Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 10 of 12

Thread: 30 tháng Tư Tưởng Niệm những Thần Tướng QLVNCH

  1. #1
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    1,151

    30 tháng Tư Tưởng Niệm những Thần Tướng QLVNCH




    Ơn Tổ Quốc Trọn T́nh – Sinh Vi Tướng Nghĩa Dân Quân Vẹn Tiết – Tử Vi Thần

    "Chết mà v́ nước, chết v́ dân,
    Chết đấng nam nhi trả nợ trần.
    Chết buổi Đông Chu, hồn thất quốc,
    Chết như Tây Hán lúc tam phân.
    Chết như Hưng Đạo, hồn thành thánh,
    Chết tựa Trưng Vương, phách hóa thần.
    Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết,
    Chết mà v́ nước, chết v́ dân.”


    (Sào Nam PHAN BỘI CHÂU)

    Giở lại những trang sử chiến đấu dũng mănh và hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, nhân tưởng niệm ngày 30-04, là ngày nước Việt Nam Cộng Ḥa thôi tồn tại, chúng tôi muốn kể lại cho các bạn trẻ Việt Nam công nghiệp chiến đấu và những giây phút chói chang cuối cùng của những vị thần tướng làm rạng danh QLVNCH trên trường quốc tế:


    Họ là những anh hùng không tên tuổi
    Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông,
    Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh,
    Nhưng can đảm và tận t́nh giúp nước

    Họ là kẻ muôn ngh́n năm thuở trước
    Đă phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu
    Và làm cho những đất cát hoang vu
    Biến thành một giải san hà gấm vóc

    Họ là kẻ không nài đường hiểm hóc,
    Không ngại xa, hăng hái vượt trường sơn
    Để âm thầm chuẩn bị giữa cô đơn
    Cuộc Nam tiến mở giang sơn lớn rộng

    Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
    Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng
    Đă xông vào khói lửa quyết liều thân
    Để bảo vệ Tự Do cho Tổ Quốc

    Trong chiến đấu, không nài muôn khó nhọc
    Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan,
    Người thất cơ thành thịt nát xương tan
    Nhưng kẻ sống ḷng son không biến chuyển.

    Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm
    Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa.
    Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà
    Để sống lại cuộc đời trong bóng tối.

    Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi
    Trong loạn ly như giữa lúc thanh b́nh
    Bền một ḷng dũng cảm, chí hy sinh
    Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.

    Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,
    Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên,
    Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
    Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật,

    Nhưng máu họ đă len vào mạch đất,
    Thịt và xương trộn lẫn với non sông
    Và anh hồn chung với tấm trinh trung
    Đă ḥa hợp làm linh hồn giống VIỆT.


    (Đằng Phương)


    Ảnh nhiếp ảnh gia QĐ Nguyễn Ngọc Hạnh

    Những người anh hùng của dân tộc Việt Nam, những chiến sĩ dũng mănh của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, suốt đời tận tụy với nước non, đă hiến dâng cho tổ quốc những giọt máu đỏ thắm tinh khôi cuối cùng của ḿnh.
    Tên tuổi và tấm gương chiến đấu của những vị Thần Tướng, nhựng chiến binh ấy măi măi lưu lại trong sử sách Việt Nam và được dân tộc Việt Nam ngàn đời tôn vinh.


    Last edited by BlackHole; 20-04-2019 at 07:04 PM.

  2. #2
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    1,151
    Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam


    Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hậu duệ của ḍng họ Nguyễn Khoa danh tiếng ở đất Thần Kinh Huế mà các cụ tổ từ đời này sang đời nối tiếp đều có công trạng giúp Chúa Nguyễn mở mang bờ cơi về phương Nam, mà điểm dừng là mũi Cà Mau. ược hun đúc từ truyền thống ấy, Thiếu Tướng Nam thuở c̣n ở tuổi học sinh siêng năng chăm học, rất hiếu thảo với cha mẹ, ông thường nghiền ngẫm kinh Phật, sách triết học và Nho học. Người cũng rất say mê hội họa, âm nhạc và giỏi về nhạc lư. Sau này khi đă trở thành vị tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và rồi lên Tư Lệnh Quân Đoàn IV Quân Khu IV người nổi tiếng là vị tướng từ ái, thương lính yêu dân, rất được quân và dân Miền Tây kính trọng và yêu thương. Mỗi lần Thiếu Tướng Nam bay đến các tiểu khu (tỉnh) hay các đơn vị chiến trường nào, ông cũng đều không muốn làm phiền thuộc cấp v́ chuyện ăn uống. Lắm lúc ông chỉ cần vài trái bắp luộc là đă xong cho một bữa trưa. Nếu ở Bộ Tư Lệnh th́ người luôn luôn xuống Câu Lạc Bộ cùng dùng cơm với các sĩ quan, có ǵ ăn nấy. Là một Phật tử thuần thành, Thiếu Tướng Nam ăn chay 15 ngày mỗi tháng, cố gắng tôn trọng những giới cấm, tránh sát giới nhưng vẫn chu toàn bổn phận của một người lính chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Bà con thân hữu đến thăm ông th́ được, nhưng để xin ân huệ hay nhờ vả đều nhận được sự từ chối thẳng thắn. Cuộc sống của người quá giản dị, không vợ con, không nhu cầu vật chất xa hoa, không ǵ hết, đơn giản đến mức trở thành huyền thoại.


    Thiếu Tướng Tư Lệnh Nhảy Dù đang gắn huy chương cho Trung Tá Nguyễn Khoa Nam, Lữ Đ̣an Trưởng LĐ3ND (1965)

    Những giờ sau cùng của Tướng Nguyễn Khoa Nam
    Ông Lê Ngọc Danh, cựu Trung úy QLVNCH, là Tùy viên Tư lệnh QĐIV-QK4 cho đến ngày 1 tháng 5 năm 1975. Ông là người đă trực tiếp chứng kiến cảnh cả hai vị tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng, Tư lệnh và Tư lệnh phó tự sát. Sau đây là chuyện ông kể trong “Hồi Kư Của Một Tuỳ Viên”, trích từ sách “Nguyễn Khoa Nam”.

    Tháng 4 năm 1975 T́nh h́nh chung vào tháng 3 năm 1975 rất căng thẳng. Vùng 1, vùng 2 đang đánh lớn c̣n Vùng 3 và 4 vẫn c̣n nguyên vẹn. Tư lệnh đi họp liên tục ở Tổng Tham Mưu, ở dinh Độc Lập gặp Tổng thống, lúc ở dinh phó Tổng thống. Thời gian c̣n lại, Tư lệnh thường đến các Tiểu khu và Sư đoàn nhưng đến nhiều nhất là tiểu khu Long An, Định Tường, Kiến Tường và Châu Đốc. Vào đầu tháng 4, VC tấn công mạnh, nhằm vào quốc lộ 4 thuộc hai tiểu khu Định Tường và Long An. Sư Đoàn 7 Bộ Binh chịu trách nhiệm khu vực tiểu khu Định Tường c̣n Sư Đoàn 22 Bộ Binh rút từ Vùng 2 về chịu trách nhiệm khu vực tiểu khu Long An. Vào buổi trưa Tư lệnh đến tiểu khu Long An để biết t́nh h́nh địch, VC đă pháo rớt một quả hỏa tiển 122 ly trên giữa cầu Long An nhưng không gây thiệt hại ǵ. Địch càng ngày càng tấn công mạnh vào quốc lộ 4, Tư lệnh ngày đêm đến các đơn vị hay gọi điện thoại khích lệ tinh thần chiến đấu, không để mất vị trí hay bỏ chạy nên VC không chiếm được một vị trí nào cả.
    Có một đêm, địch pháo kích trên 10 hỏa tiển 122 ly vào thành phố Cần Thơ, mục tiêu chính là Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV và tư dinh Tư lệnh. Vị trí pháo hướng đông chi khu B́nh Minh thuộc tiểu khu Vĩnh Long, bay qua dinh Tư lệnh rớt bên xóm nhà đèn cách dinh độ 300 thước, kết quả tổn thất nhẹ về phía dân chúng.
    T́nh h́nh càng ngày càng căng thẳng, dân chúng di tản bằng tàu thủy hay máy bay có nhiều chuyến chở về Quân đoàn IV đổ dân xuống vùng Tri Tôn, Sa Đéc. Trong lúc này, Tư lệnh rối bời lớp lo pḥng thủ, lớp lo thăm viếng an ủi dân đă di tản từ vùng ngoại ô. Thiếu tướng ra lệnh các Tiểu khu ra sức cứu trợ nạn nhân chiến cuộc. Tư lệnh chỉ thị các đơn vị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Quân đoàn IV và nhất là giữ quốc lộ 4 đừng để VC cắt đứt. Tư lệnh đặc biệt đến thăm tiểu khu Châu Đốc, đi bộ thăm ṿng đai pḥng thủ quy mô của tiểu khu. Những ngày kế tiếp họp liên tục với các Tiểu khu và Sư đoàn. Trong lúc t́nh h́nh hỗn loạn, nhiều máy bay trực thăng từ hướng Sài G̣n lũ lược bay về phi trường Trà Nóc và một số bay ra hướng Phú Quốc.
    Sáng ngày 24 tháng 4, Tư lệnh đi họp ở bộ Tổng Tham Mưu, nội dung tôi không rơ.
    Sáng 25 tháng 4, họp ở tiểu khu Định Tường, có tướng Trường tham dự.
    Ngày 27 tháng 4, Tư lệnh ra lệnh giới nghiêm, các đơn vị ở thế sẵn sàng chiến đấu, không được rời vị trí.
    Sáng 28 tháng 4, cố vấn Mỹ có đến văn pḥng Tư lệnh để nói chuyện, nội dung tôi không rơ.

    Ngày 29, Tư lệnh vẫn đi bay, buổi chiều 29 về họp với tướng Mạch Văn Trường ở Bộ Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh ở gần phi trường Trà Nóc. Trên đường về, tôi thấy dân chúng lao xao, nhớn nhác chạy lung tung đi lượm đồ của ṭa Tổng Lănh Sự Mỹ rút đi bỏ lại, giấy liệng đầy mặt đại lộ Ḥa B́nh, quần áo, lon, ly, đồ hộp lon bia vất tứ tung.
    Áp lực địch vẫn nặng ở quốc lộ 4, Tiểu khu trưởng Tiểu khu Long An xin gặp Tư lệnh báo cáo t́nh h́nh nguy ngập và xin giật sập cầu Long An. Tư lệnh không cho và ra lệnh các đơn vị tiếp tục pḥng thủ. Tư lệnh viết Nhật Lệnh đưa thiếu tá Đức, Chánh văn pḥng chuyển đến pḥng Chiến tranh Chính trị để đọc trên đài Phát thanh và Truyền h́nh để trấn an dân chúng và anh em binh sĩ. Vào buổi chiều, tôi thấy được h́nh Tư lệnh và kèm theo là Nhật lệnh, nội dung ngắn gọn trấn an dân chúng không được bạo động c̣n việc tử thủ không được đọc trên đài truyền h́nh. Sau khi thấy đọc, Tư lệnh buồn buồn chấp tay về phía sau đi tới đi lui trong pḥng làm việc ở Bộ Tư lệnh. Sau đó, tướng Hưng, Tư lệnh phó vào gặp Tư lệnh (Nội dung cuộc nói chuyện tôi không rỏ). Về sau, tôi được biết nội dung bản Thông cáo đă bị sửa lại, không chính xác như lời Tư lệnh đă viết.
    Đêm 29, VC tấn công mạnh ở phi trường thuộc tiểu khu Vỉnh B́nh. Địch đă nhiều lần đánh rát vào phi trường nhưng bị đẩy lui và thiệt hại nặng. Tư lệnh bảo tôi gọi Trung tá Sơn, tiểu khu trưởng tiểu khu Vỉnh B́nh để ông nói chuyện. Trong lúc VC tấn công mạnh vào phi trường, tiểu khu xin máy bay yểm trợ nhưng không có máy bay.
    Sáng sớm 30 tháng 4, Tư lệnh bay xuống họp ở tiểu khu Định Tường. Cuộc họp nhanh và xong bay về Cần Thơ. Trở lại Quân đoàn, xin nói rơ về pḥng làm việc của Tư lệnh, pḥng làm việc chia hai tầng. Tầng trên có sẵn từ trước, thêm tầng dưới là hầm dưới chân pḥng làm việc chính thức. Ở hầm này, rộng và cao, thiết trí giống như pḥng làm việc ở tầng trên, có lối đi xuống từ văn pḥng Tư lệnh. Hầm làm việc này mới được xây lúc Vùng 1 và 2 đang xảy ra việc đánh lớn.

    T́nh h́nh sáng 30 tháng 4 rất vắng vẻ, dân chúng thưa thớt đi lại, xe cộ hạn chế. Về tinh thần binh sĩ vẫn hăng say chiến đấu, các đơn vị không nơi nào bỏ vị trí, không nơi nào bị địch chiếm đóng mặc dù địch tăng cường những cuộc tấn công mạnh.
    Vào 10 giờ sáng, tôi được báo cáo là Thiếu tá Chánh văn pḥng rời văn pḥng bỏ đi cùng với đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Phong Dinh cùng một số sĩ quan, lộ tŕnh sông Hậu ra biển. Tôi vội xuống hầm, nơi làm việc mới của Tư lệnh, tôi thấy Tư lệnh đang ngồi và viết ở bàn làm việc. Tư lệnh thấy tôi theo thường lệ kéo lệch cặp mắt kiếng xuống và hỏi:
    – Có ǵ không?
    – Tŕnh Thiếu tướng, thiếu tá Chánh văn pḥng và đại tá Tỉnh trưởng Phong Dinh đă bỏ đi cùng với một số sĩ quan bằng tàu theo sông Hậu.
    Tư lệnh điềm nhiên không giận và nói:
    – Đi hả! Đi làm chi vậy.
    Nói xong, Tư lệnh tiếp tục xem giấy tờ, thái độ trầm tỉnh không la không buồn. Tôi bước lên cầu thang về pḥng làm việc của ḿnh, lúc này tôi mở radio 24/24 đi theo dơi t́nh h́nh ở Sài G̣n.
    Tư lệnh bấm chuông gọi tôi vào và bảo:
    – Gọi đại tá Thiên gặp tôi.
    – Dạ.
    Đại tá Thiên mới nhận chức vụ Tiểu khu trưởng Tiểu khu Phong Dinh kể từ sáng ngày 30 tháng 4.
    Bất chợt, tiếng của tổng thống Dương Văn Minh vang lên trên đài phát thanh. Ông tuyên bố đầu hàng vô điều kiện với VC và nói:
    – Tất cả các đơn vị trưởng và anh em binh sĩ ở yên tại chỗ, bàn giao vị trí cho Chính Phủ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
    Tôi vội xô cửa vào pḥng làm việc của Tư lệnh và nói:
    – Tổng thống Dương Văn Minh đă …..
    Tôi nói chưa hết câu, Tư lệnh nhỏ nhẹ cắt ngang lời tôi:
    – Qua đă nghe rồi.
    Tôi lặng người chầm chậm bước ra. Trong lúc này, nhiều lần Tư lệnh phó liên tục đi vào cửa chánh gặp Tư lệnh. Qua điện thoại, Đại tá Tiểu khu trưởng Tiểu khu Long An xin gặp gấp Tư lệnh, lần thứ hai, Đại tá xin giật sập cầu Long An để cắt đường VC chuyển về Vùng 4. Tư lệnh bảo tôi chuyển lời, cầu để yên không được phá sập.
    Trưa 30 tháng 4, sau khi đi ăn cơm trưa ở câu lạc bộ Cửu Long về, Tư lệnh đi thẳng vào pḥng làm việc. Qua lỗ kiếng nhỏ thông qua pḥng làm việc, tôi thấy Tư lệnh đang soạn một số giấy tờ để trên bàn. Tư lệnh nh́n từ trang một, rồi từ từ xé bỏ vào sọt rác. Khoảng 2 giờ chiều, Tư lệnh xuống pḥng làm việc dưới hầm. Tôi không biết Tư lệnh làm ǵ bởi v́ pḥng làm việc này không có nơi nh́n thấy Tư lệnh được. Tư lệnh bấm loa gọi tôi:
    – Danh xuống đây tôi bảo.
    Tôi vào pḥng trên đi theo cầu thang xuống gặp Tư lệnh. Ông đang ngồi ở sofa nh́n về hướng bản đồ Vùng 4, thấy tôi đến Tư lệnh nói:
    – Danh tháo bỏ những ranh giới, những mủi tên trên bản đồ. (Những đường ranh và những mũi tên làm bằng những băng keo màu xanh đỏ). Tôi từ từ tháo bỏ, nh́n tổng quát, tôi thấy bản đồ chia ra từng ô nhỏ, những mũi tên xanh đỏ châu đầu vào nhau, những răng bừa màu xanh với những mủi tên đỏ chĩa vào (Có thể đây là bản đồ về Hành Quân Mật theo như tin đồn). Tôi tháo gỡ tất cả những băng keo bỏ vào sọt rác, tháo xong tôi nói:
    – Tŕnh Thiếu tướng, em đă tháo xong.
    – Được rồi.
    Tư lệnh buồn buồn theo cầu thang lên pḥng làm việc tầng trên, tôi chầm chậm bước theo Tư lệnh và ra pḥng làm việc của tôi. Độ 10 phút sau, Tư lệnh bấm loa gọi tiếp:
    – Danh vào tôi bảo.
    – Dạ.
    Tôi xô cửa đi nhanh vào, Tư lệnh nh́n tôi nói:
    – Tháo bỏ những vị trí trên bản đồ này.
    – Dạ.
    Tôi đang lúi húi tháo và liếc nh́n, tôi thấy Tư lệnh chấp tay về phía sau chầm chậm đi tới, đi lui. Tôi tháo xong:
    – Tŕnh Thiếu tướng, em đă tháo xong.
    Nói về pḥng làm việc của Tư lệnh, trước khi vào phải qua ba vọng gác: Từ ngoài vào, vọng gác 1 ngoài đầu đường trước khi vào pḥng chờ đợi. Vọng gác 2 ngay pḥng chờ đợi sát cổng Bộ Tư lệnh. Vọng gác 3 lên tam cấp trước cửa vào pḥng làm việc của Tư lệnh.
    Vào khoảng 4 giờ chiều, Quân cảnh ở pḥng chờ đợi (Vọng gác 2) lên gặp tôi nói:
    – Có hai ông VC mặc đồ thường phục, trên dưới 50 tuổi xin vào gặp Tư lệnh. Tôi nói:
    – Anh bảo họ chờ một chút để tôi tŕnh Tư lệnh.
    Tôi gơ cửa vào gặp Tư lệnh và nói:
    – Tŕnh Thiếu tướng, có hai VC mặc thường phục xin vào gặp Thiếu tướng.
    – Được, mời họ vào.
    Tôi xuống pḥng khách gặp hai VC, tôi thấy hai người đang chờ ở đây, một người cao ốm nước da trắng, tóc hoa râm độ trên 50 tuổi, ăn mặc thường phục giống như thầy giáo, một người hơi thấp, nước da ngâm đen cũng mặc thường phục, họ đi tay không, không mang giấy tờ và vũ khí. Tôi hướng dẫn hai người này lên bậc tam cấp vào pḥng làm việc của Tư lệnh. Tư lệnh chào hỏi và mời ngồi sofa, tôi bước nhanh ra pḥng làm việc gọi người hạ sĩ quan mang trà vào. Tôi mang vội khẩu súng colt và lấy khẩu AR15 lên đạn và bước nhanh vào pḥng làm việc Tư lệnh. Tôi đứng sau hai ông VC này với tư thế sẵn sàng cách khoảng 4 thước, tôi sợ hai ông này ám sát Tư lệnh, tay súng sẵn sàng nếu hai ông này có hành vi lạ là tôi nổ súng bắn liền. Tư lệnh ngồi đối diện với họ, đang nói chuyện rất nhỏ tôi không nghe được. Bất chợt Tư lệnh ngước lên, nh́n tôi và bảo:
    – Danh đi ra ngoài đi tôi nói chuyện.
    Tôi ấp úng trả lời:
    – Dạ … em ở đây với Thiếu tướng.
    – Được rồi không sao đâu! Em ra ngoài đi.
    – Dạ
    Tôi ra lại pḥng làm việc, súng vẫn thế thủ, mắt nh́n về hướng theo kẻ hở của cánh cửa đang hé mở. Tôi thấy Tư lệnh với họ vừa uống trà vừa nói chuyện. Cuộc nói chuyện kéo dài trên 10 phút. Tư lệnh và hai người chỉ nói chuyện không đưa ra sổ sách hay giấy tờ ǵ cả. Hai người đứng dậy giả từ. Tư lệnh bắt tay, rồi hai người theo cửa trước xuống bậc tam cấp ra về.
    Tư lệnh ngồi buồn, kế đứng dậy đi tới đi lui như lúc trước, thời gian này rất căng thẳng và ngộp thở. Tôi suy nghĩ lung tung, nếu VC chiếm được Vùng 4 th́ Tư lệnh sẽ ra sao? Tại sao Tư lệnh vẫn b́nh thản như không có chuyện ǵ xảy ra, bây giờ c̣n đi ngoại quốc được không? C̣n máy bay không? Hay là Thiếu tướng có người thân phía bên kia? Những câu tự hỏi đă vây chặt trong tôi.
    Bất chợt tiếng la ó vang dậy ở ngoài đường. Đoàn người rất đông chạy ngang qua cửa Bộ Tư Lệnh, chạy dài xuống cầu Cái Khế. Họ vừa chạy vừa la hét vui mừng, th́ ra đó là những người tù vừa được thoát trại giam, tôi tḥ đầu ra cửa sổ nh́n ra ngoài đường, tôi thấy bọn tù trên dưới 50 người, quần áo xốc xếch, có người mặc quần cụt, có người cởi trần vừa chạy vừa nhảy lên vừa reo ḥ vui vẻ nhưng họ không phá phách.
    Khoảng 6 giờ chiều, điện thoại có tiếng lạ. Thông thường khi có chuông reo, tôi thường nói: Tôi trung úy Danh, tùy viên Tư lệnh, xin lổi ai đầu dây? Ở đầu dây xưng cấp bậc tên họ chức vụ rồi nói nhu cầu. Đàng này sau khi tôi nói, bên kia đầu dây đáp:
    – A lô ai đó? A lô ai đó?
    Và tiếng lạ tôi không quen thuộc, tôi gác máy không trả lời. C̣n đường dây Hotline trực tiếp của Tư lệnh tôi không rơ. Như vậy VC đă vào đường dây điện thoại. Trong lúc rối rắm, tôi qua pḥng Tư lệnh phó gặp trung úy Nghĩa, tùy viên Tư lệnh phó. Lúc gặp anh Nghĩa, tôi nói t́nh trạng điện thoại đă bị VC chiếm và tôi đă nghe có tiếng lạ. Tôi đề nghị, nếu Tư lệnh và Tư lệnh phó muốn nói chuyện với nhau ḿnh phải dùng máy PRC25, đồng thời tôi viết một loạt tần số để xử dụng máy PRC25 và đánh số thứ tự A, B, C, D … để Tư lệnh nói chuyện kín hơn.
    Khoảng 6 giờ rưỡi, Tư lệnh sữa soạn về tư dinh, Thiếu tướng nói với tôi:
    – Danh chuẩn bị xe đi thăm bệnh viện Phan Thanh Giản.
    – Dạ.
    Xe chở Tư lệnh từ văn pḥng đi thẳng vào bệnh viện. Tư lệnh đến từng giường hỏi thăm thương binh, kẻ nằm người ngồi, băng tay băng đầu, có người mất một chân, chân c̣n lại quấn dây băng treo lên trên giá. Tư lệnh đến bên thương binh này hỏi:
    – Em tên ǵ?
    – Dạ em tên …
    – Em ở đơn vị nào? Có khỏe không?
    – Dạ khỏe, em là Địa phương quân ở tiểu khu Vỉnh B́nh.
    Tư lệnh nói tiếp:
    – Em nằm nghỉ dưỡng bệnh.
    Tư lệnh đi từ đầu pḥng đến cuối pḥng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi Tư lệnh đi qua dăy kế bên và tiếp tục hơn một giờ buồn tẻ và nặng nề chầm chậm trôi qua. Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu c̣n rịn ra lóm đóm đỏ cuối phần chân đă mất. Tư lệnh đứng sát bên và hỏi:
    – Vết thương của em đă lành chưa?
    – Thưa Thiếu tướng, vết thương mới mấy ngày c̣n ra máu chưa lành.
    Với nét mặt buồn buồn, Tư lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Tư lệnh chưa kịp nói, anh thương binh này bất chợt chụp tay Tư lệnh mếu máo:
    – Thiếu tướng đừng bỏ tụi em nhe Thiếu tướng.
    – Qua không bỏ các em đâu! Qua ở lại với các em.
    Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư lệnh đưa tay nâng sửa cặp mắt kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy lăn dài trên khuôn mặt đau thương. Tư lệnh nén đau thương, người đă khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:
    – Em cố gắng điều trị …. có qua ở đây.
    Tư lệnh bước hơi nhanh ra cửa bệnh viện, ra sân Tư lệnh dừng lại quay mắt nh́n lại bệnh viện. Tư lệnh đứng yên bất động khoảng một phút rồi bước vội ra xe không nói ǵ cả, sự im lặng quá nặng nề, suốt trên đường về tư dinh, Tư lệnh không nói một lời nào.
    Về đến tư dinh, tôi thấy Quân cảnh vẫn c̣n gác ở cổng, tôi đi một ṿng xung quanh, những vọng gác vẫn c̣n người gác, tuy nhiên tôi thấy ít lính đi tới đi lui như mọi hôm, có lẻ họ đă bỏ đi bớt. Sau khi cất khẩu Colt đeo trên người, tôi xuống nhà bếp gặp trung sĩ Ngộ quản gia xem hôm nay anh nấu món ǵ v́ hôm nay thăm bệnh viện về trễ. Gặp anh Ngộ, tôi nói:
    – Anh Ngộ bắt một con gà làm và luộc để Thiếu tướng dùng.”
    – Dạ con gà nào Trung úy?
    – Đàn gà ṇi Thiếu tướng nuôi anh chọn một con.
    Lúc này trên 8 giờ tối, phía Cồn Cát cách một con sông phía sau dinh, thỉnh thoảng VC bắn bổng những loạt AK đạn lửa bay đỏ xé màn đêm đen nghịt, càng lúc VC bắn càng nhiều. Con gà, anh Ngộ làm và nấu xong, đích thân tôi ra sau trailer mời Thiếu tướng vào ăn cơm. Tư lệnh ngồi vào bàn ăn và nói:
    – Danh ngồi ăn cơm cho vui.
    . . .


  3. #3
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    1,151

    Tướng Nam lễ Phật tại căn cứ Đồng Tâm - 1971 - Bên phải là Thượng tọa Thích Tâm Giác - Giám đốc Tuyên úy Phật Giáo QLVNCH

    Đi các đơn vị hay tiểu khu, tôi ăn cơm chung với Tư lệnh, c̣n ở dinh Tư lệnh thường ăn cơm một ḿnh, vừa ăn cơm vừa xem truyền h́nh rất lâu. Hôm nay, lần đầu tiên Tư lệnh gọi tôi ăn cơm chung ở dinh, tôi thấy có điều ǵ, hơn nữa sự việc xảy ra tùm lum bụng dạ đâu mà ăn với uống. Tư lệnh thấy thịt gà xé nhỏ, c̣n nước luộc gà làm canh, Tư lệnh hỏi:
    – Thịt gà đâu vậy?
    Tôi gượng cười nói:
    – Dạ mấy con gà Thiếu tướng nuôi ở sau, em bảo anh Ngộ làm một con để Thiếu tướng dùng.
    – Làm thịt chi vậy, ăn như vậy được rồi. Thôi ăn để nguội.
    Tư lệnh không ăn cơm, chỉ dùng vài muỗng canh, vài miếng thịt gà. C̣n tôi th́ no hơi, ăn hết vô, qua loa vài miếng vội buông đũa và nói:
    – Dạ em ăn xong, Thiếu tướng dùng tiếp.
    Thiếu tướng nói:
    – Ăn tiếp, sao Danh ăn ít vậy, thịt c̣n nhiều.
    Vừa nói, Tư lệnh gắp bỏ cho tôi một miếng thịt xé phay dài. Trời! Ăn ǵ nổi, b́nh thường ăn thấy ngon bây giờ ăn thịt gà cũng như ăn cây mục, miệng đắng nghét, tôi cố gắng nuốt trôi hết miếng thịt này, xong xin phép Thiếu tướng ra pḥng làm việc. Nh́n qua cửa sổ, tôi thấy vắng lạnh, một sự vắng vẻ đáng sợ, một số anh em quân nhân đă bỏ đi, số c̣n lại một vài người đă mặc thường phục, một số vẫn c̣n mặc đồ lính. C̣n hướng pḥng trung úy Hỉ, sĩ quan bảo vệ cũng vắng ngắt, có lẻ anh đă bỏ đi (nhà trung úy Hỉ ở gần phi trường Trà Nóc). C̣n trung úy Việt cùng vợ 2 con vẫn c̣n ở lại nhà cạnh bờ sông. Việt và tôi gặp nhau chỉ biết lắc đầu, rồi Tư lệnh đến bàn làm việc của tôi nói:
    – Có liên lạc với tướng Hưng không hè?
    – Dạ điện thoại bị mất liên lạc, có tiếng lạ em không dám gọi. Tôi nói tiếp:
    – Dạ, Thiếu tướng muốn nói chuyện với Tư lệnh phó?
    – Qua muốn nói chuyện.
    Tôi nói với Tư lệnh:
    – Vào lúc 5 giờ chiều, hệ thống điện thoại có tiếng lạ, em có cho anh Nghĩa, tùy viên Tư lệnh phó một số tần số PRC25 để lúc cần Thiếu tướng nói chuyện, nhưng bây giờ em không liên lạc được.
    Tôi nói tiếp:
    – Để em đi lại dinh Tư lệnh phó nói mở máy PRC25 để Thiếu tướng nói chuyện.

    Tư lệnh làm thinh, tôi bảo anh Thông tài xế lấy xe jeep chở đi từ tư dinh đến dinh Tư lệnh phó đối diện dinh Tỉnh trưởng Phong Dinh. Sắp sửa rẽ phải vào dinh Tư lệnh phó th́ thấy phía bên trái trước dinh tỉnh trưởng có một VC với khẩu AK ở tư thế sẵn sàng, để súng cạnh sườn, mủi súng chỉa lên trời. Anh Thông tài xế kêu tôi và chỉ:
    – VC đă vô tới rồi.
    Tôi bảo tài xế:
    – Quay trở lại đi không ổn rồi.
    Tài xế lái nhanh về dinh Tư lệnh và đóng cửa dinh lại. Tôi xuống xe bảo các anh em c̣n lại kéo khoảng 4-5 ṿng kẻm gai rào chặn từ cổng vào hướng cột cờ, rào xong tôi vào trailer báo Tư lệnh:
    – Tŕnh Tư lệnh, VC đă vào đến dinh Tỉnh trưởng. Em thấy có một VC cầm súng AK ở trước dinh Tỉnh trưởng.
    Tư lệnh làm thinh không nói ǵ cả, khoảng hai phút sau, tôi nói với Thiếu tướng:
    – Em đi lần nữa, để Thiếu tướng nói chuyện với Tư lệnh phó. Tư lệnh nhỏ nhẹ nói:
    – Thôi đừng đi coi chừng nó bắt.
    – Dạ không sao!
    Nói xong, tôi cởi bỏ áo lính, vẫn mặc quần lính mang giày với áo thun vội ra sân gọi anh tài xế:
    – Anh Thông đâu đến tôi nhờ một chút.
    Tôi la lên, không một tiếng trả lời. Anh Ngộ quản gia nói:
    – Em vừa thấy anh Thông ra cổng. Anh đă bỏ đi rồi.
    Bất chợt có một anh (tôi quên cấp bậc và tên):
    – Trung úy cần ǵ em giúp.
    – Anh muốn đến dinh Tư lệnh phó.
    – Được rồi để em đưa ông thầy đi.
    Anh lính lấy chiếc Honda màu đỏ chạy đến và nói:
    – Đi Honda tiện hơn Trung úy.

    Rồi anh chở tôi về hướng dinh Tư lệnh phó, rẻ vào dinh anh đậu cách đây khoảng 10 mét bên lề đường.
    Dinh Tư lệnh phó, trước và sau có cổng ra vào bằng cửa sắt, xung quanh xây tường cao độ 2 mét. Cửa trước đối diện với dinh Tỉnh trưởng, cửa sau quay ra mặt đường. Cửa trước và sau đều đóng và khóa chặt, từ cửa trước nh́n vào tôi đi sát hông tường bên phải, có một cây ổi mọc từ phía trong x̣e nhánh phủ ra bên ngoài. Trong dinh im lặng không một tiếng động, tôi gọi lớn:
    – Nghĩa ơi Nghĩa, Phúc ơi Phúc, tao là Danh.
    Tôi gọi 4, 5 lần nhưng vẫn thấy im lặng không có tiếng trả lời.
    Tôi linh cảm không ổn, tôi gọi tiếp và quay lại định trở về, tôi thầm nói không lẻ ḿnh bỏ cuộc. Tôi nói qua với anh lính đậu bên kia đường:
    – Anh ráng chờ tôi một chút.
    Bất chợt có tiếng nổ đùng, có tiếng xôn xao, tiếp theo tiếng khóc. Tôi chạy lại vách tường có nhánh cây ổi x̣e ra, tôi quyết định đu nhánh ổi này nhảy vào, tay phải níu nhánh ổi, tay trái vịn vào vách tường miệng liên tục la lớn:
    – Tôi trung úy Danh đừng bắn, tôi trung úy Danh đừng bắn. Miệng la tay níu kéo leo vào, tôi lên được đỉnh tường theo đà cây ổi tuột xuống đất. Gặp tôi, anh Nghĩa vừa nói vừa khóc:
    – Chuẩn tướng tự sát chết rồi Danh.
    – Lúc nào?
    – Mới đây, chắc có lẽ hồi nảy Danh nghe tiếng súng nổ.
    Anh nói tiếp:
    – Chuẩn tướng đang ăn cơm, nghe tiếng động, ông bỏ bàn ăn đứng dậy, bà Tướng chạy theo ông ngăn lại. Tư lệnh phó vào đóng cửa lại và bắn vào ngực tự sát.
    Tôi đến cửa, thấy cửa pḥng hé mở, tôi xô nhẹ cánh cửa bước vào, tôi thấy tướng Hưng nằm bất động trên giường, bà Hưng đang ôm chầm Tư lệnh phó khóc, c̣n hai đứa con nhỏ đứng kế bên vô tư lự như không có ǵ xảy ra, kế bên những anh lính đang sụt sùi khóc. Tôi quay ra nói với anh Nghĩa:
    – Thôi Danh đi về.

    Tôi không nói anh Nghĩa mở tần số máy PRC25 ǵ nữa, chuẩn tướng đă chết rồi. T́nh h́nh rối ren, bận rộn, tôi không nhờ mở cửa, tôi trèo cây ổi lên đầu tường rồi nhảy ra ngoài. Xuống đến mặt đất, tôi suy nghĩ lung tung: Tại sao Tư lệnh phó tự sát? Nếu Tư lệnh hay được th́ ra sao? Hay là lúc tôi la to gọi anh Nghĩa, Phúc, ở đây tưởng VC vào tới nên Chuẩn tướng tự sát hay là … tôi vừa suy nghĩ vừa cúi đầu bước đi đến anh lính đậu xe Honda lúc năy.
    Trời! xe và người biến đâu mất, tôi đảo mắt nh́n quanh vẫn không thấy, chắc anh bỏ đi rồi, tôi không trách anh, anh đă giúp tôi như vậy cũng đủ lắm rồi. Tôi lội bộ từ đây cặp theo lộ Ḥa B́nh đi thẳng về dinh, trên đường phố vắng hoe không một bóng người lai văng, chỉ có những mảnh giấy vụn vất bừa bải đầy đường, thỉnh thoảng bay tứ tung theo cơn gió (giấy tờ của ṭa Tổng Lănh Sự Mỹ dân hôi của vất ra đường từ hôm trước).
    Tôi đi bộ mất trên 15 phút về đến dinh, anh lính vẹt từng ṿng kẽm gai tôi đi vào rồi kéo lại vị trí củ. Tôi đi nhanh về phía sau vào trailer để tŕnh Tư lệnh sự việc đă xảy ra, vừa thấy Tư lệnh tôi vội vả nói:
    – Tŕnh Thiếu tướng em đến dinh Tư lệnh phó, đến nơi ông vừa tự sát chết, Tư lệnh phó đă bắn vào ngực.
    – Tướng Hưng chết hả? Chết làm chi?
    Tư lệnh chỉ nói vậy. Tôi trở ra về nơi làm việc, ngồi trên sofa suy nghĩ liên miên. Tư lệnh phó đă tự sát, chắc Tư lệnh sẽ tự sát theo. Tôi xuống nhà gặp trung úy Việt và nói Tư lệnh phó đă tự sát c̣n Thiếu tướng không biết thế nào? Hai đứa tôi không t́m ra câu trả lời.
    Lúc này khoảng 11 giờ đêm, cứ khoảng 15 hay 20 phút tôi vào trailer một lần. Mổi lần vào liếc nh́n, tôi thấy Tư lệnh nằm nghỉ nhưng giày vẫn c̣n mang. Lần khác vào, Tư lệnh ngồi dậy đi về hướng tôi và hỏi:
    – Có ǵ không?
    – Em vào xem Thiếu tướng có sai bảo ǵ không?
    Tư lệnh nói:
    – Sao em không đi ngủ đi! khuya rồi.
    Tôi nhỏ nhẹ nói:
    – Tŕnh Thiếu tướng, nếu VC vào dinh tụi em đánh không Thiếu tướng?
    – Thôi đừng đánh nhau, họ vào để tôi ra nói chuyện.
    Tôi rời trailer đi ra ngoài. Khoảng 10 phút sau, Tư lệnh ra pḥng làm việc tôi đưa một gói h́nh chữ nhật dài độ 2 tấc, rộng 1 tấc, dầy 5 phân và nói:
    – Danh cất tiền này dành để xài. (Có thể đây là tiền lương của Thiếu tướng không dùng để dành).
    Xong Tư lệnh đi vào trailer, tôi hé mở gói này, bên trong toàn bạc 500, tôi đoán chừng trên 400 ngàn đồng và tôi để vào ngăn kéo nơi bàn làm việc. Tôi tiếp tục rón rén vào trailer để quan sát, tôi sợ Tư lệnh tự sát.
    Khoảng 12 giờ 30 khuya, Tư lệnh ra gặp tôi nói:
    – Sao Danh không đi ngủ? Thức cả đêm à?
    – Dạ em ngủ không được.
    Tư lệnh móc từ trong túi ra một khẩu súng nhỏ, ngắn hơn gang tay và nói:
    – Danh cất khẩu súng này dành để hộ thân.
    Tôi nhận khẩu súng bỏ vào ngăn kéo chung với gói tiền lúc nảy. Tôi xuống nói chuyện với anh Việt và anh Ngộ, Thiếu tướng đă cho tôi súng, không hiểu Tư lệnh có ư định ǵ?
    Khoảng sau 1 giờ sáng, anh lính hơ hải chạy vào gặp tôi:
    – VC tự động mở cửa vào dinh.
    – Anh bảo họ chờ tôi một chút.
    Tôi vội vả vào trailer để gặp Tư lệnh, tôi thấy Tư lệnh nằm nghĩ. Tôi tŕnh:
    – Tŕnh Thiếu tướng, bọn VC đang vào dinh.
    – Bảo họ chờ tôi ra nói chuyện.
    Tôi đi nhanh ra trước cổng dinh, lúc bấy giờ tôi vẫn mặc áo thun, quần lính, mang giày. Gần đến cổng dinh, tôi thấy lố nhố 6, 7 người đang vẹt kẻm gai đi vào hướng cửa dinh. Đến gần, tôi thấy 4 nam, 1 nữ có vấn đầu tóc lũng lẵng phía sau ót và một em bé độ 10 tuổi. Nam trang bị 1 khẩu AK, một người mang khẩu Carbin, một người mang súng lục (súng loại cảnh sát xử dụng) số c̣n lại tay không, không mang giấy tờ hay máy móc ǵ cả. Nhóm người này tuổi dưới 40, đến ṿng kẻm gai thứ ba từ ngoài vào, c̣n hai ṿng nửa từ cửa dinh ra, tôi vẹt kẻm gai và gặp họ tại đây. Một người trong nhóm quay qua hỏi tôi:
    – Anh làm ǵ ở đây?
    Tôi nói:
    – Tôi làm quản gia.
    Tôi nói trớ, không dám nói là tùy viên sợ bọn chúng bắn. Người mang khẩu AK hỏi tiếp:
    – Anh cấp bậc ǵ?
    – Tôi Trung sĩ.
    Bất chợt người mang AK lên đạn đưa mủi súng vào phía sườn tôi và nói:
    – Đi.
    Tôi lúc bấy giờ hồn phi phách tán, chết là cái chắc. Trong nhóm có người nói:
    – Ở đây nó làm lớn không hà, tính nó đi.
    Bọn chúng từ từ hướng vào cửa dinh, đến gần cột cờ, đứa trẻ con ôm chầm lấy khẩu súng đồng thời Pháp, súng đặt dưới chân cột cờ để làm kiểng, đứa trẻ reo lên:
    – Súng ngộ và đẹp quá.
    Chị bới tóc tiếp theo:
    – Nhờ có dịp này mới được vào dinh Tướng.
    Tôi nghe và thấy những việc trên, cỏi ḷng se lại. Bất chợt, nhóm người này dừng lại, người mang khẩu AK hất mặt ra dấu tôi đi qua hướng nhà bếp, ngang qua pḥng ngủ của tôi. Chết rồi, chắc bọn chúng bắn ḿnh ở đây, tôi chầm chậm bước đi, đầu ngoái lại cửa vô dinh. Tôi thấy Tư lệnh bước ra, đẩy nhẹ cánh cửa (cửa lưới chắn ruồi trước khi vào pḥng làm việc).
    Bọn người này bảo tôi dừng lại, ba người bước vào pḥng (một người tay không, một người mang khẩu P-38, một người mang khẩu Carbin). Số c̣n lại lảng vảng phía ngoài, người mang AK vẫn hướng súng về phía tôi. Khoảnh khắc, trung sĩ Ngộ từ pḥng Thiếu tướng đang nói chuyện với VC chạy đến tôi nói:
    – Thiếu tướng bảo Trung úy lấy thuốc lá hút.
    Có cớ vào gặp Tư lệnh, người mang AK bỏ thỏng súng xuống, tôi lặng lẽ bước đi, nhưng sợ hăi nó đàng sau bắn tới. Vô sự thế là thoát nạn, vào pḥng tôi mở ngăn tủ lấy gói thuốc Capstan đầu lọc mời Thiếu tướng một điếu, 3 người mổi người một điếu (Tư lệnh hút thuốc 3 số 555 nhưng thỉnh thoảng hút thuốc Capstan đầu lọc). Tôi thấy Tư lệnh ngồi trên sofa băng dài, người tay không ngồi trên ghế nhỏ đối diện Tư lệnh, người mang khẩu P-38 ngồi dưới sàn nhà, tay cầm khẩu súng để trên đầu gối mủi súng hướng về phía Tư lệnh, c̣n người mang khẩu carbin đứng ngay cửa pḥng tư thế tác chiến.
    Xong nhiệm vụ tôi bước ra ngoài, người mang AK vẫn ở thế tác chiến nhưng không để ư đến tôi nữa. Trên dưới mười phút nói chuyện, nhóm người này rời dinh ra về, tôi vào pḥng thấy Tư lệnh vừa đứng dậy bước ra ngoài với khuôn mặt buồn buồn, nh́n trên sofa tôi thấy điếu thuốc của Thiếu tướng c̣n cháy dở dang, mới 1/3 điếu nằm trên sofa bốc khói làm lủng một lổ nhỏ, tôi lấy vất đi. Cuộc nói chuyện này chỉ đơn phương, không có viết giấy tờ hay kư tên ǵ cả cũng không có máy móc khi hai bên gặp nhau. Tư lệnh vào trailer nằm nghĩ, tôi vào lần nữa thấy Tư lệnh nằm yên, chắc Tư lệnh đă mệt.
    Trong suốt đêm 30 tháng 4, Tư lệnh và tôi hầu như không ngủ, khoảng 3 giờ sáng, tôi rón rén vào pḥng Tư lệnh lần nữa, thấy Tư lệnh đang nằm yên không biết ngủ hay thức v́ trong lúc nằm nghĩ vẫn mang cặp kính đen. Tôi cũng quá mệt ra pḥng làm việc ngă lưng trên sofa một chút, vang vang bên tai những loạt AK nổ liên hồi, chắc đối phương nổ súng mừng chiến thắng.
    Trong lúc nửa tỉnh nửa mê bổng nghe tiếng chuông “boong, boong, boong”, tôi bật ḿnh ngồi dậy, nh́n đồng hồ thấy hơn 6 giờ, qua đến bàn Phật, tôi thấy 3 cây nhang Tư lệnh đă đốt và cắm sẵn trên lư hương khói bay nghi ngút. Tư lệnh mặc quân phục hẳn hoi đang nghiêng ḿnh xá Phật. Tôi vội đi nhanh làm vệ sinh cá nhân, xong mặc quân phục vào và đến đứng nghiêm chào Thiếu tướng. Thiếu tướng đưa tay lên cỡ tầm ngực đáp lại và hỏi:
    – Đêm qua, Danh ngủ được không?
    – Mệt quá em nằm nghỉ một chút.
    Tư lệnh vẫn ngồi trên sofa nơi pḥng thờ Phật, tôi đi sang qua pḥng làm việc. Một lúc sau, Tư lệnh đến bên tôi hỏi:
    – Gặp tướng Trường được không hè?
    Lúc này khoảng 6 giờ 30 sáng.
    – Dạ … dạ. Tôi ấp úng trả lời. Hồi chiều tối hôm qua ở trên lầu em thấy tướng Trường chạy xe jeep ngang qua dinh.
    Tư lệnh hỏi tiếp:
    – Có phải Trường không?
    – Em ở trên lầu hơi xa, em thấy giống tướng Trường.
    – Thôi đừng đi t́m, kẻo bị chúng bắt.
    – Dạ.
    Rồi Tư lệnh đi ra sau vào trailer, một lát sau Tư lệnh đi ra hai tay xách hai vali gặp tôi và anh Việt ngay ở cửa ra vào pḥng thờ Phật. Tư lệnh đưa cho tôi một cái màu cam, c̣n trung úy Việt một cái màu đen hay nâu tôi không nhớ rỏ. Tư lệnh buồn buồn nói:
    – Danh giữ cái này, Việt giữ cái này.
    Tư lệnh chỉ nói ngắn gọn không nói thêm ǵ, h́nh như cổ ông nghẹn lại. Tư lệnh vội bước đi, cách vài bước Tư lệnh quay lại nói tiếp:
    – À, quên ch́a khóa. Rồi Tư lệnh đi thẳng về sau vào trailer, một lúc sau trở ra trao cho tôi hai ch́a khóa và nói:
    – Cái này của Danh, cái này của Việt.
    Tôi linh tính sắp có điều ǵ sẽ xảy ra. Tư lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư lệnh ra sân thượng, đứng sát bên lan can, mắt nh́n ra lộ Ḥa B́nh trước cửa dinh, tôi đứng bên tay phải Tư lệnh, anh Việt đứng bên trái. Trước lộ vài xe qua lại, người thưa thớt vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt, Thiếu tướng bật khóc. Tướng cố nén tiếng khóc không bật thành tiếng, những giọt nước mắt cuộn tṛn chảy dài trên khuôn mặt đau buồn v́ nước mất nhà tan. Tôi cũng khóc theo, anh Việt cũng vậy, ba người đứng ở đây mặc cho nước mắt tự do tuôn chảy.
    Tôi nghĩ Tư lệnh đi ngoại quốc hết kịp rồi, tới đây VC có bắt Tư lệnh không? Có làm hỗn bắn Tư lệnh không? Nếu sự việc xảy ra th́ phải giải quyết làm sao? Tôi đang miên man suy nghĩ, Tư lệnh xoay lưng chầm chậm theo bậc thang xuống tầng dưới.
    Tư lệnh sắp tự sát
    Từ ngoài nh́n vô bàn Phật, Tư lệnh ngồi trên ghế sofa phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nh́n lên bàn thờ. Anh Việt bước ra cửa về thăm vợ con, c̣n trung sĩ Ngộ đang thập tḥ trước cửa. Tư lệnh đứng dậy đến bàn thờ lấy ba cây nhang đốt, xá ba xá cắm vào lư hương, gơ ba tiếng chuông “boong, boong, boong” xong xá 3 xá tiếp, xong Tư lệnh về ngồi nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sofa nhịp nhịp như không có chuyện ǵ sắp xảy ra. Bất chợt, Tư lệnh xoay qua bảo tôi:
    – Danh ra ngoài bảo Việt dẫn vợ con đi đi.
    – Dạ.
    Tôi thầm nghĩ Tư lệnh và tôi độc thân chắc Tư lệnh nghĩ cách khác.

    Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về pḥng trung úy Việt. Tôi vừa đi khỏi cột cờ một chút nghe tiếng nổ “đùng” phát ra từ hướng bàn thờ Phật, tôi xoay người trở lại chưa kịp bước trung sĩ Ngộ thất thanh chạy la lên:
    – Đại úy ơi! Đại úy ơi! Thiếu tướng tự sát chết rồi.
    Trong lúc sợ hăi, anh Ngộ gọi tôi là Đại úy. Tôi chạy nhanh vào thấy cảnh tượng hải hùng chưa bao giờ gặp. Tư lệnh ngă ngửa hơi lệch về phía sau sofa, đầu hơi nghiêng về bên trái, khẩu Colt 45 vẫn c̣n trong tay buông thỏng xuống ḷng Tư lệnh nhưng những ngón tay cầm súng đă nới lỏng, đầu đạn xuyên qua màng tang phải qua trái, ngước mắt nh́n lên trần nhà. Tư lệnh chưa chết, nhưng nói không được, giật run rẩy người, miệng há hốc, từ trong cổ họng nấc lên tiếng “khọc, khọc, khọc” từng chập và từ từ nhỏ dần.
    Anh Ngộ thấy vậy vội nói:
    – Thôi ḿnh chở Thiếu tướng đi bệnh viện.
    Tôi và anh Ngộ ôm chầm lấy Thiếu tướng vừa khóc vừa nói:
    – Chắc trễ rồi, vết thương ở đầu vô phương cứu chữa, hơn nữa Thiếu tướng đă quyết định tự sát. Hèn chi hôm qua Thiếu tướng đi thăm anh em thương binh ở bệnh viện Phan Thanh Giản rất lâu và nói với anh em thương binh qua ở lại với các em.
    Anh Ngộ nói tiếp:
    – Em đâu dám đến gần Thiếu tướng. Đứng ở ngoài cửa em chỉ thấy lưng Thiếu tướng. Em thấy Thiếu tướng móc từ trong túi ra, em tưởng Thiếu tướng lấy thuốc hút, nào ngờ Thiếu tướng nổ súng liền em chạy lại đâu kịp.
    Vừa nói anh Ngộ khóc nức nở, chúng tôi vẫn ôm choàng lấy Tư lệnh khóc. Trong lúc bối rối và hết hồn, tôi đâu có tâm trí đi xem đồng hồ, khoảng 7 giờ 30 ngày 1 tháng 5 năm 1975.
    Lê Ngọc Danh, cựu Trung úy QLVNCH




  4. #4
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    1,151

    Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng



    Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV; Quân Khu IV đă tự sát trong văn pḥng Tư Lệnh Phó tại Trại Lê Lợi nằm trên đường Ḥa Bỉnh, Cần Thơ, trước Thiếu Tướng Nam vài tiếng đồng hồ. Tên tuổi của Chuẩn Tướng Hưng được biết đến từ khi ông c̣n là một sĩ quan chiến đấu trên chiến trường Miền Tây và được xưng tụng là một trong những con mănh hổ dũng cảm nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Từ chức vụ Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 31 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, ông được điều động lên Quân Khu III làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh và được vinh thăng Chuẩn Tướng chỉ vài tháng trước khi chiến trận Mùa Hè Đỏ Lửa nổ lớn tại An Lộc trong năm 1972. Định mệnh đă chọn Chuẩn Tướng Hưng làm người tử thủ An Lộc và đánh thắng đến bốn sư đoàn địch, vang danh quân sử Việt Nam và chiến sử thế giới. H́nh ảnh dũng cảm và quen thuộc mà chiến sĩ tử thủ An Lộc ngưỡng mộ người Tư Lệnh của họ, là chiến sĩ Lê Văn Hưng đầu đội nón sắt, quần lính, áo thun màu ô liu, tay xách cây M16 như bất cứ một người lính khinh binh nào, làm việc 24/24 giờ một ngày bên chiếc đèn vàng mù mờ ánh sáng, hay ra chiến hào khích lệ tinh thần binh sĩ và tỉ mỉ giảng giải cách sử dụng súng chống chiến xa M72 để bắn xe tăng địch.

    Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV; Quân Khu IV đă tự sát trong văn pḥng Tư Lệnh Phó tại Trại Lê Lợi nằm trên đường Ḥa Bỉnh, Cần Thơ, trước Thiếu Tướng Nam vài tiếng đồng hồ. Tên tuổi của Chuẩn Tướng Hưng được biết đến từ khi ông c̣n là một sĩ quan chiến đấu trên chiến trường Miền Tây và được xưng tụng là một trong những con mănh hổ dũng cảm nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Từ chức vụ Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 31 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, ông được điều động lên Quân Khu III làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh và được vinh thăng Chuẩn Tướng chỉ vài tháng trước khi chiến trận Mùa Hè Đỏ Lửa nổ lớn tại An Lộc trong năm 1972. Định mệnh đă chọn Chuẩn Tướng Hưng làm người tử thủ An Lộc và đánh thắng đến bốn sư đoàn địch, vang danh quân sử Việt Nam và chiến sử thế giới. H́nh ảnh dũng cảm và quen thuộc mà chiến sĩ tử thủ An Lộc ngưỡng mộ người Tư Lệnh của họ, là chiến sĩ Lê Văn Hưng đầu đội nón sắt, quần lính, áo thun màu ô liu, tay xách cây M16 như bất cứ một người lính khinh binh nào, làm việc 24/24 giờ một ngày bên chiếc đèn vàng mù mờ ánh sáng, hay ra chiến hào khích lệ tinh thần binh sĩ và tỉ mỉ giảng giải cách sử dụng súng chống chiến xa M72 để bắn xe tăng địch.


    Chuẩn tướng LÊ VĂN HƯNG và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sau khi tái chiếm An Lộc Hè Đỏ Lửa 1972

    Dưới sự chăm sóc và chỉ huy của Thiếu Tướng Nam và Chuẩn Tướng Hưng, Quân Đoàn IV gồm các Sư Đoàn 7, 9 và 21 Bộ Binh đă đem lại những ngày an b́nh cho người dân Miền Tây. Hai vị Tướng đă là một cặp chiến binh kiệt xuất tạo nên bức tường thành vững chắc cho Quân Khu IV. Cho đến cái ngày oan nghiệt 30.04.1975, hai vị Tướng nhiều lần nhận được lời đề nghị khẩn thiết của người Mỹ muốn giúp hai vị và gia đ́nh di tản sang Hoa Kỳ, nhưng cả hai vị Tướng đă khẳng khái từ chối. Cho đến 4 giờ chiều cùng ngày, hai vị Thiếu Tướng c̣n cố liên lạc với các đơn vị hỏi xem có nhận được lệnh hành quân và phóng đồ bố trí chiến đấu chưa. Tất cả đều trả lời không. Hóa ra viên đại tá được giao trọng trách chuyển lệnh đă bỏ trốn mất. Hai vị Tướng tức uất thở than cho vận nước. Danh từ đầu hàng từ đầu cho đến tàn cuộc chiến rất xa lạ với người chiến sĩ QLVNCH. Chuẩn Tướng Hưng vẫn với bộ quân phục tác chiến bộ binh màu ô liu trở lại văn pḥng Tư Lệnh Phó gặp lại vợ con nói lời vĩnh biệt và ân cần khuyên nhủ bà Chuẩn Tướng phu nhân gắng cắn răng sống nuôi con, dạy dỗ con nên người, nói cho chúng biết về người cha đă chết như thế nào cho tổ quốc. Người cũng trân trọng từ biệt các chiến hữu:
    “Tôi không bỏ các anh để đưa vợ con ra ngoại quốc. Tôi cũng không thể chịu nhục đầu hàng. Các anh đă từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi tôi có rầy la. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm nếu có.”

    Những người lính ôm lấy lá cờ vàng và cây súng thân thương vào ḷng khóc nức nở. Họ biết giây phút vĩnh biệt người chủ tướng đă điểm. Chuẩn Tướng Hưng cố xô đẩy đuổi mọi người ra ngoài, b́nh thản đóng kín cửa văn pḥng lại. Có tiếng súng nổ chát chúa từ bên trong vọng ra. Bà Hưng và các chiến hữu phá cửa xông vào. Chuẩn Tướng Hưng nằm ngă người tựa vào giường nửa trên nửa dưới, hai cánh tay dang ra và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn, đôi mắt c̣n mở to uất hờn. Người đă bắn vào tim để tỏ rơ tiết tháo một người Tướng lănh của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Máu từ trong tim người thấm ướt mảng áo ngực và loang ra đỏ thắm tấm drap trắng. Thời điểm người anh hùng thăng thiên đúng 8 giờ 45 tối ngày 30.04.1975. Khoảng 11 giờ khuya, Thiếu Tướng Nam gọi điện qua chia buồn. Bà Thiếu Tướng Hưng nghe rơ tiếng thở dài của người Tư Lệnh phía bên kia đầu dây…
    . . .
    Tôi tin Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng đă thành thần đúng như câu dân gian thường nói về những vị dũng tướng “sinh vi tướng, tử vi thần”.
    Tôi chứng kiến cuộc sống uy dũng của ông qua nhiều giai thoại. Một trong những giai thoại đó xảy ra vào năm 1972, trong cuộc tổng tấn công của Việt Cộng. Năm đó, ông tử thủ An Lộc, và tôi ra vào An Lộc nhiều lần, theo dơi những nỗ lực của Sư Đoàn 5 Bộ Binh trong cố gắng chặn đứng mũi dùi của địch tại An Lộc, thị trấn chỉ cách thủ đô Sài G̣n 3 tiếng đồng hồ, nếu đoàn chiến xa T-54 của chúng không vướng vào sức kháng cự quyết liệt của chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa.
    Ngày 13 tháng Tư 1972, quân Việt Cộng từ 3 mặt tấn công vào tuyến pḥng thủ của Quân Lực VNCH, hai mặt Đông và Tây đánh bật địch quân ra nhưng tuyến pḥng thủ hướng Bắc bục, nhiều chiếc T-54 của địch húc rào gai tràn vào.
    Đang viết bài tại ṭa soạn, (số 2bis đường Hồng Thập Tự), th́ được tin địch quân chọc thủng pḥng tuyến, tôi điện thoại gọi Đại tá Lê Văn Hưng, Tư lệnh Sư đoàn, và hỏi ông, “T́nh h́nh ở trỏng ra sao?”
    “Đái ra quần rồi chứ sao?”
    Tướng Hưng có lối nói đùa rất tỉnh, nghe giọng đùa cợt quen thuộc tôi thấy yên bụng và bảo ông, “Viết xong bài tường thuật này, tôi sẽ ra Tân Sơn Nhất, kiếm trực thăng vào gặp anh.”
    “Đừng đáp trên nóc hầm nghen, ở trển không c̣n trống như ngày hôm qua nữa,”tướng Hưng bảo tôi.
    “Có ǵ ở trển?”
    “Một chiếc T-54.”
    Tôi tưởng tướng Hưng vẫn nói giỡn như thường khi, nhưng khi tôi vào đến An Lộc, Đại tá Lê Quang Lưỡng, Tư lệnh Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, bảo tôi là ổng mới gỡ “con rận”đó trên lưng Đại tá Hưng.
    Ông Lưỡng bảo tôi, “Anh t́m anh Mạch Văn Trường để nghe ông vua diệt T-54 kể chuyện đánh tăng địch”.
    Chúng tôi có một số bạn chung, bọn “nhà giàu”sống tại Sài G̣n với mặc cảm mắc nợ người xả thân ngoài chiến tuyến; mỗi lần tôi vào chiến trường quan sát để viết bài, họ gửi tôi một, hai thùng, mỗi thùng 12 chai rượu mạnh, để tặng người cầm súng.
    Tôi uống với họ, mừng hay không mừng về những chiến công của họ. Có nhiều chiến công không mừng mà c̣n lo nữa, v́ dù tiếng súng đă im, nhưng giao tranh chưa dứt.
    Tôi gặp Lưỡng trên đường vào gặp Hưng, người “anh hùng tỉnh rụi”, cái tên bè bạn đặt cho anh. Tôi biết rất nhiều về Hưng, nhưng tôi không chứng kiến phút quyết liệt, anh đẩy vợ và đẩy người sĩ quan tùy viên tâm phúc ra khỏi pḥng, để làm hành động không hàng giặc. Hơn nữa tôi không viết về anh được như anh Nghĩa, người sĩ quan tùy viên của anh, viết: viết với ḷng yêu thương kính cẩn của một vị trung úy viết về ông tướng mà anh Nghĩa tâm phục, khẩu phục. (Nguyễn Đạt Thịnh)
    Bài của tùy viên Tướng Hưng tên Nghĩa (cấp bậc Tr/U) mà tác giả Nguyễn Đạt Thịnh giới thiệu khá dài và tôi chỉ trích đoạn "phút thành Thần" của Tướng Hưng , các bạn có thể đọc nguyên bản từ:
    https://baovecovang2012.wordpress.co...yen-dat-thinh/

    Phút thành Thần của Tướng Lê Văn Hưng
    . . .
    Lúc đó khoảng 8h30 tối ngày 30-04-75. Bộ quân phục nghiêm chỉnh vẫn c̣n trên người Chuẩn Tướng và tôi. Bên trong pḥng ngủ Chuẩn Tướng, ngay sát đầu cầu thang trên lầu, sau nụ hôn vĩnh biệt của phu nhân vừa kịp đặt trên má chồng, ông Tướng đă vội vă đẩy bà ra phía ngoài và đóng nhanh cánh cửa. Lúc quay người lại, thấy tôi c̣n đứng lại trong pḥng, giọng ông thảng thốt:
    – Nghĩa! Mầy đi ra…
    Vừa nói ông vừa nắm lấy tay tôi lôi về phía cửa. Tôi bệu bạo:
    – Tôi ở lại cùng Thiếu Tướng!?…(*)
    Sự dứt khoát của nghiêm lệnh hằng ngày trong giây phút xúc động mănh liệt làm giọng Chuẩn Tướng lạc đi. Cái níu đẩy tôi ra ngoài, sự cọ xát ngắn ngủi đầy bi thương ấy khiến tôi có cảm giác ḿnh như là thỏi sắt đang bị rút ra khỏi cục nam châm. Ôi! Cái chết hoàn toàn được sắp đặt trước, lần đầu tiên trong đời tôi mới chứng kiến. Tôi chợt oà khóc!
    Đứng bên ngoài, tôi và phu nhân tai c̣n vọng nghe tiếng rít cài then khô khốc từ bên trong. Bất giác, tôi và bà Tướng mọp người xuống nền gạch, cố đưa mắt nh́n vào khe hở dưới cửa. Mọi việc diễn ra không đầy 1 phút sau đó. Một tiếng nổ chát chúa vang lên bên trong cánh cửa. Tôi hoảng hốt ngưng khóc, đứng bật dậy. Với tiếng nổ đó, tôi đau đớn nhận rơ chắc chắn chuyện ǵ đă xảy ra rồi! Trong pḥng không c̣n tiếng động nào. Tôi đưa tay thử lay động cánh cửa. Vô hiệu! Tôi lùi lại nh́n xuống phía chân cầu thang kêu lớn khi thấy có 3-4 cái đầu đang nhớn nhác nh́n lên (h́nh như có cả Thiếu Tá Phương):
    – Kiếm một con dao… cạy cửa mau…

    Người tài xế tên Giêng cầm con dao to, nhọn, chạy nhanh lên và đích thân nạy cánh cửa bật ra. Mọi người cùng ùa vào pḥng. Tôi bàng hoàng khóc ngất. Tất cả cũng khóc và chạy đến chỗ giường ngủ của Chuẩn Tướng. Ông đang ngửa người, nửa thân trên nằm trên tấm nệm trải drap trắng, hai cánh tay buông ngang, khuy cổ và ngực áo bung ra, màu máu tươi nhuộm thắm phần ngực trái chiếc áo thun trắng bên trong. Cả phần chân Chuẩn Tướng buông thơng bên ngoài, hai gót giày chấm đất. Có lẽ Chuẩn Tướng đă ngồi cạnh thành giường, 1 tay cởi 2 khuy áo trên, tay kia đưa ṇng colt 45 ấn vào chỗ trái tim…
    Chúng tôi đặt Chuẩn Tướng ngay ngắn lại trên giường, gương mặt ông xanh tái, lấm tấm mồ hôi, miệng há, đôi mắt chưa khép, biểu lộ sự đau đớn cực độ. Vừa đặt đầu ông lên gối, bà Tướng vuốt mắt cho chồng… Chuẩn Tướng đă yên nghỉ! Viên đạn oan nghiệt đă xuyên thật chính xác quả tim người anh hùng.
    Đứa con đầu ḷng, Lê Uy Hải, lúc đó vừa tṛn 6 tuổi, đă nhặt được đầu đạn đưa cho mọi người xem, rồi mím môi khép 5 ngón tay giữ chặt “kỷ vật”. Nh́n cử chỉ ấy, tôi nghĩ tuổi thơ ngây dại của cháu đă trôi qua mất kể từ buổi tối hôm nay rồi. Khoảng một tiếng đồng hồ trước đó hai anh em (em gái 3 tuổi) c̣n đùa giỡn trên tấm nệm cao su đặt dưới nền gạch cạnh pḥng cha, hai đứa bé không hề hay biết lát nữa đây vành khăn tang trắng sẽ phủ lên tuổi ấu thơ hồn nhiên của ḿnh. (Nghĩa)


    Last edited by BlackHole; 20-04-2019 at 06:51 AM.

  5. #5
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    1,151
    Tướng Lê Nguyên Vỹ


    Mt trong nhng hi c rt đp và rt hào hùng mà Chun Tướng Lê Nguyên V c̣n đ li trong chiến s Vit Nam, là lúc ông cm khu súng chng chiến xa M72 nhoài người lên khi hm ch huy ca Chun Tướng Lê Văn Hưng ti An Lc bn cháy mt chiếc T54 chy ln qung sát mt bên, trong lúc Chun Tướng Hưng đă th sn mt trái lu đn trong tay đ cùng chết vi quân đch. Đi Tá V đích thc là mt khuôn mt lng ly ca Min Đông khi ông v phc v dưới c ca Sư Đoàn 5 B Binh t năm 1968.

    Đ
    i Tá V ni danh là mt chiến binh qu cm, mt sĩ quan mn cán, năng n, có tài tham mưu và ch huy. Sau chiến thng An Lc, Đi Tá V được đ bt lên làm Tư Lnh Phó Sư Đoàn 21 B Binh, cho đến gn cui năm 1974, sau mt khóa hc Ch Huy và Tham Mưu Cao Cp bên Hoa Kỳ v, cái ghế và văn pḥng Tư Lnh Sư Đoàn 5 B Binh đang ch đi ông, cùng vi chiếc lon mi Chun Tướng. Chun Tướng V dưới con mt n trng ca chiến sĩ Sư Đoàn 5 B Binh, là mt v ch huy siêng năng và đáng kính. Người ni tiếng thanh liêm và chng tham nhũng triệt để, bn tính ca người bc trc và d ni nóng trước cái ác và cái xu. Mt s sĩ quan trong sư đoàn làm chuyn càn quy, ăn chn trên xương máu ca chiến sĩ đu b người trng tr thng cánh. Chun Tướng V là mt trong nhng v Tướng hiếm hoi có tinh thn t trng cao đ, không bao gi li vào mi s tr giúp t phía Hoa Kỳ. Người ta nh́n thy ông mt tinh thn t lc cánh sinh và có nhiu sáng kiến khi phi đương đu vi nhng vn đ khó khăn. V mt quân s, người có mt tm nh́n chiến lược rt bao quát của một Tướng Tham Mưu.


    Tướng Lê Nguyên Vỹ ( Tư Lịnh Sư Đoàn 5 BB )


    KỶ NIỆM SAU CÙNG NHƯNG MĂI MĂI VỚI TƯỚNG VỸ

    NGUYỄN VĂN HẢI, M.A Cựu SVSQ/K21 Trường VBQGVN Cựu Thiếu tá Quận Trưởng Quận Phú Giáo, Tỉnh B́nh Dương (VNCH)
    . . .
    Khoảng hơn một tuần lễ trước khi mất nước, Tướng Vỹ cho trực thăng đón tôi qua Lai Khê để gặp ông bàn việc. Trong khi tṛ chuyện ông thường nhắc đi nhắc lại là đến giờ này Tông Thống Thiệu vẫn c̣n cố chấp, không chịu nghe lời ai cả. Gặp Tướng Vỹ xong, ra đến băi đậu trực thăng, hai sĩ quan lái trực thăng cho Tướng Vỹ nói với tôi rằng tôi hăy cố thuyết phục Tướng Vỹ để cho họ chở Tướng Vỹ và tôi ra Đệ Thất Hạm Đội. Hai vị Sĩ quan không quân c̣n nhấn mạnh rằng mọi người đang lo chạy trốn cả rồi Tướng Vỹ và tôi c̣n đánh làm ǵ nữa. Tôi chỉ gật-gù cảm ơn ḷng tốt của họ và không nói thêm ǵ cả. Hai vị Sĩ quan này chắc nghĩ tôi thân với Tướng Vỹ, nên tôi có thể thuyết phục được ông, nhưng tôi lại nghĩ rằng tôi đă không muốn bỏ chạy th́ tôi dại ǵ lại đi thuyết phục người khác hăy bỏ chạy để bỏ tôi ở lại một ḿnh. Hơn nữa tôi cũng biết Tướng Vỹ đă quyết định đánh đến cùng rồi. Về đến quận, vừa ngả lưng nghỉ mệt, người lính gác cổng chạy vào báo cô Quư, em gái ruột tôi từ Sài G̣n lên muốn vào gặp tôi. Tôi căn dặn người lính gác ra nói dối với em tôi rằng tôi đi họp chưa về. Tôi đoán biết Mẹ tôi cho cô em tôi lên thúc tôi bỏ quận để về Sài G̣n lo việc chạy trốn khỏi Việt Nam.

    Tuy tôi đă quyết định ở lại chiến đấu cùng đơn vị, nhưng tôi nghĩ rằng tôi cũng cần phải lo cho vợ con tôi, nên ngày 27 tháng 4 năm 1975 tôi quyết định về Sài G̣n thăm gia đ́nh như lời khuyên của Tướng Vỹ trước đây.Thực sự buổi về Sài G̣n này tôi đă chỉ dám ghé nhà bố mẹ vợ tôi tại đường Nguyễn Bỉnh Khiêm để khuyên vợ tôi hăy mang hai con tôi bám theo mẹ, anh và các em gái tôi mà chạy khỏi VN. Tôi trở về Phú Giáo ngay trưa hôm 27 /04 . . .


    Sáng 30 tháng 4 năm 1975, tôi hoàn toàn mất liên lạc với tỉnh B́nh Dương! Tôi nói với Thiếu tá Hùng Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 306 Địa Phương Quân hăy cố gắng đánh mở đường đưa tôi về tỉnh, v́ tôi đă mất liên lạc với Đại tá Của, Tỉnh trưởng B́nh Dương. Khoảng nửa giờ sau đó, Thiếu tá Hùng cho tôi biết phía trước đường tiến quân có một cái chốt cấp Đại đội của VC chặn đường. Tôi nhất quyết ra lệnh cho Thiếu tá Hùng phải vượt qua chốt VC. Thiếu tá Hùng đă phải vượt lên tuyến đầu để chỉ huy đánh chốt VC. Chừng nửa giờ quyết chiến, Thiếu tá Hùng báo cáo Tiểu đoàn tràn ngập chốt của VC. Tôi liền ra lệnh toàn thể các đơn vị kéo quân về hướng Ḥa Lợi 2 và tiến về B́nh Dương. Khốn nỗi thay! Đồng thời lúc đó một anh lính đưa cho tôi nghe lệnh đầu hàng qua một radio nhỏ cầm tay của Tổng Thống Dương Văn Minh và Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Hạnh, tự xưng là Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH. Tôi bàng hoàng, nước mắt ràn-rụa, nói với mấy người lính đứng bên cạnh:”thôi chúng ḿnh mất nước rồi”! Tôi c̣n nhớ hôm bố tôi chết vào dịp Tết Mậu Thân 1968, khi VC đánh vào tỉnh Phan Thiết, tôi cũng không khóc nhiều như thế. Nước mắt ở đâu cứ ràn -rụa đổ ra! Nhưng chỉ ít phút sau tôi lấy lại được b́nh tĩnh và đang đự định lấy tần số liên lạc với Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 5, th́ Trung tá Vượng Trung đoàn trưởng Trung đoàn 7 kéo bộ chỉ huy đến và bảo tôi cùng kéo quân về Lai Khê gặp Tướng Vỹ để nhận lệnh.


    Đến hàng rào căn cứ Lai Khê, Trung tá Vượng và tôi phải cố gắng thuyết phục những người lính gác ở đây mới lọt được vào cổng của căn cứ, v́ đă có lệnh “nội bất xuất, ngoại bất nhập” của Tướng Tư Lệnh Sư đoàn 5.
    Vừa bước vào pḥng họp, tôi thấy hầu hết các sĩ quan thuộc Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 5 đang đứng, ngồi quanh Tướng Vỹ, nào Đại tá Tường Phụ tá Hành Quân, Pháo binh, các sĩ quan tham mưu, tôi không thấy Đại tá Thoàn Tư Lệnh Phó và Đại tá Từ Vấn Tham mưu Trưởng Sư đoàn. Tướng Vỹ ngồi ngay giữa một chiếc bàn nhỏ, trên bàn là bát canh măng khô nấu với vịt, bên cạnh là chén nước mắm ớt. Sau khi tôi và Trung tá Vượng chào ông theo đúng quân cách, Tướng Vỹ nói: - Vượng, Hải vào ăn cơm luôn thể - Giọng nói của ông vẫn khàn khàn, b́nh thản như mọi khi.
    Tuy không nói ra nhưng tôi thấy ngán-ngẫm và nghĩ trong đầu: ”Trời ơi! Giờ này c̣n ăn uống ǵ nữa”.
    Sau khi mời chúng tôi xong, Tướng Vỹ tự cầm chén lên xới cơm, chan canh măng vịt và ăn rất nhanh như người bị đói đă lâu. Vừa ăn ông vừa nói: “món măng khô nấu vịt là món moa thích nhất”. Ăn đúng ba chén cơm đầy ông mới buông đũa. Tôi cũng cầm chén ăn cơm, nhưng không sao nhai nổi lưng chén cơm. Tướng Vỹ, sau khi uống ngụm nước cho trôi cơm, ông đứng phắt dậy và vẫy tôi ra một chỗ để nói riêng. Nhưng tôi hỏi ông trước: - Thiếu tướng có lệnh ǵ cho tôi không? Ông đáp rất gọn: “Moa lo cho moa, toa lo cho toa” Tôi chưng hửng đáp: “Tôi biết lo làm sao bây giờ, Thiếu tướng. Lính của tôi đă bố trí sát hàng rào Lai Khê rồi”
    - Khoảng hơn một tháng trước 30 tháng 4 năm 1975, Tướng Vỹ có dặn tôi hăy chuẩn bị một số người lính trung thành để đưa ông và tôi đi. Tôi đoán biết sẽ đi Vùng 4 Chiến Thuật để tiếp tục chiến đấu, v́ ở đó có Tướng Hưng, Tướng Nam là những người Tướng Vỹ có thể tin tưởng được (Tướng Vỹ đă đă nhận định không sai chút nào, v́ hai Tướng Hưng, Nam cũng đều là những Tướng Anh Hùng, vị quốc vong thân!).
    Tướng Vỹ mỉm cười nh́n chằm-chặp vào tôi, nhắc lại y như trên một lần nữa và thêm: “Coi chừng tiêu đó Hải”. Nói xong ông quay lưng bỏ đi ngay.
    Câu trả lời của Tướng Vỹ đă làm tôi hoàn toàn thất vọng. Tôi có cảm giác bị bỏ rơi và nghĩ rằng: “hay Tướng Vỹ đă có trực thăng sẵn sàng bốc ông rồi!”. (Tôi lại nghi oan cho ông lần nữa)
    Không đầy một phút sau, tôi giật ḿnh v́ nghe có tiếng súng nổ. Tôi thấy Đại uư Nguyên tùy viên của Tướng Vỹ chạy ra nói lớn như khóc:”Tướng Vỹ đă tự sát rồi!”
    Tôi trách Đại úy Nguyên: “Sao anh không t́m cách dấu súng của ông Tướng trước đi”
    Đại úy Nguyên trả lời: “Tôi biết ông có 6 khẩu súng cả thảy, tôi đă dấu hết, khẩu ông dùng để tự sát, tôi không biết ông lấy ở đâu” .

    Viên đạn súng
    Beretta 6.35 đă xuyên từ cổ lên đầu Tướng Vỹ làm ông ra đi ngay. Tôi và Trung tá Vượng đă vào chào ông lần cuối. Cả hai chúng tôi sau đó đă bị VC bắt giữ và đi tù ngay cùng chiều hôm 30 tháng 4 năm 1975. Sau này tôi có nghe nhiều người nói rằng khi tên chỉ huy VC vào căn cứ Lai Khê thấy Tướng Vỹ tự sát đă tỏ ḷng khâm phục và nói: “Làm Tướng chết theo thành như Tướng Vỹ mới xứng đáng làm Tướng”.

    Các chi
    ến sĩ sư đoàn chuyn thi th v ch tướng ra an táng trong rng cao su gn doanh tri B Tư Lnh. Ít lâu sau, thi th Chun Tướng V li được thân nhân bc lên đem v ci táng Hnh Thông Tây, G̣ Vp, Sài G̣n. Năm 1987, bà c thân mu ca Chun Tướng V ln li vào Nam ha thiêu hài ct ca người anh hùng và đem v th t đường h Lê Nguyên ti quê nhà tnh Sơn Tây.


    Last edited by BlackHole; 20-04-2019 at 12:44 PM.

  6. #6
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    1,151
    Thiếu Tướng Phạm Văn Phú


    Trong cái ngày đau buồn ấy, tại bệnh viện Grall (Đồn Đất) Sài G̣n, người ta đưa vào thi hài của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II, một chiến binh mà các cấp bậc đi lên đều được trao gắn vinh thăng tại mặt trận. Thiếu Tướng Phú đă uống thuốc độc chết cùng với vận nước.

    Các cấp bậc của Tướng Phú đều được gắn tại mặt trận, và ông cũng đă nhiều lần nếm mùi thất bại, cắt lon, giáng chức, để cho có đủ…”khi vinh lúc nhục” của một đời binh nghiệp. Huyền thoại Phạm Văn Phú đă được mỗi người nhắc tới một cách khác nhau. Ông đă chết nên…ngoại trừ nhà văn Phạm Huấn, người cũng đeo bằng Dù trên ngực áo như Tướng Phú, và đă sống cạnh ông trong những ngày cuối của 1974-1975, là hơn một lần lên tiếng bênh vực cho cấp chỉ huy cũ khi ông Phú bị chỉ trích. Nhà văn tiền bối Nguyễn Đông Thành, đeo cấp Trung Úy từ năm 1947 và là một cây viết chủ lực của cơ quan truyền thông thời Đệ Nhị Cộng Ḥa và các tờ báo đứng đắn tại hải ngoại hiện nay. Ông đă đúc kết về Tướng Phạm Văn Phú (Đại Đội Trưởng và Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù năm 1953 tại Điện Biên Phủ) qua tài liệu khách quan nhất của những người ngoại quốc có thẩm quyền và tiếng nói của họ có đủ giá trị để chúng ta suy nghĩ.

    Từ cái ngày người bị trọng thương và sa vào tay giặc ở Điện Biên Phủ tháng 05.1954, rồi được trả về cho Việt Nam Cộng Ḥa sau ngày kư Hiệp Định Geneva 20.07.1954, Thiếu Tướng Phú đă thề với ḷng là người thà chết chứ không chịu nhục nhă lọt vào tay giặc một lần nữa. Lời thề ấy người đă giữ trọn, người chết đi mang theo một nỗi hận mất nước và một nỗi oan khuất về cuộc triệt thoái Quân Khu II không mong muốn.
    C̣n nhớ tại trận Điện Biên Phủ, toàn tiểu đoàn của Đại Úy Phú chỉ c̣n có 100 tay súng mà phải ngăn chống một số lượng quân địch đông gấp hai mươi lần, ông dẫn quân lên đánh cận chiến với địch và giành lại được hơn 100 thước chiến hào. Đại Úy Phú và một số các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn đều bị đạn địch quật ngă và một vài giờ sau đó bị sa vào tay giặc. Trong thời gian bị giặc bắt làm tù binh, bệnh phổi của Đại Úy Phú tái phát và ông mang bệnh lao. định mệnh vẫn c̣n muốn cho người anh hùng được sống, để tiếp tục chiến đấu cống hiến nhiều hơn nữa cho nền tự do của tổ quốc, sau tháng 07.1954 Đại Úy Phú được trả về cho Việt Nam Cộng Ḥa.

    Vị Tướng mảnh khảnh người, khuôn mặt xương nhưng có cái bắt tay mềm mại ấm áp ấy đă nhanh chóng trở thành một trong những vị Tướng xuất sắc nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, lần lượt đảm nhiệm những chức vụ quan trọng: Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, Tư Lệnh Biệt Khu 44 thuộc Miền Tây, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, và sau hết Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II. Chính là ở vị thế cực kỳ khó khăn này, Thiếu Tướng Phú phải đương đầu với nhiều vấn đề sinh tử có tầm vóc quốc gia, mà đă vượt ra khỏi quyền hạn nhỏ bé của ông. Người ta cho rằng việc thất thủ Ban Mê Thuột là do lỗi thiếu phán đoán của Thiếu Tướng Phú. Người ta chỉ có thể dùng quân luật và quân lệnh để bắt buộc Thiếu Tướng Phú thi hành lệnh rút quân, thậm chí đặt ông vào t́nh trạng bất khiển dụng v́ lư do sức khỏe ngay trong ngày 14.03.1975, hai ngày trước khi Quân Đoàn II rút quân ra khỏi cao nguyên.

    Dù rng có nhim v không th thiếu xót là làm theo lnh trên, Thiếu Tướng Phm Văn Phú, K8ĐL, Tư Lnh Quân Đoàn 2 và Quân Khu 2, vn không chi được trách nhim v vic b mt min Tây Nguyên và do thế to ra điu kin thun li cho Cng quân tiến chiếm toàn b lănh th Vit Nam Cng Ḥa mt cách mau chóng và đ dâng hơn c d liu ca Hà Nội. Đó là nhn đnh nht trí ca người Vit Nam t nn Cng Sn nước ngoài, trong vào năm đu h bán thp niên 1970. Nhn đnh như thế qu là rt thun lư vào hi đó, tc là trong khi người ta ch biết rt mù m v phn đóng góp ca Thiếu Tướng Phm Văn Phú vào cuc rút quân khi vùng Tây Nguyên, mt cuc hành binh đă b ghi nhn là thiếu kế hoch, thiếu chun b, và thiếu ch huy.

    Nh
    ưng ri th́ tng phn s thc dn dn được phơi ra. Người ta chưa biết tht đy đ, tht chính xác, nhưng cũng đă biết rơ được vài ba s vic có th chng minh rng Thiếu Tướng Phm Văn Phú trên thc tế không có trách nhim ǵ hết trong cuc rút quân khi s ngày 13/3/75 Pleiku. Cuc rút quân y do chính Tng Thng Nguyn Văn Thiu quyết đnh vi tư cách và quyn hn ca v Tng Tư Lnh QLVNCH. TT Thiu đă đích thân ra Nha Trang gp Thiếu Tướng Phm Văn Phú, mang theo Đi Tướng Cao Văn Viên, Tng tham Mưu Trưởng, đ đích thân truyn đt quyết đnh rút quân cho Tướng Phú thi hành.
    Vi tư cách là Tư Lnh ca mt Quân Đoàn trong QLVNCH, Thiếu Tướng Phm Văn Phú dĩ nhiên không được phép chng li mnh lnh ca Tng Tư Lnh và Tng Tham Mưu Trưởng. Nhưng Thiếu Tướng Phm Văn Phú cũng không tuân hành: hoc là v́ chính ông t khước; hoc v́ Tng Thng Thiu, Đi Tướng Viên ngi rng Tướng Phú s không ngoan ngoăn vâng li. Người đng ra thi hành lnh rút quân khi vùng Tây Nguyên là mt Đi Tá mi được thăng cp Chun Tướng, Đi Tá BĐQ Phm Duy Tt, đ lănh chc Tư Lnh Phó Quân Khu 2, và Tướng Tư Lnh được đt trong t́nh trng bt khin dng v́ lư do sc khe, t ngày 14/3/75 đến ngày b Trung Tướng Trn Văn Đôn, Tng Trướng Quc Pḥng mi nhn chc, bt giam v́ ti b mt vùng Tây Nguyên!


    Thiếu tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh Vùng II CT (trái) và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại Pleiku, tháng 2-1975.

    Như vy khi cuc rút quân khi min Tây Nguyên được thc hin theo lnh trên, Thiếu Tướng Phm Văn Phú trên thc tế chng c̣n là Tư Lnh Quân Đoàn II và Quân Khu II, nên không có trách nhim ǵ v cuc hành binh t sát mà Thiếu Tướng tuyt nhiên không tham d vào bt c mt giai đon nào, t quyết đnh, thiết kế, đến vic chun b và thc hin. Tuy nhiên dù không d phn trách nhim trong vic b mt vào tay đch mt phn lănh th Quc Gia, Thiếu Tướng Phm Văn Phú vn khng khái t x khi thy rơ là đi cuc đă không c̣n cách nào cu văn na, v́ Tướng Dương Văn Minh đă lm dng quyn Tng Tư Lnh mà bt toàn quân phi buông súng, np ḿnh cho gic Cng.

    Thiếu Tướng Phú đau ḷng theo dơi các mũi tiến quân của địch, như những vết dầu loang nhanh chóng thấm đỏ hết hai phần ba lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa. Người biết cái sinh mạng nhỏ bé của ḿnh cũng co ngắn lại cùng với số mệnh của đất nước. Rồi khi những chiếc khăn rằn và những chiếc áo màu xanh rêu mốc đă tràn ngập khắp phố phường Sài G̣n trong ngày 30.04.1975, người chọn cái chết lưu danh thanh sử bằng cách uống độc dược, để tỏ rơ ư chí bất khuất của người làm Tướng và chứng tỏ cho đối phương biết rằng họ có thể chiếm được đất nhưng không có thể quy phục được tiết tháo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.



    Last edited by BlackHole; 20-04-2019 at 12:45 PM.

  7. #7
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    1,151

    Chuẩn Tướng Trần Văn Hai
    Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi ông Dương Văn Minh ra lệnh cho quân đội buông súng dâng miền Nam cho tập đoàn Cộng Sản Bắc Việt th́ đông đảo quân nhân các cấp không chấp nhận đă tiếp tục chiến đấu đến hơi thở cuối cùng hoặc tự sát. Trong số các anh hùng đó, có các danh Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ và Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, nguyên Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân.
    Với mục đích tưởng niệm một người quân nhân thuần túy bất khuất, coi quyền lực như không có và đôi khi gần như ngạo mạn, không tham sân si và cả cuộc đời chỉ nhằm đóng góp nỗ lục cho Đất Nước…


    T
    ấm ḷng của những người mẹ thương con bao la mênh mông như đại dương, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai tuổi già tấm lưng c̣ng c̣m cơi với thời gian, đă mưu trí gạt được quân cộng đang tràn ngập trong căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh đem được thi thể vị Tư Lệnh về G̣ Vấp mai táng. Bà rưng rưng nước mắt nghẹn ngào nhận gói di vật của con bà từ tay một vị Trung Úy thuộc cấp, trong đó có một vài vật dụng cá nhân và số tiền hai tháng lương khiêm nhường của Chuẩn Tướng là 70.000 đồng. Là một người con hiếu thảo, trước khi ra đi người c̣n cố gửi về cho mẹ số tiền nhỏ bé đó.

    Lúc c̣n sống Chuẩn Tướng Hai nổi tiếng là vị Tướng thanh liêm, cuộc đời thanh đạm không có của cải vật chất ǵ đáng kể, ngoài chiếc xe Jeep của quân đội cấp cho, th́ khi người ra đi, người chỉ để lại cho hậu thế thanh danh thần tướng cùng tấm ḷng sắt son đối với dân tộc và tổ quốcTài năng của Chuẩn Tướng Hai được xác định bằng những chức vụ quan trọng trong hệ thống quốc gia như Tỉnh Trưởng Phú Yên, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II; Quân Khu II, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và sau cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Đảm nhiệm những chức vụ cao tột như vậy mà người vẫn sống một cuộc sống b́nh dị, nghiền ngẫm kinh Phật, trên tay lúc nào cũng thấy những loại sách học hỏi khác nhau. Chuẩn Tướng Hai cũng nổi tiếng là vị Tướng thương yêu và chăm lo cho đời sống chiến binh các cấp dưới quyền hết mực, thậm chí coi thường cả mạng sống. Như câu chuyện đă trở thành huyền thoại về Đại Tá Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, đầu năm 1968 đă cùng vài sĩ quan đáp phi cơ C123 ra tận chiến trường Khe Sanh và nhảy xuống, lặn lội ra tận từng chiến hào tiền tuyến thăm hỏi khích lệ chiến sĩ Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, dưới những cơn mưa pháo rền trời của địch.


    Đại tá Trần Văn Hai đang điều binh từ một góc phố ở Chợ Lớn trong trận Mậu Thân 1968.

    Mùa hè đỏ lửa 72, Cộng quân đẩy mạnh các nỗ lực tấn công có tính cách trận điạ chiến cắt đứt các trục giao thông chiến lược, đặc biệt là đoạn Quốc Lộ 14 nối liền hai thị xă Kontum Pleiku và Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 2 Quân Khu 2 cũng vừa mới nhận chức muốn chứng tỏ khả năng chỉ huy của ông cũng như tạo một tiếng vang nên ra lệnh cho lực lượng BĐQ phải hành quân giải tỏa đoạn Quốc Lộ nêu trên với sư tăng cường của một Chi Đoàn Thiết Kỵ giao tiếp với một thành phần của Sư Đoàn 23 nhưng liên tiếp bị chận đánh không tiến lên được như ư muốn của ông nên trong một buổi họp tham Mưu, Tướng Tư Lệnh đă trút giận dữ cho là BĐQ không chịu đánh, ra lệnh thay thế các cấp chỉ huy liên hệ bằng những sĩ quan khác đồng thời c̣n hướng về Tướng Hai lúc này đă được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Phó Quân Đoàn và nói: Biệt Động Quân của anh đó. Bị miệt thị và nhất là tự ái binh chủng của ông nên ông đă thẳng thắn đáp lễ là ông sẽ đứng ra trực tiếp điều khiển cuộc hành quân và ngay sau chấm dứt ông sẽ rời khỏi Quân Đoàn 2 v́ ông không thể cộng tác với một ông Tư Lệnh làm việc tùy hứng…Hai ngày sau đó lực lượng Biệt Động Quân giao tiếp được thành phần tiếp đón từ Kontum tiến ra, Tướng Tư Lệnh đă bay tới nơi với một phái đoàn báo chí để ngợi khen cái bắt tay có tính quyết định này. Tuy nhiên, để giữ lời hứa, Tướng Hai yêu cầu được rời Quân Đoàn 2, sau đó về làm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn kiêm Huấn Khu Dục Mỹ, nơi mà trước đây ông đă phục vụ với tính cách một huấn luyện viên nhỏ bé; nhưng ông chưa ngồi ở chức vụ này được bao lâu th́ Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn 4 nên ông Hai được bổ nhiệm thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam trong chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 7, một đại đơn vị nổi danh với những vị Tư Lệnh tiền nhiệm yêu nước, trong sạch gồm cố Trung Tướng Nguyền Viết Thanh và Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam.

    Năm 1974 định mệnh đă đưa Chuẩn Tướng Hai về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh để tên tuổi của người lưu tại ngh́n thu trong sử sách, bằng cái chết hào hùng mà đă làm địch quân kinh hoàng.

    Trước ngày 30.04.1975 chừng hơn một tuần, đích thân Tổng Thống Thiệu cho máy bay riêng xuống rước Chuẩn Tướng Hai di tản, mặc dù Chuẩn Tướng Hai không phải là người thân cận hay thuộc phe phái của ông Thiệu, điều đó cho thấy uy tín của người rất lớn. Chuẩn Tướng Hai thẳng thắn từ chối và cương quyết ở lại sống chết với chiến hữu của ông. Chuẩn Tướng Hai trong ngày cuối cùng vẫn tươm tất uy nghi trong bộ quân phục tác chiến ngồi trong văn pḥng Tư Lệnh chờ quân địch đến. Người ôn tồn khuyên bảo sĩ quan và chiến binh thuộc cấp trở về với gia đ́nh, nhưng có một số vẫn nhất quyết ở lại bảo vệ vị chủ tướng của họ. V́ họ biết Chuẩn Tướng Hai sẽ không bàn giao căn cứ Đồng Tâm, hoặc nếu có bàn giao th́ cái phương thức ông làm sẽ không phải là phương thức kiểu đầu hàng. Một con người đă từng chiến đấu bảo vệ đất nước hơn hai mươi năm, không lư do ǵ người giao lại cho địch một cách dễ dàng. Khoảng xế trưa, một đơn vị cộng quân thận trọng tiến vào Đồng Tâm và nhỏ nhẹ đề nghị xin được tiếp quản căn cứ. Chuẩn Tướng Hai ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn, bên trên có hai cái đế nhỏ gắn lá Cờ Vàng Việt Nam và lá cờ Tướng một sao, nghiêm nghị đ̣i hỏi một viên sĩ quan sư đoàn trưởng đến gặp ông. Ngoài điều kiện đó, ông không muốn bàn chuyện nào khác. T́nh h́nh rất căng thẳng, hai bên giương súng gh́m nhau. Măi lâu sau mới có một người gơ của xin vào rụt rè tự nhận là sư đoàn trưởng. Chuẩn Tướng Hai bất ngờ rút súng lục ra nổ mấy phát vào viên sĩ quan địch. Với khoảng cách rất gần đó, ông có thể giết chết đối phương dễ dàng, nhưng ông chỉ bắn ông này bị thương nhẹ phải bỏ chạy ra ngoài. Để cho địch biết, rằng muốn chiếm được nước Nam th́ họ phải trả một cái giá nào đó. Chiều tối cùng ngày, Chuẩn Tướng Hai đă uống thuốc độc tự sát trong văn pḥng Tư Lệnh.

    Những người anh hùng của dân tộc Việt Nam, những chiến sĩ dũng mănh của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, suốt đời tận tụy với nước non, đă hiến dâng cho tổ quốc những giọt máu đỏ thắm tinh khôi cuối cùng của ḿnh.



    Last edited by BlackHole; 20-04-2019 at 12:45 PM.

  8. #8
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    1,151
    Đại tá Hồ Ngọc Cẩn



    Đại-tá Hồ Ngọc-Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938, tại Cần-thơ. Thân phụ là một hạ sĩ quan trong quân đội Quốc-gia Việt-Nam. Thủa nhỏ ông rất khỏe mạnh, không hề bị bệnh tật ǵ. Năm 10 tuổi ông bị bệnh quai bị, cả hai bên. Tính t́nh hiền hậu, giản dị, trầm tư, ít nói. Khi ông bắt đầu đi học (1945) th́ chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ, nên sự học bị gián đoạn. Măi đến năm 1947 ông mới được đi học lại. Ông học không lấy ǵ làm giỏi cho lắm, thường th́ chỉ đứng trung b́nh trong lớp. Năm 1951, phụ thân nộp đơn xin cho ông nhập học trường Thiếu-sinh-quân. Thời điểm này, trên toàn lănh thổ VN có 7 trường TSQ, phân phối như sau:
    _ Trường TSQ đệ nhất quân khu, ở Gia-định.
    _ Trường TSQ đệ nhị quân khu ở Huế.
    _ Trường TSQ đệ tam quân khu ở Hà-nội.
    _ Trường TSQ Móng- cáy dành cho sắc dân Nùng.
    _ Trường TSQ đệ tứ quân khu ở Ban-mê-thuột.
    _ Trường TSQ Đà-lạt của quân đội Pháp.
    _ Trường TSQ Đông-Dương của quân đội Pháp, ở Vũng-tầu.

    Hồ Ngọc Cẩn được thu nhận vào lớp nh́ trường TSQ đệ nhất quân khu niên khóa 1951-1952. Trường này dạy theo chương tŕnh Pháp. Ông đỗ tiểu học năm 1952. Cuối năm 1952, trường TSQ đệ nhất quân khu di chuyển từ Gia-định về Mỹ-tho.
    Khi hiệp định Genève kư ngày 20-7-1954, th́ ngày 19 tháng 8 năm 1954, trường TSQ đệ tam quân khu di chuyển từ Hà-nội vào, sát nhập với trường TSQ đệ nhất quân khu ở Mỹ-tho. Niên học 1954-1955, trường TSQ đệ nhất quân quân khu bắt đầu dạy chương tŕnh Việt, và chỉ mở tới lớp đệ ngũ. Hồ Ngọc-Cẩn học lớp đệ lục A, giáo sư dạy Việt-văn là ông Nguyễn Hưũ-Hùng, từ Bắc di cư vào. Thực là một điều lạ, là giữa một số bạn học chương tŕnh Việt từ Bắc vào, mà Hồ Ngọc-Cẩn lại tỏ ra xuất sắc về môn Việt-văn. Trong năm học, có chín kỳ luận văn, th́ bài của Cẩn được tuyển chọn là bài xuất sắc, đọc cho cả lớp nghe bảy kỳ. Nhưng bài của Cẩn chỉ đứng thứ nh́ trong lớp mà thôi. Năm này Cẩn bắt đầu làm thơ. Thơ của Cẩn không có hùng khí, đa số những bài thơ này cực kỳ lăng mạn.
    Ghi chú.
    Ông Hùng bấy giờ mới đỗ tú tài. Trong thời gian dạy tại trường TSQ, ông tự học, đỗ cử nhân luật. Sau khi đỗ cử nhân luật, ông được bổ làm thẩm phán ở Tuy-ḥa, rồi làm bộ trưởng Lao-động, rồi thẩm phán ở Phước-tuy, rồi lại làm bộ trưởng Lao-động. Sau 1975 ông sống tiềm ẩn ở Huston, bang Texas, Hoa-kỳ và từ trần năm 2000.
    Hết năm học, Cẩn đă 17 tuổi. Theo học quy của trường TSQ, th́ khi một học sinh mười bẩy tuổi, mà chưa học hết đệ ngũ, sẽ được gửi đi học chuyên môn. C̣n như mười bẩy tuổi, mà học hết đệ ngũ, lại tỏ ra xuất sắc th́ được giữ lại học đệ tứ, rồi… cho học lên cao nữa. Niên khóa 1955-1956, Hồ Ngọc-Cẩn được gửi lên học tại Liên-trường vơ khoa Thủ-đức, về vũ khí. Sau ba tháng, Cẩn đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ khí bậc nhất với hạng ưu. Sáu tháng sau đó, Cẩn lại đậu chứng chỉ bậc nh́, và bắt đầu kư đăng vào quân đội với cấp bậc binh nh́.
    Quy chế dành cho các TSQ Việt-Nam thời ấy là quy chế dành cho các TSQ Pháp trong thời b́nh. Một học sinh ra trường, th́ ba tháng đầu với cấp bậc binh nh́, ba tháng sau với cấp bậc hạ sĩ, ba tháng sau thăng hạ sĩ nhất, và ba tháng sau nữa thăng trung sĩ. Chín tháng sau Cẩn là trung sĩ huấn luyện viên về vũ khí.

    Chiến tranh tại miền Nam VN tái phát vào năm 1960 tại một vài vùng. Sang năm 1961 th́ lan rộng. Để giải quyết nhu cầu thiếu sĩ quan, bộ Quốc-pḥng cho mở các khóa sĩ quan đặc biệt. Được nhập học trường này, tất cả các hạ sĩ quan có trên năm năm công vụ, có bằng Trung-học đệ nhất cấp. Với sự nâng đỡ đặc biệt của đại tướng Lê Văn-Tỵ Tổng-tham mưu trưởng, nguyên là một cựu TSQ, các hạ sĩ quan xuất thân từ trường TSQ, không cần phải hội đủ tŕnh độ học vấn, cũng như thâm niên công vụ, đều được nhập học.
    Nào ai ngờ, với sự nâng đỡ đặc biệt này, đă cung cấp cho đất nước VN không biết bao nhiêu sĩ quan gương mẫu, anh hùng trên chiến trường.
    Hồ Ngọc-Cẩn tốt nghiệp khóa 2 ( ?) sĩ quan đặc biệt với cấp bậc chuẩn úy. Dường như có một mật lệnh của Tổng-thống Ngô Đ́nh-Diệm hay đại tướng Lê Văn-Tỵ, các tân chuẩn úy, xuất thân từ trường TSQ, đều được đưa về phục vụ tại các binh chủng: Dù, Thủy-quân lục chiến (TQLC) , Biệt-động quân (BĐQ), Quân-báo, An-ninh quân đội, và Lực-lượng đặc biệt (LLĐB).
    Sau khi ra trường, Hồ Ngọc-Cẩn theo học một khóa huấn luyện BĐQ, rồi thuyên chuyển về phục vụ tại khu 42 chiến thuật, với chức vụ khiêm tốn là trung đội trưởng. Lănh thổ khu này gồm các tỉnh Cần-thơ (Phong-dinh), Chương-thiện, Sóc-trăng (Ba-xuyên), Bặc-liêu, Cà-mâu (An-xuyên). Về sau, v́ t́nh h́nh chiến tranh thay đổi, quân Cộng-sản từ du kích chiến, chuyển sang đánh cấp tiểu đoàn và trung đoàn, các đại đội BĐQ cũng phải kết hợp thành tiểu đoàn. Các đại đội BĐQ của khu 42 chiến thuật kết thành hai tiểu đoàn. Tiểu đoàn mang số 42, đơn vị mà Cẩn phục vụ, được tặng mỹ danh là tiểu đoàn Cọp ba đầu rằn. Tiểu đoàn mang số 44 được tặng mỹ danh là Cọp xám U-minh hạ.

    Tôi đă gặp Hồ Ngọc-Cẩn bao giờ? Tại đâu? Câu truyện như thế này:
    Năm 1966, khi đọc trong Đại-Nam chính biên liệt truyện, Đại-Nam nhất thống chí viết về ” Ngụy Tây-sơn”, có rất nhiều nghi vấn trong những trận đánh giữa vua Quang-Trung, với vua Gia-long tại rừng U-minh. Tôi nảy ra ư xuống vùng tận cùng của đất nước này t́m hiểu thêm. Bấy giờ đang xẩy ra vụ biến động miền Trung, ” các thầy mang bàn thờ xuống đường” , chiến cuộc tại miền Tây cực kỳ sôi động, mẹ tôi, bà má má (vú nuôi) cực lực phản đối, v́ đi như vậy dễ tiêu dao miền Cực-lạc lắm. Nhưng bố tôi, sau khi tính số Tử-vi của tôi, cụ lại khuyên tôi nên đi. Cụ nói ” Con đi lần này sẽ có thêm nhiều bạn tốt, hơn nữa có dịp biết về vùng đồng lầy Cà-mau”. Tôi nhất quyết đi, bà má má tôi khóc khốn khổ, nhưng cũng không cản được cái tính phiêu lưu và mê sưu tầm của tôi.
    Nhưng làm thế nào để có thể được vào tất cả những làng, những xă, mà không gặp trở ngại ? Làm sao có phương tiện di chuyển ? Chỉ một cú điện thoại, ông bố tôi đă kiếm cho tôi cái giấy giới thiệu của tờ tuần báo trung lập lớn nhất ở Paris. Bà má má kiếm cho tôi giấy giới thiệu của tờ nhật báo Hoa-văn tại Hương-cảng. Thế là tôi bỗng trở thành kư giả bất đắc dĩ . Tôi đến bộ tư lệnh MACV xin giúp phương tiện làm phóng sự chiến trường ở vùng 4 chiến thuật. Tôi chỉ mong t́m hiểu lịch sử, chứ nào có chủ tâm làm kư giả !

    Nhưng sau chuyến đi ấy, quá xúc động về cuộc chiến tranh thê thảm, tôi đă viết rất nhiều bài kư sự chiến trường, đăng trên một số báo ngoại quốc. Khởi đầu, uất hận trước cái chết của một cô bạn gái tên Đặng-thị Tuyết, mới hai mươi tuổi, làm nữ cán bộ Xây-dựng nông thôn tại kinh Tắc-vân, Cà-mau. Tôi là thầy thuốc, mà cô bị trúng đạn, chết trên tay tôi. Tôi viết bài ” Giang biên hoa lạc” gây xúc động mạnh cho độc giả Hương-cảng và giới Hoa-kiều tại VN. Sau tôi có dịch bài này sang tiếng Việt với tên là “Hoa rơi bên bờ kinh Tắc-vân”. Tôi gửi bài này dự thi giải kư sự chiến trường của Cục Tâm-lư chiến năm 1967. Bài của tôi được giải nh́. Giải nhất về Trang-Châu cũng là một bài kư sự của y sĩ tiền tuyến. Một trong các giám khảo nói với tôi ” Về nội dung, bài của cháu với Trang-Châu cùng nói lên niềm mơ ước của tuổi trẻ quên ḿnh cho quê hương. Nhưng bài của Trang-Châu trung thực, c̣n bài của cháu th́ ướt át quá, thê thảm quá, dù răèng đó là sự thực”.

    Sau đây, tôi xin trích nguyên văn một đoạn tôi viết về Hồ Ngọc-Cẩn, trong bài ” Ngũ hổ U-minh thượng”, kể chuyện năm tiểu đoàn trưởng nổi danh can đảm, có máu văn nghệ, nhất là phong lưu tiêu sái, tại chiến trường cực Nam năm 1966. Ngũ hổ là:
    Đai-úy Hồ Ngọc-Cẩn, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1/33,
    Thiếu-tá Lưu Trọng-Kiệt tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 42 BĐQ.
    Thiếu-tá Nguyễn Văn-Huy tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 44 BĐQ,
    Thiếu-tá Lê Văn-Hưng tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2/31.
    Đại-úy Vương Văn-Trổ tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3/33.

    Ghi chú
    Tôi xếp theo thứ tự abc. Trong năm người th́ Kiệt tuẫn quốc năm 1967. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Hưng tự tử, Cẩn bị xử bắn. C̣n Trổ , sau lên đại tá lĩnh tỉnh trưởng Kiên-giang, hiện định cư tại Huston, bang Texas, Hoa-kỳ. C̣n Huy tôi không biết sau ra sao ?
    Ngày19 tháng 4 năm 1966, tôi tới phi trường Vĩnh-lợi bằng phi cơ Caribou của quân đội Hoa-kỳ. Người đón tôi là thiếu tá Raider, của cố vấn đoàn 42. Tại bản doanh của cố vấn đoàn 42, đại tá cố vấn trưởng Hathaway không biết ǵ về chủ đích chuyến đi của tôi. Ông chỉ căn cứ vào giấy giới thiệu do hai chủ báo cấp, mà đoán rằng tôi là tên thầy thuốc trẻ, thích phiêu lưu, nên đi làm kư giả. Ông cho tôi biết t́nh h́nh địch rất chi tiết. Về t́nh h́nh quân đội VN tại năm tỉnh tận cùng của đất nước, ông nói:
    “Khu 42 chiến thuật, do sư đoàn 21, thuộc quân đoàn 4 trấn nhậm. Sư đoàn có ba trung đoàn mang số 31, 32, 33. Trung đoàn 31 đóng tại Chương-thiện. Trung-đoàn 32 đóng tại Cà-mau. Trung-đoàn 33 đóng tại Ba-xuyên. Ngoài ra c̣n có hai tiểu đoàn Biệt-động quân mang số 42 và 44. Tiểu đoàn 42 đóng tại Bặc-liêu, tiểu đoàn 44 đóng tại Ba-xuyên”.
    Ông ca tụng quân đội VN như sau:
    “Lương bổng cho người lính VN, chỉ gọi là tạm đủ ăn. Doanh trại không có, trang bị thiếu thốn. Nhưng họ chiến đấu như đoàn sư tử. Tuy vậy vẫn có những điều đáng phàn nàn. Ông là thầy thuốc cầm bút, xin ông lướt qua những cái đó”.

    Bốn hôm sau, có cuộc hành quân cấp sư đoàn. Tôi được gửi theo tiểu đoàn 42 Biệt-động quân. Tiểu đoàn trưởng là thiếu-tá Lưu Trọng-Kiệt, tiểu đoàn phó là trung-úy Hồ Ngọc-Cẩn. Cái tréo cẳng ngỗng là đối với cố vấn đoàn th́ tôi là kư giả. C̣n Kiệt với Cẩn lại tưởng tôi là bác sĩ t́nh nguyện ra mặt trận. Tiểu đoàn được đặt làm trừ bị tại phi trường Vĩnh-lợi, từ bẩy giờ sáng, chuẩn bị nhảy trực thăng vận. Nếu khi nhảy, th́ tiểu đoàn sẽ nhảy làm hai cánh. Cánh thứ nhất gồm đại đội 1, 2 do Hồ Ngọc-Cẩn chỉ huy. Cánh thứ nh́ gồm đại đội 3 và đại đội chỉ huy, do thiếu tá Lưu Trọng-Kiệt chỉ huy. Tôi với Kiệt, Cẩn ngang ngang tuổi nhau. Tôi có máu giang hồ của người tập vơ, coi trời bằng vung, lại cũng có học qua quân sự, nên chúng tôi thân cận nhau dễ dàng. Đại-úy cố vấn tiểu đoàn muốn tôi nhảy theo bộ chỉ huy. Anh hỏi tôi:
    – Lần đầu tiên ra trận, ” sơ” có sợ không ?
    Tôi trả lời như những nhân vật trong lịch sử Việt-Nam:
    – Tráng sĩ khi ra trận, không chết th́ cũng bị thương. Nếu sợ chết th́ đừng ra trận.
    Cẩn hỏi tôi đă học quân sự chưa? Tôi đáp:
    – Kiến thức về quân sự của tôi chỉ bằng phó binh nh́ thôi. Nhưng cũng biết ḅ, biết núp, biết nhảy, biết bắn. Đánh nhau bằng súng th́ tôi dở ẹc, nhưng đánh cận chiến th́ tôi có hạng, v́ tôi là ông thầy dạy vơ.
    Thông dịch viên dịch lại cho binh sĩ nghe. Họ khen tôi:
    – Ông bác sĩ này ngon thực!
    Tôi hỏi Kiệt:
    – Trong hai cánh, th́ cánh nào có hy vọng được đánh nhau nhiều hơn ?
    Kiệt chỉ Cẩn:
    – Anh cứ nhảy theo thằng này, th́ sẽ toại nguyện. Tha hồ mà hành nghề.
    Tiểu đoàn cũng có sĩ quan trợ y. Anh biệt phái cho tôi một y tá cấp trung sĩ, với đầy đủ thuốc cấp cứu. Trên lưng tôi chỉ có bộ đồ giải phẫu dă chiến. Khoảng mười giờ th́ có lệnh: Một đơn vị địa phương quân chạm địch tại Vĩnh-châu. Địch là tiểu đoàn Cơ-động Sóc-trăng. Tiểu đoàn phải nhảy trực thăng vận đánh vào hông địch. Địa điểm nhảy là một khu đồng lầy.
    Sau khi Kiệt họp các sĩ quan, tóm lược vắn tắt nhiệm vụ, t́nh h́nh trong mười phút. Cẩn dẫn tôi ra phi đạo. Hai đại đội đă lên trực thăng từ bao giờ. Chúng tôi cùng leo lên một trực thăng. Hai mươi lăm chiếc trực thăng cùng cất cánh. Trực thăng bay khoảng bẩy phút, th́ Cẩn chỉ vào khu làng mạc trước mặt:
    – Ḱa, chỗ chúng ḿnh đáp ḱa.
    Trực thăng hạ cánh. Thoáng một cái hơn hai trăm người từ trực thăng lao ra. Một cảnh tượng, mà không bao giờ tôi quên: Những người lính dàn ra thành một hàng ngang. Họ núp vào cái những cái bờ ruộng, mô đất, tay thủ súng, mắt đăm đăm nh́n về trước. Đó là một làng, lưa thưa mấy ngôi nhà tranh, ẩn hiện dưới những cây dừa xanh tươi. Mặc dù súng trong làng bắn ra, nhưng những người lính ấy, vẫn chưa bắn trả. Tôi đưa mắt nh́n một lượt, các sĩ quan, người th́ nằm, người th́ quỳ, cũng có người đứng.
    Từ lúc nhảy xuống, Cẩn không hề nằm, quỳ, mà đứng quan sát trận ḿnh, quan sát trận địch. Một là điếc không sợ sấm, hai là tự tin vào số Tử-vi của ḿnh thọ, tôi cũng đứng.
    Hơn mười phút sau, cánh quân thứ nh́ đă nhảy xuống trận địa. Trận vừa dàn xong, th́ sĩ quan đề lô xin pháo binh nă vào những chỗ có ổ moọc-chiê, trung liên, đại liên trong làng. Một lệnh ban ra, hơn bốn trăm con cọp dàn hàng ngang, vừa bắn, vừa xung phong vào trong làng. Trong khi súng trong làng bắn ra, đạn cầy các ụ đất, trúng vào ruộng nước, bụi, nước bắn tung.
    Hàng quân tới bờ ruộng cuối cùng, cách b́a làng không đầy năm mươi thước, th́ súng nhỏ từ trong mới nổ. Cả hàng quân đều nằm dài ra sau cái bờ ruộng. Giữa lúc đó, sĩ quan pháo binh trúng đạn lật ngươc. Tôi chạy lại cấp cứu, th́ không kịp, viên đạn xuyên qua sọ anh. Thế là pháo binh vô hiệu. Trực thăng vơ trang được gọi đến. Cố vấn Mỹ báo về trung tâm hành quân. Cố vấn tại trung tâm hành quân ra lệnh cho phi công trực thăng nă xuống địa điểm có địch quân.
    Tôi đứng cạnh Cẩn tại một mô đất. Cẩn không thực tiếp cầm máy chỉ huy, mà ra lệnh cho các đại đội, trung đội qua hiệu thính viên.
    Sau khi trực thăng vơ trang nă ba loạt rocket, đại liên, th́ lệnh xung phong truyền ra. Cả tiểu đoàn reo lên như sóng biển, rồi người người rời chỗ nằm lao vào làng. Không đầy mười phút sau, tiếng súng im hẳn.
    Bây giờ là lúc tôi hành nghề. Những binh sĩ, tù binh bị thương nặng được băng bó, cầm máu, rồi trực thăng tải về quân y viện. C̣n như bị thương nhẹ th́ được điều trị tại chỗ. Tôi ngạc nhiên vô cùng, khi thấy những binh sĩ bị thương khá nặng, nghe tôi nói rằng: Nếu họ muốn, tôi có thể gắp đạn, may các vết thương đó cho họ, mà không phải về quân y viện. Họ từ chối đi quân y viện, xin ở lại để tôi giúp họ. Tôi cùng sĩ quan trợ y, bốn y tá làm việc trong hơn giờ mới xong. Tôi hỏi Cẩn:
    – Tôi tưởng, thương binh được về quân y viện chữa trị, nghỉ ngơi, th́ là điều họ mong muốn mới phải. Tại sao họ muốn ở lại ?
    – Bọn cọp nhà này vẫn vậy. Chúng tôi sống với nhau, kề cận cái chết với nhau, th́ xa nhau là điều buồn khổ vô cùng. Đấy chúng nó bị thương như vậy đấy, lát nữa anh sẽ thấy chúng chống gậy đi chơi nhông nhông ngoài phố, coi như bị kiến cắn.
    Tôi đi một ṿng thăm trận địa. Hơn hai trăm xác chết, mặc áo bà ba đen, quần đùi . Những xác chết đó, gương mặt c̣n non choẹt, đa số tuổi khoảng 15 đến 20, cái th́ nằm vắt vẻo trên bờ kinh, cái th́ bị cháy đen, cái th́ mất đầu. Cũng có cái nằm chết trong hầm. Không biết, trong khi họ phơi xác ở đây, th́ cha mẹ, anh em, vợ con họ có biết không ?
    Sau trận đó th́ Cẩn được thăng cấp đại úy. Cuối năm 1966, Cẩn từ biệt tiểu đoàn 42 BĐQ đi làm tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 (Sư đoàn 21). Việc đầu tiên của Cẩn khi làm tiểu đoàn trưởng là xin sư đoàn cho tất cả các sĩ quan, hạ sĩ quan xuất thân trường TSQ về chiến đấu cùng với ḿnh. Cẩn đă được thỏa măn một phần yêu cầu. Tôi hỏi Cẩn:
    – Anh đem các cựu TSQ về, với mục đích ǵ ?
    – Một là để dễ sai. Tất cả bọn cựu TSQ này đều ra trường sau tôi. Chúng là đàn em, dù tôi không phải là cấp trên của chúng nó, mà chúng no lộn xộn, tôi vẫn hèo vào đít chúng nó được. Nay tôi muốn chúng về với tôi, để tôi có thể dạy dỗ chúng nó những ǵ mà tại quân trường không dạy. Hai là, truyền thống của tôi khi ra trận là chết th́ chết chứ không lùi, v́ vậy cần phải có một số người giống ḿnh, th́ đánh nhau mới đă. Bọn cựu TSQ đều như tôi cả.
    . . .
    Last edited by BlackHole; 20-04-2019 at 06:39 PM.

  9. #9
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    1,151
    . . .
    S
    uốt năm 1967, Cẩn với tiểu đoàn 1/33 tung hoành trên khắp lănh thổ năm tỉnh Hậu-giang, khi Đại-ngăi, khi Tắc-vân, khi Kiên-hưng, khi Thác-lác, khi Cờ-đỏ. Sau trận tổng công kích Mậu-Thân, Cẩn được thăng thiếu tá. Năm 1968, Cẩn là người có nhiều huy chương nhất quân đội. Thời gian này tôi bắt đầu viết lịch sử tiểu thuyết, nên tôi đọc rất kỹ Lục-thao, Tam-lược, Tôn-Ngô binh pháp, cùng binh pháp của các danh tướng Đức, Pháp, nhất là của các tướng Hồng-quân. Tôi dùng kiến thức quân sự trong sách vở để đánh giá những trận đánh của Cẩn từ 1966. Tôi bật ngửa ra rằng, Cẩn không hề đọc, cũng không hề được học tại trường sĩ quan, những binh pháp đó. Mà sao từ cung cách chỉ huy, cung cách hành xử với cấp dưới, cấp trên, nhất là những trận đánh của Cẩn bàng bạc xuất hiện như những lư thuyết trong thư tịch cổ?

    Năm 1970, Cẩn thăng trung tá, rời tiểu đoan 1/33 đi làm trung đoàn trưởng trung đoàn 15 thuộc sư đoàn 9. Năm 1972, Cẩn được lệnh mang trung đoàn 15 từ miền Tây lên giải phóng An-lộc. Cuối năm 1973, Cẩn được trở về chiến trường śnh lầy với chức vụ tỉnh trưởng, kiêm tiểu khu trưởng Chương-thiện. Lần cuối cùng tôi gặp Cẩn vào mùa hè năm 1974 tại Chương-thiện. Tôi hỏi Cẩn:
    – Anh từng là trung đoàn trưởng, hiện làm tỉnh trưởng. Anh có nghĩ rằng sau này sẽ làm sư đoàn trưởng không ?
    – Tôi lặn lội suốt mười bốn năm qua, gối chưa mỏi, nhưng kiến thức có hạn. Được chỉ huy trung đoàn là cao rồi. Ḿnh phải biết liêm sỉ chứ ? Coi sư đoàn sao được.
    – Thế anh nghĩ sau này anh sẽ làm ǵ ?
    – Làm tỉnh trưởng bất quá một hai năm nữa rồi tôi phải ra đi, cho đàn em họ có chỗ tiến thân. Bấy giờ tôi xin về coi trường TSQ, hoặc coi các lớp huấn luyện đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, đem những kinh nghiệm thu nhặt được trong mười mấy năm qua dạy đàn em. Tôi sẽ thuật trước sau hơn ba trăm trận đánh, mà tôi trải qua, nhờ anh viết lại. Bộ sách đó, anh nghĩ nên đặt tên là ǵ ?
    – ” Cẩm nang của các đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng trong chiến tranh chống du kích taị vùng đồng lầy”. Nhưng liệu bộ Quốc-pḥng có cho phép in hay không ?
    – Không cho in th́ ḿnh cũng cứ thuật, rồi đem giảng dạy, ai cấm được?
    Đây là cuộc gặp gỡ cuối cùng của tôi với Cẩn.
    Sau khi miền Nam mất, tôi không được tin tức của Cẩn. Măi năm 1976, tôi được tin: Ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi tên tướng mặt bánh đúc Dương Văn-Minh ra lệnh đầu hàng. Cẩn chống lại lệnh đó. Các đơn vị Cộng-quân tiến vào tiếp thu tiểu khu Chương-thiện, th́ gặp sức kháng cự, chết rất nhiều. Cẩn bị bắt, rồi bị đem ra xử tử.

    Phút sa cơ của Cọp Rằn Chương Thiện


    Ngày tang thương 30.4.1975 của đất nước cũng đến. Dân tộc Việt Nam được chứng kiến những cái chết bi tráng hào hùng của những vị thần tướng nước Nam, của những sĩ quan các cấp c̣n chưa được biết và nhắc nhở tới. Và của những người chiến sĩ vô danh, một đời tận tụy v́ nước non, những đôi vai nhỏ bé gánh vác cả một sức nặng kinh khiếp của chiến tranh. Sinh mệnh của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cũng bị cuốn theo cơn lốc ai oán của vận mệnh đất nước. Chu vi pḥng thủ của Tiểu Khu Chương Thiện co cụm dần, quân giặc hung hăng đưa quân tràn vào vây chặt lấy bốn phía. Những chiến sĩ Địa Phương Quân-Nghĩa Quân của Chương Thiện nghiến răng gh́ chặt tay súng, quyết một ḷng liều sinh tử với vị chủ tướng anh hùng của ḿnh. Đại Tá Cẩn nhớ lại lời đanh thép của ông: “Chết th́ chết chứ không lùi”. Ông tự biết những khoảnh khắc của cuộc đời ḿnh cũng co ngắn lại dần theo với chu vi chiến tuyến. Ông nhớ lại những ngày śnh lầy với Biệt Động Quân, những ngày lên An Lộc với chiến sĩ Sư Đoàn 9 Bộ Binh đi trong cơn băo lửa ngửa nghiêng, những lúc cùng chiến sĩ Sư Đoàn 21 Bộ Binh đi lùng giặc trong những vùng rừng U Minh hoang dă, và những chuỗi ngày chung vai chiến đấu với chiến sĩ Địa Phương Quân-Nghĩa Quân thân thiết và dũng mănh của ông trên những cánh đồng Chương Thiện hoang dă. Hơn ba trăm trận chiến đấu, nhưng chưa lần nào ông và chiến sĩ của ông phải đương đầu với một cuộc chiến cuối cùng khó khăn đến như thế này. Khoảng hơn 9 giờ tối ngày 30.4.1975, gần nửa ngày sau khi Tướng Dương Văn Minh đọc lệnh cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa buông súng đầu hàng, Đại Tá Cẩn cố liên lạc về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV xin lệnh của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Người trả lời ông lại là phu nhân Thiếu Tướng Lê Văn Hưng. Đại Tá Cẩn ngơ ngác không biết chuyện hệ trọng nào mà đă đưa Bà Hưng lên văn pḥng Bộ Tư Lệnh. Bà Hưng áp sát ống nghe vào tai, bà nghe có nhiều tiếng súng lớn nhỏ nổ ầm ầm từ phía Đại Tá Cẩn. Như vậy là Tiểu Khu Chương Thiện vẫn c̣n đang chiến đấu ác liệt và không tuân lệnh hàng cùa tướng Minh. Trước đó, khoảng 8 G 45 phút tối 30.4.1975 Thiếu Tướng Lê Văn Hưng đă nổ súng tử tiết, Thiếu Tướng Nam đang đi thăm chiến sĩ và thương bệnh binh lần cuối cùng trong Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ, rồi người tự sát ngay trong đêm. Bà Thiếu Tướng Hưng biết Đại Tá Cẩn kiên quyết chiến đấu đến cùng, thà chết không hàng, v́ đó là tính cách thiên bẩm của người chiến sĩ Hồ Ngọc Cẩn. Nếu có chết th́ Đại Tá Cẩn phải chết hào hùng, trong danh dự của một người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa công chính.

    Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cùng các sĩ quan trong Ban Chỉ Huy Tiểu Khu và các chiến sĩ Tiểu Khu Chương Thiện đă đánh một trận tuyệt vọng nhưng lừng lẫy nhất trong chiến sử Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Đánh tới viên đạn và giọt máu cuối cùng và đành sa cơ giữa ṿng vây của bầy lang sói. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 11 giờ trưa ngày 1.5.1975, quân ta không c̣n ǵ để bắn nữa, Đại Tá Cẩn lệnh cho thuộc cấp buông súng. Khi những người lính Cộng chỉa súng vào hầm chỉ huy Tiểu Khu Chương Thiện, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, vị Trung Úy tùy viên và các sĩ quan tham mưu, hạ sĩ quan và binh sĩ tùng sự đều có mặt. Một viên chỉ huy Việt Cộng tên Năm Thanh hùng hổ chỉa khẩu K 54 vào đầu Đại Tá Cẩn dữ dằn gằn giọng:
    ”Anh Cẩn, tội anh đáng chết v́ những ǵ anh đă gây ra cho chúng tôi”.
    Đại Tá Cẩn cười nhạt không trả lời.
    (Phạm Phong Dinh)


    Ghi chú.
    Tại Sài-g̣n 9 giờ bẩy phút, tiếng súng kháng cự tại các đơn vị dù chấm dứt. Tại bộ chỉ huy tiểu khu Chương-thiện kéo dài tới 15 giờ. Trong khi đó, tiếng súng kháng cự của các Thiếu-sinh-quân c̣n kéo dài tới 19 giờ bốn mươi lăm phút tại Vũng-tầu. Nếu tôi không lầm th́ các TSQVN là những người chiến đấu cuối cùng của miền Nam.
    Cuộc xử Cẩn do hai nhân chứng thuật lại:
    Một là Trung-tá Bùi Văn Địch (Hiện sống ở Berlin, Đức), xuất thân trường Thiếu-sinh-quân Hà-nội, sau di vào Mỹ-tho. Trung-tá Địch đă sống với Cẩn 2 năm tại trường Thiếu-sinh-quân Mỹ-tho. Thời gian 1972, cả hai từng cùng phục vụ tại sư đoàn 9 bộ binh.
    Hai là phu nhân của Trung-tá bác-sĩ Jean Marc Bodoret, nhũ danh Vũ-thị Quỳnh-Chi (Hiện sống ở Marseille), em ruột của cựu Thiếu-sinh-quân Vũ Tiến Quang. Quang là người nạp đạn cho Cẩn xử dụng khẩu đại liên 30, bắn đến viên đạn cuối cùng trong công sự chiến đấu tiểu khu Chương-thiện. (Xin xem bài Cái bóng của Hoài-văn vương Trần Quốc Toản trong sách này). Bà Bodoret chứng kiến tận mắt hai cuộc xử án Cẩn.
    Cuộc xử án như sau:
    Ngay khi Cẩn bị bắt, người ta để Cẩn lên một chiếc xe mui trần, chở đi khắp thành phố Chương-thiện cho dân chúng xem chiến lợi phẩm. Ngồi trên xe, Cẩn thản nhiên mỉm cười, vẫy tay chào dân chúng. Cái gọi là Ṭa án nhân dân được lập ngay trước ṭa hành chánh. Sau khi quan ṭa kết tội Cẩn bằng những từ ngữ hiếm hoi thấy trong các đạo luật trên thế giới. Người ta kêu gọi dân chúng, ai là nạn nhân của Cẩn th́ đứng lên tố cáo, rồi muốn đánh, muốn chửi tùy thích. Nhưng chỉ có vài cán bộ nội thành tố cáo Cẩn là ác ôn có nợ máu. Dân chúng không có ai lên tiếng cả. Người ta hỏi: Những ai đồng ư xử tử Cẩn th́ dơ tay lên ! Lại cũng chẳng có ai dơ tay. Thế là cuộc xử án ngừng lại.
    Rồi, ba tuần sau, cuộc xử án Cẩn lại diễn ra ở sân vận động thể thao Cần-thơ. Lần này người ta chuẩn bị kỹ hơn, người ta cho tụi ḅ-vàng xen lẫn với dân chúng. Cũng bản cũ soạn lại, nhưng người ta khôn khéo hơn, người ta không hỏi xem Cẩn đă nợ máu với ai, th́ hăy ra mà xỉ vả, đánh đập. Người ta chỉ hỏi: Ai đồng ư xử tử Cẩn th́ dơ tay. Ḅ vàng dơ tay, một số dân chúng dơ tay. Số đông vẫn cứng đầu, không đơ tay.
    Người ta hỏi Cẩn có nhận những tội mà ṭa án nêu ra không ? Cẩn cười nhạt:
    “Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán đoán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt”.
    Rồi Cẩn hô:
    “Đả đảo Cộng-sản. Việt-Nam muôn năm”
    Sau khi Cẩn bị băn chết, dân chúng hiện diện khóc như mưa như gió. Trời tháng năm, đang nắng chói chang, tự nhiên sấm chớp nổ rung động không gian, rồi một trận mưa như trút xuống.
    Nắng mưa là hiện tượng b́nh thường của trời đất. Nhưng dân chúng Cần-thơ th́ cho rằng, trời khóc thương cho người anh hùng, gặp cơn sóng gió của đất nước.

    Khi tôi gặp Cẩn, th́ tôi chưa khởi công viết lịch sử tiểu thuyết. Thành ra cuộc đời Cẩn, cuộc đời các cựu TSQ quanh Cẩn, in vào tâm năo tôi rất sâu, rất đẹp. V́ vậy sang năm 1968, khi bắt đầu viết, th́ bao giờ tôi cũng khơỉ đầu bằng thời thơ ấu của những nhân vật chính. Trong bộ nào, cũng có những thiếu niên, khi ra trận chỉ tiến lên hoặc chết, chứ không lùi.
    Có rất nhiều người đặt câu hỏi: Giữa tôi và Cẩn như hai thái cực . Cẩn chỉ học đến đệ lục, tôi được học ở nhà, ở trường đến tŕnh độ cao nhất. Cẩn là người Nam, tôi là người Bắc. Cẩn theo đạo Chúa, tôi là cư sĩ Phật-giáo. Tôi th́ sống trong sách vở, hay đi trên mây, Cẩn th́ lăn lộn với thực tế. Tôi không biết uống rượu, Cẩn th́ nổi danh tửu lượng cao nhất sư đoàn 21 bộ binh. Tôi thấy người đẹp là chân tay run lẩy bẩy, Cẩn th́ rửng rưng. Thế mà khi gặp nhau, chúng tôi thân với nhau ngay. Thân đến độ giăi bầy cho nhau tất cả những tâm sự thầm kín nhất, không một người thứ nh́ biết được. Tại sao ? Cho đến nay, tôi mới trả lời được rằng: Cẩn cũng như những người quanh Cẩn, là những h́nh bóng thực, rất quen thuộc mà trước kia tôi chỉ thấy trong lịch sử. Nay được gặp trong thực tế.
    Hai mươi mốt năm qua, đúng mười hai giờ trưa, ngày 30 tháng tư, dù ở bất cứ nơi nào, tôi cũng mua bó hoa, đèn cầy, vào nhà thờ đốt nến, đặt hoa dưới tượng đức mẹ, và cầu xin cho linh hồn Cẩn được an lành trong ṿng tay người.
    Tôi lược thuật về cuộc đời Cẩn mà không phê b́nh, v́ Cẩn là bạn thân của tôi. Vả tôi không đủ ngôn từ đẹp đẽ để tặng Cận.
    Viết tại Paris ngày 30 tháng tư năm 1996
    Yên-Tử cư-sĩ Trần Đại-Sỹ.



    Last edited by BlackHole; 20-04-2019 at 07:02 PM.

  10. #10
    Member
    Join Date
    27-12-2017
    Posts
    1,151
    Máu Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Văn Long
    đă thấm xuống ḷng đất mẹ




    Tôi không hiểu, trong Dinh Độc Lập, Dương văn Minh và bọn hàng thần lơ láo đến mức độ nào trước ống kính xấc xược của bọn phóng viên cộng sản và trước những câu hạch hỏi hỗn láo của bộ đội giải phóng cấp tá. Họ có nghe những tiếng súng danh dự, trách nhiệm, tổ quốc của lính văn nghệ diệt T-54 ở cầu Thị Nghè, của lính Nhẩy Dù cách cổng Dinh Độc Lập chẳng bao xa? Chúng tôi vào trung tâm thành phố. Dân chúng đang bu kín công viên dựng hai người chiến sĩ thủy quân lục chiến Việt Nam họng súng nhắm thằng vào Hạ Viện. Những chiếc loa gắn trên cây cao đă oang oang giọng nói mới chào mừng giải phóng miền Nam. Bài hát Tiến vào Sài g̣n ta quét sạch giặc thù muốn rung chuyển thành phố. Nhưng trời vẫn thiếu nắng. Cộng sản đă tiếp thu Đài phát thanh, Bưu điện… Giọng nói cầy cáo của Lư Quư Chung và ca khúc Nối ṿng tay lớn không c̣n nữa.
    Chúng tôi lách đám đông. Dưới chân tượng đài của thủy quân lục chiến, xác một người cảnh sát nằm đó. Máu ở đầu ông ta chẩy ra tươi rói. Người sĩ quan cảnh sát đeo lon Trung tá. ông ta mặc đồng phục màu xanh. Nắp túi ngực in chữ Long. Trung tá cảnh sát Long đă tự sát ở đây Cộng sản để mặc ông ta nằm gối đầu trên vũng máu. Phóng viên truyền h́nh Pháp quay rất lâu cảnh này. Lúc tôi đến là 14 giờ 30. Dân chúng đứng mặc niệm trung tá Long, nước mắt đầm đ́a. Những người không khóc th́ mắt đỏ hoe, chớp nhanh. Tất cả im lặng, thây kệ những bài ca cách mạng, những lởi hoan hô bộ đội giải phóng.

    Trung tá Long đă chọn đúng chỗ để tuẫn tiết. Tướng giữ thành Sài g̣n là Tổng trấn Sài g̣n đă đào ngũ. Tướng giữ thành Sài g̣n là Đô trưởng Sài g̣n đă đào ngũ. Tướng giữ thành Sài g̣n là Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia đă đào ngũ. Không có Hoàng Diệu, ở những trạng lịch sử chó đẻ của thời đại chúng ta. Và trên những tiểu thuyết đấu tranh, những hồi kư chiến đấu của những con người tự nhởn sống hùng mọi hoàn cảnh, người ta không thấy một ḍng nào viết về cái chết tuyệt vời của trung tá Cảnh sát tên Long. Cộng sản đă chẳng ngu dại phong anh hùng, liệt sĩ cho quốc gia. Họ độc quyền anh hùng, liệt sĩ. Ở những cuộc đấu thầu anh hùng, liệt sĩ quốc gia tại hải ngoại, chưa thấy một nén tâm hương tưởng mộ trung tá Long. Có lẽ, liệt sĩ đích thật không lăi lớn bằng liệt sĩ giả vờ thế th́ thời đại chúng ta đang sống là cái thời đại ǵ nhỉ? Nó không chịu, không thích vinh tôn cái thật, đă đành, nó c̣n nhởn ch́m cái thật và vấy bẩn lên cái thật một cách thô bạo, ẩn ư và lạnh lùng. Khi cái thật bị nhận ch́m, bị vấy bẩn, cái giả nổi bật, sáng giá và chói lọi, thơm tho. Như vậy, mọi giá trị về tinh thần, về đạo nghĩa bị nhởn ch́m theo. Rốt cuộc, bọn giả h́nh sống với cái giả của chúng, huyễn hoặc mọi người bằng cái giả với bạo lực của quyền uy hợp pháp và cả quyền uy ảo tưởng hậu thuẫn. Và người công chính thụ động, buông xuôi. Cuối cùng, con cháu chúng ta sẽ chỉ biết liệt sĩ đất sét, anh hùng gian dối, vĩ nhân phường tuồng.

    Tôi muốn biểu dương trung tá Long như Hoàng Diệu hôm nay, Hoàng Diệu của Sài g̣n. ông ta đang nằm kia, dưới chân tượng đài thủy quân lục chiến Việt Nam anh dũng. Máu trung tá Long đă thấm xuống ḷng đất mẹ. Cái chết của trung tá Long nếu chưa thức tỉnh được sự u mê của thế giới tự do thân cộng, của bọn phản chiến làm dáng th́, ít ra, nó cũng biểu lộ cái khí phách của một sĩ quan Việt Nam không biết hàng giặc. Tôi không mấy hy vọng cái chết của trung tá Long lay động nổi cái bóng tối vô liêm sỉ trùm đặc tâm hồn những ông tướng đào ngũ. Chúng ta hănh diện làm người Việt Nam lưu vong v́ chúng ta c̣n trung tá Long không đào ngũ, không đầu hàng giặc và biết chết cho danh dự miền Nam, danh dự của tổ quốc.

    – Tôi chứng kiến tự phút đầu.
    – Ông nói sao?
    – Tôi nh́n rơ ông ta rút súng bắn vào thái dương ḿnh.
    – Thật chứ
    – Đáng lẽ tôi phải nói dối.
    – Tại sao?
    – V́ nói thật lúc này không có lợi.



    Tôi nghe hai người Sài g̣n nói chuyện. Và tôi được nghe “Huyền sử một người mang tên Long” do một trong hai người kể. Truyện như vầy: 10 giờ 30, Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng, quân đội và cảnh sát tuân lệnh Tổng thống, lột quần áo, giầy vớ, nón mũ, vất súng đạn bỏ chạy về nhà ḿnh hay nhà thân nhân của ḿnh. Một ḿnh trung tá Long không lột chiến bào, không phi tang tích huân chương, không liệng súng đạn. Trung tá Long từ nơi nào đến, chẳng ai rơ. ông xuất hiện ở công viên trước Hạ Viện hồi 12 giờ. Ngồi trên ghế đá, ông ta trầm ngâm hút thuốc. Rồi ông ta nh́n trước, nh́n sau, ngó ngang, ngó dọc. Rồi ông ta đưa tay ôm lấy đầu, cúi thấp. Khi ấy, Sài g̣n đă ồn ào tiếng hoan hô cộng sản giải phóng. Bất chợt, ông ta đứng dậy, chậm răi bước gần chân tượng đài. Trung tá Long đứng thẳng. ông ta ngẩng mặt. Thản nhiên, ông ta rút khẩu Colt, kê họng súng vào thái dương ḿnh bóp c̣. Tiếng đạn nổ trùm lấp tiếng hoan hô cộng sản. Trung tá Long đổ rạp.

    – Đó, diễn tiến cái chết của trung tá Long.
    – Ông có mặt ở đây trước lúc trung tá Long xuất hiện?
    – Phải. Tôi tuyệt vọng, không thiết về nhà nữa
    – Rồi sao?


    Dân chúng bu quanh xác trung tá Long. Cộng sản chưa có th́ giờ kéo xác ông ta đi. Phóng viên truyền h́nh Pháp thu cảnh này kỹ lắm. Chỉ tiếc họ đă không thu được cái oai phong lẫm liệt của trung tá Long. Họ đến quá chậm và họ chỉ quay phim một xác chết. ông hăy nh́n cho kỹ. Trung tá Long tuẫn tiết cùng chiến bào, cùng cấp bậc, cùng tên ḿnh.

    Tôi đă nh́n kỹ. Lịch sử của chúng ta đă có những vị anh hùng chỉ có tên mà không có họ. Như Đô đốc Tuyết, Đô đốc Long… Hôm nay, chúng ta có thêm trung tá Long. Những ai sẽ viết lịch sử? Và liệu sử gia đời sau có soi tỏ niềm u ẩn của Trung tá Long chảy máu mắt nh́n quê hương lạc vào tay quân thù mà bất lực cứu quê hương, mà chỉ c̣n biết đem cái chết tạ tội quê hương, dân tộc. Đă hàng tỉ tỉ chữ viết về những chuyện khốn nạn, viết về những tên khốn kiếp, viết về những sự việc khốn cùng. Ḍng chữ nào đă viết về Trung tá Long? Người ta đă viết cả pho sách dày cộm để nguyền rủa xác chết. Người ta cũng đă viết cả pho sách dầy cộm để suy tôn xác sống. Người ta ồn ào. Người ta vo ve. Ḍng chữ nào đă viết về Trung tá Long? Ai đă làm công việc sưu tầm lư lịch đầy đủ của vị liệt sĩ đích thực này? Than ôi, lịch sử đă hóa thành huyền sử. Cho nên người ta nh́n quốc kỳ mà không cảm giác linh hồn tổ quốc phấp phới bay. Chúng ta đang bị sống trong cái thời đại của những ông tướng đào ngũ, của những ông tổng trưởng đào nhiệm không hề biết xấu hổ. Thời đại của chúng ta c̣n đ̣i đoạn ở chỗ, kẻ sĩ và kẻ vô lại đồng hóa trong “lư tưởng” nguyền rủa xác chết và suy tôn xác sống.

    Xưa, Hàm Nghi 8 tuổi, hỏi cận thần:
    – Tay bẩn lấy ǵ rửa? Cận thần đáp:
    – Nước.

    Hàm Nghi hỏi thêm:
    – Nước bẩn lấy ǵ rửa?

    Cận thần ngơ ngác:
    – Tâu bệ hạ, thần không hiểu.

    Hàm Nghi nói:
    – Nước bẩn lấy máu mà rửa!


    Trung tá Long đă lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Lính nhẩy dù đă lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Lính văn nghệ đă lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4.
    Những kẻ tạo ra ô nhục 30-4 lấy ǵ nhỉ? Họ đang cầm ca, cầm đĩa xếp hàng ngửa tay lấy cơm, lấy nước ở đảo Guam.
    Biết đâu chẳng xẩy ra tranh cơm như tranh quyền bính.
    Và biết đâu chẳng bị ông quân cảnh Mỹ đen tặng một vài cái tát xiếc!
    Những kẻ này vẫn thừa thăi vô liêm sỉ để họp bàn, hiến kế cứu nước.
    Lịch sử lại thêm vài phụ trang chó đẻ.
    Giải phóng quân đă đổ đầy trước thềm Hạ Viện. Cỏ đuôi chó (cách mạng 30) hoan hô tưng bừng.
    Dân chúng chiêm ngưỡng Trung tá Long tản mạn. Trung tá Long nằm nguyên chỗ ông ngă rạp cho máu rửa nhục Sài g̣n. Giă từ liệt sĩ! Vĩnh quyết liệt sĩ.
    Xin hăy phù hộ tôi kéo dài cuộc sống hèn để có ngày được viết vài ḍng về Trung tá.
    Duyên Anh




Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 7
    Last Post: 02-09-2013, 03:22 AM
  2. Replies: 0
    Last Post: 04-04-2012, 06:55 AM
  3. Replies: 0
    Last Post: 09-09-2011, 03:34 AM
  4. Replies: 2
    Last Post: 15-12-2010, 01:36 AM
  5. Replies: 1
    Last Post: 15-08-2010, 11:36 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •