Page 1 of 3 123 LastLast
Results 1 to 10 of 21

Thread: Nhà văn kiếm hiệp Kim Dung

  1. #1
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609

    Nhà văn kiếm hiệp Kim Dung


    Nhà văn Kim Dung qua đời hôm 30/10 tại Hong Kong ở tuổi 94. Ảnh: SCMP

    Lời Người Viết:

    Giữa thập niên 90, tôi viết loạt bài về Kim Dung, từ nhân vật đến tác phẩm. Bài “Kim Dung, Cuộc Đời, Tác Phẩm, Nhân Vật Hư Cấu & Hiện Thực” đă đăng trong quyển Ngẫm Chuyện Nhân Sinh của tôi ấn hành năm 2004 từ trang 15 đến trang 53. Sở dĩ trong quyển nầy đăng bài viết về Kim Dung v́ trong số bài phiếm dựa vào mẩu chuyện và nhân vật hư cấu để ngẫm lại xă hội và nhân vật hiện tại.
    Thời điểm đó bài viết của tôi không phổ biến trên internet, sau khi ấn hành quyển sách, tôi đọc được số bài dựa trên bài viết nầy nhưng không để nguồn đă trích dẫn. Và, tôi nghĩ rằng “muôn sự của chung” bởi đây chỉ dựa trên sách, báo để tổng hợp lại.

    Vào giữa thập niên 60, tôi mê truyện kiếm hiệp, không những chỉ đấm đá với nhau mà tài hoa của nhà văn Kim Dung qua ng̣i bút vơ hiệp kỳ t́nh, gọi nôm na là truyện chưởng. Với ng̣i bút tài t́nh mô tả, hư cấu nhiều mối t́nh quá đẹp, từ lăng mạn giữa thiên nhiên với cỏ cây, núi rừng, t́nh yêu thánh hóa, hy sinh vô bờ bến… đến oan trái, nghiệt ngă, thống hận… mà ở thế gian hiện hữu không thể xảy ra.

    V́ ngưỡng mộ tác phẩm của ông nên tôi chọn nhân vật trong vơ Lâm Ngũ Bá để làm bút hiệu. Có vài lư do, gia đ́nh ông là nạn nhân bi thảm khi Hoa Lục bị nhuộm đỏ, trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất ở Hoa Lục, gia đ́nh ông bị quy thành phần địa chủ, cha ông bị đấu tố rồi tử h́nh. May mà năm 1948 ông sang Hồng Kông đến “vùng đất tự do” với hai bàn tay trắng để lập nghiệp. V́ vậy, năm 1966, khi cuộc Đại Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản do Mao Trạch Đông phát động ở Hoa Lục, Kim Dung đă viết một loạt những bài xă luận lên án rằng Cách Mạng Văn Hóa “hủy diệt văn hóa và truyền thống Trung Hoa”.
    Kim Dung mê nghiệp báo và cũng đa cảm… Với nhân sinh quan, kẻ ác nếu không thức tỉnh th́ hậu quả bi thảm “quả báo nhăn tiền” và người hiền, trải qua bao sóng gió, bất hạnh rồi được yên lành. Có những nhân vật chịu phải nghịch cảnh, hy sinh để bảo vệ thanh danh, ḍng giống…
    Một số nhà văn, nhà báo đă chọn nhân vật thiện lẫn ác trong tác phẩm của Kim Dung để làm bút hiệu. Hư Trúc (Nguyên Sa), Kha Trấn Ác (Chu Tử), Kiều Phong (Lê Tất Điều), Hoàng Dược Sư (Đông Duy)… Lăo Ngoan Đồng, Đoàn Dự, Mai Siêu Phong…

    Nửa thế kỷ trước, tác phẩm Kim Dung trở thành hiện tượng với người dân miền Nam VN. Nhà văn Hiếu Chân với Bàn Về Tiểu Thuyết Vơ Hiệp, 1967.

    Nhà báo Nguyễn Viết Khánh, Tiểu Thuyết Tàu Trên Báo Chí Việt, 1968. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác, Nỗi Băn Khoăn Của Kim Dung, 1971. Nhà giáo Lưu Trung Khảo, Đi Vào Thế Giới Kiếm Hiệp, 1965. Tác phẩm Vô Kỵ Giữa Chúng Ta hay là Hiện Tượng Kim Dung, của Đỗ Long Vân, NXB Tŕnh Bày, Sài G̣n, 1968 rất ăn khách.
    Khi tôi đọc tác phẩm “Các Ẩn Số Chính Trị trong tiểu thuyết vơ hiệp Kim Dung” của GS Nguyễn Ngọc Huy, mới hiểu được dụng ư của Kim Dung mà sự nhận xét của tôi chưa bao giờ nghĩ đến. GS Nguyễn Ngọc Huy là vị thầy dạy môn Chính Trị Học khi c̣n là Sinh Viên Sĩ Quan ở quân trường tại Đà Lạt, vị thầy uyên bác thông suốt cổ kim, Đông Tây.
    Theo các bản tin phổ biến trên internet, nhà văn Kim Dung qua đời vào Thứ Ba ngày 30/10/2018 tại Bệnh Viện & Viện Điều Dưỡng Hồng Kông (trùng ngày người t́nh là cựu minh tinh Hạ Mộng mất cách đây đúng 2 năm (16/2/1933 – 30/10/2016).
    Để tưởng nhớ nhà văn tạo dựng ra nhân vật mà tôi mang bút hiệu, đăng lại bài viết trước đây về ông.

    Tất cả bài viết feuilleton của Kim Dung đăng trên nhật báo, và sau đó in thành sách: Thư Kiếm Ân Cừu Lục (1955) - Bích Huyết Kiếm (1956) - Anh Hùng Xạ Điêu (1957) - Thần Điêu Hiệp Lữ (1959) - Tuyết Sơn Phi Hồ (1959) - Phi Hồ Ngoại Truyện (1960) - Bạch Mă Khiếu Tây Phong (1961) - Uyên Ương Đao (1961) - Ỷ Thiên Đồ Long Kư (1961) - Liên Thành Quyết (1963) - Thiên Long Bát Bộ hay Lục Mạch Thần Kiếm (1963) - Hiệp Khách Hành (1965) - Tiếu Ngạo Giang Hồ (1967) - Lộc Đỉnh Kư (1969-1972) - Việt Nữ Kiếm (truyện ngắn, 1970). (VTrD, Little Saigon Nov, 30)

    Kim Dung, Cuộc Đời, Tác Phẩm, Nhân Vật Hư Cấu & Hiện Thực

    Vào thập niên 40, tiểu thuyết vơ hiệp được xuất hiện ở Việt Nam bàng bạc qua sách báo nhưng chưa tạo được thế đứng trong giới thưởng ngoạn. Ở Đài Loan và Hồng Kông, Kim Dung không phải là nhà văn tiên phong về loại tiểu thuyết đem vơ nghệ trong thế giới vơ lâm tạo thành tác phẩm - tiểu thuyết kiếm hiệp, vơ hiệp kỳ t́nh, chưởng - nhưng ông là người đă đưa bộ môn nầy lên đỉnh vinh quang. Những cây bút trong tiểu thuyết vơ hiệp như Trương Mộng Hoàn, Nghê Khuông, Cổ Long, Gia Cát Thanh Vân, Ngọa Long Sinh, Lương Vũ Sinh, Mộ Dung Mỹ, Nam Kim Thạch, Độc Cô Hồng, Liễu Tân Dương, Trần Thanh Vân... xuất hiện cùng thời điểm với Kim Dung nhưng ng̣i bút của Kim Dung như kiếm khách tuyệt luân đem thế giới giang hồ trong vơ lâm vào ngôn ngữ văn chương.


    Tên ông đă gắn liền với bộ môn tiểu thuyết kiếm hiệp bởi bề dày của tác phẩm và được phát hành rộng răi khắp thế giới. Theo con số thống kê ở Hồng Kông vào cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, trong thị trường đọc chữ Hán trên thế giới, sách của ông đă tiêu thụ hàng trăm triệu bản. Tại Đài Loan, theo con số công bố của tạp chí People, tháng 10 năm 1994, trong ṿng gần 5 năm từ 1990 đến 1994, Kim Dung đứng dầu trong danh sách 10 tác giả có số lượng bản in bán nhiều nhất với 4 triệu 200.000 bản, trong khi Quỳnh Giao đứng thứ tám với 600.000 bản.

    Tại Trung Cộng, khi tác phẩm Kim Dung được phổ biến, trong năm 1985, nhà xuất bản ở Thiên Tân mua được bản quyền để in và bán ra với số lượng 40 triệu bản.
    Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng như Đại Hàn, Nhật Bản, Thái Lan, Mă Lai, Ư, Tây Ban Nha, Nga, Anh, Pháp...

    Ở Việt Nam, theo bài viết của Hồ Tây th́ vào cuối năm 1960, có thêm các tờ báo ra đời, đó là tờ Đồng Nai, Saigon Mai, Tiếng Dân, Mới, Dân Việt. Để có độc giả, Cao Giao hỏi ư kiến Vũ Khắc Khoan về truyện kiếm hiệp mà đi đâu Vũ Khắc Khoan đều kể là mê lắm... Cao Giao đặt Tiền Phong dịch bộ Bích Huyết Kiếm đăng trên tờ Đồng Nai, Đồ Mập dịch Anh Hùng Xạ Điêu cho tờ Dân Việt, Văn Giang thấy hai tờ báo kia có tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung nên nhờ Vũ Tài Lục và Hải Âu Tử dịch Thần Điêu Hiệp Lữ cho tờ Mới... Khi Tiền Phong Từ Khánh Phụng dịch Cô Gái Đồ Long (Đồ Long Đao, Ỷ Thiên Kiếm) trên nhật báo Đồng Nai, thu hút độc giả khá đông, ở đâu cũng bàn tán từng nhân vật vừa ly kỳ, hấp dẫn. Năm 1962, Hồ Tây và Tiền Phong sang Hồng Kông gặp Kim Dung để bàn thảo về vấn đề chuyển dịch.

    Sau đó, dịch giả Hàn Giang Nhạn, Phan Cảnh Trung, Lăo Sơn Nhân, Từ Khánh Vân nhập cuộc, tác phẩm của Kim Dung xuất hiện trên nhiều tờ báo ở Sài G̣n với Hiệp Khách Hành, Vơ Lâm Ngũ Bá, Thiên Long Bát Bộ, Tiếu Ngạo Giang Hồ, Lộc Đỉnh Kư... Hầu hết các nhật báo ở Sài G̣n đều tranh nhau đăng tiểu thuyết vơ hiệp, tạo thành hiện tượng Kim Dung. Và, hầu hết tác phẩm của Kim Dung đă được in thành sách trước năm 1975...
    Khi Cô Gái Đồ Long đă làm độc giả say mê th́ Đỗ Long Vân đă viết quyển Vô Kỵ Giữa Chúng Ta hay Hiện Tượng Kim Dung, được ghi nhận là tác phẩm đầu tiên ở Việt Nam viết về Kim Dung. Sau hai năm 1967-1968, Tiếu Ngạo Giang Hồ tung hoành trên làng báo Sài G̣n, nhà báo Trần Việt Sơn chuyên về b́nh luận chính trị trên tờ Chính Luận đem ư nghĩa câu chuyện với h́nh ảnh Ngũ Nhạc Kiếm Phái của chính giáo đă thiếu tinh thần đoàn kết để đối đầu với Triêu Dương Thần Giáo của tà giáo và rút ra bài học cho công cuộc đấu tranh trong giai đoạn hiện tại.
    Miền Nam Việt Nam là môi trường phổ biến tác phẩm Kim Dung rộng răi và có ảnh hưởng sâu rộng nhất v́ tên tuổi nhiều nhân vật hư cấu trong tác phẩm của ông đă trở thành quen thuộc trong lúc đó, có nhiều tác phẩm vơ hiệp khác của các tác giả ở Đài Loan và Hồng Kông cũng được phổ biến nhưng h́nh như không được đề cập, bàn thảo.
    Qua quá tŕnh xuất hiện tác phẩm của Kim Dung hằng ngày dưới dạng “feuilleton”, ngoài lănh vực phổ biến qua sách báo, c̣n được thực hiện thành phim, video... với tác phẩm, với nhân vật, phổ biến rộng răi khắp năm châu. Cuối thập niên 60, ở Pháp và Hoa Kỳ đă có Hội Nghiên Cứu Kim Dung; từ đó đến nay, nhiều nước đă thành lập Hội Nghiên Cứu Kim Dung, trong đó ở Đài Loan, Hội Nghiên Cứu Kim Dung có trên 60,000 hội viên.

    Ḍng Đời

    Nằm cạnh sông Tiền Đường, Hải Ninh thuộc tỉnh Triết Giang, miền duyên hải phía Đông Trung Hoa nổi tiếng với danh lam non nước hữu t́nh và cũng là nơi xuất hiện nhiều nhân tài, địa linh nhân kiệt. Nơi đó, trên cổng vào từ đường ḍng họ Tra, treo câu đối của vua Càn Long ca ngợi gốc gác và danh giá họ Tra: “Đường Tống dĩ lai cư tộc. Giang Nam hữu sổ nhân gia”.
    Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung, sinh ngày 8 tháng 2 năm 1924, ở trấn Viên Hoa, huyện Hải Ninh, tỉnh Triết Giang. Họ Tra thuộc gia đ́nh khoa bảng, vọng tộc lưu danh qua nhiều đời. Kim Dung là người thứ hai trong số sáu anh chị em. Thân mẫu ông là cô họ thi hào Từ Chí Ma, thuộc ḍng dơi vọng tộc thế gia ở Hải Ninh. Chẳng may bà qua đời lúc ông c̣n niên thiếu và được mẹ kế là Cổ Tú Anh nuôi dạy cho đến lúc trưởng thành.
    Ḍng họ Tra nổi tiếng với thư viện gia đ́nh Tra Thị Tàng Thư, lưu trữ sách từ nhiều đời; tiếp nối truyền thống của tổ tiên, từ nhỏ, Tra Lương Dung ham đọc sách nên đó cũng là môi trường thuận lơi để ông học hỏi, t́m ṭi.
    Thuở nhỏ, ông học tiểu học ở Viên Hoa, được đánh giá thông minh, chăm chỉ. Năm lên tám tuổi, ông đọc bộ tiểu thuyết đầu tiên là bộ Hoang Giang nữ hiệp của Cố Minh Đạo (1897-1944), đọc Giang Hồ Kỳ Hiệp của B́nh Giang Bất Tiếu Sinh trên tạp chí Hồng Mai Khôi, Cận Đại Hiệp Nghĩa Anh Hùng trên tờ Trinh Thám Thế Giới... thấy say mê nên từ đó đă có mộng sẽ viết về bộ môn này.
    Kim Dung trưởng thành trong giai đoạn chiến tranh Trung - Nhật bùng nổ dữ dội và quân đội Nhật đă xâm lăng từ Măn Châu dần đến những tỉnh, thành khác dọc theo duyên hải Trung Hoa, bên cạnh đó, cuộc chiến Quốc - Cộng ngày càng lan rộng đưa đất nước vào cảnh lầm than, đầy biến động.

    Năm 1937, mới 13 tuổi, mới học năm thứ ba trung học ở huyện Gia Hưng, ông đă cả gan viết một cuốn sách Dành Cho Người Thi Vào Sơ Trung, Tra Lương Dung biên soạn, nhà xuất bản ở Triết Giang ấn hành, được nhiều người trong mấy tỉnh lân cận mua đọc. Có thể nói đó là tác phẩm đầu tay của ông.
    Hai năm sau, khi lên Liên Hợp Cao Trung, ông viết thêm cuốn Hướng Dẫn Thi Vào Cao Trung, sách cũng được xuất bản và mọi người đều nghĩ đó là nhà giáo, không ngờ đó là cậu học tṛ tuổi mới mười lăm.
    Đến năm 1940, khi c̣n đang học năm cuối bậc Trung Học, v́ t́nh h́nh chiến sự sôi động, ông phải tản cư qua nhiều phủ huyện.
    Cũng năm đó, ông viết bài cho bích báo với truyện trào phúng dưới nhan đề Cuộc Du Hành Của Alice (dựa theo truyện Alice in Wonderland) có ư châm biếm nhân vật Thẩm Nải Xương, Chủ Nhiệm ban Huấn Đạo, h́nh ảnh “con rắn đeo kính” độc đoán, thủ cựu, khắc khe thái quá nên ai cũng chán ghét... nên bị nhà trường đuổi học. Kim Dung chuyển sang học tại trường Cù Châu, mùa hạ năm 1941, chứng kiến h́nh ảnh rất bất b́nh khi thấy thấy giáo ỷ vào uy quyền của ḿnh nên chửi cậu học tṛ, c̣n nổi giận muốn hành hung. Kim Dung viết bài Một Sự Ngông Cuồng Trẻ Con, bài được đăng trên Đông Nam nhật báo, gây xôn xao cả trường Cù Châu. Nhờ bài báo nầy, Kim Dung được nhà báo Trần Hướng B́nh đến trường t́m hiểu; sau nầy Đông Nam nhật báo dời về Hàng Châu, Kim Dung gặp lại Trần Hướng B́nh và dấn thân vào nghiệp dĩ trong làng báo.
    Năm 1942, Kim Dung dịch một phần trong Kinh Thi sang tiếng Anh và biên soạn tự điển Anh-Hán bỏ túi.
    Năm 1944, ông thi đậu vào Học Viện Chính Trị Trung Ương của Quốc Dân Đảng tại thủ phủ Trùng Khánh nhưng trong thời kỳ nầy có sự tranh chấp giữa các sinh viên với nhau, Kim Dung tham dự vào “cuộc chiến” và không hưởng ứng lời cam kết với quy ước “tham gia quân đội” nên ông bị khai trừ. Nhờ người anh họ làm việc tại thư viện trung ương, ông được làm việc ở đó, có th́ giờ đọc nhiều sách viết về phiêu lưu, mạo hiểm bằng tiếng Anh, và những truyện đó đă ảnh hưởng mạnh đến lối hành văn của ông sau này. Ông cùng hai người bạn cũng trong hoàn cảnh khó khăn nhưng cố gắng ra đời tạp chí Thái B́nh Dương, báo đă tiêu thụ hết nhưng gặp thời buổi leo thang, không có vốn liếng để tiếp tục nên mộng ước đành tan vỡ.
    Ông vượt đường trường đến nông trường Tương Tây ở nơi xa để thử thách với cuộc sống khác. Sau Đệ Nhị thế chiến, khi Nhật thua trận, rút khỏi Trung Hoa, ông quay trở về cố hương Hải Ninh, với niềm ước mong của song thân theo truyền thống khoa bảng gia đ́nh nhưng Kim Dung đă không đáp ứng được điều đó nên hội ngộ cùng thân nhân trong thời gian ngắn và t́m cách ra đi. Ông qua Hàng Châu làm kư giả cho tờ Đông Nam nhật báo, nhưng không lâu, ông lại sang Thượng Hải ghi tên học luật, ngành Quốc Tế Công Pháp ở Đại Học Đông Ngô. Bước vào đại học nhưng với niềm ước mong trong nghiệp báo, gặp thời cơ ông là một trong ba người trong toàn quốc đậu kỳ thi tuyển phiên dịch pháp luật của Đại Công Báo.

    Ngày 15 tháng 3 năm 1948, khi tờ Đại Công Báo tái bản tại Hương Cảng, ông được cử sang làm việc tại đây. Trên đường từ Thượng Hải đến Hồng Kông, Kim Dung cho biết vốn liếng chỉ có 10 Mỹ kim, mượn của người bạn đồng hành, làm lộ phí. Tháng 11 năm 1949, ông viết một bài dài nhan đề “Quyền Tư Hữu Của Hoa Kiều Theo Luật Quốc Tế” và từ đó chuyên viết về bộ môn Công Pháp Quốc Tế.

    Năm 1950, sau khi Cộng Sản chiếm được Trung Hoa, ở Hồng Kông, ông trở lại Bắc Kinh với tham vọng vai tṛ của nhà ngoại giao như đă mộng ước nhưng lư lịch bản thân gia đ́nh tư sản nên bị từ chối. Đồng thời gia đ́nh ông bị qui tội vào thành phần địa chủ, cha ông bị đem ra đấu tố, tử h́nh nên từ đó ông không c̣n liên lạc với gia đ́nh được nữa.
    Đến năm 1952, ông sang làm việc cho tờ Tân Văn Báo, viết phiếm luận. Cũng thời gian này, ông có viết một số truyện phim chẳng hạn như Lan Hoa Hoa, Tuyệt Đại Giai Nhân, Tam Luyến, Hữu Nữ Hoài Xuân.... Ông kư bút hiệu là Lâm Hoan và Diêu Linh Lan.

    Thời gian Kim Dung và Lương Vũ Sinh làm việc ở báo Tân Văn, được La Phù, chủ biên, mớm cho ông con đường đi vào tiểu thuyết vơ hiệp. Năm 1953, Lương Vũ Sinh đă xuất chiêu trước với Long Hổ Đấu Tinh Hoa, thu hút độc giả, đem lại kết quả tốt đẹp làm cho các báo khác lưu tâm.
    Năm 1955, Hương Cảng Thương Báo nhờ La Phù t́m giúp tay viết tiểu thuyết vơ hiệp, La Phù đă lưu tâm Kim Dung trước đây, có cơ hội để giới thiệu cho ông vung bút và bộ truyện đầu tay của ông là Thư Kiếm Ân Cừu Lục (Thư Kiếm Giang Sơn) với bút hiệu Kim Dung, được đăng hàng ngày trên nhật báo Tân Văn, mỗi ngày khoảng một ngh́n chữ, kéo dài trong hai năm. Được độc giả ái mộ, tên tuổi Kim Dung được nổi hơn Lương Vũ Sinh, khi in thành sách, ở Nam Dương thực hiện thành phim trên truyền h́nh, tên tuổi ông lại được chấp cánh bay cao.
    Năm 1956, ông bắt đầu viết tác phẩm thứ hai là Bích Huyết Kiếm, xuất hiện trên Hương Cảng Thương Báo, lúc nầy tiểu thuyết vơ hiệp như làn gió mới thu hút độc giả mỗi ngày càng nhiều.
    Năm 1957, ông bỏ viết báo quay sang làm việc cho công ty điện ảnh Trường Thành, vài truyện phim được thực hiện như Ba Mối T́nh, Đừng Bỏ Anh, Tiếng Đàn Khuya nhưng vẫn tiếp tục phóng bút với Tuyết Sơn Phi Hồ, thấy ăn khách, ông viết Phi Hồ Ngoại Truyện, bối cảnh câu chuyện lại xảy ra trước Tuyết Sơn Phi Hồ.

    Nắm được thị hiếu của độc giả, năm 1959 và 1960, ba tạp chí chuyên về vơ hiệp ra đời ở Hồng Kông: Vơ Hiệp Tiểu Thuyết Chu Báo, Vơ Hiệp Thế Giới, Vơ Hiệp & Lịch Sử. Kim Dung xuất hiện trên Vơ Hiệp & Lịch Sử với Anh Hùng Xạ Điêu (Xạ Điêu Anh Hùng truyện) với diễn biến trong thời kỳ Thành Cát Tư Hăn của lịch sử Trung Hoa bên cạnh các nhân vật hư cấu như Đông Tà, Tây Độc, Bắc Cái, Nam Đế, Trung Thần Thông... làm mê hoặc độc giả.
    Khi các nhân vật trong Vơ Lâm Ngũ Bá (Anh Hùng Xạ Điêu tiền truyện) xuất hiện trên trang báo, cơn sốt về Kim Dung như bùng dậy với từng khuôn mặt và t́nh tiết được bàn tán xôn xao. Tác phẩm Thần Điêu Hiệp Lữ được xuất hiện ở Việt Nam vào thập niên 60 với tựa đề Thần Điêu Đại Hiệp chưa được chuẩn xác v́ chữ “Lữ” có nghĩa là đôi bạn chân t́nh Dương Qua - Tiểu Long Nữ.
    Sau năm tháng dấn thân qua nhiều tờ báo từ đại lục sang Hồng Kông, Kim Dung muốn tạo dựng cho ḿnh con đường độc lập nên cùng người bạn học là Thẩm Bảo Tân cho ra đời tờ Minh Báo. Nhật báo chỉ có 4 trang, khổ tabloid, trang ba độc quyền với tiểu thuyết vơ hiệp của Kim Dung. Ngày 20 tháng 5 năm 1959, Minh Báo tŕnh làng với Thần Điêu Hiệp Lữ, câu chuyện tiếp nối của Anh Hùng Xạ Điêu, mỗi ngày khoảng 2000 chữ và xuất hiện liên tục trong 3 năm. Tờ báo mỏng manh giữa rừng báo ở Hồng Kông nhưng nhờ Thần Điêu Hiệp Lữ tung hoành trên chốn giang hồ nên Minh Báo càng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Thời gian đầu ra tờ Minh Báo, vợ chồng Kim Dung sống trong hoàn cảnh khó khăn, tất cả vốn liếng dồn vào tờ báo nhằm duy tŕ sự sống c̣n.

    Tuy dốc tâm vào việc sáng tác tiểu thuyết nhưng Kim Dung vẫn giữ c̣n dành thời giờ cho phần b́nh luận trên tờ Minh Báo rất sâu sắc.
    Trước thập niên 50, Kim Dung có “mối dây liên hệ” với vài khuôn mặt của Cộng Sản ở đại lục nên có khuynh hướng thiên tả v́ vậy ông đă cộng tác với Đại Công Báo trong suốt 10 năm ở Hồng Kông.
    Sau thời gian được tin gia đ́nh ông bị bạc đăi và mất liên lạc, ông đă thay đổi lập trường nên trong suốt hai năm Minh Báo ra đời 1959, 1960, với lập trường thiên hữu có những bài bút chiến kịch liệt với tờ báo thiên tả Đại Công Báo. Đứng trên quan điểm chính trị, ng̣i bút b́nh luận sâu sắc của ông đă nâng cáo giá trị tờ Minh Báo. Năm 1957, Kim Dung không cón cộng tác với hai tờ báo khuynh tả là Đại Công Báo và Trường Thành Họa Báo để tham gia vào tổ chức Tự Do Báo Nghiệp Hiệp Hội.
    . . .
    Vương Trùng Dương (VOA việt ngữ)

  2. #2
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609
    . . .

    Ngày 6 tháng 7 năm 1961, Ỷ Thiên Đồ Long, tiếp nối Thần Điêu Hiệp Lữ, xuất hiện trên Minh Báo đưa tiểu thuyết vơ hiệp trở thành hiện tượng trong làng báo. Và, Cô Gái Đồ Long qua bản dịch của Tiền Phong Từ Khánh Phụng xuất hiện trong làng báo ở Sài G̣n, bộ truyện nầy kéo dài được 3 năm. Ba bộ truyện nầy với diễn biến theo ḍng thời gian được gọi là Xạ Điêu Tam Bộ khúc.
    Năm 1960, Kim Dung c̣n sáng tác đoản truyện Bạch Mă Khiếu Tây Phong, năm 1961 truyện Uyên Ương Đao, và năm 1963 với tác phẩm Liên Hành Quyết nhưng với những câu chuyện riêng biệt, môn phái trong thế giới vơ lâm không nằm trong tam bộ khúc đó nên ít gây được sự quan tâm của độc giả.
    Ngày 3 tháng 9 năm 1964, Thiên Long Bát Bộ ra mắt trên Minh Báo và Nam Dương Thương Báo ở Singapore, kéo dài suốt 4 năm. Trong thời gian nầy, Minh Báo đă có vị trí vững vàng trong làng báo ở Hồng Kông, Kim Dung có dịp đi ngoại quốc nên Nghê Khuông thay ông tiếp nối xây dựng tác phẩm. Ở Việt Nam, tác phẩm in thành sách lại chia ra Thiên Long Bát Bộ có 34 hồi và Lục Mạch Thần Kiếm gồm 120 hồi.
    Năm 1965, tác phẩm Hiệp Khách Hành mang h́nh ảnh thi ca vào thế giới vơ lâm nhưng bị lu mờ trước hào quang của tam bộ khúc quá tuyệt. Hơn nữa, thời gian nầy, Kim Dung chuẩn bị cho Minh Báo nguyệt san và công việc h́nh thành công ty Đại Minh Báo trong tương lai.
    Sau khi t́m được cộng sự, năm 1967, Tiếu Ngạo Giang Hồ hiện diện trên Minh Báo, nhiều tờ báo đă dịch và đăng tải liên tục suốt 2 năm.
    Trong thời điểm Trung Cộng phát động cuộc Cách Mạng Văn Hóa, phe thiên tả càng đả kích ông mạnh mẽ khi ông ủng hộ đường lối chặt chẽ của nhà cầm quyền Hồng Kông để giữ vững tinh thần độc lập. Và năm 1968, ông xuất bản thêm tờ Tân Minh nhật báo ở Mă Lai và Singapore, lại ra thêm tuần báo Minh Báo Chu San với tính cách giải trí, mời nữ lưu chủ biên tờ báo và công việc phát triển tốt đẹp.
    Ngày 24 tháng 10 năm 1969, Lộc Đỉnh Kư xuất hiện trên Minh Báo, liên tục cho đến ngày 14 tháng 9 năm 1972. Bộ truyện sôi nổi và hấp dẫn, độc giả trông đợi ng̣i bút Kim Dung tung hoành trong thế giới vơ lâm th́ ông tuyên bố “gác kiếm”.
    Kim Dung đam mê sáng tác và làm việc không mệt mỏi, vừa viết báo, vừa viết tác phẩm liên tục hàng ngày v́ vậy, nếu tính số lượng chữ viết qua b́nh luận thời sự và tiểu thuyết vơ hiệp, không ai phủ nhận sức làm việc của ông. Qua công tŕnh sáng tác, ông tuyên bố toàn bộ những ǵ ông đă viết suốt 20 năm qua thành trọn bộ 36 cuốn, dưới nhan đề “Kim Dung, Vơ Hiệp Tiểu Thuyết Toàn Tập”.
    Tháng 4 năm 1973, Kim Dung thăm Đài Loan, hội đàm với Thủ Tướng Tưởng Kinh Quốc, nhiều nhân vật cao cấp của chính quyền Trung Hoa Dân Quốc cùng văn giới, báo giới để trao đổi và t́m hiểu trong nhiều lănh vực... Nhân cơ hội nầy, khi trở lại Hồng Kông, loạt bài phóng sự “Thấy Ǵ, Nghe Ǵ, Nghĩ Ǵ Ở Đài Loan”, với cái nh́n khách quan, thực tiễn và sắc bén của ông được mọi người ái mộ như những tác phẩm đă được ăn khách của ông.
    Trong suốt hai thập niên, tác phẩm Kim Dung được phổ biến trên nhiều quốc gia th́ Đài Loan lại cấm, năm 1978 mới được phép chính thức phổ biến.
    Đến năm 1980, tờ Vơ Lâm tại Quảng Châu đăng truyện “Anh Hùng Xạ Điêu”, mở đầu cho một phong trào đọc Kim Dung ngay tại hoa lục.
    Sau 28 năm xa cách quê hương, năm 1981, ông cùng vợ con về thăm Trung Cộng. Đặng Tiểu B́nh đă mời ông đàm luận nên trong dịp nầy ông có cơ hội tiếp xúc với nhiều giới chức trong suốt thời gian 6 tuần lễ khắp 13 tỉnh để t́m hiểu và thưởng ngoạn. Năm 1984, ông lại đi Bắc Kinh và lần này có hội kiến với Hồ Diệu Bang và năm 1985, Trung Cộng thành lập cơ quan nghiên cứu về t́nh trạng đặc biệt của Hồng Kông sau năm 1997, ông được mời đảm nhận ủy viên trong cơ cấu này, đặc trách tiểu tổ “Thể Chế Chính Trị”.

    Năm 1985, tác phẩm của Kim Dung được phổ biến ở Trung Cộng, ông đă bị tai tiếng cho rằng đă thay đổi lập trường để tác phẩm được phổ biến trong thị trường rộng lớn và bước chân vào chính trường của Trung Cộng. Có cơ quan ngôn luận trong tay nên ông không ngần ngại nói lên quan điểm của ḿnh trước hiện t́nh chuyển biến của Hồng Kông.

    Thái độ chính trị của ông được minh định vào tháng 5 năm 1989, khi xảy ra biến cố Thiên An Môn, ông từ chức vai tṛ trong cơ quan nghiên cứu đó để phản đối thái độ đàn áp dân chủ của Trung Cộng.
    Nhân dịp kỷ niệm ba mươi năm hoạt động của công ty Minh Báo (1959 - 1989), ông từ chức Chủ Nhiệm chấp hành, chỉ c̣n giữ chức Chủ Tịch ban quản trị.
    Năm 1993, ông lại đi Bắc Kinh để bàn về vai tṛ của Hồng Kông sau khi Anh Quốc trao trả lại Trung Cộng do lời mời của Giang Trạch Dân. Tháng 4 năm 1993, ông từ chức Chủ Tịch ban quản trị công ty Minh Báo, giữ vai tṛ Chủ Tịch danh dự, và tuyên bố hoàn toàn nghỉ ngơi như dự tính, để có thời gian thăm viếng, tiếp xúc với sinh viên ở các đại học trên thế giới theo lời mời làm giáo sư thỉnh giảng. Ông bày tỏ với thời gian c̣n lại với tuổi về hưu để hoàn chỉnh lại tác phẩm đă được phổ biến trước đó.

    Trong 17 năm (1955-1972) từ tác phẩm đầu tay Thư Kiếm Ân Thù Lục đến tác phẩm sau cùng Lộc Đỉnh Kư, toàn bộ tác phẩm của Kim Dung trên vạn trang.

    Tổng cộng có 14 bộ tiểu thuyết Vơ hiệp của Kim Dung đă lấy những chữ đầu đặt thành câu đối cho dễ nhớ:
    “Phi Tuyết Liên Thiên Xạ Bạch Lộc
    Tiếu Thư Thần Hiệp Ỷ Bích Uyên”
    Phi Hồ Ngoại Truyện - Tuyết Sơn Phi Hồ — Liên Thành Quyết — Thiên Long Bát Bộ — Xạ Điêu Anh Hùng — Bạch Mă Khiếu Tây Phong — Lộc Đỉnh Kư
    Tiếu Ngạo Giang Hồ - Thư Kiếm Ân Cừu Lục - Thần Điêu Hiệp Lữ — Hiệp Khách Hành - Ỷ Thiên Đồ Long - Bích Huyết Kiếm - Uyên Ương Đao.
    Năm 1976, đoản truyện vơ hiệp Việt Nữ Kiếm tái xuất giang hồ nhằm gởi gấm h́nh ảnh và bối cảnh trong thời điểm Việt Vương Câu Tiễn và Ngô Phù Sai với mối t́nh giữa Phạm Lăi và Tây Thi, hoa mộng và ngang trái, được sở đắc với độc giả nhưng quá ngắn nên coi như phần phụ. Có lẽ, sau khi tuyên bố gác kiêm nhưng lại sáng tác đoản truyện nầy v́ Kim Dung muốn mượn h́nh ảnh Phạm Lăi để nói lên con đường của ḿnh khi công thành danh toại.


    T́nh Duyên

    Trong tác phẩm vơ hiệp của Kim Duyên với những mối t́nh thật tuyệt vời rất hấp dẫn, lôi cuốn độc giả. Ảnh hưởng từ cuộc sống, t́nh trường đă xúc tác qua ng̣i bút làm phong phú từng nhân vật trong tác phẩm trong chốn vơ lâm với non nước hữu t́nh.

    Mối t́nh đầu vào lúc ông 23 tuổi, năm 1947, ông cộng tác với tờ Đông Nam nhật báo, giữ mục trao đổi ư kiến rất ăn khách, Đỗ Dă Thu đang theo học ở Thượng Hải, gởi thư đến ṭa soạn với sự tinh nghịch của tuổi trẻ, trao đổi tâm t́nh và hẹn ước gặp gỡ tại tư gia. Khi ông đến, được diện kiến chị của Đỗ Dă Thu là Đỗ Tú Nương, mới 17 tuổi, nhan sắc thật dễ thương và từ đó, t́nh cảm bộc phát.
    Qua nhịp cầu tinh nghịch của cậu em trai, mối giao t́nh giữa Kim Dung và gia đ́nh Đỗ Tú Nương ngày thêm đậm đà. Thời gian đó, gia đ́nh nàng lại dời về Hàng Châu, mùa Hè năm 1948, Kim Dung được tờ Đại Công Báo biệt phái sang Hồng Kông nên trở về Hàng Châu, ra mắt song thân Đỗ Tú Nương, xin phép cầu hôn. Hôn lễ được tổ chức tại Thượng Hải, Giám Đốc tờ Đại Công Báo là Phí Di Dân đứng làm chủ hôn.
    Kim Dung đến nhận công việc ở Hồng Kông, thời gian sau Đỗ Tú Nương sang hội ngộ. Trong giai đoạn nầy, Kim Dung say sưa với nghiệp báo, Đỗ Tú Nương cảm thấy trống vắng, buồn chán, không phù hợp với khung cảnh ở Hồng Kông nên năm 1950, nàng trở lại quê nhà, sau đó, làm thủ tục ly hôn.
    Cuộc t́nh kế tiếp khi Kim Dung chia tay với người vợ đầu và đang làm việc ở công ty điện ảnh Trường Thành, ông viết kịch bản và làm đạo diễn trong các bộ phim như Tuyệt Đại Gia Nhân, Nữ Hữu Hoài Xuân, Tiếng Đàn Khuya, Ba Mối T́nh... Và, trong Trường Thành, minh tinh Hạ Mông, nổi tiếng về tài và sắc đương thời, xuất hiện trong Tuyệt Đại Giai Nhân. Cuộc t́nh đơn phương hay không c̣n bí mật trong ṿng t́nh cảm riêng tư giữa hai người nhưng dư luận lại bàn tán xôn xao v́ Hạ Mông, con nhà giàu có, nhiều kẻ t́nh si có danh, nhiều của theo đuổi trong khi chàng đạo diễn đă dang dở cuộc t́nh, đồng lương đủ nuôi bản thân và vóc dáng, không có ǵ lôi cuốn, khó trở thành đối tượng cho minh tinh đang ăn khách nhất Hồng Kông.

    Khi nghe tin Hạ Mông lập gia đ́nh với tay tỷ phú, Kim Dung dùng ng̣i bút để vơi đi nỗi sầu nên “số lượng chữ nghĩa” xuất hiện trên mặt báo làm mọi người kinh ngạc. Kim Dung không đề cập đến Hạ Mông nhưng trong tác phẩm của ông, người ta cho rằng bóng dáng đó thấp thoáng trong Hoàng Dung, Vương Ngọc Yến, Tiểu Long Nữ... Theo nhà báo Hồ Tây, trong cuộc gặp gỡ với Kim Dung lần thứ hai vào năm 1968, Kim Dung có tâm sự rằng, nếu không có chuyện thất t́nh v́ Hạ Mông, chưa chắc ǵ ông đă viết được những trang tiểu thuyết kiếm hiệp đầy t́nh cảm trong Ỷ Thiên Đồ Long, Thiên Long Bát Bộ.

    Có lẽ mối t́nh si đơn phương thầm kín đó phải chôn giấu để tránh thị phi và giữ êm thấm khi lập lại cuộc t́nh khác nên sau nầy, khi đă có gia đ́nh, năm 1976, Hạ Mông rời Hồng Kong sang Canada, Kim Dung tổ chức tiệc tiễn đưa và mới chính thức viết trên Minh Báo những ḍng trong phần xă luận của ḿnh.

    Người bạn đời đến với Kim Dung là Chu Mai vào đầu thập niên 60, trong thời gian c̣n khó khăn và hai người đă đồng tâm hiệp lực, nương tựa, cảm thông với nhau trong công việc để gây dựng sự nghiệp.

    Khi thành lập tờ Minh Báo, hoàn cảnh Kim Dung được ghi nhận qua Bành Hoa và Triệu Kính Lập: “Lúc bấy giờ Kim Dung ở Tiêm Sa Thủy, đêm khuya xong việc, thuyền chở khách đă hết, phải đi thuyền nhỏ qua eo biển. Nếu muốn sang ngay th́ phải bao cả chuyến mất 3 đồng, nếu không th́ phải đợi đủ 6 người thuyền mới chở. Để tiết kiệm tiền, vợ chồng Kim Dung lúc ấy đành phải chịu lạnh đứng chờ”.
    Kim Dung và Chu Mai (kết hôn năm 1953, ly hôn năm 1976), có 4 người con, hạnh phúc gắn bó với nhau trong những năm đầu cùng hội cùng thuyền trong thời gian ra đời tác phẩm Uyên Ương Đao đến Hiệp Khách Hành, khi Tiếu Ngạo Giang Hồ ra đời th́ t́nh cảm hai người chỉ c̣n với bổn phận với con cái. Cuộc ly hôn nầy mang đến thảm khốc, tháng 10/1976, Tra Truyền Hiệp tự tử bằng cách treo cổ chưa đầy 20 tuổi và đang là sinh viên năm nhất Đại Học Columbia ở Hoa Kỳ. Người con trai thứ Tra Truyền Thích và hai con gái là Tra Truyền Thi, Tra Truyền Nột sau nầy thành công nhưng không nối nghiệp thân phụ. Kim Dung rất thương hai cô con gái nên trong tác phẩm của ông mang h́nh anh t́nh nghĩa cha con.

    Cuộc sống thầm lặng giữa hai người kéo dài cho đến năm 1981, Chu Mai mang ba người con sang San Francisco, Hoa Kỳ. Bà bước vào thương trường, nhờ quen biết nhiều nên được thành công, hai người con gái được thành danh.

    Cuộc t́nh kế tiếp kéo dài cho đến cuối đời với nàng Lâm Lạc Di. Cuộc gặp gỡ t́nh cờ trong quán ăn giữa người làm công ái mộ và tác giả nổi tiếng, Lâm Lạc Di tuổi vừa đôi mươi, nhỏ hơn Kim Dung 29 tuổi nhưng đă tâm đầu ư hợp. Kim Dung lo cho nàng tiếp tục bước đường học vấn để có khả năng quán xuyến công việc.
    Vào thập niên 90, khi nhẹ trách nhiệm với công ty Minh Báo, Kim Dung cùng Lâm Lạc Di có dịp chu du khắp nơi và bà đă giúp cho ông trong bao công việc theo dự tính đă được hoạch định.
    Hiểu được sóng gió trong trường t́nh của Kim Dung nên Lâm Lạc Di rất tế nhị trong xă giao và mối liên hệ với con cái của vợ trước. Bà chăm lo tận t́nh con cái của Chu Mai từ Hoa Kỳ về nghỉ Hồng Kông vào mỗi dịp Hè.
    Kim Dung đang sống trong hào quang của danh vọng, tiền bạc và t́nh yêu th́ mang nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời. khi đứa con trai của ông là Tra Truyền Hiệp mất năm 19 tuổi vào đầu thập niên 90. Tra Truyền Hiệp có khiếu về văn chương, ông để cho con tự do theo cách suy nghiệm riêng tư và sở thích nhưng lúc trưởng thành lại có bệnh hoang tưởng, dần dà trở thành trầm trọng, Kim Dung đă dày công nghiên cứu, học hỏi giáo lư các tôn giáo để chữa trị cho con nhưng vô vọng. Ông sống như thiền sư, t́m hiểu triết lư Phật Giáo, nghiên cứu cờ tướng và hành hương các nơi.
    Tháng ngày c̣n lại trong cuộc đời ông với h́nh bóng Lâm Lạc Di.

    Tác Phẩm & Nhân Vật



    Trong cuộc phỏng ấn của phóng viên Nam Hoa Bưu Điện với Kim Dung vào mùa nè 1999 tại Hawaii, Kim Dung cho biết: “Tôi viết 15 tác phẩm dài, bộ ngắn nhất cũng 300 trang, bộ dài nhất 2000 trang. Có thể kể ra... Nói cho đúng chỉ có 12 bộ mà thôi nhưng người ta khi dịch thuật và sao chép đă nâng lên 15 bộ, tôi thấy măi cũng thành quen nên cứ yên trí ḿnh viết được bấy nhiêu”. Nhưng sau khi chỉnh lại để in thành sách, Kim Dung xếp thành 14 bộ cho có hệ thống.

    * Thư Kiếm Ân Cừu Lục xuất hiện trên Hương Cảng thương Báo từ trong hai năm 1955 và 1956, gồm 32 hồi, với bối cảnh lịch sử người Nữ Chân, sau đó gọi là người Măn Châu xâm lăng Trung Hoa, thay vương triều nhà Minh của người Hán lập nên vương triều nhà Thanh (1616-1911); trong quá tŕnh nổi dậy với công cuộc “phản Thanh phục Minh” vào giai đoạn vua Càn Long, giữa thế kỷ XVIII với Trần Gia Lạc, Viên Sùng Hoán, Viên Thừa Chí với các nhân vật hư cấu Hạ Tuyết Nghi, Thiên Sơn Song Ưng, Dư Ngư Đồng, Hương Hương công chúa, Hoắc Thanh Đồng, Lạc Băng và Lư Nguyên Chỉ... Dựa vào cái mốc của lịch sử để lồng vào môi trường sinh hoạt của thế giới vơ lâm với công cuộc phục quốc và được tô điểm với những bóng hồng trong vơ lâm với t́nh tiết gay cấn, đầy kịch tính làm cho cốt truyện sinh động, lôi cuốn người đọc. Tác phẩm đầu tay tuy chưa xuất sắc nhưng Kim Dung đă tạo được tên tuổi của ông với những cây bút đi trước trong cùng bộ môn.
    * Bích Huyết Kiếm được đăng tải trên Hương Cảng Thương Báo năm 1956 và 1957, gồm 24 hồi, cốt truyện xây dựng trong giai đoạn vào cuối triều đại nhà Minh (1368-1664) vào triều đại Sùng Trinh vào tiền bán thế kỷ XVII. Nhân vật lịch sử là Lư Tự Thành đứng lên dựng cuộc khởi nghĩa, kéo quân từ Tây An về Bắc Kinh, vua Sùng Trinh thất thế, treo cổ tự vận, cáo chung triều đại nhà Minh. Lư Tự Thành liên lạc với tướng nhà Minh là Ngô Tam Quế đang trấn giữ Sơn Hải Quan, cùng nhau chống quân Thanh nhưng Ngô Tam Quế đă nối giáo với quân Thanh để đàn áp lực lương của Lư Tự Thành. Trong bối cảnh đó, có Viên Thừa Chí, con trai của Viên Sùng Hoán, trong bước đường hành hiệp giang hồ vướng mắc hệ lụy t́nh cảm với Hạ Thanh Thanh, con của Hạ Tuyết Nghi, với An Tiểu Huệ, với Tiêu Uyển Nhi, với An Cửu công chúa... bên cạnh sứ mệnh dấn thân cho công cuộc khởi nghĩa của Lư Tự Thành. H́nh ảnh Lư Tự Thành của Kim Dung hơi khác với sử liệu mà chỉ với cơ may đưa đẩy nhưng không tṛn sứ mệnh. H́nh ảnh Kim Sà Lan Quân Hạ Tuyết Nghi với nhân vật hư cấu Ôn Phương Lộc gây ra trận thảm sát cho gia đ́nh ông, từ đó nhiều nhân vật hư cấu khác tạo thành bức tranh sinh động, bi thương, với t́nh yêu và hận thù chồng chéo lên nhau.
    Bi kịch đưa vơ lâm vào chốn gió tanh mưa máu bởi Kim Xà bí kíp làm đổi thay nhân t́nh thế thái.
    * Tuyết Sơn Phi Hồ xuất hiện vào cuối năm 1957 đến đầu năm 1958 và Phi Hồ Ngoại Truyện xuất hiện trong hai năm 1960-1961, Kim Dung lại xây dựng bối cảnh tác phẩm Phi Hồ Ngoại Truyện xảy ra trước Tuyết Sơn Phi Hồ. Trong suốt thời gian nầy, mỗi đêm Kim Dung viết một đoạn khoảng 8,000 chữ từ 12 giờ khuya đến sáng.
    * Phi Hồ Ngoại Truyện c̣n gọi là Lănh Nguyệt Bảo Đao, gồm 84 hồi, khởi sự bởi cuộc so tài cao thấp, gây nên trận đấu giữa hai cao thủ vơ lâm Liêu Đông, đại hiệp Hồ Nhất Đao và Kim Diện Phật Miêu Nhân Phượng. Cuộc so tài không gây ra oán thù mà tạo t́nh bạn hữu thâm giao giữa hai nhân vật vơ công thượng thừa. Trong mối thân t́nh đó lại xảy ra oan khiên bởi âm mưu thâm độc của Điền Quy Nông đă toan tính trước, dùng chất độc bôi trên mũi kiếm Miêu Nhân Phượng nên Hồ Nhất Đao đă bỏ mạng v́ độc dược. Vợ của Hồ Nhất Đao không biết đó là thủ đoạn của kẻ khác mà uất ức cho hành động đê tiện của địch thủ Miêu Nhân Phượng c̣n giả vờ kết t́nh nghĩa với nhau nên tự vẫn để cùng sống chết bên nhau để lại hài nhi Hồ Phi mới chào đời được vài ngày.
    Thương cảm h́nh ảnh vợ chồng Hồ Nhất Đao, Bành Tứ Thức mang Hồ Phi nuôi dưỡng và nhập cuộc trong chốn vơ lâm nhưng cuộc đời đưa đẩy với bao sóng gió dập dồn. Hồ Phi dấn bước trên con đường gặp nhiều trắc trở nhưng rồi cũng gặp vài nhân vật đầy ḷng nhân ái kết nghĩa huynh đệ như Triệu Bán Sơn. Hồ Phi vẫn coi Miêu Nhân Phượng là h́nh ảnh đại hiệp và trong lần gặp gỡ trận đấu giữa Miêu Nhân Phượng cùng Điền Quy Nông, Hồ Phi chứng kiến tài năng của bậc đại hiệp nầy trong t́nh cảnh nguy nan. Miêu Nhân Phượng và Nam Lan sinh hạ được đứa con gái là Miêu Nhược Lan, oan khiên đưa đẩy, Nam Lan tư t́nh với Điền Quy Nông và với thủ đoạn đê hèn của địch thủ, Miêu Nhân Phượng bị đui cặp mắt, lang bạt giang hồ với đứa con côi.
    Kết thúc câu chuyện với sự gặp gỡ t́nh cờ giữa Nam Lan và Hồ Phi nơi mộ song thân, với thủ đoạn thâm độc, Nam Lan nửa úp nửa mở để gieo oán thù giữa Hồ Phi với Miêu Nhân Phượng. Với vơ công tuyệt vời qua Lănh Nguyệt Bảo Đao, Hồ Phi thể hiện vị trí của ḿnh trong chốn giang hồ đă áp đảo Điền Quy Nông.


    . . .
    Vương Trùng Dương (VOA việt ngữ)

  3. #3
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609


    * Tuyết Sơn Phi Hồ gồm 10 hồi, xảy ra trong bối cảnh tranh giành bảo đao của Sấm Vương Lư Tự Thành vào năm Càn Long thứ 48 đời nhà Thanh. Miêu Nhân Phượng trở thành nhân vật lẫy lừng trong chốn vơ lâm với danh tiếng “Đi khắp thiên hạ không địch thủ”. Hồ Phi trẻ tuổi đă vang danh với ngoại hiệu Tuyết Sơn Phi Hồ, với cơ trí, vơ công chữ Phi Hồ do “phi thiên hồ ly” (cáo bay trên trời) để ca ngợi h́nh ảnh tuổi trẻ tài cao. Hơn một trăm năm trước, vệ sĩ của Sấm Vương gồm họ Hồ, Miêu, Điền, Phạm v́ tranh nhau để gây oán thù cho con cháu.
    Đến đời vua Ung Chính (thân phụ vua Càn Long), bốn ḍng họ nầy xảy ra cuộc tương tranh và bảo đao của Sấm Vương thuộc về tay họ Điền, phái Thiên Long Môn nắm giữ. Thế rồi Thiên Long Môn chia ra hai phái Nam Tông và Bắc Tông, mỗi phái nắm giữ mười năm nhưng đến khi Điền Quy Nông th́ quên lời thệ ước nên sinh ra tranh chấp với nhau.
    Câu chuyện tỷ vơ với nhau giữa hai nhân vật Hồ Nhất Đao và Miêu Nh6n Phượng được khơi lại để nói lên t́nh bạn trao kiếm, luận vơ nhưng kết thúc với nỗi đau thương bởi âm mưu thâm độc của kẻ đê tiện trong ḍng họ Điền, mang oán thù để phân hóa.
    Trong khi Miêu Nhân Phượng nghe danh Tuyết Sơn Phi Hồ nhưng không biết đó là con của Hồ Nhất Đao, và gần kết câu chuyện th́ t́nh cảm đôi lứa nảy sinh giữa Hồ Phi và Miêu Nhược Lan, con gái Miêu Nhân Phượng, thật oái oăm.
    Trận đấu cuối cùng giữa hai nhân vật xuất chúng lại xảy ra, qua những chiêu thức thật tuyệt vời, Miêu Nhân Phượng mới biết Tuyết Sơn Phi Hồ là con của Hồ Nhất Đao và Hồ Phi phân vân, người đứng trước mặt ḿnh là kẻ thù nhưng ông ta là người hào khí ngất trời, anh hùng hào kiệt và cha của ư trung nhân... Trong giây phút nguy kịch nhất, Miêu Nhan Phượng nhận chân nên nhắm mắt để cho xong điều “báo ứng” trong lúc đó th́ Hồ Phi “không muốn chém đối phương song cũng không muốn ḿnh mất mạng” (TSPH — KD).
    Miêu Nhược Lan đứng trong tuyết rất lâu mà không thấy hai người trở lại.

    Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ và Vơ Lâm Ngũ Bá được xây dựng trong bối cảnh liên tục với nhau tạo thành “tam bộ khúc” đưa tên tuổi Kim Dung lên đài danh vọng.

    * Anh Hùng Xạ Điêu gồm 80 hồi, nằm trong giai đoạn đầu thế kỷ XIII, quân Kim và Nam Tống trong thời kỳ thanh toán lẫn nhau cùng sự xuất hiện của Thành Cát Tư Hăn. Nhiều nhân vật trong “tam bộ khúc” nầy với các trường phái được xây dựng trong vơ lâm Trung Nguyên và dị tộc qua ng̣i bút tài t́nh, mô tả một cách sinh động, mỗi môn phái, mỗi người mỗi vẻ với vơ công, tài trí, nét đặc thù cùng vị trí của họ trong thế giới vơ lâm, tạo thành bức tranh tuyệt hảo qua ng̣i bút sinh động của ông. Sự am tường về địa danh, văn hóa, phong tục, tập quán đất nước dẫn dắt người đọc cuốn hút vào câu chuyện.
    Quách Tĩnh chào đời nơi thảo nguyên và cậu bé mồ côi chịu trải qua năm tháng nơi thảo nguyên. Thoát thai từ đó nên chân chất ngu đần nhưng lại có cơ may được thụ giáo vơ thuật của Toàn Chân và Giang Nam thất quái v́ vậy có cơ hội quay về Trung Nguyên để hành hiệp. Sự xuất hiện những nhân vật đại thụ trong chốn vơ lâm như Nam Đế, Tây Độc, Bắc Cái, Giang Nam Thất Hiệp, Chu Bá Thông.... cùng Đông Tà Hoàng Dược Sư và A Hành với con gái là Hoàng Dung.
    Bên cạnh Quách Tĩnh, có hai khuôn mặt cùng trang lứa là Dương Khang và Âu Dương Khắc lại được hưởng nhiều ân huệ và gian manh, háo sắc để có khuôn mặt phản diện trong tác phẩm. Người trở về từ thảo nguyên, kẻ đến từ Đào Hoa Đảo bởi giận cha bỏ nhà ra đi, Quách Tĩnh và Hoàng Dung gặp nhau trong mối t́nh thật lư thú. Hoàng Dung thông minh, hoạt bát; Quách Tĩnh cục mịch, thiếu khả năng ứng xử thế mà hai tâm hồn lại gặp nhau, có sự đồng cảm rất tế nhị. Mối t́nh của đôi trẻ đă bị chống đối bởi hai phía chánh tà, cùng lúc đó th́ có sự sắp xếp cho Mục Niệm Từ cùng Quách Tĩnh và Âu Dương Khắc, con của Âu Dương Phong lại cầu hôn Hoàng Dung... nhưng nàng quyết tâm dành Quách Tĩnh cho riêng ḿnh.
    Tháng ngày ở Trung Nguyên với bao biến động, trong bước đường mong báo thù nhà, Quách Tĩnh được thụ giáo vơ công các bậc thượng thừa, trong đó có Hồng Thất Công nên trở thành nhân vật lỗi lạc. Trải qua tháng ngày ở Trung Nguyên, Quách Tĩnh và Hoàng Dung đến Đào Hoa đảo để xây dựng cuộc t́nh tuyệt vời giữa biển trời.

    * Thần Điêu Hiệp Lữ gồm 104 hồi, nối tiếp câu chuyện Quách Tĩnh và Hoàng Dung bước vào giai đoạn mới với h́nh ảnh thế hệ thứ hai kế thừa nghiệp vơ cùng h́nh ảnh thế hệ trước. Sự xuất hiện của Quách Phù, Quách Tường là con của Quách Tĩnh, Hoàng Dung cùng với h́nh ảnh Dương Qua, con của Dương Khang. Dương Qua cảm thấy đau buồn làm con Dương Khang đă bị nhiều tai tiếng bởi hành vi không mấy tốt đẹp nên kết thúc cuộc đời thật bi thảm. Giữa Dương Qua và gia đ́nh Quách Tĩnh với hận thù xa xưa nhưng rồi xoay chiều, trở thành mối thân t́nh mà Dương Qua lại chịu đựng sự trừng phạt của Quách Phù, con gái Quách Tĩnh. Nhát kiếm của Quách Phù trong cơn nóng giận, chém đứt cánh tay của Dương Qua nên sau nầy mang ngoại hiệu “Độc Thủ đại hiệp”.
    Kim Dung xây dựng mối t́nh trái với đạo lư Đông phương nhưng rất đẹp và cao cả, đó là cuộc t́nh giữa sư phụ Tiểu Long Nữ với đồ đệ Dương Qua! T́nh yêu chớm nở th́ Tiểu Long Nữ bị dâm tặc hăm hại nhưng trong cơn mê tỉnh lại tưởng là h́nh ảnh người yêu. Tiểu Long Nữ hận đời, quyên sinh. Dương Qua trải qua 16 năm trời t́m h́nh ảnh sư phụ với bao điều ngộ nhận, đau thương, bóng chim tăm cá. Trong khi đó th́ Quách Phù, Công Tôn Lục Đài... lại theo đuổi Dương Qua. Và, ở Tuyệt T́nh Cốc, Dương Qua gieo ḿnh để theo h́nh bóng Tiểu Long Nữ, cùng nhau yên nghỉ ngh́n thu, nhưng nào ngờ, nơi đáy vực thẳm đó lại là nơi trùng phùng cho cuộc t́nh qua năm tháng chia cách.
    Bên cạnh cuộc t́nh Dương Qua và Tiểu Long Nữ, cuộc t́nh giữa Lư Mạc Sầu với Lục Triển Nguyên, t́nh yêu ngang trái đưa tâm tính thơ ngây của Lư Mạc Sầu trở thành độc ác.
    Kết thúc câu chuyện nơi Thiếu Lâm Tự, Quách Tĩnh, Hoàng Dung, Quách Phù, Quách Tường, Dương Qua, Tiểu Long Nữ... chứng kiến sự thể xảy ra liên quan đến Cửu Dương Chân Kinh, trong đó có sự xuất hiện chú tiểu Trương Quân Bảo. Sau nầy trở thành chưởng môn phái Vơ Đang là Trương Tam Phong. Năm đó, Quách Tường tuổi vừa trăng tṛn, 40 năm sau là chưởng môn phái Nga Mi.

    * Ỷ Thiên Đồ Long, qua bản dịch của Tiền Phong Từ Khánh Phụng, tên gọi Cô Gái Đồ Long, gồm 104 hồi, đă trở thành quen thuộc.
    Bối cảnh xảy ra trong thời điểm “Năm Chí Nguyên nhị niên của Nguyên Thuận Đế, cách năm nhà Tống diệt vong đúng sáu mươi năm” (YTĐL — KD).
    Phần kết trong Thần Điêu Hiệp Lữ được nhắc lại khi Côn Luân Tam Thánh Hà Túc Đạo từ Tây Vực đến Thiếu Lâm Tự khiêu chiến để so tài với vơ lâm Trung Nguyên. Không có nhân tài địch nổi Hà Túc Đạo, cuối cùng Hà Túc Đạo đánh cuộc với chú tiểu Trương Quân Bảo, nếu chịu được mười hiệp th́ bỏ Trung Nguyên, trở về luôn Tây Vực. Cuộc tỷ thí xảy ra, Trương Quân Bảo nhờ luyện được Cửu Dương Chân Kinh nên Hà Túc Đạo thảm bại, giữ đúng lời hứa, về cố hương lập ra phái Côn Luân. Tuy mang lại vinh dự cho vơ lâm Trung Nguyên nhưng oan nghiệt lại đến với Giác Viễn đại sư và đồ đệ Trương Quân Bảo v́ đă luyện được La Hán Quyền và Cửu Dương Chân Kinh nên kết tội phạm môn giới. Trước t́nh thế đó, Giác Viễn viên tịch để khỏi vướng bụi trần, chú tiểu Trương Quân Bảo rời chùa Thiếu Lâm phiêu bạt đến thành Tương Dương theo lời chỉ của Quách Tường. Trên bước đường lưu lạc đó, Trương Quân Bảo đến chân núi Vơ Đang, t́m hang động trú ẩn, luyện tập Cửu Dương Chân Kinh, nghiên cứu sáng tạo vơ công và lập ra phái Vơ Đang.
    Trương Tam Phong, 90 tuổi, chưởng môn phái Vơ Đang, có bảy đồ đệ đă tạo dựng tên tuổi Vơ Đang thất hiệp trong chốn giang hồ. Tai họa xảy ra cho Vơ Đang tam hiệp Dư Đại Nham khi phải bảo vệ Đồ Long đao, Trương Thúy Sơn được sư phụ cho hạ san để truy t́m tung tích. Trên bước đường hành hiệp, Trương Thúy Sơn gặp Ân Tố Tố, ái nữ của giáo chủ Bạch Mi giáo là Ân Thiên Chính. Trong giây phút đầu, Trương Thúy Sơn thấy hành động ngang bướng và kinh sợ hành động giết người như tṛ đùa của kẻ ma đầu nhưng sau nầy lại vướng vào ṿng oan nghiệt của t́nh yêu. Ân Tố Tố hóa trang, giả Trương Thúy Sơn, sát hại tất cả người trong Long Môn tiêu cục v́ không làm tṛn phận sự bảo vệ “nhân vật” mà nàng có thiện ư giao về Vơ Đang, và các đệ tử của chùa Thiếu Lâm đă ngăn cản công việc của nàng, gây ra vụ nghi án dồn vào phái Vơ Đang. Trong t́nh thế rối răm đó, Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn bắt cóc Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đem lên thuyền trốn ra Băng Hoa đảo.
    Trương Vô Kỵ là giọt máu của Thúy Sơn và Tố Tố ra đời trong hoàn cảnh đó. Tạ Tốn bị sư phụ là Thành Khôn cưỡng đoạt vợ và nhẫn tâm giết hại toàn gia để phi tang rồi thay h́nh đổi dạng, ẩn trốn trong chùa Thiếu Lâm để tiếp tục gieo oán thù trong giới vơ lâm. Tạ Tốn trở thành điên loạn và gieo kinh hoàng để giải tỏa oán thù nhưng oán cứ chồng chất và tháng ngày trên Băng Hỏa đảo Tạ Tốn trở thành nghĩa phụ của Vô Kỵ.
    Hơn mười năm ở băng đảo, Vô Kỵ trở về Trung Nguyên, đau ḷng trước cái chết của song thân, thân côi với bao giông băo liên tục dập nát cuộc đời cậu bé, những tay giang hồ hắc bạch lợi dụng và xâu xé Vô Kỵ để truy t́m tung tích của Tạ Tốn với Đồ Long đao. Lớn lên trong nghịch cảnh cuộc đời, Vô Kỵ rơi vào ṿng t́nh trường với bao t́nh cảnh trớ trêu bên cạnh bốn bóng hồng: Chu Chỉ Nhược, Tiểu Siêu, Ân Ly và Triệu Minh. H́nh bóng đầu tiên trong cuộc đời Vô Kỵ là Chu Chỉ Nhược, đệ tử phái Nga My, thông minh, xinh đẹp, thương Vô Kỵ nhưng bị sư phụ là Diệt Tuyệt sư thái bày mưu lấy Đồ Long đao và Ỷ Thiên kiếm của Vô Kỵ rồi bắt thề độc không được kết duyên vợ chồng.
    Ân Ly là con gái của người cậu ruột, v́ luyện vơ công tà đạo nên tàn phai nhan sắc nhưng Vô Kỵ lại yêu thương, tiếc rằng nàng bị ẩn tích trong ngôi mộ để Vô Kỵ tưởng lầm mệnh yểu. Tiểu Siêu là con gái mang hai ḍng máu Hán và Ba Tư, nàng là thánh nữ Bái Hỏa giáo, xâm nhập Trung Nguyên để thu thập tin tức, gặp Vô Kỵ, t́nh yêu nẩy nở nhưng cuối cùng v́ quy luật và nàng phải hy sinh cuộc t́nh v́ bổn phận làm con với thân mẫu trong hoàn cảnh nằm trên giàn hỏa. Cuộc t́nh Vô Kỵ với Triệu Minh với bao sóng gió, ngang trái nhưng được kết thúc rất nên thơ, Triệu Minh là con gái của Nhử Nam Vương, đẹp tuyệt trần, thông minh và mưu mô tràn đầy, quận chúa Triệu Minh theo bước chân của gia đ́nh Mông Cổ vào Trung Nguyên nhằm thôn tính vơ lâm để dễ bề thống trị. Gặp Vô Kỵ, t́nh cảm cô gái lại bén rễ v́ vậy Vô Kỵ phải cam chịu bao nỗi đoạn trường bởi nàng can dự vào. Sóng gió trôi qua, con thuyền t́nh thong dong trên ḍng nước để chàng từ nay trở đi ngày ngày vẽ lông mày cho nàng.
    Về bối cảnh lịch sử với h́nh ảnh xuất hiện của Chu Nguyên Chương, trở thành Thái Tổ vương triều Nhà Minh (1368-1644).

    * Qua tam bộ khúc và Ỷ Thiên Đồ Long, tên tuổi Kim Dung rạng rỡ trên đài danh vọng. Thiên Long Bát Bộ ra đời trên Minh Báo ngày 3-9-1964 và Nam Dương Thương Báo ở Singapore, kéo dài trong 4 năm. Dịch giả Hàn Giang Nhạn đă đưa Thiên Long Bát Bộ trên nhiều tờ nhật báo ở Sài G̣n vào cùng thời điểm đó. Khi tác phẩm in thành sách lại chia ra: Thiên Long Bát Bộ với 34 hồi và Lục Mạch Thần Kiếm với 160 hồi.
    Bối cảnh lịch sử xảy ra trong thế kỷ XI từ đời Tống Anh Tông đến đời Tống Triết Tông ở Trung Hoa. Đất nước lúc đó nằm trong sự tranh chấp quyền lực giữa Bắc Tống với Tây Hạ, Liêu (Khiết Đan) và Đại Lư.

    * Với tác phẩm Vơ Lâm Ngũ Bá, Kim Dung đă phác họa h́nh ảnh các nhân vật để làm nền tảng cho các môn phái được xây dựng từ Thần Điêu Đại Hiệp trở về sau. Nước Nam Chiếu có từ đời nhà Đường ở Trung Hoa, đến đời nhà Tống trở thành nước Đại Lư. Nước Đại Lư ở phía Tây Nam Trung Hoa, ngày nay là Vân Nam, được thành lập vào thế kỷ thứ X, kéo dài khoảng 3 thế kỷ. Trong 22 đời vua của nước Đại Lư có đời Bảo Định Đế Đoàn Chính Minh và Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần, sau đời Đoàn Nam Đế, như vậy sự kiện được diễn tiến theo ḍng thời gian của lịch sử Trung Hoa.
    Vơ Lâm Ngũ Bá không liệt kê trong hai câu đối đề cập về tựa đề tác phẩm của Kim Dung v́ được xem như Anh Hùng Xạ Điêu tiền truyện mà tác giả viết bổ túc để độc giả biết cội nguồn diễn tiến của tam bộ khúc đă được h́nh thành nhưng không ngờ nó trở thành nền tảng cho các môn phái chính mà nhiều tác giả khác sau nầy cũng đề cập đến trong tiểu thuyết vơ hiệp.
    Trong Vơ Lâm Ngũ Bá, Đoàn Nam Đế, ngoại hiệu là Ngọc Động Chân Nhân, hút được huyết và ăn thịt con lươn thần Kim Thiện Vương trong lúc đói khát, mê man bất tỉnh ba ngày, nhờ dị nhân cứu chữa, nhận làm đệ tử. Nhờ vậy, trở thành con người ḿnh đồng da sắt, với vơ công thâm hậu, Đoàn Nam Đế trở thành nhân vật lẫy lừng trong Vơ Lâm Ngũ Bá, mang lại uy danh cho nước Đại Lư. Đoàn Nam Đế được Trung Thần Thông truyền môn công phu Nhứt Dương Chỉ, trở thành nhân vật lẫy lừng trong giới vơ lâm và ḍng họ Đoàn. Chán ngán trước danh vọng lắm bon chen, Đoàn Nam Đế xuống tóc đi tu, pháp danh Nhứt Đăng Đại Sư, truyền ngôi lại cho em họ là Đoàn Chính Minh, hiệu là Bảo Định Đế.

    * Trong Thiên Long Bát Bộ, hoàng tộc họ Đoàn trải qua thời kỳ tao loạn, Đoàn Diên Khánh là con trai duy nhất của Thượng Đức hoàng đế Hoàng Liêm Nghĩa, bị gian thần giết chết nên Đoàn Diên Khánh bị mất tích, lưu lạc ra Đông Hải. Luyện được vơ công thâm hậu, trở lại Đại Lư để báo thù nhưng gặp phải địch thủ hùng mạnh, trong vài lần ác chiến bị thân tàn ma dại, người ngợm khó phân biệt, tâm tính độc ác, đứng đầu trong tứ ác.
    Trong khi đó th́ Đoàn Chính Thuần, với vương tước và vơ công thâm hậu, trở thành thần tượng cho đấng nữ lưu nên mang thói trăng hoa với nhiều bóng hồng, tài sắc một trời. Bên cạnh người vợ là Thư Bạch Phụng, Đoàn Chính Thuần tiếp tục mối t́nh với Tần Hồng Miên sinh hạ được Mộc Uyển Thanh, rồi tằng tịu với Vương Ngọc Bảo sinh hạ được Chung Linh, Vương Ngọc Bảo lấy Chung Vạn Cừu nên mang ngoại hiệu là Chung Phu Nhân. Đoàn Chính Thuần gian díu với Khang Mẫn, nàng lập cuộc t́nh với Mă Đại Nguyên, bang phó Cái Bang nên gọi là Mă Phu Nhân; Đoàn lang cặp t́nh với người đẹp A La, ngoại hiệu là Vương Phu Nhân, người Tiên Ty nước Đại Yên, sinh hạ được Vương Ngọc Yến, tài sắc vẹn toàn. Lang chạ với Nguyễn Tinh Túc, có hai người con là A Châu và A Tử. Thư Bạch Phụng hận chồng tệ bạc nên đêm khuya rời khỏi pḥng với lời tự hứa, gặp bất cứ người nào sẽ hiến thân xác cho bỏ ghét, và trong chốn sơn lâm, gặp kẻ đại gian ác thân xác tàn tạ, hôi hám bởi thương tích, nàng t́nh nguyện trao thân, nào ngờ đó là Đoàn Diên Khánh, kết quả với bào thai là Đoàn Dự. Oan nghiệt cho Đoàn Dự, tưởng ḿnh là ḍng máu của Đoàn Chính Thuần v́ vậy cuộc t́nh xảy ra giữa Mộc Uyển Thanh, Chung Linh, Vương Ngọc Yến với Đoàn Dự với bao điều ngộ nhận, trớ trêu, gặp nhiều trường hợp rắc rối.
    Trong thời điểm đó, giữa biên giới của Tống và Khiết Đan ở Sơn Tây có con đường qua lại nơi sơn lâm với cửa ải gọi là Nhạn Môn Quan. Trong cuộc xung đột đẫm máu, các cao thủ vơ lâm người Hán đă tàn sát thân mẫu cùng toàn gia họ Tiêu, Tiêu Viễn Sơn nhảy xuống vực thẳm, cậu bé họ Tiêu được sống sót và được gia đ́nh nông dân họ Kiều nuôi dưỡng, đặt tên là Kiều Phong. Sau đó được Huyền Khổ đem vào Thiếu Lâm Tự nuôi dạy và bang chủ Cái Bang Uông Kiếm Thông nhận làm đồ đệ và được nối chức bang chủ. Mă Phu Nhân hận Kiều Phong không biết chiêm ngưỡng dung nhan của ḿnh nên gieo tai họa, Kiều Phong bị tiết lộ ḍng máu Khiết Đan, họ Tiêu, v́ vậy cuộc đời chàng gặp bao nghịch cảnh dồn dập. Với t́nh yêu rất trong sáng cùng A Châu nhưng cuối cùng bị gài bẫy nên A Châu chết dưới tay Kiều Phong. Trong khi đó th́ thân phụ của Kiêu Phong là Tiêu Viễn Sơn c̣n sống và t́m cách trá h́nh ẩn náu trong Thiếu Lâm Tự để trả oán thù nhưng qua năm tháng chứng kiến cảnh đời ô trọc, cửa chùa đă cảm hóa nhân tính.
    Bắc có Kiều Phong và Nam có Mộ Dung tạo thành hai nhân vật trẻ tuổi danh tiếng trong giới vơ lâm. Mộ Dung Phục nuôi mộng phục quốc nhưng đi vào con đường bá đạo nên trở thành kẻ khùng điên. Kiều Phong trở lại h́nh ảnh Tiêu Phong mang h́nh ảnh Khất Đan nhưng sống với Trung Nguyên, tuy bị người Hán nghi ngờ “con người Khất Đan” nhưng bất chấp dư luận, tấm ḷng đó được thể hiện vào giờ phút cuối khi Tiêu Phong giải cứu Gia Luật Hồng Cơ, hoàng đế Khất Đan và được phong làm Nam Việt đại vương, thống lĩnh ba quân để đánh Tống. Tiêu Phong không chấp nhận cảnh binh đao nên đứng trước t́nh thế khó xử, nhân vật anh hùng đă đem cái chết của ḿnh nơi Nhạn Môn Quan để hóa giải bao điều ngộ nhận đáng tiếc gây ra cảnh thương tâm giữa hai nước.
    Đoàn Dự qua bao tháng ngày gian nan, vĩnh biệt Tiêu Phong ở Nhạn Môn Quan, trở về Đại Lư với h́nh bóng Vương Ngọc Yến.

    . . .
    Vương Trùng Dương (VOA việt ngữ)

  4. #4
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609

    . . .

    * Tiếu Ngạo Giang Hồ ra đời sau vào năm 1967 đến năm 1969. Gồm 224 hồi, được đăng tải trên Minh Báo và nhiều tờ báo tiếng Hoa, tiếng Việt và tiếng Pháp. Tiếu Ngạo Giang Hồ là pho vơ công độc đáo được kết hợp bởi Lưu Chính Phong là sư đệ của Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành Sơn, chánh đạo và Khúc Dương, trưởng lăo Ma Giáo, cao thủ của Triêu Dương thần giáo, hắc đạo. Hai tay cao thủ bất kể lời ngăn cản của hai giới hắc bạch xem như kẻ thù truyền kiếp mà đem thiết cầm của Khúc Dương và tiêu phổ của Lưu Chính Phong tạo thành khúc nhạc Tiếu Ngạo Giang Hồ khi song tấu, đem vi diệu của âm nhạc vào công phu toàn bích của vơ công.

    Tiếu Ngạo Giang Hồ đề cập đến Ngũ Nhạc kiếm phái gồm: Hằng Sơn ở Bắc nhạc với chưởng môn Định Nhàn, Hoa Sơn ở Tây nhạc với chưởng môn Nhạc Bất Quần, Thái Sơn ở Đông nhạc với chưởng môn Thiên Môn chơn nhân, Hành Sơn ở Nam nhạc với chưởng môn Mạc Đại tiên sinh và Tung Sơn ở Trung nhạc với chưởng môn Tả Lănh Thiền.
    Bên cạnh Ngũ Nhạc kiếm phái đó, có Phước Oai tiêu cục của ḍng họ Lâm với tổ phụ Lâm Viễn Đồ có môn vơ công Tịch Tà Kiếm Phổ với 72 đường kiếm độc bá thiên hạ. Bởi môn vơ công nầy mà ḍng họ Lâm bị sát hại và các môn phái truy t́m, rồi bày ra thủ đoạn sát hại lẫn nhau.
    Trong khi đó th́ phía hắc đạo với Triêu Dương thần giáo ở Hắc Mộc Nhai có Nhậm Ngă Hành và Đông Phương Bất Bại làm giáo chủ, gây kinh hoàng trong chốn vơ lâm.
    Muốn luyện Tịch Tà Kiếm Phổ và Quỳ Hoa Bảo Điển phải dẫn đao tự cung nhưng các tay cao thủ ham danh vọng nhằm thống lĩnh vơ lâm th́ bất chấp sự biến dạng của thân thể nên đă tạo ra bao t́nh huống thật trớ trêu, ái nam ái nữ.
    Cuộc t́nh với hai khuôn mặt trẻ là Lệnh Hồ Xung, đệ tử phái Hoa Sơn với Nhậm Doanh Doanh, con gái Nhậm Ngă Hành mang đến sự rắc rối của hai trẻ phá lệ hắc bạch trong lằn ranh phân định trong vơ lâm. Đối đầu với bao thử thách và hiểm nguy, Lệnh Hồ Xung không kết hợp với các mối t́nh trong chính phái mà cùng với Nhậm Danh Doanh đi tṛn cuộc đời với cầm phổ và tiêu phổ.

    * Lộc Đỉnh Kư xuất hiện trên Minh Báo từ ngày 24-10-1969 đến ngày 24-9-1972, gồm 248 hồi. Sau khi hoàn thành Lộc Đỉnh Kư, Kim Dung tuyên bố gác bút,

    Bối cảnh câu chuyện trong lịch sử Trung Hoa, trong phần dẫn nhập, Kim Dung viết: “Về triều Khang Hy nhà Măn Thanh” vào thế kỷ XVII. Theo lịch sử th́ người Măn Châu, nguyên là bộ tộc của người Nữ Chân, khi xâm chiếm Trung Nguyên nhà Măn Thanh ra lệnh phải gọi là Măn Châu. Câu chuyện dựa vào thời điểm nhân vật lịch sử là Khang Hy hoàng đế, Lư Tự Thành, Ngô Tam Quế, Trần Viên Viên... và tổ chức Thiên Địa Hội cùng các nhân vật hư cấu trong thế giới vơ lâm.
    Trong thành Nhă Khắc Tất, trên núi Lộc Đỉnh là ngọn núi cao nhất của Măn Châu, thiên nhiên hùng vỹ, phong thủy kỳ bí, vùng đất địa linh. Nơi đó có trái núi bí mật, tổ tiên người Thát Đát ở Măn Châu táng tại địa thế có long mạch tuyệt hảo nên được hiển vinh, dựng cơ nghiệp nhờ long mạch hộ tŕ. Ngoài ra, c̣n có kho tàng châu báu vô song được chôn cất trong ṭa Bảo Sơn ở trái núi đó. Bí mật trọng đại được ghi trong tám bộ Tứ Thập Nhị Chương Kinh do tám kỳ chủ nắm giữ nên có sự phân tán. Người Măn Châu muốn bảo vệ long mạch đó c̣n người Hán muốn khám phá để triệt nên địa danh đó rất hệ trong cho sự tồn vong của dân tộc. Vua Khang Hy lấy tên ngọn núi Lộc Đỉnh với chức công để ban cho Vi Tiểu Bảo là Lộc Đỉnh công, chức vụ cao nhất trong triều đ́nh.
    Câu chuyện xoay quanh nhân vật Vi Tiểu Bảo, cậu bé xuất thân từ chốn lầu xanh lạc vào triều đ́nh, bầu bạn với vua Khang Hy, hoàng đế thứ tư của triều Măn Thanh, lên ngôi lúc 8 tuổi. Nhờ tài khôn vặt nên Vi Tiểu Bảo đă tạo thế đứng cho bản thân từ triều đ́nh đến chốn vơ lâm với bao cuộc t́nh vây quanh nhân vật dốt đặc cán mai và láu cá.
    Kết thúc câu chuyện khi Vi Tiểu Bảo cùng bảy người vợ Tô Thuyên, Phương Di, A Kha, Tăng Nhu, Mộc Kiếm B́nh, Song Nhi, Kiến Ninh công chúa thu thập tài vật, cải trang về Dương Châu đón thân mẫu rồi xuống đất Vân Nam mai danh ẩn tích ở thành Đại Lư.
    Hoàng đế Khang Hy sai người đi t́m nhưng không truy ra manh mối c̣n Vi Tiểu Bảo cũng thèm kho tàng ở Lộc Đỉnh nhưng nghĩ ḿnh đă giàu có cùng bầy vợ chung quanh và nghĩ đến giao t́nh với nhà vua nên không muốn phiêu lưu xâm phạm kho tàng bí mật làm tổn thương long mạch của nhà Măn Châu.

    * Liên Hành Quyết hay Tố Tâm Kiếm xuất hiện năm 1963, gồm 49 hồi, xuất hiện trên Minh Báo và Đông Nam Á tuần san ở Singapore, câu chuyện nói về nhân vật chàng trai trẻ Địch Vân được thọ giáo sư phụ là Thích Thường Phát. Con gái của Thích Thường Phát là Thích Phương cùng Địch Vân trở thành đôi bạn và có cảm t́nh mật thiết với nhau. Địch Vân xuất thân từ dân dă, bản tính chân thật, ngây ngô, không biết ǵ về thủ đoạn trong cuộc sống. Khi con trai của Vạn Chấn Sơn là Vạn Khuê gặp Thích Phương liền mê say nên bày tṛ nham hiểm làm cho Địch Vân bị các trận đ̣n và đau khổ nhất khi Thích Phương ngộ nhận Địch Vân là kẻ đồi bại nên t́m cách lánh xa.

    Khi gặp Thủy Sinh, Địch Vân v́ ăn mặc giống kẻ thù nên ra lệnh thủ hạ cho ngựa giẫm nát chân nhưng cảnh đời trớ trêu, Địch Vân và Thủy Sinh gặp nhau nơi tuyệt cốc, t́nh cảm bén mùi nhưng giữ ǵn được sự trong sáng với nhau nhưng rồi cũng bị hàm oan.
    Nghe tin môn vơ công cái thế Liên Thành kiếm phổ dấu trong pho Đường Thi tuyển tập, bốn chữ đầu là Giang Lăng Thành Nam, Thích Trường Phát cùng đồng môn cất công t́m kiếm rồi sinh ra manh tâm ám hại lẫn nhau. Sống trong bối cảnh đó nhưng Địch Vân vẫn giữ được tâm hồn trong sáng của ḿnh nên đă có những hành động cao đẹp và t́m cách ẩn cư nơi quan ngoại, cuộc t́nh lại đến với chàng trai trong khung cảnh vắng lặng đó nhưng rồi sự thôi thúc của nguồn tin về kiếm phổ đang gây chấn động trong chốn vơ lâm nên chàng nhập cuộc để hiểu được t́nh thế.
    Kết thúc câu chuyện khi phơi bày chân tướng trong t́nh huynh đệ lúc t́m ra bảo tàng th́ Vạn Chấn Sơn dùng thủ đoạn ám hại sự đệ là Thích Trường Phát nhưng nhờ Địch Vân đến cứu thoát và nhân đó Thích Trường Phát sát hại luôn Vạn Chấn Sơn.
    Lợi dụng thời cơ gần nhau, Thích Trường Phát dùng đao trủy thủ đâm vào lưng Địch Vân nhưng lúc nầy chàng đă trau dồi vơ công cao siêu nên chụp được cánh tay và nhờ mặc Ô Tằm Giáp nên mới thoát chết. Bởi danh lợi làm ḷng người tráo trở, thôi thúc con người Thích Trường Phát trở nên xấu xa ngay cả đệ tử và cũng là ân nhân của ông.
    Ngoài ra, các tác phẩm thuộc loại đoản thiên tiểu thuyết như Bạch Mă Khiếu Tây Phong (1960) chỉ có 3 hồi, Uyên Ương Đao (1961) không chia ra hồi nào, Hiệp Khách Hành (1965) tựa đề bài thơ của Lư Bạch và Việt Nữ Kiếm (1976). Ngoài các nhân vật trong Việt Nữ Kiếm có tính cách lịch sử, các nhân vật trong các đoản truyện trên hầu như không có ǵ đặc sắc, độc đáo nên ít được nhắc tới.

    ***

    Tiểu thuyết vơ hiệp của Kim Dung tuy có tính cách giải trí nhưng tạo được sức thu hút độc giả mọi giới, mỗi giới có cái nh́n riêng về khía cạnh nhân vật trong tác phẩm. Kim Dung, Lương Vũ Sinh ở Hồng Kông và Cổ Long (1937-1985) ở Đài Loan được mệnh danh là “Vơ lâm tam đại minh chủ”.

    Sau khi Kim Dung gác kiếm để chu du khắp nơi trên thế giới, trong các cuộc hội thảo với sinh viên và độc giả, ông có dịp tŕnh bày quá tŕnh h́nh thành từng tác phẩm của ḿnh. Theo ông, ngoài những dữ kiện lịch sử, câu chuyện tiểu thuyết ḥan toàn hư cấu, ngay cả những pho vơ công, tưởng chừng như thật nhưng do óc sáng tạo dựa trên căn bản của vơ thuật. Đọc tác phẩm Kim Dung, cảm nhận được nền văn hóa Trung Hoa ẩn hiện trong thời đại đó.

    Sau mười năm tác phẩm của Kim Dung được phổ biến ở Trung Cộng, năm 1994, nhân dịp nhận chức giáo sư Danh Dự của Viện Đại Học Bắc Kinh, ông cho biết tiểu thuyết vơ hiệp có được khá nhiều độc giả ưa thích không v́ ở những chuyện đánh đấm, ở những t́nh tiết lâm ly, khúc chiết của câu chuyện hấp dẫn mà chủ yếu là v́ h́nh thức truyền thống văn hóa; trong đó chứa đựng triết lư nhân sinh, diễn đạt những quan niệm về văn hóa xă hội Trung Hoa cũng như tư tưởng t́nh cảm, nhân t́nh thế thái, phong tục tập quán, đạo đức cùng những thị phi của người Trung Hoa.
    Kể từ thập niên 60 ở Miền Nam Việt Nam, tác phẩm của Kim Dung được đón nhận nồng nhiệt với mọi giới, sau năm 1975, cấm lưu hành v́ bị kết án là mang tính hoang đường và sau năm 1985, Trung Cộng cho phổ biến tác phẩm Kim Dung th́ vài năm sau đó, ở Việt Nam tác phẩm của ông được lưu hành dễ dàng. Ngày nay th́ tác phẩm của Kim Dung trở thành quen thuộc và ăn khách như giữa thập niên 60 và 70, đồng thời tên tuổi của ông c̣n được đánh bóng khá nhiều. Trước năm 1975, ở Sài G̣n có vài tác phẩm với tựa đề rất lạ nhưng để tên nguyên tác của Kim Dung để câu độc giả, suy cho cùng, tên tuổi nhà văn vơ hiệp nầy đă ảnh hưởng đến độc giả Việt Nam rất lớn.

    Trong Tự Điển Văn Học, NXB Khoa Học Xă Hội, Hà Nội 1984, tập II, trang 450 & 451 viết:

    “Một loại truyện của Đài Loan, Hồng Kông, được dịch và in rất nhiều ở Sài G̣n ... Truyện “chưởng” của Kim Dung thể hiện đầy đủ những đặc điểm và tính chất của loại “văn chương tiêu dùng”. Kim Dung có tài sử dụng thủ thuật, mánh lới tinh xảo, tham bác nhiều kỹ xảo của điện ảnh, của loại truyện phiêu lưu, trinh thám hay huyền thoại... Để hấp dẫn tuổi trẻ và kích thích thị hiếu người đọc, Kim Dung c̣n thêu dệt những mối t́nh đuổi bắt rắc rối tay ba, tay tư, thậm chí tay bảy, tay tám.

    T́nh yêu éo le, phức tạp trong truyện là nhằm thỏa măn những ham muốn đen tối. T́nh yêu là tất cả, là cứu cánh, là lẽ sống, là chỗ về của những cao thủ. Thực chất đó là một thứ t́nh yêu hưởng lạc, thoát ly, chạy trốn thực tại... Truyện chưởng đă thực sự trở thành loại sản phẩm của chủ nghĩa thực dân mới, góp phần đầu độc tinh thần, t́nh cảm nhân dân Miền Nam Việt Nam trong nhiều năm trước đây, và tàn dư độc hại của nó đến nay vẫn cần phải tiếp tục được thanh toán triệt để”.
    Có lẽ, thời điểm đó Trung Cộng c̣n cấm cửa tác phẩm Kim Dung nên giới phê b́nh văn học Việt Nam cũng phải theo đuôi để chỉ trích, nhưng qua năm sau, 1985, th́ tác phẩm của ông đi vào đại lục nên giới phê b́nh lại “nghiên cứu” đợi thời cơ! Khi Kim Dung được mời sang Bắc Kinh để vinh danh và thuyết giảng ở đại học th́ “văn chương tiêu dùng” được phổ biến tràn ngập và ăn khách nhất nước kéo dài từ Lạng Sơn tới Cà Mau.
    Tuần báo The Economist ở Luân Đôn vào mùa xuân năm 1999 đă viết bài nghiên cứu về Hiện Tượng Kim Dung cho biết cả Đặng Tiểu B́nh lẫn Tưởng Kinh Quốc đều mê đọc tác phẩm Kim Dung.
    Trong bài phỏng vấn của Lê Văn Nghĩa “Mỗi Kỳ Một Nhân Vật” trên báo Kiến Thức Ngày Nay. Lê Văn Nghĩa đặt câu hỏi: “Nếu phải một ḿnh sống... nơi hoang đảo, th́ quyển sách duy nhất ông mang theo là ǵ?”.
    - Tiếu Ngạo Giang Hồ
    - Như vậy ông thích đọc chưởng?
    - Rất thích, nếu không nói là mê, nhưng chỉ truyện chưởng của Kim Dung”.
    Kể từ lúc Trần Bạch Đằng thấy Nguyễn Văn Linh cho thổi làn gió nhẹ “cởi trói” nên công khai trên báo đă mê chưởng, nhiều nhân vật trong đảng và nhà nước Cộng Sản t́m kiếm tác phẩm của Kim Dung về miệt mài nghiền ngẫm.
    Trải qua ḍng thời gian vài thập niên, nhân vật hư cấu trong tác phẩm của ông có khía cạnh độc đáo, đặc biệt... nó gần gũi h́nh ảnh trong cuộc sống hiện tại. Nhiều nhân vật trong tác phẩm của Kim Dung trở thành phổ thông đến nỗi khi bắt gặp nhân vật nào trong đời sống b́nh thường, chỉ cần nói tên trong nhân vật của Kim Dung tạo dựng, cũng h́nh dung được tính cách đối tượng đề cập.

    Và, vài nhân vật tiêu biểu trong tác phẩm vơ hiệp Kim Dung được phác họa tổng quát để đọc và ngẫm.
    Vương Trùng Dương
    (Trích trong Ngẫm Chuyện Nhân Sinh 2004)
    Voa Việt ngữ

    Ghi chú: Những địa danh bàng bạc trong tác phẩm Kim Dung: Trung Hoa chiếm trên diện tích rộng lớn, chạy dài từ kinh tuyến 75 đến kinh tuyến 125 và từ vỹ tuyến 25 lên vỹ tuyến 55 với diện tích hơn 3 triệu rưỡi dặm vuông (trên 9 triệu rưỡi cây số vuông).

    Phía Đông, chạy dọc từ Bắc xuống Nam có các tỉnh Hắc Long Giang (Heilongjiang) giáp biên giới Nga, Kiết Lâm (Jilin) và Liêu Ninh (Liaoning) giáp biên giới Triều Tiên và dọc theo ven biển Thái B́nh Dương gồm các tỉnh Hà Bắc (Heibei) có thủ đô Bắc Kinh, thành phố Thiên Tân... Sơn Đông (Shandong), Giang Tô (Jiangsu) có thành phố Nam Kinh, Thượng Hải... Triết Giang có thành phố Hàng Châu, Giang Tô... Phúc Kiến (Fujian) có thành phố Phúc Châu... và Quảng Đông.
    Từ Đông sang Tây có Quảng Đông (Guangdong), Quảng Tây (Guangxi), Vân Nam (Yuannan) giáp biên giới Việt Nam cũng là Đại Lư của ḍng họ Đoàn. Chạy dần vế hướng Bắc có Sơn Tây (Shansi), nơi đây có cửa ải của Vạn Lư Trường Thanh với Nhạn Môn Quan thuộc dăy Hằng Sơn. Phúc Kiến (Fujian), Giang Tây (Jangxi), Hồ Nam (Hunan), Quư Châu (Guizhou); Triết (Chiết) Giang (Zhejiang), An Huy (Anhui), Hồ Bắc (Hubei), Tứ Xuyên (Sichuan), Tây Tạng (Tibet — bị xâm chiếm vào thập niên 50), Giang Tô (Jiangsu) Hà Nam (Henan), Sơn Tây (Shaanxi), Sơn Đông (Shandong), Hà Bắc (Hebei), Ninh Hả (Ningxia) Cam Túc (Gansu), Thanh Hải (Qinghai), Tân Cương (Xingjiang); và Nội Mông (Inner Mongolia - phần đất của Mông Cổ) nằm về phái Tây của 3 tỉnh Đông Bắc: Liêu Ninh (Liaoning), Kiết Lâm (Jilin), Hắc Long Giang (Heilongjiang)...

  5. #5
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609
    Tính nhân bản trong tiểu thuyết Kiếm hiệp của Kim Dung


    Vương Trùng Dương là một trong những cao thủ vơ công xuất chúng nhất trong pho truyện kiếm hiệp Kim Dung.

    Nhắc đến tiểu thuyết kiếm hiệp, người ta thường nghĩ đến cảnh đao kiếm chém giết đẫm máu. Nhưng đối với Kim Dung, giá trị cốt lơi nhất đọng lại trong tác phẩm của ông có lẽ chính là tính nhân bản.
    Những độc giả ở Việt Nam thế kỷ trước có lẽ rất ít người không biết đến tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung. Thời đó, Internet vẫn c̣n quá xa lạ. Những ông bố, bà mẹ bây giờ đều đă ở tuổi đầu 3, đầu 4, ngày đó chỉ biết t́m đọc truyện kiếm hiệp Kim Dung và nhiều thứ tiểu thuyết khác ở những quán cho thuê truyện.

    Đối với nhiều thế hệ học sinh thời đó, các nhân vật trong tác phẩm Kim Dung gần như đă ăn sâu vào trí nhớ cùng với những bay bổng lăng mạn của tuổi trẻ vốn nhiều mơ ước hoài băo.
    Một trong những điều đáng nể nhất của Kim Dung có lẽ phải kể đến việc ông rất thành công khi đưa đến cho độc giả các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam, h́nh ảnh về văn hóa xă hội Trung Hoa ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Mặc dù truyện của ông chỉ là sự hư cấu nhưng lấy bối cảnh một giai đoạn trong lịch sử, phần nhiều là triều đại nhà Tống. Đối với người lười học lịch sử th́ truyện Kim Dung ít nhiều khiến người ta phải suy ngẫm, đối chiếu, thậm chí t́m hiểu sâu hơn về lịch sử Trung Hoa.
    Hầu hết người đọc truyện kiếm hiệp nói chung và đặc biệt là tác phẩm của Kim Dung nói riêng đều ghi nhớ và lấy làm mạch cảm hứng xuyên suốt là h́nh ảnh nhân vật nghĩa hiệp của những cao thủ vơ lâm. Đối với người viết bài cũng vậy, khi những h́nh ảnh đại hiệp Quách Tĩnh, Dương Quá đă ăn sâu vào tiềm thức th́ sự đề cao chính khí khiến người ta lấy đó làm thước đo cho bản thân ḿnh.

    Nhưng điều sâu xa hơn nữa, đối với cá nhân người viết, đó là tính nhân văn trong những tác phẩm kiếm hiệp Kim Dung. Đă là tác phẩm kiếm hiệp th́ chủ yếu người đọc chỉ nh́n thấy những trận "gió tanh mưa máu" trên chốn giang hồ, tại sao chúng ta vẫn t́m thấy tính nhân văn cao đẹp trong tác phẩm Kim Dung.

    Ngược ḍng tác phẩm Kim Dung, chúng ta có thể bắt đầu từ Giáo chủ Vương Trùng Dương cũng là người sáng lập Toàn Chân Giáo, người vẫn được người đời ca tụng là Trung Thần Thông. Là người có công phu vơ học cao siêu bậc nhất thiên hạ nhưng ông dành cả cuộc đời để cứu nhân độ thế, xây dựng ḷng nhân ái giữa người với người.

    Đến những bậc chính nhân quân tử như Quách Tĩnh hay kẻ được coi là ngông cuồng như Thần điêu đại hiệp Dương Quá, họ vẫn luôn sống bằng ḷng nhân ái, bao dung. Một điểm chung mà hầu hết những nhân vật chính do Kim Dung xây dựng, chúng ta dễ dàng nh́n thấy, họ không bao giờ giết người.
    Ngoại trừ một vài nhân vật số ít như Lệnh Hồ Xung hay Tiêu Phong sống bằng sự hận thù, hầu hết nhân vật chính của ông đều ngại động đến đao kiếm thị phi, cực kỳ sợ làm tổn hại đến thân thể người khác. Thậm chí Trương Vô Kỵ c̣n sẵn sàng lấy thân thể ḿnh để che chở cho những con người yếu đuối.
    Đọc truyện kiếm hiệp, ít ai không biết đến câu: "Nhân tại giang hồ, thân bất do kỷ" (người trong giang hồ, thân ḿnh không theo ư ḿnh). Vậy nhưng Dương Quá, Trương Vô Kỵ vẫn sống theo đúng bản chất tốt đẹp của ḿnh. Dù sóng gió giang hồ có vùi dập họ bao phen th́ con tàu đạo nghĩa của họ vẫn không bao giờ đắm. Đó chính là giá trị nhân văn cốt lơi mà Kim Dung mang lại.

    Tính nhân bản của nhân vật trong những tác phẩm kiếm hiệp được Kim Dung thể hiện quy luật nhân quả rất rơ nét hoàn toàn theo lô gic, bằng sự kiến giải mang tính khoa học. Điều quan trọng là sự kiến giải đó được Kim Dung đưa vào tác phẩm bằng kiến thức uyên bác về thế giới quan của chính ông. Từ nhỏ, ông đă đọc quá nhiều sách vở khiến kho tàng kiến thức của ông vô cùng đồ sộ. Chính v́ thế mà ông khiến người đọc mở mang thêm rất nhiều, không chỉ vơ học mà c̣n là địa lư, lịch sử, văn hóa,...


    Trương Tam Phong, người sáng lập Thái Cực Quyền, tiên phong đạo cốt, thần công cái thế.

    Không phải ngẫu nhiên mà Trương Tam Phong - Sư tổ Vơ Đang phái có thể tạo dựng được một hệ thống đệ tử đời đời lớp lớp vơ công xuất chúng, tốt đời đẹp đạo. Bởi giáo lư môn phái được xây dựng từ chính bản ngă của chàng thanh niên Trương Quân Bảo vốn hồn nhiên, giàu ḷng bác ái.
    Tất cả sự vật hiện tượng đều được Kim Dung kiến giải bằng tính nhân văn đó, như một hệ thống xuyên suốt. Người ta thường nghĩ đến nhân vật kiếm hiệp gắn liên với cảnh uống rượu say sưa vô độ. Nhưng Kim Dung cũng có cách kiến giải để người ta thấy uống rượu thế nào là tốt xấu, là đáng để uống.
    Tổ Thiên Thu biết Lệnh Hồ Xung mang trọng bệnh nên đưa thuốc đến cứu, nhưng biết Lệnh Hồ Xung vốn khảng khái và thích uống rượu nên mang rượu đến ḥa thuốc vào. Trong khi uống rượu, Tổ Thiên Thu đă phân tích cho Lệnh Hồ Xung nghe về kiến thức các loại rượu, các loại chén uống rượu ở trên đời. Từ đó người ta thấy uống rượu cũng cần kiến thức chứ không phải cứ rượu nào cũng nốc vào người chỉ làm cho sức khỏe suy kiệt, tinh thần đạo nghĩa cũng tiêu tán.
    Những tranh giành đố kỵ măi măi sẽ chỉ là bị kịch. Con người càng tham vọng quyền lực đỉnh cao sẽ càng phải phải trải qua nhiều bi kịch. Độc Cô Cầu Bại chỉ v́ đạt đến cảnh giới tối cao của vơ học mà suốt đời phải sống cô độc, không có bạn bè người thân. Cả cuộc đời chỉ đi t́m người đánh bại ḿnh mà không thể t́m nổi - đó chính là bi kịch lớn nhất. Bới vậy, chỉ có giá trị nhân văn bác ái mới là thứ quan trọng nhất nuôi dưỡng con người trong tiểu thuyết Kim Dung.

    Lịch sử bao đời vẫn chảy theo lẽ tự nhiên. Triều đại này sụp đổ, triều đại mới thay thế. Lớp người này qua đi, lớp người khác nối tiếp. Nhưng giá trị nhân văn cốt lơi trong tác phẩm vơ hiệp Kim Dung là thứ vĩnh viễn đọng lại trong ḷng độc giả. Những người yêu truyện kiếm hiệp sẽ luôn nhớ đến ông - người được tôn là Giang hồ đệ nhất thánh kinh - không chỉ bởi những thiên truyện bi tráng ly kỳ mà c̣n chính bởi những giá trị nhân bản ấy.
    *Bài viết theo quan điểm riêng của tác giả. (Kên Kảnh)

  6. #6
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609
    V́ sao Độc Cô Cầu Bại luyện kiếm nhưng không dùng kiếm?



    Trong xuyên suốt các tác phẩm Kiếm hiệp nổi tiếng của nhà văn Kim Dung, Độc Cô Cầu Bại được coi là một nhân vật huyền thoại. Từ thuở vơ lâm sơ khai, ông đă được người trên giang hồ tôn là đệ nhất cao thủ bởi bộ kiếm pháp tuyệt học “Độc Cô Cửu Kiếm”, đặc tính dùng vô chiêu chiến thắng hữu chiêu.

    Tuy nhiên, nhà văn Kim Dung chưa bao giờ để lăo nhân Độc Cô xuất hiện một cách chính thức trong thế giới kiếm hiệp của ḿnh, những câu chuyện về ông chỉ là huyền thoại được truyền tụng lại hậu thế từ những vị tiền bối cao thủ vơ lâm đời trước, thậm chí ngay cả Phong Thanh Dương – Thái sư thúc tổ của phái Hoa Sơn cũng từng cho biết, ông được nghe kể về lăo nhân Độc Cô Cầu Bại từ ngày c̣n rất trẻ, điều này càng gia tăng thêm phần bí ẩn đối với danh thế của Độc Cô Cầu Bại lẫn bộ kiếm pháp nổi riếng “Độc Cô Cửu Kiếm” được ông sáng tạo nên.
    V́ sao lăo nhân Độc Cô nổi tiếng về việc dùng kiếm nhưng ông lại không thường sử dụng kiếm pháp trong những cuộc giao đấu quần hùng? Và cả Lệnh Hồ Xung lẫn Phong Thanh Dương – hai trong số ít người hiếm hoi có cơ may lĩnh ngộ “Độc Cô Cửu Kiếm” lại chưa đạt được cảnh giới cao nhất của bộ kiếm pháp này, vậy cảnh giới cao nhất của Độc Cô Cửu Kiếm là ǵ?

    Trong cốt truyện từ bộ “Thần Điêu Đại Hiệp”, nhân vật chính Dương Quá có cơ hội gặp được Thần điêu – con vật được cho là người bạn cuối đời của lăo nhân Độc Cô, sau khi gặp gỡ, Thần điêu dẫn Dương Quá đến mộ của Độc Cô, dựa trên những manh mối tại nơi này, Dương Quá biết được rằng Độc Cô Cầu Bại là một người sở hữu kiếm thuật vô song, một thời tung hoành thiên hạ. Sau khi biết cả thiên hạ không một ai địch được nổi kiếm thuật ḿnh sáng tạo nên, lăo nhân Độc Cô đă chọn ẩn danh giang hồ, lui về sống quăng đời buồn bă c̣n lại với Thần điêu.
    Trước khi chết, ông cũng đă lập mộ chôn 5 thanh kiếm của ḿnh và đặt lời chú giải triết lí cho mỗi thanh kiếm. Theo đó, 2 thanh kiếm đầu tiên của Độc Cô mà Dương Quá t́m được đều có thiết kế lưỡi sắc bén, h́nh dạng được đúc khá hoa mỹ, tượng trưng cho một thời trai trẻ ngông cuồng của Độc Cô khi đấu chiến với cả đồng đạo vơ lâm.
    Thanh kiếm thứ 3 là Huyền Thiết Trọng Kiếm – được mô tả giống như một thanh sắt lớn chứa đựng sức nặng ngàn cân, lưỡi không sắc ngược lại c̣n cùn, Dương Quá biết khi Độc Cô Cầu Bại c̣n sống, trước khi sáng tạo nên bộ kiếm pháp “Độc Cô Cửu Kiếm” đă sử dụng thanh kiếm kỳ quặc này để tự rèn luyện. Khi tới kiếm mộ thứ 4 của Độc Cô, thứ Dương Quá t́m được không phải là một thanh kiếm mà chỉ là một cành cây liễu trúc đă rũ mục từ lâu. Bên cạnh kiếm mộ được khắc kèm văn phổ: “Sau bốn mươi tuổi, không mang binh khí, Thảo mộc trúc thạch đều có thể dùng làm kiếm..”

    Xem tới đây, Dương Quá tỏ ra kinh ngạc và phải thốt lên rằng: “Lăo nhân Độc Cô quả thực là một bậc kỳ tài kiếm học chốn vơ lâm, nếu giờ vẫn c̣n thọ th́ lục đại môn phái cũng sớm phải tới quỳ gối bái sư!”. Đoạn nói, Dương Quá tiến tới khai phá kiếm mộ thứ 5 của lăo nhân Độc Cô nhưng chỉ thấy đó là một phiến đá trắng, bên dưới không thấy chôn kiếm hay loại vũ khí nào khác, đoán là có sự nhầm lẫn nên Dương Quá đă bỏ đi.
    Cũng từ t́nh tiết này, Dương Quá cho rằng việc một người luyện thành kiếm pháp Độc Cô, có thể sử dụng cành trúc cây liễu thay lưỡi kiếm sắc bén là đă đạt đến cảnh giới cao nhất của bộ kiếm pháp tuyệt đỉnh này. Tuy nhiên, tính “vô chiêu thắng hữu chiêu” được nhắc tới trong bộ kiếm pháp Độc Cô Cửu Kiếm lại là việc sử dụng kiếm khí (tức là vận nội lực thành khí sát, dồn đẩy toàn bộ lên tay, biến tay không mà như sở hữu một thanh kiếm sắc bén). Đó cũng là lư do v́ sao khi t́m tới kiếm mộ thứ 5 , Dương Quá chẳng thể nh́n thấy thanh kiếm cuối cùng của lăo nhân Độc Cô Cầu Bại.
    Trong truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ, khi truyền lại cho tiểu tử Lệnh Hồ Xung khẩu quyết tâm pháp và các chiêu thức trong “Độc Cô Cửu Kiếm”, chính lăo sư Phong Thanh Dương cũng đă nhầm lẫn giữa việc dạy Lệnh Hồ Xung dùng “Phá kiếm thức”, lấy tính “Vô chiêu thắng hữu chiêu”. Nếu là do lăo nhân Độc Cô thi triển th́ cảnh giới cao nhất của “Độc Cô Cửu Kiếm” sẽ là dựa vào kiếm khí để chiến thắng tất cả, thay v́ vẫn phải dụng tới kiếm thường và các chiêu thức phụ giống như Lệnh Hồ Xung và lăo sư Phong Thanh Dương.
    Theo Vothuat VN

  7. #7
    Member Sig Sauer's Avatar
    Join Date
    19-03-2016
    Posts
    1,073

    Độc Cô Cầu Bại

    Đồng ư với tác giả bài viết này. Độc Cô Cầu Bại không bao giờ xuất hiện trên giang hồ để so kiếm với ai, nhưng huyền thoại của Độc Cô lại không bao giờ chết. Độc Cô Cầu Bại luôn là hiện thân của sự hoàn hảo tột cùng trong kiếm pháp. Kiếm pháp khi lên đến tuyệt đỉnh th́ gặp Độc Cô, và tuyệt đỉnh của kiếm pháp là kiếm khí. Kiếm không cần rút ra khỏi vỏ, nhưng tự động bay ra lấy đầu đối thủ trong nháy mắt và tự bay về chui lại vô bao. Cao hơn nữa là một làn khí xẹt từ kiếm ra để cắt đầu bad guy. Luyện đến đây th́ cùng đường. Đặt biệt chiêu này chỉ dành cho the good guy, chứ không dành cho Ma Đầu. Có lẽ v́ Ma Đầu lúc nào cũng thua cho nên nếu cho nó chiêu này th́ lấy ǵ mà thắng. Thành ra, Ma Đầu có rất nhiều chiêu, nhưng không có mấy ai đặt đến kiếm khí.

    Vào thuở giữa thập niên 80's, phong trào phim chưởng ra rất nhiều trong CDNVHN. Tôi lớn lên với những bộ phim đó, chứ chưa đọc chưởng trước đó bao giờ. Vào đại học thời đó, chúng tôi gắn tên những nhân vật chuyện chưởng cho mấy con nhỏ trong trường. Con nhỏ nào đẹp lịch sự th́ gọi là Cô Long. Dĩ nhiên, đứa con gái nào được gọi là Cô Long th́ rất hảnh diện. Con nào hông thích th́ kêu nó là Mai Siêu Phong, nhưng nói rỏ là Mai Siêu Phong sau khi luyện xong Cửu Âm Bạch Cốt Trảo rồi, chứ không phải là trước đó. Ông gọi con nhỏ nào như vậy, bảo đảm khỏi mong mượn bài nó được đâu. Tôi không thích Vương Ngọc Yến của Thiên Long Bát Bộ hay Thánh Cô của Tiếu Ngạo Giang Hồ cho lắm. Nói chung thời đó chỉ có hai nhân vật nữ mà nói ra ai cũng biết: Hoàng Dung và Long Cô Nương. Tôi không thích Hoàng Dung bằng Tiểu Long Nữ, nhưng phục tài diễn xuất của cô tài tử Tàu đóng vai Hoàng Dung vào thời đó. Cô này tôi không biết tên, nhưng sau đó th́ tự tử chết rồi.

    Tôi có thằng bạn thân thời đi học. Cứ mỗi lần làm test, bài nào nó bí th́ nó lôi "Vô Chiêu Thắng Hữu Chiêu" ra mà múa. Tôi luyện phim Tàu, rất ít khi nào gặp Độ Cô Cầu Bại. Nghe tên th́ có nghe, nhưng người và chiêu kiếm th́ chưa bao giờ thấy. Cho nên chả biết vô chiêu thắng hữu chiêu là ǵ? Nhờ nó tôi mới biết đó là của Độ Cô Cầu Bại. Ông đem mấy bài này về phân tích nghe khá hay. Tác giả chắc hẳn cũng phải là 1 cao thủ ḿnh đầy tuyệt kỹ mới viết được như thế. Ông nên kiếm thêm mấy bài bàn về chuyện Tàu kiểu như Tam Quốc Chí nữa cho đủ bộ. Tôi không đọc loại chuyện này nhiều lắm, nhưng nghe thiên hạ phân tích th́ rất khoái. Có những người mê đến nổi ngồi nói hàng giờ về bộ này. Tôi đọc thử 2 lần, nhưng cố gắng lắm mới đọc hết. Đọc xong th́ thấy ok, chứ không hay như nghe người ta phân tích. Tôi khoái Phong Thần hơn.

    Khi viết ra các bộ chưởng, Kim Dung hẳn là không ngờ nó có một ảnh hưởng sâu đậm trong VN như thế này. Có thể nói rằng ngoài TQ, HK, Taiwan ra khó quốc gia nào mà nó ăn sâu hơn VN. Học giả Á Châu chuyện về xă hội học tại các giảng đường của Mỹ sinh ra 1 từ dùng để nói lên ảnh hưởng văn hóa TQ trong các quốc gia như VN, Korea, Japan gọi là SINOSPHERE. Sphere = ảnh hưởng. Sino = Tàu. Trước đó, khi tôi c̣n đi học th́ họ gọi nền văn hóa này là CHOPSTICK CULTURE. Chopstick = đôi đũa; Culture = Văn hóa. Có lẽ v́ mang nặng Văn Hóa Tàu nên người VN chúng ta không mấy ai mà không mê chưởng. Bây giờ bên VN, có lẽ v́ vụ Biển Đông nên VN xích gần với Ấn Độ. Thành ra, có một phong trào do tụi Ấn gây ra nói rằng VN có bị ảnh hưởng của Ấn nữa, gọi là INDOSPHERE. Indo = Ấn. Họ viện lư là người Chàm thuộc về Indosphere. Cho nên VN cũng có chút Indosphere. Dân VN vốn không thích da đen hay nâu cho lắm. Thành ra, hầu hết đều không chịu thuộc Ấn. Tôi là một trong những người đó. Cà ri th́ tôi thích. Dân Cà ri th́ không. Tôi nghĩ mấy thằng Ấn nó khoái gái VN nên muốn nói rằng VN cũng nằm trong Indosphere để kết thân.
    Last edited by Sig Sauer; 18-11-2018 at 01:50 AM.

  8. #8
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609
    Ngày xưa ông chú tui, thuộc lực lượng trinh sát giống như ông UBL, cả đời lính chỉ biết trận mạc ghét lính "kiểng" và "trấn" ở khu vực được xem là hóc hiểm dữ dằn nhất của chiến trường VN là Ba Tơ Quảng Ngăi, mỗi lần đi phép về Sài G̣n, trước khi về tới nhà th́ việc làm đầu tiên của ổng là dốc hầu bao mua mớ nhạc phổ classic, ổng là tay chơi guitar classic thứ thiệt và mướn một bộ truyện chưởng KD, chỉ là đọc lại thôi. Ổng mê KD từ nhựng năm trung học. Nghe ổng luận truyện KD không mê chết liền và tui bắt đầu mê KD cũng từ đó.
    Riêng pho TQC cũng tuyệt nhưng hay kiểu khác, pho này mức độ phổ biến cũng rất rộng nhưng chỉ giới hạn trong giới có chút ít học thức trở lên, v́ phải suy ngẫm mới thấy cái hay của nó c̣n KD th́ từ hàng dân giả b́nh dân ít học đến cả những tầng lớp trí "ngủ", từ già tới trẻ bất đầu biết đọc cũng bỏ ăn bỏ ngủ để luyện nó.

  9. #9
    Member Sig Sauer's Avatar
    Join Date
    19-03-2016
    Posts
    1,073
    Quote Originally Posted by BlackHole View Post
    Ngày xưa ông chú tui, thuộc lực lượng trinh sát giống như ông UBL, cả đời lính chỉ biết trận mạc ghét lính "kiểng" và "trấn" ở khu vực được xem là hóc hiểm dữ dằn nhất của chiến trường VN là Ba Tơ Quảng Ngăi, mỗi lần đi phép về Sài G̣n, trước khi về tới nhà th́ việc làm đầu tiên của ổng là dốc hầu bao mua mớ nhạc phổ classic, ổng là tay chơi guitar classic thứ thiệt và mướn một bộ truyện chưởng KD, chỉ là đọc lại thôi. Ổng mê KD từ nhựng năm trung học. Nghe ổng luận truyện KD không mê chết liền và tui bắt đầu mê KD cũng từ đó.
    Riêng pho TQC cũng tuyệt nhưng hay kiểu khác, pho này mức độ phổ biến cũng rất rộng nhưng chỉ giới hạn trong giới có chút ít học thức trở lên, v́ phải suy ngẫm mới thấy cái hay của nó c̣n KD th́ từ hàng dân giả b́nh dân ít học đến cả những tầng lớp trí "ngủ", từ già tới trẻ bất đầu biết đọc cũng bỏ ăn bỏ ngủ để luyện nó.
    Tôi có thằng bạn mê Tam Quốc Chí đến nổi đọc đi đọc lại 46 lần. Yeah...46 lần. Nó thuộc đến nổi chỉ cần nói cái hồi nào, số mấy th́ nó cho liền 2 câu thơ của hồi đó. Tôi thua nó $5 v́ không tin. Nó nói bên VN lúc trước có tṛ chơi này. Nó luôn luôn thắng khi cá với mấy người khác. Theo lời nó th́ ông cứ ra chợ, gặp 1 đám đông ngồi cá kiểu này. Sau này tṛ chơi c̣n tăng thêm độ khó. Thí dụ, nhưng trong cảnh Kích Bich, Khổng Minh nói ǵ trước giờ ǵ v.v...Ông phải nói cho đúng nguyên câu, chứ không phải là ư thôi. Tôi ở gần gần nhà nó. Thời học sinh nhà nghèo 5 thằng chia nhau 1 pḥng. Buồn buồn kiếm nó đấu chuyện Tàu. Nghe nó kể TQC suốt đêm không chán. Nhưng đọc th́ không.

    Kim Dung là người gây ra phong trào này. Chuyện KD thâm thúy và dựa vào chút ít sử nên người đọc cảm thấy rất hay và học cũng được ít nhiều. Nhưng KD dần dần hết c̣n hấp dẫn nữa v́ những loạt chuyện sau đó đi vào sử hơi nhiều. Tùy người đọc thích hay không. Tôi chỉ thích KD vài cuốn thôi. Vơ Lâm Ngũ Bá, Thần Điêu Đại Hiệp, Cô Gái Đồ Long (số 1), Anh Hùng Xạ Điêu. Sau đó, tôi không c̣n đọc KD nữa mà thích Ngọa Long Sinh và Cổ Long. Thích nhất là Cổ Long v́ tính chất sắt máu cộng thêm tí lư luận của Đạo Lăo, Tiên và Phật trong đó. Thích nhất nghe Ma Đầu đem lư luận của Phật Giáo ra để biện luận cho mưu đồ thôn tính giang hồ. KD không có lối viết kiểu đó. Cho nên tôi không c̣n thích đọc nhiều.

    Ông muốn đọc chuyện chưởng free th́ vào Truyệnfull.vn mà đọc. Tụi nhóc bên VN upload lên đó đủ hết.

  10. #10
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    609

    [SIZE=1]Anh Hùng Xạ Điêu bản tiếng Anh
    [/SIZE]


    Thanh kiếm và cây đàn là hai h́nh ảnh mà ta thường gặp trong thế giới tiểu thuyết vơ hiệp Kim Dung. Từ Ỷ thiên Đồ long kư, Thiên Long bát bộ đến Tiếu ngạo giang hồ. Trong những giai đoạn lịch sử mà các chế độ phong kiến cầm quyền nhân danh một thứ “vương pháp” tràn đầy bất công và bạo lực áp dụng để cai trị hàng triệu triệu con người, những kẻ có tiền, có quyền, có thế lực ra sức hà hiếp, hăm hại dân đen th́ thanh kiếm của người hiệp sĩ trở thành biểu tượng của công lư, một thứ công lư của nhân dân. Thanh kiếm là một vũ khí trừ gian, diệt bạo, tế khổn, pḥ nguy. Ngược lại cây đàn là một dụng cụ nhằm thể hiện t́nh cảm, cảm xúc, thể hiện những khát vọng hoà b́nh, trung chính trước cuộc sống…
    Nh́n một cách nào đó th́ thanh kiếm và cây đàn khó có thể gặp gỡ nhau, khó có thể dung hoà với nhau. Nhưng trong các tiểu thuyết vơ hiệp Kim Dung đă tạo ra sự gặp gỡ dung hoà và tương tác giữa hai h́nh ảnh đó một cách kỳ thú lạ lùng.

    Trong Ỷ thiên Đồ long kư, Côn Lôn Tam Thánh Hà Túc Đạo từ dăy Thiên Sơn đi về tỉnh Hồ Nam, đem theo một cây thất huyền cầm và một thanh trường kiếm. “Hỡi ơi, nước xanh và đá trắng sao rời rạc nhau đến như vậy” - lời than thở của Hà Túc Đạo giữa rừng sâu là lời than chưa t́m được một người tri kỷ hồng nhan, như nước xanh cứ măi trôi mà đá trắng vẫn trơ vơ đứng lại bên đời. Cho đến khi gặp được cô gái Quách Tương, Hà Túc Đạo đă cảm hứng sáng tác ra được một nhạc khúc để chờ có dịp là đàn cho cô nghe. Và trong một trận chiến với 3 cao thủ Thiếu Lâm Tây Vực, Hà Túc Đạo đă ngồi tại chỗ, sử dụng một tay kiếm đánh với đối thủ, tay kia vẫn tiếp tục đánh đàn. Nghe tiếng đàn phơi phới xuân t́nh, tràn đầy niềm nhớ thương u ẩn, Quách Tương đỏ mặt lên, biết Hà Túc Đạo muốn tỏ t́nh với ḿnh. Năm ấy cô mới 16 tuổi. Tiếc thay tuy thắng trong trận này nhưng sau đó Hà Túc Đạo đánh thua sư Giác Viễn và Trương Quân Bảo (chính là Trương Tam Phong sau này) ở chùa Thiếu Lâm nên lặng lẽ bỏ Trung Nguyên trở về Thiên Sơn, khiến khát vọng phối hợp thanh kiếm và cây đàn của chàng không thực hiện được.

    Kim Dung đă để cho Cầm điên Khang Quảng Lăng, nhân vật trong Thiên Long bát bộ thực hiện khát vọng ấy. Khang Quảng Lăng có ngoại hiệu là Cầm điên, một nhân vật chơi hồ cầm rất tài hoa. Lăo dùng tiếng đàn làm vũ khí, đấu nhau với kiếm kích đao thương của người khác. Nghe tiếng đàn của lăo, trái tim người ta dội ngược, kinh mạch loạn lên, người không có nội công thâm hậu khó chống chọi được điệu đàn của lăo, tiếng đàn thoạt đông thoạt tây, thoạt trên thoạt dưới, thoạt gần thoạt xa. Khang Quảng Lăng thuộc phái Tiêu Dao tức là tu theo Lăo - Trang. Thế nhưng lăo vẫn chưa thoát tục được, giai điệu vẫn chưa đạt đến mức thượng thừa của âm nhạc hoà b́nh trung chính.



    Tiếu Ngạo Giang Hồ



    Có lẽ điều chưa đạt được đó đă được tác giả Kim Dung thử nghiệm lại trong Tiếu ngạo giang hồ.Trong tác phẩm này, tác giả xây dựng một nhân vật cổ quái là Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành Sơn. Mạc Đại tiên sinh cất một thanh kiếm ngắn, lưỡi mềm và mỏng như lá lúa trong đáy cây hồ cầm. Tiên sinh được ca ngợi với 8 chữ “cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm âm” (trong đàn giấu kiếm, kiếm phát tiếng đàn). Kiếm pháp “Bách biến thiên ảo, Hành Sơn vân vụ thập tam thức “ của lăo nhằm cứu người trong cơn hoạn nạn, tế khốn pḥ nguy. Nhưng tiếng hồ cầm của lăo chưa thoát tục, cứ đi măi trên con đường bi ai sầu thảm; lại thêm lời ca của bài Tiêu Tương dạ vũ (mưa đêm trên sông Tiêu Tương) nghe ra đau xót như những giọt mưa rơi xuống lá cây. Mạc Đại tiên sinh là h́nh ảnh của một trích tiên bị đoạ.

    Một nhân vật khác của Tiếu ngạo giang hồ là Khúc Dương đă nhận ra chỗ thiếu sót đó của Mạc Đại. Khúc Dương là trưởng lăo của Triêu Dương thần giáo (Ma giáo). Khúc Dương là 1 nhạc sĩ tài ba, do không phục một câu nói của Kê Khang, 1 nhạc sĩ đời Tây Tấn đă đàn khúc Quảng lăng tán trước khi bị Tư Mă Chiêu giết, rằng: “ta chết đi từ nay trên đời không c̣n khúc Quảng lăng tán nữa”. Khúc Dương đă bỏ công ra đi đào 29 ngôi mộ của các vua chúa và đại thần thời Đông Hán và Tây Hán và đến ngôi mộ thứ 29 ở đất Thái Ung th́ lăo t́m ra khúc phổ Quảng lăng tán, Khúc Dương đă cải biên thành nhạc khúc dành cho đàn thất huyền cầm và gọi tên khúc đó là Tiếu ngạo giang hồ. Lăo chơi thân với Lưu Chính Phong, nhạc sĩ thổi sáo của phái Hành Sơn. Lưu Chính Phong dựa vào cung đàn của Khúc Dương để viết 1 phần tiêu phổ cho ống sáo. Cầm tiêu song tấu, họ có được nhạc khúc Tiếu ngạo giang hồ hoà b́nh, trung chính; thể hiện được khát vọng được sống tự tại tiêu dao của một kiếp người.

    Nhưng cả Lưu Chính Phong và Khúc Dương đều bị lên án bởi phái Tung Sơn. Với tham vọng lên ngôi minh chủ Ngũ Nhạc kiếm phái, chưởng môn phái Tung Sơn là Tả Lănh Thiền đă sai thủ hạ sát hại Lưu Chính Phong, định tiêu diệt phái Hành Sơn trước. Thế nhưng trên cả âm mưu của phái Tung Sơn, Nhạc Bất Quần, chưởng môn đă nuôi mộng lên ngôi Ngũ Nhạc phái (bỏ chữ kiếm) bằng chính một đường kiếm tàn ác - Tịch tà kiếm pháp - mà lăo ăn cắp được. Cũng với thanh kiếm, Lệnh Hồ Xung đă học được Độc Cô cửu kiếm để trị Tịch tà. Tác giả Kim Dung đă để cho Độc Cô thắng Tịch tà, lấy cái ngay thẳng để chế ngự cái tà ma, lấy cái chính nhân để trị cái nguỵ quân tử. Và khi thanh kiếm chính nghĩa đă toàn thắng th́ khúc hợp tấu cầm tiêu Tiếu ngạo giang hồ lại ung dung trổi lên, hoà b́nh trung chính làm say đắm ḷng người nghe.

    Lưỡi kiếm là bạo lực, có cái bạo lực phản động, có cái bạo lực để chống bạo lực phản động. Tiếng đàn là tiếng ḷng, là âm điệu của hoà b́nh nhân ái. Lưỡi kiếm ngay thẳng chống bạo lực phản động, lập lại công lư cho cuộc sống để tiếng đàn hoà b́nh, nhân ái được cất lên. Toàn bộ khát vọng của Kim Dung được thể hiện qua Ỷ thiên Đồ long kư, Thiên Long bát bộ giữa sự giao thoa của kiếm và đàn chưa hoàn thành. Và ông viết tiếp Tiếu ngạo giang hồ để hoàn thành ước mơ đó. Chàng kiếm sĩ Lệnh Hồ Xung với đường Độc Cô cửu kiếm cuối cùng cũng buông lưỡi kiếm xuống, cầm lấy cây đàn cùng người yêu thổi tiêu hợp tấu Tiếu ngạo giang hồ. V́ vậy mà trên cuộc sống này vẫn tồn tại câu nói “Hoà b́nh là hiệu quả của chân lư”. Ở một chừng mực nào đó Kim Dung đă thể hiện tư tưởng có trước đây hơn 2000 năm của Socrate “Hoà b́nh chỉ thực sự có khi công lư được xác lập”.
    Vũ Đức Sao Biển





Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 7
    Last Post: 17-10-2015, 12:42 AM
  2. Replies: 1
    Last Post: 23-01-2013, 10:55 AM
  3. Replies: 18
    Last Post: 23-01-2012, 07:20 AM
  4. Replies: 3
    Last Post: 13-10-2011, 09:20 AM
  5. Replies: 0
    Last Post: 18-03-2011, 01:30 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •