Results 1 to 3 of 3

Thread: MÁU LỬA... CHARLIE

  1. #1
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    966

    MÁU LỬA... CHARLIE




    Trung tá Nguyễn Đ́nh Bảo (đeo kính) tại cứ điểm Charlie, 1972 (ảnh Phan Nhật Nam)


    - Tưởng nhớ Anh Năm Nguyễn Đ́nh Bảo, Khóa 14 Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù/QLVNCH.
    - Nhớ “Đệ Nhất Ẩm Sĩ, Cuồng Thái Y” Tô Phạm Liệu, Y Sỹ Trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù/QLVNCH.
    - Các chiến hữu đă ở lại Charlie...
    - Gửi Mễ, Duffy, và các bạn hữu để nhớ Charlie.


    “Anh Năm, Anh mất đi, Mễ lên thay Anh, tôi thay Mễ làm những chuyện Mễ vẫn làm. Trách nhiệm đơn vị đang đè nặng trên vai Mễ.
    “Đă quá trưa, địch vẫn pháo. Căn cứ như bị đào sới. Cây cối đổ gẫy ngổn ngang, lính chết và bị thương càng lúc càng cao. Tử thương gần 30 và bị thương nặng nhẹ trên 100. Charlie vẫn mịt mờ bom đạn. Tôi cũng chẳng biết là bao nhiêu đạn đă nổ trên Charlie và trên Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, mà chỉ biết ḷng đang đầy rẫy những muộn phiền, căng thẳng. Pháo giăng giăng bao phủ khung trời. Ngày nào cũng ăn pháo từ sáng tới chiều th́ chắc ít nhất cũng vài ngàn...
    “Pháo vừa ngưng th́ địch tấn công. Từ đồi cao nh́n xuống Charlie, những bộ kaki vàng giắt lá cây, hàng hàng lớp lớp xung phong. “Giọng Thịnh chắc nịch vang lên trong máy điều động đại đội chống trả. Pháo binh, Không Quân yểm trợ rất hữu hiệu. Đă mấy lần địch khựng lại, rồi lại tấn công. Mễ điều động mấy tổ đại liên và đại bác 90 của Hùng “móm” kéo xuống lưng đồi tác xạ ngang hông địch. Tôi hướng dẫn và chỉ điểm cho L19 hướng tấn công của địch.
    “Khu trục tác xạ oanh kích mục tiêu, tôi nh́n rất rơ từng chiếc nón bay của bạn bè khi phi cơ chúi xuống trút bom Napalm trên đầu địch. Cả một biển lửa bùng lên quanh Charlie. Lửa hừng hực thiêu đốt rừng người, lửa nhân gian cuồng bạo. Bắc quân la hét lăn lộn trong biển lửa. Lửa từ lưng trời chụp xuống, lửa từ chân núi cháy lên… chỗ nào cũng lửa và lửa.
    “Pḥng không địch tác xạ như đan lưới. Hai khu trục trúng đạn, một nổ cháy như một cây đuốc trên không, chiếc c̣n lại với làn khói trắng sau đuôi bay chớp choáng về hướng Tân Cảnh. Tôi hét lên trong máy hỏi Xuân L19 và biết Kỳ bị bắn rớt, c̣n Long bị bắn ngay đuôi, sống chết chưa biết ra sao? “Không gian, tổ quốc, bầu trời! V́ nhiệm vụ, v́ bạn bè… đại bàng đă gẫy cánh. Vĩnh biệt Thần Phong can đảm tài ba mà tôi mới gặp mấy tuần trước tại Pleiku.
    “Sau nửa ngày thiêu đốt Charlie, từng thảm TOT hỏa tập pháo binh bắn cận pḥng với đầu nổ chụp. Địch bắt đầu tháo chạy. (TOT là lối tác xạ của nhiều pháo đội Pháo Binh từ nhiều hướng khác nhau cùng bắn tập trung rất nhiều quả đạn vào cùng một mục tiêu). “Tiếng súng thưa dần, xác địch cháy cứng sườn đồi. Mùi da thịt cháy, mùi thuốc súng, làm tôi lợm giọng muốn ói. Đánh bao nhiêu trận, đụng địch bao nhiêu lần, nhưng thật t́nh tôi chưa bao giờ thấy địa ngục rực lửa thiêu đốt con người như hôm nay.

    “Anh Năm,
    “Tôi vẫn làm nhiệm vụ hàng ngày để báo cáo với Anh là “tụi nhỏ” đă làm theo lời Anh, đă chiến đấu như bày sư tử dữ, đă đánh đẹp như ngày theo Anh vào Dambe, Thiện Ngôn, Trại Bí... “Song Kiếm Trấn Ải”, biệt danh của Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù do Anh đặt đă làm những ǵ Anh muốn với trên 400 xác địch quân cháy la liệt quanh Charlie và cả trăm vũ khí bỏ lại chiến trường.
    “Hoàng hôn trên Charlie vẫn đẹp, tôi vẫn tựa giao thông hào nh́n những đám mây giăng mắc với hàng ngàn h́nh thể khác nhau. Mây trời như biển động dậy sóng theo gió đổi h́nh và theo nắng chiều đổi thay màu sắc, có lúc ánh vàng rực rỡ, có lúc rực đỏ như máu lửa Charlie, lại có lúc như ngàn vạn tinh binh cờ xí rợp trời bao vây thành quách. Sao Hiệp Sĩ vẫn rực sáng trên trời. Chùm sao Thơ Ấu của Anh, chùm sao trong giải ngân hà Anh đă theo đó về quê t́m lại tuổi thơ ấu nơi miền quê đất Bắc. Anh về tận Hà Đông, nơi Anh cất tiếng khóc chào đời, nơi êm đềm chỉ có diều bay theo gió và không có chiến tranh...
    “Tôi chỉ nhắc lại những ǵ Anh mơ ước trong những chiều cấm trại, bó gối ngồi ở lưng đồi trên hậu cứ Long B́nh, lơ đăng nh́n xuống gịng sông Đồng Nai mênh mông uốn khúc quanh các ḷ gạch nhả khói dưới chân làng Cao Thái, gần Tân Mai, Tam Hiệp... và xa xa pho tượng Tiếc Thương để súng ngang đùi như đang thương tiếc những người lính trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa. “Hùng “mập” và Thinh hỏi tôi sao vắng tiếng Anh. Tôi nói Anh c̣n đang say ngủ...

    “Số thương vong lên cao, quanh Charlie đầy xác địch. Mễ nói Thinh để lại mấy toán tiền đồn nhỏ, gài tối đa phục kích tự động, rồi rút về tăng cường pḥng thủ Bộ Chỉ Huy. Tôi trằn trọc cả đêm, chỉ chợp mắt được vài tiếng đồng hồ th́ trời sáng. Tôi nghe Liệu nói với Mễ: - “Hôm nay là ngày 13, con số không lành, thế nào chúng cũng pháo và tấn công ḿnh nữa. Tôi lo cho thương binh quá. Nếu không có thuốc và di tản kịp th́ chắc sẽ không qua khỏi. Mê Linh đưa tôi cây M16 hay M79 cho được việc. Tôi hết thuốc men rồi... “Không Quân và trực thăng vơ trang bắn phá để trực thăng tản thương cố gắng vào vùng. Nhưng tất cả đều vô hiệu, một trúng đạn ở phía bắc Yankee, một nổ tung gần Charlie và một chập choạng bay khỏi vùng với làn khói trắng bên hông. Thế là hết! Hy vọng tan theo mây khói. “Mễ ra lệnh cho Hùng 113 lục soát kiếm băi đáp phía bắc Charlie. Hùng báo cáo đụng địch khi kiếm ra băi đáp. H́nh như địch bố trí tại tất cả những trảng trống chung quanh Charlie để ngăn chặn tiếp tế hoặc đổ quân tiếp viện. Thinh dẫn đại đội 111 bung mạnh về hướng đông. Giao tranh dữ dội khi Thinh ra khỏi căn cứ hơn nửa cây số. Trung úy Thinh, đại đội trưởng đại đội 111 hy sinh trong trận đánh tàn khốc đầy máu lửa. Địch bố trí pḥng không 12 ly 7 và đại bác trực xạ kèm theo hàng hàng lớp lớp tấn công. Trung sĩ Lung, tay tổ trưởng nổi tiếng tháo vát, lỳ lợm của tiểu đoàn, chưa bao giờ thất bại trước bất kỳ một nhiệm vụ giao phó nào, cũng vừa gục ngă. Chuẩn úy Khánh, sĩ quan tiền sát pháo binh độc nhất không bị thương và đă chiến đấu cực kỳ dũng mănh để mang xác Thinh và đồng đội về căn cứ.

    “Xế chiều ngày 13, địch tấn công sau khi đă mưa pháo vào căn cứ từ lúc trưa. Hơn tuần lễ nay, hầu như ngày nào cũng vài tiếng đồng hồ ăn pháo. Cây cối đổ gẫy thêm, nằm ngổn ngang. Binh sĩ móc thêm những hàm ếch thật sâu trong các giao thông hào. Chỉ c̣n đường tơ kẽ tóc để sống c̣n, nên hệ thống trú ẩn đă được đào sới rất công phu.
    “Bây giờ th́ đi không được mà ở cũng không xong. Giao tranh tiếp diễn suốt đêm. Nhờ quen thuộc địa thế, quen từng ngă rẽ đường hầm. Nhiều khúc giao thông hào địch đă xâm nhập, nhưng cuối cùng cũng bị tiêu diệt v́ chúng không quen hệ thống địa đạo của ta. Hỏa châu vẫn bập bùng soi sáng núi đồi...
    “Trời sáng dần, ta và địch vẫn quần thảo đẫm máu, bám sát lấy nhau. Đă có lúc tôi, Mễ, Duffy và Toubib Liệu chiến đấu như những khinh binh khi địch đánh vào tới sát vị trí chỉ huy. “Đại đội 113 bị cầm chân nên không thể về tăng cường cho căn cứ. Tôi đề nghị với Mễ cứ để 113 ở ngoài làm trừ bị cuối cùng và tôi cũng đề nghị bỏ Charlie v́ thương vong quá cao, đạn dược c̣n rất ít. Mễ nh́n hàng loạt poncho bó xác Anh Năm, các sĩ quan, binh sĩ tử thương và các thương binh rên xiết nằm chật giao thông hào. “Có cái đớn đau, dằn vặt nào hơn khi thế cùng lực kiệt, không tiếp tế, không tản thương, không lương thực thuốc men... mà vẫn phải đương đầu với hàng hàng lớp địch quân, để rồi lần lượt gục ngă v́ kiệt sức!
    “Mễ, tôi, Duffy lấy quyết định cuối cùng: Bỏ Charlie vào lúc xế chiều, sau khi Duffy xin được mấy phi vụ B52 thả xuống phía nam và phía đông căn cứ để tiểu đoàn di tản. Đợt bom lửa cuối cùng thả ngay trên tuyến pḥng thủ đại đội 114 của Trung úy Cho đă đánh bật địch quân ra khỏi tuyến pḥng thủ. Chiến trường tạm lắng dịu, chỉ c̣n tiếng pháo binh tác xạ yểm trợ vào những điểm nghi ngờ địch quân tập trung dưới chân đồi. Chúng tôi biết chắc địch đang điều động mở một đợt tấn công khác.
    “Tôi thẫn thờ buồn bă châm điếu thuốc cho chú đệ tử bị thương. Thầy tṛ chia ngọt sẻ bùi với nhau từng miếng ăn, giấc ngủ trong mấy năm liền. Qua ánh mắt như chờ đợi, như ước mong khi tôi d́u chú về chỗ của tôi. Vết thương ở vai khá nặng, máu ra nhiều. Tôi nhắc chú cố gắng đi sát tôi, tới đâu hay tới đó. Chú mỉm cười bóp chặt tay tôi. Giọt nước mắt nóng rớt trên mu bàn tay...


    Anh Năm Nguyễn Đ́nh Bảo, Khóa 14 Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù "Song Kiếm Trấn Ải"

    “Chiều nay di tản. Thương binh nhẹ th́ đi theo, c̣n thương binh nặng th́ sao?! Không c̣n một phép nhiệm mầu nào đến với chúng tôi. Tôi báo cho Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù biết rằng chúng tôi sẽ phải di tản hai phần ba quân số thương vong, lương thực, thuốc men đă hết từ hai hôm trước.
    “Vĩnh biệt Anh Năm và các chiến hữu! Thôi th́ biết làm sao, đời lính chiến nay ở mai đi! “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Có mấy ai đi mà trở về trong buổi loạn ly?!
    “Tôi và Hùng “móm” lấy hướng 800 dẫn đầu đoàn quân ào ra khỏi Charlie khi ánh nắng chiều cuối cùng vừa khuất sau dẫy núi phía tây, trong khi pháo binh bắn ngăn chặn phía sau và bên hông để ngăn địch truy kích. Nhờ mấy phi vụ đánh bom hồi chiều và ba toán tiền đồn nằm sẵn từ buổi trưa, đoàn quân ào đi không gặp kháng cự.

    “Xuống khỏi chân đồi chừng 400 thước th́ B52 rải từng thảm bom ở phía nam, đông nam căn cứ. Chúng tôi cố tránh thả bom ngay đỉnh đồi, v́ nghĩ rằng biết đâu những thương binh nặng c̣n chưa theo kịp và thân xác Anh Năm cùng bao đồng đội tử thương c̣n nằm tại đó. Bom rít qua đầu. Cơn địa chấn bom và sức ép làm cả đơn vị lăn lộn bên sườn núi. Tất cả đều kiệt lực. Mễ nằm gục v́ vết thương hôm qua. Mồm tôi ứa máu v́ quá mệt mỏi và kiệt sức. Duffy cũng chẳng hơn ǵ, c̣n Toubib Liệu gục xuống bên gốc cây bất động.
    - Hải! Coi hướng cho đúng và hỏi coi thằng 3 tới đâu rồi? Với bản năng sinh tồn, chúng tôi lại vùng lên lao về điểm hẹn. Đêm tối đen, lính nắm vai áo nhau mà đi, kẻ mạnh d́u kéo thương binh, tựa lưng vào cây rừng để lấy thêm sức tiến qua cây khác. Kim địa bàn lân tinh giao động, hướng 800, hướng của sự sống và hy vọng. Hỏa châu vẫn bập bùng trong đêm tối.
    “- Khều! Ông nghĩ ḿnh thoát không? Nó mà phục kích là kể như chết chắc! “- C̣n chừng một cây số nữa th́ tới nơi. Tao đă liên lạc được với Hùng “mập” rồi, hắn sắp tới. Đừng nói nhảm, cái miệng lép xép, sui bỏ mẹ! “Điểm hẹn Mễ và tôi chọn là một khoảng trống ngay cạnh bờ sông Pôkô để đơn vị lấy nước và di tản thương binh. Trảng trống trong khu rừng lau là điểm hy vọng, điểm mong đợi cuối cùng của những người lính Dù sau 7 ngày đêm quần thảo với 2 trung đoàn địch, kèm theo những trận mưa pháo đẫm máu trên hỏa ngục Charlie.
    “Trời sáng dần, bắt tay được với đại đội 113, Hùng “mập” đang rải quân sát b́a rừng và tung các toán tiền đồn ra xa.
    “Như một gáo nước lạnh tạt vào mặt tôi và Mễ, v́ Lữ Đoàn cho biết chưa có trực thăng và ra lệnh cố gắng chiến đấu để về Tân Cảnh.
    “Chiến đấu?! Chiến đấu trong thế cùng lực kiệt với quân số 167 người, kể cả thương binh đang kiệt sức v́ đói khát đă 3 ngày. Nhưng Nhẩy Dù là “cố gắng” nên chúng tôi lại vùng lên. Tôi không buồn trả lời và đưa mắt nh́n Duffy, viên Thiếu Tá Lực Lượng Đặc Biệt đă sống với tụi tôi như anh em, chia nhau từng bát cơm hộp cá. Vết thương rỉ máu trên đầu, trên ngực, nhưng Duffy vẫn cứng như một thỏi thép với cây XM18 và chiếc máy truyền tin đặc biệt của các toán Lực Lượng Đặc Biệt khi nhẩy xâm nhập.

    “Chúng tôi sẽ có máy bay Mỹ trong vài phút!
    “Ngả lưng nh́n trời xanh qua khe lá, chưa hút tàn điếu thuốc th́ có tiếng súng nổ của các toán tiền đồn của đại đội 113. Hùng “mập” báo cáo tất cả đều chạm địch. Pháo 82, B40, B41 và AK nổ vang một góc rừng. Địch ào tới tấn công. Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù vùng lên chống trả, lính đại đội 113 ào ra ngăn địch. Giọng Hùng sang sảng điều động các trung đội. Đúng là kẻ đến không mong, giặc Bắc phương ào vào vị trí đóng quân. Chúng tôi vừa bắn vừa rút vào khu rừng lau cao quá đầu người... “Đơn vị tan thành từng mảnh nhỏ, từng toán chiến đấu đơn độc. Tiếng chửi thề và tiếng la hét của ta, của địch vang khắp khu rừng lau và các sườn đồi kế cận, chỗ nào cũng có súng nổ. Địch gọi tên Mễ, tên tôi ra đầu hàng! Chắc chúng tra khảo thương binh để lấy tin tức. Ngay lúc đó, Duffy vừa liên lạc được với 2 chiếc trực thăng vơ trang Cobra, một chở quân và một O2 quan sát. Nhờ địa thế trống trải của khu rừng lau nên Cobra thấy rất rơ đâu là địch, đâu là bạn. Toán c̣n 36 người nên di tản làm 5 đợt v́ chỉ có một trực thăng chở quân. “Với hỏa lực khủng khiếp và chính xác của Cobra, địch khựng lại, trực thăng đáp xuống rừng lau: “- Liệu, ông đi trước đi! Chân ông bị thương ông không chạy nổi đâu! “- Tôi không đi, tôi ở lại với các ông. “- Đi đi, chân cẳng như thế mà ở lại. Ông nặng bỏ mẹ, tôi cơng ông không nổi đâu. “Vừa nói, tôi vừa lùa Liệu lên trực thăng với 6 người lính khác. Máy bay vút đi. Trong ánh mắt Liệu có một chút ǵ vương vấn xót xa. “Địch lại ào về phía chúng tôi. Cả toán vừa chạy vừa bắn lại. Nhờ hỏa lực yểm trợ của Cobra, thêm được 3 đợt bốc quân an toàn. Toán c̣n lại Mễ, Duffy, tôi và Trung úy Long bị địch đuổi bắt tới cùng. “Trong mấy chuyến trực thăng di tản vừa qua, phi công Mỹ muốn Duffy được bốc đầu tiên, nhưng Duffy nh́n tôi và nói: “- Tôi không bỏ các anh, những chiến hữu đúng nghĩa nhất mà tôi chưa hề gặp trong cả đời chinh chiến. Tôi biết rơ, nếu tôi đi đợt đầu th́ chắc khó hy vọng có máy bay trở lại bốc nốt các anh.
    “Ngay lúc đó, cặp Cobra, trực thăng vơ trang mới vào vùng, chúng tôi sẵn sàng chờ đợi di tản đợt cuối cùng. “Trực thăng vừa đáp, tôi lên sau cùng. Máy bay vừa lên cao vài thước th́ một loạt AK bắn lên tàu, tôi trúng đạn ở chân phải và rớt từ trực thăng xuống đất. Tôi hét lên và chỉ kịp nh́n đuôi trực thăng vút lên... Trời xanh mây trắng ngang tầm mắt. Tôi đứng lên, nhưng gục xuống ngay v́ đạn bắn trúng bàn chân và ống chân bên phái. Tôi tự nghĩ chắc sẽ chết v́ vết thương ra hết máu, v́ đói, v́ khát, v́ kiệt sức cho dù địch không bắt được tôi. Khẩu súng Colt và cây M16 c̣n đầy đạn. Tôi chợt nghĩ đến hồi tháng 6 năm 65, một lần Đồng Xoài tan nát, tôi đă mất Dũng, thằng bạn thân cùng khóa. Tôi đă thấy Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Phó và mấy trăm chiến hữu gục ngă trong trận đánh kinh hăi hồi tôi mới ra trường Vơ Bị. Lần đó, với vết thương bể mặt nát tay, tôi vẫn về được sau 5 ngày lê lết, đói khát trong rừng với vết thương đă làm độc.

    “Giờ là tháng 4 năm 72, Charlie rực lửa, tôi đă mất Anh Năm và bao nhiêu chiến hữu c̣n nằm lại Charlie. Tôi ước tính từ đây về Tân Cảnh chỉ c̣n 5 cây số, nhưng là 5 cây số đồi cao vực thẳm, 5 cây số đường rừng và tôi lại đang bị thương ở chân th́ làm sao tôi đi được. Tôi có thể sẽ gục chết ở một xó rừng, khe suối và bày kiến sẽ kéo nhau rúc vào thân thể, thịt xương sẽ rữa nát h́nh hài. H́nh ảnh thân yêu vợ con, cha mẹ chập chờn trong trí óc. Thằng bé mới sinh chỉ gặp mặt đôi lần... C̣n phép lạ nào sẽ đến với tôi?! Sau 7 ngày chiến đấu quên ăn quên ngủ, sao giờ này tôi lại trúng đạn từ trực thăng rớt xuống. Chỉ chậm một giây nữa là tôi sẽ bay về vùng trời êm ấm...

    . . .

    Last edited by BlackHole; 31-12-2018 at 02:49 AM.

  2. #2
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    966

    Người ở lại Charlie, Cố Đại tá Nguyễn Đ́nh Bảo (phải),
    Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn Song Kiếm Trấn Ải 11 Dù (với Đ/U Dù Đoàn Phương Hải. tác giả, trái)

    “Tiếng trực thăng trên đầu làm tôi vụt đứng lên bằng bàn chân trái. Tôi giơ cao tay, miệng hét lớn. Tôi không thể tin, mồm tôi há to, mắt mở lớn. Trực thăng xà xuống băi cỏ. Duffy giơ hai tay nắm chặt giây đạn và một tay tôi, rồi kéo mạnh tôi lên. Máy bay vút lên với một loạt đạn bắn trúng thân tàu. Chiếc trực thăng nghiêng một bên rồi bay thẳng, máu phun có ṿi từ anh xạ thủ đại liên người Mỹ làm ướt mặt tôi và Duffy. Mễ kéo tôi vào giữa thân tàu khi nửa người tôi và hai chân c̣n đong đưa ngoài không khí. Duffy chồm tới bịt chặt vết thương trên ngực anh xạ thủ đại liên.

    “Nằm trên sàn tàu, tôi không thể tưởng và không thể tin tôi c̣n sống trước t́nh chiến hữu cao cả của hai người lính ở hai đất nước khác nhau. Duffy ôm lấy tôi... Có một chút nghẹn ngào trong khoé mắt. V́ vết thương quá nặng, anh xạ thủ đại liên Mỹ đă qua đời, anh phi công phụ đang gục đầu bên cửa máy bay với vết thương ở tay.
    “Khi về đến trạm cứu thương, tôi mới biết anh xạ thủ đại liên Mỹ đă hết nhiệm kỳ, ngày mai anh sẽ về Mỹ, anh đang có mặt trên trực thăng th́ vô t́nh chiếc máy bay nhận được lệnh vào bốc tụi tôi. Định mệnh thật trớ trêu! “Tảng sáng hôm sau 15 tháng 4, Thành “râu”, bạn cùng khóa 19 của tôi, từ Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn vần vũ trên trực thăng bay ngang Charlie, ngó cảnh hoang tàn đổ nát đang âm ỷ cháy để chào Anh Năm lần cuối và t́m cách bốc các binh sĩ lạc lơng sau trận đánh hăi hùng ngày hôm trước.

    “Anh Năm,

    “Đó là tất cả những ǵ đă đến với đơn vị, sau khi Anh ra đi. Mặc dù Anh ở lại Charlie, nhưng Anh không cô độc, anh có “tụi nhỏ” ở lại cùng Anh. Anh sẽ ngắm hoàng hôn để nhớ thời trai trẻ, Anh sẽ gặp lại h́nh ảnh một “công tử càn” của Hà Nội năm xưa hay một thanh niên mới vào đời trong Trại Học Sinh Nghèo Phú Thọ, bỏ Bắc vào Nam năm 1954 khi đất nước chia đôi. Chiếc đai đen nhu đạo và những kỷ niệm “giang hồ” Anh hay kể cho tụi tôi nghe vẫn măi măi là những ǵ đẹp nhất khi bạn bè ngồi nhắc tới anh.


    “Anh Năm thân kính,
    “Đúng như Anh đă tiên liệu khi đặt chân lên Charlie, nỗi lo âu, sự tiên đoán của Anh đă thực xảy ra cho Bộ Chỉ Huy Nhẩy Dù và các đơn vị bạn.
    “Charlie mất ngày 14 tháng 4 th́ Delta, Metro ở phía nam cũng phải di tản. Ṿng đai Nhẩy Dù bỏ trống bên hông, Sư Đoàn 320 Cộng quân tăng thêm Sư Đoàn 2 ào ào như nước vỡ bờ đánh chiếm Tân Cảnh, khởi đầu cho những ngày Hè rực lửa trên quê hương.
    “Sông Lô, Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù phải mở huyết lộ đánh qua đỉnh Chu-Pao, kéo toàn Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù về Kontum.
    “Ngày 24 tháng 4 năm 72, Tân Cảnh rơi vào tay giặc, đúng 12 ngày sau khi Anh đi khuất. Gịng sông Dapla quanh thị trấn Kontum đỏ ngầu, xác ta và địch ḥa với màu đỏ của những hàng phượng vĩ buồn thảm gục ngă hai bên bờ sông. Kontum, Pleiku đang chiến đấu một mất một c̣n với giặc. Mùa hè thảm khốc đang ập đổ trên quê hương, mở đầu cho thiên Chiến Sử oai hùng của Quảng Trị, Kontum và B́nh Long anh dũng.




    T/Tá Nguyễn Đ́nh Bảo (đeo kính) chỉ huy cuộc hành quân tiến chiếm căn cứ Damber Campuchia tháng 8/1971

    “Anh Năm,
    “Sau ngày tôi bị thương, tôi được đưa về bệnh viện Đỗ Vinh trong căn cứ Hoàng Hoa Thám. Loạt đạn AK bắn bể xương bàn chân và mắt cá chân bên phải. Mổ xẻ xong xuôi, mấy anh Toubib cho biết tôi không c̣n hy vọng quay lại đơn vị tác chiến và nhẩy dù được nữa, v́ xương bàn chân và mắt cá đă gẫy vụn làm nhiều mảnh. Tôi lê bàn chân bó bột về nhà chờ 29 ngày tái khám và bắt đầu làm quen với đôi nạng gỗ trên vai.
    “Anh Năm,
    “Đă năm lần bảy lượt tôi vào cư xá sĩ quan Chí Ḥa muốn thăm Chị và cháu Tường, nhưng lần nào cũng vậy, khi đỗ xe gần cửa nhà Anh, nh́n vành khăn tang trên đầu chị và cháu th́ tôi lại không có can đảm và đổi ư ra về.
    Tôi sợ sự thật, tôi sợ khi phải đối diện với chị. Tôi biết ăn nói làm sao, giải thích thế nào về sự ra đi của Anh. C̣n cái cảnh khổ và chua xót đớn đau nào hơn khi h́nh Anh trên bàn thờ nghi ngút khói hương, nhưng thân Anh lại không có được một nấm mồ? Người ta nói nghĩa tử là nghĩa tận, sống mỗi người mỗi nhà, chết mỗi người mỗi mồ, nhưng chúng tôi đă bất lực, đă bỏ Anh mà đi, bỏ Anh ở lại Charlie nơi rừng xanh núi đỏ xa hút măi tận Trường Sơn.

    “Anh Năm,
    “Ngoài đời Anh sống hào sảng, phóng khoáng và thật “giang hồ” với bằng hữu anh em, c̣n trong quân ngũ, Anh như một cây tùng ngạo nghễ giữa băo táp phong ba, Anh không nịnh cấp trên đè cấp dưới, Anh chia xẻ vinh quang buồn thảm với sĩ quan và binh sĩ thuộc cấp. Anh sống hùng và đẹp như thế mà sao lúc ra đi lại quá phũ phàng!?
    “Tôi lang thang ra phố, người ta vẽ chân dung nhiều sĩ quan tử trận trên khắp 4 Quân Khu thuộc đủ mọi binh chủng, trên những khung vải thật lớn dựng trên công viên hay những giao lộ tấp nập người qua lại, với hàng chữ “Anh Hùng” và hai chữ “Tiếc Thương”. Người họa sĩ có nét bút xuất thần vẽ thật giống Anh với đôi hàng chữ: “Tiếc Thương Cố Đại Tá Nhẩy Dù Nguyễn Đ́nh Bảo, Người Anh Hùng Đă Ở Lại Charlie” trên khung h́nh treo trước công viên Quốc Hội.
    Tôi ngừng xe, nh́n Anh thật lâu giữa gịng người xa lạ trên hè phố, nhưng đầu óc th́ chỉ thấy khói lửa ngập trời bên tiếng ḥ reo ở trận chiến Charlie.



    Tôi về lại vườn Tao Đàn, vẫn những hoa nắng tṛn tṛn xuyên qua khe lá, lấp loáng trên bộ đồ hoa ngụy trang theo mỗi bước chân. Cây vẫn xanh, chim vẫn hót, ông lăo làm vườn vẫn lom khom cầm kéo tỉa những chùm hoa loa kèn, những cụm hoa móng rồng và những bụi hồng đầy mầu sắc. Bên gốc cây cạnh căn lều chỉ huy của Anh hồi tháng trước khi c̣n đóng quân ở đây, tôi thấy có bó hồng nhung đỏ điểm vài cánh hoa loa kèn trắng.
    Chống đôi nạng gỗ xuống xe, tiếng gơ khô cứng của đôi nạng trên mặt đường khiến ông lăo ngẩng đầu và nhận ra tôi. Xiết chặt tay ông cụ, trong ánh mắt già nua chùng xuống nỗi tiếc thương, cḥm râu bạc lưa thưa phất phơ trước gió. Ông cụ đọc báo, nghe đài phát thanh nên biết Anh đă ra đi, nên sáng nào cũng để một bó hoa tưởng nhớ và tiễn đưa Anh. Cụ mời tôi điếu thuốc Quân Tiếp Vụ, rồi ngồi xuống cạnh gốc cây, tay vuốt nhẹ trên những cánh hồng, sợi khói mỏng manh của điếu thuốc nhà binh quện trong tiếng nói:
    “- Thuốc lá Ông Quan Năm cho, tôi vẫn c̣n đủ dùng cho đến cuối năm. Mấy chục năm nay tôi mới gặp một ông quan nói chuyện thân mật và tốt bụng với những người dân như tôi. Người tốt mà sao Ông Trời bắt đi sớm như vậy!?
    “Tôi lên xe theo xa lộ Biên Ḥa để về hậu cứ tiểu đoàn. Doanh trại Đồi Mũ Đỏ hoang vắng buồn tẻ khi các đơn vị đang bận hành quân. Qua khu trại gia binh, khăn sô trải trắng trên đầu góa phụ, bầy em bé thơ ngây đang nô đùa hồn nhiên trước sân trường.
    Vượt con dốc, chạy một ṿng quanh doanh trại, sông Đồng Nai vẫn mênh mông uốn khúc quanh các ḷ gạch nhả khói dưới chân đồi, rừng cây khuynh diệp bên kia vẫn thoang thoảng mùi dầu gió trên không. Giàn hoa dưa tím trước pḥng Anh và tôi thoảng mùi thơm đong đưa trước gió. Cảnh cũ c̣n đây, nhưng người xưa sẽ chẳng trở về. Tôi chợt nghe tiếng kèn hạ cờ buổi chiều trên đỉnh đồi doanh trại. Tôi lại nghĩ tới Anh. Lúc nằm xuống không một tiếng kèn đưa tiễn và thiếu cả một lá cờ phủ lấy xác thân. Tôi dục chú tài xế lái xe xuống đồi thật nhanh, tôi đang chạy trốn Anh, chạy trốn đồng đội và thằng bé đệ tử của tôi. Tất cả h́nh như đang nói nói cười cười đâu đây trong doanh trại.

    “Anh Năm,

    “Anh đă ra đi hơn một phần tư thế kỷ, 26 năm biết bao vật đổi sao rời. Để tôi làm lại nhiệm vụ ngày xưa kể lại anh nghe...

    “Mễ, Liệu và tôi, những người gần gũi Anh nhất trong trận chiến Charlie đă không c̣n ở quê nhà và chúng tôi đă nhấp nhô theo vận nước nổi trôi. Đàn em của Anh đă bỏ quê hương đi về “quê hương mới?!”
    Mặc dù Anh đă đi thật lâu, con trai của Anh đă là một y sỹ, chiến hữu của Anh kẻ ở người đi, nhưng những người c̣n lại vẫn nhớ Anh, họ vẫn nhắc đến tên Anh qua bài hát mà Nhật Trường viết tặng riêng Anh, viết cho “Người Ở Lại Charlie.”
    “Mấy chục năm sau, vượt đại dương muôn trùng sông nước, theo gió bay ngang dọc địa cầu, dù ở nơi đâu, chân trời góc biển, nơi đâu có người Việt th́ nơi đó họ hát bài ca bất hủ để nhớ Anh. Ngay cả ở quê nhà, kẻ thù của Anh cũng vẫn nghe dân chúng hát bài ca để nhắc đến tên Anh.
    “Chắc Anh chưa quên ông “Sĩ Quan Vơ Bị Quân Y” Tô Phạm Liệu, ông Toubib Nhẩy Dù ngực đỏ huy chương, người uống VSOP (Very Sexy Old Parachutist) như hũ ch́m. Khi hành quân th́ một bên ống chích, một bên M16, cũng ăn pháo, cũng la hét, cũng bắn hết băng M16 này đến băng M16 khác khi đánh ở Charlie, Dambe, Hạ Lào, Ashao, Aluoi...
    “Tháng 4 năm 75. Cũng lại tháng 4, tháng mà Anh đă đi khuất, Liệu di tản qua Mỹ, thi lại bằng y sĩ và hành nghề tại tiểu bang Lousiana trong một bệnh viện tâm thần. Liệu vẫn như xưa, vẫn vui vẻ, ồn ào. Ông đội trưởng “Đội Hổ Sói Con” vẫn gặp tôi, Duffy và Mễ vài tháng một lần, nhưng Liệu có cái tên mới, để tôi đọc Anh nghe, chắc Anh lại búng tay, đá sỏi mà cười: “Đệ Nhất Ẩm Sĩ, Cuồng Thái Y Tô Phạm Liệu”. Làm ǵ có ai trên đời có cái tên lạ lùng và hay như vậy. “Đệ Nhất Ẩm Sĩ”, người uống rượu số 1 th́ Anh đă biết rồi, c̣n “Cuồng Thái Y” là anh Toubib làm việc ở nhà thương chữa cho mấy người điên.
    “Liệu vẫn “ra đi không mang ba-lô, quần áo cứ thế đút túi” mà giang hồ với anh em. “Bến Cũ” nào cũng nồng ấm khi Liệu ghé ngang. Nếu ngày xưa chinh chiến có cướp mất Anh, th́ ngày nay, bệnh hoạn đâu có tha Tô Phạm Liệu. Mặc dù là “Quan Thái Y” nhưng Liệu cũng không tránh khỏi bệnh nan y. “Ẩm Sĩ” họ Tô đă bỏ “Bến Cũ” mà đi. A Lịch Sơn thành (Alexandria) là nơi Liệu làm việc và lặng lẽ ra đi sau cả năm bạo bệnh cuối đời...
    “Mê Linh, Phương Hải, Sông Lô, từ Bắc Cali “đội pháo” mà đi.
    “Bến Cũ” Nam Cali, Dallas, Houston, New Orleans “hành quân” kéo tới. Đám gà nhà Tịnh Hô, Đà Lạc, Phán, Trác từ New York, DC kéo sang. “Nam Xương”, người kể chuyện Anh trong thiên bút kư Mùa Hè Đỏ Lửa đọc bài điếu văn, có nhắc đến Anh, nhắc đến Charlie... cỏ cây hoa lá c̣n rung động, nói chi đến đám bạn bè đỏ mắt đứng quanh.
    Ở đâu “Bến Cũ” cũng về để dự đám táng, đến để nh́n Liệu ra đi, đến để mỗi người một ly nhỏ VSOP với “Ẩm Sĩ” họ Tô.
    Ngày xưa th́ bạn bạn bè bè. Bây giờ th́ tro tàn thiêu xác!
    Gần một phần tư thế kỷ sau, Liệu ra đi ở một nơi cách Charlie nửa trái địa cầu. “Anh Năm và Toubib Liệu thân kính, “Viết để nhớ Anh, để kể sự thật về Charlie và cũng để báo cáo với Anh là Liệu đă trở lại Charlie với Anh, với tụi nhỏ trong ngày giỗ tṛn một năm của Liệu. Đáng lẽ tôi muốn báo cáo với Anh từ lâu, nhưng mỗi lần cầm bút lên th́ lại không biết viết ǵ. Không biết viết làm sao, toàn là chuyện kẻ ở người đi làm ḷng chùng xuống, viết hoài không nổi.
    “Hôm tháng rồi đi xem một phim chiến tranh. Phim chiếu cảnh một ông già mang gia đ́nh qua băi biển Normandie bên Pháp. Ông cụ đi một ḿnh vào nghĩa trang, bóng người chập chững trong nghĩa địa toàn thập tự giá trắng tinh. Từ ngàn dậm xa xôi ông mang bó hoa đến thăm cấp chỉ huy, thăm những chiến hữu cùng chung đại đội với ông đă nằm xuống khi cùng ông cụ đánh chiếm một khu phố. Bao nhiêu bạn bè hy sinh, chỉ c̣n một ḿnh ông cụ sống sót. Ngày Chiến Sĩ Trận Vong, một ḿnh đứng nh́n băi biển đổ quân, tiếng binh đao khói lửa, h́nh ảnh bạn bè gục ngă, cụ chập choạng với nước mắt lưng tṛng. Đi vào nghĩa trang, gục đầu bên mộ để nhớ bạn và h́nh ảnh chiến trận năm xưa. Gia đ́nh, vợ con rời xa nghĩa trang để cụ một ḿnh sống lại với những huy chương dĩ văng.
    “Ngày Chiến Sĩ Trận Vong, tôi không thể đi thăm Anh, đồng đội và thằng bé đệ tử thân tín của tôi đă ở lại Charlie. Không phải v́ Anh ở quá xa, nhưng v́ 23 năm qua tôi chưa có ư định trở về. Nơi nào người ta cũng kèn hoa cho người đi khuất, vinh danh tưởng nhớ những chiến sĩ vị quốc vong thân, chỉ riêng nơi quê cũ, từ khi đất nước đổi thay, đâu có ai c̣n nhắc đến Ngày Chiến Sĩ Trận Vong!?
    “Xin thắp nén hương ḷng để tưởng nhớ Anh và tất cả bạn bè đă hy sinh cho tổ quốc. “Tôi tự nhủ ḷng, một ngày nào đó, nếu có dịp, tôi sẽ về, sẽ đến Charlie, sẽ đến những chiến trường xưa cũ, để nhớ bạn bè, để thắp một nén nhang thăm Anh và đồng đội. Nhưng, chả biết bao giờ th́ làm được, mặc dù bây giờ tóc đă điểm sương! “Xin tạ lỗi cùng Anh và Chiến Hữu. “Toubib Liệu, gọi tên ông một lần nữa: “Đệ Nhất Ẩm Sĩ, Cuồng Thái Y Tô Phạm Liệu” để nhớ Giỗ đầu của ông và gửi về ông hai chữ “Hồ Trường”: ...... “Hồ trường, Hồ trường... nay biết rót về đâu...”
    Bắc California, mùa đông 1998
    Mũ Đỏ: Đoàn Phương Hải

  3. #3
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    966


    . . .


    Nhân lần gặp gở với cá nhân tôi, Phan Nhật Nam (người viết bút kư Mùa Hè Đỏ Lửa) vào một buổi cuối năm 1972 tại Sài G̣n. Trần Thiện Thanh có nhận xét: “Ông (PNN) viết đọc nghe ghê quá – Đoạn viết trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” ở Quảng Trị.. Viết về tiếng lửa lép bép thịt da người nung chín!!”. Tôi thành thật trả lời: “Sợ viết như thế cũng chưa đủ. C̣n nhiều điều ghê gớm, đau thương hơn nữa..” Khi trở lại quán nhạc Tiếng Hát Đôi Mươi (góc đường Lê Lợi-Công Lư), Trần Thiện Thanh ngơ ư muốn viết một ca khúc căn cứ trên những nội dung Mùa Hè Đỏ Lửa. Tôi ngần ngại.. “Sách tôi viết theo lối phóng sự chứ đâu phải thơ để phổ nhạc.. Lại toàn chuyện súng đạn, chết chóc.. Tuy nhiên nếu muốn th́ ông lấy thử đoạn nói về Anh Bảo, chương “Người Ở Lại Charlie”. Và ca khúc đă thành h́nh với tiếng lời vang dội núi sông, thăm thẳm trong ḷng người hơn ba-mươi năm qua, hiện vẫn c̣n tác động mạnh mẽ người nghe (trong cũng như ngoài nước).
    Bi kịch không riêng đối với những người lính Tiểu Đoàn 11 Dù, qua lần đi khuất của Cố Đại Tá Nguyễn Đ́nh Bảo – Nhưng cũng là bi kịch của mỗi thân phận Người Miền Nam hiện thực qua hy sinh xả kỷ của Người Lính, sự chịu đựng âm thầm của Người Vợ-Đứa Con Người Lính. Và hôm nay ba-mươi-bẩy năm sau ngày mất quê hương, Nỗi Đau kia hằng mới v́ Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung, cùng với những dấu tích kỳ diệu miên viễn của T́nh Yêu trong đời sống trần thế giới hạn của nhân sinh. . . (Phan Nhật Nam)

    Dưới đây chúng ta hăy cùng nhau đọc lại chương "Người Ở Lại Chảlie" trích từ bút kư chiến trường" của Phan Nhật Nam


    Trang b́a bản nhạc "Người Ở Lại Charlie" của Nhật Trường Trần Thiện Thanh viết vinh thăng cho Cố Đại Tá Nguyễn Đ́nh Bảo




    Mùa Hè 1972, trên thôn xóm và thị trấn của ba miền đồng bốc cháy một thứ lửa nhân tạo, nóng hơn, mạnh hơn, tàn khốc gấp ngàn lần, vạn lần khối lửa mặt trời sát mặt. Lửa ngùn ngụt. Lửa bừng bừng. Lửa kêu tiếng lớn đại pháo. Lửa lép bép nức nở thịt da người nung chín. Lửa kéo dài qua đêm. Lửa bốc khói mờ trời khi ngày sáng. Lửa gào chêm tiếng khóc của người. Lửa hốt hoảng khi cái chết chạm mặt. Lửa dậy mùi thây ma. Lửa tử khí trùng trùng giăng kín quê hương thê thảm khốn cùng.


    Kinh khiếp hơn Ất Dậu, tàn khốc hơn Mậu Thân, cao hơn băo tố, phá nát hơn hồng thủy. Mùa Hè năm 1972, Mùa Hè máu. Mùa Hè của sự chết và tan vỡ toàn diện. Mùa Hè cuối đáy điêu linh. Dân tộc ta sao nỡ quá đọa đày!
    Ba sư đoàn bộ binh 304, 308, 324B, cùng sáu trung đoàn địa phương của Khu 5, ba trung đoàn chiến xa, hai trung đoàn đặc công và một sư đoàn pháo nặng 130 ly, cho mặt trận Trị-Thiên. Ba sư đoàn 5, 7, 9, tăng cường sư đoàn B́nh Long, hai Trung Đoàn 202 và 203 chiến xa, được yểm trợ bởi một sư đoàn pháo nặng tại mặt trận An Lộc. Hai Sư Đoàn 320 (Thép) và Sao Vàng, một trung đoàn chiến xa tấn công vào Tân Cảnh, Kontum. Hướng tiến được dọn đường bởi một trung đoàn pháo đặt từ rặng Big Mama Mountain, vùng tam biên-giới Việt-Miên-Lào. Cộng quân chơi tṛ chơi máu, mở đầu những „ngày hè đỏ lửa,“ trận cuối cùng để t́m kiếm kết thúc cho mười năm chiến tranh „giải phóng“ cạn lực, sau „tổng-công-kích thất bại Mậu Thân 1968.“
    Quân ta phải chống lại. Chống giữ để tự vệ. Chống trả nơi biên giới cuối cùng: Tự Do hay Nô Lệ. Sống hoặc Chết. Trận đấu quyết tử và trận chiến cực điểm. Ba tháng hay 100 ngày chiến trận, những kỷ lục chiến trường thay đổi từng nấc, từng bậc lớn, từ 2,000 quả đạn cho cứ điểm Charlie, Kontum đến 8,000 quả cho An Lộc. Bắc quân đi bước tàn nhẫn không nương tay và quân dân Miền Nam đồng đương cự với nỗ lực cao nhất tại „Điểm đứt hơi – Điểm vỡ của chiến trận.“ Chúng ta đă chiến đấu giữ vững và kiêu hùng chiến thắng.

    Hôm nay, ngày đầu tháng 8, cuộc đại chiến đă bước qua tháng thứ tư, và có cơ kéo dài thêm một thời gian nữa, nhưng quân dân ta cắn răng, ngậm chặt, hứng hết tai họa, đựng đầy khổ nạn… Chịu thêm nữa cũng thế, đánh thêm nữa cũng được. Trong nguy nan, Dân tộc biến thành „thánh chịu nạn.“ Dân tộc kiêu dũng, quật cường, vượt qua, bất chấp tất cả để tồn tại. Ngọn lửa Mùa Hè 1972 nung độ nóng cao nhất trui rèn chúng ta, Người Việt Nam muốn sống đời đáng sống của Người. Người Tự Do.

    Được đi, chứng kiến và dự phần vào ba mặt trận, ba vùng đất quê hương, người viết không mong ǵ hơn ghi lại một vài khía cạnh của cuộc chiến, cuộc chiến vĩ đại vượt mọi chiến tranh, mà phải một ủy ban quân sử, trong thời gian dài mới có khả năng, điều kiện thâu tập và đúc kết toàn thể. V́ chỉ ghi được biến cố qua một vài khía cạnh, với những người, đơn vị lâm chiến quen thuộc, người viết xin tạ lỗi do những thiếu sót mà một cá nhân không thể nào tránh khỏi, và đă phải viết lại từ một khoảng ngày tháng quá gấp rút.

    CHARLIE, TÊN NGHE QUÁ LẠ


    Quả t́nh nếu không có trận chiến mùa Hè năm 1972, th́ cũng chẳng ai biết đến Charlie, v́ đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ nằm trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum.

    Charlie, „Cải Cách,“ hay „C,“ đỉnh núi cao không quá 900 thước trông xuống thung lũng sông Pô-Kơ và Đường 14, đông-bắc là Tân Cảnh với mười hai cây số đường chim bay, đông-nam là Kontum, thị trấn cực bắc vùng Tây Nguyên. Charlie bị bao vây bởi Căn Cứ 5, Căn Cứ 6 ở phía bắc, những mục tiêu quân sự nổi tiếng, những vị trí then chốt giữ cửa ngơ vào Tân Cảnh mà bao nhiêu năm qua, bao nhiêu mùa hè, mùa mưa rào, báo chí hằng ngày trong và ngoài nước phải nhắc tới khi những hạt mưa đầu mùa rơi xuống vùng núi non, cạnh sườn cực tây địa giới nước Nam.

    Năm nay, sau bao nhiêu lần thử thách từ mùa mưa 1971 qua đầu xuân 1972, Bắc quân vẫn không vượt qua được cửa ngơ hai căn cứ số 5, số 6, thế nên cộng quân đổi hướng tiến, ḷn sâu xuống phía nam hai căn cứ trên để tiếp tục sự nghiệp „giải phóng“ với mục tiêu cố định: Tân Cảnh, cắt Đường 14.

    Ṿng đai Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù nằm về phía trái quốc lộ có h́nh cánh cung bắt đầu bởi căn cứ Anh Dũng ở cực bắc đến Yankee (hay Yên Thế,) ngă lần xuống nam với Charlie, Delta, Hotel, Metro và chót hết là Bắc Ninh, phía đông Vơ Định, nơi đặt bộ chỉ huy lữ đoàn. Ṿng đai này có nhiệm vụ che chở phía trái đường 14, phát hiện sự di chuyển từ đông sang tây của địch xong dùng phi pháo để tiêu diệt. Đây là lư thuyết chiến thuật, quan niệm hành quân của phía Cộng Ḥa đối với mục tiêu và hướng tiến của phía Cộng Sản hằng bao nhiêu năm. Nay bộ đội Bắc Việt thay đổi đường đi và quân đội Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) lập các ṿng đai Nhảy Dù như Yankee, Charlie, Delta bắt đầu được đặt tên để tiếp nhận định mệnh tàn khốc trong cuộc chiến trùng trùng. Đoạn sau kể về trận đánh ở Charlie, trận đánh nhỏ của một tiểu đoàn Nhảy Đù, nhưng điển h́nh cho toàn thể bi hùng cực độ về người Lính Chiến Việt Nam.

    ĐẾN ĐÂY NGƯỜI GẶP NGƯỜI

    Đường ṃn Hồ Chí Minh (HCM) trên đất Lào khi chạy đến vùng Tam-Biên phía đông cao nguyên Boloven chia ra hai nhánh. Nhánh thứ nhất từ Chavane đâm thẳng biên giới Lào-Việt xuyên qua dăy Chu Mon Ray để nhắm vào Darkto. Nhánh thứ hai từ Bản Tasseng qua trại Lệ Khánh, và Kontum là mục tiêu cuối cùng của quan niệm chiến thuật Bắc quân: Phải chiếm giữ thị trấn cực bắc này để làm bàn đạp lần tấn công Pleiku, rồi từ đây tiến về phía đông, xuống b́nh nguyên tỉnh B́nh Định.


    Gọi nhánh thứ nhất là nhánh Bắc và nhánh thứ nh́ là nhánh Nam. Trong chiến dịch Xuân-Hè 72 của Mặt Trận B3 (chiến trường Tây Nguyên), đường rẽ phía Bắc được sử dụng, từ đỉnh 1773 của núi Chu Mon Ray, con đường không thể gọi là một nhánh nhỏ của „đường ṃn Hồ Chí Minh“ nữa, nhưng phải gọi đó là một „bypass“ của một cải lộ tuyến phẳng phiu trơn láng, chạy ngoằn ngoèo qua các cao độ, đổ xuống những thung lũng hun hút của dăy Big Mama Mountain rồi ḅ theo hướng đông đến đỉnh Kngok Kon Kring. Đỉnh núi này cao quá, con đường phải quẹo qua trái, đi lên cao độ 960 và tạm dừng lại. Dừng lại, v́ phía đông, hướng trước mặt chỉ cách mười cây số, con sông Pô-Kơ dậy sóng. Con sông ầm đổ qua ghè đá, ào ào đi giữa rừng xanh núi đỏ. Bên kia sông, Quốc Lộ 14 chỉ khoảng trên dưới sáu cây số và đầu con đường là Tân Cảnh, mục tiêu của bao chiến dịch.Từ ngày chiến tranh „giải phóng“ bùng nổ.
    Đây rồi, „…nồi cơm điện National“ đây!
    Tân Cảnh hấp dẫn ngon lành như cô gái yếu đuối hớ hênh thụ động nằm dưới thung lũng bát ngát ở đằng kia.

    Bộ đội ta tiến lên. Nhưng không được nữa, con đường đă bị dừng lại, và bộ đội ta dù được „tùng thiết,“ dù được đại pháo „dọn đường“ cũng phải dừng lại, v́ đỉnh 960 chính là băi đáp C, là cứ điểm Charlie và Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù đă xuống LZ (landing zone, tức băi đáp trực thăng, hoặc khoảng đất trống dùng để đổ quân từ trực thăng) này từ ngày 2 tháng 4/1972. Con cháu Bác và Đảng phải ngừng lại bố trí trận địa.
    Nỗ lực kinh khiếp kéo dài trên năm mươi cây số đường núi, từ ngă rẽ đất Lào phải dừng lại v́ chạm phải „sức người.“
    Ở đây, người đă gặp nhau.

    Vực thấp, đỉnh cao, bạt núi, xẻ đèo, những con người cuồng tín và tội nghiệp của miền Bắc đă làm được tất cả.

    Con đường núi của Tướng Stiwelle từ Miến Điện đến Trùng Khánh, Trung Quốc năm 1945 đă là một sự khủng khiếp. Đường xuyên sơn vạn dậm, dài thật dài, quanh co khúc khuỷu lớp lớp giữa núi rừng nhiệt đới, con đường nổi tiếng đúng như tầm vóc và giá trị của nó.
    Cả nước Tàu sống bám vào cái ống cứu nguy thậm thượt hun hút này.
    Vào thời điểm đầu thế chiến, nước Tàu, đồng minh „tuyệt vời cần thiết“ của người Mỹ dễ thương cần phải sống để chống đỡ trục Bá Linh-Đông Kinh.
    Con đường quả đáng tiền và đáng sợ.
    Nhưng đường này làm bằng máy, dưới sự yểm trợ và che chở của các „Ong Biển“ hảo hạng, những người lính công binh chiến đấu hănh diện của Mỹ quốc giàu sang hùng mạnh.
    Năm mươi cây số đường xuyên sơn của „bộ đội ta“ th́ khác hẳn. Bộ đội đào bằng tay trong đêm tối. Bộ đội lấp hố dưới tấm lưới lửa thép của B-52, trên những giải thảm tử thần dầy lềnh bom-bi CBU (cluster bomb unit).
    Sức người và ḷng cuồng tín ghê gớm đă vượt qua giới hạn.
    Đấy không c̣n là người với thịt da biết mệt mỏi đau đớn, cũng không là người với trí óc biết nguy biến và sợ hăi. Bắc quân, khối người vô tri tội nghiệp ch́m đắm trong ảo tưởng và gian nguy triền miên.
    Con đường sạn đạo vào đất Ba Thục tân thời được hoàn thành từng phân từng thước. Bắc quân theo đó đi về Đông.

    Nhưng đến đây, ở cao độ 960, người lính Bắc Việt không tiến được nữa v́ đă gặp „người.“
    Người rất b́nh thường và giản dị. Người biết lo âu, sợ nguy biến. Người có ước mơ và ham muốn vụn vặt. Những người không thần thánh hóa lănh tụ và tin tưởng Thiên Chúa cũng chỉ là bạn tâm t́nh.

    Nhưng đó cũng là những người lính đánh giặc „tới“ nhất của Quân Lực Miền Nam, chỉ huy bởi những sĩ quan miệt mài trên dưới mười năm trận địa.
    Những sĩ quan biết đánh hơi rất chính xác khả năng và ư định của đối phương.
    Bắc quân dừng lại giữa đường, ảo tưởng bị công phá và tan vỡ.
    Họ gặp lính Nhảy Dù Việt Nam.

    TRẬN ĐÁNH TRÊN CAO ĐIỂM

    Anh Năm (tức Trung Tá Nguyễn Đ́nh Bảo, sĩ quan chỉ huy trưởng của Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù) bố trí quân „hết xẩy.“
    Cứ điểm C hay Charlie chính thống, cao độ 960 giao cho „thằng 1,“ Đại Đội 1, do Thinh, trung uư Khoá 25 Thủ Đức chỉ huy. Thinh trẻ tuổi đời lẫn tuổi lính. Thinh có vẻ yếu trước mắt mọi người v́ Thinh… đẹp trai.

    Đă đẹp trai, tốt mă th́ đánh giặc hơi yếu. Chẳng hiểu sao phần đông là như thế.
    Những anh có vẻ tài tử, ăn nói ngon lành, rỗn răng thường hay lạnh cẳng.

    Nhưng nghĩ cho kỹ th́ cũng công bằng thôi, con người mà, được cái này th́ mất cái kia.
    Nhưng anh Năm dưới cái nh́n sắc sảo của con ó, kèm theo „suy tư “ của phó Mễ đă chọn Thinh để giữ Charlie v́ cả hai người chỉ huy đều chắc một điều:
    Đây là một tay „dur,“ loại liều, thứ „kép trẻ đang lên“ của trận địa.
    Thinh được lănh hănh diện „nhất kiếm trấn ăi“ và những ngày sau Thinh đă chứng tỏ, người chỉ huy ḿnh đă không nhầm lẫn.
    Phía bắc của C giao cho Đại Đội 3, do Hùng „mập“ làm đại đội trưởng. Hùng chỉ là đại úy thôi, nhưng „người“ có đủ tác phong và khả năng để „tiến“ xa hơn.
    V́ „người“ cũng là tay văn nghệ, „lănh tụ“ sinh viên, có kích thước cơ thể và tính chất của tướng Thắng, ông „tướng sạch nhất “ của quân đội và cũng là ông tướng học giỏi nhất!
    Nhưng giờ này Hùng chỉ là „simple captain“ nên cam phận dẫn quân lên trấn giữa phía bắc Charlie, căng ḿn bẫy, đào hầm chờ con cháu Bác, những chiến sĩ Điện Biên.
    Điện Biên cái con bà nhà nó, lúc xưa bố nó đánh Điện Biên chứ đâu phải nó hôm nay, trong họ tôi có ông chú làm tiểu đoàn trưởng đánh cái Điện Biên khỉ gió kia. Bây giờ tụi nó là cái chó ǵ.
    Chẳng nhẽ tôi là lính Tây cà-lồ sao? Phần c̣n lại tiểu đoàn lên cao điểm 1020, hay C2.
    Anh Năm bảo Mễ:
    – Ḿnh giữ hột lạc (cao độ trên bản đồ, thường nh́n giống như h́nh hột lạc) này v́ phía nam tao chắc toàn tụi nó. Lệnh hành quân bắt buộc ḿnh phải giữ cửa thằng Charlie. Kẹt lắm, trước sau ǵ tụi nó cũng phải chiếm thằng Charlie này, và ḿnh th́ chỉ việc „thủ.“ Bố khỉ, thôi đă xuống đây th́ phải giữ chứ biết làm sao, hôm đi họp hành quân được nhận tin t́nh báo từ quân đoàn, Sư Đoàn 320 (tức Sư Đoàn Điện Biên của Bắc Việt) đă rút về tây, vào đất Lào!
    – Anh Năm yên chí, ḿnh „hơn tiền “ tụi nó!
    Mễ chắc giọng.
    Nhưng thật ra tất cả chỉ là những câu nói bề mặt, phần trong, đằng sau lư luận và phân tích, do những kinh nghiệm và nhạy cảm riêng về chiến trường, mọi người đều có chung ư nghĩ: Xong rồi, ḿnh đă lọt bẫy! Bởi, chiến tranh miền núi là chiến trường giữa những cao điểm.
    Đành rằng C và C2 cũng là những cao độ, nhưng 960 và 1020 làm sao chế ngự được những đỉnh 1773, 1274, 1512 của rặng Big Mama Mountain và tiếp theo một dăy đường đỉnh nam rặng Chu To Sang. Và pháo binh của tụi nó. Pháo và kèm theo một „rừng cối,“ gồm một hệ thống súng cối có đường kính từ 80 ly trở lên hoặc sơn pháo bắn thẳng.
    Sự thông minh và tinh tế về chiến trường của toàn bộ sĩ quan tiểu đoàn ngừng lại ở đây. Họ không dám nghĩ thêm. Phần lệnh hành quân đă giao cho họ một đỉnh núi trơ trọi để sửa soạn vinh quang cùng cái chết.
    Họ chỉ có một đỉnh Charlie đang hừng hực bốc hơi dưới nắng hè hạ chí trời Tây Nguyên. Định mệnh, sức mạnh khắc nghiệt khốn kiếp đă bắt phải như thế.
    Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù không c̣n khả năng chọn lựa. Như cuối cùng cái chết thế nào rồi cũng phải tới cho dù người lính hằng chiến đấu quyết liệt bao nhiêu. Sự thông minh và tinh tế về chiến trường của toàn bộ sĩ quan tiểu đoàn ngừng lại ở đây. Họ không dám nghĩ thêm.
    Phần lệnh hành quân đă giao cho họ một đỉnh núi trơ trọi để sửa soạn vinh quang cùng cái chết…

    Đoạn trích trong truyện kư “ Mùa Hè đỏ lửa “ của Nhà văn
    Phan Nhật Nam

    Last edited by BlackHole; 02-01-2019 at 06:07 PM.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 64
    Last Post: 21-01-2015, 02:28 AM
  2. JE SUIS CHARLIE !
    By Tigon in forum Tin Việt Nam
    Replies: 23
    Last Post: 14-01-2015, 08:13 PM
  3. Replies: 12
    Last Post: 10-01-2015, 09:57 PM
  4. CHARLIE, Ngọn Đồi Quyết Tử
    By alamit in forum Quân Sử Việt Nam Cộng Ḥa
    Replies: 9
    Last Post: 30-11-2011, 09:14 PM
  5. Replies: 2
    Last Post: 24-06-2011, 05:58 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •