng sao. Tôi không được sống nhiều ở Hà Nội nên tôi không được biết nhiều về Hà Nội. Hôm nay tuổi đời Sáu Bó lẻ mấy que, sống nhờ trên đất Mỹ, đọc lại Thương Nhớ Mười Hai, tôi théc méc về chi tiết: “…mỗi khi có gió thổi th́ từng chiếc lá vàng lại rụng xuống, xoay nhiều ṿng. rồi đậu ở trên những cái vai trắng muốt của các pho tượng mỹ nhân cởi truồng trong công viên ở cuối Phố Nhi…”

    Ơi… những vị Công Tử Hà Nội tuổi đời năm nay ít nhất phải từ Sáu Bó trở lên. Xin hỏi các vị: “Hà Nội ba mươi sáu phố phường có phố nào tên là Phố Nhi không? Tôi chưa bao giờ nghe nói Hà Nội có Phố Nhi. Cứ theo lời tả th́ tôi thấy cái Phố Nhi trong Thương Nhớ Mười Hai ở gần Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Trong trí nhớ của tôi khu này làm ǵ có công viên nào, lại càng không có những “pho tượng mỹ nhân cởi truồng…” lớn đến cỡ đủ để cho những cánh lá vàng rơi có thể nằm trên bờ vai trắng muốt! Tức là lớn bằng người thật. Đàn anh Vũ Bằng ơi, đàn anh sống khôn, chết thiêng, cho đàn em khều nhẹ đàn anh một tí: Tượng mỹ nhân khỏa thân chứ! Mỹ nhân cởi truồng coi bộ Thị Mịch nằm nghiêng quá đi…
    Noel năm 1983, anh Trần Tam Tiệp ở Paris gửi về cho chúng tôi khoản tiền để tổ chức một tiệc đêm Giáng Sinh anh em vui với nhau. Chúng tôi gặp nhau trong một vi-la trong cư xá Lữ Gia. Hai anh Vũ Bằng, Tam Lang có đến dự. Năm ấy anh Tam Lang đă tám mươi, anh Vũ Bằng khoảng bẩy mươi. Anh Vũ Bằng gầy, người chỉ c̣n xương với da, anh vẫn đi lại nhanh nhẹn, cười nói vui vẻ. Đó là lần cuối cùng tôi được gập anh. Khi ấy anh Trần Việt Sơn đă qua đời. Anh Sơn bị bắt tù những năm 1976, 1977. Tháng Tư 1984 anh Vũ Bằng từ trần. Mùng 2 tháng Năm 1984 tôi bị bắt. Khi thẩm vấn tôi anh công an nói:
    – Hai ông Trần Việt Sơn, Vũ Bằng chết rồi. Đỡ mệt cho chúng tôi. Không bắt th́ không được mà bắt hai ông già ấy th́ cũng kỳ…

    Đó là chuyện năm 1984. Năm 1990 những tác phẩm của hai anh Vũ Hoàng Chương, Vũ Bằng lại xuất hiện trên những chỗ trang trọng nhất trong các tiệm sách ở Thành Hồ. Anh Vũ Bằng sống nhiều ở Hà Nội, nên nhớ Hà Nội và quê hương miền Bắc, nhớ những năm tháng hoa niên của anh trên đất Bắc. Anh diễn tả tuyệt vời niềm thương, nỗi nhớ của anh trong Thương Nhớ Mười Hai:

    “…Người ta nhớ nhà, nhớ cửa, nhớ những nét mặt thân yêu, nhớ những con đường đă đi về năm trước, nhớ người bạn chiếu chăn dắt tay nhau đi trên những con đường vắng vẻ ngào ngạt mùi hoa xoan c̣n thơm mát hơn cả hoa cau, hoa bưởi. Người ta nhớ heo may giếng vàng, nhớ cá mè rau rút, nhớ trăng bạc, chén vàng…
    “…Ăn tô hủ tíu th́ nhớ đến phở Bắc “chính cống” ăn vào buổi sáng rét căm căm; trông thấy cua bể nhớ bát canh cua đồng nấu với rau rút và khoai sọ…
    “Ới những người thiên lư tương tư! Nếu bất ngờ những ḍng sau đây có lạc vào tay bạn, mà thấy nói lên được mối cảm hoài bạn vẫn chất chứa ở bên ḷng, thế là kẻ viết bài này lấy làm măn nguyện lắm rồi”.

    Ới đàn anh! Đàn anh từ Hà Nội vào Sài G̣n, Sài G̣n vẫn là đất nước chúng ta. Ở Sài G̣n đàn anh vẫn dễ dàng có bát canh cua đồng nấu với khoai sọ, rau rút, đàn anh vẫn c̣n được thưởng thức những món ăn thuần túy dân tộc, những món ăn chỉ dân tộc ta mới có, như bún ốc, bún riêu, bún thang, tiết canh vịt, cầy tơ. Muốn ăn ốc hấp, chả cá, đàn anh đến những hàng ăn Sơn Hải, Như Ư, Thăng Long. Không ngon bằng ở Hà Nội nhưng cũng đạt năm, bẩy chục phần trăm phẩm chất. Đàn anh chỉ mới thiên lư tương tư thôi. Nếu đàn anh bốn mươi tuổi năm 1975 như chúng tôi, đàn anh sống tàn mạt, mỏi ṃn, tuyệt vọng, nhục nhă đến hai mươi mùa lá rụng giữa thành phố Sài G̣n đầy cờ đỏ, sao vàng – trong hai mươi mùa thu vàng vơ ấy có bẩy, tám, chín mười niên đàn anh chuyên ở trần, quần sà lỏn, ngồi rù ngâm thơ trong những nhà tù – rồi đàn anh làm chuyến lưu vong qua biển sang phần bên kia – bên này – của trái đất như chúng tôi, đàn anh ở cảnh vạn lư tha hương như chúng tôi, tôi chắc đàn anh sẽ Thương Nhớ Mười Hai tập Hai, tập Ba, tập Bốn… Và lần này đàn anh sẽ thương nhớ Sài G̣n Đẹp lắm, Sài G̣n ơi, văn đàn anh sẽ da diết gấp triệu lần với nỗi nhớ thương miền Nam hai mùa mưa nắng …
    Tôi thương nhớ Sài G̣n, thương nhớ miền Nam thân yêu – ta sống ở đâu ta mến thương nơi ấy. Không thể trách những trẻ em Việt, năm bẩy tuổi theo cha mẹ sang Mỹ đến năm hai mươi tuổi không nói được tiếng Việt, không đọc được chữ Việt; những em này sẽ yêu thương nước Mỹ. Tôi năm hai mươi tuổi vào Sài G̣n, tôi đă sống ở Sài G̣n đến gần năm mươi năm; tôi sống ở miền Nam, tôi biết về miền Nam nhiều hơn tôi sống và biết về miền Bắc. Tự nhiên là tôi yêu thương miền Nam, tôi yêu thương và tôi nhớ Sài G̣n.

    Bây giờ Tháng Tám. Mùa thu sắp về Virginia nơi tôi sống nhờ. Virginia có những cánh đồng trồng thuốc lá bạt ngàn, có mùa thu lá vàng, lá đỏ thật đẹp. Cảnh sắc Virginia thơ mộng và t́nh tứ đến nỗi người Mỹ cho nó cái danh hiệu “Virginia is for Lovers”. Nhưng tôi mang tâm trạng “cảnh đẹp cảnh của người ta, ḿnh là khách đọi ở và mươi năm…” Cảnh xứ người càng đẹp tôi càng thương nhớ quê hương ta.
    Anh Vũ ơi… Vạn lư tha hương… Tôi thương nhớ Sài G̣n, nơi tôi đă sống những ngày hoa niên đẹp nhất đời tôi, nơi tôi đă gặp T́nh Yêu… Nhưng tôi không đủ tài, không đủ lời nói lên niềâ thương nhớ ấy. Tôi muợn văn anh để gây hứng khởi cho tôi, tôi chuyển nỗi nhớ thương Hà Nội, miền Bắc của anh thành nỗi nhớ thương Sài G̣n, miền Nam của tôi.

    . . .
    Last edited by BlackHole; 04-11-2018 at 12:54 PM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 05-04-2012, 04:48 AM
  2. Replies: 1
    Last Post: 18-03-2012, 07:31 AM
  3. Cuộc Chiến Đấu Cuối Cùng Ở Xuân Lộc
    By alamit in forum Quân Sử Việt Nam Cộng Ḥa
    Replies: 7
    Last Post: 09-12-2011, 08:35 AM
  4. Replies: 0
    Last Post: 25-05-2011, 02:13 AM
  5. Ở ĐÂY CÓ ĐẤU TRANH LÀ Ở ĐÂY CÓ BỊ BẮT
    By hatka in forum Giao Lưu - Giải Trí
    Replies: 0
    Last Post: 02-04-2011, 05:48 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •