Page 467 of 469 FirstFirst ... 367417457463464465466467468469 LastLast
Results 4,661 to 4,670 of 4686

Thread: SAIGON THUỞ ẤY ...

  1. #4661
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    Bây giờ có thêm mấy thằng đực rựa này nữa th́ bà càng thấy chí hướng của bà là đúng. Tôi quăng cuốc đi vào. Th́ thấy một ông ngồi chong ngóc trong nhà. Đó lại là một thằng đực rựa họ Bùi khác. Tôi kêu lên.

    – Chú Khanh!

    Chú là bà con chung đầu ông cụ với tôi, tức là bà nội của chú là em gái của ông cụ tôi, cùng họ Bùi.
    Má của chú là con gái của ông Chánh Đầu, một người rất có uy tín trong làng đặc biệt hơn nữa, lúc về già ông cất nguyên một cái thánh thất Cao Đài, tu tại đó và mấy năm cuối cùng của đời ông, ông không ăn cơm chay nữa mà chỉ ăn toàn bông và uống nước mưa hứng giữa trời. Dân trong vùng mến phục ông, nhiều người đem bông tới tặng ông dùng bữa. Ông ăn bất cứ bông ǵ. Ông bảo:

    – Bông là tinh chất của vũ trụ.

    Khi ông viên tịch, mộ ông ngày nào cũng có bông tươi rắc lên. Chú có người anh thứ Tư học trường Le Myre de Vilers cùng khóa với anh của Ngô Quang Trưởng, con dược sư Ngô Quang Thọ ở Mỏ Cày.
    Chú đi kháng chiến. Lúc Léon de Roy chiếm đóng tỉnh Bến Tre th́ chú chạy xuống miền Tây ở vùng Đầm Cùn. Không biết lư do ǵ chú bị Sở Công An Nam Bộ bắt. Sau đó ít lâu, được thả ra, chú về nhà cưới vợ làm ăn luôn, mặt trận mặt ǵ mời chú cũng “Không!”. Một tiếng “không” dứt khoát.

    Ở Hà Nội tôi có gặp chú Khanh một lần ở vùng đầu đường Hoàng Hoa Thám. Lúc đó chú bảo chú sắp về quê. Chẳng ngờ bây giờ lại gặp nhau ở quê, mà tại nhà bà cụ họ Bùi. Bà cụ mừng rỡ vô cùng. Cụ nói:

    – Hồi xưa Địch Thiên Kim chỉ có một đứa cháu là Địch Thanh, bây giờ tao có tới ba Địch Thanh, tao hơn bà Địch Thiên Kim rồi.

    Bà con tới lai rai, v́ đến đông không đủ hầm chui, khen:

    – Một nhà “Cun” (Colt – tức K54).

    Thằng B́nh làm đại đội trưởng Giải Phóng Quân. Chú Khanh, thiếu tá . Chú về Nam giữa lúc rau muống tràn ngập R, không có việc ǵ làm nên lănh chức xă đội trưởng Kà-Tum. Vinh quang thay một ông thiếu tá! Bà cụ tôi nói:

    – Quan vơ có thằng Khanh, quan văn có thằng Triết.

    Tôi hỏi t́nh h́nh trên R th́ chú lắc đầu không nói. Tôi hỏi về thăm nhà chừng nào chú đi. Chú bảo:

    – Công tác đây chớ thăm nhà ǵ. Tao tách đoàn ghé lại đây.

    Cơm nước xong, trong lúc chú kể chuyện cho cả nhà nghe th́ tôi và thằng B́nh đi ra vườn. B́nh cao lớn như chú tôi. Lúc tôi là “Tổng Tư Lệnh Thiếu Nhi Cứu Quốc” xóm Cổ C̣ chỉ huy đám con nít th́ B́nh c̣n ẵm trên tay. Bây giờ nó là đại đội trưởng. Hai anh em hỏi thăm nhau qua loa rồi bước sang lănh vực Cách Mạng.

    – Em đóng quân bên Bảo à?

    Tôi hỏi vậy v́ nếu nó đóng quân bên Minh th́ ắt nó đă nghe tôi về và chạy đến lâu rồi. Nó nói:

    – Em ở trên Mỹ Tho.

    – Ủa sao lên tới đó?

    – Dạ, hồi sau Đồng Khởi tụi em bị đưa lên Khu để thành lập bộ đội Khu.

    – Rồi sao?

    – Dạ, th́ em ở luôn trên đó tới bây giờ.

    Hồi ở Hà Nội, tôi được thư nhà báo tin hai em con của chú tôi đi giải phóng quân, lại nhằm lúc tôi gặp nữ anh hùng Tạ Thị Kiều nên ng̣i bút tôi hứng khởi vô cùng. Sau khi viết truyện “Lửa Quê Hương” tôi bèn lia thêm một bài “Gởi Cho Em Là Giải Phóng Quân”. Hai bài đăng liên tiếp trên báo Văn Nghệ, là một điều hi hữu. Trong bài Gởi Cho Em tôi có viết một câu, tới bây giờ hăy c̣n nhớ, mà mắc cỡ rùng ḿnh…– “Em hăy làm cội tùng, đừng sống cuộc đời của ngọn cỏ trong chậu úp. . . “

    Bây giờ ngồi đối diện với cội tùng non hay ngọn cỏ già tôi cũng không biết.

    – Em có dự trận Ấp Bắc không?

    – Dạ có.

    – Trận đó vang dội khắp thế giới, chớ chẳng phải vừa nghen em!

    Thấy thằng nhỏ làm thinh, tôi nói tiếp:

    – Đến nỗi ở ngoài Trung ương gởi một nhà văn về .... viết về trận đó để gởi ra thế giới.

    Đó là nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn ở Pḥng Văn Nghệ Quân Đội, cấp bậc trung úy được gởi về Nam cho giải phóng quân, trước cả Bùi Đức Ái và Nguyễn Văn Bỗng. Tấn đă đến tận Ấp Bắc viết một bài bút kư gởi ra Bắc đăng báo, kư tên là Nguyễn Thi (không phải là Nguyễn Đ́nh Thi). Sau này Tấn qua Trà Vinh viết về Út Tịch là người “Nữ anh hùng giải phóng” được Trung ương tuyên dương, được Bác Hồ tặng áo lụa!

    Tấn khởi đầu làm văn nghệ bằng thơ. Thơ kháng chiến của Tấn hay lắm, nhất là tả bộ.đội. _

    Quét những lá vàng,
    Vun sau thành đống
    …Chờ một hôm nào hơ hóng áo anh.
    …Trời ơi gai móc thịt da
    Ở nhà c̣n lạnh huống ra chiến trường

    (Thơ Đồng Nội)

    Tuy không sắc sảo và điêu luyện bằng Nguyễn Bính nhưng hơn xa Bảo Định Giang, Bảo Việt. Đời của Tấn là một bi kịch. Khi ở chiến khu D, Tấn có yêu một nữ nhạc sĩ dương cầm. H́nh như đă làm lễ cưới. Không hiểu sao khi tập kết, Tấn không đem theo, trong lúc Tấn có thừa tiêu chuẩn. Hơn nữa, Tấn là bạn cột chèo với Vơ Huy Xứng là Trưởng Pḥng Chánh Trị khu lúc bấy giờ.

    Ra Bắc ở một ḿnh. Tấn đau khổ. Đâu khoảng 62-63 ǵ đó không hiểu bằng cách nào mà bà nữ sĩ ra được Hà Nội trong lúc chàng thi sĩ lại đă lên bệ phóng Trưởng Sơn. Hai bên gặp nhau chẳng biết được mấy ngày. Chàng không thể ở lại c̣n nàng th́ không lẽ mang ba lô vượt Trường Sơn? Để cho chàng thêm thi hứng Trung ương bèn cho chàng đi nhanh vào Trường Sơn, không để dây dưa , sợ e cái lập trường mềm đi mất.

    Riêng nàng th́ được anh Sáu Thọ cho đi Bu Đa Pét học dương cầm. Từ xa, tới xa. V́ Cách Mạng xa nhau. Rồi v́ Cách Mạng lại xa nhau lần nữa. Lần trước mười năm lần này vĩnh viễn: Tấn bị bom pháo đâu ở vùng Bời Lời, trong ba lô ắt hẳn có một bài thơ t́nh không vần và không câu cuối.

    Sẵn tài liệu sống trước mặt, tôi dại ǵ lại bỏ qua. Thử khai thác xem có đủ chất viết một bài về Ấp Bắc không. Tôi hỏi thằng em:

    – Em có thể kể cho anh nghe về trận Ấp Bắc không?

    Cậu bé ngồi lặng thinh, hồi lâu mới đáp nhỏ rí:

    – Dạ được.

    Nó kể cho tôi nghe, xong, tôi hỏi đó là sự thực à?

    – Dạ theo em biết th́ nó như thế đó .

    Theo lời của B́nh th́ trận Ấp Bắc là một chuyện không biết nên nói là may hay rủi. May là v́ đoàn tải vũ khí từ Trà Vinh về ngang Mỹ Tho th́ bị quân Sài G̣n bao vây. Vũ khí này được đưa về để thành lập một đơn vị chủ lực Khu II do Lê Quốc Sản ở ngoài Bắc về làm Tư Lệnh. Sản là Trung Tá được phong Đại Tá để tương xứng với các Tư Lệnh Vùng.
    Sản về, vừa đến Tháp Mười chưa giở tṛ ǵ được th́ chết. Tôi có nói đến cái chết của y trong hồi kư Củ Chi. Cùng lúc với Nguyễn Văn Bảo chánh ủy Sư Đoàn 330 về làm chánh ủy Khu IV, Nguyễn Hoài Pho Tư Lệnh Khu III, cả ba đều bỏ mạng.

    Bị bao vây, đoàn vận tải phải phân phát một số vũ khí ra cho bộ đội Mỹ Tho-Bến Tre vừa mới tập trung để h́nh thành chủ lực khu, nhưng có một số vũ khí mới chưa ai biết xử dụng được nên phải chôn giấu và bị quân Sài G̣n móc lấy hết.

    – Kết quả trận đánh ra sao. Em cứ nói thật rồi anh liệu mà đề cao.

    Thằng bé ngẫm nghĩ một hồi, rồi nói:

    – Tiểu đoàn em chết gần hết. Ban chỉ huy tiểu đoàn không c̣n ai. Các ban chỉ huy đại đội hi sinh hoàn toàn. Em lúc đó là tiểu đội phó được cho làm đại đội phó. Nhưng đại đội em chỉ được hai tiểu đội. Cả tiểu đoàn quân số trên hai trăm ... c̣n lại chừng năm mươi.

    – Rồi sao?

    – Dạ rồi ở trên xuống ủy lạo, tuyên đương phong chức và đặt tên là đơn vị anh hùng Tiểu Đoàn Ấp Bắc. Nếu không có số vũ khí này th́ tiểu đoàn em đâu có chết dữ vậy.

    – Tại sao?

    – Dạ v́ tụi em chỉ có trường bá đỏ mà không đủ đạn. Bắn một chập là hết trơn. Tụi nó chỉ cần nhảy gị xuống bắt sống chớ đâu cần bắn mà chết.

    Tôi xem ṃi cậu đại đội trưởng này không hồ hởi thừa thắng xông lên cho lắm nên hỏi qua chuyện ǵa đ́nh. Nó nói thẳng không sợ tôi buồn:

    – Em về thăm gia đ́nh vô thời hạn anh ạ.

    – Sao vậy?

    Tôi hiểu là thằng nhỏ mất ư chí chỉến đấu nên chỉ hỏi lơ là. Nhưng nó cứ nói thẳng:

    – Đơn vị em đâu c̣n mà trở lại. T́nh thế này ḿnh không làm ǵ được. Ở Mỹ Tho không một giờ nào yên. Buổi sáng thức dậy thật sớm, nấu cơm ăn rồi ra đồng phân tán vào các cḥi dân, tổi mớ́ về vườn, lại bị pháo. Toàn ở hầm. Một lần đơn vị em bị chụp ǵữa đồng. Chắc có điệp báo. Hoặc là nhân dân không muốn cho ḿnh chen vô hầm, ở trong cḥi với họ nữa nên báo cho lính. Em sống sót là nhờ cái ǵ em cũng không biết nữa.

    Sau này nó ở nhà luôn. Thím tôi cưới vợ cho nó. Họ hàng không ai xúi nó đi trở lại đơn vị nữa. Mà có xúi chắc nó cũng không đi. Năm nay (1993) nó đă có cháu nội.

    Dịp may hiếm có, tôi đề nghị với chú Khanh tổ chức một buổi về thăm nhà. Nhà tôi, nhà B́nh và nhà chú ở gần nhau. Sẵn có mặt ba chú cháu về thăm một chuyến.

    Trước nhất bà Bảy và cô Hai tôi bàn với đảng ủy và chi ủy tổ đảng địa phương. Tụi này thấy tôi về không có đeo K54 th́ lạnh nhạt, không giúp cả việc làm hầm. Tôi không đeo K54 như các nhà quân sự lại nhét trong ba lô. K54 là vật chuẩn đánh giá cán bộ. Bây giờ thấy chú Khanh và em B́nh mang “Kun” th́ họ tích cực giúp đỡ. Họ cho du kích đi dọ đường trước, gỡ chướng ngại. Rồi một tổ đi nằm quá nhà tôi hễ có lính quận ra th́ báo liền.

    Vậy là ba ông quan văn quan vơ họ Bùi yên chí lớn hồi hương với chiếc áo bà ba đen, chân đất và súng ngắn giắt lưng. Má tôi căn dặn không cho tôi về nhà, v́ sợ gián điệp báo cho lính. Lính vô nhà tôi nằm sẵn. Về là đụng.

    Tôi về tới nhà ngoại tôi, hôm trước hôm sau cả chợ Cầu Mống đă hay: “ông Trung Tá”. Không biết ai phong quân hàm cho tôi ngon vậy! Đi kháng chiến làm phóng viên chiến trường đă đời, ra Bắc lănh chức, vợ mấy thằng trưởng pḥng trưởng ban chuyên làm kẻ đấm bóp cho chúng, lại lănh chuẩn úy. Tôi thèm cái “lon” sữa ḅ đó à?
    Tôi cởi áo lính ra làm báo luôn. Sau này Tổng Cục Chính Trị gọi lại, tôi cũng không luôn. Trở lại cao lắm cũng là đại úy như bọn Nguyễn Khải, Nguyễn Ngọc Tấn là cùng. Mà tôi cũng đâu có ham làm “quan vơ” nhất là dưới quyền của ông đại úy răng bạc lập trường cao muôn trượng Thanh Tịnh.

    Cuộc hồi hương của ba tên đực rựa họ Bùi được bố trí vào lúc đêm và giờ xuẩt phát rất bí mật: chín giờ tối. Với sự bố trí kể trên, nguy hiểm thứ nhất được loại trừ: biệt kích chụp dù. Chỉ c̣n nguy hiểm thứ ba là pháo. Cầu Mống có pháo 105. Ở nhà th́ pháo bắn cũng chết. Vậy là coi như an toàn đển tám mươi phần trăm. Đèn pin không được dùng đến v́ đó là phương tiện hiện đại, có thể lẫn lộn với địch. Cái ǵ lạc hậu nhất là của đảng ta: đuốc lá dừa.

    Tôi về đến nhà, má tôi hồn vía lên mây. Bà dậm chân:

    – Mày về làm ǵ? Nhà cửa tan tành như vậy đó. Coi mau mau rồi đi!

    Tôi vô cửa hông ra cửa sau và trên đường trở ra “căn cứ” tôi tạt vào thăm nhà ông nội bà nội, nhà ông Mười bà Mười, nhà ông cụ, tửc ông nội của bố tôi, rồi đi một ṿng kim tỉnh, vạch cỏ t́m mộ ông nội rồi trở ra ngay.

    Ở ngoài này bà cụ, bà Bảy, và cô Hai đâu có ngủ. Cả nhà thức chờ tôi về và nghe ngóng coi có pháo bắn không. Tôi không dám cho ngoại tôi hay v́ má tôi dặn ngoại tôi đừng có cho tôi về. Hễ vài bữa th́ má tôi ra thăm chừng tôi một lần, coi tôi có c̣n ở đó không, và tiếp tế thực phẩm, tiền bạc.

    Cuộc hồi hương coi như thắng lợi hoàn toàn. Chú Khanh và thằng B́nh cũng đạt được mục đích như tôi, nghĩa là rảo quanh nhà được một ṿng.


    Mai tiếp ....

  2. #4662
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ................



    Cuộc sưu tầm tài liệu để viết tiểu thuyết Đồng Khởi ở quê ngoại của tôi chấm dứt. Một bữa tôi hỏi cô Hai tôi:

    – Cô có biết bà nào tham gia đội quân đầu tóc hồi đó không cô?

    Cô Hai nói:

    – Hồi đó cô chưa trách nhiệm. Cháu muốn biết rơ th́ phải lên tỉnh t́m bà Sáu Ḥa. Chắc cháu có quen.

    – Bả là ai mà cháu quen?

    – Bả là cựu trào kháng chiến, cán bộ của bà Ba Định. Hồi đó cháu ở văn pḥng Thanh Niên tỉnh th́ biết bả.

    – Nhưng hồi đó đâu có ai tên Sáu Ḥa.

    – H́nh như bả tên là Sáu Nết.

    – Dạ. Chị Sáu Nết, chị Hồng Yến cháu có biết. Chồng bà Sáu Nết là ông Hồ Văn Thoại làm tờ báo Hi Sinh của tỉnh. C̣n chị Yến th́ thành hôn với anh Phan Minh Triều, trưởng văn pḥng của Ủy Ban tỉnh.

    – Cháu lên đó sẽ c̣n gặp nhiều người nữa. Tài liệu thiếu ǵ. Lo không có đủ bút mực mà ghi.

    Thế là tôi chuẩn bị đi qua gặp tỉnh ủy bên Cù Lao Bảo. Trước khi đi tôi nhắn má tôi ra. Sau vụ cô gái Sài Thành, má tôi buồn lắm. Con gái vùng giải phóng kiếm đỏ con mắt không có một đứa. Chúng đi giải phóng đâu đâu hoặc ra thành làm ăn rất khá, không cô nào chịu ở nhà.

    Lúc bấy giờ Mỹ đă vô, công việc làm ăn hái ra tiền nên người ta ùn ùn đi Sài G̣n, không mấy ai theo giải phóng. Có gia đ́nh nông dân, vốn là tá điền của ngoại tôi, bị một thảm kịch vui vẻ.

    Số là ông ta làm cán bộ nông hội giải phóng. Ông có hai đứa con gái, mới ban đầu th́ đi buôn hàng chuyến theo đ̣ máy lên tỉnh. Coi bộ mần ăn khá cô nàng vọt lên SàiG̣n. Làm ăn khá hơn nữa cô ở luôn. Ông bố dọa làm tờ từ v́ con gái làm mẩt uy tín. Nhưng cô gái không ngán, thừa thắng xông lên cô lấy luôn “lính Ngụy”. Hổng biết lính cỡ nào mà có xe jeep chở cô về đến tỉnh.
    Cô nhảy xuống đ̣ về nhà, thừa lúc ông già đi họp nông hội, bèn xúc luôn cô em gái lên Sài G̣n gả cho “lính Ngụy” luôn. Ông già hăm mẻ răng, nhưng hai thằng rể Ngụy vẫn cứ gởi quà về cho bố vợ giải phóng đều đều, khi th́ bánh Trung Thu, khi lại quần áo, sữa đường dầu ăn. Ban đầu ông ta giữ lập trường “ta-bạn-thù” rất nghiêm minh, la hét om ṣm và dọa trả lại, nhưng dần dần quà gởi thường quá, ông đem cho bớt các đồng chí.

    Các đồng chí đem ra xài công khai. Ông thấy không ai nói ǵ nên cứ nhận, lâu lâu lại bảo gởi món này món nọ. Khi tôi sang đây hai cô có gởi thơ nhận là đồng hương và cho biết ông già bị thương cụt một chân hồi chiển tranh. Hai cô gởi thuốc men và một cặp tó về cho ông bố.

    Má tôi đưa tôi một quăng trong vườn dừa bà cụ rồi đứng lại móc tiền cho tôi:

    – Tía mày không chịu cho mày đi, nhưng mày đi, tía mày (má tôi không bao giờ gọ́ bố tôi bằng “ổng”) cũng để cho mày đi. Hồi ḥa b́nh tía mày bảo tao vô Khu 9 rước mày về. Mày nói để mày đi hai năm. Bây giờ là mấy năm? Con Lan không lấy chồng là v́ mày. Bây giờ tao già rồi, cháu ngoại không có, cháu nội cũng không. Mày coi mấy thím của mày đó, cháu nội cháu ngoại cả bầy. Đây rồi tía mày cũng như ông ngoại, khi chết không có cháu.

    Lời trách móc thấm thía vô cùng. Tôi c̣n biết nói ǵ. T́nh h́nh như vầy làm sao kiếm ra một cô dâu cho bà?

    – Mày không thấy đứa cán bộ phụ nữ huyện, phụ nữ tỉnh ǵ sao?

    – Không có đâu má ơi.

    Rồi tôi đi, ḷng buồn héo hon vô hạn, tâm sự bời bời, nhưng c̣n biết làm sao? Hồi ở ngoài Bắc quyết ḷng trốn về cho được. Bây giờ về được rồi lại thối chí nản ḷng. T́m không gặp tỉnh ủy ở bên Bảo. Tôi quay sang Cù Lao Minh, ở vùng An Định.
    Đang đứng lớ ngớ ở chợ Cái Quao, làng An Định nhưng chợ tên là Cái Quao, cũng như làng Hương Mỹ nhưng tên chợ là Cầu Mống, làng Minh Đức có chợ tên là Tân Hương, th́ gặp một thằng bạn cũ. Nó vừa ở dưới đ̣ máy đi lên. Khu giải phóng xài toàn đ̣ máy nhưng không phải để cho bộ đội hành quân mà để dân đi thành. Làng nào có sông th́ có đ̣ máy, có làng hai, ba chiếc, mỗi ngày có hai chuyến lên thành.

    Nó tên là thằng Bảy Quế, con thầy giáo Trí ở chợ Xép Ḥa Lộc. Thấy nó ăn mặc bảnh bao, mũ phớt, cà rá đồng hồ chói chang th́ tôi sực nhớ nó công tác quân báo cho Hai T́nh, trưởng ban quân báo tỉnh cũng là bạn học của tôi và của chị ruột người đẹp Sài G̣n. Sau này tôi gặp hắn lảng vảng ở bến đ̣ này luôn, để lấy tin hoặc tung tin ra thành.

    Hắn trỏ tay:

    – Văn Công R xuống kia ḱa!

    – Ở đâu?

    – Một số đă tản vô vườn c̣n một số mê đồ thành đang bu trong các quán.

    Tôi xộc vào th́ thấy bá quan đủ mặt. Trưởng đoàn là Ba Thanh Nha, soạn giả cải lương ở ngoài Hà Nội về, chạy tới ôm chầm lẩy tôi:

    – Về tới xứ rồi hả? Lo vợ con ǵ được chưa?

    – Anh đi đâu dưới này?

    Thanh Nha rỉ tai tôi:

    – Chạy trốn chiến dịch Johnson City (hay Junction City) chớ đâu!.

    – Trốn đâu chớ ở đây không có “hảo hảo” đâu anh Ba.

    – Tao đi tuốt Khu 9 chớ ở đây sao nổi. Bom pháo ở đây c̣n hơn ở R.

    – Anh qua Đồng Chó Ngáp thấy chó có ngáp không?

    – Phải đổi ra là Đồng Chó Tru th́ mới đúng.

    – Quân tướng c̣n đủ không anh Ba?

    Ba Nha nháy mắt và cười:

    – Tao đem nó xuống cho mày ḱa!

    – Nó nào?

    – Làm bộ hoài! Con “su hào” mày không nhớ hả?

    Tôi như bừng tỉnh giẩc mơ. Trên đường Trường Sơn, chúng tôi có đi quá t́nh bạn một tí ti , Ba Thanh Nha bảo:

    – T́m chỗ uống trà , bàn với chú mày vài chuyện công lẫn tư.

    – Chỗ th́ có nhưng không thể ở lâu trong chợ được. Trực thăng nó đến “phượng hoàng vồ mồi” đó.

    Ba Nha cười:

    – Chà! Mới xuống đồng bằng mà rành dữ ha! Có bị phát nào chưa?

    – Mới bị “bủa lưới” nhưng chưa bị phóng lao. Mới bị phóng pháo thôi.

    Anh rỉ tai tôi.

    – Ê đừng có giỡn với nó nghe chú em. Tỉnh ủy Long An vừa bị một mẻ… to.

    Vài ba người trong ban chỉ huy tháp tùng theo Ba Nha đi uống trà. Ba Nha c̣n quay lại nhắc chung:

    – Mua ǵ th́ mua riết đi nghe. Làng chàng ở đây không có lợi.

    Tôi nói với Ba Nha:

    – Tôi chắc tụi nó “nuôi” cái chợ này cho mập rồi nó làm thịt không biết giờ nào! Chớ không có lư nào chợ búa ŕnh rang như thế này mà nó thả cho tự do?

    – Đúng đó ông bạn cố tri!

    Một tiếng nói bật lên và một bàn tay vỗ vai tôi. Tôi ngó lại, th́ ra là Bảy Quế. Tôi giới thiệu với ban chỉ huy đoàn Văn Công.

    – Thằng “báo” hại! Đây là ông…

    Nh́n cặp mắt Bảy Quế nháy, tôi nói trớ.

    – Đây là ông bạn tôi ... có cô em gái rất đẹp không biết gả chưa?

    Cả bọn cùng cười. Bảy Quế cũng cườ́:

    – Gả rồi nhưng gả cho “quân nó” mới bỏ mạng sa tràng chớ!

    – Sao mẩt lập “trường gà” vậy mậy? Hồi kháng chiến, mỗi lần nó dắt tụi tôi ghé nhà “ưu điểm”, nó đều rỉ tai từng thằng: “Muốn ăn ǵ ăn, muốn ngủ chừng nào th́ ngủ nhưng cấm ṃ em gái tao!”

    Cả bọn cười rộ. Tôi tiếp:

    – Bây giờ lại bị người ta cuỗm mẩt. Mà là quân nó, không phải quân ta.

    Bảy Quế cười ngọ nguậy bộ râu cá chốt hóm hỉnh:

    – Ai biểu tụi bây cứ lấp ló không chịu dô!

    Ba Nha chen vào:

    – Hồ́ đó mấy cậu này chưa có biết muốn vợ. Tội nghiệp, bây giờ muốn động trời th́ lại kiếm không ra!

    Đồ phụ tùng sẵn trong ba lô, chỉ cần moi ra. Nào chung mắt trâu, nào b́nh trà làm bằng hộp gi-gô. Củi th́ đó, nhà sụp, nhà bị bom, tha hồ rút lấy làm củi chụm chớ đâu có phải như trên Trường Sơn gọt cây đứng lấy từng lát như cam thảo, mà nấu lâu lắc!


    Mai tiếp ....

  3. #4663
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Ba Nha vừa châm trà vừa lâm râm :

    – Ơn ai, vong hồn Hoàng nhạc sĩ và Lê thi sĩ!… về đây hưởng bậy chung trà.

    – Nói nhảm ǵ vậy ông nội?

    Tám Không, thành viên của ban chỉ huy đoàn nói:

    – Hoàng Việt và Lê Anh Xuân chết rồi.

    – Ủa, sao vậy?

    – Lê Anh Xuân vă thằng Hồng Đức bị chết ngộp dưới hầm ở Long An c̣n Hoàng Việt bị rốc kết phóng ngay miệng hầm ở An Hữu.

    – Ảnh đi đâu vậy?

    – Mày quên à? Ảnh về là để làm Bản Giao Hưởng II về Cửu Long Giang. Vừa tớí An Hữu th́ lâm nạn.

    Tôi ngồi chết trân. Cả ba người này tôi đều biết. Riêng Hoàng Việt th́ rất thân, thân đến độ dám nói chuyện bất măn với nhau mà không sợ đi báo cáo. Cả một chuỗi dài kỷ niệm giữa hai đứa hiện lên trong tôi. Thôi, vậy là hết một đời nghệ sĩ. Đi năm sông bảy núi không sao về chết ở lỗ chân trâu.

    Trên đường Trường Sơn anh tâm sự với tôi về những bản giao hưởng mà anh định sẽ làm. Anh nói anh đă từng đến Sông Danube đi thuyền trên đó. Danube đâu có hơn ǵ Cửu Long Giang nhưng nó có được thể hiện trong hai bản bất hủ là Sóng Danube và Danube Xanh. Cửu Long ta hùng vĩ thế mà … Anh đă làm bản giao hưởng Quê Hương ở bên Bucarest. Giàn nhạc giao hưởng Hà Nội đă tŕnh diễn bản nhạc này ở Nhà Hát Lớn để tiễn chân anh về Nam, cũng là vĩnh biệt anh lần đó.

    Đến đây tôi muốn trả lời cho một người bạn nhạc sĩ Việt Nam hiện đang tị nạn ở Mexico. Nhạc sĩ đọc sách của tôi và hỏi tôi: Hoàng Việt về Mỹ Tho có một tiểu đoàn bảo vệ cho anh để anh sáng tác, phải không? Xin thưa: Đó là chuyện trên sao Hỏa. Hà Nội có coi những nhà văn hóa và nghệ sĩ ra ǵ. Hoàng Việt là một nhạc sĩ sáng tác nhiều nhất và hay nhất trong chín năm kháng chiến Nam Bộ.
    Anh là hạt ngọc của Việt Nam chứ không phải riêng của Cộng Sản. Đến năm 1965, theo tôi biết th́ ở Miền Bắc chỉ có Hoàng Việt là người độc nhất có khả năng sáng tác nhạc giao hưởng. Từ Bungari về với mái tóc bạc quá nửa, anh được đưa vào trường vác gạch chuẩn bị đi Nam. Với tiêu chuẩn của một binh nh́.

    Anh ốm yếu, nghiện trà thuốc nặng cho nên trên đường Trường Sơn ngoài cái đói anh c̣n phải chống trả với cái ghiền. Không một tấc sắt trong tay, chân đau lê lết, giao liên bỏ bê, có biết đó là ai. May sao tôi cũng ốm lọt lại sau đoàn. Thằng què được thằng mù cơng, nương tựa với nhau mà lết về đến quê nhà.

    Chúng coi Hoàng Việt như một tân binh nên phát vơng kaki, không có món ǵ đặc biệt, cho nên cái ba lô của anh mỗi khi mắc mưa, nặng như Ngũ Hành Sơn nằm trên lưng ông Tôn Hành Giả ; Hoàng Việt có gắn lá bùa lập trường và tiêu chuẩn.

    Tiêu chuẩn ǵ. Lê Đức Thọ, anh vợ là cựu Trưởng Ty Công An Bạc Liêu ra Bắc được cho ngồi ghế Giám Đốc Sở Du Lịch, về Nam lại được đi máy bay. Vợ Nguyễn Chí Thanh và vợ tướng vô thăm chồng trong R lại được đi máy bay và được lính khiêng từ Minốt về Tây Ninh bằng vơng hoa.
    Chuyện đó đă đành, bởi v́ chồng làm đại tướng trung tướng th́ vợ phải được tiền hô hậu ủng là lẽ thường. Tổng Bí Lê Duẩn có vợ bé bị vợ lớn đánh đuổi phải đem gởi cho Mao Chủ Tịch, mỗi lần sang thăm vợ bé , tốn ít nhất là mười năm lợi tức của một xă viên.

    Đừng nói đâu xa, hăy nh́n Thép Mới Tổng Biên Tập báo Nhân Dân, cả đời viết được chục rưỡi bài tùy bút, “tác phẩm” của y gom góp lại in được chừng mười đến mười lăm trang đọc được. Thế mà vô Nam, hắn đi đâu , được đám Bake bộ chỉ huy giải phóng cho cần vụ đi theo đứa mang ba lô, đứa vác AK hộ vệ. V́ hắn là dân triều đ́nh.
    C̣n Hoàng Việt đi đơn thân độc mă, phó mặc cho giao liên, du kích vô trách nhiệm cho nên thay v́ cất giấu kỹ lưỡng chúng lại nhét Hoàng Việt vào một cái hầm, trống toang hoác, chẳng trách ǵ trực thăng phóng quả rốc kết ngay chóc miệng hầm.

    Tất cả thân xác nhà nghệ sĩ số một của Miền Bắc chỉ c̣n lại một mảng tóc bạc dính vào gốc cây găy cúp bên miệng hầm. Phát súng đó đắt giá không kém ǵ nhánh cây giết Nguyễn Chí Thanh ở Tam Giác Sắt trước Mậu Thân.

    C̣n Lê Anh Xuân, con cụ Ca Văn Thỉnh cũng đáng tội nghiệp. Xuân vô Nam hận một nỗi: người t́nh ngoài Bắc không chờ đợi nên đă sang ngang. Lê Anh Xuân đang viết trường ca về Nguyễn Văn Trỗi: “Trong Cách Mạng, yêu nhau, song sắt nhà tù cũng nở hoa “. Xuống dưới kia , y sẽ viết tiếp với sự hợp tác của Nguyễn Văn Trỗi.

    Thanh Nha thuật cái chết Hoàng Việt rất chi tiết. Hiện giờ vợ Hoàng Việt chưa biết tin. Thằng bé mà Hoàng Việt mơ tưởng sẽ có sau hai mươi năm cách xa vợ hiện đang nằm trong bụng mẹ, nhưng khi nó ra đời th́ tiếng khóc của nó là tiếng kêu oán than của một bé mồ côi – mà Lê Trực (tức Hoàng Việt) đă tiên tri cho ḿnh từ trước 45.

    Tiếng c̣i trong sương đêm
    Nghe vi vu oán than
    Thôi khóc chi đau ḷng
    Con cố yên giấc nồng
    Khi ra đi có hứa thu nay về.

    Tiếng ru của người mẹ trong Tiếng C̣i Trong Sương Đêm , nay đă trở thành chính tiếng ru cho bé Lê Tương Phùng , cái tên mà anh đă đặt cho đứa bé và đă nói với tôi trước khi về tới R, ngay trong lúc đau nằm tại một trạm ở giữa Trường Sơn man rợ. Lê Tương Phùng đă trở thành Lê Thiên Thu , đứa bé nay đă hai mươi tám tuổi nhưng không bao giờ được bố hôn, bố bồng.

    Cả bọn uống trà ngon lành và hối hả, tṛ chuyện cũng hấp tấp. Bảy Quế nói:

    – Cái chợ Cái Quan này chỉ cách tỉnh lỵ Bến Tre không đầy mười lăm phút trực thăng. Nó c̣n để đó để làm đầu mối đưa tin lấy tin. Giống như một cụm chà mà bà con thả dưới sông. Đám cá tưởng đó là nơi an toàn tránh khỏi tay thợ chài, nào biết đâu sẽ có một bữa bất ngờ người chủ bao đăng xúc một phát là sạch. Nào cá lóc, cá trê , cá ḷng tong. . .

    Tôi trỏ bộ râu của nó và nói.

    – Và cá chốt nữa.

    Ba Nha gạt ngang.

    – Thôi đừng có khủng bố để ông uống trà cho ngon miệng !

    Tôi hỏi về t́nh h́nh R. Anh nói một hơi. Tiệc trà giải tán thắng lợi năm trăm phần trăm, mạnh ai nấy lủi. Tôi đi theo Ba Nha để gặp cô “su hào”. Ba Nha giục.

    – Nói ǵ th́ nói mau mau đi. Đoàn sẽ rời ngay nơi này. Hay muốn ở đây luôn th́ nói.

    Đâu có ǵ để nói. Nh́n thấy cô bé trên đất quê nhà, tôi cảm thấy là mười năm sống trên đất Bắc tôi “tu hành” là sáng suốt, v́ sớm muộn ǵ tôi cũng sẽ bị đúc trong ḷ Trường Sơn. Nếu có vợ có con bỏ lại, ai nuôi? Tôi chạy dài, chạy không ngó lại cái sự “giúp đỡ” của đảng ủy chi ủy mà tôi đă từng thấy.

    C̣n bây giờ rau muống đă ḅ vô tới đây? Lại cũng không thể. Tôi cưới vợ để đi theo văn công lêu bêu nay tỉnh này mai tỉnh khác ư ? C̣n nếu bắt về nhà làm dâu th́ cô nàng có chịu? Trường hợp này cũng na ná như trường hợp người đẹp Sài G̣n. Hơn nữa, Ba Nha cũng không có đủ quyền hạn quyết định một vấn đề như vậy.

    Tôi có yêu một cô Bắc Kỳ thật, nhưng cô Bắc Kỳ ấy th́ đang ở xa. Tôi chắc Bắc Kỳ cũng yêu tôi lắm! Chúng tôi chỉ mới hôn nhau và tạm biệt. Nếu phải lấy vợ người khác xứ th́ tôi chỉ xin lấy cô Bắc Kỳ đó mà thôi. Trên thế gian này mọi cuộc t́nh sâu đậm đều tan vỡ. Romeo Juliette, Lương Sơn Bá- Chúc Anh Đài, v.v…

    Thêm tôi nữa, Xuân Vũ và cô Bắc Kỳ !

    Tôi vào quán mua ít quà tặng cho cô bé và bảo các bạn:

    – Đây là cái chợ độc nhất trong vùng Giải Phóng mà tôi gặp suốt từ R về đến đây, các bạn muốn mua ǵ th́ trút hồ bao ra mà mua đi, đi xuống I3 (tức Khu 9 cũ) càng gay go hơn.

    Ba Nha nói:

    – Từ ngày về Nam tới nay tao mới biết cái chợ.

    – Đây chỉ là những cái cḥi không phải là chợ. Chỉ khác cḥi ngoài đồng là v́ ở đây có hàng hóa từ thành thị đem vào. Tôi có ghé ngang đây khi từ R xuống, nhưng lúc đó không sung túc bằng.

    – Mẹ kiếp ! Chợ làng mà phong phú quá.

    – Dạ thưa anh Ba, xứ này từ xưa nó vẫn như thế, hơn thế mà ! Anh c̣n lạ ǵ !

    Tôi biết Ba Nha sợ mất lập trường nên chỉ nói thế thôi. Sự thực, cũng như tôi nghĩ anh phải nói:

    – Phong phú hơn cả Mậu Dịch Tổng Hợp Hà Nội.

    Mà đúng thế. Nếu anh có nói th́ đó cũng là sự thật. Ở đây có bán cả bàn máy may, đuôi tôm, phân hóa học Urée, mua không phải phiếu. Từ cây tăm xỉa răng đến lọ tương chao, cứ bỏ tiền ra th́ lấy hàng. Ai muốn mua một lúc hai, ba bàn máy, ba, bốn đuôi tôm, nếu không sẵn, mai sẽ có chuyến đ̣ về sớm nhất trong ngày.

    May quá, bữa nay Trời Phật pḥ hộ, “đống chà” vẫn c̣n là nơi ẩn núp của lũ cá lóc cá trê R mới tới. Chia tay nhau, Ba Nha chỉ nói y như Hai Tân phó ban Tuyên Huấn, lúc tôi và Tư Mô rời tiểu ban Văn nghệ R:

    – Cố gắng cẩn thận nghe cậu !

    – Cảm ơn anh.

    – Tao thấy cái đồng bằng này không bằng phẳng chút nào hết, lại c̣n gai góc hơn trên rừng.

    – Trời kêu ai nấy dạ anh Ba ơi! Anh Hoàng Việt lội Trường Sơn ba tháng không sao, ló xuống đồng bằng có mấy bữa th́ lâm nạn. Cẩn thận là đă đành rồi, nhưng biết thế nào mà cẩn thận?

    Ba Nha là một người đàng hoàng, trên đưa lên thay cho Tám Nhàn được gọi về Bắc. Anh là một loại người gương mẫu, chỉ sáng tác có một tuồng cải lương cho đoàn Chuông Vàng Hà Nội diễn. Đó là tuồng Hương Sen Đồng Tháp.
    Về trong này phần lớn thời giờ anh dùng để chiến đấu với muỗi đ̣n xóc. Cuối cùng anh là kẻ chiến bại trước kẻ thù tí hon này. Không biết mồ mả ở đâu. Ai mà t́m cho được. Xương chiến sĩ Nam Kỳ không những phủ trắng Trường Sơn mà c̣n trắng cả R và đồng bằng nữa.


    Mai tiếp ....

  4. #4664
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Khi đoàn xuống tới Rạch Giá th́ bị chụp. Một số diễn viên bị bắt, trong đó có Nguyễn Trọng Miên, người Châu Đốc là nhạc trưởng của đoàn.

    Tám Không, người Giồng Luông, quận Thạnh Phú , được phép đoàn ở lại móc gia đ́nh.

    Sở dĩ y có cái tên nghe vui vui như vậy là v́ lúc xa gia đ́nh, vợ y có mấy điều “răn” cho đức lang quân tâm niệm. Một là, hai là, ba là… như là một loại nghị quyết của Trung ương đảng.
    Y là đồng hương và bạn học ở trại huấn luyện Thanh Niên Cứu Quốc Tỉnh, y học bên Thiếu Nhi, tôi nhỏ tuổi hơn y nhưng lại học bên Thanh Niên. Trong kháng chiến, y theo tiểu đoàn 307 , tôi làm phóng viên chiến trường .

    Ra Bắc y viết và đóng kịch, tôi viết văn. Lội Trường Sơn cùng một chuyến, và lại gặp nhau đây để “ ‘kéo bè kéo cánh”, giúp đỡ nhau viết về Đồng Khởi vĩ đại ! Vợ y là diễn viên số một đoàn Văn Công Nam Bộ. Con y mới ba tuổi, y chở lại nhà tôi chơi hoài. Y giục tôi :

    – Kiếm một chỗ cấy rau muống đi để “có một cục để trên đầu trên cổ với người ta”.

    Y lấy tên tôi đặt cho con. Có lẽ v́ quá yêu tôi chăng. Yêu nhau lắm nhưng không có cắn nhau đau như người ta thường nói. Bây giờ y mới chế diễu tôi:

    – Rau muống non quấn chân vậy không chịu ..... để về đây không khéo lại quơ dưa hấu sồn!

    – Mày có thực hành đúng “tám không” không?

    – Tao bây giờ c̣n “mười không” nữa chớ thèm tám.

    – Cái “không” nào khó thi hành nhất?

    – Không có việc ǵ khó. Chỉ sợ ḷng không bền. Đào sông lấp biển “Quyết chí cũng làm nên” .... mà chú Hai nó.

    – Ừ, tốt lắm. Bây giờ mày tính trụ h́nh ở đâu?

    – Tao có chỗ rồi.

    – Ở đâu mà hay vậy?

    – Chó dắt mới gặp “cố nhân thời xa vắng!”

    – Cha chả ! Coi bộ lăng mạn rồi đa !

    – H́ h́, nhưng cố nhân lại có cựa mày ạ !

    Hai đứa cùng cười rồi dắt nhau đi vô vườn đề pḥng “Phượng Hoàng bủa lưới phóng lao”. Tám Không bảo:

    – Mẹ, con gái một bầy, con trai một lũ mà đều thất nghiệp. Tao không hiểu người ta giữ để làm mắm hay làm ǵ mà không cho chúng nó xáp với nhau. À quên, Điêu Thuyền vào rồi !

    – Gặp Lữ Bố chưa ?

    – Lữ Bố đang mắc nạn, tổ chức c̣n điều tra nên hai đằng chàng và thiếp chỉ hờm sẵn cái bàn cờ chớ chưa xuất tướng xe đâm thọc ǵ được cả.

    – Hoàng Việt chết thiệt sao mày?

    – C̣n giả với ai nữa chớ ?

    – Coi chừng công điện bỏ dấu lộn.

    – Chữ ǵ chớ chữ “Hoàng Việt” không lộn được. Ở dưới tỉnh bây giờ người ta lấy tên là Năm Quyết, Sáu Thắng, Mười Ḅ, Ba Ngố chớ ai có loại tên mất lập trường đó mà lộn. Châc! Nếu cần hi sinh một cánh tay của tao để ảnh sống lại, tao xin sẵn sàng.

    – Thôi mày ơi! Đừng có nói nhảm.

    Tôi dắt Tám Không đi loanh quanh một hồi th́ gặp một cái nhà hoang ở mé vườn. Hai đứa mắc vơng nằm. Đâu cũng thế, dân không ở trong những nơi rậm rạp và tránh giải phóng. Tám Không bảo:

    – Hai đứa ḿnh ở đại cái nhà này, hằng ngày đi chợ về nấu ăn.

    – .. chống Mỹ?

    – Tao sẽ t́m cách về thăm gia đ́nh!

    – Bây giờ phải lo bồi dưỡng cặp gị trước. Nó khô nước nhờn từ Trường Sơn rồi ! Về R đâu có châm nhớt thêm được chút nào. Ở đây là chấp nhận chạy đua với trực thăng, cặp gị yếu yếu là bị nó xớt thôi.

    – Mày mới về sao biết rành vậy?

    – Qua Mỹ Tho mà không rành à? Ở đó hơn đây cái mục pháo bầy. Ngoài ra thứ ǵ cũng giống.

    – Tao bị rồi.

    – Ủa, c̣n Tư Mô đâu?

    – Ảnh về bên Bảo thăm nhà.

    – Cặp gị ổng chắc lúc này làm ống điếu tốt hơn hồi ở R.

    Tôi kể cho ông bạn cố tri nghe về việc t́m tài liệu Đồng Khởi, nhưng y không có vẻ chú ư mà cứ thở dài.

    – Bây giờ tao mới thấy nhớ thằng nhỏ.

    – Nhớ thằng nhỏ hay nhớ má nó?

    Tám Không làm thinh, một chập rồi móc bóp lấy h́nh vợ con ra:

    – Tao phải đem nó về giao cho bà già mới yên tâm.

    – Bà già mày ở đâu?

    – Ở Sài G̣n.

    – Làm sao giao được?

    – Thằng Bảy Quế ra vô thành như cơm bữa. Tao sẽ nhờ nó. Nói chơi vậy thôi chớ làm ǵ được. Lúc tao về thăm má con nó tản cư trên Bắc Ninh, tao thấy tội nghiệp quá. Xa vợ ít đau khổ hơn xa con. Mày có con rồi mày sẽ biết. Tao nhớ lúc tao bồng nó lần cuối cùng, tao bảo: Con hôn ba, rồi ba đi! Nó hỏi: Ba đi đâu? Tao nói: Ba đi công tác. Nó hỏi tiếp: Công tác ở đâu? Tao bảo: Xa lắm. Nó lại hỏi: Chừng nào ba về? Vợ tao khóc và quát: Con đừng hỏi nữa. Để ba đi! Bây giờ th́ biết không có ngày về !

    Cái thằng bạn của tôi kể tới đó rồi ngưng. Nó rơm rớm nước mắt:

    – Đó những chuyện nhỏ nhặt như vậy thôi mày ạ, nhưng nó ràng buộc ḿnh vô kể. Bây giờ tao mới thông cảm với anh Tư Cương (Phó Giám Đốc Đài Phát Thanh). Hồi 1940 ảnh bị tù về thăm nhà lúc chị Tư sanh con Nina. Ảnh lưu luyến rồi ở nhà luôn không đi hoạt động nữa. Cho nên bây giờ mới ngồi ghế thấp vậy, chớ nếu không th́ ít nhất cũng là Bộ Trưởng, ủy Viên Trung ương.

    Tôi gạt ngang:

    – Thôi mày ơi! Gác vụ má thằng Cu lại một bên đi. Tính chuyện cái bao tử đă.

    – C̣n mày, về tới nhà rồi, có để ư được mối nào chưa ?

    Tôi cười há há rồi kể lại “mối t́nh ngang trái “ và chuyện “Giang tả cầu hôn” cho nó nghe. Nó bảo:

    – Con d́ không được th́ nhắm con cháu chớ sao bỏ cả hai đi? Như vậy cũng c̣n khá hơn ông Giáp.

    – Rồi kêu bạn học bằng “nhạc mẫu” à? Khó coi quá !

    – Th́ cưới con gái người ta phải kêu người ta bằng má chớ sao. Ông Giáp lấy con gái ông Đặng Thái Mai cũng được chớ đâu có ǵ khó coi.

    – Chèo ách quá mày ơi ! Không được đâu. Rồi cả làng tao hay, bạn cũ biết họ cười chết.

    Tám Không bảo:

    – Để bữa nào êm êm, mày dắt tao coi con bé… é cháu rồi tao liên hệ với chi ủy địa phương đặt vấn đề cho. Gia đ́nh mày có một ḿnh mày, ở đó mà nhởn nhơ ngâm cứu hoài. Con nhỏ su hào đi dọc đường với tao nó có tâm sự. Tao thấy không được, nên tao nói quát ra. Cấy su hào th́ cấy ở ngoài đó chớ về tới xứ rồi ta kiếm dưa hấu mà lấy giống cho rặc ṇi, chớ ai lại để lai, phải không nhà dăng?

    Tôi làm thinh. Tám Không quay lại vụ Hoàng Việt:

    – Thiệt là đau đớn. Kể từ nay ḿnh hết có nghe anh Bảy Hoàng C̣ nói về giao hưởng nữa. Không biết ảnh có để cục nhân nào lại cho mấy em tóc vàng Bun-ga-ri không?

    – Tội nghiệp Lê Tương Phùng và chị Bảy quá trời.

    – Mày thấy gương đó th́ phải lo vợ con sơm sớm đi.

    Hai đứa nhóm bếp nấu nước nấu cơm. Ba cái dụng cụ Trường Sơn mang về tới R đă thấy găy xương sống, tính quăng phức cho rảnh nợ, chẳng ngờ lại phải đeo xuống đây. Tôi hỏi.

    – Mày qua Đồng Chó Ngáp có suông không?

    – Mày muốn nói là có ăn pháo bầy hoặc thủy phi thoàn không hả?

    – Phải. Nhưng mày lội một lần hay hai?

    – Một lần là ói ra gạch cua rồi, c̣n muốn mấy lần?

    – Tao lội hai lần đó mày ơi!

    Tám Không cười khè khè như lựu đạn lép đề-tô:

    – Bị cá nốc à?

    – Không! Ngâm dấm suốt đêm nó vắng mặt. Há há… Hổng biết của mấy em có hề hấn chi không? Phải sửa lại là đồng chó chết mới đúng mày ạ. Tàn nhẫn vô nhân đạo thật. Tụi ḿnh th́ dù sao cũng là giống mạnh, c̣n các em là giống yếu, giống đẹp phải ngâm nghêu ṣ ốc hến cả đêm tội nghiệp quá. Các em lại sợ đĩa chui nữa!

    Bỗng nghe một tiếng “pịch” sau hè như cái chấm dứt câu chuyện chó ngáp. Cả hai nhảy tưng lên rồi nh́n nhau. Pháo lép à ? Không phải ? Tôi nh́n ra. Đó chỉ là trái dừa khô rụng sau hè. Tôi lượm đem vào, bảo:

    – Đây là dừa Bến Tre không phải dừa Thanh Hóa.

    Tám Không nhại tiếng Bắc.

    – Ở đây nà Cái Quao, Thanh Hóa thế quái lào được. Ḿnh tha hồ kho khô kho nước ăn chơi nhé anh C̣. Mẹ kiếp bốn kí nô nạc đổi một kí nô thép Niên Xô, c̣n mấy kí nô dừa đổi một kí nô thép hả chị hĩm?

    – Nếu bốn kí th́ tao ở không đi lượm dừa rụng đổi thép không cần công tác nữa.

    Tôi dùng con dao găm cứa da không đứt của hợp tác xă Hàng Bạc mà tôi đeo suốt từ Hà Nội vô tới đây lột trái dừa, đập ra, cạy, xắt miếng bỏ vô gà-mên, t́m muối để kho.

    Tám Không lục trong bếp một lúc rồi reo lên:

    – Tao lấy bí danh là “không” mà lại có. Chủ nhà đi để lại tất cả cho ḿnh. Mày coi đây: nước mắm, nước tương, nước màu, đường, muối, cả chao và mắm nữa. Vậy ḿnh chỉ nấu cơm ra vườn hái rau sống ăn với mắm chưn một bữa no kè uống trà rồi lên vơng lúc lắc. C̣n cái món dừa kho để dành ngày mai.

    – Nghe đài BBC và ngủ, tao có radiô Hitachi đây.

    Đang ăn cơm, bỗng Tám Không nói:

    – Để tao gả em gái tao cho mày. Tao quên mất tao có hai ba đứa em gái.

    – Ở đâu bây giờ?

    – Ở Sài G̣n.

    – Tao vừa xem mặt một cô Sài G̣n.

    – Rồi sao?

    – Có lẽ cổ không chịu tao mà tao cũng không thể… ǵ được v́ cái lập trường của hai bên xa cách…

    Tám Không lắc đầu:

    – Lập ǵ! ông già vợ tao cũng ở Sài G̣n, một đại tư sản có nuôi cả ngựa đua. Ổng đă để dành cho con trai tao một con ngựa tơ. Chừng nó về nó sẽ cỡi đua.

    – Mày móc được ổng rồi à?

    – Lúc về tới R tao cho người đi ngoéo ngay. Ổng có vợ lẽ. Má vợ tao không c̣n ở chung với ổng nữa. Ổng có hai đứa con gái với bà nhỏ. Mày thấy là chịu liền. Tụi nó đẹp như tiên vậy. Ngoài ra tao c̣n một lô em gái. C̣n cả một bà chị vợ nữa. Mày có thể bắt thăm.

    – Gả em vợ chị vợ nghèo ba năm mày không biết à?

    Cả hai cùng cười. Tám Không nói tiếp:

    – Nếu trớt mấy mối đó, tao c̣n một đám em gái con của cô tao ở Giồng Luông. Tụi ḿnh sẽ mạo hiểm đi xuống đó một chuyến. Trước nhất xuống Minh Đức, rồi từ Minh Đức băng đồng xuống Cái Bần. Rồi từ Cái Bần lội xuống Giồng Luông. Luôn dịp tao thăm mộ ông già tao. Mấy chục năm trời biền biệt. Con cái ǵ bất hiếu vậy?

    – C̣n bà già hiện ở đâu?

    – Bà già tao bỏ xứ lên Sài G̣n ở chung với anh Hai tao lâu rồi. Ảnh là sĩ quan Hải Quân Hoàng Gia Anh trong đại chiến thứ hai, được nước Anh ưu đăi, cho lương hằng tháng sống khỏe lắm.

    Tôi bảo:

    – Mày lụi hụi rồi bị kết tội mất lập trường giai cấp cho coi.

    Tám Không cười dí dỏm:

    – Lập trường giai cấp tao cất kỹ lắm. Mất hay c̣n không ai thấy được, chỉ ḿnh tao biết thôi. Chính cái bản thân tao đă là một sự mất lập trường rồi. Tao là địa chủ, mày thừa biết mà. Đi theo Cách Mạng cà nhỏng gần hai mươi năm chưa chặt được cái đuôi đ… chĩa hay sao?

    Nhà Tám Không giàu lắm. Dân Giồng Luông không có nhà nghèo. Nhà ngói, phông tô nền đúc san sát nối liền nhau như phố chợ. Việt Minh nổi dậy phá sạch. Hai ngôi nhà nguy nga lớn nhất, có thể là toàn tỉnh cũng bị phá tiêu. Đó là nhà của ông Phó Hoài và ông Phủ Kiển. Nhà Tám Không ở gần đấy.


    Mai tiếp ....

  5. #4665
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Ở ngoài Bắc vượt về Nam cả ngàn cây số đường rừng mà gần. Bây giờ chỉ c̣n năm, sáu cây số nữa là về tới nhà mà lại xa. V́ Giồng Luông Thạnh Phú đều có đồn bót. Tám Không nhắc lại với vẻ cương quyết.

    – Tao sẽ kiếm vợ cho mày.

    Nói cho vui vậy thôi chớ làm sao mà Ngụy và Việt Cộng nh́n mặt nhau được. Cái ǵ mơ tưởng cũng đẹp, đụng thực tế rồi mới ngă ngửa ra. Tôi và Tám Không chưa biết ở đâu cho vững bụng th́ nghe tiếng trực thăng qua đầu. Vườn dừa, bờ mía rậm ri dễ trốn lắm, nhưng cũng vẫn cứ sợ ḷi lưng.

    Hôm sau hai đứa lại dắt nhau ra chợ Cái Quan mua sắm các thứ hàng chiến lược như vải dù để khoác lên người ngụy trang, dây dù để giăng vơng và vải ni lông để may vơng. Ngoài ra c̣n những thứ tỉ mỉ khác như kim chỉ, dây quai dép cao su, bút Bic, pin đèn, đường cát… toàn những thứ Mậu Dịch Hà Nội đều không có bán.

    Máy đuôi tôm chạy ầm ́ dợn sóng cả bến chợ. Thấy xuồng đậu gắn toàn máy đuôi tôm tôi hết hồn. Loại máy này tôi chỉ thấy có một cái ở Miền Bắc của Công Binh Sư Đoàn 330 Đồng Văn Chuột dùng để tập dượt cho công binh vượt sông. Máy của LX giật hoài không chạy, phải kêu chuyên viên ngoài Bộ Tổng vào sửa chữa.

    Ở đây đuôi tôm con nít cũng chạy được và không thấy hư bao giờ. Dân dùng nó để chà gạo, chạy ḷ đường. Nông thôn bom đạn bời bời mà người dân c̣n văn minh cỡ đó, nói chi thành thị? Quay nh́n lại cái cày ch́a vôi và cái xe đạp nước của Miền Bắc mà hỡi ôi. Hai mươi năm sau Giải Phóng tới ăn sạch cả ḷ đường và đuôi tôm, Bắc Việt vô cạp luôn đất. Dân nghèo đi ... không ngóc đầu lên nổi.

    Tôi và Tám Không mua một xâu thịt và ḷng định đem về cḥi liên hoan tay đôi nhưng chưa kịp trả tiền th́ nghe một bàn tay vỗ nhẹ vai. Tôi quay lại, bụng nghĩ chắc ông mănh Bảy Quế đến gặp tụi tôi để cho vài lời khuyên trong cuộc sống dưới cánh quạt trực thăng chăng. Nhưng không phải. Một ông lăo tóc bạc râu dài, chậm răi hỏi.

    – Tôi nè cậu Hai, cậu c̣n nhớ tôi không?

    Tôi ngạc nhiên hỏi.

    – Bác là ai? Cháu chưa từng quen?

    – Cậu không nhớ tôi đâu. Tôi nghe cậu về trong này rồi. Hổm rày tôi đi chợ thấy cán bộ qua lại có để ư t́m. Tôi là Sáu Bi nè . Tôi là người ở… Thôi về nhà rồi sẽ nói chuyện.

    Thấy tôi cứ đứng ngơ ngác, lăo tiếp:

    – Cậu ở nhà ai hiện giờ .

    – Trong cái nhà hoang ở mé vườn kia.

    – Không được đâu. Nó chụp chết. Thôi mời hai cậu về nhà.

    Nói xong lăo móc túi trả tiền rồi xách xâu thịt và lôi tay tôi ới xuống bến.

    Tôi chưa hiểu ất giáp ǵ nhưng vẫn bước theo. Tám Không cũng không phản đối. Đang ở khơi khơi không có gốc rễ ǵ hết, được nhân dân mời về nhà th́ c̣n ǵ bằng. Ông già mời tôi xuống đuôi tôm ngồi. Xuồng máy chạy khỏe re. Từ ngày lội Trường Sơn tới nay, đây là lần thứ nhất tôi đi mà khỏi dùng cặp chân hay cơ giới hóa cặp chân.

    Vừa lái đuôi tôm, ông Sáu kể cho tôi nghe tiểu sử thuở thiếu thời của ông:

    – Ông Cả có hai cặp trâu. Cậu đi học băi trường về lần nào cũng đ̣i cỡi, nhớ chưa. Tôi không cho v́ sợ cậu té, tôi bị rầy, nhớ chưa?

    – À, tôi nhớ ra rồi. Bây giờ chú lên ở vùng này à?

    – Tôi theo bên vợ về cất nhà ở gần cầu Sập.

    – Cầu sập là cầu nào?

    – Đúng ra nó là cây cầu đúc lớn ở nửa đường Mỏ Cày – Cầu Mống. Nhưng hồi kháng chiến, dân quân phá sập nên gọi là cầu Sập. Cây cầu đúc lớn gần ngă tư An B́nh đường vô nhà ông Chủ Xạ đó.

    Tôi mơ màng nhớ lại những chuyện cách đây vài chục năm. Ông Chủ Xạ có hai thằng con trai học chung với tôi ở trường Mỏ Cày. Một thằng đi bộ đội chết ở miền Tây c̣n một thằng không biết làm ǵ? Chị nó lấy chồng là ông tổ trưởng chánh trị Trung Đoàn 99 của Đồng Văn Cống người Việt “gốc rau” tên là Hoàng Mai. Ông tổ trưởng này sau khi tơm bà vợ địa chủ th́ nhảy rào về thành luôn.. Hồi bọn Văn Pḥng Trung Đoàn 99 đóng ở nhà ông nội tôi ở Hương Mỹ, Hoàng Mai xem tôi đá cá lia thia, hắn śa môi bảo tôi bằng tiếng Pháp: “Tôi thích Cách Mạng chớ không thích đánh nhau!” Cách Mạng Tháng Tám không đánh nhau?

    Thịt heo mua về hăy dẹp qua một bên. Chú bảo thím bắt gà, bắt vịt làm thịt một lúc hai con. Rượu đế một lít. Chuối, mít trái cây đầy bàn. Ăn uống xong, Tám Không ngủ kḥ. Coi pháo của quận Mỏ Cày và Cầu Mống như đồ bỏ. Nó bắn th́ cứ bắn, ông ngủ cứ ngủ, sợ chi. Pháo bầy Long An c̣n giết ông không được kia mà.

    Chú Sáu dắt tôi ra ngồi ngoài vườn kể chuyện làng tôi cho tôi nghe . Chú nói rất nhỏ , dường như sợ cả cây cối nghe:

    – Cô của cậu bị “mấy ổng” thủ tiêu, ai cũng biết nhưng gia đ́nh ông Ba bà Ba không dám nói. Chẳng có ǵ cả. Tổ trưởng đảng nó ve cổ. Cổ chửi nó là thằng chăn trâu.

    Mà thật thằng tổ trướng là chăn trâu, nhưng không được chăn trâu của ông nội tôi. Nó đă từng qua vườn nhà tôi ăn trộm dừa bị bắt nhiều lần nhưng ông tôi bỏ qua. Bây giờ nó thù. Chú Sáu tiếp:

    – Ngoài ra nó giết cổ để lấy cái radiô. Bà Ba buồn và sợ nên bỏ nhà vô chợ ở với cô Chín. Ngôi nhà đó tụi nó lấy hết đồ đạc.

    – Chú có về dưới đó không?

    – Vợ tôi có về nhưng không dám tới nhà ông Ba. V́ đường đi nước bước bây giờ du kích gài lựu đạn tùm lum không biết đâu mà rờ. Nhiều người bị nổ tét ruột cậu ơi. Du kích là trời con bây giờ nề.

    Tôi nghe chuyện nhà cửa mà rầu ḷng, nhưng làm sao bây giờ. Một bên là nhà, một bên là Cách Mạng. Chẳng lẽ binh nhà bỏ Cách Mạng? Cũng không thể binh Cách Mạng bỏ phế nhà cửa . Tôi đành ừ hử cho qua. Cứ coi như chuyện của ai không phải của ḿnh là ổn nhất.

    – Ruộng nương thế nào chú Sáu?

    – Làm tạm tạm thôi. Bom pháo liên miên không dám đứng thẳng buổi. Khuya thức dậy làm tới tan phèn là về nhà, lớ ngớ chờ có chụp đặng chui hầm thôi, thành thử ra không có bao nhiêu lúa.

    Chú Sáu cho biết thêm:

    – Ḿnh ở đây là giữa đường Cầu Mống Mỏ Cày, cách Mỏ Cày sáu cây số, cách Cầu Mống cũng sáu cây số. Lính Mỏ Cày thường bung ra tới cầu Mương Điều c̣n lính Cầu Mống lên tới đường vô Tân Huề . Ḿnh ở giữa không lo lính nhưng sợ bom, pháo và trực thăng.

    Tôi tưởng về trong này ít ra cũng có một vùng giải phóng “độc lập muôn năm “ và “thằng Tây có bố ta xuống đ́a ta vuốt râu chơi ” như thời kháng chiến, nào ngờ đất giải phóng của ông Thọ teo quá.

    Ăn nhậu ở nhà chú Sáu được một tuần lễ th́ hai thằng tôi thấy ngứa chân giang hồ, muốn thỏa chí “tang bồng” nên xin từ giă, vác dao găm và ba-lô ra đi.

    Chú Sáu tốt bụng vô cùng, bảo:

    – Để tôi chở hai cậu xuống dưới An Định giới thiệu cho hai cậu đứa em tôi. Chúng nó sẽ lo hầm hố cho hai cậu chớ lêu bêu không ổn đâu.

    Tám Không ái ngại:

    – Để tụi tôi liên hệ với xă ấy, chớ không dám phiền bà con !

    Chú Sáu xua tay:

    – Không được đâu cậu Tám..

    – Sao vậy?

    – Họ lo thân c̣n không xong. lấy đâu bảo bọc các cậu !

    Tôi mới vỡ lẽ ra rằng cán Mùa Thu về quê chẳng được trọng vọng tí nào. Nhất là đám cán bộ tỉnh. Họ ngó chúng tôi bằng nửa con mắt. Chúng sợ cán Mùa Thu về chiếm hết địa vị của chúng. Ngoài ra tụi Mùa Thu về xứ, lắm tên “cần kiệm liêm chính” lật ngược , nên bị xem thường. Chỉ có cây K54 là có uy tín thôi. Dân coi kỹ, hễ dưới vạt áo u u một cục hoặc đi đâu có cận vệ vác AK theo ṭ ṭ th́ xin cơm rất dễ dàng, c̣n ba-lô trơn th́ nói ǵ cũng không ai nghe.

    Chú Sáu mua cho chúng tôi hai cái thùng đựng đạn đại liên Mỹ và giải thích:

    – Sống ở đây th́ phải có cái món này hai cậu ạ. Nếu bị chụp th́ giấy tờ, K54 dồn cả vô đây đậy nắp lại “cái cụp” đạp lút xuống mương là vững bụng. Giấy tờ không ướt chút nào nhờ cái nắp có miếng “can” cao su.

    Đă rầu cái ba-lô con cóc đeo chai cả lưng bây giờ lại thêm cái thùng sắt Mỹ nữa, thiệt chán mớ đời. Nhưng nhập gia phải tùy tục, hai đứa tôi đành nhận hai chiếc thùng để làm bạn đường và bảo vật pḥng thân.

    Chú Sáu chở tôi xuống nhà người em là chú Nhứt cũng có vợ người Cầu Mống bỏ ở đó. Hai đứa tôi kể như an cư lạc nghiệp, bắt đầu lo chuyện sáng tác. Nhưng chưa viết được chữ nào th́ lại có chuyện nội bộ xảy ra.

    Số là vùng này là đất cấm của tỉnh ủy, tức là không cơ quan nào được léo hánh tới. Nó gồm có hai mảnh chạy cặp theo gân lộ đá cũ đă bị Việt Minh phá từ 1945. Một mảnh gồm vườn rậm và rạch Cái Quan, tỉnh ủy thường về trụ h́nh ở nhà Hai Sung bí thư xă ủy. Chúng giữ bí mật, nhưng mỗi khi đồng bào thấy con gái của Hai Sung đi lùng mua gà vịt th́ biết có chúng về ở nhà đồng chí bí thư. Vùng này thường ăn bom pháo nhưng vườn rậm dễ chui. Rủi bị chụp th́ nhảy qua bên kia rạch chạy ra B́nh Khánh. Nếu chưa ổn th́ vọt lên Phước Hiệp, Định Thủy. Đó là ba xă họp thành “tam giác sắt” của tỉnh ủy, nơi xuất phát cuộc Đồng Khởi lửa rơm thiêu rụi quê hương.

    Đối diện với mảnh vườn rậm là những cụm vườn tân lập và những xóm cḥi của dân sợ máy bay bỏ nhà ra cất cḥi ngoài đồng. Tuy tỉnh ủy không đóng ở mạn vườn thưa này nhưng cũng không cho cơ quan nào đóng. Thế mà có hai ông Mùa Thu cả gan dám đến ở th́ mất mặt bầu cua của tỉnh ủy quá đi.

    Tên cán bộ nghiên cứu của tỉnh ủy là Mười Nhái, trong kháng chiến chống Pháp cà nhỏng chống xâm lăng nhưng cũng bị ông Diệm cho ngồi tù sáu tháng. Đó là thành tích cao nhất của hắn. Nhờ đó hắn cũng được vô tỉnh ủy ngồi một ghế hẳn hoi. Nhưng hắn c̣n một thành tích cao hơn là tặng cho con bé đánh máy của văn pḥng tỉnh ủy một trái bầu.
    Nói nào ngay, trái bầu là kết tinh của cả ban thường vụ tỉnh ủy chớ không phải riêng của “chú Mười thân mến” như lời phản tỉnh của cô bé. Nhưng chú Mười đứng ra tự kiểm thảo để rửa mặt mũi cho các đồng chí lớn. Nhờ đó, thay v́ bị đẩy xuống huyện, chú chỉ bị tạm thời đưa ra khỏi tỉnh ủy làm nghiên cứu viên để chờ cơ hội nhảy trở vào ngôi ghế cũ. Chú Mười nghe hai tên Mùa Thu đến vùng cấm địa th́ nhắn với bà con lối xóm:

    – Đuổi hai thằng đó ra khỏi chỗ này!

    Câu nói lọt vô tai Tám Không trước. Tám Không nổi cáu, về thuật lại cho tôi và bảo:

    – Tao đă đáp lại thằng Nhái rằng đất Mỏ Cày này là của tao và của tất cả những người đi chiến đấu trước đây chớ không phải của riêng nó. Nếu có qui định của tỉnh ủy th́ nó phải tới đây nói chuyện đàng hoàng chớ không được xấc láo như vậy.

    Tôi vuốt giận anh Tám, nhưng chính là đổ dầu vào lửa.

    – Một câu nhịn chín câu lành chú nó ơi. Không nên đếm xỉa tụi cóc nhái mang guốc.

    – Nhái cóc sao biết nói giọng đó ? Tao lên đạn sẵn. Ra đường hễ nó làm phách, hễ nó chụp súng th́ tao bắn trước. Thử coi ai làm ǵ tao.

    Tám Không là dân cựu trào tiểu đoàn 307 đánh nhiều trận từ Khu 8 đến Khu 9 nên có máu lính trong người. Nếu tôi không cản th́ Tám Không đă t́m đến gặp xừ Nhái rồi.

    Tám Không đi đâu cũng la rùm lên:

    – Bảo Mười Nhái tới uống trà chơi.

    Có lẽ sự nộ khí xung thiên của ông Tám lọt đến tai chú Mười, nên chú Mười xếp re, và hai thằng cán Mùa Thu tôi cứ ở nhà chú Nhứt t́ t́. Do đó đám tỉnh ủy cũng ghét lây chúng tôi. Nhưng trong tỉnh ủy có hai tên vốn là bạn của tôi thời chống Pháp tên là Hai Tranh và Sáu Hứa.

    Hai Tranh là Phó Bí Thư sắp lên Bí Thư c̣n Sáu Hứa là Ủy Viên Thường Vụ kiêm Trưởng Ty Công An, mà tôi đă nhắc tới ở đầu truyện, kẻ đă viết thư xin lỗi tôi. Hai tên này gởi một cận thần sang gặp tụi tôi, chẳng ngờ đó lại là một thằng bạn cũ của tôi từng học lớp huấn luyện Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh do ông Mạch Văn Tư phụ trách ở Cồn Chim xă Thành Phong năm 1946: Sáu Giàu, chánh văn pḥng.

    Tám Không bảo hắn ngay:

    – Ê thằng đó là thằng nào mà phách lối vậy, Sáu Giàu? Ông về cho nó biết nó có ngon th́ qua đây đuổi tôi này chớ đừng có nhắn miệng. Bảo nó tụi này kháng chiến từ 1945 nghen. Hồi đó nó c̣n ở nhà phá làng phá xóm phải không? Lập trường không chắc thằng nào hơn thằng nào nhé !

    Sáu Giàu vuốt giận Tám Không và luôn dịp mời tụi tôi qua “căn cứ” của mấy ông kẹ để chúng tôi sưu tầm tài liệu Đồng Khởi, v́ ở trên R đă đánh điện xuống cho tỉnh ủy về sứ mạng của chúng tôi là sáng tác về Đồng Khởi để gởi ra Bắc làm chứng liệu tuyên truyền.

    Hai thằng tôi bèn quảy ba lô đi theo Sáu Giàu. Bà con trong xóm hổng biết hai ông nào trẻ trung mà được mấy ông kẹ tỉnh ủy trọng vọng vậy. Từ đó chúng tôi lên chân lên càng ít nhiều, nghĩa là nhà trong xóm có giỗ th́ mời chú Hai và chú Tám tới nhậu.

    Ở căn cứ của tỉnh, chúng tôi được đăi đằng theo thượng khách. Tôi lại gặp được ông Mười Rằn là dân tham gia Nam Kỳ Khởi Nghĩa ở Mỹ Tho từng làm chủ tịch quận Mỏ Cày năm 1947. Bây giờ ông đă lên tới Khu ủy. Trước kia ông cũng đă từng cùng bọn Trần Văn Trà ăn dầm nằm dề ở nhà tôi. Ông ta kêu riêng tôi ra ngoài vườn hỏi chuyện về Miền Bắc xă hội chủ nghĩa. Tôi vốn học được nghề nói mép của báo Nhân Dân nên ông hỏi đến đâu tôi nói ron rót tới đó.

    – Bác nghe nói đời sống nhân dân ngoài Bắc ph́ nhiêu sung túc lắm phải không cháu?

    – Dạ, cháu mong giải phóng mau mau để dân Miền Nam tiến cho kịp Miền Bắc. Dạ, máy cày của Liên Xô chở qua, bỏ ngoài bờ sông Hồng như bọ hung chờ phân phát cho hợp tác xă và các nông trường, nhưng ta chưa có đủ người lái nên c̣n để đó. Nhiều nông trường ham hố máy móc lănh về nhưng chưa có đất nên bỏ ngoài mưa như những “đống máy “.

    – Nói vậy ngoài đó sản xuất theo lối tập thể hết rồi hả cháu?

    – Dạ hiện giờ ngoài đó có lối chừng vài trăm nông trường. Mỗi nông trường có từ năm ngàn đến một vạn công nhân viên ăn uống, học hành, làm việc đều hoàn toàn theo lối dây chuyền tập thể, kỷ luật giờ giấc răng rắc. Cháu có vào làm việc ở một nông trường trong tỉnh Nghệ An một năm nên cháu biết rất rơ bác à !

    – Nếu vậy th́ Miền Bắc đă cơ giới hóa nông thôn theo chương tŕnh kinh tế mới của Lê-nin rồi, trâu ḅ và nhân công dư thừa để dùng vào chuyện ǵ?

    – Dạ trâu ḅ th́ dùng vào việc vận tải, c̣n nhân công th́ dùng vào việc khuân vác.

    – Ủa, sao lạ vậy. Cày th́ cày máy c̣n trâu ḅ th́ kéo xe nghĩa là sao?

    – Dạ v́ trước kia Pháp chế tạo quá nhiều xe ḅ, cày ch́a vôi và gàu gỗ đạp nước.

    – C̣n người Nam ḿnh tập kết có được bác Hồ thương mến như bác nói hồi c̣n kháng chiến không?

    – Dạ có ạ ! Bác Hồ c̣n thương ác hơn nữa. Mỗi người dân đều được vô dinh Bác ăn cơm với Bác một bữa. Riết rồi Bác mệt quá nên Bác gởi lời thăm hoặc tặng quà chớ không đủ sức khỏe tiếp đón nữa. Riêng thiếu nhi Miền Nam học giỏi th́ được bác cho rờ râu.

    – Ông Mười Huệ chủ tịch tỉnh ḿnh ra ngoải làm ǵ?

    – Dạ ông Mười được vô Phủ Chủ Tịch ăn cơm và ngủ chung với Bác Hồ một nhà, tâm sự mấy đêm liền. Sau đó Bác Hồ phong cho ông Mười chức ǵ lớn lắm xem xem chức Bộ Trưởng một chút thôi. Nhưng ông Mười già yếu nên không làm nổi, do đó ông chỉ làm thư kư Hội Việt Pháp thôi.

    – Ông Mười c̣n khỏe lắm, đâu có yếu đuối ǵ!

    – Dạ ông Mười gặp cháu hoài. ông Mười phấn khởi lắm. Ông Mười có xin bác Hồ được một cái quai dép, cất để dành về tặng bà con Bến Tre ḿnh coi chơi cho biết.

    Ông Mười Rằn không hỏi nữa. Ông móc thuốc hút và hỏi sang vấn đề khác.

    – Cháu ra ngoài lập gia đ́nh chưa?

    – Dạ cháu chờ về Nam đó bác !

    – Ờ cũng được. Kháng chiến hai mùa mà như cháu là c̣n trẻ lắm. Để hôm nào bác bảo con Sáu Ḥa nó t́m cho một đứa trong đạo “quân đầu tóc” của nó.

    Tôi giựt ḿnh, sợ thầm trong bụng nhưng không dám căi lại. Có tóc c̣n không ăn thua, bị cắt tóc th́ coi ra cái ǵ? Nhưng được đồng chí Khu ủy Viên chiếu cố là quới lắm rồi. Th́nh ĺnh ông ṿ đầu tôi bảo:

    – Tía mày chớ máy cày Liên Xô đem qua chất đống ở bờ sông Hồng.

    – Dạ bác Mười bảo sao ạ?

    – Hay lắm. Tội nghiệp ông Mười Huệ. Già rồi ra chi ngoài đó để chịu mưa phùn gió bấc?

    – Dạ bác nói sao ạ?

    – Thôi đi vô nhà tao bảo thằng Mười Kỹ nó kể chuyện Đồng Khởi cho nghe mà viết sách. Nó sẽ kể theo cái kiểu của mày kể cho tao về máy cày và nông trường vậy.

    Tôi đă một lần bị cậu liên lạc ở sông Vàm Cỏ Đông lật tẩy về cái vụ Miền Bắc xă hội chủ nghĩa, và bây giờ một lần nữa. Thiệt ê mặt, nhưng tôi tự nhủ: Nếu nói thiệt ra tất cả th́ chẳng hóa ra ḿnh là thằng ngu hay sao.

    Ông Mười Rằn bảo:

    – Có viết th́ cũng trừ hao kha khá nghe mày .

    Kế đó tôi và Tám Không, một nhà văn và một nhà soạn kịch được Mười Kỹ dắt đến một cái nhà hoang để kể cho nghe chuyện Đồng Khởi.

    Chừng non nửa tiếng th́ có vẻ cạn nguồn. Tôi và ông bạn soạn giả cứ thỉnh thoảng liếc trộm nhau: như thế này th́ chất liệu đâu mà viết?

    Quả thật không có ǵ. Chỉ đủ viết vài bài bút kư lễnh loăng th́ hết. Mười Kỹ là một anh chầu ŕa đứng hạng bét trong tỉnh ủy được giao cho phụ trách địch vận. Chính hắn đă cấy ông thầy của tôi là giáo sư Nguyễn Nhơn Nghĩa của trường tư thục Trung Châu ở Bến Tre lên Sài G̣n để địch vận sĩ quan Sài G̣n. Không vận động được ai cả mà chính ông bị giết chết trong lúc đang giữ chức Phó Bí Thư Tỉnh Ủy.

    Ông là một giáo sư rất giỏi. Đi kháng chiến , không biết vô đảng hồi nào. Có thể ông làm chủ tịch tỉnh hoặc chủ tịch nước cũng được nhưng địch vận quả là “trật phé” của ông. Mười Kỹ là một thằng con nít biết quái ǵ mà lại điều động một ông Phó Bí Thư làm công tác của hắn? Vậy mà sau này hắn được xách đầu máu vô Trung ương Đảng hai khóa liền (Sáu và Bảy) kiêm luôn cả Chủ Tịch ủy Ban Nhân Dân Tỉnh.


    Mai tiếp ....

  6. #4666
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Sau khi từ giă ông Mười Rằn th́ tôi được Sáu Hứa, Thường Vụ Tỉnh ủy, bạn học cũ ở Mỏ Cày rủ đi ta bà thế giới chơi một ṿng để nghe y giới thiệu về cuộc Đồng Khởi mà hắn ta là một trong những người cầm cán. Quê hắn ở Phước Hiệp. Hắn là con trai thứ tám trong gia đ́nh một thầy nghề vơ tên là ông Bộ Dực. Hồi đi học chung hắn có dẫn tôi về nhà ăn dưa hấu và coi cá nước đua ở vàm sông Định Thủy. Nghe đồn rằng ông Bộ Dực là người đă đánh hạ ông Phó Hoài ở Giồng Luông v́ ông này ỷ giàu và có quyền lực hay hà hiếp dân nghèo.

    Sáu Hứa có tên là Tám Huưt (tiếng Pháp “huit” là số tám) em của Sáu Xôi cán bộ Thanh Niên tỉnh thời chín năm, học Trại Huấn Luyện của ông Mạch Văn Tư trước tôi hai khóa. Huưt, Thiện và tôi là ba đứa học giỏi nhất lớp nh́ hai năm A của thầy Vơ Thành Kư. Trên đường ra B́nh Khánh, Hứa luôn luôn giảng giải cho tôi về cuộc Đồng Khởi thần thánh của tỉnh nhà và tỏ ḷng hân hoan v́ được Trung ương chiếu cố cho một nhà văn gốc tỉnh nhà để nghiên cứu về Đồng Khởi. Sáu Hứa than phiền:

    – Trước đây cũng có một nhà văn trung ương về tận đây viết một quyển sách mang về R, không có thông qua tỉnh ủy, rồi đài Giải Phóng lẫn đài Hà Nội phát thanh làm cho chúng tôi nghe mà “bất măn cùng ḿnh”.

    Sáu Hứa hỏi tôi có biết nhà văn đó không? Tôi biết tỏng đi nhưng bảo là không! Do đó Sáu Hứa mới mạnh dạn nói tiếp:

    – Công ghe bè bạn, từ ngoải vô đây mà viết một quyển sách đọc nghe không có “ghé “ chút nào ráo nạo!

    Tôi hỏi.

    – Tại sao vậy ông bạn?

    – Tại v́ y không đi sâu đi sát với quần chúng, cứ nghe khơi khơi rồi viết. Đúng ra th́ mất lập trường hoàn toàn v́ không có sự lănh đạo của đảng. Lần này ông phải làm một cái cho cước cạnh nghe. Đồng Khởi đâu có tệ như trong quyển sách của ông ta !

    – Tôi sẽ cố gắng!

    Sáu Hứa kể cho tôi nghe chuyện một cán bộ ở huyện Thành Phú : Sau khi chấm dứt thời hạn tập kết th́ đồng chí ấy ẩn tích không ai biết đồng chí ở đâu. Người trong xóm tưởng đồng chí ta đă đi tập kết hoặc đă chết. Lúc bấy giờ không ai dám liên lạc với ai. Chẳng ngờ khi Đồng Khởi phất cờ th́ đồng chí mới ra mặt. Đồng chí cho biết đồng chí xuống rừng Thành Phong. Sau hai năm nghĩa là tới ngày tổng tuyển cử, ngày nào đồng chí cũng lội ra băi ngóng đợi Trung ương gởi người vào. Tiếc quá, đồng chí mới bị bù nốc bắn chết.

    Tôi nghe hấp dẫn vô cùng, định sẽ dựng người cán bộ này thành nhân vật tiểu thuyết. Rồi Sáu Hứa kể những chuyện nổi dậy trừ gian diệt tề ở xă, kèm theo những câu b́nh luận đầy đủ lập trường:

    – Cách Mạng nào cũng vậy, khởi đầu không thể tránh sai lầm. Nhất là ở dưới xă, các chi ủy cứ tự động làm. Trên tỉnh không chỉ đạo kịp. Mà Trung ương cũng đâu có chỉ thị ǵ cho tỉnh. Tụi tôi cứ hành động và tự đặt ra chủ trương. Quận xă cũng vậy, ai muốn làm ǵ th́ làm. Đến chừng biết sai th́ đă xong rồi không c̣n sửa chữa được. Rồi đành nhắm mắt cho qua luôn. Có những sai lầm chỉ phạm một lần là không làm sao sửa được.

    Tôi biết y muốn nói mé mé về việc giết cậu và cô ruột tôi. Tôi nghe lửa giận nổi dậy. Phải, Cách Mạng là một sự thay đổi, không có sự thay đổi nào không gây xáo trộn.
    Nhưng có Cách Mạng nào dă man như Cách Mạng Tháng Tám không? Cách Mạng Tháng Tám đă làm khắp dân gian sợ hăi khủng khiếp với danh từ “ṃ tôm” bây giờ “chi ủy, tổ trưởng” nhân sự khủng khiếp đó lên gấp ngàn, với một danh từ mới: “MỜI”.

    Ở Cổ C̣, nơi giáp ranh hai làng Minh Đức (quê ngoại) và Hương Mỹ (quê nội tôi) có tên Nhút Chậm, ngày trước ở mướn cho gia đ́nh ông cụ tôi rồi đến ông tôi. Gần nhà hắn có một nhà giàu tên là Hai Đối. Tôi biết rơ gia đ́nh này là một gia đ́nh làm giàu nhờ cần cù lao động và hà tiện chớ không gian lận của ai, cũng không cho vay lấy lời.
    Thời Cách Mạng Tháng Tám người chú của ông Hai Đối bị Cách Mạng bắn hụt v́ ông ấy là hội tề . Ông phải bỏ làng chạy lên Núi Nứa tu và không thấy trở về nữa. Đến thời Đồng Khởi, Nhút Chậm lại trổ tài. Từng là một tên chuyên đi làm mướn bây giờ trở thành quỉ vương.

    Để xoá số tiền mượn của gia đ́nh ông Hai Đối (mà hắn có họ hàng xa) hắn phao cho hai vợ chồng ông là gián điệp. Hắn bắt hai ông bà đem đi giữa khuya và giết chết không ai biết bằng cách nào, dập xác ở đâu. Chưa hết. Để nhẹm luôn việc làm của hắn, đêm sau hắn đến bắt hai đứa con gái giết luôn.

    Sau vụ giết người kinh khủng đó hắn trở thành hung thần, không ai dám nói một câu. Không ai dám gặp mặt hắn. C̣n hắn th́ lầm lầm lỳ lỳ, vợ con hắn cũng phải sợ.

    Cặp mắt hắn đỏ nọc như mắt chó dại, mồm sủi bọt như mồm trâu già. Vẫn chưa hết. Hắn định giết cả ông bà tôi là chủ cũ của hắn. Hắn đem lựu đạn gài trước cửa nhà ông tôi. Ông bà tôi vốn sợ tên đày tớ cũ, nhất là sau vụ bắt cóc gia đ́nh ông Hai Đối nên không dám ra khỏi nhà. Không rơ ma quỉ xúi giục thế nào mà hắn lại dẫm lên trái lựu đạn hắn gài bữa trước để giết ông bà tôi. Người trong xóm cho rằng đó là quả báo nhăn tiền.

    Những chuyện như thế tôi sưu tầm được khá nhiều, nhưng không biết sẽ dùng vào đâu mà cũng không dám ghi ra giấy, chỉ để bụng. Mặc dầu để bụng nhưng không bao giờ quên.

    Nghe Sáu Hứa nói về sự “xáo trộn” của Cách Mạng Đồng Khởi, tôi chỉ vuốt đuôi lươn, chớ làm ǵ hắn? Hắn hiện là trưởng ban An Ninh tỉnh th́ dù tôi là bạn cũ cũng có nghĩa ǵ. Tôi không muốn hắn tŕnh bày thêm “sai lầm” của Cách Mạng nên đánh trống lảng. Hắn đưa tôi đến căn cứ của hắn vào lúc nửa đêm. Tôi không thể biết chắc đây là đâu chỉ đoán lơ mơ là xă B́nh Khánh hay Phước Hiệp ǵ đó. Bốn bề là mía và ruộng ngập nước, nếu bị chụp th́ chỉ có nước chui chớ không thể chạy.

    Người chủ nhà, cốt cán của hắn, đóng đáy, đổ dục đem về một gánh tép. Chúng tôi ăn cơm chiều vào lúc một giờ khuya với tép luộc rau sống. Sau đó hắn bảo tôi lấy giấy ra ghi về Đồng Khởi.

    – Mười Hỉ nói với bạn những chuyện ǵ? Đâu kể sơ tôi nghe rồi tôi sẽ tiếp cho.

    Tôi đáp thật t́nh:

    – Năm ba chuyện vặt. Với những chi tiết như vậy không thể nào viết sách được. Riêng tôi th́ sưu tầm không được bao nhiêu trong dân. Có vẻ như không ai muốn kể hết!

    Sáu Hứa nói:

    – Đồng Khởi tỉnh ḿnh, chủ yếu là Mỏ Cày. Vậy bạn nên đưa Mỏ Cày vô sách. Hễ diễn tả được trận chiến Mỏ Cày th́ coi như đó là Bến Tre. Bạn nên tự hào về đất Mỏ Cày chớ!

    – Đúng!

    Hứa nhắc tôi lần nữa.

    – Lấy giấy ghi đi !

    – Tôi có tật không ghi ǵ hết. Những ǵ tôi c̣n nhớ là th́ đó là cái hay tôi dùng, cái ǵ tôi quên th́ đó là cái không dùng được.

    – Bạn ḿnh c̣n nhớ Mỏ Cày chớ?

    – Nhớ hết cả quận và hầu như xă nào tôi cũng có đi tới hoặc sống ở đó.

    Rồi tôi kể rành rọt.

    – Dưới cùng giáp ranh Thạnh Phú là làng Minh Đức và Hương Mỹ. Kế đó là Tân Huề. Tân Huề không phải là một làng nhưng lại có đ́nh. Nó thuộc về làng Minh Đức. Trên Minh Đức là Cẩm Sơn, Ngăi Đăng và Tân Trung. Trên Tân Trung là An Định, An Thới, Thành Thới.
    Ba xă này giáp ranh nhau. Ba xă B́nh Khánh, Phước Hiệp, Định Thủy nằm ŕa Cù Lao Minh ở ven sông Hàm Lưông, c̣n Thành Thới và An Thạnh cũng nằm ŕa Cù Lao Minh nhưng ở ven sông Cổ Chiên. Xă Đa Phước Hội là nơi có thị trấn Mỏ Cày. Vậy rành chưa?

    Hứa khen:

    – Ông bạn đi xa lâu quá mà vẫn c̣n nhớ đủ hết. Nhưng có nhớ thị trấn Mỏ Cày hay không?

    – Bạn hỏi chỗ nào tôi nói chỗ nấy cho bạn nghe.

    – Th́ ông bạn cứ kể đi. Nếu bạn không quên chỗ nào hết th́ tôi khỏi vẽ bản đồ.

    – Nếu tôi quên th́ bạn cứ bổ túc. V́ bạn cũng như tôi, chúng ta đă từng học ba năm ở trường Mỏ Cày. Có cây me nào mà ḿnh không trèo đâu!

    Sáu Hứa cười:

    – Để tôi kiểm tra bộ óc bạn chút nghe. Chợ Mỏ Cày có mấy dăy phố chính. Mỗi dăy có những tiệm nào?

    Tôi cũng cười:

    – Lấy ví dụ tôi đứng ở trước cửa nhà việc Đa Phước Hội ngó ra đầu nhà lồng chợ nghe ! Th́ bên phải là dăy phố chính. Bắt đầu là tiệm thuốc Tây của thầy Thọ, ông già thằng Trưởng học chung lớp với tôi.
    Kế đó là anh em Hồ Hợi thầy có nghề vơ có người em sứt vành tai trái nên gọi là Sáu Sứt. Bà Hồ Hội gói nem rất tuyệt. Buổi chiều bà thường ra ngồi trước cửa chặt b́ heo, để gói nem. Bà vừa nói chuyện, mắt ngó đâu đâu, tay chặt như máy. Căn kế là của một kỹ sư điện, trước cửa có gắn một tấm bảng đồng mang chữ Ingénieur électricien. Kế đó là tiệm thợ bạc Trần Minh Mẫn. Trước đó, tiệm này ở trên đường đến trường học trước cửa có cây trứng cá.

    – Ngày nào tôi cũng đi ngang qua đó . Nhưng tiệm vàng này có ǵ đặc biệt?

    – Đặc biệt là cô con gái học chung với tụi ḿnh.

    – Tên ǵ?

    – Tên Hai. Kế tiệm vàng Trần Minh Mẫn là tiệp tạp hóa của ông Hương Sư Mùi có người con học đến Tú Tài. Bên cạnh là tiệm hủ tiếu của chú Huờn.

    – Hủ tiếu chú Huờn có ǵ đặc biệt?

    – Ba lát gan heo, tôm khô và một con tôm chiên để trên mặt.

    – C̣n ǵ đặc biệt nữa?

    – Chú Huờn có một con trai và một con gái học chung với ḿnh. Tên ǵ tôi quên rồi. Nhưng con gái rất đẹp và có chồng rất sớm. Kế đó là pḥng mạch của Médecin Lê Văn Hai. Ông Hai có vợ rất đẹp và rất diện. Hai đứa con trai giống ông ta như đúc. Kế pḥng mạch là tiệm tạp hóa Đại Thành rồi đến bến nước chợ. Ghe, đ̣, đậu chật nứt.
    Bên bến nước là nhà cá. Trước nhà cá là tiệm tương Minh Thái ḿnh thường mua tương cay túm trong lá môn đi hái me ăn. Đó là dăy bên tay phải. Bên tay trái có tiệm nước ngó ra bến xe, kế đó là tiệm bán đồ sắt có bảng hiệu “Quincaillerie en gros et en détails” đúng không? (Đúng!) Tiệm này rất lớn, có xe hơi riêng. Ông Bảy Ngàn làm kế toán ở đó. Kế tiệm đồ sắt là tiệm thuốc Bắc. Không nhớ tên ǵ. Kế tiệm thuốc Bắc là bazar Mỹ Ngọc. Con Rỡ học lớp cô giáo Tửng ăn cơm tháng ở đó. Đúng chưa?

    – Đúng nhưng c̣n thiếu ! Bảng hiệu Mỹ Ngọc cẩn bằng kiếng chói lọi nên ở xa cũng trông thấy. Bà chủ rất đẹp lúc nào cũng mặc áo dài “mốt” như cô giáo.

    – Bà ta là con gái Hội Đồng Sĩ ở Minh Đức quê ngoại tôi.

    – Phục lăn ông rồi. Nhưng để tôi sát hạch một điểm nhỏ. Nếu ông nhớ th́ mới tài. Ở ngă tư đường lại trường học và đường nhà thương có ǵ vui đối với tụi ḿnh?

    – Từ nhà Cá đi thẳng th́ men theo bờ tường tiệm tương Minh Thái. Mút tường là nhà thầy Cường, tức là nhà con Cúc học Supérieur A với ḿnh. Em nó là thằng Tín học lớp Ba thầy Để. Cách một cái cống mương nước đen ng̣m là tiệm chụp h́nh Lệ Chơn. Rồi đến vườn chuối của thầy Kỳ . Bên kia đường là tiệm Cầm Đồ .
    Ở ngă Tư ông nói có pḥng mạch của Đốc Tờ Trần Văn Huợt. Ông Huợt người to lớn mập mạp như Đổng Trác. Ông ta tên Huợt nhưng thợ vẽ lại để là Hượt. Cho nên tụi ḿnh ngạo là Đốc Tơ Hượt. Ổng không biết tại sao. Cuối cùng không biết ai bảo ổng mới cho bôi dấu “ư”. Đúng không?

    Sẵn trớn tôi nói luôn:

    – Đứng trước cửa pḥng mạch ông Hượt ngó ra th́ bên kia đường là “Cantine Scolaire”. Sau căng tin là Bến Tàu đi Trà Vinh Bến Tre. Cửa sau nhà trường mở ra ngay bến tàu đó. Bên trong là nhà của hai ông già cu-li trường. Mỗi lần ḿnh đi sớm chui qua rào đều bị ổng rượt chạy có cờ… Đủ chưa ông bạn?

    – Thôi được rồi.

    – Bây giờ tôi sát hạch lại ông nhé! Trường Mỏ Cày có mấy lớp? Thầy nào dạy lớp nào? Ông Đốc tên ǵ, con cái ra sao?

    – Trường có hai dăy đều nền đúc lợp ngói rất đẹp. Nhưng dăy A nền cao hơn. Ông Đốc tên là Trần Văn Chỉ. Nhà ông ở đầu dăy A. Ông có đông con không biết mấy người nhưng toàn con gái. Chị lớn nhất tên Quế Hương. Chị kế tên Tâm, h́nh như học sau ḿnh một lớp. Chị nào cũng đẹp cả.
    Lớp Nhứt A: thầy Kư, lớp Nhứt B: thầy Ngọc; lớp Nh́ hai năm A: thầy Thiện; lớp Nh́ hai năm B: thầy Kư; lớp Nh́ một năm A: thầy Cang; lớp Nh́ một năm B: cô Tửng; lớp Nh́ một năm C: thầy Để. Lớp Ba A không nhớ, lớp ba B: thầy Dữ. Lớp Ba C: thầy Viễn; lớp Tư A: thầy Giúp; Lớp TƯ B: thầy Báu; lớp TƯ B: cô Giúp… Rành chưa?

    – Trước thầy Kỳ, ai dạy Supérieur A?

    – Thầy Hữu! Ổng vừa họp với tỉnh ủy tụi tôi.

    – Ổng tập kết ra Bắc làm Phó Chủ Tịch tỉnh Thanh Hóa về hồi nào?

    – Cũng mới đây thôi. Các thầy đi kháng chiến chống Pháp gồm có: thầy Ngọc, thầy Viễn, thầy Hữu, thầy Báu, và ông Đốc Thế trường tư thục Duy Minh.

    – Kể hoài không hết.

    – À quên, cùng học với tụi ḿnh, có thằng sau này trở thành phản động nhất. Ông biết ai không?

    – Ai?

    – Thằng Trưởng, con thầy Thọ . Nó làm tới Trung Tướng của tụi Sài G̣n. Lơ mơ coi chừng bị nó chụp.

    – Chụp tụi ḿnh mạnh nhất là Sư Đoàn 9 của Trần Bá Di.

    – Bạn học ḿnh đâu có đứa nào tên Di.

    – À quên, Di con thầy Trần Bá Vạn ở trên Mỹ Tho lận không phải người Mỏ Cày.

    Lâu ngày gặp lại bạn cũ trên quê nhà và nhắc lại kỷ niệm xưa, tôi hăng hái kể liên miên.

    Hai tiếng Mỏ Cày có nghĩa là ǵ? Không có nghĩa ǵ cả, mà nó cũng không nằm trong tự điển nào. Nhưng nó nằm trọn vẹn trong ḷng tôi với nét chữ và với âm thanh b́nh trắc như hai dấu nhạc tuyệt vời.

    Chữ Mỏ Cày in trên tấm bảng gác ngang hai đầu trụ gạch vĩ đại của nhà trường quận nền đúc, lợp ngói rỡ ràng. Nơi đây tôi đă làm đứa học tṛ hạnh phúc trong một ngàn ngày. Nơi đây tôi biết sự uy nghiêm của trường lớp, sự kính trọng của học tṛ đối với ông Đốc và thầy giáo cũng như giá trị của những bài học thuở ấu thơ về địa dư, sử kư, luân lư, luận văn, toán pháp…

    Những bài sơ đẳng đó khi học thuộc ḷng, tôi không hiểu hết, chỉ trả cho thầy để được điểm lớn, nhưng bây giờ nghĩ lại thật thấm thía vô cùng. Đó là văn hóa, đó là nền tảng của trí khôn, khoa học và văn học.

    Tôi mang mảnh đất quê hương có tên là Mỏ Cày đi khắp trời tưởng đă quên mất nó. Nào biết đâu nó vẫn cứ sống trong tôi như một cội cây xanh. Hôm nay ôn lại chuyện xưa tôi nhớ từng nét mặt từng tṛ chơi những nỗi vui buồn của một đứa học tṛ trường quận, quần tiều áo trắng, tóc hớt ngắn, sáng ôm cặp đến trường miệng vừa huưt sáo, vừa tập chú chim sắt chuyền trên tay.

    Tôi nhớ tiếng la rầy của thầy vang cả dăy trường. Tôi nhớ thầy Cang cho tôi điểm cao nhất khi tôi trả xuôi rót bài Jeanne d’Arc. Những trái chuối già và củ ḿ luộc tôi chưa t́m thấy ở đâu ngon bằng ở cổng trường Mỏ Cày do vợ của chú tài xế dinh quận bán.

    Tôi nhớ những buổi trưa la cà ở nhà lồng chợ nghe vọng cổ từ những chiếc máy hát Columbia có tay quay dây thiều, hoặc dán mũi vào những tủ kính bên trong bày những quyển sách Hồng của Thế Lữ, Thạch Lam, những tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan, của Tchya, Ngô Tất Tố … Không ǵ thú vị bằng đứng lại mải mê xem người họa sĩ vẽ chân dung Napoléon đến lúc nghe trống đổ liên hồi mới ù té chạy rớt tung cả sách vở bút mực.


    Mai tiếp ....

  7. #4667
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Th́nh ĺnh, Hứa hỏi tôi:

    – Hồi đó mày có để ư cô nào không?

    – Con nít biết ǵ mà để ư .

    – Vậy mà có hai đứa để ư mày. Nhớ lại thử coi !

    – À! phải rồi! Chỉ có một chớ đâu hai. Nghĩ cũng lạ. Hồi đó ḿnh mới lên lớp nhứt. Tôi được xếp ngồi ở bàn thứ hai, sau lưng cô nàng. Cô nàng là con gái thầy Kư nên không sợ ai hết. Cứ quay mặt xuống bàn dưới nói chuyện với ḿnh. Ngoài ra lại c̣n cho ḿnh xem đáp số những bài toán khó ḿnh phải ăn bí rợ. Không hiểu sao ḿnh ghét tất cả các loại toán, nhất là những con số.

    – Tôi nhớ bạn tuần nào cũng được thầy đem luận văn ra đọc làm bài mẫu cho cả lớp nghe.

    – Tôi có một bí mật mà măi tới bây giờ tôi mới nói ra và bạn là người thứ nhất được nghe. Số là một hôm thầy cho bài toán ác quá . Tôi cứ ngồi gặm cán bút hoài. Chờ cho cô bạn ném cái “rề-pông” cho ḿnh chép. Cô không ném mà lại ngồi lách qua một bên cho ḿnh xem vở. Thay v́ cái “rề-pông” th́ ḿnh lại thấy chữ AMOUR viết rất đậm.

    – Thế à? Rồi bạn làm sao?

    – Sau đó nàng mới cho cái đáp số.

    – Đáp số nào bằng cái chữ kia !

    Tôi kể miên man. Tôi như nghe lại mùi tóc gội xà bông thơm mỗi sáng của nàng.

    Hứa ngồi một hồi, rồi nằm. Tôi tưởng hắn ngủ nhưng không, hắn vẫn chú ư nghe. Đến đây hắn bật cười, vẻ mặt của tên sát nhân đă biến đi nhường chỗ cho những nét hồn nhiên ngây ngô của thằng bạn cũ.

    -Ông giỏi thiệt. Kể tôi nghe mê man và không thiếu chi tiết nào. Lại rất văn hoa. Nếu tôi kể cho ông nghe th́ ông ngủ mất tiêu rồi. Nhưng xin bổ túc vài chỗ. Cái sân tụi ḿnh vẫn thường đá banh th́ sau này Tây nó dùng chôn Tây. V́ trong kháng chiến Tây chết nhiều quá, không có chỗ chôn. Tiệm cầm đồ gần tiệp chụp h́nh Lệ Chơn th́ đổi lại làm nhà bưu điện.

    – Sao ông biết hết vậy?

    – Con trai tôi học trường ḿnh hồi trước mà !

    – Thầy Kỳ c̣n dạy đó không?

    – C̣n. Vẫn lớp nhất A. Thầy Để đă lên làm ông Đốc và dời nhà xuống sân banh, nơi trường làm lễ kỷ niệm Jeanne d’Arc, ở gần Cantine. Ổng có một chiếc xe hơi. Ông nhớ nhà ông Cả Biên không?

    – Có chớ. Nó ở gần tiệm vàng của Hai Thưởng giữa nhà của ông Hương Sư Mùi và ông Đốc Tờ Lương có vợ người Bắc. Ông Cả Biên bị ám sát hồi 1946 chớ ǵ!

    – Thằng Phụng con trai ổng học chung với tụi ḿnh và đi tập kết hồi 54.

    – Ủa sao kỳ vậy?

    Sáu Hứa nh́n tôi hàm ư bảo trường hợp bố tôi và tôi.

    – Cây đắng trái ngọt thiếu ǵ ! Thôi, trả bài địa dư và sử kư vậy được rồi, khỏi phải vẽ địa đồ. Bây giờ để tôi kể chuyện Đồng Khởi cho bạn nghe kẻo mai tôi bận rồi trôi mất. Bạn hăy nhắm mắt lại nghe. Tưởng tượng các nẻo đường đổ vô chợ Mỏ Cày y như hồi ḿnh c̣n đi học.

    – Giồng Trên, Giồng Giữa và Ngă Ba Thom.

    – Nhưng Ngă Ba Thom chia làm hai ngánh. Một ngánh từ Hương Mỹ, Minh Đức, An Thới, Thành Thới đổ lên và một ngánh từ Ngă Ba Thom đổ ra. Hai ngánh này họp lại tràn vào chợ, nhưng phải đi ngang qua bót Ba Dự là bót ngoại vi của Mỏ Cày. . .

    – Rồi làm sao qua?

    – Tôi quên nói, đây là một cuộc đấu tranh của “đạo quân đầu tóc” chớ không phải cuộc Đồng Khởi chính thức đâu. Bót đồn đều xếp súng hết. Lính ra trước cửa đứng ḍm. Nhiều tên lại hoan hô. Tên xếp bót c̣n bảo vợ con đi mua nước đá xá xị tiếp tế. Tụi lính này trước đây ác ôn lắm nhưng thấy Cách Mạng đang thắng thế nên muốn cầu an.

    – Ước lượng chừng bao nhiêu người?

    – Cánh Ngă Ba Thom có đến năm, sáu ngàn người.

    – C̣n Giồng Giữa?

    – Giồng Giữa, Giồng Trên gộp lại chừng ba ngàn. C̣n từ trên cầu nhà thương đổ xuống nữa. Đó thuộc quận Cái Môn nhưng thấy Mỏ Cày làm hung đồng bào cũng hưởng ứng ước chừng mười ngàn người. Ối trời ! Chật đường chật ngơ. Cờ xí rợp trời.

    – Cờ đỏ sao vàng hay cờ mặt trận?

    Sáu Hứa khựng lại một chút rồi tiếp:

    – Tôi nói lộn. Chỉ là biểu ngữ thôi.

    – Biểu ngữ nêu khẩu hiệu ǵ trên đó?

    – Chị em yêu cầu tên quận trưởng không được bắn cà-nông vào làng.

    – Rồi sao nữa?

    – Để tôi nói về chiến thuật tiến quân của đạo quân đầu tóc nghe. Trên các con đường đi lại trường học xuống thẳng bến tàu, đường nhà thương và các đường phố đều đông nghẹt người, nhưng tất cả đều rất trật tự ngồi chờ lệnh chung rồi kéo tới dinh quận đưa yêu sách.

    – Có vô tới đó không?

    – Có chớ.

    – Sao hôm trước chị Sáu Ḥa không có nói cho tôi nghe ǵ hết?

    – À ạ chắc chị đi lănh đạo trên thị xă nên không có mặt trong kỳ đấu tranh đó.

    – Rồi sao nữa?

    – Độ mười giờ th́ dinh quận bị bao vây tứ phía. Lính quận không dám bắn. Tên quận trưởng phải hứa không bắn cà-nông vô làng nữa.

    – Hắn ra mặt nói chuyện với bà con à?

    – Hắn đâu dám ló ra. Hắn sai lính bắt loa phóng thanh. Nên chị em không chịu về và làm hung hơn nữa, định phá cửa dinh bắt hắn, nhưng ban lănh đạo không cho, bảo chị em nên b́nh tĩnh đấu tranh trong ḥa b́nh. Chẳng ngờ chúng nó kêu tiếp viện. Trên tỉnh xuống một đoàn xe nhà binh chở đầy ác ôn. Chúng vừa đến là ào ào tấn công. Nhưng chị em ta không nao núng, cứ hô khẩu hiệu đả đảo. Chúng bèn đem kéo rồi mỗi đứa cầm một cây kéo cắt tóc chị em. Chị em chống trả kịch liệt. Có nhiều người vùng chạy khỏi, nhiều người bị chúng xởn trụi lủi.

    – Rồi sao?

    – Cuối cùng chúng phải hứa là không bắn cà-nông vô làng nữa.

    – Chỉ hứa thôi à ?

    – Th́ bước đầu mà nó hứa cũng đă là thắng lợi rồi.

    – C̣n mấy trận chị em bịt họng cà-nông xảy ra ở đâu?

    – Cũng ở đây. Tại quận Mỏ Cày. Nhưng bữa nay khuya quá, ngủ lấy sức để mai nó chụp ḿnh nhảy mới nổi.

    Tôi đoán là Sáu Hứa đă dùng phương pháp sáng tạo như tôi đă dùng đối với ông Mười Rằn. Tuy vậy tôi cũng có những nét cụ thể để bịa tạc. Nếu không có y th́ tôi không biết căn cứ vào đâu mà phóng đại tô màu. Trong lănh vực sáng tác, đâu có ai đ̣i hỏi nhà văn phải viết sự thực. Báo Nhân Dân và Đài Phát Thanh có nói sự thực bao giờ.
    Trung Ương có nói sự thực bao giờ. Bởi thế cho nên khi c̣n ở ngoài Bắc th́ ai cũng phấn khởi, tưởng như Cách Mạng sắp “bưng mâm cỗ” tới nơi rồi. Khi về quê th́ thấy rằng đảng giỏi…. bịp thật.

    Sáng hôm sau, Sáu Hứa tiếp tục câu chuyện. Tôi hỏi về chị Ba Định. Hứa nói:

    – Không có chị Ba th́ không có Đồng Khởi..

    – Đồng Khởi ở khắp Miền Nam chớ riêng ǵ ở Bến Tre sao?

    – Nhưng nếu không có Bến Tre th́ không có Đồng Khởi Miền Nam. Do đó Trung Ương mới tặng danh hiệu Bến Tre lá cờ đầu của Miền Nam.

    – Đạo quân đầu tóc là sáng kiến của ai vậy bạn? Có phải của chị Ba không ?

    – Không biết của ai nhưng theo tôi th́ chị Ba là một cán bộ rất xuất sắc.

    – Cố nhiên rồi. Tôi biết chị Ba hồi kháng chiến. Chỉ là Đoàn Trưởng Phụ Nữ Cứu Quốc đâu có ǵ xuất sắc.

    – Thời thế tạo anh hùng mà bạn. Ai có nghĩ rằng ḿnh phải đánh Mỹ dữ dằn như vậy đâu nhưng chừng đánh th́ cứ đánh.

    Sáu Hứa trở lại vụ “chị em bịt họng cà-nông”, nhưng tôi sực nhớ vụ nữ anh hùng Tạ Thị Kiều lấy ba cái lô-cốt bằng chiến thuật khỉ, nên tôi chận ngang.

    – Tỉnh ḿnh đă tạo nên một Tạ Thị Kiều vừa thông minh vừa anh dũng.

    – Tạ Thị Kiều nào?

    – Ủa, người của tỉnh ḿnh mà bạn không biết thật sao?

    – Tôi có biết Kiều nào đâu?

    – Kiều ở An Thạnh lấy lô-cốt bằng sáng kiến dùng một con khỉ. Ở ngoài Hà Nội hoan hô dữ lắm. Tôi có gặp và phỏng vấn nữa.

    Sáu Hứa tỏ vẻ ngơ ngác cực độ. Tôi biết y bịa mọi chuyện khá sinh động. Thảo nào nhà văn trung ương bị y chê là viết khơi khơi, nên tôi không dồn y vào vấn đề khỉ lấy bót nữa. Quả láo thiên láo địa, láo Bà Rịa láo vô, láo Long Hồ láo xuống. Láo gặp láo!

    Tám Không bảo:

    – Tao phải đổi tên.

    – Sao vậy?

    – Tên “Không” đi khai thác tài liệu cũng như không.

    – Vậy đổi lại là ǵ?

    – Tám Hữu. “Hữu” là có ! Từ rày mày gọi tao là “Tám Hữu” nghe !

    – Mày nhớ mấy cái kịch ôn binh của thằng Nguyễn Vũ và kịch “Giáo Sư Hoàng” của Bửu Tiến diễn ở nhà hát lớn Hà Nội không? Tụi nó chỉ bịa chớ có đéo ǵ. Ở ngoài đó c̣n bịa được huống ǵ ḿnh đă vô tới đây. Úm ba la, ba ta cùng bịa !

    Sau đó chúng tôi gặp thêm vài nhân vật có hụ hợ Đồng Khởi trong đó Ba Đào tỉnh đội trưởng có chân trong tỉnh ủy trước kia là cán bộ thông tin quận Thạnh Phú dưới quyền của Ba Thơ. Ba Đào và Hai Trung, sau này hục hặc tranh giành ghế bí thư tỉnh ủy, “Chị Ba Đ” thay mặt giải quyết không ổn nên đưa Mười Kỷ vô Trung Ương, làm cả hai ngóng mỏ.

    Ở văn pḥng tỉnh đội của Ba Đào tôi gặp Bùi Thanh Khiết gốc thầy giáo xóm, đă từng sang Liên Xô học chính trị xă hội học cùng với Rúm Bảo Việt học đạo đức học.

    Khiết có vợ có con nhưng không mang vợ con đi tập kết. Ra Bắc léng phéng với vợ người ta nên bị kỷ luật tống về Nam cho làm Huấn Học trong Bộ Chỉ Huy Giải Phóng của Trần Độ. Khiết có tài mọp và bợ, ngoài ra không có ǵ khác. Khi hắn làm Trưởng Pḥng Chính Trị miền Tây th́ tôi và Sơn Nam Phạm Anh Tài ở dưới quyền của hắn. Mỗi khi hắn đi lănh chỉ thị lệnh về, hắn đọc nguyên không dám nói ngoài lề một tiếng.

    Ở R với cấp bậc Trung Tá , y sợ đám tướng đầu ḅ Miền Bắc như sợ cọp. Bây giờ bị tống xuống đây nghe nói lănh được chức Phó Chánh ủy Quân Khu 8 cũ do Lê Quốc Sản làm Tư Lệnh. Đến lúc Sản bị trực thăng bắn chết ở Đồng Tháp Mười, Khiết sợ quá chạy tọt xuống Bến Tre núp bóng dừa xanh để sống sót. Lúc đó, như tôi kể ở trên kia, Mỹ Tho không c̣n đất sống cho Quân Giải Phóng.

    Ba Đào chỉ cho tôi được có một chi tiết: Hồi 1960 anh ta và chị Ba Định bị đuổi chạy không có nhà ở phải ra tận rừng Bến Giồng Cui thuộc xă Tân Trung bên mé sông Cái Hàm Luông ẩn trốn.
    Đêm ngủ “bên nhau”, gối đầu lên trái dừa chuột khoét trong đó có con rít. Nó kẹp chị Ba sưng lỗ tai. Chỉ có thế. Hắn bảo tôi đi gặp bà Định để hỏi thêm. Hắn đăi tôi một bữa cơm. Bùi Thanh Khiết nói chuyện qua loa rồi tôi rút lui.

    Vài hôm sau tôi gặp chị Sáu Nết, cũng là tỉnh ủy viên, phụ trách Hội Phụ Nữ Giải Phóng Tỉnh. Tôi tưởng sẽ được nhiều tài liệu về “đội quân đầu tóc” của chị, nhưng rốt cuộc chị lại đổ cho người khác “biết vụ đó nhiều hơn tôi”. Thầy đổ bóng, bóng lại đổ thầy.

    Tôi phải lội lên An Thành một xă gần sát thị trấn Mơ Cày. Cơ quan của Phụ Nữ Giải Phóng đóng trong nhà một ông Nông Dân. Các xă vùng quanh đều nghe tiếng ông Nông Dân này.
    V́ nhà ông ai muốn tới th́ tới, muốn đi th́ đi , ra vào không cần cho chủ nhà biết. Ông phục vụ Cách Mạng hết ḿnh. Có đứa con gái cưng không cho đi cán bộ, cứ giữ riệt ở nhà v́ sợ cô bé mang cái “bị” về. Sợ vậy nhưng cũng không khỏi. Ở nhà mà vẫn mang “bị” như thường. Đứa nhỏ đẹp lắm nhưng ông Nông Dân không biết cha nó là ai.

    Các bà Giải Phóng có vẻ lơ là không muốn nhắc chuyện “đấu tranh chánh trị” nhất là chuyện mấy bà bị lính cắt tóc (?). Măi tôi mới t́m được một nhân chứng. Bà này bảo là sư thực th́ không có ai bị cắt tóc v́ không có cuộc “đấu tranh chánh trị” nào hết. Tôi mới vỡ lẽ ra. Cũng như bao nhiêu chuyện khác, đều do đài Hà Nội la ồm ồm mà ra cả.

    Nào chuyện Hội Văn Nghệ Giải Phóng họp đại hội văn nghệ toàn miền phát phần thưởng Cửu Long, nào chuyện ba phần tư, bốn phần năm đất đai và dân số giải phóng. Bây giờ tới chuyện súng Ngựa Trời và đạo Quân Đầu Tóc ! Đài Hà Nội tài thật.



    Mai tiếp ....

  8. #4668
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Tôi bèn nhờ liên lạc dắt tôi đến nhà Nữ Anh Hùng Tạ Thị Kiều, để t́m hiểu chiến thuật cướp hai, ba cái lô cốt chỉ bằng một con khỉ. Tôi đă gặp vị nữ anh hùng này ở Hà Nội và đă viết truyện Lửa Quê Hương. Nay về tận gốc th́ chắc sưu tầm tài liệu càng phong phú lắm nên tôi đến tận nhà của cô. Gặp ông già bệnh tê liệt nằm giữa cḥi. Vài bác nông dân trong xóm thấy người lạ đến th́ xúm tới .

    Nhơn dịp tôi hỏi thăm về việc “dùng khi lấy bót của cô Kiều”. Bà con đều ngơ ngác không hiểu đó là chuyện ǵ. Nhưng tôi hiểu ngay đó là chuyện ǵ. Nên không hỏi nữa. V́ tôi biết rằng tất cả mọi anh hùng quân đội đều xuất thân từ một ḷ : Pḥng Thi Đua Tổng Cục Chính Trị Bộ Tổng Tư Lệnh Hà Nội. Cái pḥng này chuyên môn “bồi” công cho các anh hùng theo phương pháp rất duy vật là “ít xít ra nhiều”, biến “không thành có”.
    Nữ anh hùng Tạ Thị Kiều được một Thiếu Tá tên Ḥa gốc Nam Kỳ “bồi” ngày đêm trước khi cô nàng ra mắt Bác. Bác Hồ lại “bồi” tiếp cho vài nhát nữa, cho nên cô trở thành anh hùng của Đồng Khởi Bến Tre, ngọn cờ đầu của Miền Nam! Một “nữ anh hùng” có lẽ chỉ thua hai Bà Trưng tí tẹo.


    Một nét duy nhất tôi t́m được nơi quê hương của người “nữ anh hùng” này là con khỉ già ngồi chong ngóc bên góc hè, không ai ngó ngàng tới. Tội nghiệp con vật không biết ḿnh bị cưỡng bức đi vào lịch sử Đồng Khởi cùng với nữ chủ nhân hồi nào. C̣n bót đồn? Vùng này từ xưa tới nay lính Sài g̣n coi như là đất chó ăn đá gà ăn muối và không quan trọng về mặt quân sự nên không hề phí công phí sức cho một sự canh giữ nào.

    Sau một ṿng đi t́m “tài liệu”, tôi quay về gặp Tám Hữu (tức Tám Không vừa cải tên). Hữu cũng đi t́m. Hai đứa bổ sung cho nhau rồi mạnh ai nấy “sáng tác”.

    Tám Hữu ghét tên cá rô cây Nguyên Vũ lắm. Hắn viết ngôn ngữ Nam Kỳ pha chè: Tố Hữu nào biết đấy là đâu, nhưng vở nào hắn rặn ra cũng được diễn ở nhà hát lớn Hà Lội.. Phen này Tám Hữu quyết vượt qua Nguyên Vũ. Tám Hữu làm luôn một loạt kịch ngắn diễn liên tục cả đêm, “để trả thù “.. Từ trong Nam gởi ra Hà Nội các vở sẽ được Hội Văn Học Nghệ Thuật của lăo Đặng đón chào nhiệt liệt coi như công lao của đảng lănh đạo.
    Kế đó là tên Bảo Định Giang chộp lấy “nâng niu” cho đánh máy, rồi len vô ngơ sau đem tŕnh cho Tố Hữu. Nhất định Tố Hữu sẽ khen nức nở và cho diễn ở nhà hát nhớn. Hoài vọng của Tám Hữu rất to, nhưng đụng t́nh trạng khan tài liệu, hai đứa bàn với nhau là sẽ bịa trăm phần trăm.

    Tôi sẽ sáng chế một loạt truyện ngắn, bút kư và một truyện dài về Đồng Khởi, c̣n soạn giả Tám Hữu th́ dựng một vở kịch năm màn tên là “Quê Hương Vùng Lên”.
    Tám Hữu t́m một cái nhà ở gần chú Nhứt để khi cần th́ đến tôi hoặc để tôi đến hắn bàn bạc “úm ba la hai ta cùng phịa”. Truyện đầu tiên của tôi là “Vũ Khí Mới”. Trong đó tôi mô tả con ngựa trời khạc ra lửa, giặc Mỹ chạy ḅ càng đứa đạp chông ba lá, đứa lọt hầm chông. Một tên Mỹ được chở về nhà thương, đang nằm trên giương bỗng nhiên hắn kêu rú lên rồi chết.
    Tại sao? V́ nhiễm độc chông ba lá có tẩm thuốc chế bằng cứt heo, nước đái trâu và cả chục thứ đồ ô uế khác Tôi đưa cho Ban Tuyên Huấn đánh máy cẩn thận, bỏ một bổn vô thùng đại liên coi như chiến công thứ nhất của nhà văn xứ Đồng Khởi.

    Sau đó, nhà văn bèn thừa thắng xông lên, phịa luôn một “truyện vừa” lấy tên là “Tóc”. Đại khái là một cuộc đấu tranh chánh trị có tổ chức lănh đạo rất chặt chẽ . Những cốt cán nào sẽ ra đương đầu với lính, đội nào sẽ bao vây xe tăng, đội nào xung phong, đội nào tiếp ứng. Bộ chỉ huy đặt ở đâu. Nếu t́nh thế thuận lợi th́ sẽ đưa yêu sách ǵ, c̣n gặp bất trắc sẽ rút lui cách nào v.v…

    Đạo quân kéo vào dinh quận, tôi mô tả y chang dinh quận Mỏ Cày là nơi rất quen thuộc thuở tôi c̣n là học tṛ. Tôi “cho” lính ra ngăn cản. Đạo quân hiên ngang tiến vào. Dinh quận phải đóng cửa, đạo quân đầu tóc làm hung, xe tăng trên tỉnh tiếp viện. Lính bắt loa kêu gọi. Chị em ta không nghe cứ ào ào xung phong. Lính bắt một số chị em cắt hết tóc rồi thả ra.

    Các chị em ta không chịu thua. Lính làm tới xúc chị em bỏ lên xe cây chạy chục cây số tống xuống cho chị em “tập thể dục” cặp gị cho biết mặt. Số chị em khác th́ đưa ngực ra bịt họng ca-nông v.v… Cuối cùng lính thua phải nhận yêu sách: “Không được bắn cà-nông vào làng nữa.” Cuộc đấu tranh hoàn toàn thắng lợi. Chị em ra về phấn khởi một trăm phần trăm và họp bàn tổ chức cuộc đấu tranh sắp tới. Đó là tóm tắt truyện “Tóc” của Xuân Vũ năm 1965 (?).

    Ở ngoài Bắc có ông nghị sĩ Quốc Hội tỉnh Tân An là Huỳnh Văn Gấm. Ông ta là họa sĩ, nhân nghe Tố Hữu báo cáo về t́nh h́nh đấu tranh chính trị (ba mũi giáp công gồm có mũi chánh trị) th́ ông họa sĩ kiêm nghị sĩ hoặc nghị sĩ kiêm họa sĩ cũng thế, bèn sáng tác một bức tranh sơn dầu “Trái Tim Và Ḷng Súng” vẽ một người phụ nữ đứng giăng tay ra trước họng cà-nông. Lúc tôi xem bức tranh này trưng bày ở Phố Tràng Tiền Hà Nội, tôi cũng khoái quá chừng. Tôi khâm phục phụ nữ miền Nam anh dũng lẫn tài năng của họa sĩ.

    Nhưng bây giờ về trong Nam, tận gốc của cái làng anh dũng” kia th́ tôi mắc cỡ quá chừng. Ba cái vụ đó chỉ có trên đài Hà Nội và trên môi của thi sĩ họ Tố thôi. Mặc dù mắc cỡ, tôi vẫn cố sáng tác một cái tiểu thuyết lấy tên Đồng Khởi gồm ba mươi chương. Tôi vơ vét vốn liếng từ thời kháng Pháp và tài liệu của báo Nhân Dân nhồi lại với những ǵ tôi thu lượm được trong cuộc săn lùng tài liệu vừa qua.

    Đồng thời với quyển tiểu thuyết, tôi viết những bút kư hoặc truyện ngắn gởi cấp tốc ra Bắc. Tôi c̣n nhớ một cái truyện ngắn được ngoài đó khen dữ, sau này khi về R tôi được một cậu ở Viện Văn Học, cho biết như trên. Truyện đó có tên là “Chú Cua Đồng, Chị ốc Bưu và Cô Đỉa Mén”. Mô tả một anh lính Mỹ sa lầy ở miền Nam bị cua kẹp, đỉa đeo và ốc bám chân. Anh ta loay hoay bắt, gỡ, né tránh, cuối cùng bị du kích “bùm”.

    Cái thùng đạn đại liên của tôi đầy dần, rồi đầy ắp khi tôi trao cho Ban Công Tác Thành của Trần Bạch Đằng đem về R. Nếu in ra th́ gồm có ba, bốn chục truyện ngắn, ba truyện vừa, một tiểu thuyết, một tập thơ song thất lục bát và bút kư rời, có thể lên tới hai ngàn trang. Vậy mà tôi quyết định vứt bỏ và về Sài G̣n, viết lại trang sách đầu tiên của một đời cầm bút: “Đường Đi Không Đến”.

    Nhà chú Nhứt là nơi tôi đóng đô lâu nhất. Tôi cứ thả đi t́m tài liệu vùng quanh rồi về ngồi ở đó viết. Tên Nhái bén không dám “đuổi” hai ông “Rờ” nữa mà thụt luôn v́ lời hăm của Tám Không.

    Lúc ở Hà Nội tôi được đọc bản thảo thơ và truyện của Anh Đức, Trần Hiếu Minh, Nguyễn Thi, Giang Nam, Thanh Hải, Băng Tâm, Thủy Thủ, Lư Văn Sâm, Trang Thế Hy… Sự thực về kỹ thuật tôi chỉ thấy thích truyện “Thơm Râu Rồng” của Trang Thế Hy thôi c̣n mấy anh chàng khác th́ viết xổi c̣n về kỹ thuật th́ không mấy cao tay.

    Cái Ḥn Đất của Anh Đức cũng như cái Đất Nước Đứng Lên của Nguyễn Ngọc trước kia được coi như hai tác phẩm hàng đầu của văn học xă hội chủ nghĩa. Công b́nh mà nói th́ tác giả rất giỏi ở cái lập trường. Ḥn Đất rất phiến diện, c̣n Đất Nước Đứng Lên th́ như một thằng ngố biết đi biết nói. Cả hai đều không có sức hấp dẫn v́ không có nghệ thuật. Đến nay đâu có ai nhắc tới, tác phẩm lẫn tác giả, kể cả Tố Hữu.

    Nhưng thôi, đó là chuyện của xă hội chủ nghĩa không phải của tôi. Xin cho qua , ở đây lâu lâu bị chụp dù một phát. Lần đầu tiên tôi thật khiếp đảm. Khi c̣n ở trên lưng Trường Sơn tôi đă từng nghe cán bộ người Nam trên đường ra Bắc thăm Bác kể sơ sơ về các chiến thuật trực thăng vận mà rởn óc rùng ḿnh, nào “Phượng Hoàng vồ mồi”, nào “Bủa lưới phóng lao” v.v… Bây giờ tôi mới thấy thực tế..

    Một lần, sau khi chạy lấy thân về, ngồi ở bờ ruộng nghỉ xả hơi, nh́n ra ngă tư Cái Quao tôi thiệt hoảng kinh hồn vía. Mỹ chụp luôn cả ban đêm. Từ Mỏ Cày ca-nông bắn nát vùng đất này , chừng hai mươi phút rồi Dakota bay quanh thả pháo sáng, in như ban ngày. Kế đó là trực thăng đổ quân trong lúc ca-nông vẫn tiếp tục làm một ṿng vây lửa chung quanh vùng đất hành quân.

    Trong ṿng nửa tiếng đồng hồ chúng rút gọn. Trong thời gian chúng lục soát mọi người không thể thoát ngoại trừ có hầm bí mật, nhưng không ai dám làm hầm bí mật ở vùng ngă tư Cái Quao.
    Chúng đă tóm được một ông bự. Tỉnh Ủy và địa phương ém nhẹm nên không ai biết rơ ông bự đó là ai nhưng trong hàng cán bộ th́ xậm xịt với nhau, c̣n dân chúng th́ đồn rằng một bầy đại tá trung tá ở ngoài Bắc đi tàu ngầm vào cặp băi Cồn Chim ở Thạch Phú lội bộ về R.

    Vừa tới đây th́ bị chụp. Tin này có lư, v́ tại Hà Nội coi Bến Tre là bến đổ vũ khí và nhân sự. Chúng cứ đi liều, c̣n sống sót được bao nhiêu quư bao nhiêu, mất bao nhiêu tthây kệ. Ḍng họ ǵ mà xót thương.

    Sáng hôm sau dân chúng tản ra thành hết. Nhiều người ở lại lượm được vô số dù pháo sáng đem bán cho cán bộ may mùng. Dù pháo sáng chỉ toàn màu trắng chớ không rằn ri như dù của quân nhảy dù. Tôi cũng t́m mua được một chiếc , sau này về R trước khi ra Sài G̣n mới bỏ. Cán bộ nh́n thấy băi chiến mà kinh tâm tán đởm. Chẳng may mà lọt vào “màn lưới” th́ bị “phượng hoàng vồ” chớ không phương ǵ thoát. . .

    Đám tướng Hà Nội, sau trận Ấp Bắc tưởng là quân Mỹ dễ xơi như quân Pháp .. .. Me xừ Giáp có thể ngồi trong hầm với cố vấn Trần Canh vừa nhẩm xà vừa bàn mưu tấn công Điện Biên Phủ nên cứ nhắm mắt xúi quân giải phóng và dân chúng miền Nam thừa thắng xông lên đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào.

    Đám tập kết cũng hồ hỡi hăm hở hăng hái về giải phóng miền Nam. Ba tư lệnh Khu 7, Khu 8 và Khu 9 về tới nơi chưa đấm đá ǵ được th́ đă “rửa chân leo lên bàn thờ” . Đó là Nguyễn Văn Bảo (anh ruột Nguyễn Hộ), Lê Quốc Sản, Nguyễn Hoài Pho. Cả đám thay tên đổi họ mặc đồ bà ba đen, lưng giắt K54, nhưng cũng không khỏi bị Phượng Hoàng vồ.

    Vùng tôi đang “bám trụ” là giữa quận Mỏ Cày và là cái rốn của đám đầu tỉnh. Trong thời kháng chiến đây cũng là trung tâm văn hóa của tỉnh. Nếu so sánh hai vùng giải phóng thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ th́ chống Mỹ là một mảnh da lừa đang teo sắp sửa biến mất. Các cơ quan của tỉnh thời trước to lớn và phong phú gấp một ngàn lần bây giờ.
    Cơ quan di chuyển lớp đi bộ lớp đi ghe như một gánh hát cải lương. Ông “kép già ” Mười Huệ chủ tịch tỉnh, râu bạc đội nón mây của người Tiều làm rẫy, tay chống gậy đi đầu. Sau lưng ông nào là Đoàn Trưởng Thanh Niên, Nông Dân, Phụ Nữ, Thiếu Nhi Cứu Quốc, Văn Pḥng, Giao Liên, Tuyên Truyền, nhà báo (hồi đó tỉnh có riêng tờ báo lấy tên là Hy Sinh do ông Hồ Văn Thoại làm chủ nhiệm).

    Nam thanh nữ tú áo hồng áo tía kéo nhau đi thành đoàn. Vừa đi vừa ḥ hét, ai thấy cũng muốn đi theo. Nhưng vấn đề tôi quan trọng nhất là TRÍ THỨC. Hồi thời đó rất đông trí thức tham gia cách mạng. Ông Đốc Thỉnh, ông Đốc Huệ, ông Đốc Thế, thầy Ngọc, thầy Hữu, thầy Chín, thầy Viễn, thầy Báu.
    Rất đông cán bộ có bằng cấp Tú Tài, Thành Chung. Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài (không có Ḥa Hảo) đều có mặt. Cỡ lóc nhóc như tôi th́ ôi thôi thôi thiếu chi… Nên nhớ rằng hồi đó đảng c̣n núp ló sau lưng các đoàn thể, chưa dám ḷi mặt.

    C̣n bây giờ? Tỉnh ủy độc tài một ḿnh một chợ cho nên không có ai theo. Đặc biệt không có trí thức và tôn giáo. Tỉnh ủy toàn là một đám bần cố hỉ. Chúng chia nhau “lănh đạo” các đoàn thể. Nhưng đoàn thể th́ chỉ có cái đầu , c̣n ḿnh th́ không. Cả bọn trốn chui trốn nhủi. Đi tới đâu dân chúng chạy tránh như sợ bịnh dịch. Ngày trước cơ quan bộ đội đi đâu được dân chúng chào đón, nhường cho đóng trong nhà, gà vịt heo ḅ đăi đằng nồng nhiệt. Bây giờ cơ quan ở nhà hoang, bộ đội lủi ngoài rừng.

    Tôi nhập gia th́ phải tùy tục. Ăn ở phải giống y như địa phương. Sáng sớm thức dậy nấu cơm ăn bỏ bụng, ba lô, thùng sắt sẵn sàng gọn ghẽ. Hễ nghe có dấu hiệu “chụp” th́ đem cái thùng tác phẩm đạp lút xuống mương và mang ba-lô tẩu như phi.
    Về sau thấy chiếc ba lô nặng quá, chạy đua với trực thăng không xuể, nên tôi nhờ mua thùng sắt đạn 37 ly, to gấp đôi thùng đạn đại liên. Tôi dồn radio, quần áo vơng ni-lông vô đó luôn. Trước khi dông, đem đạp xuống bùn để nhẹ ḿnh.

    Một buổi sáng, tôi vừa thức dậy đă nghe tiếng con đầm già mang guốc từ Mỏ Cày rè rè bay xuống. Chú Nhứt nói:

    – Nó “cầm đèn” soi th́ nguy rồi cậu.

    Con đầm già mang guốc mà lại cầm đèn. Tức là trời chưa sáng hẳn. Máy bay do thám L19 c̣n chớp đèn đỏ.

    Nhanh như chớp, chú Nhứt nhảy xuống xuồng kêu:

    – Cậu Hai, cậu Tám, đi !

    – Đi đâu?

    Chú Nh́n trỏ con đầm già. Nó vừa đến Tân Trung, tức là giáp ranh Hương Mỹ th́ quay lại. Chú nói:

    – Nó chụp vùng này.

    – Sao chú biết?

    – Mau lên!

    Hai đứa tuột xuống xuồng. Chú bơi một hơi ra Giồng Vơ, kéo xuồng đút vô bụi vừa xong th́ nghe tiếng máy bành bạch trên trời. Chú bảo :

    – Tụi nó sắp đổ dù.

    Trước mặt tôi lớp đàn cán bộ đua nhau chạy băng đồng về phía Tân Trung. Chú Nhứt bảo:

    – Ṿng hẹp của nó là An Định An Thới, ṿng rộng có thể mở tới Tân Trung. Ḿnh phải chạy qua phía Ngăi Đăng th́ mới ra ngoài ṿng được.

    Chạy được một lúc, chú dừng lại bảo:

    – Hai cậu nhắm hướng đó mà dông nghe. Tui trở về.

    – Tại sao vậy chú?

    – Tôi trở về coi chừng nhà.

    – Nhà ǵ mà coi chừng. Bộ chú bỏ nhà đi lính đốt hả ?

    Chú Nhứt khoác tay:

    – Không! Tụi lính người ḿnh không có như Tây hồi trước. Tây chuyên môn đốt nhà nhưng bây giờ lính không chơi cái kiểu đó. Tôi nói là sợ mấy “thằng ông nội” ḱa.

    – Mấy thằng ông nội nào?

    – Tôi nói vậy cậu không hiểu sao? Tụi nó không chạy, lẩn lút ở lại. Nhà ai đi vắng, tụi nó vô quơ vài món tỉnh bơ. Kỳ rồi nó làm của tôi hết vài thùng đường mía cán rồi, không phải đường thốt nốt, chưa kịp bán, nó cất dùm. Tôi về thay áo trắng rồi chun vô hầm. Lính có tới tôi ḅ ra. Tụi nó đâu có làm ǵ. Chỉ sợ ba cái trực thăng thôi. Rủi ḿnh bị lạc đạn nó chở về thành, đút vô nhà thương.

    Tôi hơi lấy làm lạ. Ở ngoài Bắc muốn vô nhà thương của đảng phải tŕnh lư lịch chớ đâu dễ vậy. Tôi hỏi:

    – Có thiệt sao chú?

    – Có chớ sao không có . Nó không có bắn dân. Chỉ chơi mấy ông mănh thôi.

    Một bầy trực thăng tới vùng ngă tư Cái Quan. Chúng đánh một ṿng rồi hạ cánh từ từ, xuống thấp khỏi ngọn cây. Đây là lần đầu tiên tôi thấy nhiều máy bay như vậy. Máy bay dội bom, máy bay đầm già và trực thăng cùng một lúc trên trời đen như kiến cỏ.

    Chú Nhứt bảo:

    – Nhà tôi nằm ngoài ṿng. Để tôi về nghe !

    Nói xong chú khoác áo trắng vào và tự nhiên đi trên đường. Khi chú Nhứt về th́ hai thằng tôi thấy bơ vơ. Rủi dù chụp tới đây th́ biết đường đâu mà chạy. Thời may tôi nhớ ra. Đây là Cẩm Sơn, mà bà ngoại tôi cử tên ông ngoại tôi nên gọi là Tú San, và Ngăi Đăng là vùng bà con bên bà ngoại tôi. Cô ruột tôi cũng có chồng về đây. Hai mươi năm trước, mỗi lần băi trường, cậu Tám tôi thường dắt tôi từ Minh Đức lên đây thăm bà cụ ngoại tức mẹ ruột của bà ngoại tôi.


    Mai tiếp ....

  9. #4669
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Vùng Cẩm Sơn đất cát pha, uống nước giếng chớ không có sông chảy qua, nhưng cây cối vẫn xanh tươi lạ lùng. Nó trở thành một miền thân yêu của tuổi thơ tôi. Ở đây tôi rất được ḍng họ cưng chiều và thương mến. Mỗi lần đến, ai cũng cho tiền và quà bánh trái cây mang không hết. Ít nhất tôi cũng được trên một đồng bạc , gồm thu nắm bạc cắc bỏ đầy túi.

    Bận đi th́ ngoại tôi cho một cắc đi xe ngựa từ ngă ba Tân Trung đến tận nhà bà cụ. Bận về th́ phải cuốc bộ ra ngă tư Tân Trung mới có xe. Chỉ tốn một cắc là về đến cầu Vĩ cách chợ Tân Hương nửa cây số. Có tiền trong túi, hai cậu cháu ghé lại tiệm Thầy Thẹo mua kẹo da trâu, dây nhợ, giấy bạch về làm diều, đạn bắn cu li, dây thun làm giàn thun bắn chim.
    Cứ mỗi lần đi Tú San về là có lắm tṛ chơi . Bây giờ trở lại đây, không biết đường đi và cũng không c̣n ai để xin tiền. Tất cả đều biến dạng, biến mất. Kể cả những cây dầu con ráy, cây sao cổ thụ cũng không c̣n. Th́ làm sao t́m lại được dấu xe ngựa thời thơ ấu. Chúng tôi phải lội trong cỏ hoang , vạch đường mà đi. Lại c̣n một nỗi sợ lựu đạn gài của du kích. Dân và cán bộ bị thương v́ lựu đạn gài rất nhiều.

    Nhưng cuối cùng rồi tôi cũng t́m ra một người bà con một cách bất ngờ. Bất ngờ là v́ tôi đi t́m một người lại gặp người khác. Cuộc đời của tôi, luôn luôn có những bất ngờ. Người xa bảy, tám năm gặp lại và người xa hai mươi năm cũng gặp lại. Người xa ba mươi, bốn mươi năm cũng vẫn gặp lại như thường. V́ t́nh thương, t́nh yêu, t́nh người.

    Người tôi gặp lại hôm nay là cậu Ba Khiêm con của bà Bảy, em ruột của bà ngoại tôi. Tôi và Tám Không vào một cái cḥi xơ xác xin nước. Chủ nhà thấy hai ông cán mang “colt” th́ có vẻ lơ là . Uống nước xong – nước giếng h́nh như cũng không c̣n mùi vị ngọt của thời xưa – quay ra đi một đổi th́ có người chạy theo gọi, tôi đứng lại. Một ông già chừng năm mươi ngoài , râu dài tóc bạc hỏi:

    – Chú cho tôi hỏi chút. Xin lỗi… chú người ở đâu tới?

    – Dạ, tôi ở trên An Định chạy chụp dù xuống đây.

    – Tôi muốn hỏi gốc gác chú kia !

    – Dạ tôi người Cầu Mống.

    – Xin lỗi, chú là con cháu của ai?

    – Dạ… cháu ông Cả Tụy, con của…

    Tôi chưa kịp dứt tiếng, ông đă ôm chầm lấy tôi:

    – Mày là thằng Triết, kêu Bảy Hưng, Tám Hà bằng cậu phải không?

    – Dạ phải.

    Ông già lôi tay tôi.

    – Vô nhà, con! Hồi năy tao ngờ ngợ. Mợ Ba mày nói đúng là mày, nhưng tao không tin. Khi mày vừa đi mợ Ba mày mới bảo tao chạy theo. Tao là cậu của mày. Con bà Bảy, kêu bà ngoại mày bằng d́ ruột. Trời đất ơi ! Tao nghe nói mày đi xuống miền Tây hồi năm 50 mà sao bây giờ lại lọt về đây?

    – Dạ cháu đi xuống đó rồi tập kết luôn.

    Tôi và Tám Không vô cḥi. Cái cửa cḥi, muốn khỏi đụng đầu, phải khom lưng.

    Một cái hầm choáng gần hết ḷng cḥi. Nó như cái mả chôn người sống vĩ đại. Trên nóc hầm là mấy cái lư hương loe hoe ba cọng chân nhang. Liễn sơn mài lót dưới đất, ghế trường kỷ ba chân, ghế đai sứt tay. Một cảnh làm nát ḷng. Kháng chiến đă làm cho đất nước tang thương, nhưng không bằng một phần mười giải phóng. Cậu Ba bảo:

    – Bữa nay nó chụp miệt trên, dưới này êm. Có thể pháo Cầu Mống bắn chơi vài phát chớ không có ǵ nữa đâu. Ở đây ăn cơm. Cha chả. Mày “đi” lâu dữ ha!

    Tôi ngồi ngơ ngáo không biết cậu Ba là ai nữa. Hồi trước có gặp cậu chăng th́ cũng chỉ vài lần, tôi không thể nào nhớ được. Thấy vẻ mặt của tôi, cậu biết tôi không nhận ra cậu, nên cậu nhắc:

    – Tao là con bà Bảy. Mày là cháu ngoại của bà Sáu. Nhớ chưa ?

    – Dạ cháu nhớ ra rồi. Ngoại cháu thứ Sáu. Bà Bảy với ngoại cháu giống y nhau. Hồi nhỏ cháu lầm.

    – Mợ Ba lớn mày chết lâu rồi. Đây là mợ Ba nhỏ.

    – Mợ biết cháu là v́ hồi kháng chiến cháu có đóng cơ quan ở ngoài nhà bà Bảy. Hồi đó cháu cũng lớn rồi.

    Tôi lơ mơ nhớ lại những chuyện xa vời, nếu không được cậu nhắc lại chắc quên luôn.

    Chiều bữa đó tôi được ăn thịt vịt và uống rượu với cậu Ba. Tôi bàng hoàng hết cả người mỗi lần nhớ lại cảnh thổ ngày xưa. Cậu Ba đâu có cuộc sống xơ xác như vầy. Cậu có vẻ buồn rầu và cam chịu.
    Cậu không để cho tôi có th́ giờ hỏi về việc nhà cửa của cậu. Cậu bảo:

    – Mày và chú kia cứ ở đây chơi vài ngày. Nếu tụi nó chụp tới đây, tao có hang cá trê chứa được hai người. Nếu không chịu xuống “hang trầm” th́ tao biểu trẻ nhỏ dắt cho chạy. Hai đứa bây có giỏi gị không?

    – Dạ cũng tạm được.

    – Về đây có chạy đua với trực thăng lần nào chưa?

    – Dạ mới sơ sơ cú này. Nhưng cháu dông sớm lọt ngoài ṿng nên cũng khỏe.

    Quả thật trời c̣n giúp vận. Cuộc chụp dù ở An Định chấm dứt ngay chiều hôm đó. Đến tối tôi mới yên tâm. Cậu Ba dắt tôi sang mấy cái cḥi bên cạnh để “giới thiệu” thằng cháu với bà con. Đúng ra cậu không hănh diện v́ có thằng cháu “vô dân Tây đi tập kết” mới về , mà là dắt cháu cho đi gặp lại ḍng họ thất tán ră tan trong chiến tranh.

    Đây là cậu Nh́ con ông Năm bà Năm, cậu Chín con ông Ba bà Ba, cậu Năm con ông Hai bà Hai đều là cháu gọi ngoại tôi bằng cô ruột. Sau cùng là ông Nhứt. Bà Nhứt là em ruột của ngoại tôi. Bà Nhứt đă mất, ông Nhứt già yếu sống giữa cḥi với đàn cháu nội. Đó là lũ con của cậu Trân. Cậu Trân cỡ tuổi với tôi và cùng học một lớp với tôi ở trường quận Mỏ Cày. Cậu ăn cơm quán ở một nhà ngay đầu cầu chợ quận.

    Mỗi buổi chiều thứ bảy khi tôi ngồi xe hơi về Cầu Mống th́ dọc đường, lối Cầu Đúc lớn hoặc Cầu Ông Ng̣, cũng c̣n gọi là Cầu Giồng Vơ, cũng gặp ông già chở xe đạp một đứa nhỏ về hướng Tú San. Rồi sáng thứ hai khi tôi trở lên trường th́ cũng lại bắt gặp ông. Đó là ông Nhứt chở cậu Trân. Ba năm liền như vậy, đến khi tôi lên Bến Tre mới hết gặp cậu Trân và ông nữa, cho tới bây giờ.

    Khi nh́n lại ông Nhứt th́ tôi mới biết bao nhiêu năm tháng đă qua trong đời tôi. Ông đă quá già. Cậu Trân th́ đang làm thầy giáo nơi cái trường trước kia cậu từng đi học và có một bầy con. C̣n tôi th́ lêu bêu với chức cán bộ Mùa Thu chẳng giúp ích ǵ cho cha mẹ cả.

    Ông Nhứt tôi giữ tôi và Tám Không ở lại cḥi rộng răi và hầm chắc chắn. Ông bảo cháu nội đi lên vườn đốn dừa nạo đem về cho tôi uống. Ông nói:

    – Cậu Trân mày trước kia thỉnh thoảng c̣n về thăm tao. Từ Đồng Khởi tới bây giờ nó không dám về nữa. Mợ mày phải ở luôn trên quận. Mấy đứa nhỏ này về chơi rồi cũng trở lên.

    – Ông Nhứt ở nhà có một ḿnh?

    – Chung quanh đây toàn bà con, lo ǵ! Lên trên đó ở chung với con cháu th́ vui rồi, nhưng mồ mả, bàn thờ ông bà bỏ lại đây ai nhang khói!

    Tôi giật ḿnh v́ câu nói hồn nhiên, chân t́nh, nhưng lại có vẻ cảnh tỉnh thằng cháu hai mươi năm gia cư bất biết ... đi làm cách mạng cho ai nhờ? Hai mươi năm nay, tôi toàn ăn giỗ chực, ngủ nhà khín chớ đâu có cúng quải ông bà, đâu có săn sóc cửa nhà. Bây giờ về đây thấy cỏ cây mà ngậm ngùi tấc dạ .

    Lúc mặt trời sắp lặn th́ có một cậu thanh niên tới. Ông Nhứt tôi nói ngay:

    – Đó là thằng Dụng , rể của cậu Ba mày.

    Dụng chào tôi rồi nói:

    – Em nghe nói anh về ! Em công tác thông tin ấp nhưng bữa nay chắc em giao lại cho xă .

    Dụng giơ cái loa thiếc tang thương lên :

    – V́ đồng bào không c̣n nghe em loa nữa. Họ chỉ nghe đài Hà Nội, đài BBC thôi anh à. Anh có cách nào giúp em không?

    Tôi cười:

    – Anh không rành công tác thông tin em ạ .

    Hai anh em nói chuyện một lát rồi tôi bảo Dụng dắt tôi đi thăm nhà ông Cụ bà Cụ ngoại của tôi cũng là của Dụng.

    Dụng lắc đầu:

    – C̣n cái ǵ đâu mà thăm anh!

    – Sao vậy em?

    – Làm sao t́m ra cái nhà?

    – Bộ nhà ăn bom à?

    – Phá hoại hồi 1946 anh không nhớ à ? Hồi đó em chưa làm cháu rể của cụ.

    – Anh nhớ cái nhà hồi đó c̣n đứng mà .

    – Đứng nhưng bốn vách trống lổng hết rồi. Ông Chín dựng vách lá ở đỡ. Nhưng sau Đồng Khởi th́ máy bay bắn dữ lắm. Đi qua nó ria một loạt. Đi lại nó làm vài loạt. Cột kèo bị thương bấy hết. Nếu nó nhỏ cỡ nhà nội em th́ c̣n hạ xuống, cột kèo đem ngâm xuống mương được nhưng nó lớn quá . Cột bằng cột đ́nh, kèo chạm, lại lợp ngói âm dương trét xi măng cứng ngắc . Thời buổi này làm sao t́m ra người mà hạ nó xuống? Hễ hạ xuống th́ hư nát hơn phân nửa, th́ hạ làm chi !

    Tuy nói vậy nhưng Dụng vẫn dắt tôi đi thăm. Trong tâm trí tôi có sẵn ngôi nhà, nền cao ngang ngực, nóc xám rêu phong lỗ chỗ dấu đạn, nhưng khi Dụng bảo:

    – Đó chỗ cụm cây rậm đó !

    Tôi mất vía, la hoảng:

    – Hả?

    – Cái nền nhà ở chỗ đó. Nhưng nay cũng không c̣n cục đá nào. Anh đứng đây nh́n một chút đi rồi về . Chớ anh lội vô đó th́ cũng vậy thôi.

    Từng ở ga-ra ngoài Bắc, ở lều ni-lông trong rừng Cao Mên, bây giờ đứng trước một ngôi nhà đồ sộ của ông bà đă biến đi, tôi mới thấm hết nỗi đau đớn khi con người mất nhà. Và hiểu câu nói: Sống cái nhà, thác cái mồ ! Cho đến bây giờ, khi ngồi viết những ḍng này tâm trí tôi vẫn c̣n in trong trí h́nh ảnh ngôi nhà ông Cụ ngoại tôi. Một ngôi nhà mà ông Cụ tôi làm lụng vất vả trong vài chục năm mới có đủ tiền để cất. Thợ thầy và người nhà chung sức làm trong ba năm mới xong.

    – Ông Chín bán nó có 700 ngàn rồi đi lên Bến Tre ở đậu anh ạ. (Chừng 70 đô la).

    Tôi chỉ c̣n biết kêu trời.

    – Trời ơi !

    Mỗi lần băi trường các cậu con ông Chín tôi về nhà phải lau chùi bằng một cách đặc biệt. Bắc thang leo lên tận đầu cột quấn giẻ quanh thân cột rồi ôm cột tuột xuống. Mỗi cây cột phải tuột cả chục lần. Ḍng họ nội ngoại của tôi ủng hộ cách mạng, con cháu đi theo cách mạng, hi sinh cho cách mạng để mất trên hai chục ngôi nhà lớn.


    Mai tiếp ....

  10. #4670
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Đó là chưa tính những ngôi nhà nho nhỏ cỡ nhà của bố tôi. So với những đại điền chủ th́ sự “cống hiến” của ḍng họ tôi cho “cách mạng” không nhiều lắm, nhưng cũng không phải là nhỏ. Dụng bảo tôi:

    – Thôi đi về anh. Buổi chiều pháo hay bắn bậy lắm.

    – C̣n nhà ông Hai, ông Ba, ông Năm thế nào?

    Dụng cười:

    – Anh muốn thăm th́ em dẫn anh đi thăm luôn để không có dịp.

    Rồi Dụng đưa tôi đi. Thuở tôi c̣n bé, mỗi lần tôi lên đây tôi đi trên một con đường nhỏ từ ngoài đường làng rẽ vào bên phải là nhà ông cụ tôi, bên trái là nhà ông Hai tôi tức con cả ông Cụ. Tôi sợ ông Hai đến nỗi không dám ngó sang tay trái. Nếu bất ngờ mà nghe tiếng lạc ngựa sau hàng tre v́ ông cỡi ngựa đi Nhà Việc, th́ tôi và cậu tôi lẩn trốn trong bụi, chờ ngựa chạy qua rồi mới dám ra đi tiếp.
    Ông khó tính đến nỗi con cháu trong nhà cũng phải sợ. Nhất là sau khi ông tranh chức Cai Tổng bị thất bại th́ tôi càng không dám ngó sang nhà ông nữa . Bà Hai tôi bảo cháu đem tiền cho tôi bên nhà ông Cụ.

    Bây giờ tôi hết sợ ông, tôi dám ngó nhà ông v́ cả ông lẫn cái nhà không c̣n nữa. Tôi hầu như không nhớ mặt ông, v́ tôi chỉ thấy ông vài ba lần ở từ xa. Dụng bảo tôi:

    – Anh c̣n nhớ cái bờ mẫu ngày trước không?

    – Nhớ chớ. Ven bờ có một hàng me. Mùa me chín gió khua nghe lộp bộp rất vui tai, anh lượm ăn me rụng đă đời !Về nhà uống nước mưa rồi tha hồ “chạy”.

    Dụng dừng lại bảo:

    – Nhà ông Năm ở đây. Cậu Nh́ con ông Năm ở ngoài cḥi gần ngoài Ba Phó.

    – C̣n D́ Út đâu?

    – D́ Út là vợ Cai Tổng Minh Đạt bị xử bắn cả hai vợ chồng hồi xửa hồi xưa kia mà , anh quên rồi sao?

    Tôi tưởng mọi việc cứ như hồi xưa. D́ út rất đẹp, đánh tứ sắc. Hồi tôi học trên quận, có lần d́ đi xe ngựa lên nhà trọ cho tôi tiền. Như vậy cách mạng đă “trả công” cho tôi bằng cách giết một người d́, một người cậu và một người cô c̣n ai nữa th́ tôi chưa có dịp tính sổ. Dụng bảo:

    – Láng te hết vậy đó. Ba cái nhà ngói lớn một dăy không c̣n một cục gạch! Có ǵ mà thăm. Anh có lên Sài G̣n th́ thăm cậu Tám.

    – Cậu Tám nào?

    – Cậu Tám Trỗi con của ông Ba đang làm cảnh sát trưởng trên đó.

    – Vậy à? Anh nhớ ra rồi. Cậu Tám giỏi nghề vơ hồi xưa, anh biết. Cậu có xuống nhà ngoại anh. Lần đó cậu có đi một đường roi và một đường quyền cho cả nhà coi.

    Dụng dắt tôi đến nhà lớn của cậu Ba ở trong vườn. Tôi cũng từng đến ngôi nhà này trước kia. Tôi lại không thấy ǵ hơn , cái nền nhà và một đống ngói vụn.

    Nhưng sau khi đă chứng kiến một lúc bốn ngôi nhà biến mất chỉ c̣n nền trơ trọi, có cái không c̣n cả nền, th́ lần này tôi không c̣n xúc động mạnh nữa. Sự đổ nát trở thành b́nh thường đối với quân giải phóng. Dụng không nói ǵ, dắt tôi ngay đến mé mương đầy cỏ rác rong rêu, rỉ tai tôi:

    – Hầm cá trê của em ở đây.

    – Vậy à ?

    Dụng lôi tay tôi đi loanh quanh và giải thích:

    – Nếu có động tịnh ǵ th́ em lông rông xuống mương chui vô hang rồi trồi lên cái đống ngói kia.

    – Ngồi trong đó à ?

    – Dạ, không. Em có trổ lỗ hơi. Em ngửa mũi em lên đó mà thở. Cái đống ngói kia chỉ là vật nghi trang thôi.

    – Rủi nó đóng quân trong vườn rồi em làm sao?

    – Em cũng không biết nữa. Em chưa bao giờ chui. Cực chẳng đă , nếu không c̣n đường chạy th́ mới chui thôi. Chớ chui như vầy năm ăn năm thua lắm anh ạ. Có người chui rồi chết ngộp dưới đó. Lính rút th́ đă chết từ lâu, không chữa kịp. Ba em bảo nếu có chuyện ǵ th́ em dắt anh chạy ra ngọn Tầm Bức gần ngoài mé sông cái Cổ Chiên (tức là một trong các ngành sông Cửu Long). Từ đó ḿnh có thể chạy xuống Ba Phó, tạt vô Tân Huề về Minh Đức hoặc ngược lại trổ lên An Thới ra rạch Bào Hang qua Cải Chát Lớn, Cải Chát Nhỏ.

    – Chạy đâu mà chạy dữ vậy?

    – Phải chuẩn bị cặp gị anh ạ . Nó chụp bạt mạng lắm. Ḿnh không đoán nổi. Gần đây nó lại hay nhảy cóc chớ không có chụp từng vùng kế cận nhau đâu. Có thể bữa nay nó chụp An Định, mai nó phóng qua bên Bảo, mốt nó lại chụp Tân Trung, bữa kia nó bủa lưới An Thới anh ạ. C̣n cái mửng nó thanh đông kích tây nữa. Hoặc đang chụp chỗ này, nó lại chụp luôn chỗ kia cùng một lúc. Cho nên ở nhà vợ em cứ thủ sẵn cho em một bộ đồ trắng và một gói lương khô. Có khi bị rượt chạy ba bốn ngày liền không về nhà được th́ dùng lương khô. C̣n đồ trắng th́ cũng như ḿnh đầu hàng. Lính thấy đồ trắng th́ không bắn.

    Dụng tiếp:

    – Anh ở chỗ nào th́ phải có hầm hố ở đó. Mà phải tự đào lấy không nhờ mấy ông du kích lếu láo. Ngoài ra phải có căn cứ phụ , tức là ngoài An Định ra anh phải nhắm trước một vài nơi khác. Nếu nó chụp An Định th́ anh chạy vô An Thới, xuống đây, hoặc ra B́nh Khánh. Em nghe phong thanh nói tụi nó sắp lấy Cầu Mống làm tỉnh lỵ mới.

    – Tỉnh nào?

    – Dạ nó chia tỉnh Bến Tre ḿnh ra làm hai tỉnh. Kiến Ḥa và Kiến Tân. Kiến Tân sẽ đặt tỉnh lỵ ở Cầu Mống v́ ở đó có cả đường bộ lẫn đường thủy ăn thông lên Sài G̣n và Trà Vinh.

    Tôi gượng gạo bảo:

    – Nó tác động tinh thần đồng bào chớ làm ǵ nổi ! Ḿnh đâu có để cho nó tung hoành.

    – Anh ơi! Tụi lính ruồng không có nguy hiểm bằng quân B́nh Định. Tụi này đi đâu cũng ca hát, phát thuốc, phát vải, phát gạo. Mặt Trận bảo em loa giải thích cho đồng bào đó là âm mưu của giặc nhưng đồng bào đâu có nghe. Âm mưu ǵ không thấy chớ gạo, vải, thuốc toàn thứ tốt. Có nhiều gia đ́nh bỏ ra thành luôn, ḿnh kềm lại không được.

    Dụng ngưng một chút rồi tiếp:

    – Nghe anh tới em mừng lắm. Em muốn anh giúp em kinh nghiệm để tuyên truyền chặn đứng mấy vụ đó lại. Thí dụ như em sẽ tập họp đồng bào lại rồi anh đứng ra nói chuyện về nhân dân miền Bắc sung sướng, làm ăn phát đạt như thế nào, được Đảng và Bác cho học hành, mỗi người dân xă hội chủ nghĩa phải có tŕnh độ trung học bắt buộc ( ?) v. v . . cho đồng bào ḿnh không c̣n hướng về thành nữa. Được không anh?’

    – Ờ… ờ … được chớ ! Sáng kiến của em hay lắm!

    Tôi hứa sẽ nói chuyện về Bác Hồ , về đời sống dân Miền Bắc hai ba đêm liền cho bà con nghe. Dụng mừng như bắt được vàng.

    Tối lại Dụng mời tôi và Tám Không qua cḥi của nó. Hai ông cán Mùa Thu lại được ăn gà xé phay, uống la-de Sài G̣n. Ông Nhứt và cậu Ba tôi được Dụng thông báo cũng có ư đến nghe. Riêng ông Nhứt cho tôi năm trăm đồng, có thể mua được hai chục lít gạo. Thời buổi này mà ông cho tôi số tiền đó là lớn lắm.

    Thừa lúc Dụng chạy đi quán mua trà và bánh ngọt, tôi mới thuật lại việc Dụng yêu cầu nói chuyện với đồng bào cho Tám Không nghe. Tám Không cười:

    – Nói ṿng che thôi, đừng nói cái “trung tim” cũng như Chế Lan Viên và Xuân Diệu làm t́nh vậy. Yêu trên báo th́ rất dữ dội c̣n thực tế th́ vậy đó.

    – Ông ráng diễn thuyết dùm một buổi được không?

    – Úy chu choa ! Anh c̣ mày “nàm” đi, chúng tôi không quen ạ !

    – “Nàm” th́ “nàm” mấy buổi cũng được, nhưng kẹt đề tài lắm, ông “kịch xĩ” ơi !

    – Bộ ông “dăng xĩ” sợ mắc nghẹn hả?

    – Chớ c̣n ǵ nữa.

    – Vậy th́ đánh bài “chuồn”. Bảo tỉnh ủy có hẹn gặp , để nói về Đồng Khởi. Xin đ́nh lại, kỳ sau ḿnh sẽ tới.

    Dụng chắc ba bó một giạ nên vác loa đi quanh các xóm cḥi thông báo ngay.

    – Allô ! Allô ! Xin mời đồng bào đúng bảy giờ tối đến nhà ông X. . . để nghe cấp trên phổ biến công tác quan trọng. Không nên vắng mặt.

    Tôi nói nhỏ với Tám Không:

    – Rêm quá cha nội ơi!

    Tám Không bảo:

    – Mày cứ nói về “cây vú sữa miền Nam trên đất Bắc” hoặc về “nữ anh hùng Tạ Thị Kiều’” Đừng nói ǵ tới phiếu phiếc, mậu dịch “bán hàng mẫu” và các thứ hợp tác xă ăn uống, hợp tác xă sản xuất th́ đâu có bị mắc nghẹn.

    – Vậy ông nói đi.

    – Được rồi, để đó tao làm một “ván” cho mày coi.

    Tám Không có khiếu đóng kịch từ thuở thiếu nhi. Hắn “cương” rất tài. Một ḿnh đóng luôn bốn vai trong tuồng Sơn Tinh Thủy Tinh, buổi lửa trại nào cũng có mặt hắn. Vai nghiêm cũng đóng, vai hề cũng làm luôn. Vậy kỳ này hắn sẽ diễn cái hoạt cảnh “cây vú sữa” th́ chắc đồng bào thích lắm. Tôi dặn thêm:

    – Đừng cho đồng bào biết là cây vú sữa không có trái nghe tía nó !

    – Tao cho cây vú sữa có trái luôn bốn mùa mày coi. Vẫn ngọt như thường.

    May quá, chúng tôi không phải diễn thuyết , v́ ngay sau đó chúng tôi lại được đàn bà đi chợ cho hay ngày mai sẽ có chụp vùng này nhưng không biết chính xác xă nào nên Dụng cho đ́nh cuộc diễn thuyết.

    Sáng sớm, vợ Dụng, dọn cơm cho chúng tôi ăn bỏ bụng để sửa soạn chạy ra ngọn rạch Tấm Bức cho bảo đảm. Vừa lội được một quăng th́ đụng đầu một đoàn người lôi thôi lếch thếch do một cán bộ dẫn đầu. Tôi kêu lên:

    – Má ! Má đi đâu đây?

    Má tôi khựng lại một hồi rồi với vẻ suy nghĩ chớp nhoáng, bà trả lời một cách ngập ngừng:

    – Ờ, ờ… má đi thăm bà con!

    Anh cán bộ thấy hai “ông thần” mang colt, lại có một ông kêu bà già bằng má th́ rất đỗi ngạc nhiên, bèn hỏi tôi:

    – Đồng chí là con của bác Hai?

    – Dạ, tôi đây.

    Má tôi không nói ǵ. Một người đàn bà trong đoàn, tôi không biết là ai, buột miệng nói:

    – Bà già của chú Triết. Chú ở ngoài Bắc mới về.

    – Ủa vậy hả.

    Anh cán bộ liền nói với má tôi:

    – Vậy bác khỏi phải đi. Từ rày bác không phải đi nữa.

    Má tôi cảm ơn anh ta rồi theo tôi. Thấy má tôi lo lắng tôi bèn kiếm chuyện nói cho vui. Tôi giới thiệu Tám Không với má tôi:

    – Bạn con quê ở Giồng Luông, cũng đi tập kết với con’.

    – Cháu là con của ai?

    – Dạ cháu con của bà Năm Khánh nhà ở gần Thầy Cai Tôn (là suôi gia với ông Nội tôi).

    – Tôi có nghe nói nhưng không quen. Chú về tới đây mà có gặp cha mẹ chưa?

    – Dạ, chưa. Cháu định rủ thằng Vũ đi về thăm Giồng Luông một chuyến mà chưa đi được.

    Đi một quăng xa, Tám Không bèn hỏi má tôi:

    – Họ bắt bác đi đâu mà càn rừng càn rú vậy bác?

    Má tôi nói nhỏ:

    – Mấy ổng bắt bác đi học tập chánh sách.

    – Trời đất, từ dưới Cầu Mống bác lội lên tới đây à ?

    – Mưa gió nắng nôi cũng phải đi, không đi đâu có được chú em. Lúc năy tôi không muốn đi theo con tôi v́ sợ nay mai nửa đêm nửa hôm mấy ông lại tới đập cửa mời đi. Tôi ở nhà có một ḿnh. Thỉnh thoảng mới có mấy đứa cháu kêu bằng bác tới chơi.

    Tám Không phát cáu:

    – Mấy thằng ở xă làm bậy là do mấy thằng tỉnh và quận. Chắc tụi nó cũng mời bà già cháu như vậy chớ không khỏi đâu.

    Tôi hỏi má tôi:

    – Ông cán bộ này con coi mặt quen quen. Má biết là ai không má?

    Má tôi lắc đầu:

    – Thôi hỏi làm chi con !

    Sau này tôi gặp lại em Dụng, Dụng mới cho tôi biết là tên Trâu tên Ḅ ǵ đó cốt ở đợ cho ông Hai tôi, chuyên môn cắt cỏ cho ngựa ăn. Một bữa nó dắt ngựa đi quần chân, nó mê chơi bỏ ngựa vô chùa thọc mỏ vô uống khạp nước của Sư Cụ. Nước giếng của chùa quư lắm. Cái giếng sâu thảy cục đá rơi hồi lâu mới nghe cái bơm .
    Miệng giếng này do ông Cụ tôi cúng tiền để xây nên. Cả một vùng đều đến lấy nước ở đây. Có người mách cho ông Hai tôi về vụ ngựa vô khuôn viên chùa. Ông Hai tôi cho hắn một trận đ̣n nên thân. Do đó hắn thù cả ḍng họ ngoại tôi.

    Chúng tôi phải tất tả trở về An Định là nơi vừa bị chụp xong. Ít khi chúng chụp một vùng hai ngày liền, nên trở lại đó là có thể yên ổn tám chục phần trăm.


    Mai tiếp ....

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 26-03-2012, 08:51 PM
  2. Replies: 50
    Last Post: 27-02-2012, 03:26 PM
  3. Ở đâu không có Madison, ở đó có Little Saigon.
    By NguyễnQuân in forum Tin Cộng Đồng
    Replies: 10
    Last Post: 15-08-2011, 04:43 AM
  4. Ở ĐÂY CÓ ĐẤU TRANH LÀ Ở ĐÂY CÓ BỊ BẮT
    By hatka in forum Giao Lưu - Giải Trí
    Replies: 0
    Last Post: 02-04-2011, 04:48 AM
  5. Replies: 0
    Last Post: 12-03-2011, 07:05 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •