+ Reply to Thread
Page 466 of 466 FirstFirst ... 366416456462463464465466
Results 4,651 to 4,655 of 4655

Thread: SAIGON THUỞ ẤY ...

  1. #4651
    tran truong
    Khách
    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    Cuộc ra đi theo cách mạng của tôi khởi đầu từ đây và cũng chấm dứt ở mảnh đất này. Khi tôi nh́n thấy ngoại tôi th́ tôi rụng rời hết tay chân và trời đất dường như sụp đổ. Hồ chủ tịch, Trung ương đảng, Hà Nội, cách mạng là ǵ?

    Đột nhiên tôi tự hỏi. Và đây không phải là lần đầu.

    Giải phóng là cái ǵ ? Ai giải phóng và ai được giải phóng? Giá tôi đừng về để nh́n thấy bộ mặt giải phóng. Tất cả đều là một sự giả dối, lừa bịp, tàn bạo và ngu muội. Bọn Cộng Sản bất lương chẳng những đă phá nát Quê Hương, Tổ Quốc mà c̣n tàn phá cả TÂM HỒN DÂN TỘC VIỆT NAM. Tôi sẽ để tất cả th́ giờ trong những năm c̣n lại của đời tôi để chứng minh cho kỳ được điều này.

    Sài G̣n 1974
    Hoa Kỳ Tháng Năm 1989


    Đón xem quyển cuối:
    ĐỒNG BẰNG GAI GÓC

    Một quê hương tan nát, một cuồng vọng tiêu ma. Đồng khởi thực sự là cái ǵ ? Có giải phóng ba phần tư đất đai và bốn phần năm dân chúng không? Súng ngựa trời có tác dụng như đài Hà Nội rêu rao không? Đạo Quân Đầu Tóc có được mấy người và do ai chỉ huy ? Nữ tướng Ba Định làm ǵ trong kháng chiến chống Pháp, và trong chiến tranh chống Mỹ? Tại sao Nguyễn Chí Thanh bốc mụ ta lên đặt trên đầu bọn trí thức hùa và đám cán ngố Bắc Kỳ? Trần Văn Trà bị rượt chạy suưt chết v́ mưu toan sát nhập bộ đội Hai Phải vào các đơn vị dưới quyền chỉ huy của y.

    Ông Đốc Huệ, Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, học giả Ca văn Thỉnh và các vị trí thức khác được Cộng Sản xử dụng ra sao ?

    V́ quyển IV Đến Mà Không Đến hơi dầy nên tác giả sẽ đưa các vấn đề sau đây vào quyển Đồng Bằng Gai Góc:

    Cái chết của Tư Trang, Thái Trần Trọng Nghĩa, Quách Vũ, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Chí Thanh và các vấn đề khác chưa nêu lên trong quyển IV, như Lưu Hữu Phước làm con bài hiếu hỉ, hai thứ Trưởng Bộ Văn Hóa của Chánh Phủ ma nuôi gà giỏi cỡ nào và bị bọn Giải Phóng khinh miệt ra sao? Tác giả căi lộn với cấp chỉ huy và viết thơ cho Trần Bạch Đằng trước khi hồi chánh. Khi tác giả hồi chánh về Sài g̣n được Chánh phủ, đồng nghiệp và bạn bè cũ đón tiếp niềm nở ra sao.

    Mời bạn đọc đón xem tập cuối Đồng Bằng Gai Góc do Xuân Thu ấn hành năm 1993.

    Xuân Vũ

  2. #4652
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................





    Khi tôi về đến nhà gặp ngoại tôi th́ tôi mới thấy bộ mặt thật của đảng, hi sinh dân Nam Kỳ đến người cuối cùng để thống trị họ. Riêng tôi, tôi cảm thấy ḿnh ngu. Cái ngu của một thằng học tṛ ba chớp ba nháng đang đi học lại bỏ trường để nhào theo Việt Minh hát Tiến Quân Ca. Nhưng không phải một ḿnh tôi mà toàn dân Nam Kỳ quốc.

    Bây giờ, 1993, th́ tất cả nam phụ lăo ấu xứ Nam Kỳ đều thấy rơ điều đó rồi. Đă muộn! Dọc đường Trường Sơn và khi về R, tôi thường mở đài Sàig̣n. Thỉnh thoảng nghe tên những thằng bạn học. Chúng đang làm Tổng Giám Đốc, Giám Đốc, Kỹ Sư, có thằng làm tướng. Mẹ kiếp, c̣n ḿnh đi theo Việt Minh hai mươi năm chỉ được cái danh hiệu tên ăn trộm, chui luồn ngơ hẹp.

    Tôi nh́n ngoại tôi mà hết biết nói năng ǵ. Ngoại đứng cho vịt ăn , bên mái cḥi lụp sụp chỉ xô một cái là đổ ngang. Ngoại nh́n tôi. Ngoại nh́n ông cán lạ mặt mang súng ngắn một giây rồi hỏi:

    – Cậu là ai?

    – Dạ, cháu là…

    Tôi bật lên tiếng khóc và chạy tới ôm lấy ngoại, không nói nên lời. Ngoại tôi vẫn ngạc nhiên không hiểu.

    – Con là thằng Triết nè ngoại ?

    – Ủa, con đó hả Triết?

    Ngoại tôi cũng khóc theo và buông xụi vùa lúa xuống đất . Tôi đi thẳng vào cḥi. Trời đất ! Sao chiếc bàn thờ bằng gỗ trắc lại đặt ở trong cḥi vịt. Chiếc bàn thờ chạm trổ. Thuở nhỏ tôi vói tay nhón gót mới lấy được bánh trái cúng trên đó ... bây giờ sao lại dời xuống đây? C̣n nhà cửa đâu?

    Ngoại tôi chậm chạp đi vào mắt cứ nh́n tôi trân trân như chưa tin tôi đă về tới nhà. Ngoại quệt mắt:

    – Nếu ngoại biết con ở đâu th́ ngoại đă đi t́m rồi. Hai chục năm nay ngoại có biết con ở đâu?

    Chia ly, nước mắt. Sum họp, cũng nước mắt. Cả hai ḍng nước mắt đều đắng cay, hờn tủi. Ngôi nhà ngói xưa , năm căn rộng và một ngôi nhà dài dính liền h́nh chữ Đinh đủ sức chứa hai trăm người đă biến mất. Ngày xưa khi cái gọi là Cách Mạng Tháng Tám vừa nổi lên, đây là nơi đóng quân, đóng cơ quan liên tục. Lúa trong bồ xúc ra tha hồ ăn, nước mưa tha hồ uống, trái cây ngoài vườn tha hồ hái.
    Trần Văn Trà, Đồng Văn Cống nào có lạ ǵ ngôi nhà này.

    Tất cả, bây giờ chỉ c̣n lại cái cḥi vịt, một chiếc bàn thờ ba chân và một ḿnh ngoại. Tôi nh́n lên thấy h́nh cậu tôi, người cậu thứ Tám tôi yêu quí nhất, chỉ lớn hơn tôi năm, sáu tuổi, tôi coi như một người bạn thuở ấu thơ.

    – Cậu Tám sao vậy ngoại?

    Như một bọc nước mắt bị gai châm, ngoại ̣a lên khóc.
    Tôi nghe trong tiếng khóc của ngoại hàm chứa một sự u uất khác thường, nhưng chưa đoán được nguyên do. Có lẽ ngoại không muốn để cho đứa cháu đi biền biệt mấy chục năm nay mới trở về buồn ... nên ngoại lại quệt nước mắt, rồi đi nấu cơm.
    Tôi trút ba lô xuống giường, lột súng máng trên đầu cột . Tôi ngó quanh nhà, ngó đến đâu kinh hoàng tới đó. Tôi không ngờ quê hương tan nát và nhà cửa của ngoại tôi trở thành cái cḥi như thế này, một cái cḥi cất trên bờ chuối mà hai hàng cột bia cắm dưới mương , v́ mặt bờ không đủ rộng.

    Cái cḥi có vách lá sơ sài te tua bao bọc chung quanh , c̣n bên trong th́ không có vách ngăn. Phía trước là chiếc bàn thờ, dựa lưng vào bàn thờ là giường ngủ chung quanh là thùng, hũ, nia, sàng, đồ rách, chai lọ lớp bể lớp c̣n nguyên như chiếc thúng tản cư thời chạy Tây, hai mươi năm trước. Trời ơi ! Thời đó Tây nó không đốt nhà ngoại để bây giờ bọn cán bộ chi ủy tổ trưởng đảng, du kích, rút rỉa ăn hết, từ cây cột, chiếc đ̣n tay, cục gạch, tấm ngói, không chừa một thứ ǵ c̣n lại , có thể chứng minh rằng nơi đây từng là một ngôi nhà ngói xưa.

    Ngoại tôi đi ra bàn thờ rút một cây nhang và bảo tôi:

    – Đốt nhang trên bàn thờ đi con!

    Tôi đang lớ ngớ không biết làm ǵ, th́ câu nói của ngoại làm tôi tỉnh lại. Mấy chục năm nay, tôi bất biết nhà cửa, ông bà cha mẹ. Bất biết cúng quải là ǵ. Cách mạng làm cho người ta quên nguồn cội, bắt đầu từ những chuyện tưởng-như-nhỏ này, thực t́nh là không nhỏ. Có quên ông bà th́ mới thờ phượng được Mác - Lê - Mao. Có quên cha mẹ th́ mới gào “Hồ Chí Minh muôn năm” được. Rồi từ đó mới quay lại đấu tố cha mẹ ông bà.

    Tôi cặm cây nhang trên bàn thờ mà không biết van vái những ǵ. Ngoại bảo:

    – Vái vong hồn cậu con về pḥ hộ con.

    Tôi hỏi ngoại:

    – Cậu Bảy đâu ngoại?

    – Cậu Bảy con ở trên Sài G̣n.

    – D́ Năm đâu ngoại?

    – D́ Năm đi ở đợ cho người ta cũng ở trên Sài G̣n.

    Tôi không hỏi d́ Tư tôi. V́ tôi biết d́ đang ở đâu. Trên đường về từ Phước Hiệp tới đây, tôi đă nghe danh dượng Tư. Ông là Cai Tổng. Chợ làng tôi đă trở thành thị trấn. Quận Mỏ Cày chia thành hai quận. Trên có Quận Trưởng, dưới có Cai Tổng. Tôi không dám nói tới những tên tuổi thân yêu v́ sợ đụng tới cái lập trường của ḿnh. Cách mạng là như thế đó . Cách mạng quái gỡ như thế đó . Không rơ ai bày đặt ra mà dân ta phải theo như thế này. Giá đừng có cái tháng Tám trong cuốn lịch th́ dân ta đỡ hơn nhiều.

    Tôi hỏi ngoại:

    – Ngoại ở nhà có một ḿnh vầy sao ngoại. Rồi có máy bay hoặc cà nông ngoại làm sao?

    Ngoại chỉ cái hầm ở sau cḥi.

    – Chun vô đó.

    Cách Mạng đă biến nhân dân thành những con chuột ở hang. Suốt từ Vàm Cỏ Đông về đến đây, tôi đến đâu cũng dớn dác t́m hầm. Khi thấy được cái hầm rồi mới yên tâm mắc vơng nghỉ hoặc làm việc ǵ khác.

    Ngoại nói:

    – Ngoại mướn người ta làm hết năm giạ lúa..

    Nghe nói tới tiếng “lúa” tôi nhớ tới lúa ruộng, nhưng cũng không dám hỏi. V́ lại sợ mất lập trường.

    Ở ngoài Bắc, tôi từng nghe các ông lớn khoe rằng sau Đồng Khởi giai cấp địa chủ đă đầu hàng nhân dân vô điều kiện. Nhiều nơi địa chủ không nhận lúa ruộng hoặc chỉ lấy lúa ruộng tượng trưng một lon sữa ḅ. Và: Địa chủ trong Nam tiến bộ hơn địa chủ ngoài Bắc. Không cần học tập, không đợi đưa ra đấu trường mà đă giác ngộ Cách Mạng. Trong lúc Ban Chấp Hành Trung ương Đảng th́ lại trở thành địa chủ khoác áo bần cố nông, mới đáng nực cười.

    Ngoại tôi bảo:

    – Để ngoại kêu em Sơn của con vô cho má con hay.

    – Em Sơn nào ngoại?

    – Con gái của d́ Năm con.

    Bỗng một cô bé chừng mười một mười hai tuổi bế em đi vô cḥi. Ngoại bảo:

    – Con đi đằng xóm coi chừng có máy bay, cà nông thụt chạy về không kịp.

    Cô bé hỏi.

    – Ai vậy ngoại?

    Ngoại bảo:

    – Anh Hai mày đó.

    – Con đâu có anh Hai như vầy.

    Ngoại giải thích cho cô bé.

    – Con của d́ Hai mày. Anh Hai con đi Cách Mạng hồi con chưa có. Đi lại mừng anh Hai đi con.

    Cô bé đến cúi đầu. Ngoại bảo:

    – Con đi lên nhà chị Sơn kêu nó đi vô Cầu Mống cho d́ Hai con hay.

    – Hay ǵ ngoại?

    Ngoại bảo cô bé đưa em cho tôi. Tôi bồng bé gái ba tuổi mà rung động cả tim gan: ḿnh đi xa nhà quá lâu. Ngoại giải thích tiếp:

    – Em Sơn, con của d́ Năm con, đẻ hồi 45. Khi con đi lên tỉnh với cậu Bảy con , th́ nó chưa dứt sữa. Bây giờ con của nó đă lớn chừng đó. Con hôn cậu Hai đi con.

    Đứa bé biết máu mủ , hôn tôi và ôm cổ tôi. Tôi không ngờ tôi được một đứa cháu xinh xắn ngộ nghĩnh như vậy. Bao nhiêu gian lao chết chóc vượt Trường Sơn băng ĐồngTháp Mười tưởng chừng như tan biến trong phút chốc. Tôi hôn hít nựng nịu liên hồi. Bấy lâu nay chỉ hôn khính con cháu người ta.

    Chập sau mẹ nó tới, một cô gái xinh đẹp, nước da trắng như bông bưởi, giống hệt d́ Năm tôi, bước vô cḥi, kêu:

    – Anh Hai !

    Ngoại tôi trêu:

    – Ai là anh Hai của mày, coi kỹ lại coi !

    Nó bỗng ̣a lên khóc. Ngoại tôi nói:

    – Cha nó hi sinh đâu ở dưới miền Tây trước đ́nh chiến. D́ con đi t́m mà không ra tông tích.

    Gia đ́nh ngoại tôi đang sống trong thảm cảnh, ly tán hoàn toàn. Không c̣n ǵ hết. Trên bảy mươi tuổi, sống trên hai mươi năm trong vùng Việt Minh kiểm soát, nay thành một bà cụ trơ trọi cô đơn và nghèo nàn tột bực .
    Dượng Năm tôi là một nhà Cách Mạng bị tù Côn Đảo. D́ Năm tôi là cán bộ Phụ Nữ tỉnh, đă đào tạo nhiều lớp cán bộ Phụ Nữ Cứu Quốc dưới thời bà Ba Định, cậu Bảy tôi là Trưởng Ban Huấn Luyện Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh, có bằng Brevet Supérieur, từng được chọn đi học Đông Âu năm 1947 nhưng cậu “không đi” với lư do ngoại tôi già yếu. Ruộng đất bị Cách Mạng tịch thu, vẫn vui ḷng. Nhà cửa được Cách Mạng ở dùm. Vẫn cứ vui ḷng. Ngoại tôi âm thầm chịu đựng, một tiếng bất măn cũng không thốt ra.

    Thế mà cậu Tám tôi bị chúng giết trong Đồng Khởi. Có ǵ đâu Chúng mời cậu đi học tập chánh sách. Cậu không đi Cậu bảo:

    – Tụi chăn trâu chăn ḅ dạy ai mà học?

    Chỉ có thế thôi. Nửa đêm chúng đến “mời” ... và cậu không về nữa.
    Bọn tá điền và lũ chăn trâu dùng búa đập đầu cậu Nhưng c̣n tàn nhẫn hơn, chúng không cho ngoại tôi xin xác.

    Nghe tôi về, có mang “Colt”, chúng nó sợ lắm. Một tên tá điền cũ của ngoại tôi đến ngay tối hôm đó năn nỉ tôi. Hắn nói:

    – Cậu có đ̣i th́ tôi xin đong đủ số lúa ruộng.

    Tôi bảo:

    – Tôi không cần.

    Vài hôm sau tên Trưởng Ty Công An, vốn là bạn học cũ của tôi ở trường Quận, cho người mang thơ đến trao tận tay tôi. Xem thơ xong, tôi mới tá hỏa tam tinh. Chẳng những Cách Mạng giết cậu tôi, mà chúng c̣n giết cả cô tôi nữa.

    Cô bị mấy thằng tổ trưởng, chi ủy đảng ve văn, cô mắng chúng là đồ chăn trâu. Chỉ có thế. Chúng giết xong cũng không cho nội tôi xin xác , cũng không nói là tội ǵ. Bức thư của ông bạn vàng Trưởng Ty Công An cố ư giải thích cho tôi về trường hợp cậu và cô tôi, và xin lỗi (!) tôi.

    Chuyện đă như vậy rồi, c̣n nói ǵ được nữa. Cho nên tôi đành làm thinh. Nếu nổi giận chúng sẽ giết tới gia đ́nh tôi và cả tôi nữa , rồi đổ thừa cho biệt kích th́ ai làm ǵ được, khi bọn côn đồ đă có dao găm và lựu đạn trong tay.

    Trong lúc em Sơn đi vô Hương Mỹ, giáp ranh với làng Minh Đức, để cho má tôi hay th́ ngoại tôi dọn cơm cho tôi ăn. Đáng lẽ bữa cơm sum họp đầu tiên là bữa cơm ngon đầy ư nghĩa, nhưng tôi nuốt không vô. Tôi lại hỏi ngoại:

    – Cậu Bảy, d́ Năm làm ǵ ở trên Sài G̣n, ngoại?

    – D́ Năm con th́ ở đợ cho người ta.

    Tôi kêu lên một tiếng như chim bị đạn. Đôi đũa trong tay tôi rơi xuống bàn. Ngoại tiếp:

    – Con nhớ con Tám hồi trước bán bánh bèo ở chợ không? Ư mà không phải con Tám. Má nó mới bán bánh bèo c̣n nó hồi đó c̣n nhỏ. Tụi đó bỏ nhà lên Sài G̣n lâu rồi. Lên Sài G̣n nó vẫn bán bánh bèo mà làm giàu. Kỳ vừa rồi nó về thăm quê, nó có đến đây. Nó thấy d́ Năm con sống cơ khổ quá, nó mới nhờ lên coi nhà dùm cho vợ chồng nó ra Vũng Tàu nghỉ mát hay t́m mối làm ăn ǵ đó.

    Tôi nói để chữa thẹn:

    – Vậy đâu phải ở đợ, ngoại.

    – Ừ, không phải ở đợ th́ thôi.

    – Chừng nào ở hoài th́ mới gọi là ở đợ ngoại à ! Chớ c̣n coi nhà giùm người quen…

    Ngoại tôi cười:

    – Vậy lâu nay ngoại tưởng là ở đợ đó con à !

    Tôi đau đớn không tả nổi từng câu. Tôi hỏi tiếp về cậu Bảy tôi, th́ ngoại nói:

    – Cậu Bảy con đi làm công ǵ cho người ta ở trển, ngoại không rơ, lâu lâu mới về một lần. Hồi Ḥa B́nh nó không ở nhà được v́ lọ mặt kháng chiến, xóm làng đều biết, không trốn được nên phải đi xa. Chẳng ngờ lên trên đó th́ bị đồng chí của nó chỉ chỗ cho mật thám bắt.

    Tôi thấy bị chạm tự ái v́ hai tiếng “đồng chí”.

    – Đồng chí nào vậy ngoại?

    Ngoại nói:

    – Th́ cũng mấy ông đi chung với nó trong chín năm. Lúc Ḥa B́nh thằng kia bị bắt bỏ tù, khi ra tù th́ làm tai mắt chỉ chọc cho mật thám. Ngoại với d́ Năm con khóc hết nước mắt con ơi! D́ Năm con đi t́m qua không biết bao nhiêu nhà tù. Nhưng cũng khá, người ta bỏ tù có sáu tháng rồi thả ra, cho phép đi làm ăn với điều kiện không được làm Cách Mạng nữa. Cậu Bảy con định cạo đầu lập Am tu niệm, nhưng d́ Năm con bảo: “Em là trai, c̣n mẹ già phụng dưỡng.” Do đó nó đi Sài G̣n làm ăn nguôi ngoai.

    – C̣n mợ Bảy?

    – Cũng ở trển lo nuôi mấy đứa con đi học. Cậu con có được hai trai ba gái. Thằng lớn sắp đỗ tú tài. Con em nó cũng học giỏi lắm. Vào dịp băi trường chúng nó thường về đây chơi.


    Mai tiếp ....

  3. #4653
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    Tôi chờ gặp lại má tôi. Tôi biết má tôi vẫn ở ngoài vườn tại nhà cũ của tôi. Nếu bỏ đi bọn cướp chi ủy và tổ trưởng đảng ăn hết. C̣n ba tôi th́ vô chợ ở, dạy cho một trường trung học dân lập. Ông không ưa Việt Minh từ đầu 45 . Ông chơi với bọn Đồng Văn Cống, Trần Văn Trà, tiếp đăi bọn này như thượng khách, cơm gà cá gỏi đều đều, nhưng không đi theo Cách Mạng. Tỉnh, quận mời ông, bạn bè đi kháng chiến cũng rủ ông, nhưng ông từ chối khéo:

    – Tôi không ngủ ở đâu được ngoài cái giường của tôi !

    Đó là sự thực. Từ khi tôi lớn lên ông không đi làm. Có đi tiệc tùng trong làng th́ dù khuya mấy cũng về nhà , không ngủ ở nhà lạ. Nhưng bây giờ ông phải bỏ nhà vô quận lỵ Cầu Mống ở, xa má tôi, để nuôi nội tôi đang được người cô thứ Chín của tôi bảo bọc.

    Năm 45 khi tôi thoát ly gia đ́nh, ông buồn lắm, nhưng không cản, v́ biết tôi yêu nước mà đi chứ chẳng phải chơi bời lêu lổng ǵ. Khi đ́nh chiến, má tôi vào miền Tây để rước tôi về ông nhắn:

    – Ḥa b́nh rồi, về nhà, không đi đâu nữa !

    Nhưng tôi hăng quá, chí tang bồng hồ thỉ, đi hai năm cho biết đó biết đây, coi cái Hồ Gươm, cái Tháp Rùa, đường Cổ Ngư quê hương Xuân Tóc Đỏ ra sao. Hai năm hóa hai mươi năm. Bây giờ quay về. Má tôi tóc đă hoa râm. Đứa em gái độc nhất không lấy chồng, ở vậy nuôi mẹ . C̣n tôi..“vợ c̣n chưa có, hỏi chi con!”

    Chuyện “chữa cháy” đầu tiên của má tôi là đi kiếm vợ cho tôi. Ở nhà má tôi đă đi “làm suôi” với người ta vài ba chỗ . Hai năm không thấy ǵ, người con gái này đi lấy chồng, lại hai năm nữa trôi qua vẫn không thấy ǵ, người con gái khác đi Sài G̣n. Má tôi không c̣n tin ở con số hai đó, nhưng vẫn bền tâm đi “làm suôi” thêm vài chỗ nữa. Vẫn biền biệt tin đứa con trai!

    Bây giờ gặp được đây, mẫu tử trùng phùng nhưng không c̣n ai để làm suôi nữa ! Má và ngoại tôi ngồi bàn, t́m kiếm, nhưng không c̣n ai. Người ta đă bỏ cái xứ Đồng Khởi gai góc này mà đi t́m chỗ dung thân. Ở đâu cũng sống dễ dàng, làm ăn cũng khá hơn ở cái quê hương này: Vũng Tàu, Tây Ninh, Sài G̣n. Đâu đâu cũng là đất lành đất tốt. Cho nên khắp một vùng năm bảy xă là phạm vi giao thiệp của gia đ́nh, và nội ngoại tôi mà chẳng có một mống “nữ nhi” nào khả dĩ sánh đôi cùng ông cán K54 Mùa Thu không thuộc thành phần bần cố này.

    Bỗng một tia hy vọng, có một cô thợ may con nhà khá giả bên sông. Con sông đó là Rạch Tân Hương, một ḍng nước đỏ thắm phù sa như một ống huyết quản nhỏ chạy suốt bề ngang Cù Lao Minh nối liền hai nhánh lớn Cửu Long là Hàm Lưông và Cổ Chiên.

    Con rạch này là nơi ghi dấu biết bao nhiêu kỷ niệm của thời thơ ấu tôi. Từ nhà tôi ra đây, tôi thường được đưa đi bằng xuồng bơi. Tôi được dịp thọc tay qua be xuồng dọc nước, được dịp đi ngang qua chợ Tân Hương nh́n ngó những chiếc ghe chài to lớn lạ lùng. Được dịp biết ngă ba Cầu Quán mà tôi thường nghe ngoại dọa là nơi có “ma da” rút người, để cho tôi sợ mà không dám tắm sông. Bây giờ có thể con rạch đó trở thành thân yêu hơn đối với tôi chăng?

    Đây là một gia đ́nh gốc Hương Mỹ. Cô gái có chồng về đây, má tôi có nghe nói nhưng không quen. Do đó không thể đường đột đến xem mắt con người ta. Giao trách nhiệm cho thằng em con chú Sáu tôi hướng đạo. Cậu thanh niên này làm y tá xă. Nó không dám ở gần quận lỵ Hương Mỹ nên tản cư ra công tác ở xă này.

    Một buổi sáng, sau khi ăn cơm sớm, hai anh em ngồi nói chuyện t́nh h́nh bên nội để chờ “ráo phèn” rồi sẽ xuất hành. “Ráo phèn” có nghĩa là sau mười giờ sáng mà không nghe đầm già “cảo đùng”, nhại theo tiếng rốc kết bắn, như nhại tiếng “cắc bùm” của mút-cơ-tông thời Pháp, không thấy trực thăng vần vũ, không nghe pháo bắn dọn băi ở đâu th́ coi như bữa đó chín mươi phần trăm yên tĩnh, không có đổ quân chụp dù hoặc ruồng bố. Dân Mùa Thu mới về chưa hiểu qui luật bị nạn luôn.

    Thấy t́nh h́nh êm chúng tôi khởi hành. Mười năm trên đất Bắc, tôi không “cấy su hào” v́ tôi luôn luôn t́m đường trốn về Nam, cấy rồi ai gặt? Ngoài ra, tôi rất khoẻ mạnh, như con heo được bác đảng nuôi cho mập, sớm muộn ǵ cũng đút ḷ Trường Sơn. Do đó tôi không kư tờ sống chung thân với ai cả, mà đợi ta về ta tắm ao ta.

    Đường sá không c̣n nữa, con rạch không có ghe xuồng đi lại, nên có những quăng , lục b́nh kẹt bít làm nghẽn cả cây số. Cầu ngang không ai bắc, có bắc th́ cũng chỉ vài hôm là bị pháo hoặc trực thăng bắn gục. Pháo người ta có bản đồ ghi tọa độ cố định, nên bắn đâu trúng đó không phải pháo Việt Cộng bắn hoặc vào nhà đồng bào, tệ hơn, vào trường học. Do đó mà chúng tôi chỉ có một cách là mặc quần tiều và cầm quần áo lội xốc đứng qua sông.
    Tuy rằng chuyện đó hơi kỳ cục nhưng hăy c̣n đẹp gấp mấy ở Trường Sơn, mấy bà mấy cô có kinh mà phải lội suối cả ngày.

    Lên bờ lá hai anh em lấy khăn rằn chị Ba Định lau chùi khô ráo không sót chỗ nào rồi mặc quần áo vào, lấy lược cào sơ cái đầu xong rồi thong dong thả bộ như các đấng đại quân tử đi dạo miền quê.

    Thằng em tôi, lúc tôi ra đi hăy c̣n ẵm nách, bây giờ nó đă hỏi vợ xong cũng gần nhà cô thợ may này, nên nó rành đường không sợ vướng lựu đạn.

    – Quân ta không giết được quân nó mà lại giết quân ḿnh luôn. Tụi nó đi bẻ dừa trộm, bị chủ nhà bắt được, chủ nhà không dám nói ǵ, nhưng chúng nó oán bèn đem gài trước cửa người ta.

    – Chánh quyền ở đâu?

    – Th́ chánh quyền là tụi nó chớ c̣n ai nữa anh !

    Trước khi quẹo vào nhà đối tượng, thằng em dặn nhỏ:

    – Trong nhà này hễ anh thấy đứa con gái ngồi may th́ là “đó” nghen !

    Tôi cười thầm, đi coi vợ kiểu này th́ chỉ có Việt Cộng !

    Nó dặn tiếp.

    – Ḿnh làm bộ mua cam. Đâu có ai biết là ḿnh đến để làm ǵ. Anh thấy là anh chịu liền. Ở đây thanh niên vô không nổi, nên mới c̣n đó. Nó có bà d́ ở trên Sài G̣n muốn đem nó lên trển nhưng má nó không cho.

    Vừa quẹo vô mối đường một chút th́ gặp một anh nông dân đội nón lá rách te tua đi ra. Thằng em tôi hỏi.

    – Có chị Tư ở nhà không anh Tư?

    – Có!

    – Tôi đem cho chị một ít thuốc . Hôm qua chị nhắn mà tôi bận quá.

    – Chú cứ vô nhà. Tôi đi ruộng đắp bờ giữ nước. T́nh h́nh găng quá, êm chút nào làm chút nấy.

    Anh Tư vừa qua khỏi thằng em rỉ tai tôi:

    – Ông già con nhỏ đó anh Hai !

    Tôi giật nẩy người. Như vậy tôi kêu bằng ông nhạc sao vô ? Nhưng đă trót phải trét. Cứ liều ḿnh xông tới thử xem sao. Bố vợ Vơ Nguyên Giáp đâu có lớn hơn chàng rể mấy tuổi. Ông Quyết ủy Viên Trung ương lấy con gái nuôi. Bác Ba Duẩn cũng học một sách đó vẫn hiên ngang như thường.

    Vào đến nhà, thằng em tôi lên tiếng trước:

    – Chị Tư có nhà không? Khách tới !

    Một người đàn bà từ trong bếp bước ra. Nó hỏi tiếp.

    – Tôi cần một chục cam biếu bà già vợ. Cam nhà c̣n không chị?

    – C̣n. Nhưng chưa chín lắm.

    – Kệ nó, chị hái cho tôi một chục có đầu.

    – Đầu đuôi ǵ. Để lêu lêu trên cây đó, ông đi qua bà đi lại nó biến hết hồi nào không hay, biếu cho chú c̣n có nghĩa hơn.

    Người đàn bà nước da trắng, dáng quen quen không biết tôi đă gặp ở đâu. Bà ta cũng ngó tôi với cặp mắt ngờ ngợ rồi vào bếp lấy rổ trở ra. Thằng em tôi hỏi:

    – Cô thợ may có nhà không chị?

    Trời đất! Nếu thành chuyện th́ nó phải kêu bà ta bằng bác mà bây giờ nó chỉ phong chức “chị” cho bà ta thôi.

    – Nó đang may trong buồng.

    – Ông cán bộ này muốn đặt may cái vỏ radiô Sony.

    Quả thật ngoại cho tôi tiền gởi mua radiô trên Bến Tre. Sáng đ̣ đi chiều đ̣ về th́ có ! Tôi bắt đầu sống theo kiểu các ông cán địa phương: lưng mang ba lô, vai đeo xắc-cốt, vai đeo radiô vừa đi vừa vặn nghe lén vọng cổ đài Sàig̣n, đài BBC, VOA v.v…

    – Ờ được, để tôi biểu nó may. Chú mời ảnh uống nước dùm tôi, tôi đi hái cam cho. Thời buổi này cái ǵ cũng phải vừa làm vừa chạy như vậy mà c̣n không kịp với trực thăng.

    Bà chủ nhà nói xong rồi tất tả chạy ra vườn. Chúng tôi vừa ngồi th́ một bàn tay trắng, ngón mũi viết khoát nhẹ tấm màn bằng vải bông, rồi một người con gái bước ra.

    Gương mặt giống mẹ như đúc. Cô nàng cúi đầu chào tôi rồi đứng ở bẹ cửa vui vẻ hỏi thằng em tôi:

    – Anh y tá mới mua radiô hả?

    – Không! của anh Hai tôi, ảnh ở ngoài Bắc mới về.

    Cô nàng hỏi thằng em tôi, mặc dù nó nói là cái radiô của tôi.

    – Anh muốn may kiểu nào?

    – Y như cái cô may cho tôi hôm trước.

    – Anh đem vải tới hay vải của tôi?

    – Cô may bằng ni-lông dầu dùm tôi đi. Công cán vải vóc tính chung tôi trả cho.

    – Ít lắm cũng một tuần mới xong.

    – Bao lâu cũng được. Bao nhiêu cũng được. May cho khéo làm nghĩa nghe cô !

    Cô gái buông tấm cửa buồng như để chấm dứt câu chuyện giá cả, nhưng bỗng cô lại tái xuất hiện.

    – Chừng nào anh cho đám thanh nữ chúng tôi uống rượu đó?

    – Cũng gần rồi. C̣n rắc rối một chút.

    – Rắc rối làm sao đó anh?

    – Người anh ruột cô ta làm phi công ở Sài G̣n chưa đồng ư v́ tôi là dân giải phóng.

    – Như vậy anh phải làm sao?

    – Tôi chờ chừng nào ảnh cưới vợ vùng giải phóng tôi sẽ xúi anh vợ ảnh không đồng ư lại trừ.

    Cô gái cười, cặp môi và hàm răng nở như hoa, rồi vừa nói vừa buông màn:

    – Anh chờ tới cóc mọc râu.

    Thằng em tôi quay sang tôi thầm th́:

    – Anh coi được chưa? Mấy điểm Liên Xô nào?

    Ở trong này cũng bày đặt cho điểm theo Liên Xô . Năm điểm là cao nhất. Tôi đang moi óc t́m xem người đàn bà kia là ai, từng gặp ở đâu, nên không chú ư đến câu hỏi của thằng em. Bỗng người đàn bà trở vào với rổ cam trên tay.

    – Cam này tôi định hái bán trên Bến Tre đấy chú em.

    Thằng em tôi cũng khá nhạy cảm, đáp:

    – Ở đây cũng có giá vậy chị Tư, cần ǵ phải đi xa cho bầm dập!

    Người đàn bà để rổ cam trên bàn rồi hỏi tôi:

    – Xin lỗi anh là người ở làng này hay ở đâu đến?

    Thằng em đáp.

    – Dạ, ảnh đi tập kết mới về.

    Tôi đáp.

    – Tôi ở trong Cầu Mống!

    – Anh là anh Triết phải không?

    Bà ta nói trúng ngay tên gốc của tôi. Tôi gật đầu đáp:

    – Phải, c̣n chị chắc không phải là người làng này?

    – Dạ, tôi cũng ở trong Cầu Mống có chồng về đây.

    – Sao chị biết tôi? .

    – Anh quên mau vậy?

    – Tôi nhớ có gặp chị mà không biết gặp ở đâu, năy giờ tôi suy nghĩ hoài mà không nhớ ra.

    Người đàn bà cười chúm chím.

    – Gặp hằng ngày mà không nhớ. Đâu anh thử t́m coi.

    Người đàn bà quay sang thằng em.

    – Chú ngồi chơi tôi đi móc dừa nạo uống nước.

    Thằng em tôi đứng dậy bảo:

    – Chị chỉ tôi móc cho. Nói xong nó đi ra cửa sau.

    Người đàn bà nói theo:

    – Chú coi cây nào có dừa nạo th́ móc.

    Chị ngồi trên ghế đối diện với tôi. Hai người chỉ cách có cái mặt bàn tṛn. Chị cười thân mật đặt tay lên ngực:

    – Nhuận nè, nhớ chưa?

    Thấy tôi nh́n chị trân trân, chị lại cười:

    – Nhuận học thầy Ba, thầy Nh́ nhớ chưa? Anh ngồi bàn sau làm đổ mực trên áo của tôi, tôi khóc bắt đền đó.

    Một kư văng xa xôi bừng dậy trong tôi. Ngôi trường làng hiện lên trong đầu, một gian nhà ngói ba căn, nền đúc cao, lớp nhất ở giữa, lớp ba bên phải, lớp nh́ bên trái. Tôi học lớp ba chung với nàng. Lên lớp nh́ rồi lớp nhất cũng c̣n là bạn học. . .


    Mai tiếp ....

  4. #4654
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    – Anh lên Mỹ Tho học c̣n tôi ở nhà, cha mẹ bắt lấy chồng. Trên ba chục năm tôi đâu có gặp đứa bạn nào. Nay gặp anh là người đầu tiên học chung trường hồi đó.

    Tôi hỏi vài tên người bạn cũ, chị nói một hơi rồi tiếp:

    – Về làm dâu ở đây gần hai chục năm rồi. Nhà cha mẹ ruột trong đó mà có khi vài năm mới về được một lần, c̣n từ Đồng Khởi tới giờ biệt luôn. Bom đạn bời bời đâu có dám rời miệng hầm. Sao anh ở ngoải có vui không?

    – Vui chớ chị.

    – Anh Hai của tôi cũng đi cán bộ đâu trên quận trên tỉnh ǵ đó .

    – Vậy hả chị?

    – Ảnh vừa cưới một bà cán bộ phụ nữ, hai ông bà dắt đi có cặp. Ba tôi la quá trời mà ổng đâu có nghe. Lỡ cưới rồi làm sao được.

    – Cán bộ th́ cũng tốt thôi, chớ có sao đâu chị.

    – Ủa mà quên, ảnh học trên tôi với anh hai lớp. Anh nhớ không?

    – Bây giờ th́ tôi nhớ rồi. Nhớ ra tất cả rồi. Nhớ cả anh Trung nữa.

    – Ảnh thứ hai, tôi thứ tư, c̣n một đứa em gái thứ sáu ở trên Sài G̣n. C̣n nhỏ ngộ lắm chớ không phải ma lem như tôi đâu.

    Chị cười thân mật.

    – Bất ngờ tôi gặp anh đây thiệt là lạ. Hổng chừng trời đất . Chị ngưng ngang :

    – Hèn chi hôm qua có con chim khách đậu trên cây dừa ở mé sông kêu hoài.

    Tôi hỏi thăm những ông thầy cũ chị nói:

    – Thầy Ba th́ bịnh già rồi chết. Con của thầy là chị Huỳnh Thị Ngọc Anh học chung lớp với ḿnh th́ có chồng ở đâu trong Đập, c̣n thầy Nh́ bỏ nhà lên ở Bến Tre. Hai người con của thầy là anh Tiến và anh Sĩ cũng lên đó.

    – Chị có gặp thầy không?

    – Tôi chỉ nghe nói thôi chớ làm sao mà gặp được, thời buổi bây giờ không có ai dám đi thăm ai.

    – Tại sao vậy chị?

    – Anh không nhớ hồi đầu kháng chiến, người ta bắn hụt thầy Nh́ à? Làng ḿnh vỡ lỡ ra v́ chuyện đó.

    – Ờ ... ờ tôi nhớ ra rồi. Nhưng tới bây giờ tôi không hiểu tại sao người ta lại làm như vậy. Thầy có lỗi ǵ!

    Thằng em tôi xách mấy cặp dừa nạo vào. Chị Nhuận mời tôi uống:

    – Anh ra Bắc lâu vậy, c̣n nhớ chặt dừa ba dao hay vạt mặt nữa không? Tôi biếu anh chục cam đó. Tiền bạc ǵ.

    Chị vừa nói vừa bảo thằng em tôi.

    – Chú lấy khăn túm cho gọn. Mà quên nữa. Chú dắt anh Triết qua đây bằng cách nào?

    – Dạ, lội sông.

    – Trời đất! Thôi, cũng được. Kỳ này chịu khó lội về. Kỳ sau có muốn qua th́ hú một tiếng tôi biểu thằng nhỏ phóng xuồng qua cho.

    – Bên kia hú bên này đâu có nghe chị Tư. Cây cối rậm ri như rừng !

    Chị Tư ngập ngừng một chút rồi nói:

    – Tôi có thằng con trai, nó muốn đi bộ đội. Tôi không cho. Vậy anh cho nó đi theo được không?

    – Công việc của tôi khác với người ta lắm chị Tư à. Nó theo tôi đâu có việc ǵ làm.

    Thằng em tôi tiếp:

    – Ảnh viết báo đó chị Tư.

    – Ảnh viết báo th́ dạy cho nó viết với.

    – Để tôi xem.

    – Anh cứ đem nó theo đỡ tay đỡ chân anh. Đừng ngại ǵ. Để nó theo bộ đội, tôi với ba nó lo lắm.

    Tôi kiếu từ chị ra về. Đến mé sông, thằng em tôi hỏi:

    – Anh coi được không?

    Tôi lắc đầu. Nó dậm chân:

    – Con người ta như vậy mà anh chê cái nỗi ǵ?

    – Anh đâu có chê.

    – Bộ anh có hứa với ai ngoài Bắc hả?

    – Có ai mà hứa !

    – Gia đ́nh này không thích giải phóng mà cũng không theo quốc gia. Anh vô cái là họ ngă theo ḿnh liền.

    Tôi vẫn lắc. Thằng em cứ càu nhàu:

    – Không sớm th́ muộn, d́ Sáu nó ở Sài G̣n sẽ về đem nó lên trển đó anh.

    – Sao em biết?

    – Em biết. D́ Sáu học nữ công ở nhà ḿnh một năm.

    – Bao lâu rồi?

    – Đâu cả chục năm trước. D́ nó đẹp và khéo nữa.

    – Nhưng mà… không được đâu!

    – Tại sao vậy?

    – Dân thành đâu có hợp với anh.

    Hai anh em lại lội sông về . Tôi không cho nó biết Nhuận là bạn học cũ của tôi. Cho nên nó cứ bứt rứt trách móc tôi hoài, nhưng tôi cứ lảng ra mà không nêu lư do ǵ hết.

    Việc quan trọng nhất của tôi về đây là viết tiểu thuyết Đồng Khởi. Ở trên đă giao phó cho tôi cái công việc đó trong một chỉ thị “bất thành văn” của R lẫn Trung ương.Và tôi cũng đă nhận “sứ mạng” đó. Bây giờ về ngay đây, làng Minh Đức, một trong những xă hàng đầu của Đồng Khởi và có cả một số đội viên đội quân Đầu Tóc(*) nữa, tha hồ mà nhặt hái những bó tài liệu quư.

    (*) Bây giờ Việt Cộng đổi lại là “Đạo quân tóc dài” cho dễ nghe hơn.

    Muốn viết được tiểu thuyết đó để gởi ra Bắc, phải tốn cơm tốn gạo chớ không phải dễ . Hồi ở ngoài Bắc tôi có đọc tập kư của Trần Hiếu Minh, tức NguyễnVăn Bỗng, ủy viên Ban Chấp Hành Hội Nhà Văn Hà Nội viết về Bến Tre. Tôi nôn nao lắm, muốn về mau mau. Bây giờ về đến rồi phải tính tới chuyện viết.

    Nhưng trước nhất là phải lo cái hầm bí mật để sống cái đă. Hồi ở trong trường “vác gạch” tướng Nguyễn Văn Vịnh vô nói toàn chuyện phấn khởi để cho đám gà mờ chánh trị này phấn khởi:

    – Các đồng chí về trong đó th́ t́nh h́nh đă khá hơn nhiều rồi. Hiện giờ khu giải phóng rộng hơn thời kháng chiến. Bộ đội hành quân toàn bằng đ̣ máy.

    Nghe mà mê rụng rún con ṇng nọc. Sống chết cũng ḅ về. Có nhiều cụ trên năm mươi cũng nằng nặc đ̣i về cho được. Rồi chết dọc đường như rạ.

    Bây giờ tôi về đến, th́ vùng giải phóng có bằng chiếc đệm của tá điền đồng Nọc Nạn, vừa bé lại vừa rách không xoay trở được. Bất cứ chỗ nào pháo cũng bắn tới. Đó là chưa nói đến trực thăng. Chỉ trong ṿng mười lăm phút là tới nơi, một thời gian đủ cho giải phóng rút xuống hầm bí mật. Cho nên cái hầm là điều sinh tử.

    Thời kháng Pháp khoẻ như đi dạo, mười năm chỉ bị ruồng vài lần. Tàu Tây c̣n cách năm mươi cây số đă chạy rồi. Đâu có thấy thằng Tây mồm ngang miệng dọc ra sao. Bây giờ cứ mỗi sáng thức dậy sớm ăn cơm rồi ngồi nghe ngóng động tịnh để bỏ vó hùm. Ở trên R tuy sợ B52 nhưng ngoài B52 không sợ ǵ khác. C̣n xuống đây sợ đủ thứ cả B52. Loại máy bay thả dưa hấu này đă bắt đầu xuất hiện ở Mỹ Tho, th́ cái Quê Hương Đồng Khởi này sức mấy mà nó tha cho.

    Khi c̣n ở trên R tôi tưởng dễ lắm. Bây giờ đụng vào thực tế rồi mới biết là khó. Làm sao t́m một cái nắp. Hai trăm đồng một cái. Nhưng phải là tay thợ mộc mới đóng được chứ đâu phải như cái nắp mái nắp soong.

    Ở trong nhà ngoại tôi hơi gần đồn bót, cả hai mặt tính từ đồn quận Cầu Mống ra, lính từ Giồng Luông lên bất cứ lúc nào. Cho nên tôi phải lùi ra phía vàm Rạch Tân Hương mà đóng đô ở nhà bà cụ của tôi, tức là cô ruột của ông nội tôi. Bà cụ không có con trai. Chỉ có ba người con gái. Bà thứ Năm ở trên thành lại có con làm quận trưởng quốc gia, nên không thể nhờ cậy ǵ được, trái lại tôi c̣n trốn lánh.
    Bà thứ Ba th́ có nhà ở gần nhà cụ. Bà Ba có người con gái tôi gọi bằng cô Hai đang làm chi ủy viên, và người em, tôi gọi bằng bà Bảy đang làm đảng ủy viên. Bà Bảy tuy vai lớn nhưng chỉ hơn tôi chừng năm sáu tuổi, có chồng tập kết làm giáo sư Đại Học có sang Liên Xô tu nghiệp. Như vậy tôi dựa vào gia đ́nh cụ tôi là đúng lập trường hoàn toàn.

    Thằng em tôi ở đây chăm sóc bà cụ tôi thường xuyên. Bà cụ đă ngoài tám mươi nhưng rất khỏe mạnh. Bà cụ đi vườn tét tàu dừa trồng rau nấu cơm, nấu nước may vá như thường. Ngôi nhà ngói xưa của cụ cũng tan biến đi đâu mất chỉ để lại một dấu vết: đó là bộ ván gơ. Ngoài ra không c̣n một tấm ngói. Hồi nhỏ tôi đă từng đến nhà này, điều làm tôi ngạc nhiên nhất là hai cái “Thọ” để dành cho ông cụ bà cụ đường già. Bây giờ hai cái Thọ đó đă nằm dưới mương, v́ sợ bom bỏ cháy nhà . Cháy món ǵ cháy chứ c̣n hai cái Thọ th́ phải bảo vệ cho nguyên.

    Tôi về đấy cả nhà đều mừng rỡ, v́ tôi là cháu ruột của ḍng họ Bùi. Cụ thường tự ví ḿnh là bà Địch Thiên Kim, cô ruột của Địch Thanh vậy.

    Tôi t́m măi không ra một ông thợ mộc thuê đóng nắp hầm. Cuối cùng thằng em tôi cho tôi một cái. Tôi hỏi ở đâu nó có. Nó bảo của chi ủy làm rồi không xài. Mà nó cũng không dám xài. Hễ có chuyện ǵ th́ nó chạy cà c̣ng như nai trên rừng chớ không dám chui hang.

    Nó dắt tôi đi xem. Ở tận ngoài lùm rậm ở sát mé sông. Nghe nói tới hầm bí mật trên báo hồi kháng chiến, mà tới bây giờ mới thấy nó trên thực địa. Sau này khi lên Củ Chi tôi mới nếm mùi cả Hầm Bí Mật lẫn Địa Đạo.

    Thằng em moi móc một lúc mới t́m được cái nắp và lôi bật nó lên. Tôi nh́n thấy hỡi ôi. Nước đầy tới mép miệng hầm. Biết tôi không hài ḷng, nó bảo:

    – Coi vậy chớ ḿnh cũng xuống được lúc nước ṛng. C̣n nếu rủi nó chụp vào lúc nước lớn th́ ḿnh lặn xuống sông đội lục b́nh.

    Tôi thất vọng hoàn toàn về cái vùng giải phóng bao gồm bốn phần năm miền Nam của Nguyễn Hữu Thọ. Mẹ kiếp thằng Nam Kỳ này đạp cứt Trung ương rau muống hay bị Trung ương cho ăn bùa mê mà cũng bày đặt nói láo bịp gà nhà.

    Thực tế th́ tôi không thể nào dám xuống một cái hầm thuộc loại siêu như vậy, nhưng về mặt tâm lư th́ tôi thấy như đă có một cái bửu bối ǵ che chở cho ḿnh, nên cũng yên tâm mà sưu tầm tài liệu để viết về Đồng Khởi.

    Tôi bỏ qua việc kiếm vợ để lo “việc nước”, tức là sáng tác. Lúc bấy giờ ở Hà Nội, báo Văn Nghệ lâu lâu mới nhận được bài của Anh Đức hay Giang Nam. Chúng nó nói toàn chuyện lên mây gỡ vảy rồng, xuống biển xỏ mũi ḱnh ngư.
    Nhưng khi tôi về đến R th́ thấy chúng nằm chèo queo rên hừ hừ. Thằng Đức th́ c̣n đi được một chuyến xuống tới Rạch Giá quơ được tài liệu mồm rồi phịa ra cái Ḥn Đất, do nhà xuất bản Văn Nghệ in.
    Tố Hữu bắt bác sĩ Trần Hữu Tước, chủ nhiệm khoa Tai, Mũi, Họng Bệnh Viện Bạch Mai, dịch ra tiếng Pháp để bịp thế giới. Tôi có liếc sơ vài trang th́ thấy nó rất đúng lập trường chống Mỹ của đảng. Tôi không bao giờ đọc hết một trang của anh bạn văn này v́ tôi thấy nó viết bằng lập trường hơn là cảm xúc.

    Bây giờ đến phiên tôi phịa ra một cái tiểu thuyết Đồng Khởi kiểu Ḥn Đất.

    Tôi bắt đầu t́m tài liệu ngay trong gia đ́nh bà cụ tôi, nơi cô Hai chi ủy và bà Bảy đảng ủy. Cô Hai bằng tuổi tôi. Hồi đầu kháng chiến trong lúc cô đội nón rơm, mặc đồ tây, lưng đeo dao găm ḥ hét thiếu nhi đi nhịp “một hai” và hát “Lên Đàng” th́ ở trong Cầu Mống tôi cũng làm như vậy. Sau hai chục năm gặp lại nhau, một người làm chi ủy, một người tập kết mới về.

    C̣n bà Bảy tôi, thật t́nh tôi không hiểu tại sao bà vô đảng và làm tới đảng ủy? Bà học chữ nho nơi ông cụ tôi, từ nhỏ không đến trường, khuê môn bất xuất chuyên theo bốn chữ công, dung, ngôn, hạnh, thêu thùa rất khéo nổi tiếng cả một vùng, mở lớp dạy học tṛ tại gia. Một người con gái đọc chữ nho ron rót lại vô đảng. Ai dám giới thiệu? Thế mà bà đă vô.


    Mai tiếp ...

  5. #4655
    tran truong
    Khách
    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    Một hôm nhân lúc cô Hai đi họp về ghé qua. Cô tích cực thấy mà ngán. Cô có con nhỏ, cô bế lội mương lội xẻo đi họp, đi “chỉ đạo công tác” hằng ngày, không mấy khi cô có mặt ở nhà. Bà cụ tôi bảo:

    – Nó làm kiểu đó, con nó lên ba là nói chính trị nghe mà mệt cho coi.

    Cô vào nhà vừa để bé lên vơng, tôi nói ngay:

    – Cô cho cháu hỏi thăm vài vấn đề địa phương chút cô Hai.

    – Ừ hỏi th́ hỏi đi. Cô nói cho nghe mặc t́nh mà viết. .

    – Ở ngoài Bắc cháu có nghe chuyện đấu tranh của đạo quân đầu tóc của Tạ Thị Kiều.

    Cô ngơ ngác:

    – Tạ Thị Kiều nào?

    – Dạ Tạ Thị Kiều anh hùng quân đội.

    – Hồi nào?

    – Dạ trước khi cháu về Nam, cháu có dự một hội nghị “anh hùng giải phóng” trong đó có cô Kiều.

    – Sao cô không biết? Quê cô ta ở đâu?

    – Ở An Thành, là xă có Mả ông Hàm Văn gần Thom.

    – Cô đi họp huyện ủy hoài sao cô không biết? Nếu có người trong huyện đi ra Bắc th́ phải thông qua huyện ủy chớ. Cô ta chừng bao nhiêu tuổi? H́nh dáng ra sao?

    – Dạ cổ chừng hai mươi lăm, nghe nói là chưa có chồng . Cổ rất sợ chó con. Hễ thấy chó con là chết ngất. Cổ báo cáo chiến thuật đoạt bót của cổ bằng con khỉ.

    – Chuyện ǵ lạ vậy, cô không biết ǵ hết!

    – Cổ báo cáo rằng cổ dùng con khỉ nhử tụi lính ra khỏi lô-cốt và ḥ du kích xung phong lấy lô-cốt.

    – Cô không biết chuyện nào trong huyện như vậy hết. Nếu có là cô phải biết.

    Tôi bèn hỏi sang đạo quân đầu tóc. Cô nói:

    – Có thể ở đâu trên Phước Hiệp, Định Thủy ǵ đó, chớ ở dưới này, Minh Đức, Hương Mỹ, Tân Trung, Ngăi Đăng, Cẩm Sơn, An Định, Thành Thới, An Thới do cô phụ trách th́ không có quân nào gọi là quân đầu tóc.

    Tôi mới vỡ lẽ ra cô là huyện ủy viên.

    – Vậy sao ở ngoài cháu nghe chính tên các xă cô vừa kể là xuất phát điểm của quân đầu tóc. Báo kể chính danh các xă ḿnh cháu mừng muốn chết đây mà ! Quê hương ḿnh anh dũng như vậy cho nên cháu mới lặn lội về đây để “viết báo”.

    Thấy cô ngồi lặng thinh có vẻ bối rối, tôi hiểu ngay cái nghiệp báo của nhà ḿnh nên tôi lảng sang vấn đề khác.

    – C̣n ba cây súng ngựa trời như thế nào, cô?

    – Cái đó th́ có. Hầm chông, lựu đạn gài cũng có. Để cô viết cho miếng giấy giới thiệu cháu với mấy đồng chí có trách nhiệm hồi đó. Nhưng cháu phải chịu khó móc họ ra chớ bây giờ họ cầu an bảo mạng không chịu làm ǵ nữa hết. Có nhiều người muốn ra vùng meo đóng vai lem nhem.

    – Nghĩa là sao cô?

    – Là ở trong này bom đạn ác liệt quá, họ không chịu nổi nên men ra vùng trái độn, mặc áo trắng, gặp lính như dân chợ. Thời buổi này mà mặc áo trắng là đầu hàng địch rồi cháu ạ. Cháu sẽ thấy. Số này không ít đâu. Chi bộ họp đề ra nhiều biện pháp kỷ luật nhưng vẫn không kết quả.

    Buổi nói chuyện đầu tiên không mấy ǵ mỹ măn cho cả cô lẫn cháu. Cô bất măn, c̣n cháu hoang mang.

    Tôi hơi thối chí. V́ tôi biết đây là cái ngón của Ban Tuyên Huấn Trung ương. Tố Hữu bẽm mép phi thường. Cả ngàn văn nghệ sĩ dưới quyền chỉ huy của hắn, hắn xoay bề nào phải chịu bề nấy. Trước đây, khi Ḥa B́nh vừa lập lại, bộ đội Nam Bộ tập kết ra Bắc, có mấy chiến sĩ được chọn và trao tặng danh hiệu “Anh Hùng Quân Đội”.

    Tôi là nhà văn Nam Bộ duy nhất được “danh dự” (!) mời ra Hà Nội để viết về thành tích của Anh Hùng Sơn Ton người Miên lai thuộc bộ đội địa phương Sóc Trăng. Điều tra xong, tôi báo cáo lên cấp trên rằng đây không phải là một anh hùng.
    Nếu Sơn Ton là anh hùng quân đội th́ bất cứ chiến sĩ nào cũng có thể là anh hùng quân đội được cả. Trước khi chia tay tôi cổ hỏi Sơn Ton tại sao như vậy? Sơn Ton nói rằng “Ở trên Ban Thi Đua Trung Đoàn đem cả thành tích của huyện Long Phú đắp vào cho tôi!”

    Chuyện này tôi viết lên báo Việt ngữ hải ngoại một vài lần rồi, nhưng quên cho anh ta đi “song ca” với chiến sĩ gái Tạ Thị Kiều. Nay bỗng dưng nhớ lại.

    Lúc ở ngoài Bắc tôi có được “danh dự”, cũng danh dự, gặp nữ anh hùng Tạ Thị Kiều mà Trung ương đặt ngang hàng với Nguyễn Thị Chiến của Miền Bắc. Cô đă lên diễn đàn kể chuyện dùng chiến thuật con khỉ chiếm ba lô-cốt một lúc, làm thính giả gồm có cả đại tướng khâm phục vỗ tay rần rần. Các nhà báo chớp ảnh nháy lia, ghi chép đă đời.
    Tôi nữa, tôi quơ ngay tài liệu đem về thức đêm “sáng tạo” ra cái truyện kư “Lửa Quê Hương” đăng báo Văn Nghệ được độc giả lẫn ở trên khen kịch liệt.

    Cái ngọn Lửa Quê Hương nhen nhúm suốt con đường Trường Sơn, tưởng thành hỏa diệm sơn, nào ngờ về đến Quê Hương th́ lửa kia tắt rụi. Nhưng chưa hết, sau đó ít lâu, tôi ṃ tới tận nhà vị “nữ anh hùng” tác giả chiến thuật khỉ kia. Tôi chẳng hiểu như thế nào cả . Nhưng cũng c̣n hi vọng ở nhiều nguồn tài liệu khác.

    Tôi được cô Hai cho tiếp xúc với mấy người đă từng biết hoặc xử dụng súng ngựa trời. Đây cũng lại là một thần thoại do báo Nhân Dân sáng tác nên. Súng ngựa trời đă từng là một loại vũ khí giúp cho giải phóng quân “chiến thắng oanh liệt, đánh cho quân Mỹ Ngụy những trận xiểng niểng ”.

    Hỗ trợ cho cây súng thần thông này là chông ba lá, lựu đạn gài, ong ṿ vẽ và kèn trận làm bằng tàu đu đủ. Tôi đă từng đọc một câu thơ từ Miền Nam gởi ra, mô tả chiến công của giải phóng quân, mà c̣n nhớ tới bây giờ.

    … Thổi kèn đu đủ mà đồn rút lui.

    Nghĩ ghê gớm thật. Báo Nhân Dân là một tờ báo nói láo nhất thế giới mà Ban Tuyên Huấn Trung Ương của Tố Hữu là một ban bầu cua xảo quyệt lừa đảo phi thường.

    Bạn đọc chắc ít ai biết cuốn sách “kể tội Mỹ Ngụy” mang tên “Từ Tuyến Đầu Tổ Quốc”. Trên hai trăm năm chục trang sách đặc nghẹt những cảnh rùng rợn “chỉ có thể xảy ra ở Miền Nam ” thôi:

    Một binh sĩ Sài G̣n tên Hoàng Văn Đáp đi trận về gặp con chết bó chiếu đem chôn, những cảnh lính Sài G̣n bắt một thanh niên mổ bụng lấy gan xào ăn, anh thanh niên được thả ra chạy hoảng rồi ngă xuống chết v.v… viết dưới h́nh thức những bức thư ngây ngô ngắn gọn xử dụng triệt để ngôn ngữ Nam Bộ . Mỗi bài đều kư tên bà X, ông A, chị B… là những người trong cảnh hoặc từng mục kích những cảnh hăi hùng đó.

    Nhưng nào ai biết được tác giả những bức thư là sáng kiến của Tố Hữu được thực hành bởi một đám gốc dưa hấu làm việc ở Ban Thống Nhất của tướng Nguyễn Văn Vịnh. Vịnh thực hành “sáng kiến” đó. Một thằng bạn của tôi phụ trách việc này cho biết như thế, mà không cần hắn cho biết chuyện đó, tôi cũng đoán được.

    Tôi hỏi hắn sao không nhờ Hội Nhà Văn? Hắn nói thẳng:

    – Nhà văn tụi mày hay trở cờ lắm, vả lại đám tay ngang viết càng ngô nghê, càng trật cú pháp càng làm cho độc giả dễ tin.

    Sẵn đây tôi cũng kể luôn vài vụ bịp na ná như vậy. Đâu khoảng 58-59 ǵ đó, đài Hà Nội và báo Nhân Dân đưa tin vụ “thảm sát Phú Lợi” bảo:

    – Ngô Đ́nh Diệm đă bỏ thuốc độc giết trên hai ngàn tù nhân ở Phú Lợi.

    Thế là cả Miền Bắc vang lên tiếng hô “đả đảo”. Rồi Trung ương ra lệnh cho dân biểu t́nh tuần hành ở Hà Nội và các thành phố Nam Định, Hải Pḥng, Hà Đông, Thanh Hóa… “chống Ngô Đ́nh Diệm!”

    Cũng Tố Hữu bày ra “thức đêm sáng tác gây căm thù” và làm bài “Thù muôn đời muôn kiếp không tan” trước tiên trên báo Nhân Dân. Kế đó là Chế Lan Viên, Xuân Diệu, v.v.. thức đêm làm thơ ! Thơ quá hay nên tôi chẳng c̣n nhớ câu nào. Khi tôi về Sài G̣n, tôi cố ư t́m hiểu vụ này , nên đă đi đến tận nơi vùng đất có cái tên là Phú Lợi. Tôi bí mật điều tra th́ chẳng ai biết đó là ǵ.

    Rồi đến vụ “Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi”. Văn nghệ sĩ lại phải một đêm không ngủ . Nhất là họa sĩ và các nhà quay phim. Những ngă tư lớn của Hà Nội đều có treo áp phích “Nguyễn Văn Trỗi trước lưỡi lê”. Lại cũng Tố Hữu đi đầu với bài thơ “Hăy Nhớ Lấy Lời Tôi”. Trong đó có câu:

    “Phút thiêng liêng anh gọi bác ba lần”.

    Dân có biệt tài nói lái Nam Kỳ bảo:

    – Chính anh Trỗi gọi bác “bốn lần”.

    Măi đến khi ra hải ngoại, tôi mới đọc một bài, nếu tôi không lầm th́ tác giả là một luật sư, nói về những phút cuối cùng của vị “anh hùng” đó. Anh ta đái cả ra quần và không c̣n biết ǵ trước khi được áp giải ra băi bắn, lại chửi:

    – Quân đỉ chó nó lừa tao.

    C̣n về toàn cuộc Trỗi đặt ḿn trên cầu Công Lư là cả một chuyện mỉa mai cho vong hồn Trỗi. Lúc đó Trỗi mới cưới vợ, cô vợ có nhan sắc. Tổ trưởng đặc công của Trỗi đâu phải là thằng mù . Đă không mù lại càng sáng ... mắt sáng hơn nữa.

    Lúc tôi về trên R tôi có nghe một vài tiếng x́ xầm, bảo rằng có một thâm ư, một dă tâm, ở đằng sau vụ đặt ḿn này. Trỗi ôm nguyên “trái ḿn” bỏ vợ mới cưới là do sự chỉ huy sáng suốt của đồng chí tổ trưởng.
    Một vụ Nguyễn B́nh tái diễn. Chỉ khác một điều là B́nh không có vợ. Tôi muốn phăng tới ngọn nguồn, nhưng người ta bảo tôi hăy đọc quyển “Sống Như Anh”, dân Hà Nội chế diễu đọc là “Không Sống Như Anh!”, của Trần Đ́nh Vân th́ rơ.

    Chính các đồng chí giai cấp công nhân đă bố trí cho Trỗi lên chức “anh hùng” này. Tội nghiệp cô Quyên góa bụa suốt đời v́ cô không thể sánh duyên cùng các bác, mà các bác không ham làm kẻ đến sau. C̣n các cậu thanh niên th́ chẳng dám hoặc chẳng dại ǵ mó tới. Bác Nguyễn Chí Thanh ơi, vong hồn bác có linh thiêng xin hăy giúp cho đứa “cháu gái” yêu quí mà bác cưng như vàng hồi c̣n mồ ma bác!

    Tôi ngon trớn dắt độc giả đi hơi xa đạo quân đầu tóc và súng ngựa trời, nhưng không lạc đề. Tôi muốn nói rơ một vấn đề: Cộng Sản nói ra là bịp. Chúng bịp nhân dân trong nước, nhân dân thế giới là sự thường. Chúng bịp lẫn nhau. Như trường hợp “nữ anh hùng” Tạ Thị Kiều tôi vừa kể trên. Như vụ Nguyễn B́nh chống Pháp và vụ Nguyễn Văn Trỗi thời chống Mỹ .

    Khi nghe tên cô nàng ở ngoài Bắc, tôi đă chíp trong bụng, dự định sẽ sáng tạo cô thành nhân vật chính của truyện nhưng bây giờ th́ cái sườn đă lung lay.

    Tôi đi t́m hiểu “súng ngựa trời”. Phải mất năm ngày đi tới đi lui tôi mới được chú Bảy Măn người chôn giấu con ngựa trời, dắt cho đi xem. Tôi phải theo chân băng đồng khá vất vả. Cánh đồng này thuở bé tôi đă từng bắt ốc ṃ cua thả diều, chơi dế, bây giờ tôi không nh́n ra. Chỉ c̣n đám cây xanh ngắt là c̣n đứng nguyên tại chỗ.

    Đó là cảnh chùa Phật Oai Linh Tự sau nhà ngoại tôi. Từ đó tôi có thể t́m ra phía lộ đá Cầu Mống Giồng Luồng th́ thấy hai mảnh mặt trời mọc. Đó là nóc nhà của ông Phủ Kiểng, suôi gia của Hội Đồng Trạch, và nóc nhà của ông Phó Hoài, hai vị đại điền chủ lừng lanh này được dân kính nể và cử tên, gọi là ông Phủ Cảnh và ông Phó Huời. Người ta đồn nóc nhà lợp bằng ngói mua bên Tây nên không đóng rêu, cứ đỏ như mặt trời.

    Gia đ́nh chú Bảy Măn là tá điền cũ của ông cụ tôi nên cô Hai tôi sai khiến dễ dàng. Bảy Măn mới ngoài bốn mươi, nhưng ông để râu tóc bồm xồm coi như tuổi sáu mươi. Để khi bị lính quốc gia bắt th́ giơ cái tuổi già ra mà chạy tội và hy vọng sẽ được tha.

    Bảy Măn dắt tôi ra một cái đ́a ở giữa đồng rồi nhảy xuống nước lặn hồi lâu mới trồi lên. Tôi hỏi:

    – Được không chú ?

    Chú vuốt mặt và lắc đầu.

    – Chú không nhớ chỗ giấu à ?

    – Lính ruồng kỳ trước tôi xách nó ra đạp xuống đây, không biết nó lạc đi đâu?

    Bảy Măn lại tiếp tục lặn. Hai ba lượt mới lôi được con ngựa trời lên đưa cho tôi. Tôi đă thấy ngựa trời đứng hiên ngang ở Viện Bảo Tàng Cách Mạng Hà Nội với ḍng chữ:

    “Khẩu súng này đă đánh tan một đại đội giặc ruồng vào xă Phước Hiệp, Quận Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. “

    V́ những địa danh này thuộc tỉnh tôi nên tôi khắc ghi trong ḷng. Định khi về sẽ t́m đến nơi để lấy tài liệu. Xă Phước Hiệp cách đây không xa. Có ngày tôi sẽ đến đó.

    Tạm thời bây giờ xem đỡ con ngựa này cũng được. Tội nghiệp chú ngựa xưa kia chức có sắc lông màu lửa của cuộc Đồng Khởi vĩ đại bây giờ bị đạp lút dưới đất cái nên hóa ra ngựa ô.

    Tôi nâng cái bảo vật Cách Mạng đặt lên g̣ đ́a trong khi chú Bảy Măn leo lên bờ đứng run run. Với hai hàm răng khua lặp cặp, chú nói:

    – Cậu Hai xem mau mau dùm chút.

    – Để tôi rửa sạch đă.

    – Hay cậu cứ giữ lấy hoặc đem đi đâu th́ đem.

    – Tôi giữ làm ǵ?

    – Vậy cậu coi mau mau để tôi bỏ xuống để người ta trông thấy.

    Tôi lấy làm lạ tại sao y sợ như vậy. Vả lại ngó qua là tôi đă “chụp” được h́nh nó rồi. Cần ǵ phải xem lâu. Ở ngoài Hà Nội tôi c̣n phịa nổi truyện Lửa Quê Hương kia mà, huống chi đă về đến quê hương rồi ! Tôi bảo Bảy Măn:

    – Chú vùi trở lại đi !

    Bảy Măn nhanh nhẹn chụp lấy chú ngựa ô nhảy xuống đ́a lặn một hơi rồi trồi lên dặn tôi:

    – Cậu Hai nhớ chỗ này. Khi cần cậu cứ đến móc nó lên, không cần hỏi tôi nữa.

    – Bộ chú tính không xài nữa hay sao mà đạp kỹ vậy?

    Bảy Măn không nói ǵ leo lên bờ rồi cun cút lủi đi , không nói thêm tiếng nào. Tôi phải đuổi theo bảo chú nói về cách xử dụng và đạn dược ra sao, những trận đánh nào ngựa đă khạc lửa. Nhưng chú xua tay:

    – Cậu về hỏi cô Hai, cổ rành hơn ! Tôi quên hết rồi.

    Rồi chú biến nhanh như sợ người khác trông thấy cái việc vừa làm của ḿnh. Về nhà tôi hỏi cô Hai, th́ cô nói:

    – Mấy thằng cha đó bây giờ “sọc dưa” hết rồi.

    – Hồi Đồng Khởi chú có tham gia không?

    – Th́ thằng chả đi lấy kiểu đâu trên Phước Hiệp Định Thủy ǵ về bắt mấy ông ḷ rèn làm đó chớ ai.

    – Sao bây giờ chú sợ người ta thấy?

    – Sau Đồng Khởi chẳng ngờ Quốc Gia nó mạnh như vậy. Rút bao nhiêu đồn nó đều đóng trở lại mà c̣n lấn thêm. Mấy ông nội có dính dáng tới Đồng Khởi bây giờ bôi mặt lem lem để sống cho yên thân. Nghĩa là không muốn chiến đấu nữa, nên t́m cách lân la với địch và mong nó quên cho cái dĩ văng.

    Tôi hỏi qua con ngựa trời. Cô nói:

    – Th́ nó như cháu thấy đó .

    – Không có ǵ nữa à ?

    – Chỉ bấy nhiêu thôi.

    – Rồi đạn dược làm bằng ǵ?

    – Miểng sành, sắt vụn, hộp lon cắt nhỏ ra, dồn vào nện chắc, bên ngoài đổ sáp.

    – C̣n thuốc nổ?

    – Cô không rơ , để bữa nào cô giới thiệu cho mấy người rành vụ đó .

    Tôi lấy giấy vẽ ra h́nh thù con ngựa và hỏi:

    – Có phải nó như thế này không cô ?

    – Ừ, chắc là như vậy.

    – Trong xă ḿnh có xử dụng nó lần nào chưa cô?

    – Có một lần phục kích ở Ngă Ba Lộ Chùa. Chùa Tuyên Linh đường vô Cầu Mống chớ không phải Chùa Oai Linh ở sau đồng.

    – Kết quả ra sao cô?

    – Bắn không nổ. Dưới Giồng Lượng có Tổng Y. Trên Cầu Mống có Tổng Cường là dượng rể của cháu. Nhưng Tổng Y có lính, thường đi ruồng miệt Cải Bần có khi thọc tới trên ranh Minh Đức, c̣n Tổng Cường th́ nhát lắm không dám ra khỏi chợ Cầu Mống. Trận đó du kích bị lính rượt chạy suưt chết. Mất một cây, c̣n một cây, y đem về nhận luôn xuống đ́a tới bây giờ không nhắc tới nữa.

    Bạn đọc muốn biết món vũ khí “thần thông” này ư? Đó là một cái ống trúm bằng sắt to nhỏ tùy sự sáng tạo. Ở trước đầu có hai cái chân chỏi nó ngước họng lên. Miệng nó dồn loại đạn đặc biệt như bà Huyện ủy vừa mô tả. Thuốc nổ nhét sau đuôi. Cái kim hỏa nện vào hột nổ bằng một sợi dây thun căng thẳng.
    Chỉ có thế. Chắc chắn trên thế giới không có loại vũ khí nào đơn sơ hơn cây súng “Ngựa Trời” . Vậy mà đánh cho Mỹ Ngụy những đ̣n xiêng niểng !!!



    Mai tiếp ....

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 4 users browsing this thread. (0 members and 4 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 26-03-2012, 08:51 PM
  2. Replies: 50
    Last Post: 27-02-2012, 04:26 PM
  3. Ở đâu không có Madison, ở đó có Little Saigon.
    By NguyễnQuân in forum Tin Cộng Đồng
    Replies: 10
    Last Post: 15-08-2011, 04:43 AM
  4. Ở ĐÂY CÓ ĐẤU TRANH LÀ Ở ĐÂY CÓ BỊ BẮT
    By hatka in forum Giao Lưu - Giải Trí
    Replies: 0
    Last Post: 02-04-2011, 04:48 AM
  5. Replies: 0
    Last Post: 12-03-2011, 08:05 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •