Tôi theo dơi t́nh h́nh miền Nam trên truyền h́nh từ sáng đến khuya. Lance đi học về đ̣i coi truyền h́nh, tôi phải t́m nhiều đồ chơi khác cho con chơi, nhưng cũng phải nhường TV cho nó khi có phim hoạt hoạ của Nhựt. Đó là hai phim Kikaida và Rainbor Man. Có lần Lance hỏi:

- Sao nhà ḿnh không mua ba cái TV cho ba người, như nhà thằng Mark, thằng Zachery?
Tôi phải trả lời khéo:

- Tại má muốn coi TV chung với Lance.

- Má thằng Mark coi movie hay lắm, con mà coi tin tức chắc muốn chết !
Tôi lại phải giải thích:

- Tại bà ngoại của thằng Mark ở Ohio, b́nh yên, không chiến tranh, chỉ cần tin thời tiết là đủ. C̣n bà ngoại của Lance ở Việt Nam, giặc đánh tới nơi, má muốn biết tin tức bên Sài g̣n.

- Giặc là ai ? - Lance hỏi.

- Là VC.

- Oh!

Lance đành xin qua nhà thằng Mark, thằng Zachary chơi. Đúng nửa tiếng đồng hồ sau, theo đúng như lời hứa th́ Lance trở về , v́ gần tới giờ Lance được coi phim hoạt hoạ. Trong khi ngồi chờ TV, th́nh ĺnh Lance hỏi:

- Sài g̣n không yên sao mà biểu Daddy đi tới đó ?

Thông thường, câu hỏi vô tư của đứa bé năm tuổi không khó trả lời, nhưng câu hỏi này của con tôi làm tôi cứng họng. Tôi cảm thấy ḿnh tội lỗi với John, với má của anh. Tôi quay mặt đi chỗ khác để lau nước mắt. Thật t́nh, tôi nghĩ tới hiểm nguy cho má nhưng không nghĩ tới hiểm nguy cho tánh mạng của John. Chúng tôi chỉ nghĩ làm sao đưa má và hai em ra khỏi Việt Nam trước khi miền Nam mất vào tay cộng sản.
Không biết tôi vô t́nh hay điếc không sợ súng, hay chúng tôi đang sống ở một nước b́nh yên, tự do, nên muốn người thân yêu của ḿnh cũng được cuộc sống như ḿnh? Cũng có thể là tất cả những lư do này.

Thấy tôi khóc. Lance lấy miếng Kleenex cho tôi chùi mắt, rồi hỏi:

- Má có sợ Việt Cộng bắt bà ngoại không?
Tôi vội la cháu:

- Đừng có nói bậy !

- Chừng nào bà ngoại qua. Lance xin ngủ với bà ngoại được không?

- Không, Lance lớn rồi, phải ngủ riêng.

- Sao má nói Lance c̣n nhỏ, không được ra bờ biển một ḿnh. Bây giờ má lại nói Lance lớn rồi, phải ngủ một ḿnh ? Người lớn không công bằng, lúc th́ nói con nhỏ, lúc th́ nói con lớn.

Nói chuyện với thằng bé ngây thơ, tôi cũng bớt lo lắng phần nào.
Trong khi đó, ở Sài g̣n, John đă t́m đủ mọi cách để đưa má và hai đứa em tôi đi chánh thức. Anh đến Bộ nội vụ xin giấy xuất cảnh, nhưng ông chánh văn pḥng bộ này nói không c̣n ai làm việc nữa, ai cũng bỏ trốn hết rồi. Ông c̣n đề nghị anh đưa gia đ́nh ông đi cùng với má và hai em; ông sẽ trả tiền cho John. Nhưng anh từ chối.

Một hôm, John gọi về cho hay bữa nay anh sẽ nói chuyện với người “sửa điện thoại” để biết c̣n cái ǵ hư hao nữa không; “sửa điện thoại” là mật hiệu riêng giữa chúng tôi. John đi “sửa điện thoại”, có nghĩa là anh sẽ vào toà đại sứ Mỹ để gặp nhân viên CIA cho biết ba tôi là ai. Nếu John bảo tôi đi “sửa điện thoại”, là tôi phải đi gặp đại tướng Gaylor.

John cố tránh tại toà đại sứ Mỹ, v́ anh là người đến Sài g̣n bất hợp pháp. Chỉ một cú điện thoại, là anh có thể bị lính thuỷ quân lục chiến ở toà đại sứ bắt, rồi đưa anh lên phi trường, đuổi về Hawaii ngay lập tức. Trước khi quyết định gặp nhân viên CIA, John gọi điện thoại cho đại tá Trần Duy Bính. Bây giờ là tới lúc John trả cái ơn của gia đ́nh tôi cho đại tá Bính. Anh nói với đại tá Bính là anh biết chắc quân Bắc việt sẽ vô Sài g̣n, nên đề nghị đại tá Bính chuẩn bị gấp cho ông và gia đ́nh ông đi Mỹ. Anh sẵn sàng giúp đỡ mọi phương tiện.
Những đại tá Bính chỉ cảm ơn mà không có ư định bỏ chạy. Ông vẫn c̣n lạc quan, tin là chưa đến nỗi nào. Sau đó, John nhờ đại tá t́m cho một cây súng. Đại tá Bính đưa liền cho John một cây revolver. Anh thấy súng lớn quá, khó giấu trong người, nên xin một cây nhỏ hơn. Đại tá hứa sẽ t́m cho trong ṿng vài ngày. Những t́nh h́nh không cho phép “vài ngày”.

John tới cô nhi viện Minh Trí gặp sơ Nguyễn Thị Trọng, sơ cho biết một số trẻ mà John và tôi đă gặp, chết v́ bị bịnh hoạn. Một số khác c̣n sống, nhưng không khỏe . Sơ cũng cho biết, nhiều người Mỹ muốn đưa trẻ mồ côi ra khỏi Việt Nam, chẳng hạn như ông Ed Dailey, chủ hăng máy bay World Airways. Ông xin phép toà đại sứ Mỹ cho ông dùng máy bay riêng của ông để đưa trẻ mồ côi đi Mỹ, nhứt là những đứa con lai. Những toà đại sứ không cho phép .

Một hôm, John may mắn gặp bà Shirley Clark, nhân viên của tổ chức từ thiện Friends Service Committee. Ba khuyên John kiên nhẫn chờ đợi; trong vài ngày sắp tới có thể có tin vui với anh. Đúng như lời bà, hai ngày sau, ông Ed Dailey tổ chức chuyến bay cho trẻ em mồ côi, mà không có phép của toà đại sứ Mỹ. Việc này làm cho nhân viên của toà đại sứ Mỹ tức giận. Họ kêu ông Ed Dailey là người bắt cóc con nít, giống như giọng điệu của cộng sản Bắc Việt.

Nhưng sau đó, nhờ vận động khéo, ông Ed Dailey được đại sứ cho phép đưa con lai ra khỏi Việt Nam. Ông cấp tốc chuyển các trẻ mồ côi lên phi trường, trong đó có cả các em ở cô nhi viện Minh Trí.

Chuyến đầu tiên, gồm có 300 em ở cô nhi viện Minh Trí, tới Úc Đại Lợi. Các nhà báo Úc chê mấy em này dơ dáy, bịnh hoạn, thế mà vẫn có cả ngàn gia đ́nh xin nhận nuôi. Mọi người đều mừng rỡ, vui vẻ.

Nhưng chuyến thứ hai không may mắn. Ở Mỹ, tôi xem TV, được biết chiếc máy bay C-5A chở 243 em và chừng 45 người lớn, cất cánh ở phi trường Tân Sơn Nhứt bị rớt. Tôi lặ̣ng người đi, đau đớn đến tê dại, không khóc được.

TV cũng cho biết Đà Nẵng rơi vào tay cộng sản. Hàng vạn người tỵ nạn từ miền Trung đổ tới các tỉnh miền Nam. Già trẻ, em bé hè nhau đi, dẫn theo cả súc vật. Họ gồng gánh một nhúm tài sản nhỏ nhoi. Họ cơng mẹ già, con thơ. Trong thật thê thảm đáng thương. Như vậy, rơ ràng trái với lời tuyên truyền láo của cộng sản là dân miền Nam hân hoan đón chờ cuộc “giải phóng” của họ. Tôi nhớ hồi 1954, có hơn 800.000 người từ miền Bắc di cư vào Nam. Trong khi đó, chỉ có khoảng 180.000 cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc.

John có thói quen từ ngày cưới, kêu tôi bằng “Nhà” (phát âm tiếng Việt). Anh cho biết anh thích chữ “Nhà”, v́ nó có vẻ ấm cúng và b́nh an trong tâm hồn.

Một hôm, từ Sài g̣n, anh đến văn pḥng của hăng thông tấn AP (Associated Press) để gọi điện thoại cho tôi. Với giọng mệt mỏi, anh cho biết không có tin ǵ hay. Nhưng muốn trấn an tôi, anh nói :

- Nhà ơi, anh sẽ làm tất cả những ǵ anh làm được”.

Nhưng anh đâu có biết rằng, nghe được tiếng anh lúc đó, là quá tốt rồi. Tôi an tâm v́ biết chắc má tôi và hai đứa em không có mặt trên chiếc máy bay C-5 gẫy cánh mấy ngày trước đó, mà tất cả hành khách đều bị thiệt mạng. Nhưng tôi vẫn chưa hoàn toàn an tâm khi nghĩ đến cảnh chạy loạn ở Việt Nam mà TV Mỹ chiếu hàng ngày. Dân miền Trung lếch thếch, bồng bế dắt díu nhau chạy trốn làn sóng tấn công của giặc cộng. Từ đó, tôi liên tưởng đến má tôi và hai em. V́ vậy tôi nói với John, giọng năn nỉ :

- Cưng ơi, đừng về Mỹ mà không có má và hai đứa nhỏ nhen.

Nói xong, tôi nhận ra ngay là ḿnh đă lỡ lời một cách ngu ngốc. Rất may là John hiểu rơ tâm trạng tôi lúc bấy giờ.


Còn tiếp ...