+ Reply to Thread
Page 468 of 469 FirstFirst ... 368418458464465466467468469 LastLast
Results 4,671 to 4,680 of 4682

Thread: SAIGON THUỞ ẤY ...

  1. #4671
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Tôi về đến nhà th́ nghe căn cứ của tỉnh ủy bị chụp. Không có người dân nào bị bắt, bị thương nhưng tất cả hầm hố và tài liệu của văn pḥng, một hầm súng bị khui. Chỉ trong ṿng ba tiếng đồng hồ cuộc “bủa lưới phóng lao” kết thúc. Chú Nhứt mặt mũi xanh lét, nói nhỏ với tôi:

    – Không biết mấy ông bị bắt.

    – Không chạy à?

    – Chạy nhưng không kịp !

    – Hồi đầm già xách đuốc xuống th́ c̣n đủ th́ giờ.

    – Nó bao ṿng rộng cậu ạ . Thành ra mấy ổng bỏ hang định vọt nhưng không kịp. Chỉ hai tiếng đồng hồ sau đầm già trở lại. Nó loa rùm trời và rải truyền đơn.

    – Loa cái ǵ? Truyền đơn cái ǵ?

    Chú Nhứt không nói mà ra bờ rút trong bụi chuối một tấm giấy đem vô đưa cho tôi. Tôi đọc qua rồi đưa cho Tám Không. Hắn xem xong, cười:

    – Đem vô bếp đốt gởi về Ngọc Hoàng đi.

    Tôi hỏi chú Nhứt.

    – Tụi nó chơi cái mửng trên Trường Sơn! Nghe giọng loa có quen không chú?

    – Tôi không rơ. V́ tôi đâu có quen mấy ổng đâu mà biết giọng.

    Đêm nằm nghe như có gai dưới lưng. Cái thế của Giải Phóng là cái thế của anh chàng trong Mảnh Da Lừa của Balzac. Cái miếng da teo lại dần cũng như khu giải phóng càng ngày càng hẹp dưới cánh trực thăng. Việt Cộng có tài bịt tai bịt miệng con người. Nhưng rốt cuộc rồi ai cũng hay cái căn cứ tỉnh ủy bị đánh phá và một số bị bắt. Khi ở Trường Sơn tôi chỉ nghe những vụ hành quân chớp nhoáng của trực thăng, nay mới thấy trước mắt.

    Tám Không bỗng đưa cái “Đài” cho tôi, bảo:

    – Nghe này. Đă có tin. BBC đấy!

    – Tin ǵ?

    Tôi chỉ nghe được có khúc đuôi nhưng cũng biết là tin ǵ rồi.

    – Tụi ḿnh chắc cũng phải dông, hôi ổ rồi, nằm lại đây sẽ vô lưới. Thằng Bảy Quế nói rất đúng. Nó thả chà nuôi cá cho mập rồi xúc!

    – Mày định đi đâu?

    – Xứ của mày mà mày lại hỏi tao !

    – Xuống Cẩm Sơn Ngăi Đăng được không?

    – Ở đó gần Cầu Mống lắm. Có bốn cây số thôi ! Biệt kích bây giờ là bố của tụi Commando hồi trước. Mày nhớ trên Trường Sơn thằng trung đoàn phó bị biệt kích Kangoroo bắt êm ru không?

    – Vậy về Minh Đức.

    – Ở đó chỉ cách đồn Giồng Luông có cánh đồng Cái Bần, càng ớn.

    – Đúng là tính tới tính lui thân cá chậu. Lo quanh lo quẩn phận chim lồng. Bất cứ ở chỗ nào cũng không khỏi trực thăng và pháo.

    Hai đứa nằm kiểm điểm lại diện tích giải phóng của tỉnh gồm có mấy xă sau đây. Bên Cù Lao Minh có Minh Đức, Tân Trung, Cẩm Sơn, Ngăi Đăng, An Định, An Thới, Định Thủy, Phước Hiệp. Bên Cù Lao Bảo có các xă Tân Hào, Thạnh Phú Đông, Phước Long, diện tích hẹp hơn bên Cù Lao Minh, trong lúc toàn tỉnh có hơn một trăm hai chục xă.

    Tuy vậy Bến Tre là tỉnh có vùng giải phóng rộng hơn các tỉnh Mỹ Tho và Long An. Thế nhưng đài Giải Phóng la quang quác là Mặt Trận Giải Phóng kiểm soát ba phần tư dân chúng và bốn phần năm đất đai. Tội nghiệp cả Miền Bắc đần độn, cả thế giới ngây thơ và bọn trí ngủ Thầy G̣n mù quáng, chổng khu tin bằng thật và đua nhau ủng hộ Mặt Trận.
    Nguyễn Văn Vịnh là Thứ Trưởng Bộ Quốc Pḥng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Thống Nhất, có hai vợ, cho chúng tôi biết cái phân số bịp kể trên. Chưa về được quê hương th́ nôn nao thao thức, nhưng khi về đến th́ bực bội vô cùng. Cảm thấy dân Nam Kỳ bị xỏ mũi, bị tế thần với những danh hiệu mỹ miều nhất: Thành Đồng Tổ Quốc, Đi Trước Về Sau, Lá Cờ Đầu Đồng Khởi v . v . . .

    Một buổi sáng thức dậy bỗng nghe chú Nhứt nói:

    – Có hai, ba ông cán bộ R ở nhà bà Má Bảy.

    Tôi và Tám Không lập tức chạy ra, th́ đúng thật. Đó là tổ quay phim của Xưởng Phim Giải Phóng, trưởng tổ là Hai Nghi đă từng du học bên Đức về . Hắn được giao trách nhiệm giàn dựng câu chuyện Binh Biến B́nh Dương (!). Sau một lúc hỏi han nhau, tôi và Tám Không ra về. Tám Không rỉ tai tôi:

    – Mày biết thằng Nghi xuống đây làm ǵ không?

    – Th́ xây dựng bộ phim “Binh Biến” chớ làm ǵ nữa.

    Tám Không cười:

    – Mày ngây thơ bỏ bố đi !

    – Sao?

    – Nó xuống theo dơi mày đó.

    – Theo dơi tao?

    – Chớ c̣n ǵ nữa. Mày c̣n cái án trên “Lên Ủy Ban Quốc Tê xin về Nam” hồi năm 56, nhớ không? Mày quên chớ Ban Tổ Chức Trung Ương không có quên cho mày. Nó ghi trong lư lịch mày, cạo rửa không sạch đâu!

    Tôi rùng ḿnh khi nghe Tám Không nhắc lại vụ lên Ủy Ban Quốc Tế xin về Nam của tôi. Lúc đó tôi làm biên tập viên Pḥng Văn Học Đài Phát Thanh. Ngây thơ nên cứ tưởng cái Ủy Ban ôn dịch này thi hành Hiệp Định Genève, và Hà Nội cũng sẽ theo đúng những điều khoản đă kư kết. Chỉ vài tháng sống ở Hà Nội tôi đă không chịu nổi, nên lên đó xin trở về Nam.
    Chẳng ngờ tên bộ đội gác cổng là công an. Hắn hỏi tôi muốn gặp Gia Nă Đại, Ấn Độ, hay Ba Lan? Tôi nói ai cũng được. Hắn hỏi để làm ǵ? Tôi nói thật. Hắn bảo bữa nay không có ông nào ở nhà hết, mai đồng chí trở lại gặp. Tôi tin bằng thật, có nghĩa là chúng nói láo như nhà xuất bản Sự Thật (Pravda) vậy. Nào ngờ về tới cơ quan th́ Ban Giám Đốc Đài, Trần Lâm, Huỳnh Văn Tiếng và Nguyễn Kim Cương, cho mời lên liền.

    Rồi kiểm thảo. Rồi lên đài đọc bản tuyên bố “Xuân Vũ không có về Nam!”. Chỉ vài ngày sau báo Sài G̣n đă đăng tin “Xuân Vũ lên Ủy Hội Quốc Tế xin về Nam bị Hà Nội bắt, đày đi nông trường” cho nên việc nhỏ trở thành quan trọng. Tôi bị “ghim” rất nặng.

    Tôi mới biết Ủy Ban Quốc Tế chỉ là một lũ ăn hại, nên bên ngoài tôi tích cực công tác “để chuộc tội” nhưng ngấm ngầm tôi bí mật t́m cách chui rừng về Nam. Có cả ư định nhảy tàu ngoại quốc ở Cảng Hải Pḥng. Mười năm trời, một mặt viết văn viết báo nhưng một mặt t́m đường chui. Có cả một lần chui đến tận sông Bến Hải nhưng không dám bơi qua.

    Họ chưa quên cái vụ mất lập trường trên của tôi thật. Bằng chứng là trước khi vô ḷ quay Trường Sơn, tôi được tên tổ chức của Lê Đức Thọ, người Khu Nam, kêu lên cảnh cáo:

    – Anh nên nhớ cái sai lầm đó ! Về Nam phải tích cực công tác và giữ vững lập trường !

    Tôi vâng dạ ngoan ngoăn như con mèo con. Ngoài ra tôi c̣n tặng hắn ta bộ đồ com-lê độc nhất và đôi giày da cũng độc nhất của tôi. Thấy chưa đủ để hắn “quên”, tôi c̣n bảo hắn lấy xe của Ban Thống Nhất đưa tôi về nhà. Tôi trỏ tay:

    – Đồng chí muốn lấy món nào lấy.

    Quả thật hắn chỉ lấy được vài món lặt vặt, v́ trước đó tôi đă cho thiên hạ hết rồi.

    Án tích c̣n ràng ràng đó, tuy đă cũ, nhưng nhắc lại th́ y như mới. Câu nói của Tám Không chưa chắc đă đúng nhưng làm tôi rùng ḿnh. Lúc nào tôi cũng bị mật thám theo dơi mà không biết.
    Măi về sau khi tôi đă về Sài G̣n và đang làm Phó Giám Đốc Trung Tâm Chiêu Hồi Trung Ương, lúc bấy giờ tôi có được một đứa con trai, một buổi sáng chủ nhật, tôi bồng thằng con sang Sở Thú coi cá vàng. Thằng bé ba tuổi không thích cọp gấu mà lại thích coi cá vàng. Đang chỉ trỏ cá cho con coi bỗng tôi ngước lên như có ai mách. Tôi bắt gặp Hai Nghi. Hắn cũng trông thấy tôi. Tôi chưa định phản ứng như thế nào th́ hắn cun cút lủi đi, rồi lẩn vào đám đông.

    Th́ ra câu nói của Tám Không hồi mấy năm trước rất đúng. Hai Nghi sang bên Đức ngoài việc học nghề quay phim c̣n học ngón do thám. Khổ thay nó lại là thằng bạn thân của tôi trong kháng chiến chống Pháp.

    Thực t́nh, tôi không có ư định kêu cảnh sát. Chứ nếu tôi kêu th́ cảnh sát bao vây Sở Thú có thể tóm được nó. Đến bây giờ tôi vẫn không chắc rằng Hai Nghi được cử xuống Bến Tre để theo dơi tôi.

    Trở lại câu chuyện với Tám Không. Tám Không bảo:

    – Gia đ́nh mày có hai phe. Một phe là mày. Một phe là gia đ́nh mày. Hai phe đối nghịch nhau về lập trường. Tụi nó không có tin mày đâu. V́ thế đến bây giờ mày mới về Nam được.

    Hai phe: đúng vậy! Tía tôi không thích Tây mà cũng không ưa Việt Minh. Tôi không hiểu tại sao v́ lúc kháng chiến bắt đầu tôi c̣n là thiếu nhi, nhưng tôi có những bằng chứng. Cống, Trà và những tên khu tỉnh đều đến ở nhà tôi và được tía tôi tiếp đăi rất trọng hậu, nhưng khi mời ông đi công tác th́ ông từ chối với một lư do rất tức cười “Tôi không ngủ nhà ai được ngoài nhà tôi th́ làm sao tôi xa nhà . . . “

    Tây đến đóng đồn Cầu Mống. Tên xếp đồn bắn tiếng mời tía tôi ra làm việc. Ông trốn biệt trong lúc nhiều vị ra mặt hợp tác. Tên xếp đem lính tới nhà vây bắt nhưng ông không có ở trong nhà. Chúng bắt má tôi. Tôi phải “thế mạng”. Tên đội bảo:

    – Nếu ông ấy không ra, tao bắn bỏ mày .

    Vào đồn chỉ một đêm, sáng hôm sau tôi trốn thoát. Rồi cuộc kháng chiến tràn lan. Lính của Một On lấn chiếm. Nhiều gia đ́nh tản cư xuống khu 9. Nhưng gia đ́nh tôi th́ không. Ông không cho tôi đi kháng chiến nhưng tôi trốn theo cậu tôi.

    Sau Hiệp Định Giơ Neo, ông biểu má tôi vô khu 9 t́m bắt tôi về cưới vợ, không cho đi tập kết. Tôi năn nỉ má tôi cho tôi đi “hai năm” rồi về. Má tôi biết không cho tôi cũng trốn đi v́ tôi đă làm kháng chiến rồi.

    Câu nói của Tám Không chọc trúng ngay tim tôi. Có lẽ chi ủy xă Hương Mỹ được chỉ thị ở trên theo dơi tôi kẻo tôi vù ra bót Cầu Mống, mà tôi không biết.

    Hai Nghi xuống đây theo dơi tôi để báo cáo về R ? Điều đó cũng có lư lắm nhưng tôi không chắc ! C̣n chuyện quay phim “Binh Biến” th́ như sau:

    Ở ngay bên cạnh nhà Bà Bảy, chúng gọi là Má Bảy nhưng thực ra bà không vô Hội Mẹ, là nhà của Trung Sĩ Bùi, một người lính VNCH mà ở trên nhận định là “một thành viên của cuộc Binh Biến B́nh Dương”. Tôi không để ư đến công việc của tổ quay phim này, nhưng tôi khuyên họ nên mua thùng đạn đại liên để bỏ máy vô đề pḥng có chụp chạy mang không nổi th́ đạp xuống śnh.
    Tuy mới chạy có một cuộc chụp dù nhưng đối với đám này th́ tôi là bậc tiền bối. Tha hồ mà cố vấn về việc chạy, việc giấu đồ, việc quan sát con đầm già cầm đèn buổi sáng, việc đào hầm cá trê v.v…

    Tụi nó phục tôi và Tám Không bằng sư phụ. Chúng tôi bắt đầu hợp tác để liên hoan “mừng chiến thắng đồng chó ngáp và thoát một trận chụp dù”. Chợ An Định, cũng có tên là Chợ Cái Quan, sau cuộc chụp chúng tôi họp lại như thường, chẳng khác một ḥn đất ném xuống ao bèo, tan rồi lại hợp ngay.
    Cũng thịt heo, cá, tôm, dầu nước xanh, dầu Nhị Thiên Đường, đuôi tôm, máy may … bày ra bán như một thiên đàng mặt đất. Nghĩ mà thương cho các chợ ngoài Miền Bắc xơ xác, nghèo nàn vô cùng.

    Tôi và Tám Không lại gặp Bảy Quế. Vẫn với bộ râu cá chốt và cái mũ phớt rất thành thị trên đầu. Hắn hất hàm.

    – Kỳ rồi chạy đâu?

    – Cẩm Sơn, Ngăi Đăng, c̣n mày?

    – Xuống hang trầm.

    – Dóc hoài, mày chạy ra Ngă Ba Ống Quần(*)núp ở đó!

    (*) Tức là thị xă Bến Tre

    Bảy Quế nháy mắt. ư bảo đừng làm lộ bí mật công tác quân báo của hắn. Hắn dắt tôi vô tiệm cô sẩm lai mua sắm. Rồi bảo:

    – Tụi mày có muốn đọc sách báo tụi Sài G̣n không?

    – Ở đâu có mà đọc?

    – Nhờ cô em này mua dùm cho, bây giờ coi đỡ vài tờ !

    Bảy Quế bảo cô sẩm lấy đưa cho tôi vài tập san và báo hằng ngày. Giở vài tờ là thấy bài của Vũ Hạnh. Cái bài tôi đă từng đọc trên R trong chồng báo mục bỏ dưới hầm của tiểu ban Văn Nghệ. Quái nhỉ ! Tôi lại ngạc nhiên về cái tài ḷn trôn của bọn văn sĩ theo đóm ăn tàn.
    Tụi này luồn qua ống cống nào mà ra Hà Nội nghe lóm Tổng Bí Thư Trường Chinh nhanh vậy? Lăo này nói chuyện ở Câu Lạc Bộ Quân Nhân ở đường Cột Cờ. Măi về sau tôi mới biết tên Vũ Hạnh bị sơn đầu đỏ bởi bàn tay sáu ngón của Trần Bạch Đằng với sự hứa hẹn ngầm:

    – Cách Mạng thành công cho ngồi ghế cao đội măo rộng !

    Chẳng ngờ xôi hỏng bỏng không như bọn Lữ Phương, Thanh Nghị. Chúng coi bọn này như nùi lau chân. Tôi nghi cô sẩm này là cơ sở quân báo của Bảy Quế, một cơ sở đặt ở đây th́ thế nào cũng có một cơ sở ở đầu cầu trong thành, không biết Bến Tre Mỹ Tho hay chỗ nào khác?

    Bọn này thường là đ̣n xóc hai đầu. Nó vừa đưa tin cho Bảy Quế vừa đưa tin cho gián điệp thành, ḿnh mó vào đấy có ngày chết không kịp ngáp. Do đó tôi chạy luôn, không mượn sách báo cũng không mua đồ ở tiệm này nữa.


    Mai tiếp ....

  2. #4672
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Vụ chụp căn cứ tỉnh ủy vừa qua làm cho tôi cảnh giác tối đa. Một lần em gái tôi lặn lội tới thăm, tiếp tế tiền bạc, thức ăn, quần áo, giấy bút cho tôi. Lựa cơ hội, cô em bảo:

    – Về phức cho rồi anh ạ ! Đi ǵ hai mươi năm rồi không tới đâu hết. Tía má già rồi!

    Tôi làm thinh. Ḷng xúc động cực độ . Nhưng tôi vẫn cố kềm ḿnh ở lại. Chờ một thời gian nữa. Cô em nói tiếp:

    – Ở nhà má đă t́m cho anh mấy chỗ rồi. Người ta chờ anh không được lần lượt đi lấy chồng hết. Mấy chị đó không làm dâu được nhà ḿnh, họ tiếc lắm. Anh đi như vầy ở nhà “mấy ông” cứ làm khó dễ má hoài. Mấy ổng xin ǵ má cũng cho, vậy mà cũng không nhơn tay chút nào. Vừa rồi họ bắt má đi học. Bộ họ không biết anh tập kết về sao?

    Tôi thật t́nh không đám nói ư định trốn Cộng Sản của tôi. Càng không lộ cho ai biết những “thành tích” ở Miền Bắc của tôi. Tôi không nói ǵ hết.

    Mặc dầu vậy tôi vẫn tâm ngẩm t́m đường trốn. Phải trốn cho được. Nếu đổ bể th́ hại cả ḍng họ bên ngoại lẫn bên nội chứ không phải chuyện nhỏ đâu.

    Gia đ́nh tôi ít người. Cha mẹ chỉ có hai đứa con, một trai một gái. Em gái tôi có nhiều nơi xin cưới, nhưng nó đều từ chối, ở vậy nuôi cha mẹ. Tôi về đây là phải kê vai vào cái gánh nặng gia đ́nh mà nó đảm trách mấy chục năm nay.
    Tôi không c̣n suy nghĩ cân nhắc ǵ nữa. Đă từng lội tới vĩ tuyến 17 để phóng qua bờ Nam. Bây giờ đă về Nam. C̣n ǵ cản trở tôi được nữa? Vấn đề là thời gian và cơ hội.
    Tuy không tin rằng Hai Nghi theo dơi tôi, nhưng tôi vẫn gờm gờm, cảnh giác. Một bữa Hai Nghi hỏi tôi:

    – Việc vợ con tính sao th́ tính đi chớ. Su hào không cấy, nay ao nhà cũng chê nữa sao?

    – Tính ǵ được mà tính? Mày thấy đó, trong khu ḿnh đâu có con gái?

    Hai Nghi cũng như Tám Không, không úp mở:

    – Để tao gả em gái tao cho !

    Nói xong Hai Nghi móc bóp lấy h́nh.

    – Đây coi đi. Chịu tao gả liền.

    Tám Không lên tiếng:

    – Tao hứa gả em gái tao cho nó rồi nghe mậy!

    – Th́ hễ nó chịu đứa nào nó cưới đứa nấy.

    Tôi tưởng hai thằng bạn nói chơi , nhưng cả hai đều làm thiệt. Hai Nghi nhờ bà vợ của ông Xă ủy đi lên Châu Đốc móc dùm gia đ́nh. Nghi đă móc gia đ́nh từ trên R ngay sau khi lội Trường Sơn về tới. Bây giờ nó chỉ đường cho bà Xă ủy rành rọt từng bến xe, con lộ và lối vào nhà. Bà Xă ủy rất tích cực. Được phân công xách gói đi liền.

    Tám Không cười ngất:

    – Rủi hai đứa chịu cả rồi làm sao?

    Hai Nghi cũng cười:

    – Cho hai cô nương đấu boa nha, bắn tên hoặc lội đua, chạy bộ thi nhau. Cô nào thắng th́ được.

    Trong khi chờ đợi tin hồng, Hai Nghi kể cho nghe về nàng và thân thế gia đ́nh. Hai Nghi là con cả trong nhà. Cô em thứ Năm và tên Năm. Cha làm giáo học đă qua đời. Có nhiều nơi gắm ghé nhưng Năm không ưng nơi nào. V́ lấy chồng th́ phải là người quốc gia, như vậy là “chỏi” với anh Hai, làm sao ngồi ăn cơm chung được? Riêng bà già th́ rất thương thằng con trai.
    Bà nguyện rằng chừng nào Hai Nghi về nhà được ngồi ăn cơm với ông già th́ bà xuống tóc đi tu. Như vậy là ḥa hợp với nhau rồi. Về sắc diện, Năm trên trung b́nh, nếu không nói là đẹp. Con gái thành dầu hèn cũng thể. So với gái Hà Nội thời xă nghĩa th́ … Hà Nội ôi, đau thương điêu tàn.

    Cô Năm mặc áo dài trắng đứng bên bụi mai trước nhà. Bông mai nở vàng tươi càng làm cho cô giáo duyên dáng. Ông cán Mùa Thu thấy chịu quá trời. Hai Nghi phụ nhĩ:

    – Con nhỏ rất khó tính nghe mậy. Ngoài ra nó đ̣i hỏi chồng nó phải có tài. Nó không chịu hạng thanh niên hoặc những giáo viên ngang hàng với nó.

    Tôi cười:

    – Vậy th́ kể như tao không dự nổi rồi.

    – Sao?

    – Tao có tài ǵ đâu ngoài cái tài trèo núi và sốt rét?

    Tám Không chen vô:

    – Giỡn hoài may. Mày c̣n tài nhịn đói nữa chớ. Nếu lấy nhau mà nhà thiếu gạo nấu th́ mày nhịn cho nó ăn.

    Hai Nghi hỏi Tám Không.

    – C̣n em gái mày th́ sao?

    – Hễ bên trai đồng ư th́ bên gái gật liền.

    – Nó có giống mày không?

    – Không! Nó không giống tao chút nào!

    – Sao vậy?

    – Giống tao th́ ế làm sao? Đây coi h́nh nó nè . Đâu có xấu ǵ cho lắm.

    Suốt ngày ba đứa mắc vơng dụm đầu nhau nói chuyện trên trời dưới đất. Hai thằng đều xưng anh và gọi tôi bằng “dượng”. Nhờ vậy mà cuộc sống cũng đỡ nhàm. Đâu có đề tài ǵ để sáng tác. Cải cách ruộng đất theo đảng nhận định là cuộc cách mạng nông thôn long trời lở đất, nhưng đâu có tác phẩm văn học nào coi cho được.
    Kể cả ông văn sĩ thượng thặng Tô Hoài cũng c̣n không viết được truyện nào nữa là ai ! Rồi bây giờ đến cách mạng Giải Phóng Miền Nam, có tác phẩm nào thể hiện được nó không? Dăm bài thơ cóc gặm, vài quyển truyện táp nham, sau này tôi có đọc .... thấy mắc cở, toàn chuyện láo. Do đó mà tôi vứt cả thùng đại liên đựng tác phẩm của tôi viết về Đồng Khởi mà về Sài G̣n, không tiếc rẻ.

    Tám Không chưa dựng được vở kịch nào. C̣n tôi ráng phịa một số chuyện. Không biết bộ phim “Binh Biến” của Hai Nghi sẽ thực hiện ra sao? Đây xin nói luôn để sau khỏi mất công. Sau một năm đóng đô ở nhà Má Bảy và điều tra từ trung sĩ Út Bùi đến ông già bà già của trung sĩ, rồi nghiên cứu luôn cả vợ con của anh ta, Hai Nghi vác máy không về R , với cái kịch bản c̣n nằm trong bụng.

    Hai hôm sau bà Xă Ủy đi về mang theo vô số đồ ăn và quà cáp. Nh́n đó th́ biết sự sung túc của Miền Nam và nền văn hóa của nó, cái nền văn hóa mà Hà Nội luôn luôn chửi rủa là “cao bồi, lai căng, phi dân tộc phản khoa học v.v… “

    Tôi nh́n những gói mứt me, mứt ổi, mứt bí, bánh tét, bánh gai, bánh bông lan của gia đ́nh Hai Nghi gởi cho th́ tôi biết được nền văn hóa Miền Nam không cần phải đọc sách.
    Rồi những cái túi ni-lông đựng hàng, những chiếc áo thun, áo sơ mi, những cây bút bi, những bánh xà bông thơm, những túyp kem đánh răng, những thùng xà bông bột giặt đồ, tất cả đều mang nhăn hiệu Việt Nam. Ngoài ra tôi c̣n để ư đến cả cách gói, cách đựng. Những chiếc túi ni- lông có quai xách cẩn thận.

    Khi ở Hà Nội, tôi có tiếp xúc với nhà bác học Lương Định Của, người Sóc Trăng đă từng du học Nhật. Đỗ bằng tiến sĩ nông học xong , về Sài G̣n làm Bộ Trưởng Canh Nông (?) th́ êm đời rồi. Không biết nghe lời ai lại dắt bà vợ Nhật nhảy ra Hà Nội. Tưởng thiên đường ai dè rơi xuống địa ngục. Bất măn đầy ḿnh nhưng đă muộn. Sau 1975, đi tàu bay về Sài G̣n.
    Vỡ mộng cày cấy đồng ruộng quê nhà . (Tôi sẽ viết rơ ràng hơn vụ này trong truyện “Mười Năm Mưa Phùn Gió Bấc” đang soạn). Chính ông Của nói về cái “văn hóa gói đồ” của tư bản cho tôi nghe. Gói đồ cũng là văn hóa ư ? Mà thật đó là văn hóa.

    Văn hóa gói đồ của Hà Nội th́ sao? Bạn vô mậu dịch Đại Bách Hóa Tổng Hợp ở phố Tràng Tiền, sau khi xếp hàng mỏi rụng gị mới mua được món hàng, nếu may mắn không bị cảnh “hết hàng”.
    Thí dụ mua cục xà bông. Cô mậu dịch viên lấy cục xà bông nguyên xi được cắt tay góc cạnh méo mó ném cái “cộp” trên mặt quày, rồi lặng lẽ vùa tiền. Ai mua được món hàng đều cũng cảm thấy mất nửa kí lô thịt trong người, hoặc vừa đầu thai kiếp khác.

    Đó là văn hóa mua đồ và gói đồ của Miền Bắc xă nghĩa mà tôi phải nhớ lại , khi nh́n thấy những gói đồ của tụi tư bản đế quốc Sài G̣n. Thế nhưng nhờ đài Phát Thanh Hà Nội và báo Nhân Dân mà dân Miền Bắc và thế giới đều “hiểu” rằng dân Miền Nam đang bị Mỹ Ngụy bóc lột tận xương tủy và.. đói.

    (Chuyện ḷng tḥng nói hoài không hết, quờ đâu đụng đó độc giả ơi. Tôi sống ở Miền Bắc có mười năm mà nói cả đời không hết.)

    Xin trở lại việc móc gia đ́nh của ông bạn tôi.

    Bà Xă Ủy tự coi như ḿnh đă lập được một chiến công. Bà mở các món ăn: nem, gị, thịt quay, bánh hỏi, bánh ḅ, cả keo tương ớt và tỏi hành ngâm dấm, nói chung là một bữa tiệc đă nấu sẵn. Chỉ cần dọn ra … ván.

    Cả bọn cán Mùa Thu chúng tôi được ăn ngon, ăn nhiều, ăn đă đời. Nhưng chưa hết. Bà Xă Ủy c̣n để lại một phần dành cho ngày mai. Ăn xong chúng tôi được hủ hóa bằng nhiều thứ bánh kẹo. V́ gấp rút gia đ́nh thằng bạn không làm kịp. Đây chỉ là bánh bà mua ở bến Bắc Vàm Cống. Các thứ này ở toàn Miền Bắc chỉ có một hiệu bán thôi.
    Đó là hiệu bánh Bodega ở Tràng Tiền, khu phố văn minh nhất Hà Nội. Nhưng vẫn xếp hàng ră gị mới mua được … cái bánh kem ! C̣n đây là các thứ bánh mà bà Xă Ủy mua ở bến Bắc , trong lúc gấp rút lên xe xuống xe , chớ không phải ở thủ đô Sài G̣n. Màn la-sét bánh xong , đến lớp cà phê, thuốc lá Cotab, Ruby Queen, Nestcafé v.v…

    Ăn uống no nê, chúng tôi lên vơng lắc lư t́m hứng với khói thuốc thơm nghe đài BBC hoặc “vọng cổ của ủy mị , của Sài G̣n phản động” . Bà Xă Ủy mới tới tỉ tê với tôi:

    – Nhà không giàu lắm, nhưng thiệt sang. Đồ đạc bóng lộn. Mấy chục năm nay ḿnh toàn ở cḥi nên tưởng ai cũng ở cḥi như ḿnh. Cô giáo ngộ như Tiên Nga. Tui thấy tôi c̣n muốn nữa là cậu. Tui tới một lát th́ cổ đi dạy đạp xe đạp về. Người ta mặc áo dài trắng, guốc cao gót, g̣ má thoa son chớ không phải c̣i cọc như con gái vùng ḿnh. Ở đây cậu có đốt một chục cây đuốc lá dừa , cũng không t́m ra một người như thế.

    Cùng với tấm ảnh của Hai Nghi đưa cho tôi xem, những lời mô tả của bà Xă Ủy làm tôi nôn lắm. Già khú rồi ở đó mà trông núi này núi nọ. Em út tôi đều trách tôi như thế. Tôi có trông núi nào đâu, nhưng phải có một sự tương đồng và giao cảm.
    Có những người con gái vừa gặp nhau là yêu nhau liền, có những người sống chung cả đời cũng vẫn như hai thanh sắt đường rầy xe lửa, chạy song song mà chẳng bao giờ gặp nhau. Phải không cô? Lần này chắc là may mắn. Bà Xă ủy nói liên miên rồi bảo:

    – Cậu thiệt khôn!

    – Sao vậy chị?

    – Cậu biểu tôi lên tới nhà th́ xin phép bác gái đốt một cây nhang trên bàn thờ bác trai. Tôi làm y như lời cậu. Bà già ngạc nhiên hết sức. Tôi thưa thiệt rằng đó là do cậu dặn, chớ không phải tôi tự động. Bà già chịu lắm, khen cậu biết lễ nghĩa, đi xa nhà mấy chục năm mà vẫn c̣n giữ được phong tục của ông bà. Bác nói hễ anh nó chịu th́ bác chịu. Vậy th́ chắc được rồi chớ ǵ.

    Tuy bà mẹ nói vậy mà Hai Nghi vẫn nhờ bà Xă Ủy đi rước mẹ xuống để coi tôi rồi sau đó mới cho phép Hai Nghi rước em gái xuống. Th́ đă biết ở miền Nam khác miền Bắc xă hội chủ nghĩa như thế nào. Không phải một tô nước vối là nên vợ nên chồng.
    Cuối cùng cô giáo Năm được bà Xă Ủy rước xuống. Lúc này t́nh h́nh c̣n yên ổn, nghĩa là độ một tháng mới có chụp lớn một lần. Nhờ vậy mà chúng tôi có th́ giờ nói chuyện với nhau. Ban ngày vợ chồng ông Xă Ủy đi làm ruộng. Tám Không đi “t́m đề tài”. Hai Nghi đi nghiên cứu vụ “Binh Biến”, chỉ c̣n tôi và cô giáo ở nhà ông Xă Ủy.

    Năm nói chuyện rất có duyên. Nàng nói liên miên. Tôi cũng vậy. Dường như tương tri với nhau từ kiếp trước bây giờ mới gặp nhau. Năm thích làm thơ và biết làm thơ nữa. Đêm cuối cùng chúng tôi thức gần tới sáng, đêm ngắn t́nh dài. Chúng tôi làm chung những bài thơ, vẽ chung những tấm bản đồ … Nghe tiếng đ̣ mở máy, tôi xốn xang trong ḷng. Đây là giờ biệt ly .


    Mai tiếp ....

  3. #4673
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Tôi và Hai Nghi đưa nàng ra bến. Hai Nghi nhường cho chúng tôi đi trước. Chúng tôi đi song song trên những bờ ranh ướt sương, ḷng se lại trước phút chia tay.

    – Em có lạnh không?

    – Không? Cảm ơn anh.

    Khi ra đến đường lớn chúng tôi dừng lại dưới một tàng cây cháy trụi. Tôi ngồi xuống với cớ sửa quai dép cho nàng để sờ bàn chân của nàng. Đôi bàn chân nhỏ xíu, gót hồng như một cánh sen. Tôi khẽ bảo.

    – Chân em lạnh đây nè !

    Nàng vuốt tóc tôi. Tôi bỗng cúi xuống hôn bàn chân lạnh ngắt của nàng. Chúng tôi đứng lại rất lâu. Đ̣ máy đă rúc c̣i lần thứ ba. Không c̣n th́ giờ nữa. Bỗng nhiên Hai Nghi quay lại bất ngờ bảo:

    – Bữa nay khách đông quá, trở lại. Mai mốt sẽ đi.

    Chúng tôi ngoan ngoăn nghe theo, quay lại cḥi. Bà Xă Ủy nói oang oang:

    – Tui có ư kiến như vầy. Cậu Nghi có nghe th́ nghe, không nghe th́ thôi đừng rầy tội nghiệp nghen.

    – Chị nói đi.

    – Tôi thấy hai bên xứng đào xứng kép quá chời rồi. Một bên là cô giáo một bên là nhà báo. Thời buổi chiến tranh này, có nhiều ông Mùa Thu về tới nơi bà già cưới vợ dắt xuống cho , chớ không có coi tới coi lui ǵ hết. Vậy mà cũng vui vẻ chớ có sao đâu. Cậu Vũ và cô Năm đă t́m hiểu mấy ngày rồi. Bên cô Năm th́ có anh trưởng nam gia đ́nh, c̣n bên cậu Vũ th́ có ông nhà tôi đại diện đảng chủ hôn. Lấy cḥi tôi làm địa điểm đám cưới. Vợ chồng tôi sẵn sàng tản cư cho vợ chồng mới muốn ở mấy ngày th́ ở.

    Hai Nghi nói:

    – Tụi tôi th́ dễ rồi, nhưng phải có ba má đôi bên cho phép.

    – Nếu vậy th́ tôi lên Châu Đốc rước bà già cậu xuống, xuống Cầu Mống rước bà già cậu Vũ lên, khó ǵ!

    – Vùng tôi ở khó đi lắm chị ơi!

    – Tại sao?

    – Má tôi ở ngoài vườn, chị đi vướng lựu đạn gài của mấy ông mănh ... chết!

    – Cậu sợ chớ tôi th́ lên trời tôi cũng không ngán. Hai cậu có ư kiến ǵ nữa không? Hay là tôi dắt cô Năm xuống Cầu Mống rồi mời bà già vô. Hai cậu muốn cách nào tôi phục vụ cách đó. Tôi không đ̣i ăn đầu heo đâu mà sợ, chỉ xin uống một hớp rượu đám cưới thôi.

    Hai Nghi nói:

    – Để tôi tính. Chị làm nôn quá tôi rối trí!

    Đêm đó tôi và Hai Nghi bí mật bàn với nhau. Cuối cùng hai đứa thống nhất ư kiến: ngày mai dắt cô giáo về quê ngoại tôi ở Cẩm Sơn tŕnh diện.

    Sáng sớm thức dậy ăn bánh dừa uống trà rồi sửa soạn khởi hành. Cô giáo phải bỏ lốt thành thị khoác áo giải phóng. Áo bà ba đen, quần đen, nón lá mà Năm đă chuẩn bị từ nhà để ra khu thăm anh, vai mang ba lô, làm cán bộ.

    Bà Xă Ủy ngắm nghía rồi cười:

    – Coi xứng quá trời.. Vợ chồng cán bộ đi công tác.

    Thế là cuộc hành quân bắt đầu. Ở trước cḥi, cái bờ ranh có một khúc đứt. Tôi lội qua trước rồi quay lại đưa tay kéo nàng. Bỗng bà Xă Ủy la lên:

    – Khoan đă ! Cái bắp chuối cô Năm trắng quá , không được! Phải lấy bùn bôi vô.

    Cô giáo giật ḿnh buông hai ống quần xuống và đứng ngơ ngác không biết làm ǵ. Tôi trông thấy đôi chân người đẹp quả là “ngọc túc”. Nếu không có ai ở đây tôi sẽ hôn mỗi chân một cái rất say đắm. Tôi có tánh nhát gái mà lại !

    Hai Nghi thấy em ngượng ngùng bèn bảo:

    – Em đừng xăn quần lên nữa. Cứ để tự nhiên như thế.

    Chúng tôi đi một mạch xuống tới Cẩm Sơn. Tôi dắt thẳng đến nhà cậu Ba rồi nhà ông Nhứt tôi. Ông Nhứt lẫn cậu mợ tôi đều bảo:

    – Con nhỏ coi được lắm!

    Ông Nhứt c̣n hứa:

    – Nếu má cháu không lên được, ông đại diện đàng trai cho! Hoặc ông sẽ lên Châu Đốc nói chuyện với đàng gái!

    Cán bộ Mùa Thu cưới vợ c̣n khó hơn Lưu Bị sang Giang Đông làm rể! Trên đường về nàng cứ hỏi tôi:

    – Khu giải phóng như vầy sao anh?

    – Nghĩa là sao?

    – Em đâu có thấy cái nhà nào. Toàn cḥi là cḥi.

    – Trước cách mạng, vùng này cũng như những nơi khác nhà ngói nền đúc rất đông, nhưng từ khi cách mạng nổi lên, nhà ngói bay hết ngói, c̣n nhà nền đúc sụp luôn.

    Hai Nghi tưởng tôi nói hớ, bèn bẻ lái:

    – Đó là do bom đạn Pháp và Mỹ phá hoại đó chớ.

    Tôi cứ nói rấn tới.

    – Nếu nhà em mà ở vùng giải phóng th́ cũng vậy thôi ! Cách mạng tiêu thổ kháng chiến tới hai lần. Lần trước c̣n sót cái nền nhà. Lần này cả nóc lẫn nền đều bay hết.

    Hai Nghi biết không thể sửa mũi miệng tôi được bèn lảng sang chuyện khác.
    Về tới cḥi bà Xă Ủy th́ trời chiều. Ông Xă Ủy vừa giở chà bắt được một mớ tôm. Ông bảo vợ làm món tôm nhúng dấm cuốn bánh tráng. Tôi ngồi bên cạnh nàng. Chúng tôi hăy c̣n giữ thế với nhau. Nhưng bà Xă Ủy th́ cứ bô bô cái miệng:

    – Cưới hỏi nhau rồi, ông nhà tôi sẽ phụ giúp cất cho cái cḥi. Rồi nuôi vịt nuôi gà. Có chụp dù th́ chạy. Ối, ở đây chụp dù như cơm bữa. Có chết chóc ǵ đâu.

    Khuya hôm đó tôi lại đưa nàng ra đ̣. Tôi nắm tay đưa nàng lên tấm ván dài rung rung bắc từ bờ lên mũi đ̣ . Nàng dừng lại. Tôi đưa tay nàng lên môi hôn ... rồi hôn lên má nàng. Tôi muốn hôn môi nàng nhưng nàng ngăn lại, thầm th́:

    – Để dành anh ạ !

    Đ̣ đă đông nghẹt, nhưng khách c̣n ào ạt xuống. Dân giải phóng toàn đi chợ tỉnh thành. Tôi và Năm vẫn đứng ở mũi đ̣, tay trong tay không muốn rời. Không biết phải nói những ǵ với nhau trong phút chia tay. Tôi chỉ bảo nàng :

    – Em về nhà kính lời anh thăm bác và đốt dùm anh cây nhang trên bàn thờ bác trai.

    Nàng nói với một giọt lệ trong khóe mắt.

    – Kính lời thăm má và đốt nhang trên bàn thờ ba chớ không phải đốt dùm và bác trai !

    Người tài công đến mở dây , sửa soạn cho đ̣ rời bến. Tôi đành bước lui để anh ta rút tấm đ̣n dài, chiếc cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ thời đại trực thăng vận. Tôi bước nhanh xuống và quay lại nh́n mũi đ̣ quay ra, vẫy tay. Tay nàng như cành hoa huệ trắng xa dần rồi lẫn vào đám đông. Tôi thầm tiếc đă hôn nàng quá ít. Một tiếng thầm th́ bên tai tôi.

    – Hè sau nó sẽ xuống !

    Tôi nhận ra Hai Nghi. Hai Nghi lôi tay tôi. Chiếc đ̣ đă ra giữa sông. Chân vịt quay tung nước trắng xóa sau lái, nát ḷng kẻ đứng trên bờ lẫn người đi. Năm sau, nghe chừng lâu quá và có gặp nhau nữa chăng?

    Ôi cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy? Câu văn đơn sơ nhưng thấm thía vô cùng của lớp Đồng Ấu bỗng bừng dậy trong ḷng tôi. Và một bài hát xưa lại trở về tâm trí như có ai khẽ hát bên tai tôi:

    Theo gió thuyền xuôi, sóng đưa bè trôi
    Tiếng đàn trầm trầm, man mác ḷng tôi
    Nh́n con thuyên xa bến, ḷng tôi càng lưu luyến
    Hát khúc chia ly cho trái tim năo nùng đôi chút

    Cho tiếng tơ thêm càng giéo giắt
    Tiếng đàn trầm trầm, man mác ḷng ai
    Non nước trời mây cách xa từ đây
    Ta khóc biệt ly, khóc cho người đi

    Không c̣n ngày về chia mối t́nh si.

    Đây là bài hát “Thuyền Xa Bến” của Dzoăn Mẫn mà thời kháng chiến chống Pháp tôi đă thuộc ḷng và cũng là bài ruột của tôi. Thời đó nào biết yêu , nào biết chia ly nhưng cũng thấy nó hay th́ bây giờ càng thấy h́nh như tác giả sáng tác bài này cho tôi. Thiệt là năo nùng.

    Hai Nghi cứ nhắc lại câu , như điệp khúc của bài hát:

    – Năm sau, mùa nghỉ hè là sẽ gặp nhau rồi tính.

    Với sự hậu thuẫn của Hai Nghi, cuộc hôn nhân được mọi sự thuận lợi. Không có một trở lực nào nữa, ngoại trừ t́nh h́nh giặc giă. Nhờ cơ sở quân báo của Bảy Quế mà tôi nhận được thư của Năm luôn.
    Trạm giao liên là quán cô xẩm lai ở chợ. Quả thật tôi đoán không sai. Bảy Quế đă móc với hai Tịnh, trưởng quân báo tỉnh và là người Cầu Mống bạn học cũ , thời đồng ấu của tôi. Do đó cứ một tuần hoặc mươi ngày tôi đến trạm cô xẩm nhận thư hoặc gởi thư. Tin nhạn đi về không dứt. Nàng làm thơ, kư tên tắt là B, gởi cho tôi .. Tôi cũng làm thơ đáp lại, kư tắt là K, gởi cho nàng.

    Thời kỳ này tôi tạm gác những dự định về tiểu thuyết Đồng Khởi v́ bận làm thơ. T́nh h́nh quá căng thẳng, cứ sáng thức dậy là ngồi ngóng con đầm già . Nếu nó xách đuốc đi soi vùng khác th́ mới yên tâm , ngày đó ḿnhh c̣n sống.
    Có khi suốt buổi sáng êm ả, nhưng chiều lại bị chụp. Có khi chạy liên hoàn hai ba ngày không về được nhà. Do đó tôi phải chuyển qua làm thơ. Khi nào yên ổn th́ lẩm nhẩm trong bụng rồi tối về mới ghi ra. Tôi đă làm xong một tập thơ tên là “Bến Tre Xanh Măi Bóng Dừa” gồm cả ngàn câu song thất lục bát. Tôi đem cho tỉnh ủy để họ điện về R, để chứng minh rằng ông có hoạt động chớ không phải nằm ỳ, ngâm cứu dưới hầm cá trê như bọn tỉnh ủy.


    Mai tiếp ....

  4. #4674
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Tập thơ này về tới khu II tức chiến khu VIII của Trần Văn Trà hồi kháng chiến. Nơi đây một thằng bạn nối khố của tôi, thi sĩ Lê Nguyên tức Lê Xí, tiếp nhận một cách nồng nhiệt. Hắn cho đánh máy ra thành nhiều bản để phổ biến v́ nhà in của Khu bị lính Sài G̣n “mượn tạm” vô thời hạn rồi. Chuyến băng đồng chó ngáp năm trước của tôi bị ngưng và tôi phải lội hai lần cánh đồng ấy chính là v́ cuộc chụp dù bóc đi cái nhà in này. Vài bài thơ xướng họa của hai đứa tôi c̣n nhớ, tạm ghi ra như sau:

    HOA ĐỨNG MỘT M̀NH

    Một đóa hồng tươi đứng giữa vườn
    Đọng giữa ḷng hoa một hạt sương
    Bỗng trận Mưa Xuân đâu chợt đổ
    Hoa nghiêng cánh hứng giọt sầu vương
    Rồi con bướm nhỏ từ xa tới
    Làm hoa thêm sắc đậm thêm hương
    Từ đó hoa không cô độc nữa
    Trong ḷng nghe dậy nhạc yêu đương.

    B.

    Bài thơ được ướp nước hoa. Một sợi tóc bao quanh bài thơ với ḍng chữ: Tặng anh “sợi tóc người xa”, đó chỉ là
    nét vẽ của nàng, c̣n sợi tóc thật th́ không bao giờ tới.

    TÓC EM

    Tóc em một ngọn cỏ thơm
    Giữa ḷng ai mọc chập chờn hương say
    Tóc em một đóa vân bay
    Cho anh buộc cuống tim này vào em
    Tóc em một chuỗi hạt huyền
    Cho anh buộc bến, buộc thuyền vào nhau
    Tóc em một sợi tơ đào
    Bao nhiêu sóng gió cuốn trào hồn ai
    Sắc màu nhạt, tóc không phai
    Anh đem nối lại cho dài anh ta.

    K.

    KHÔNG ĐỀ

    Trong ḷng dường có bụi gai
    Nghiêng qua gai sẽ móc trầy trái tim
    Trong tim dường có mũi kim
    Trở ḿnh kim chích nằm yên được nào
    Trong ḷng như có lưỡi dao
    Mỗi lần tim bóp nghe đau vô ngần
    Trong tim dường có chuông ngân
    Như ru ba tiếng (… ?) như gần như xa
    Gọi tên ai ấy tên ta
    Giữa hai lần đập, chính ta gọi chàng
    Tiếng tim trăn trở mơ màng
    Canh chầy thao thức chắc chàng gọi ta…

    B.

    CÁI HÔN

    Cho anh hôn gót chân ai c̣n dính đất quê hương
    Cho anh hôn tóc ai mùi xoài cam ổi chín c̣n vương
    Cho anh hôn đôi má ai rám nắng miền quê ngoại
    Cho anh hôn đôi môi ai c̣n ngọt ngụm chanh đường
    Cho anh hôn mũi đ̣ in dấu chân em đẫm nước
    Cho anh hôn bờ ranh đứt, cỏ ướt mù sương.

    K.

    Trong một lá thư tôi có viết cho nàng: “Khi em trở lại quê anh, em hăy gói đem xuống cho anh một ḥn đất quê ḿnh em nhé!” Nàng viết thư hỏi tôi:

    Quê em mênh mông, có kinh Vĩnh Tế
    Có núi Thất Sơn, có đền Bà Chúa
    Có trái bần khô khỉ bạc đầu (*)
    Có lăng của Thoại Ngọc Hầu
    Em biếtt ḥn đất nơi đâu mà t́m ?

    B.

    (*) Một vài câu trong bài thơ cổ, nàng trích ra trong quyển sách ca tụng Thoại Ngọc Hầu.

    Tôi đáp:

    Nơi nào em đứng,
    Th́ nơi đó là quê hương yêu dấu của anh.

    Ít lâu sau, tôi nhận được một gói nhỏ và một phong thư trong đó có câu thơ:

    “Gởi anh hương vị quê hương
    Kết tinh của cả t́nh thương nồng nàn. “

    B.

    Tôi mở ra vài lần giấy bọc, tưởng là ḥn đất Quê Hương yêu dấu, nhưng không phải. Đó là táng đường Thốt Nốt, mà nàng bảo là Thốt Lốt. Táng đường nhỏ nhắn màu nâu như đất, nặng như tim, trong chiến dịch Long Châu Hà năm 1951 mà giờ đây tôi mới được nếm vị ngọt Quê Hương.

    Kèm theo thư và thơ c̣n có những tấm h́nh màu: Đền Thờ Bà Chúa Xứ Châu Đốc, cảnh sông nước miền Tây, và chiếc lồng chim với chú chim lạ.

    Nàng chú thích rất rơ từng tấm một: Ngôi đền ở chân núi Sam thờ Bà Chúa Xứ rất linh thiêng hằng năm dân chúng khắp nơi đến cầu nguyện và xin ơn của Bà. Để khi có dịp, em sẽ dẫn anh đến viếng đền.

    Cảnh sông nước miền Tây – Đây là sông Cái Cối Bến Tre. Em nhờ người bạn mua dùm để em tặng nh́n cho đỡ nhớ nhà .

    C̣n ảnh chiếc lồng chim: Đây là con Yểng rất khôn, biết nói. Em cất nó trong nhà để nó chỉ nghe tiếng người và quên tiếng chim. Em đă dạy nó nói được hai tiếng “Chào anh!” Em sẽ tập nó nói “Chào anh yêu mến”.

    Tôi đưa cho Hai Nghi xem. Hai Nghi lấy làm thích thú.

    Hắn nói:

    – Cô giáo mà có lai thi sĩ!

    Tôi bèn viết ngay bốn câu thơ:

    Uớc ǵ anh được làm chim
    Sống trong lồng sắt trái tim một “Bà”

    Tôi đưa cho Hai Nghi đọc. Đọc xong, hắn bảo.

    – Bài thơ này hay nhất là chữ Bà.

    – Tại sao?

    – Mày viết ra mà c̣n hỏi. Bà nào?

    – Bà Chúa…! Mày cũng có Bà. Tao cũng có một Bà. Mỗi thằng đều có lỗ trên đầu để cặm nhang thờ Bà, hà hà …

    T́nh h́nh càng lúc càng căng thêm. Các đại đơn vị Sư Đoàn 7 và Sư Đoàn 9 Bộ Binh Sài G̣n phóng những mũi lao ác liệt vào vùng giải phóng. Sau khi càn, các đội B́nh Định tới chiêu an dân chúng rồi địa phương quân đóng đồn. Trước t́nh h́nh bi đát này, tổ tam tam chúng tôi tan ră . Mỗi đứa đi một nơi. Hai Nghi vác máy về R bỏ lại cái bộ phim “Binh Biến”.

    Tôi và Tám Không cũng chia tay nhau. Tám Không hết hạn thăm nhà một năm rưỡi nên phải quảy ba lô đi miền Tây nhập đoàn với văn công của ông Ba Nha. Tám Không phịa sáu cái tựa kịch là Trăng Giải Phóng, Nước Giải Phóng, Mặt Trời Lên ở Hướng Này … nhưng chỉ là những cái tên, c̣n màn lớp th́ chưa … dựng. Ai diễn mà dựng ?

    Tôi c̣n ở lại nhà chú Nhứt một ḿnh, buồn vô hạn. Nhưng buồn không bằng sợ. Sợ bị chụp dù không có bạn để chạy chung, rủi bị thương không ai biết sẽ chết dọc đường. Thời may có anh Tư Mô người hùng của R đến.

    Tư Mô là người Bến Tre, thi sĩ kiêm văn sĩ, kháng chiến từ 45 . Năm 1954, khi Một On Le Roy chiếm đóng toàn tỉnh Bến Tre th́ anh dắt vợ cơng con chạy vô miền Tây . Vợ làm kẹo dừa bán cho anh đi bỏ mối các quán lấy tiền sống đắp đổi ba, bốn năm liền. Sau 54 anh về thành viết văn rất nổi tiếng. Không biết tại sao đang ở Sài g̣n mà lại ra khu làm công tác tuyên huấn cho Trần Bạch Đằng.
    Khi tôi về tiểu ban Văn Nghệ th́ hai anh em xin đi công tác Bến Tre để sưu tầm tài liệu Đồng Khởi. Về đến tỉnh nhà anh vọt qua Cù Lao Bảo thăm nhà, nhưng quê nhà bị lính đóng đồn. Anh bèn trở qua Cù Lao Minh gặp tôi. Đúng là kẻ thắt ruột thương người ruột thắt, mắt châu rơi khóc mắt rơi châu.

    Anh bảo t́nh h́nh bên Cù Lao Bảo cũng không yên ổn. Hai đứa bèn chung tay với nhau đào một cái hầm cá trê ở gần bờ rạch Cái Chát Nhỏ thuộc xă An Thai. Nhưng xui quá, đào gần nửa đêm uống hết ba b́nh tích trà đậm nhăn hiệu Con Khỉ Hộc Máu th́ đụng nhằm một tấm ván. Hai đứa hè hụi với nhau cả buổi mới lôi được tấm ván lên. Rọi đèn pin xem mới hay đó là tấm ván ḥm. Hai anh em sợ quá bèn bỏ luôn.

    Từ đó hai anh em sát cánh với nhau như h́nh với bóng trong lúc ngủ nghê, chạy ruồng, hoặc hàn huyên chuyện cũ Anh luôn luôn giục tôi cưới vợ. Nhưng có ai ở đây mà cưới. Anh bảo là khi nghe tôi sắp về tới, anh có ư cáp đôi tôi với một đứa cháu bà con của anh đang làm cán bộ của tỉnh ủy. Nhưng khi về đến nơi th́ anh mới té ngửa ra. Con nhỏ có bầu, phá thai rồi lại có bầu lần nữa. Khi anh về nhà th́ cô nàng lại đang phá thai.

    – Mặt mũi nó tôi không c̣n nhận ra nữa chú ơi ! … Bây giờ chuyện đă như vậy, tôi cũng không muốn cho chú biết làm ǵ. Cái bụng của tôi đối với chú là như vậy đó.

    Tôi bèn kể chuyện cô Năm cho anh nghe. Nghe xong anh bảo:

    – Thời này không mơ mộng được đâu chú ! Cái ǵ cũng phải thực tế. Cưới rồi ở đâu, ăn ǵ để sống, tiền đâu xài, khi ốm đau, vợ đẻ ở nhà thương nào, con nuôi cách nào, bom bỏ cà nông thụt có hầm trốn không? Hồi ở khu 9 chú thấy vợ con tôi khổ sở vậy đó. Nên rút kinh nghiệm đi chú .

    Một hôm hai anh em ghé nhà ông Xă Ủy. Bà Xă Ủy cũng bô bô cái miệng.

    – Tôi c̣n giữ một mớ đồ của cậu Nghi, không biết cẩu ở đâu mà giao lại.

    – Bộ chị đi lên nhà nó nữa hả?

    – Bà già dặn tôi đầu tháng trở lên để bà gởi cho cẩu và cậu. Tôi trở lên đem về cả đống đây, sợ bị chụp không biết giấu ở đâu. Trời ơi trời, cậu Vũ mà vô đó th́ kể như chuột sa hũ nếp. Coi t́nh h́nh êm êm th́ cưới cho rồi. Về đây ông nhà tôi cấp đất cho làm.

    Nói xong bà lấy đưa cho tôi một gói nhỏ. Tôi khui ra.
    Đó là một cánh hoa hồng ép, một sợi tóc dán trên trang giấy hồng và một bài thơ. Nhiều chữ bị nḥe, nhưng vẫn c̣n đọc được.

    Trời ơi ? Lửa Ḷng tôi mong thời gian và sự xa cách sẽ dập tắt đi, nhưng không, ngọn lửa lại bùng cháy mănh liệt hơn. Nhưng làm sao? Cách nhau chừng 150 cây số, mà không phương ǵ biết tin nhau được. Tôi lẩm bẩm mấy câu thơ định gởi nàng, nhưng rồi không gởi được. Tôi bỏ trong ba-lô bữa sau bị chụp đem nhận xuống mương.

    Vừa chạy đua với trực thăng vừa làm thơ t́nh, độc giả có ớn không? Bản t́nh ca bắt đầu là nhịp đi hùng tráng: Tempo di Marcta, đoạn cuối th́ Rumba TTKH.

    Đó là công thức muôn thuở của mọi khúc t́nh ca:

    Nếu biết rằng tôi đă “lấy” chồng
    Trời ơi người ấy có buồn không ?

    Năm 1968 sau khi tôi trở về Sài G̣n, tôi được mời đi nói chuyện ở rất nhiều nơi, trước nhiều đối tượng, dân sự, quân đội, trong đó có thể kể ra như sau: toàn thể sĩ quan của Sư Đoàn 25 Bộ Binh, Sư Đoàn Công Binh, các tỉnh Đà Năng, Mỹ Tho, Bến Tre, G̣ Công v.v… Một bữa sau khi chấm dứt cuộc nói chuyện ở G̣ Công, tôi vừa bước xuống khán đài th́ một sĩ quan đến vỗ vai tôi, hỏi:

    – Triết phải không? Tôi là Ngôn học Trung Châu nè .

    Tôi ngẫm nghĩ một lúc mới nhớ ra.

    – Mời anh về nhà chơi.

    Rồi nắm tay tôi lôi đi tới một chiếc xe jeep đậu gần đó. Tôi liền thấy quân hàm của Ngôn là thiếu tá. Chiếc xe do một thiếu úy lái chạy đến một biệt thự. Viên thiếu úy bước xuống mở cửa xe. Thiếu Tá Ngôn mời tôi xuống. Qua cách xưng hô của các vệ sĩ, tôi biết được Ngôn là quận trưởng.

    Ngôn vui vẻ :

    – Mời anh ở lại dùng cơm chiều với vợ chồng tôi.

    Chúng tôi ngồi ở pḥng khách. Ngôn nhắc lại những kỷ niệm thời trung học.

    – Cháu vào mời cô ra có khách đặc biệt!

    Ngôn bảo cô gái giúp việc vừa đem mâm trà ra. Ngôn vừa rót mời và khen câu chuyện của tôi tŕnh bày rất hấp dẫn: Không có vẻ ǵ chính trị cả mà lại rất chính trị. Chắc nhiều người phải sáng mắt ra. Tôi vẫn mang cái mặc cảm của một kẻ lầm đường nên ngồi nghe hơn là nói. C̣n Ngôn th́ cứ nói thao thao và giục tôi uống trà hai ba lần. Tấm cửa buồng bằng trúc bỗng rung động, rồi một người đàn bà vén màn bước ra. Tôi suưt kêu lên.

    Bà ta cúi đầu chào rồi ngước lên nh́n tôi. Bà sửng sốt. Ngôn bảo.

    – Em ngồi đây! rồi ḿnh hỏi chuyện anh Hai.

    – Em… em… vô xem sắp nhỏ nấu nướng.

    Người đàn bà nói xong quay vào ngay. Tấm mành trúc rung động và khua như một điệu nhạc lạ lùng vang động cả tâm can tôi. Ngôn nói:

    – Chúng ḿnh xa nhau trên hai mươi năm. Gặp nhau thật bất ngờ. Nhân dịp này tôi muốn hỏi , anh là nhà văn chắc có quen nhiều văn nghệ sĩ trong khu R.

    – Dạ tôi cũng biết nhiều nhiều.

    – Vợ tội có người anh ruột đi tập kết. Nghe bà nhạc tôi nói anh đó về trong này rồi. Bà nhạc và vợ tôi có vào trong khu thăm vài lần vào năm 1963, 64 chi đó. Rồi bặt tin luôn vài năm nay. Không biết ảnh hiện nay đi đâu mà không thấy cho người về.

    – Anh ấy làm ǵ trong khu ạ ?

    – Ảnh soạn kịch hay đạo diễn ǵ tôi không rơ.

    Ngôn đứng dậy bước vào trong một chốc rồi quay ra, bảo.

    – Vợ tôi nói là ảnh quay phim.

    – Quay phim th́ đông lắm, không biết anh nhà là cán bộ được đào tạo trong này hay từ Bắc về.

    Tôi quên Ngôn vừa nói là người anh đi tập kết. Ngôn lại vào rồi trở ra.

    – Ảnh từ Bắc về . Tên là Hai Nghi. Nhà tôi thứ Năm, ảnh thứ Hai.

    – Hai Nghi?

    Ngôn hỏi to vọng vào trong:

    – Anh Hai tên là Hai Nghi phải không em?

    Tiếng nói từ trong vọng ra.

    – Dạ. Hai Nghi. Ảnh có sang bên Đức.

    – Có, tôi biết Hai Nghi từ trong kháng chiến và trước khi vào Nam gặp nhau ở trường đi B cùng lội Trường Sơn. Khi xuống Bến Tre th́ chúng tôi lại gặp nhau vài lần…

    – Ảnh c̣n khỏe không ạ?

    – Dạ trước khi tôi về Sài G̣n vài năm tôi không nghe tin tức về anh ấy nữa.

    Bữa cơm hôm đó thật thịnh soạn. Ngôn rót rượu mời, chúc mừng tôi, và tỏ ư tiếc rằng phu nhân không ra dùng bữa với khách.

    – Đáng lẽ hôm nay vợ chồng tôi cùng dùng cơm với anh trong dịp vui gặp bạn cũ này, nhưng có lẽ nghe nhắc tới người anh trai nên vợ tôi buồn. Cô đang khóc và xin phép vắng mặt.

    Tôi ngồi lặng thinh cố kềm đôi đũa cho khỏi run và giữ vẻ mặt b́nh thường. Ăn xong, tôi lấy cớ có việc với đoàn thuyết tŕnh nên nhờ Ngôn đưa về khách sạn. Bỗng thấy tấm h́nh ông già trên bàn thờ, tôi nhận ra nét quen quen bèn hỏi Ngôn:

    – Xin lỗi, bác mất đă được bao lâu rồi anh?

    – Dạ, đây là nhạc phụ của tôi, c̣n thân phụ tôi hăy c̣n tại đường.

    – Xin phép anh cho tôi đốt cây nhang trên bàn thờ bác.

    Tôi nhớ Hai Nghi hao hao giống nên mới hỏi anh.

    – Cảm ơn anh. Anh cứ tự nhiên.

    Ngôn nói và lấy hộp diêm đưa cho tôi. Tôi đốt nhang cắm vào lư hương và cúi đầu. Ngôn nh́n tôi với vẻ ngạc nhiên:

    – Anh đi xa nhà lâu quá mà vẫn c̣n nhớ lễ nghi phong tục ông bà ! Thật là đáng quí.

    Ngôn đưa tôi ra xe. Viên thiếu úy đă mở máy. Tôi bắt tay Ngôn, lưu luyến. Sắp bước lên xe th́ thấy một người đàn bà ẵm một đứa bé đi ra. Ngôn vẫy tay:

    – Hoài Xuân ? Con ra ba bảo.

    Người đàn bà đi nửa đường rồi dừng lại thả con xuống chứ không đi tới nữa. Thằng bé lốc thốc chạy một ḿnh.

    Ngôn bế con lên.

    – Con bắt tay từ giă bác đi con.

    Thằng bé đưa tay ra. Tôi nắm lấy và hôn lên má nó.

    – Cháu ngoan quá . Lâu lâu cháu nhớ đốt dùm bác một cây nhang trên bàn thờ ông ngoại nghe.

    – Dạ.

    Tôi biết câu nói đó đối với nó là vô lư. Nhưng tôi đâu nói với nó. Tôi buông tay thằng bé, bước lên xe, trái tim dường có chuông ngân.

    Xe vọt tới, xốc lên mấy cái quanh sang bên phải. Tôi không quay nh́n lại mà vẫn thấy người đàn bà, thấy lại nàng như đứng ở mũi đ̣ năm nào, bàn tay giơ lên vẫy trắng như hoa huệ ...

    Hoài Xuân! ôi t́nh yêu! Đau Khổ và Hạnh Phúc. Ơn trên đă dành cho tôi cái ngơ cụt nào? Không biết. Nhưng chắc chắn cuộc hôn nhân bất thành là điều may mắn cho nàng vậy.


    Mai tiếp ....

  5. #4675
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Tư Mô có bệnh mất ngủ. Mỗi đêm anh phải uống vài viên Tranquinol mới chợp mắt được. Nhiều đêm tôi đánh một giấc thẳng thét, thức dậy nghe anh vẫn c̣n thao thức. Vào lúc nửa đêm mồng hai Tết Mậu Thân, bỗng anh đập tôi dậy:

    – Chú Hai ơi ! Ḿnh làm ăn to rồi, dậy nghe đài BBC.

    – BBC ǵ phát vào nửa đêm?

    – Bản tin đặc biệt!

    Nói xong anh vặn đài to lên :

    “Quân Việt Cộng đồng loạt tấn công mười lăm đô thị Việt Nam Cộng Ḥa, trong đó có thủ đô Sài G̣n, cố đô Huế, Đà Nẵng. Ở đồng bằng sông Cửu Long các thành phố lớn cũng bị tấn công. Đó là từ thị xă Mỹ Tho, Cần Thơ, Long An. . . “

    Cả nhà ông Xă Ủy thức dậy. Mọi người bàn tán xôn xao , phấn khởi. Chỉ có bà ngồi im. Rồi mặc cho tiếng nói từ đài vang ra ồm ồm, bà ngúyt ngang:

    – Tui hổng có tin cái đài mắc dịch này đâu.

    Tư Mô hỏi :

    – Sao vậy chị ?

    – Nó nói “xịa” không hè.

    – Nó nói theo phe ḿnh đó chị à !

    – Tui đi thành mấy chuyến rồi, tôi thấy Quốc Gia mạnh lắm, ḿnh lấy ǵ mà tấn công nổi mấy chục thành phố?

    Ông luôn luôn là “tiểu đội phó” của bà nhưng lần này thấy bà vợ mất lập trường quá lắm, ông không dám “chỉnh nhẹ bà tiểu đội trưởng” chỉ nói bọc xuôi nhè nhẹ rồi gợi ư:

    – Bà nấu cháo trắng ăn với muối quẹt để anh em tụi tôi bắt tin nghe chơi.

    Từ chiếc đài giọng nói lại oang oang:

    Bản tin đặc biệt: Quân Bắc Việt đă vô tới cửa ngơ Sài G̣n. Tân Sơn Nhứt bị tấn công. Quân Việt Nam Cộng Ḥa bỏ trại đi ăn Tết bị tấn công bất ngờ nên lúng túng chống trả. Tin vừa nhận được cho biết thị xă thứ 26 của Việt Nam Cộng Ḥa đă bị tấn công. Đại Sứ Mỹ đă điện về Hoa Thịnh Đốn nhưng chưa có chỉ thị của Tổng Thống Nixon.

    Tin mới nhất cho biết thị xă Bến Tre mà Việt Cộng gọi là quê hương Đồng Khởi cũng bị tấn công. Quân ông Thọ đơn độc chiến đấu, không có quân Bắc Việt giúp đỡ nên chỉ đánh ṿng ŕa thị xă không vào được bên trong.

    Thị xă Châu Đốc, thị xă thứ 27 cũng bị tấn công nhưng rất yếu ớt. Châu Đốc là một trong vài tỉnh có dân số Ḥa Hảo đông đảo nhất. Họ vốn căm thù Cộng sản nên Cộng sản không gây được cơ sở, ngược lại c̣n tự động chống Cộng. Do đó cuộc tấn công đă bị dập tắt ngay trong vài tiếng đồng hồ. Hiện quân VNCH đang phản công ở thị xă này. Rất đông lính Cộng sản bị bắt sống ở gần Đền Bà Chúa cách thị xă 5 cây số về phía Bắc.

    Thị xă Long An là thị xă thứ 28 bị tấn công. Quân ông Thọ ở đây khá mạnh nhưng cũng chưa làm nên cơm cháo ǵ. Long An được Hà Nội xếp hạng nh́ sau xứ Đồng Khởi Bến Tre quê của bà Phó Tư Lệnh Nguyễn Thị B́nh.

    Trở lại thị xă Bến Tre. Quân Cộng sản đă cho một vài toán vượt qua sông Cái Cối hay Cái Cồi ǵ đó nhưng không có phương tiện nên phải giật xuồng ghe của dân bơi qua, bị Nhân Dân Tự Vệ bên thị xă bắn ch́m chừng mười chiếc ghe. Trong khi đó, cách 15 km về phía Bắc, ở Mỹ Tho , quân ông Thọ với lực lượng hùng hậu của Quân Khu II đă vô được tới Cầu Quây và bến Tắm Ngựa. Mặt khác, phía chùa Vĩnh Tràng cũng có một mũi tấn công.

    Bổn đài đặc phái viên đang ở thị xă lớn nhất đồng bằng Cửu Long này vừa điện về cho biết quân ông Thọ đă vô được trung tâm thị xă với chiến thuật “A thần phù ” ǵ đó, có nghĩa là vô được rồi th́ không biết làm ǵ cả và bị quân địa phương – có thể là Sư Đoàn 7 đang đóng quân ở đây – chặn bít các ngơ ra.

    Xin thính giả đừng tắt máy. Chúng tôi sẽ tiếp tục loan tin không ngưng.

    Bà Xă Ủy vừa nấu cháo vừa nói:

    – Mấy thằng cha đó ở đâu bên Tây, làm sao biết được chuyện bên ḿnh. Cái Cối của người ta lại nói là Cái Cồi. Chuyện nhỏ c̣n nói trật, chuyện lớn làm sao nói trúng? Để sáng mai tui lên thị xă coi thử.

    Chúng tôi ăn cháo trắng với muối quẹt rồi lên vơng nằm nghe tiếp. Cứ mỗi năm phút lại có tin bổ túc thêm một vài thị xă thị trấn hoặc căn cứ quân sự bị tấn công.

    Sáng ra, tôi mở đài Hà Nội, bản tin sáng, bản tin vào Nam. Tin vọt ra ào ào không ngớt. Tất cả các thị xă đều bị tấn công. Và qua cái khí thế “ngàn năm một thuở” bọn tôi tưởng đă chiếm được toàn Miền Nam và Hồ Chủ Tịch sắp bay vô Nam rồi .. .

    Chẳng ngờ chỉ tới chiều th́ đài BBC trong bản tin 6 giờ 30 nói ngược lại hầu hết các bản tin đêm qua :

    “Quân Bắc Việt và quân ông Thọ đă bị chặn đứng ở cửa ngơ Sài G̣n. Đặc công Bắc Việt đă bị tiêu hao nặng hoặc đánh bật ra khỏi Tân Sơn Nhút. Chỉ có vài cánh tiến vô được trung tâm Sài G̣n nhưng có vẻ như đám quân ô hợp này không có đường hướng ǵ ngoài sự đốt phá vớ vẩn khi vô được tới đây. Họ không biết đường đi do đó cứ đâm đầu vào trận địa của Sài G̣n.

    Trong khi đó ở Mỹ Tho, lực lượng của họ đă vô trung tâm thành phố và bị tiêu diệt gần hết. C̣n lại bao nhiêu th́ bị tản mác, lạc lối và không có chỉ huy, không biết cả đường rút lui.
    Riêng ở Cần Thơ t́nh trạng của quân Bắc Việt càng thảm hại hơn. Họ tấn công sân bay Trà Nốc nhưng không đạt được kết quả nào. Ở Bến Tre , quân ông Thọ đang dùng chiến thuật hỏa thiêu các khu nhà ổ chuột để gây rối loạn ḥng t́m tối thoát. Có tin viên tiểu đoàn trưởng chủ lực của tỉnh này đă tử thương hoặc bị bắt sống. Cuộc tấn công ở tỉnh này chỉ c̣n lẻ tẻ và tuyệt vọng, nhưng h́nh như Cộng quân muốn kéo dài mồng Ba Tết.”



    Trên trời không có chiếc máy bay nào. Trực thăng, đầm già , phản lực đều vắng bóng. Chúng tôi tổ chức ăn Tết tiếp. Vừa ăn vừa nghe tin từ tất cả các đài BBC, VOA, Giải Phóng, Hà Nội. Tất cả radio Sony, Hitachi, của các cán gáo đều mở thường trực với tiếng loa lớn nhất.

    Đài Hà Nội phát những buổi đặc biệt, hết buổi này sang buổi khác. Tin tức, rồi b́nh luận rồi ca nhạc Lên Đường rồi ngâm thơ những bài thơ “từ miền Nam gởi ra” mà chúng tôi biết xuất xứ là Ủy Ban Thống Nhất ở Chợ Giấm của Nguyễn Văn Vịnh, rồi đọc thơ Tố Hữu “Phút thiêng liêng anh gọi Bác ba lần” v.v…Chúng tôi không ngồi yên được, nhưng không biết phải làm cái ǵ để hướng ứng “chiến dịch vĩ đại” này.

    Một tháng trước, tỉnh ủy họp bàn kế hoạch. Bộ đội được lịnh chuẩn bị. Tôi biết tiểu đoàn của Chín Chu chỉ được non hai đại đội. Vũ khí th́ râu ông này cặm cầm bà kia. Đánh với vũ khí hiện đại của Mỹ mà tội nghiệp thay, giải phóng quân cầm súng CKC bắn từng phát, chỉ khá hơn ba con ngựa trời một tí tẹo. C̣n súng tốt phần lớn là súng mua lậu của Sài G̣n và lượm ở mặt trận. Tỉnh cất giữ rất kỹ để “cơ hội ngàn năm có một” này đem ra dùng.

    Hại thay, Sài G̣n chơi đểu. Chúng bán súng mới toanh nhưng kim hỏa ngắn không thụt đụng hột nổ. Chúng vứt súng cũng mới toanh nhưng bắn vài phát rồi giật cu lách không ra. Giải phóng quân ta được vơ trang bằng hai loại súng cước cạnh này , nên chi trong đợt tấn công đầu đă phải tiêu hết gần một đại đội. Tiểu đoàn chỉ có hai đại đội. Ngoài ra toàn là du kích bị bắt ép đi ra trận , trộn vào tiểu đoàn. Đám này vừa nghe nổ súng đă vứt súng xung phong ngược ra phía sau và chuồn về nhà luôn.

    Qua ngày mồng bốn Tết đài BBC chỉ loan tin bi quan. Ở khắp các tỉnh đều đánh trả kịch liệt. Ra cái vụ ngàn năm có một này hỏng ăn rồi.

    Đúng sáng mồng bốn tôi ra đường th́ gặp chú Nhứt đi “dân công” trở về, quần áo rách tả tơi mặt mày hớt hải. Chú chạy nhào tới ôm tôi khóc hu hu.

    – Cậu Hai ơi! Tôi tưởng hết thấy mặt vợ con rồi chớ!

    – Sao vậy chú Nhứt?

    – Th́ vậy đó chớ sao!

    – Nghe đài BBC nói là quân ḿnh đă vô thị xă . Bộ hổng có sao chú !

    – Có chớ sao hổng có !

    Hai chú cháu đứng ngoài đường nói oang oang , coi ông Thọ không ra cái dèm nào hết. Chú Nhứt tiếp:

    – Tiểu đoàn của Chín Chu có qua sông được mà !

    – Đúng! Tôi có nghe đài BBC nói.

    – Nhưng chỉ qua được vài toán thôi !

    – Sao chú biết?

    – Th́ tụi tôi đi giựt ghe giựt xuồng của dân cho mấy ông nội bơi qua chớ ai?

    – Sao lại giựt?

    – Người ta không cho mượn chớ sao. Chỉ giựt được có mấy chiếc. C̣n mấy chủ khác th́ họ bơi đi hết, ḿnh phải xách súng tới dọa tử h́nh họ mới cho. Cả tiểu đoàn mà có mấy chiếc xuồng bể. Nhưng chỉ qua tới nửa sông th́ bị bắn.

    – Ai bắn?

    – Ở bên thị xă bắn qua. Cuối cùng chỉ lên bờ được vài toán C̣n bao nhiêu ch́m hết.

    Ông Xă ủy ở trong nhà chạy ra nói ngay:

    – Tấn công thị xă có nhiều mặt, không phải chỉ có Cái Cối đâu. C̣n mặt Phú Khương và mặt Cầu Nhà Thương nữa ! Nếu mũi Cái Cối có tà chút đỉnh th́ c̣n hai mũi kia. Tôi nghe đài BBC nói rơ mà.

    Tôi nháy chú Nhứt. Chú Nhứt im. Tôi bảo:

    – Bây giờ có lẽ quân ḿnh đă chiếm được ṭa Tỉnh Trưởng rồi. Đồng bào đang mít tinh mừng chiến thắng đấy chú !

    Tư Mô ở trong nhà ngoắc lia:

    – Vô nghe tin đặc biệt các cha!

    Ông Xă Ủy quay vô. Chú Nhứt lắc đầu:

    – Các cha ḿnh xoi không thấu đâu cậu Hai. Quân ít quá lễnh loăng như canh khoai từ. Một củ khoai mà nấu cả trảo nước.

    Chú lôi tôi lại gốc me rỉ tai:

    – Tụi Sài G̣n chơi ác quá. Nó chỉ cho nhân dân tự vệ chận bộ đội mà ḿnh c̣n vô cũng không nổi. C̣n tụi dữ dằn của nó đâu thèm nổ súng. Chúng đổ dù sau lưng chặn đường rút lui của ḿnh. Chúng nó nhảy tuốt đằng xa đánh thốc sau hậu tuyến của ḿnh mới độc chứ. Cái lưng lạnh ngắt làm sao xung phong?… Hôm rày cậu có gặp vợ con tôi không?

    – Thím dắt thằng nhỏ đi về Cầu Mống rồi !

    – Nhà cửa trống hoang du kích lấy đồ hết!

    – B́nh định đóng đồn ở chợ Cái Quan rồi. Chú phải băng đường vườn về nhà mới được.

    – Ờ ! Để tôi đi riết về coi ! Hồi bắt dân công th́ Hai Sung hứa là chỉ đi vài ngày thôi. Bây giờ đă cả tháng rồi.

    Bỗng nhiên chú vọt miệng rên rỉ:

    Tin mừng thắng trận nở như hoa
    Thắng lợi tin vui khắp nước nhà
    Nhà ḿnh không ở ... ở nhà người ta

    – Chú nói ǵ kỳ vậy chú Nhứt!

    – Vậy không phải sao cậu? Toàn ở nhà người ta , mà nhà hoang hoặc ở ngoài vườn. Đói thấy mẹ . Tụi Trâu Điên đánh ác thiệt cậu. Tụi nó nhảy chận từ đằng xa. Dân công khiêng thương binh hoảng hồn bỏ chạy ráo trọi.

    – Rồi làm sao chú?

    – Làm sao ai biết làm sao? Nó bắn rát quá cậu ơi. Bộ đội ḿnh xung phong ba đợt để mở đường máu mà không rút được. Ḿnh bỏ tại cầu Biện Nhị mười lăm xác.

    Tôi nhảy dựng lên rồi chạy vào nhà gọi Tư Mô, bảo:

    – Cầu Biện Nhị phải ngay nhà anh không?

    – Nếu quận Châu Thành th́ đúng rồi !

    Tư Mô tất tả chạy theo tôi.

    – Tụi nó phản kích ṿng rộng th́ ở quận Châu Thành chớ quận nào nữa.

    Chú Nhứt thấy Tư Mô, hỏi ngay:

    – Hôm trước tôi nghe chú nói nhà chú ở quận Châu Thành hả chú Tư?

    – Ờ chú (em) đi trên thị xă về hả chú?

    – Ḅ không thôi chớ có đi đàng hoàng đâu chú Tư. Tôi có đóng trong cái nhà ngói ở đầu cầu ba ngày, trước khi vô thị xă.

    – Ở dưới này đi lên th́ cái nhà bên này đầu cầu là nhà chú tôi, c̣n cái nhà bên kia đầu cầu là nhà của tôi.

    Chú Nhứt múa tay:

    – Nhà nào tôi cũng ở vài ngày hết. Bộ đội ở để chuẩn bị luồn vào thị xă mà ! Đó là tôi nói trước khi nổ súng. C̣n sau khi nổ súng, tôi trở về th́ không c̣n cái nào hết.

    – Tại sao vậy?

    – Máy bay bỏ bom.

    Tư Mô kêu trời rồi đứng ngây ra một lúc:

    – Chú thấy có ai làm sao không?

    – Bận về chạy như gió băo, tôi chỉ ngó ngang chớ không ghé vào.

    – C̣n lúc mới tới, chú có thấy ai trong nhà không?

    – Ngày trước thấy đủ cả nhà. Ngày sau không c̣n ai.

    Tôi và Tư Mô trở vào nhà. Đài BBC vẫn loan tin liên tiếp , nhưng không có ǵ vui. Tất cả các cuộc tấn công ở các tỉnh đều bị đánh bật ra ngoài. Không có thị xă nào quân ta làm chủ. Ngoại trừ Huế th́ đă vào được trung tâm. Hai bên đang xáp lá cà ở Thành Nội và thôn Vỹ Dạ , nhưng Cộng quân không có tiếp viện nên núng thế.

    Bỗng Đài nói:

    Tướng Giáp có lẽ dự định vào nằm ở giới tuyến, nếu thị xă Quảng Trị bị Cộng quân tràn ngập th́ sẽ ra lệnh tấn công luôn các đồn giới tuyến rồi vọt qua bờ Nam. Nhưng Sài G̣n vẫn c̣n đứng vững và dần dần các thị xă đẩy lui Cộng quân , nên Tướng Giáp đă im lặng rút lui trở về Hà Nội để đổ tội cho Giải Phóng Quân Miền Nam , nhưng ai cũng biết Giải Phóng Quân Miền Nam gồm ba phần tư lính Bắc Việt.
    Các trung đoàn thiện chiến của Sư Đoàn 325, 308 lừng lẫy ở Điện Biên nay không làm nên tṛ trống ǵ trong chiến dịch có cái tên rất kêu là Chiến Dịch Hồ Chí Minh này !


    Dân không ăn cái Tết được , v́ phải chuẩn bị đánh đấm, đóng góp gạo lúa heo gà … nhất là dân công. Chồng con người ta, chúng tới ghi tên hốt hết từ mười sáu tới năm mươi lăm không mạng nào được vắng mặt trong “cơ hội ngàn năm có một” này. Nhiều dân công một ra đi là không trở về chết gục ở đâu th́ cũng không ai biết.

    Nhiều tên lớ ngớ không biết đường nhờ nhân dân giúp đỡ. Nhân dân chơi ác lại dắt lũ cháu bác vô ngay ổ ... cho địa phương quân kh́a nhanh chóng. Tôi nằm ở nhà nghe dân công chạy về mà biết rơ chiến trận đă diễn biến như thế nào và kết thúc ra sao.

    Việt Cộng chỉ có ba ngơ vào. Một là từ bên này sông Cái Cối cảm tử bơi xuồng qua thị xă. Ngơ thứ hai là từ Phú Khương đánh vào sân vận động tỉnh. Nhưng ngơ này th́ khó lọt v́ không thể nào luồn quân ém quân trong các xă Phú Khương Hữu Định đông đặc dân chúng , mà toàn thể đều là dân của cụ Ngô. Ngơ thứ ba là từ Cầu Nhà Thương đánh ra. Ngơ này càng khó lọt v́ có cái Thánh Thất Cao Đài của cụ Nguyễn Ngọc Tương thuộc mười hai phái hiệp nhứt.

    Tôi biết rành Bến Tre v́ ngày xưa đi học, chỗ nào mà tôi không lội tới. Tôi c̣n biết rành hơn cả Chín Chu tiểu đoàn trưởng và Ba Dào tổng chỉ huy chiến trận này nữa. Hai tên này khôn lắm, cả hai đều đặt chỉ huy sở ở bên ngoài thị xă bờ sông Cái Cối để chuồn nhanh.

    Quả thật sau ba ngày Tổng Tấn Công, tôi gặp bộ Sậu hốc hác trở về cùng với đám tùy tùng. C̣n tên Bùi Thanh Khiết Phó Chánh Ủy Quân Khu 2 , tôi gặp hôm trước không biết thăng thiên lúc nào. Thấy tôi, Ba Dào né ngang, có lẽ anh ta sợ tôi xin đề tài, tôi c̣n lạ ǵ cái tâm lư của kẻ bại trận, nên để cả bọn đi qua, làm như không thấy.


    Mai tiếp ....

  6. #4676
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Cuộc tổng tấn công thị xă Bến Tre thế là kết thúc vào ngày mồng bảy năm Mậu Thân một cách anh dũng.

    Thay v́ cái rốn An Định đóng giữa Mỏ Cày và Cầu Mống th́ bây giờ đất lại thênh thang như hồi tôi mới về, tức là An Định, B́nh Khánh, Phước Hiệp, Ngăi Đăng, Cẩm Sơn, Minh Đức, Tân Trung. Tôi mới nảy ra ư định đi t́m những người kháng chiến cũ. May quá tôi nhớ ra anh Cao Thái Tôn, ở ngay chợ An Định.

    Cao Thái là một ḍng họ lớn trong quận Mỏ Cày. Có một nhân vật, h́nh như là Cao Thái Tốt, làm tới đại diện Chánh Phủ ở Nam Phần thời Quốc Trưởng Bảo Đại. Cao Thái Sáo học chung với tôi ở trường Mỏ Cày. Không biết bây giờ đi đâu, chắc chắn là không theo kháng chiến. May cho nó. Nếu không th́ cũng như tôi.

    Cao Thái Tôn làm tỉnh đoàn trưởng Thanh Niên Cứu Quốc tỉnh sau ông Mạch Văn Tư. Lúc đó phong trào Thanh Niên xẹp lắm. Trần Bạch Đằng ngồi trên cứ tống chỉ thị xuống ào ào chớ đâu có biết ở tỉnh không c̣n như xưa , thời ông Mạch Văn Tư nữa. Một số lớn cán bộ có tŕnh độ văn hóa, có khả năng đều lên khu hoặc xứ. Tỉnh mất đi trí thức.

    Chỉ c̣n một ḿnh, anh không quậy nổi. Cơ quan nghèo xơ xác. Phải về đóng ở An Định để nhờ vào tài sản của anh. Thoái trào bắt đầu từ đó và sụp hẳn.

    Khi Ḥa B́nh lập lại , anh bị tù năm năm. Có lẽ v́ anh là đảng viên và là cán bộ cao cấp. Khi tôi gặp anh th́ anh buồn lắm. Tụi Xă Ủy chăn ḅ không hiểu công lao của anh. Chúng kiểm thảo tới kiểm thảo lui , nên anh nổi quạu xé lư lịch đảng , vứt trước mặt chúng nó rồi ở nhà luôn.

    Bí Thư Tỉnh ủy hiện giờ là cán bộ của anh thời kháng chiến. Thế nhưng hắn cũng làm lơ. V́ nếu anh Tôn c̣n là đảng viên th́ hắn làm sao là Bí Thư Tỉnh Ủy?

    Tôi gặp lại anh, anh mừng lắm. Nhưng không nhắc chuyện kháng chiến nữa. Anh làm nghề thầy thuốc để nuôi gia đ́nh. Nền nhà của anh trơ trọi, cột kèo xếp lại chỉ c̣n một mái lá sơ sài. Anh bảo con gái mua hai con vịt một lúc, nấu cháo đăi tôi. Tôi biết nói ǵ bây giờ? Chỉ ngậm ngùi cho những người đi tiên phong lớp trước. Người kháng chiến bị tù, rồi được tự do cũng không c̣n muốn nh́n mặt nhau, ngay cả những “đồng chí” trước kia.

    Hai Nghi về R. c̣n Tám Không đi xuống Miền Tây bị nghẽn đường nên trở lại. Lần này hắn ở nhà khác. C̣n tôi th́ ra nhà Má Bảy gần bên nhà ông Binh Biến B́nh Dương.

    Má Bảy không có vô hội ǵ hết nhưng bà có đứa con trai độc nhất tên Rô , cỡ 23 tuổi, có vợ, một con trai. Hồi Đồng Khởi, Rô hăng hái xung phong lên khu và được bổ sung vào Tiểu Đoàn Khu mới thành lập. Rô có mặt trong trận Ấp Bắc và sau đó lên tiểu đội trưởng của Tiểu Đoàn Ấp Bắc. Má Bảy không lấy đó làm hănh diện mà lại lo sợ ngày đêm. Khi tôi đến ở nhà má Bảy th́ má rất mừng, nói:

    – Thằng Vũ mày ở đây tụi du kích nó không dám tới bẻ xoài hái ổi. Thằng Nghi đi rồi tụi nó làm lộng, tao đâu có la được. Du kích, bí thư, cũng là con cháu của má chớ phải ai đâu lạ, nhưng họ thấy má ở một ḿnh th́ ăn hiếp.

    Chiến tranh do bọn Bắc Kỳ gây ra thiệt là tàn nhẫn.Chúng nó an hưởng thái b́nh mà nung lửa vào Miền Nam , gây ra tang tóc đau thương. Đất đai tan tành không xiết kể. Có thể nói không một gốc cây nào còn nguyên, không một gia đ́nh nào đủ. Ngày nào cũng nghe có người bị thương, chết hoặc một tai họa ǵ đó. Không ngày nào yên ổn.

    Một bà già cô đơn sống trong một cái cḥi, một miệng hầm. Nếu có chuyện ǵ th́ ai cứu cấp? Cái hầm trước đây do Hai Nghi đắp lên. Tôi về bồi thêm một lớp nữa. Đó là đề pḥng miểng cà-nông “xẹt” thôi , chớ nó rớt ngay th́ trời cứu. Má Bảy c̣n khoẻ mạnh nhưng rất chậm chạp.

    Cà-nông Cầu Mống bắn lên hoặc Mỏ Cày rót xuống đều tới đây cả . Ở Miền Nam bất kỳ chỗ nào cà-nông cũng đều bắn tới. Có khi nghe tiếng đề-pa, tôi kêu má mới thức dậy. Ra tới hầm th́ đă nổ bốn, năm trái rồi. Như vậy th́ cái hầm đối với má không có tác dụng ǵ hết. Nhưng khổ nỗi má lại không chịu ngủ trong hầm.

    Nhiều đêm má không ngủ được, hai mẹ con tâm sự với nhau. Tôi nói về hoàn cảnh “cây một trái” (trai) như gia đ́nh má, th́ má thúc giục:

    – Sao mày không kiếm vợ đi ?..

    Rồi má thở dài. Má nói về thằng Rô của má. Nguyên văn như sau, tới bây giờ tôi hăy c̣n chưa quên. Và không làm sao quên được nỗi đau khổ của má nói về Rô:

    – Tao hổng hiểu súng ống mà nó ham cái nỗi ǵ? Nó ham bộ đội c̣n hơn ham vợ con nó. Nó về nhà , dọn cơm nó cũng không ăn. Nó nói về ăn với tập thể. Thằng Vũ mày nghĩ coi! Bắn người ta th́ người ta bắn lại , chớ phải người ta không có tay hay sao? Hụt phát này th́ c̣n phát khác. Như hốt đất mà vảy vô bụi tre làm sao hụt hoài ?

    Ư má nói là ra trận , không sớm th́ muộn cũng chết , nhưng má ngại gở mồm gở miệng cho con trai. Nhưng rồi không khỏi. Một hôm tôi đi t́m tài liệu về th́ má ̣a lên khóc.

    – Thằng Rô chết rồi !

    Tôi cũng chết nửa thân người.

    – Ai nói vậy má?

    – Đâu ngoài xă họ cho tin.

    – Không chắc đâu. Để con ra hỏi lại, má đừng buồn.

    Nói vậy rồi tôi quày quả ra t́m ông Xă Ủy. Quả t́nh có giấy báo tử. Nhanh hơn lính ở Trường Sơn. Vốn quen lâu ngày, tôi bảo:

    – Cha nội nhẹm dùm lâu lâu hăy x́ ra.

    – Khổ nỗi là tôi nhờ người nhắn rồi ?

    – Để tôi t́m cách ém.

    – Cách ǵ ? ông làm sao được th́ làm. Chớ giấy tờ có đây rồi.

    – Sao mới tổng tấn công mà giấy về mau vậy?

    – Nó hi sinh trước Tết lâu rồi!

    Tôi đứng ngẫm nghĩ một hồi th́ nảy ra kế. Tôi bảo ông Xă Ủy:

    – Bây giờ thế này nghe ! Tôi về tôi nói với má là công văn đánh máy trật dấu. Không phải Rô mà là Rỡ, không phải xă An Định mà là xă An B́nh. (Quả thật có làng An B́nh giáp ranh với An Định). Vậy được không?

    – Hay lắm. Nhưng sao ông có ư kiến hay vậy?

    – Hồi kháng chiến ở làng tôi có một vụ động trời. Công văn đánh máy không có dấu. V́ trên quận muốn những cuộc bắt bớ xảy ra ban ngày để dân chúng khỏi sợ sệt nên dặn kỹ là có bắt ai th́ chỉ bắt ban ngày , nhưng v́ máy không có dấu nên thành ra bat ban ngay. Rồi ở dưới xă đọc là bắt bắn ngay. Cho nên công an cứ bắt lôi ra khỏi cửa là bùm liền. Có đến cả chục vụ như vậy ở trên quận mới hay. Th́ đă muộn rồi. Do đó tôi mới nảy ra vụ Rô và Rỡ, An Định và An B́nh này.

    Ông Xă Ủy gật đầu khen nhưng c̣n ngoéo lại:

    – Nhưng cuối cùng rồi cũng ḷi ra, bả chửi cho tắt bếp.

    – Th́ ông cứ đưa ông Phó Bí Thư là cháu ruột của bả ra đỡ đ̣n.

    Trên đường trở về, tôi sửa soạn miệng mồm để nói cho tự nhiên. Hễ má hỏi ǵ , th́ trả lời làm sao. Má vặn cách nào , th́ tránh né cách nào cho xuôi chèo mát mái.
    Nhưng vừa về tới cửa là bị má phủ đầu ngay:

    – Mày ra ngoài đó bàn toán nhẹm tin chớ ǵ !

    – Dạ đâu có má.

    – Thôi đi, tao biết mà !

    Tôi thấy ngượng, đi nói dối với một bà cụ đáng tuổi mẹ ḿnh. Nhưng nếu không t́m cách xoa dịu vết tử thương th́ bà có thể điên mất.

    Tôi bèn lấy lại tinh thần và nói:

    – Con ra tận xă, coi công văn tận mắt má à !

    – Tao không biết công ǵ hết. Con tao chết rồi. Tao nằm chiêm bao thấy nó ḿnh mẩy máu dầm dề cả tháng nay rồi. Tao không dám nói ra.

    – Hổng có đâu má à. Tên trùng tên. Anh chiến sĩ hi sinh là Nguyễn Văn Rỡ ở bên An B́nh. Chớ không phải chú Rô .

    – Bên An B́nh không có ai tên Rỡ hết!

    – Có má à !

    – Rỡ con ai?

    – Dạ con quên hỏi. Tờ báo tử không có ghi tên cha mẹ .

    – Sao không có. Mấy lần xă làm truy điệu đều có đọc tên cha mẹ của liệt sĩ. Mày nói bộ tao không biết sao. Lễ xong rồi phát bằng gia đ́nh vẻ vang mà.

    Quả t́nh tôi quên chi tiết quan trọng đó nên ú ớ một lúc mới nói được.

    – Ông Xă Ủy nói là ổng quên coi nên thơ kư nói sai. Bữa nay ổng mới coi kỹ lại.

    Tôi c̣n đang cố đem hết lư lẽ của sự bỏ sai dấu tên tử sĩ th́ bà Tám đến. Bà Tám chuyên môn đi móc gia đ́nh cho cán bộ hoặc đi thăm con cái cho các gia đ́nh như gia đ́nh má Bảy. Bà rất sốt sắng. Đưa tiền xe, tiền ăn là bà đi ngay.

    – Hôm trước, chị muốn tôi đi thăm thằng Rô hả ?

    – C̣n đách ǵ mà thăm!

    – Sao vậy?

    – Chết rồi. Nó theo mấy ông nội nó ... nên chết rồi!

    Má giận dữ rồi gục vào gốc cột khóc thảm thiết :

    – Nó bỏ vợ bỏ con nó.

    Tôi nháy bà Tám và nói :

    – Không có đâu bác. Ở ngoài xă coi lầm dấu chữ.

    Má đi vô mùng lục lọi một hồi rồi đi ra đưa tiền cho bà Tám:

    – Chị làm ơn đi dùm tôi.

    – Tôi biết bộ đội của nó ở đâu mà t́m?

    – Nó ở trên Mỹ Tho. Chị lên đó mà t́m. Chớ nó đâu có cho tôi biết nó ở đâu.

    Tôi hỏi:

    – Chú có gởi thơ về thăm má không?

    – Nó có gởi cho vợ nó . Vợ nó đem vô đọc cho tao nghe .

    – Để mai tôi ra ngoải . Nhà thím ở Giồng Vơ phải không má ? Tôi biểu thím đưa thơ rồi tôi coi cái địa chỉ ngoài phong b́ cho bà đi t́m. Chớ lên Mỹ Tho mênh mông trời đất biết bộ đội ở đâu.

    Phen này th́ hết mong ǵ bịa chuyện “trật dấu” nữa. Bà già thực tế vô cùng. Bà không tin xă ủy xă quéo ǵ hết.

    Ba hôm sau, bà Tám đi về kể rành rọt. Bà đi vô tận Cái Bè gặp tiểu đoàn của Rô. Rô bị bom chết. Nếu bà chỉ nói vậy thôi th́ má Bảy không uất ức. Đằng này bà lại kể rất tỉ mỉ:

    – Đầm già tới bắn điểm. Anh em người ta chui xuống hầm bít hết rồi. C̣n có một cái chừa cho nó. Nó chờ cho hai người chui trước, nó chui sau cùng, hầm chật, ngồi ở miệng hầm nửa trong nửa ngoài nên bị một miểng to bằng bàn tay phang vô hông chết liền.

    Má Bảy khóc thét lên , vật vă, dậm chân, đấm ngực:

    – Mày gan ǵ gan ác nhơn vậy Rô ơi. Phải mày chui vô trước th́ mày đâu có chết. Mày ra trận mày cũng xung phong đi trước. V́ liều mạng nên bây giờ mẹ mày, con mày, vợ mày mới khổ.

    Bà Tám sợ bị giận lây nên bỏ về liền. Người khổ không ít là tôi. Khổ cho tôi v́ tôi cũng là con một. Khổ cho má là mẹ không gặp mặt con trước phút con lâm chung và cũng không biết mồ mả ở đâu mà thăm viếng.

    Khổ tâm thật. Bữa nào dọn cơm ra má cũng chống tay ngồi sụt sùi tức tưởi một hồi mới cầm đũa. Nước mắt nhểu vô chén cơm từng giọt một. Tôi chẳng làm sao cầm được nước mắt của chính tôi. Nhiều lúc cả hai mẹ con đều không ăn cơm. Cái chén cơm trên mâm dành cho đứa con trai xấu số cũng bỏ luôn lạnh tanh lạnh ngắt.
    Khổ hơn nữa là cái ngày cúng tuần ba tháng cho Rô. Thím Rô ẵm thằng con trai mới biết đi lẫm đẫm vào làm giỗ cho chồng. Tay xách con vịt, tay ẵm thằng bé lội ngang xẻo nước cạn. Con vịt kêu nghe mới thảm năo làm sao. Má Bảy kêu thằng bé bằng Cá Rô. Rô Cha, Rô Con, cho nên tôi không biết nó tên ǵ. Thằng nhỏ giống cha như đúc.

    Vợ Rô mắt đỏ hoe, đứng bên bàn thờ khóc , nhưng không van vái rồi quay lại bế thằng Rô Con lên. Thằng bé nào biết ǵ. Đó là tấm h́nh của ba nó chụp hồi c̣n ở nhà. Ba nó vừa cưới má nó xong.
    Hai người đứng bên nhau trước bụi chuối bên hè . V́ không có h́nh riêng nên phải để nguyên tấm h́nh như vậy mà đặt trên bàn thờ. Má Bảy không đốt đèn. Tiệm quán không có nhang trong vùng giải phóng. Má vô nằm trong mùng khóc thút thít. Bà ẵm thằng Rô Con mà nước mắt như mưa. Vợ Rô ở chơi tới chiều rồi ẵm con về.

    Lúc này quân Sài G̣n chụp luôn, tôi chạy chân không bén đất. Cái thùng sắt tác phẩm chôn luôn không có moi lên nữa. Cũng không c̣n nghĩ tới việc viết hoặc t́m đề tài. Tẩu vi tiên. Cứ hễ sáng th́ tôi đến nhà Tư Mô, Tám Không uống trà nói dóc chờ chạy chung.

    Nếu êm th́ nhà ai nấy về cơm nước. Nhưng sau đó hầu như ngày nào cũng chạy, không hơi đâu mà đi gặp nhau. Mạnh thằng nào nấy chạy. Có lần tôi đi cách Tư Mô có năm mươi thước mà Tư Mô chạy tới c̣n tôi phải sụt lùi. V́ trực thăng đổ ngay trước mặt tôi. Chiều tối tôi mới về nhà . Tưởng Tư Mô bị xúc. Tư
    Mô th́ lại tưởng tôi bị xúc. Hai đứa lại nghe đài BBC và tiếp tục b́nh luận về chiến dịch Mậu Thân.

    Đó là khoảng vào tháng giêng năm 1968. C̣n được cái rún chợ An Định nên tụi tôi vẫn ngọ nguậy được. Nhờ nó mà “tiếp tế” từ hũ chao đến lon gạo. Quốc Gia đánh Cộng Sản quyết liệt lắm, nhưng cũng rất tài tử. Ở chỗ là lính đánh mà thương buôn nuôi. Nếu không có đ̣ máy ra vào th́ làm sao Việt Cộng có muối ăn, đừng nói chi pê-ni-ci-lin để trị thương. Chẳng khác nào một tay đánh một tay xoa.

    Tôi nói ra việc này chắc có lẽ làm phiền ḷng một số người nhưng đó là sự thực. Thử xét ba lô của Việt Cộng lúc bấy giờ xem: quần áo, vơng, dây dù, thuốc hút, aspirine, xà bông thơm, bút bic, dầu gió, ngoài ra c̣n gạo, thùng dầu ăn của dân Mỹ tặng cho nhân dân Việt Nam, thịt hộp các loại, đồng hồ, bút máy Parker, mực Parker, lưỡi cạo râu v.v… toàn là sản phẩm của thành thị.

    Đó là chưa nói thẻ bọc nhựa, giấy chứng nhận, giấy đi đường ǵ ǵ … Việt Cộng đều “xin” của các ngài chức việc được cả. Trần Bạch Đằng đă chẳng khoe rằng hắn có đến năm, sáu thẻ bọc nhựa là ǵ. Ở gần cuối quyển này tôi sẽ nói về vụ thẻ bọc nhựa của các ông lớn Sài G̣n làm “dùm” cho Việt Cộng.

    Một buổi sáng tôi nghe tiếng đầm già xuống miệt Minh Đức. Bụng hơi nghi nên tôi ra ngồi ở mé vườn ngó về phía ấy. Con đầm già bắn điểm rồi Thần Sấm tới bỏ bom. Đó là bài bản cổ điển của một trận bom. Nhưng hôm nay tôi hồi hộp lạ thường. Vào nhà nằm không yên, ra chợ đón người ở miệt Minh Đức lên để hỏi thăm.

    Người ta đồn lính Cầu Mống sắp ra đóng đồn ở Cổ C̣ tức là gần chặng giữa nhà tôi và nhà ngoại tôi, nên tôi càng sợ không dám đi.

    Quả thật hai hôm sau thằng Đức, con D́ Năm tôi, đang công tác ở Văn Công tỉnh đến cho tôi hay tin sét đánh ngang tai. Ngoại tôi và thằng rể d́ Năm tôi bị bom chết ngay trong vườn nhà . Trời ơi ! Tôi c̣n về làm ǵ nữa. Gia đ́nh nhà cửa, ḍng họ đă tan đến mức đó , rồi lại c̣n nát ra thêm.

    Tôi về đến nơi th́ ngoại tôi đă nằm dưới mộ. Cậu Bảy tôi ở Sài G̣n Về. Hai cậu cháu gặp nhau, nh́n nhau. Một bữa cơm cúng ngoại tôi. Một nén nhang. Rồi đường ai nấy đi, bỏ lại sau lưng đứa em gái bạn d́ hai mươi hai tuổi góa chồng một nách hai con nhỏ và đứa nhỏ trong bụng. Chồng nó xuống hầm hơi chậm nên bị miểng bom phang ngang xương sống đứt làm đôi, c̣n ngoại tôi bị một miếng nhỏ xíu trúng ngay tim.

    Lần cuối cùng khi tôi đi, tôi có dặn ngoại đừng có lên vườn mà bom pháo nổ không về kịp. Bữa đó ngoại tôi bưng một thúng tro lên đổ gốc mận cho kiến hôi không tới đuổi kiến vàng đi.

    Tôi theo cách mạng , để nh́n thấy những cảnh nát đất, nát nhà và nát cả tim. Cách mạng dần dần đối với tôi trở thành vô nghĩa và thù hận.


    Mai tiếp ....

  7. #4677
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Một buổi sáng tôi thức dậy như thường lệ . Tôi ra bờ mương ngồi nặn kem Hynos sửa soạn khoát nước súc miệng th́ có một bóng hồng lướt qua. Quái nhỉ. Ở đây sao c̣n sót một nàng tiên như thế này. Chẳng lẽ tôi quáng manh. Tôi đánh răng xong vào, hỏi má Bảy:

    – Ai vậy má?

    Má vọt miệng nói ngay:

    – Cháu tao chớ ai.

    – Ủa, sao lâu nay con không thấy.

    – Nó học trên tỉnh ... chớ ở nhà đâu mà mày thấy được? Ở trển lộn xộn quá, nên tía má nó không cho trở lên nữa.

    – Qua chiến dịch rồi đâu có ǵ lộn xộn nữa má.

    – Ai chắc được. Thời này ở đâu cũng không yên. Ở thành th́ mấy ông bộ đội đánh vô, c̣n ở ruộng th́ lính đánh ra. Dân ở giữa chạy đàng nào cũng không khỏi.

    Thấy má Bảy hơi nguôi buồn về cái chết của thằng Rô, nên tôi bắt chuyện:

    – Ít lâu đây rồi yên hết má à. Cỡ thằng Rô Con lớn lên sẽ được đi học.

    – Thôi đi mày ơi ! Người ta hứa một trăm lần rồi. Không có lần nào đúng hết. Bây giờ tao nghe ai hứa tao để ngoài tai.

    Hai mẹ con đang trao đổi ư kiến về cách mạng th́ một ông cán bộ bước vào. Đó là ông Trần Thành, phó bí thư xă Ủy, cháu kêu má bằng cô. C̣n ông Xă Ủy, kẻ hội ư cùng tôi “vụ trật dấu” th́ lặn luôn không dám tới.

    Thấy Trần Thành bước vô, má bỏ vào buồng. Trần Thành nói chuyện với tôi một chập rồi cất tiếng:

    – Cô Bảy! Bữa nay ngoài xă làm lễ truy điệu, cháu thay mặt Xă Ủy tới mời cô ra dự.

    Má làm thinh. Trần Thành tiếp:

    – Bữa nay làm long trọng chớ không phải đơn sơ như mấy lần trước. Có tỉnh xuống dự. Sau đó có văn công biểu diễn.

    Má vẫn không trả lời. Trần Thành bèn tỏ sự quan tâm của cách mạng đối với gia đ́nh tử sĩ, tiếp:

    – Vợ con của thằng Rô được Mặt Trận lo. Con nó sau này sẽ đi học Liên Xô Trung Quốc. Cha hi sinh con hưởng. Cô đừng buồn. Chiến dịch đánh vô thị xă vừa rồi bộ đội hi sinh đông lắm. Cả bốn năm chục chớ phải ḿnh thằng Rô đâu. Gia đ́nh anh Sáu có đến ba đứa hi sinh. Thiệt là oanh liệt. Tổ Quốc ghi công, c̣n Mặt Trận sẽ phát bằng “gia đ́nh vẻ vang” cho cô tại buổi lễ.

    Má bước ra xỉ mặt Trần Thành:

    – Nó chết cũng tại mày.

    – Nó yêu nước th́ nó đi tôi đâu có xúi biểu ǵ.

    – Ngày nào mày cũng tỉ tê , cho nên nó mới bỏ vợ con nó đi. Bây giờ đó, mày làm mày nuôi vợ con nó.

    – Tôi hứa với cô, cô ra dự lễ là cô phấn khởi liền.

    – Mày làm sao thằng Rô sống dậy th́ tao đi. Tụi bây khôn lắm. Con cái của bây , bây giấu trong buồng c̣n con cái người ta th́ bây xúi đi cho chết. Mày với thằng bí thư bí thiếc ǵ đó đều học một sách. Dân công cũng không, bộ đội cũng không. Ai chết chớ con cái bây đâu có chết mà bây lo. C̣n thằng nhỏ mới biết đi đó, xúi nó đi bộ đội luôn cho mát bụng bây.
    Tao đă nói với bây găy lưỡi. Là tao có một đứa con trai, để nó ở nhà làm lụng nuôi tao, đẻ con nối ḍng cho dượng mày, mày nhất định đẩy cho nó vô bộ đội. Vinh quang lắm. Bây giờ mày ăn cho hết cái vinh quang đó đi. Tao không có đi dự lễ truy điệu truy điếc ǵ hết, đừng có mời mất công.

    Trần Thành đành tiu nghỉu ra về.

    Đường mới ai ơi đời mới
    Tuổi thanh niên như nàng xuân đang reo cười
    Nghe nhựa sống dâng trào
    Đời mới ai ơi ḷng ta sục sôi với tuổi hai mươi
    Yêu mến vâng ư Bác Hồ
    Vượt qua bao gian khổ.

    Tội Lưu Hữu Phước lớn lắm v́ những bài hát loại xúi giục này. Thanh niên chết ngập Trường Sơn v́ bài hát này. Trần Thành về rồi má nói với tôi:

    – Tụi này gian lận dữ lắm. Nó nắm chỉ thị nên khi nào sắp bắt dân công hoặc kêu thanh niên ṭng quân th́ chúng nó cho con cái giả đau hoặc đi “thăm ngoại thăm nội” đến hết đợt bắt mới về . Gia đ́nh tụi nó có sứt mẻ chút nào đâu!

    Rồi má quay lại chuyện nàng tiên lúc năy:

    – Con nhỏ coi được đến. Ḍng họ của ông Bái Khải. Tao có bà con với bà nội nhỏ sắp này nên tụi nó cũng kêu tao bằng bà . Ḍng họ này cũng đi hàng hai, một cánh ở Sài G̣n, có đứa làm tới bác sĩ, có đứa dạy học hoặc làm phạm- nhe (lâu lắm tôi mới nghe tiếng phạm-nhe (y tá) – Tây gọi là infirmier). C̣n một cánh theo giải phóng mạnh lắm. Thằng thứ sáu có tới ba đứa con đi bộ đội. Kỳ trước truy điệu một lượt hai thằng. Vợ nó ngất xỉu, nhưng không tởn cho hai thằng đi tiếp. Nó choàng vải dù mang ba lô đi qua đi lại đường này hoài. C̣n một thằng thứ hai cũng có con đi làm ǵ trên tỉnh lớn lắm!

    Tôi chưa kịp nói ǵ th́ má tiếp:

    – Mấy bữa mày viết rồi đầm già tới mày bỏ quên giấy trên bàn, con nhỏ tới nó lén đọc. Hai ba lần như vậy, lần vừa rồi nó ra đây, nó không thấy mày, nó mới hỏi tao vậy chớ mày làm ǵ ? Tao bảo nó là cán bộ giải phóng chớ c̣n làm ǵ nữa mà hỏi. Nó hỏi giải phóng mà ngành nào? Tao nói tao thấy nó viết viết tối ngày và có cả thùng giấy, chớ tao không biết nó làm ǵ. Trước đây có một thằng ở đâu trên R xuống định “quây phinh” thằng Út Bùi bên cạnh. Hai đứa nó bàn việc làm phinh với nhau.

    – Rồi cổ nói sao, má?

    – Nó nói mày làm thơ phú ǵ đó phải không? Tao hỏi sao nó biết? Nó nói nó có đọc tờ giấy trên bàn. Mày viết Bến Tre ǵ đó.

    – Dạ “Bến Tre xanh măi bóng dừa”.

    – Ừa, hổng chừng đó đa ! Mà thôi nói gần nói xa hổng qua nói thật. Mày chịu con nhỏ không? Hễ chịu th́ tao mần mai cho. Mày ở đây lâu nay trong vùng ai cũng biết, không có mang tiếng mang tăm ǵ.

    Tôi không thấy mặt mũi cô nàng nhưng đoán chắc cô cũng khá gái. Dù ǵ người ta cũng là học sinh thành phố chớ đâu có lội bùn dang nắng dầm mưa như ḿnh. Nhưng c̣n dè dặt :

    – Ở thành khó lắm má ơi!

    – Khó cái ǵ mà khó ! Má hỏi thiệt con, con ra ngoài Bắc, con không có vợ có con ǵ hết phải không?

    – Dạ không.

    – Có dính với cô nào không?

    – Dạ cũng không.

    – Chắc phải không?

    – Dạ con đâu có dám nói dối với má !

    – Mày là con nhà tử tế. Thấy cách ăn nói đi đứng của mày tao biết mày là đứa đàng hoàng. Có mấy thằng về đây đ̣i hội mẹ cưới vợ. Cưới xong th́ ḷi cái mặt lường gạt ra.

    – Bộ bà lớn ở ngoài đó đi tàu lặn vô được sao má?

    – Không phải bà lớn bà nhỏ nào vô đây, mà tụi bạn của thằng đó bất ngờ nói lộ ra.

    – Cái tuồng đó ở ngoài Bắc ḱa mới có nhiều má ạ. Chớ trong này dù có cũng chỉ lai rai thôi.

    – Ở Bắc sao có nhiều vậy?

    – Dạ mấy bà phụ nữ trong ḿnh hay gác máy bay. Thấy mấy cán ngoài Bắc vô trong này , được bọn cùng phe cấp cho ghe bốn chèo, có xây lố cố theo hầu hạ, th́ mê, không điều tra kỹ lưỡng, a thần phù nhào vô hốt đại. Trời bất dung gian đảng , về ngoài đó đụng bà già trầu! Thôi bỏ đi má ơi, nhắc tới mấy chuyện đó nhức đầu dùm chị em ta lắm.

    – Ừ vậy mày đă biết phải quấy, th́ tao tin, tao làm mai cho.

    – Cha mẹ con ở ngay dưới Cầu Mống kia mà , lo ǵ má ! Con gạt ai chớ chẳng lẽ con dám gạt cả má và cha mẹ của con.

    Má Bảy hỏi gặng:

    – Mà mày chịu con nhỏ thiệt không?

    – Dạ… phần con th́ xong rồi. Chỉ sợ người ta không ưng con thôi !

    – Thời buổi chiến tranh chết chóc này, con gái lớn lên là cha mẹ mong gặp mối gả liền, chẳng có ai muốn giữ trong nhà làm ǵ. May mà con nhỏ chạy về được chớ nếu kẹt ở trên th́ đạn lạc tên bay không biết đâu mà tránh. Bởi vậy ba má nó không có cho trở lên học nữa.

    – Dạ nếu cô ta đ̣i đi th́ làm sao?

    – Ông già nó nghiêm lắm, nói không là không. Mày muốn coi mặt nó cho rơ không?

    – Dạ . . . nhưng mà làm sao, má ?

    – Mày biết con chị nó ở ngoài chợ không? Con nhỏ có tiệm vải ngoài chợ sát vách tiệm con sẩm lai đó.

    – Ủa, chị của cô ta?

    – Đó là chị Hai, nó thứ Ba. Chị nó sao th́ nó như vậy. Hai đứa đứa nào cũng ngộ hết. Để bữa nào nó đi đánh lá mía, tao kêu qua đây cho mày nói chuyện. Nó ở thành, dạn dĩ chớ không có nhát như con gái vườn đâu.

    Tôi có thấy chị Hai của nàng bán vải ngoài chợ. Tôi hỏi:

    – Học sinh thành mà cũng chịu làm vườn nữa sao má ?

    – Học th́ ở trường về nhà phải làm công việc giúp cha mẹ chớ!

    Một bữa thấy cô nàng thấp thoáng bên bờ chuối, má gọi:

    – Cháu ơi! Cháu qua đây bà mượn làm dùm chuyện này chút!

    Tôi đang viết, quay lại thấy má nháy nháy và trỏ tay ư bảo vô buồng trốn. Tôi làm y theo lời. Chập sau nàng vào nhà. Má hỏi:

    – Cháu có đủ người đánh lá mía không?

    Nàng đứng ở góc ván trả lời chớ không ngồi.

    – Dạ biết bao nhiêu mà đủ bà Bảy. Cháu làm được tới đâu hay tới đó.

    – Để bà kiếm dùm cho một công, cháu chịu không?

    – Ở đây đâu c̣n người mà bà kiếm. Người ta bị bắt dân công chưa có về.

    – Cháu không sợ họ bắt à?

    – Họ chê cháu ở thành không xài đâu !

    Hai bà cháu nói chuyện bỗng một tờ giấy trên bàn bị gió thổi bay xuống đất. Tờ giấy cũng khôn thật, nó đáp xuống nằm trên bàn chân nàng. Nàng nhặt lên rồi vừa đi vừa xem. Đến mép bàn nàng dừng lại và mải mê đọc không trả tờ giấy lại chỗ cũ. Đọc hết tờ này, nàng định lấy tờ kia, nhưng giật ḿnh quay lại:

    – Ai viết vậy bà Bảy?

    – Thằng cán bộ ở trong nhà tao chớ ai.

    – Ủa, giải phóng mà cũng biết làm thơ nữa sao?

    – Ai biết đâu. Tao chỉ thấy nó ngồi nó viết tối ngày. Hễ có chụp th́ nó xếp lại. Chạy trở về th́ viết tiếp. Cháu đọc cái ǵ trong đó?

    – Dạ đây là bài thơ “Bến Tre xanh măi bóng dừa”. Đoạn đầu đâu mất, chỉ có đoạn này thôi. Hay lắm bà ơi. Bà muốn nghe không, cháu đọc cho bà nghe.

    – Nhưng chắc cháu đọc nghe hay không bằng nó đâu !

    – Nó nào bà?

    – Th́ thằng đó chớ nó nào. Để chút nữa nó đi quán về, bà biểu nó đọc cho cháu nghe. Nó c̣n đầy thùng đạn lận chớ không phải có mấy tờ đó đâu. Ở đây chờ một chút.

    Nàng ngẫm nghĩ một hồi, để tờ giấy xuống mặt bàn rồi nói:

    – Thôi thôi bà Bảy ơi ! để cháu đi đánh lá mía.

    – Ừ đi th́ đi, rồi mai qua đây tao nhờ làm công chuyện. Năy giờ tao quên mất.

    Nàng chạy vụt qua bờ mía. Tôi bước ra. Má hỏi:

    – Đó mày coi rơ con nhỏ chưa?

    – Dạ rơ rồi, má !

    – Được không?

    – Dạ con th́ được rồi, không biết người ta có được không?

    – Thong thả rồi tao t́m cách tao nói. Con người ta con gái, ḿnh phải khéo. Mà mày nói phải chắc nghe!

    – Chắc ǵ má?

    – Chắc là mày chưa có vợ. Đừng có báo hại tao làm mai mắc họa đó.

    – Dạ, con gốc gác ở đây, cha mẹ c̣n đủ. Cô con có chồng ở Ngăi Đăng. Họ ngoại con ở Cẩm Sơn, giáp ranh với xă này mà má. Con đâu có làm xấu ḍng họ con được.

    – Mày nói th́ tao tin, nhưng phải cho chắc.

    Hôm sau, cô học sinh ra đánh lá mía. Má gọi. Nàng lại sang và tôi lánh mặt trong buồng, nàng lại đọc thơ Bến Tre xanh thắm.

    Lúc đó tôi không c̣n tâm trí nào dành cho Đồng Khởi nữa. Tôi cứ làm thơ. Tôi chen thơ t́nh vào trong đó. Tôi đưa bóng dáng nàng học sinh vào thơ. Rồi tôi tâm sự luôn với nàng.

    Con chim bay khắp trời xanh
    Hôm nay trở lại cội cành vườn xưa
    Cô đơn tiếng hót trong mơ
    Có ai đáp lại thành thơ với ḿnh ?
    Ai quen sống chốn thị thành
    Về quê có gặp bạn t́nh hay chăng?
    Mẹ già quơ củi sau vườn
    Hoa cau rụng trắng bờ mương nước đầy
    Sớm trông chiều ngóng chân mây
    Con đi biền biệt từ ngày chiến chinh.

    Trong một thời gian dài nàng hầu như có thói quen sang nhà má Bảy để “may rủi” không thấy tôi ở nhà, gặp thơ xanh thẳm bóng dừa mà đọc. Bàn tay đạo diễn của má rất khéo léo Một hôm nàng đang đọc th́ tôi bất ngờ “về tới”.

    Má Bảy nói ngay:

    – Cháu tao nó mới tới đó. Nó thấy giấy rớt dưới đất nên nó lượm lên dùm.

    – Cảm ơn cô. Tôi đi lại quán mua trà quên giằn nên gió bay.

    Nàng lựng khựng một chút rồi nói lí nhí trong miệng:

    – Con đi à… bà Bảy!

    – Ở, đi rồi mai mốt qua bà nhờ chuyện này.

    Nhờ hoài nhưng không biết là chuyện ǵ. C̣n tôi th́ cứ làm thơ dừa xanh cả ngàn câu chớ không phải ít. Nói về giải phóng bao nhiêu th́ mô tả nàng học sinh bấy nhiêu. Lần đó tôi viết hẳn một đoạn, bày tỏ ư muốn lập gia đ́nh với nàng. Nàng vẫn sang và đọc như mọi lần.

    Nlhưng bỗng nàng không sang nữa. Nàng có đi đánh lá mía nhưng má gọi th́ nàng lẩn tránh. Tôi hồn vía lên mây, lại … nữa rồi. Tôi không giấu được nỗi buồn từ khi vắng bóng hồng. Má Bảy an ủi tôi:

    – Con gái mới lớn lên, nó hay mắc cỡ, hoặc ba má nó rầy rà , nên nó không sang nữa. Hai lẽ đó không biết lẽ nào. Để tao ḍ ư tứ nó xem sao.


    Mai tiếp ....

  8. #4678
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    T́nh h́nh sau Mậu Thân càng găng tới. Không có ngày nào vùng này yên ổn. Cứ vài hôm lại chụp một phát. Lại c̣n thêm tiết mục mới là trực thăng soi. Ban đêm nó đang bay trên đầu, ḿnh đi dưới đất hoặc bơi xuồng, chạy đuôi tôm trên sông, yên chí lớn là nó không thấy ḿnh, nhưng bất th́nh ĺnh nó bật đèn lên sáng choang, con kiến ḅ cũng rơ. Nếu có bụi rậm th́ lủi vào. Nhưng đi giữa đồng trống th́ ḷi lưng. Nó xả súng bắn, hoặc táo bạo hơn, nó đáp xuống chĩa súng bắt.

    Ngoài ra lại c̣n có tin đồn quân B́nh Định trở lại. Ruột rối như tơ ṿ . Một buổi chiều êm ả duy nhất từ mấy tháng nay, tôi đi thơ thẩn trên bờ ruộng sau nhà má, mắt ngó về phía vườn chuối xanh trong đó ẩn nấp một mái lá . Dưới mái lá đó là bóng hồng thân thuộc lâu nay.

    Tôi lẩm nhẩm bài Lỡ Chuyến Đ̣ của Anh Việt. Anh Việt là bạn của hai ông bạn nhạc sĩ của tôi thời kháng chiến: Thanh Cao và Thanh Sử. Hai bạn này thường nhắc đến Anh Việt (không đi kháng chiến). Đặc biệt hai bản nhạc bất hủ của Anh Việt được Thanh Cao và Thanh Sử chơi Hạ Uy cầm và violon c̣n tôi th́ solo luôn. Hai bài đó được cán bộ kháng chiến rất mê . Đến nỗi trong tập nhạc cá nhân của thằng nào cũng có, cơ quan phải cấm nhưng càng cấm cán bộ càng hát lén dữ dội. Tôi chỉ c̣n nhớ được vài câu:

    Chiều vàng lại đem mong nhớ tiếc thương bóng con đ̣ xưa
    Và chiều chiều thôn nữ vấn vương…

    Tôi bỗng bật cười khi hát, ḿnh là khách lỡ chuyến đ̣ vừa là nghệ sĩ. Nghệ sĩ lỡ chuyến đ̣. Chuyến này không phải là thứ nhất. Cả chục chuyến rồi. Chuyến nào cũng sắp sang nhưng rồi không sang được. V́ hoàn cảnh éo le. Nếu t́nh thế b́nh thường th́ cha mẹ tôi đă có cháu lớn rồi. Khi tía tôi bằng tuổi tôi bây giờ th́ tôi đă học trung học.

    Chiều buồn mênh mông. Nhớ nhà, nhớ những kỷ niệm Hà Nội. Nhớ người đàn bà đă có chồng mà muốn ly dị chồng để yêu tôi. Chỉ dấn thêm một bước nữa là thành. “Em yêu anh như yêu mối t́nh đầu” Ácxinha nhân vật của Cholokhov trong Sông Đông Êm Đềm có mối t́nh bốc lửa với một anh chàng đă có vợ là Gorigôri làm anh chàng này không dứt ra được. Đàn bà khi đă yêu th́ t́nh yêu vô cùng quyết liệt. Chỉ đàn bà mới biết yêu và phục vụ t́nh yêu.

    Tôi ngồi giữa đồng, không muốn vào nhà nữa, nhưng sực nhớ chiến thuật soi cá của trực thăng nên vội vă men về vườn. Vào nhà thấy má vừa đốt đèn, mặt má tươi rói:

    – Mày đi đâu năy giờ tao kiếm không được.

    – Dạ con ở ngoài ruộng.

    – Mai mày chuẩn bị đi nghe !

    – Dạ chuẩn bị ǵ vậy má ?

    – T́m người đi về móc gia đ́nh.

    – Chung quanh Cầu Mống bây giờ lính bủa vây đâu có ai đi lọt, má !

    – Vậy th́ làm sao?

    – Có việc ǵ quan trọng vậy má?

    – Chuyện của mày chớ c̣n chuyện ǵ nữa!

    Tôi ngớ ra, má nói tiếp:

    – Người ta chịu gả rồi, nhưng người ta đ̣i phải có người của gia đ́nh mày đến.

    Tôi ngẫm nghĩ một hồi rồi hỏi:

    – Nhưng ai vậy má?

    – Th́ c̣n ai nữa? Thằng bác ruột nó biết bên gia đ́nh mày. Tao nói hết gốc gác của mày th́ bác nó bảo là tưởng ai chớ ông già mày là bạn đá gà của nó hồi trước. Nó c̣n xúi ông già con nhỏ: “Tưởng ai th́ c̣n điều tra chớ chỗ đó th́ nên gả!”.

    Nghe má nói tôi tưởng chừng một cú sét đánh bên tai mà cái búa Thiên Lôi làm bằng một đóa hoa hồng. Nhưng gia đ́nh đồng ư c̣n đối tượng th́ sao?

    Ít lâu nay tôi không côn trông thấy nàng thấp thoáng trong mấy bờ mía nữa. Tôi phải t́m cách gặp nàng để xem t́nh ư. Nàng không sang nhà má Bảy, th́ tôi phải đến nhà nàng, nhưng với lư do ǵ? Không có lư do ǵ cả.

    Ngày ngày tôi cứ ngẩn ngơ. Vẫn ngồi ở bàn làm như sáng tác, nhưng sự thực th́ chỉ “sáng tác” thư t́nh và thơ t́nh. Có khi cả chục trang viết xong mà không biết làm sao đưa. Nàng có mấy đứa em trai ra vào ngôi nhà lớn của nàng ngang nhà má Bảy. Ngôi nhà nay đă dỡ đi cột kèo xếp lại chở về Mỏ Cày để gởi bà con giữ giùm.

    Trong nền nhà đó, ban đêm tôi lén đào chôn chiếc thùng tiểu thuyết của tôi. Trong vườn chuối của gia đ́nh nàng, tôi cũng đă đào một cái hầm bí mật. Mấy đứa em nàng đi bắn chim, hái ổi t́nh cờ lại t́m thấy cái nắp. Chúng bèn kêu nàng ra xem. Tôi thấy thế bèn chạy sang. Biết là hầm ḿnh bị lộ nhưng lại có dịp gặp nàng. Thấy tôi đến mấy đứa bé nh́n tôi bằng cặp mắt ḍ xét rồi lần lượt chúng lảng tránh. Tôi tưởng nàng cũng đi theo đám em, chẳng ngờ nàng đứng lại. Đây là cơ hội ngàn năm có một. Tôi hỏi:

    – Sao lâu nay không thấy em ra đánh lá mía nữa?

    Nàng nghiêm nghị đáp:

    – Phải chờ một tháng mới có lá khô.

    – Lâu quá vậy?

    – Phải chờ, nếu sốt ruột th́ lá non không đánh được.

    – Bờ nào cũng vậy sao?

    – Em đánh qua lượt hết rồi.

    Tôi đă thủ sẵn một xấp cả chục lá thư nhưng không dám đưa. Sợ người ta không nhận. May sao nàng lại hỏi:

    – Anh có làm tiếp bài “Bến Tre xanh thẳm bóng dừa” không ?

    – Có, đây nè, em có muốn đọc tiếp không?

    Tôi vừa hỏi vừa đưa ra. Nàng hơi lưỡng lự rồi nhận xấp giấy từ tay tôi.

    – Sao lâu nay em không sang nhà bà Bảy chơi nữa?

    Nàng ngập ngừng một chút rồi nói:

    – Em qua, bà nói chuyện ǵ kỳ quá hà!

    – Chuyện ǵ mà kỳ?

    Nàng đỏ ửng mặt, tay bứt mấy chiếc lá ổi non ṿ nát mà không nói ǵ. Tôi hỏi:

    – Chuyện ǵ, đâu em kể lại cho anh nghe với, được không?

    – Bà hỏi em có chịu đi chờ Cầu Mống không?

    – Chợ Cầu Mống th́ cũng như chợ Cái Quao, chợ Mỏ Cày vậy chớ có ǵ mà kỳ.

    Nàng dậm chân nhè nhẹ:

    – Không phả…ải. Bà có ư khác.

    – Ư khác là ư ǵ?

    – Mà thôi bỏ qua đi. Em nhờ anh giúp chuyện này một chút.

    – Chuyện ǵ nói đi!

    Tôi mừng rơn trong bụng. Chuyện lên trời xuống biển ǵ mà không nhận? Nàng nói:

    – Ở xă muốn em dạy học. Em biết ǵ mà dạy. Nhưng ba em đă nhận lời rồi.

    Tôi bảo:

    – Em dạy được mà. Trẻ con ở thôn quê ít học lắm.

    – Em dạy ǵ nổi ba lớp một lúc. Em đâu có từng làm cô giáo.

    – Em dư sức dạy mà. Em cứ bắt đầu, rồi anh giúp cho.

    – Bộ trước đây anh có dạy học sao mà giúp?

    – Không. Nhưng dạy con nít khó ǵ.

    Nàng giở xấp giấy ra liếc qua và nói:

    – Thơ ǵ mà nhiều dữ vậy?

    – Thơ của anh làm.

    – Giải Phóng mà cũng biết làm thơ sao?

    – Biết chớ.

    – Vậy em nghe báo thành nói Giải Phóng rừng rú, dă man, ốm yếu ba người đeo một tàu đu đủ không rụng.

    Nàng che miệng quay ngang. Tôi bật cười to lên rồi hỏi:

    – Như anh vầy, em coi có dă man không?

    Nàng cười và lắc đầu. Thỉnh thoảng nàng đi đâu về, ghé nhà má nói chuyện với tôi. Má thấy chúng tôi xưng hô “anh, em” với nhau ngọt ngào, bèn bảo cô nàng:

    – Hổm rày tao thèm bánh mà không biết bánh ǵ, sẵn có cháu đây làm một món!

    Nàng lắc đầu:

    – Cháu không biết làm bánh ǵ hết.

    – Ờ phải, con gái ở chợ, muốn ăn bánh th́ đi mua. Vậy thôi làm kẹo bẹ chuối ăn uống trà đỡ đỡ.

    – Cháu cũng không biết nữa.

    – Bà chỉ cho làm!

    Rồi không đợi cô bé đồng ư, má lấy dao nạy đường mía trong hũ ra để trong soong chụm lửa và dặn:

    – Cháu ngồi coi chừng để bà đi cắt ít cái bẹ chuối.

    Thấy tôi đứng xớ rớ bên cạnh, má lại trách:

    – Con trai không biết làm ǵ hết, nữa có vợ, vợ nó bảo nấu cơm kho cá không biết làm nó đánh đ̣n.

    Tôi cười:

    – Con nấu cơm giữa trời mưa c̣n chín đó má ạ !

    – Vậy th́ ở đó phụ với người ta nấu nước đường, đừng để cho khét.

    Nàng cúi nh́n lửa, đôi má đỏ rần. Tôi rón rén ngồi xuống cách nàng xa xa. Thỉnh thoảng lại rút một thanh bă mía khô đưa cho nàng. Nàng đưa tay lấy mà không quay mặt lại nh́n tôi. Thấy nàng nhận sự ngồi gần của tôi, tôi bèn nhích tới chút, rồi lấy chiếc muỗng đưa cho nàng, bảo:

    – Em khuấy lên cho đều kẻo khét.

    Nàng cũng làm theo tôi bảo nhưng vẫn không nh́n tôi. T́nh yêu có mắt sau lưng. Tôi thấy trán nàng rươm rướm mồ hôi bèn đi lấy chiếc khăn của tôi đưa cho nàng:

    – Em lau mồ hôi đi !

    Nàng đưa tay quệt ngang trán chớ không nhận khăn. Tôi hơi bối rối trước sự từ chối nho nhỏ đó, định bụng t́m kế khác nhưng má đi vào, tay cầm một mớ bẹ chuối. Má bảo cô nàng:

    – Để đó bà coi chừng, cháu di ra cái tủ ngoài vườn lựa lấy vài cái dĩa đem vô đây đổ kẹo.

    Nàng vừa đi th́ má lại bảo tôi.

    – Con ra phụ với nó. Chén dĩa để lộn xộn lắm. Không dám để trong nhà v́ sợ cháy nhà tiêu hết. Mau lên, con trai ǵ không sáng trí.

    Tôi hiểu ư má bèn nhanh nhẩu đi theo nàng. Chiếc tủ đứng giữa những bụi chuối. Nàng sợ rắn không dám chen vào Tôi xung phong thay cho nàng. Tôi lấy chén dĩa đưa ra nàng cầm lấy xếp dưới đất. Đến vài lần nàng vừa đưa tay ra để nhận th́ tôi cầm chặt lấy rồi bất thần tôi hôn. Rồi hôn luôn trên má nàng. Mặt nàng đỏ rần. Nàng lí nhí trong miệng:

    – Bà Bảy thấy mét ba.

    – Không thấy đâu.

    – Bà ra kia ḱa.

    – Bà không rầy đâu!

    Tôi lại hôn lên má nàng những cái hôn thật dài. Chúng tôi không nói ǵ với nhau. Chúng tôi hôn nhau. Hôn chính là lời nói, lời thơ. Thơ nào, lời nào nồng nàn bằng những cái hôn mở ngơ một cuộc t́nh.

    Chúng tôi đi vào. Má bảo nàng để ngửa những bẹ chuối trên ván lấy dầu dừa thoa lên và bảo tôi lấy muỗng múc nước đường đổ từ từ lên những bẹ chuối, với sự điều khiển của má, nàng cầm đũa khuấy cho đường kẹo lại. Má bảo:

    – Kẹo tốt lắm. Vậy là thành rồi.

    Rồi má xách cái soong ra ao cạo rửa. Tôi bắt ngây nên t́m cách hôn nàng. Tôi nh́n những vệt trầy trên tay nàng và hỏi:

    – Tay em sao vậy .

    – Lá mía cắt.

    Tôi bất thần cầm lấy rồi hôn luôn. Rồi đưa lên miệng mút những ngón tay dính đường. Nàng đẩy nhẹ tôi ra:

    – Bà Bảy vô ḱa!

    Má nhắc lại lần nữa.

    – Kẹo dẻo chớ không loăng. Vậy là thành rồi !


    Mai tiếp ....

  9. #4679
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Đám cưới của tôi thật gian nan. Quân B́nh Định đă đóng lại chợ An Định làm rối loạn của sinh hoạt khu giải phóng. Đường đi nước bước thay đổi hoàn toàn. Cơ quan đua nhau lủi. Những ông cán thận trọng biết hầm hố vùng này không c̣n tác dụng nữa, nên cạy nắp hầm gói vô nilông quảy sau lưng đi t́m địa điểm mới kiến trúc cái khác.

    Nhà nhạc phụ tôi ở cách chợ chừng non hai cây số. Lúc bấy giờ tôi đang ở bên An Thới gần văn pḥng Tỉnh Ủy và Phụ Nữ tỉnh. Tôi không thể rước gia đ́nh ở Cầu Mống lên được v́ ở dưới đó quân B́nh Định cũng đă lấn chiếm, ngoại khó nhập mà nội th́ khó xuất. Gần ngày đám cưới mà tiền không có để mua nữ trang cho cô dâu.
    Đă đành là dân giải phóng nghèo kiết nhưng cũng phải giữ lễ. Tôi bèn mạo hiểm băng đồng về Tân Trung rồi len lỏi trong vườn về Minh Đức đến nhà ngoại tôi, cầu cứu với d́ Năm tôi. D́ bảo em tôi lấy nữ trang cưới của nó đưa cả cho tôi và cho tôi một số tiền mua sắm thêm “để bên đàng gái chê ḍng họ ḿnh”. Tôi gởi đó , đi Bến Tre mua thêm vài ba món cho đủ bộ.

    Chị Sáu Ḥa đoàn trưởng Phụ Nữ Giải Phóng Tỉnh đă từng mai mối cho tôi nhiều cô trong số cán bộ của chị, nhưng tôi không ưng cô nào. Do thế ngày nay nghe tôi cưới vợ là nữ sinh thành th́ có ư không vui. Chị bảo:

    – Nên coi lại thành phần.

    Tôi trả lời nhỏ nhẹ:

    – Bác vợ tôi có hai người con trai hi sinh. Cô của vợ tôi có con đi cán bộ tỉnh.

    – C̣n một cánh ở Sài G̣n th́ sao?

    – Gia đ́nh vợ tôi ở trong vùng giải phóng không có liên lạc với “họ”..

    – Để tôi xin ư kiến Tỉnh Ủy đă . V́ hiện giờ Tỉnh thay mặt cho R giải quyết việc hôn nhân cho cậu.

    Tôi hơi nực nhưng cố nén ḷng và lễ phép tối đa. Chị Sáu là Tỉnh Ủy Viên. Tôi quen hồi thời kháng chiến.

    – Dạ thưa chị Sáu, mọi việc đă do hai bên gia đ́nh chúng tôi xếp đặt cả rồi. Chỉ c̣n mời đại diện Tỉnh Ủy đến chứng kiến. Cá nhân tôi đề nghị chị thay mặt Tỉnh Ủy đến công nhận cuộc hôn nhân là đủ.

    – Ngày nào th́ em tiến hành?

    – Dạ hai bữa nữa.

    – Chờ đúng ngày sinh nhật Bác cử hành luôn cho đầy đủ ư nghĩa cậu à.

    – Dạ tôi sợ t́nh h́nh không ổn. Nên ngày nào không có chụp dù th́ ngày đó có ư nghĩa. Nếu đ́nh hoăn sợ đàng gái bắt bẻ.

    Chị biết không có cách ǵ ngăn cản hoặc đ́nh hoăn lễ thành hôn của tôi nên đành phải nhận lời đại diện Tỉnh Ủy đến làm chủ hôn đàng trai.

    Buổi lễ cử hành trong căn cḥi túm húm ở sau vườn nhà nhạc phụ tôi. Chủ tọa vừa tuyên bố lư do xong, cô dâu chú rể sắp ra tuồng th́ trực thăng tới. Từ xa đă thấy đèn rọi, chụp xuống đất dọc theo gân lộ đá tỉnh bị phá hoại từ 45 c̣n sót lại. Cả đám tiệc tắt đèn ngồi êm rơ, chờ cho trực thăng biến mất mới thắp đèn lại, tiếp tục. Mặt người nào người nấy cắt không được hột máu. Cũng may, ngoài trực thăng không có màn ǵ khác. Nếu cà-nông thụt th́ không có đủ hầm để chun.

    Đại diện Tỉnh Ủy đứng lên lặp bặp vài ba câu vừa công nhận cuộc hôn nhân vừa chúc mừng đôi tân hôn. Rồi chàng rể trao tặng cô dâu một bó hoa do bà đạo diễn của đoàn văn công tỉnh sáng tác. Thế là kết thúc. Mỗi đại diện cơ quan đến dự được ông nhạc tôi tặng một cục thịt heo rồi mạnh ai nấy hối hả ra về.

    Thế là tôi đă có vợ. Một biến chuyển lịch sử trong đời cách mạng chầu ŕa của tôi. Qua một sớm hôm một chiều , tôi đă là chồng của một người con gái.

    Khuya hôm đó đôi tân hôn phải dắt nhau băng đồng qua An Thới hăy c̣n chưa bị quân B́nh Định thăm viếng. Ông nhạc tôi bảo vợ chồng tôi đến nhà ông Ba C̣n là người quen để ở đậu. Ông Ba C̣n tuổi chỉ bằng ông nhạc tôi nhưng ông để râu dài như cụ Hồ. Nghe vợ chồng tôi đến, ông sốt sắng kêu các con trai khiêng bàn ghế, giường ngủ đến ngôi nhà trong vườn của ông cho vợ chồng tôi ở.

    Ngôi nhà ba căn đầy đủ tiện nghi, nhưng theo thời trang bây giờ th́ không dùng được . V́ nó ở trong vườn, mà vườn là mục tiêu của bom pháo. Cho nên gia đ́nh ông cất cḥi ngoài ruộng để ở tạm. Của đáng tội , cḥi cách nhà chừng trăm thước. Tuy vậy, ông yên tâm là khỏi bị trực thăng và đầm già để ư.

    Gia tài của cặp vợ chồng mới gồm có cái ba lô bao tử trâu của chồng, và cái xách tay bằng ni lông trong đó đựng vài bộ bà ba và một ít đồ tế nhuyễn của vợ. Thế là hết. Nếu muốn kể thêm th́ c̣n vài món khác như đôi dép bắt heo và cây K54.

    Vừa đặt ba lô xuống là tôi đi rảo sau vườn để nghiên cứu những tử điểm và sinh lộ. Sau nhà là Rạch Cái Chát không rộng lắm , nhưng nếu ai không biết bơi th́ nhảy xuống đó sẽ bị bà thủy mời dễ dàng. Hai bên bờ rạch là lá dừa nước um tùm. Nếu trực thăng nhảy gị ở trước ruộng th́ tôi có thể vọt qua rạch dông một hơi đến “vương quốc Thành Thới” một vùng tiếp giáp với bờ sông Cổ Chiên và bên kia sông là tỉnh Trà Vinh: Thành Thới có rất nhiều vùng đất hoang rậm ri, có thể làm nơi cho tôi dung thân vạn đại.

    Nh́n qua địa thế hiểm trở, tôi lấy làm an tâm xây tổ uyên ương trong ngôi nhà bỏ hoang này. Đoán chắc t́nh h́nh thay đổi làm cho vợ tôi suy nghĩ bâng quơ và buồn bực, tôi bèn lấy hết lập trường cách mạng ra để công tác chính trị cô nàng. Nhưng vợ tôi cười vui vẻ:

    – Em đâu có sợ lính quốc gia mà anh lo dữ vậy! Em gặp họ hoài. Họ có ǵ đáng sợ đâu.

    Tôi mừng rỡ, nói tiếp:

    – Dần dần rồi em sẽ quen với đời sống lưu động của anh.

    – Anh không phải ngại ǵ cả . Anh đi đâu em đi đó . Em biết trước cuộc sống của anh rất cực khổ nhọc nhằn nhưng em vẫn yêu anh. Em chấp nhận cuộc sống của anh và coi đó là cuộc sống của em.

    Được lời như mở tấc ḷng, tôi hôn nàng say đắm. Ở đây chúng tôi sống tiếp tuần trăng mật, hầu như quên lăng cả thế giới bên ngoài.

    Không ngày nào dài bằng ngày chúng tôi
    Không đêm nào ngắn bằng đêm chúng tôi
    Không ngày nào ngắn bằng ngày chúng tôi
    Không đêm nào dài bằng đêm chúng tôi.

    Bây giờ tôi không sáng tác Đồng Khởi mà cũng không làm thơ Bóng dừa xanh thẳm nữa. Không bóng nào xanh thẳm bằng mắt, tóc của nàng.

    Anh yêu em tuyết phủ
    Anh yêu em sông dài
    Anh yêu em núi một
    Anh yêu em đồi hai.

    Bài thơ dài vô tận c̣n nằm trong ḷng tôi chưa viết lên trang giấy. Một hôm trong lúc yêu nhau tôi nói với nàng:

    – Hai mươi năm sau con đầu ḷng chúng ḿnh sẽ đỗ tú tài.

    Chúng tôi đă thực hành được lời hứa này. Lúc nào yêu nàng tôi cũng nghĩ đến đứa con mà chúng tôi sẽ có. Để cha mẹ tôi ẵm bồng nâng niu. Đó cũng là cách tránh khỏi cái tội bất hiếu của tôi.

    Bỗng một hôm Tư Mô đến thăm tổ uyên ương của chúng tôi. Vợ tôi nấu đăi anh một tô ḿ gói. Loại ḿ này chúng tôi dự trữ hằng khối trong nhà để pḥng khi ứng dụng, nhất là khi có chụp th́ nàng nhét hai ba gói vào trong chiếc túi con cho tôi đắp đầu gối để chạy cho khỏe. Tư Mô húp xong tô ḿ rồi chậm răi móc trong túi ra nào là tiêu tỏi hành ớt tương chao nghệ ngăi bày đầy một bàn, tỏ vẻ t́m kiếm.

    – Anh t́m cái ǵ vậy?

    – Công điện ở trên Tiểu Ban R.

    – Nói cái ǵ?

    – À, đây rồi. Hồi năy tôi dùng gói bột ngọt… Ở trên bảo ḿnh về gấp.

    Tôi ngẩn người ra hồi lâu mới đọc:

    ” Tiểu Ban Văn Nghệ R gởi Tỉnh Ủy Bến Tre, Tư Mô và Hai Bùi về gấp. Tư Siêng. “

    Tôi đưa cái công điện lại cho Tư Mô. Anh bảo:

    – Chú tính thế nào?

    – Về ǵ được mà về !

    – Quân áo Đen’ đóng lan ra tới Ngă Tư Giồng Vơ rồi.

    – Anh đi ngă nào tới đây?

    – Chẳng biết ngă nào mà nói, cứ nhắm hướng càn đại tới !

    – Sao anh biết vợ chồng tôi ở đây.

    Tư Mô cười:

    – Bây giờ có vợ rồi ăn nói mạnh miệng ha ! Tôi có đến nhà ông nhạc chú. Ủa thím Hai đâu rồi? Ông nhạc chú gởi cho chú thím vài thùng đường mía.

    Tôi kêu lên:

    – Làm sao anh vác nổi. Mỗi thùng 50 kí lô lận mà !

    – Đường đă đổi ra tiền nên nó nhẹ hoe thôi, chú nó !

    – Ba má tôi mạnh hả anh Tư?

    – Mạnh hết. Nghe gia đ́nh sắp dời lên Mỏ Cày ít lâu , lính đóng đồn xong sẽ về. Bây giờ lúc tranh tối tranh sáng, bom đạn mệt lắm.

    Vợ tôi vốn quen tánh anh Tư, hễ ngồi lại là hút thuốc uống trà, nên đă nấu nước sôi. Anh Tư lấy trà ra bỏ vô b́nh:

    – Ở trên R uống trà con khỉ hộc máu, xuống đây cũng gặp nó, cho nên chúng ḿnh lúc nào cũng chạy hộc máu mồm…

    Vừa uống trà chúng tôi bàn thêm về bức công điện. Anh Tư nó́ nhỏ với tôi:

    – Có lẽ Tỉnh Ủy báo cáo lên trên.

    – Báo cáo ǵ anh?

    – Vụ vợ con của chú sao đó, biết đâu !

    Tôi phát cáu nhưng anh nháy tôi , bảo giằn lại kẻo cô nàng nghe. Tôi nói to:

    – Đường dây chắc chắn là đứt hết. Bây giờ giao liên chạy tán loạn, dễ ǵ mà t́m được trạm.

    – Đó không thành vấn đề .

    Anh lại móc đưa một tờ giấy khác, bảo:

    – Chú đọc đi !

    Th́ ra cái “thông báo” của văn pḥng Tỉnh Ủy cho hay sẽ cắt sinh hoạt phí của chúng tôi. Thật ra số tiền đó không đủ mua dấm nấu một nồi canh chua. Lâu nay về đồng bằng tôi sống nhờ sự tiếp tế của gia đ́nh nhiều hơn. Nhưng sự cắt sinh hoạt phí này có tính chất đe dọa , bắt buộc chúng tôi phải cuốn gói, chết sống băng Đồng Chó Ngáp về R.

    Anh Tư vừa nhấp trà vừa b́nh luận:

    – Đi th́ không thể, ở không xong.

    – Ḿnh cứ coi như không có cái công điện này.

    – Giỡn hoài chú nó !

    – Theo anh th́ phải quyết định như thế nào?

    Tư Mô ngồi làm thinh. Anh đă trải qua quá nhiều éo le trong cuộc đời đi theo cách mạng của anh nên gặp chuyện ǵ , dù phật ư đến đâu anh cũng phản ứng rất nhẹ nhàng, khác hẳn với ‘tôi. Có lẽ Tỉnh Ủy đă báo cáo vụ tôi cưới vợ chăng?
    Tôi vụt nhớ chuyện bác Ba Lắm B́nh Xuyên. Ba Lắm là một trong những ông tướng chỉ huy đánh trận Cầu Mống ở làng tôi. Khi ra Bắc, tôi nghe bác bỏ về phục viên với chức “đại đội phó”. Suốt chín năm không được đề bạt một cấp nào. Tôi gặp bác tại nhà bác gái ở gần Cầu Long Biên. Tôi nhắc chuyện xưa. Bác lắc đầu:

    – Thôi cháu ơi ! Dân Nam Bộ ḿnh bị hố rồi, nhớ chuyện xưa chỉ thêm đau ḷng!

    Lúc đó bác đă ngoài năm mươi mới cưới vợ. Bác gái là một bà tư sản có phố cho mướn, có con phục vụ chế độ: một là bác sĩ, một là diễn viên kịch nói. Thế nhưng bác bị ban tổ chức trung ương qui cho cái tội’ “mất lập trường”.

    Bác nói với tôi:

    – Chúng nó bỏ vợ lớn lấy con địa chủ th́ cho là khuyết điểm sinh hoạt, c̣n ḿnh lấy một bà góa bị tước đoạt hết tài sản th́ bị qui là mất lập trường.

    – Trường hợp của tôi th́ sao? Sao th́ sao. Mặc ! Tôi không sợ ǵ nữa. Muốn kỷ luật ǵ th́ kỷ.

    Tư Mô rỉ tai tôi:

    – Hai Tranh phó bí thư Tỉnh Ủy vừa bị bắn chết ở Đồng Chó Ngáp!

    – Tin ở đâu vậy?

    – Tin hành lang. .

    – Thằng chả đi đâu lên đó?

    – Đi lên R để nhận chỉ thị cho t́nh thế mới ǵ đó !

    Anh Tư nói vậy th́ có nghĩa là không thể về, không nên về , đừng về .

    – Tụi nó sẽ đóng bít hết Cù Lao Minh. Không biết rồi ḿnh chạy đi đâu.

    – Bộ đội không “gỡ” được cái đồn nào hay sao?

    – Chú không biết là trong Tết bộ đội ḿnh bị thiệt hại bộn à ?

    – Nó sẽ bỏ ṿi vô tới chợ An Thới. Ḿnh lại phải đi khỏi chỗ này.

    – Qua Thành Thới trú tạm ít lâu vậy. Ở đó có hai ấp An Trạch Đông và An Trạch Tây c̣n độc lập.

    Sau đó anh t́m nhà một nông dân ở đậu, nhà ông Năm Triều, ngày ngày bắt nhái, làm mồi câu cua sinh sống, chớ không ở với chúng tôi. Anh không muốn quấy rầy cặp vợ chồng mới.
    Ngày nào tôi cũng thấy hàng đàn dân chúng , cán bộ đi qua đi lại trước cửa nhà tôi, như kiến động ổ. Quả thật không bao lâu, quân B́nh Định bỏ ṿi vô An Thới.T́nh thế bi đát vô cùng. Tôi định đưa vợ tôi về với gia đ́nh ông nhạc để nàng lên Mỏ Cày ở tạm. Như vậy th́ càng mất lập trường. Nhưng vợ tôi không chịu đi.

    – Anh đâu em đó !

    Thế là vợ chồng tôi đành phải bỏ cái tổ êm ấm này chạy qua Thành Thới . Chỉ hôm sau là quân B́nh Định chiếm luôn An Thới không có một phát súng phản ứng.

    Tưởng rằng t́m được nơi héo lánh mà ẩn thân chẳng ngờ qua đó lại đụng đầu cán bộ lụp cụp. Càng rủi hơn lại chạm trán tên Nhái bén. Hắn có vẻ không bằng ḷng nhưng chẳng dám nói ǵ. V́ đất này đâu phải của riêng ai.
    Thấy tay chân mặt mũi vợ tôi không hạp với sinh hoạt nông dân, tôi phải t́m quần áo phèn cho nàng mặc. Ngoài ra tôi c̣n dặn:

    – Nếu có gặp lính chụp th́ em cứ nói em là cháu của Tổng Cường, dượng rể ở quận Hương Mỹ.

    Nàng cười:

    – Anh sợ lính chớ em không sợ đâu. Hồi trước em gặp họ hoài mà.

    Chúng tôi may mắn gặp một anh bạn do Tư Mô giới thiệu. Đó là Ba Sơn, người ở thị xă Bến Tre. Ba Sơn làm việc trong ban Điện Đài của Tỉnh Ủy. Ở cơ quan này c̣n có anh Hồng là con của cô vợ tôi. Anh Hồng có đến hỏi thăm chúng tôi qua loa rồi biến mất. Chúng tôi không nhờ cậy ǵ được . Một hôm Ba Sơn bảo tôi:

    – Anh chị phải đi qua bên Cù Lao Bảo mới yên. Tỉnh ủy sắp “lui ghe” rồi.

    Nghe câu nói đó tôi mọc ốc đầy ḿnh. Cưới vợ xong, chưa gặp lại gia đ́nh, cũng không cho vợ về thăm. Vợ tôi làm sao vượt sông Hàm Luông nổi ? Cô nàng có chịu bỏ xứ mà đi lưu linh như tôi không? Qua đó tứ cố vô thân, lấy đâu làm nguồn tiếp tế?

    Nhưng may quá, nàng vẫn cương quyết “anh đâu em đó”. Thế là cuộc trường chinh bắt đầu. Ba Sơn cũng có một cái “rờ-moọc” đeo sau lưng như tôi mà lại đang trọng tải “một trái bầu” khá to. Đường đi thuộc ḷng , do Ba Sơn hướng dẫn trên con đường “Ba bước lội” (nói nhại tên xă Đa Phước Hội) không có khúc nào khô ráo được vài thước, toàn bùn śnh và cầu kỳ quái gở. Nhưng vợ tôi cũng cố mím môi mím lợi mà lội với t́nh cảm “Chàng đi theo nước, thiếp theo chàng!”

    Riêng tôi đă phải vượt sông Cửu Long năm bảy lần rồi, bây giờ thêm một lần nữa cũng chẳng sao. Trước khi bốn ông bà xuống chiếc ghe tang thương, anh giao liên khai thông tư tưởng bằng một giọng lạnh như tiền:

    – Bến này đă bể. Đầm già vừa phóng pháo hôm qua. Chúng tôi đi chuyến này là chuyến chót. Đuôi tôm chạy không bảo đảm. Nếu ra giữa sông mà chết máy th́ yêu cầu các đồng chí bơi tiếp. Nếu đầm già hoặc trực thăng tới th́ các đồng chí tự lo liệu lấy…

    Chúng tôi đành cắn răng nhắm mắt mà bước xuống ghe . Hành thuyền kỵ mă tam phân mạng. Đó là thuyền b́nh thường, c̣n đây là thuyền giao liên th́ thập tử nhất sanh.


    Mai tiếp ....

  10. #4680
    tran truong
    Khách

    ĐỒNG-BẰNG GAI-GÓC

    Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đ́nh nông dân từng học tại trường College Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ vàng Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đă đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch" của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia hội nhà văn (cùng khóa với Phùng Cung (có bài viết là Phùng Quán [Thực ra Phùng Cung và Phùng Quán là hai người khác nhau. Phùng Cung là tác giả "Con ngựa của chúa Trịnh", c̣n Phùng Quán là tác giả "Tuổi thơ dữ dội". Cả hai nhà văn đều vướng vào vụ án Nhân văn Giai Phẩm]) 1958. Năm 1965 ông vươt Trường sơn trở về miền Nam và đă ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1968.

    Ít ra , ông cũng để cho đời sau , biết rõ một phần sự thật trong cái gọi " xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước " . Mời bạn đọc xem , sự "thần thánh" của nó !!!!

    ...............



    Cũng may chuyến đi trót lọt. Lên bờ mạnh ai nấy vọt. Vợ chồng tôi đi theo vợ chồng Ba Sơn. Bà bầu đi lệt bệt. Vợ tôi thông cảm nữ giới với nhau nên đi kèm. Đây là đất Thạnh Phú Đông -Tân Hào , quê hương của lực lượng vơ trang tỉnh , thời đầu kháng chiến chống Pháp do các vị tiền bối Hai Phải, Ba Kích, Năm Hà, Bảy Cống nhen nhóm và phát triển thành bộ đội lớn sau này thành trung đoàn 99.

    Về đến nhà ông nhạc của Ba Sơn th́ trời tối. Ông già làm gà đăi con gái, con rể trở về nhà và vợ chồng tôi. Sáng hôm sau Ba Sơn lên giồng t́m cho vợ chồng tôi một cái nhà bỏ hoang cách đó chừng hơn một cây số. Như vậy cũng ấm cúng. Có chạy th́ chạy chung không đến đỗi cô đơn.

    Đây là nhà của anh Ba Dành. Cũng như ông Ba C̣n bên An Thới, anh Dành bỏ nhà lớn ra ngoài đồng ở cḥi. Anh có ba đứa con nhỏ, chị lại có bầu. Xóm ấp không có trường trại ǵ hết , nên anh gợi ư cho vợ tôi mở lớp dạy học.

    Một sáng kiến vĩ đại. Anh đứng ra sửa soạn lại ngôi nhà lớn cho vợ chồng tôi ở, phần c̣n lại th́ dùng làm trường học. Thiệt là đơn sơ đến mức tối đa. Pḥng của vợ chồng tôi dựng bằng vài tấm lá trống hốc , không có cửa buồng. Bên trong chỉ có một bộ vạt tre, dây mây bện đầu đứt hết. Tôi phải sửa chữa lấy, nhưng cũng may, bốn chân c̣n rất chắc. Đó là điều căn bản. Ngoài ra tôi đi t́m miếng ván làm cái kệ, ban đêm đốt đèn để lên đó cho bớt hoang vắng.

    Nhà c̣n một cái cũi chén và cái bếp có chân cao khá tốt. Vậy là đủ. Cần ǵ hơn? Chiếu? Anh Ba cho một chiếc cũ. Gạo? Mỗi đứa học tṛ đóng một lít mỗi tháng. Có hơn ba chục em trai lẫn gái. Phân chia làm ba, bốn lớp. Đứa nào biết tới đâu dạy tới đó. Tôi hết sức lấy làm lạ, vợ tôi không tỏ vẻ phiền hà buồn bực chút nào. Nàng nấu cơm, xách nước, dạy học như công việc đă quen từ lâu.

    Bà con lối xóm thấy cô giáo siêng năng, dễ thương th́ cho dừa khô , mắm, rau ăn thêm. Tôi ít khi giúp vợ tôi phóng bài cho các em. Tôi chuyên trách một công việc khác vĩ đại hơn nhiều. Đi chọp cá tép để ăn hằng ngày.

    Dễ lắm. Tôi đi t́m một miếng lưới rách, chặt bốn cành tre suông và một khúc tầm vông. Lúc c̣n nhỏ ở nhà , tôi vẫn thường đi chọp tép ở các ao mương. Bây giờ tái hành nghề chẳng khó khăn ǵ. Gần nhà anh Dành có rất nhiều ao. Tối tối, tôi đi giăng lưới bén, sáng dậy sớm đi gỡ cá rô đem về cho vợ làm rồi vác chọp đi công tác. Gặp đàn bà đi chợ về, tôi xin vài nắm cám. Tôi ṿ vào đất sét quăng xuống ao. Một chốc giơ chọp lên, tép nhảy tưng bừng coi mê mắt.

    Ăn không hết đem phơi khô đập lấy ruột bỏ vô keo , lâu lâu rủ cán bộ địa phương tới lai rai lấy cảm t́nh. Xă Tân Hào đặc biệt có một ông phó bí thư không đi được mà chỉ lết tục gọi là Mười Lết. Chính Mười Lết cho phép tôi đóng đô ở đây và cũng tới lui giúp đỡ tôi việc này việc khác.

    Anh kể rằng thuở bé anh cũng khỏe mạnh như trẻ con khác nhưng y tá của bộ đội Bảy Cống tiêm thuốc ở mông anh nhè trúng nerf sciatique nên anh bị xụi luôn chớ không phải bẩm sinh. Tuy kém “cái bề chân đứng” nhưng lại rất đắt mèo. Một cô y tá và một cô con gái bà má Hai đeo y và có lúc ghen tương suưt choảng nhau. Người ta đồn rằng , y có bùa hoặc ngón nghề ǵ đặc biệt, không rơ.

    Nhờ gạo của học tṛ và cá tép trời cho mà vợ chồng tôi sống cũng qua ngày đoạn tháng. Một hôm vợ tôi nhớ nhà đ̣i về bên An Định. Hai đứa bàn rằng , lính đóng đồn ở dọc lộ đá ḿnh về sẽ lên vùng An Huy đồng rộng mênh mông tá túc ở nhà cô Hai của vợ tôi sống cũng được. Lính không bao giờ đi tới đó .

    Hành lư đă gói ghém xong, vợ tôi chờ tôi đi móc với đường dây là lên đường hồi hương. Sự thực tôi không muốn đi , v́ liên lạc chỉ đưa ḿnh đi tỉnh đi R chớ không dắt tới các xă. Hơn nữa đồn bót mới không biết lối nào mà tránh. Ngoài ra c̣n biệt kích nhiều như trấu. Cũng may hôm ấy trời mưa. Cô giao liên Tỉnh Ủy ghé nhà tôi đụt mưa một cách bất ngờ.

    Tôi đi t́m trạm giao liên không kết quả nên trở về nhà . Gặp cô ta, tôi hỏi thăm t́nh h́nh bên Cù Lao Minh. Cô cho biết quân B́nh Định đă chốt Cầu Sập, Cầu Ông Ng̣, Ngă Tư Giồng Vơ , chợ An Thới, sắp sửa bỏ ṿi xuống Tân Trung, Giồng Cui, Tân Huề. Như vậy là Mỏ Cày và Hương Mỹ được nối liền nhau bằng một hệ thống đồn bót đóng dọc trục lộ giao thông chính . Vợ tôi nghe vậy bảo:

    – An Huy chưa bị đóng th́ không sao!

    Cô liên lạc bèn cho biết:

    – Kỳ này nó chơi ác, đóng luôn An Huy, tại nhà bà Hai Sâm.

    Vợ tôi giật ḿnh lặng thinh hồi lâu. Tôi biết đó là nhà cô Hai, ngôi nhà lớn nhất vùng, có lần nhạc phụ tôi chở tôi lên đó ăn giỗ. Cô giao liên c̣n quơ tay:

    – Tụi B́nh Định ác thiệt. Nó đă làm xong con lộ từ An Thới lên Thành Thới nối liền Thom. Con lộ này được đắp cùng một lúc với ông Diệm xây ấp Chiến Lược. Ḿnh phá ấp Chiến Lược xong phá luôn lộ. Bây giờ đă sửa lại xe máy dầu chạy rầm rầm. Nó vừa tổ chức chạy đua cả mấy trăm chiếc từ Mỏ Cày xuống Ngă Tư Cái Quao, vô An Thới lên Thành Thới lên Thom rồi trở về Mỏ Cày.

    Tôi nghĩ bụng vậy là nó chiếm trọn Mỏ Cày rồi ! nhưng không dám nói ra.

    Cuộc hồi hương đành hủy bỏ. Nếu lơn tơn về, dám bị biệt kích bắn chết. Trước đó có một cán bộ của tỉnh đội tên là Phan Thảo v́ hiềm khích nội bộ nên bị cơ quan cho nghỉ việc. Phan Thảo bèn về quê vợ ở An Thới. Về chưa tới nhà đă bị bắn chết.

    T́nh h́nh càng ngày càng bi đát. Một bầu không khí xám xịt bao trùm lên thôn xóm. Ai nấy đều t́m đường ra thành hoặc vùng Quốc Gia mới kiểm soát. Tôi cũng nghĩ tới việc đưa vợ về quê, không phải quê An Định mà là chợ Mỏ Cày. Ở đó vợ tôi có rất đông bà con bên ngoại.

    Một bữa, Tư Mô lại ghé nhà tôi. Tôi hỏi chận đầu ngay:

    – Lại công điện R nữa hả bác nó?

    Tư Mô giới thiệu một người tóc tai chân mày bạc phếu:

    – Đây là anh Hai Liêm trưởng ban Giáo Dục tỉnh.

    Hai Liêm có vẻ hóm hỉnh. Anh nh́n quanh rồi nói:

    – Ở đây nó thường đổ quân bốn chỗ . Giồng Đồng, Bào Sen, Giồng Chùa và Thạnh phú Đông, chú em phải định
    trước con đường thoát. Đừng đợi nước tới trôn mới nhảy.

    – Dạ tôi có nghiên cứu rồi anh Hai.

    – Nghiên cứu cách nào?

    – Dạ sáng sớm tôi ăn cơm xong th́ lên quán bà Mười “đóng quân” lóng ngóng chờ chụp đặng chạy.

    Thấy vợ tôi không có ở nhà, Tư Mô hỏi:

    – Ủa, thím Hai đâu? Bộ chú gởi về nhà rồi hả?

    – Cổ tanh cơm tanh cá nằm trong buồng!

    Tư Mô cười:

    – Chú giỏi lắm! ông già bà già chú có tương lai rồi. Chú muốn trai hay gái?

    – Trai gái ǵ cũng được miễn tía má tôi có cháu bồng th́ thôi.

    – Tôi cả thảy năm đứa. Mậu Thân vừa rồi mất một thằng đực, mà chết cháy thế mới đau!

    Ba ông táo ngồi uống trà nói toàn chuyện trốn, chạy, lủi, chém vè … Tư Mô nói:

    – Lúc trước ở Thành Thới, tụi tôi bị một trái rốc kết cá lẹp phóng sém miệng hầm.

    Hai Liêm xua tay:

    – Cá lẹp bắn dai như trâu đái, c̣n phóng rốc kết th́ một phát bốn trái. Vô phước kẻ nào bị nó phóng th́ không c̣n miếng xương. Ở An Thới, anh út chủ quán gần chợ bị chụp bốn quả. Thấy ớn quá trời.

    Nh́n quanh nhà, chiếc vơng lác rách nát mắc ở gần cửa sau, anh đi tới lấy chân đá đá và cười nhếch mép:

    – Đây là cái vơng Mậu Thân. H́ h́… v́ nó chỉ c̣n có hai cái đầu, c̣n ḿnh th́ nát hết.

    Bỗng nghe đầm già “khảy đờn c̣” trên trời. Hai Liêm lại pha tṛ:

    – Buổi trưa mà ḥa nhạc kiểu đó chắc không ổn đó hai chú ơi !

    Trông ra cửa nh́n lên trời và nói:

    – Nó không liếc phía nào mà chỉ bay thẳng xuống Sơn Đốc.

    – Nó quay lên rồi “cáo… đùng” mấy hồi.

    Bỗng nghe oang oang từ trên trời vọng xuống:

    Nghe đây! Hồ Chí Minh Đă Chết!
    Nghe đây! Hồ Chí Minh Đă Chết!

    Ba người ḍm nhau, không hiểu, không tin ở lỗ tai ḿnh.

    Hồ Chí Minh Đă Chết !

    Tiếng loa giữa không trung làm rởn tóc gáy. Hai Liêm sửng sốt:

    – Chuyện ǵ vậy ḱa?

    Tư Mô bảo.

    – Để nghe vài ba lần nữa coi !

    Tôi lắc đầu:

    – Rơ rồi, c̣n ǵ nữa?

    Ba người ngồi êm rơ, vểnh tai nghe. Vẫn một giọng đó. Vẫn những tiếng đó vang vang cả bầu trời . Bỗng vài tờ giấy trắng lắc lư loạng choạng rơi xuống trước sân. Tư Mô hỏi.

    – Giấy ǵ vậy?

    Tôi chạy vụt ra lượm rồi đưa lên mắt đọc. Cũng những chữ đó. Nhưng bây giờ không chỉ nghe mà đọc cụ thể hơn: “Hồ Chí Minh Đă Chết!” Bên cạnh những chữ đó c̣n có tấm h́nh lăo già bị cái gạch chéo lấp cả mặt. Và những ḍng chữ li ti. Tôi vào nhà đưa cho Tư Mô. Hai Liêm vừa xem vừa lắc đầu:

    – Có lư nào?

    – Để chiều nay nghe BBC th́ biết.

    Tôi không nói ǵ, lấy đài ra mở liền. Tiếng nói quen thuộc vang ra từ đài Hà Nội, giọng buồn rầu kể lể:

    – Đây là bản tin liên tục phát thanh từ Đài Tiếng Nói Việt Nam! Hồ Chủ Tịch bị cảm nặng từ lâu, Trung ương Đảng đă hết ḷng chạy chữa. Các lương y Trung Quốc, Liên Xô và các nước anh em cũng được mời sang để chẩn mạch cho thuốc cho người , nhưng v́ tuổi già sức yếu cùng với những năm tù đày , bôn ba liên tục, nên người đă từ trần hồi… giờ… phút ngày 3 tháng 9 năm 1969.

    Một ủy Ban Tang Lễ đă được thành lập do đồng chí Lê Duẩn ,Tổng Bí Thư Đảng làm trưởng ban, gồm có các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp, . . . làm ủy viên. Linh cữu của Chủ Tịch Hồ Chí Minh sẽ quàn tại Phủ Chủ Tịch để các đoàn thể nhân dân và đại biểu các Đảng CS anh em trên thế giới tới phúng điếu…

    Tôi vặn nhỏ lại và nh́n Hai Liêm. Hai Liêm nói:

    – Như vậy là có thiệt rồi hai chú.

    Thấy tôi và Tư Mô không phản ứng ǵ hết, anh tiếp:

    – Ḿnh bị một cái Mậu Thân vừa rồi, bây giờ bị cú này nữa, thiệt là mậu hẩu.

    Tôi nói:

    – Kẹt cái là ổng “đi” gần trùng ngày Quốc Khánh.

    – May mà ổng c̣n chịu nổi một ngày nên rơi vào ngày 3 tháng 9, nếu “đi” vào ngày 1 hoặc ngày 2 th́ càng mậu hẩu nữa.

    Tư Mô hờ hững:

    – Trước sau ǵ cũng vậy thôi !

    Hôm đó trở đi, ngày nào đầm già cũng ở trên mây loa xuống, “Hồ Chí Minh đă chết”. Lâu lâu lại đổi dĩa kêu gọi “Anh em cán binh VC hăy quay về với chánh nghĩa Quốc Gia” kết thúc lời kêu gọi là cái điệp khúc “Chiêu Hồi hoặc là tử thần!”

    Nghe mà run từng miếng thịt chớ không phải chơi !

    Tư Mô và Hai Liêm ở lại tổng hành cḥi của tôi chơi hai ba ngày , luôn tiện cùng nghe đài Hà Nội và BBC về cái chết của ông Hồ. Trước khi từ giă chúng tôi, Tư Mô cho tôi một tin giật gân. Tư Mô hỏi tôi:

    – Chú có người cậu nào làm ở Ban Tài Chánh Tỉnh không?

    – Tôi chỉ có một người cậu đi kháng chiến với anh đó thôi!

    – Ấy tôi gặp ổng, ổng bảo ổng là cậu của chú. Quê ổng ở Cẩm Sơn.

    Tôi lẩm nhẩm một lát rồi gật:

    – Nếu vậy ông là… con của mấy ông bà bên họ ngoại tôi nhưng các cậu đông lắm tôi không biết là ai.

    Tư Mô rỉ tai tôi rồi cười vang:

    – Nếu vậy th́ có lư lắm. Hiện giờ ḿnh đang cạn “nguồn sống”. Trên R chơi vậy là hết đường tương chao!

    – Chó chơi ! Tôi ở luôn dưới này coi lăo Tư Siêng làm ǵ?

    Tôi vào buồng nói gạt vợ tôi là Tỉnh Ủy gọi đến có chuyện gấp. Vợ tôi vốn không muốn cho tôi đi đâu. Chỉ trừ buổi sáng đi lên giồng nằm khểnh trong quán bà Mười chờ chụp th́ nhảy. Ngoài ra tôi cũng không muốn bỏ vợ ở nhà một ḿnh, rủi có chuyện ǵ biết nhờ ai?

    Tôi xách chiếc túi con, giắt súng trong lưng rồi đi với hai ông già.

    Hai Liêm rất rành đường đi nước bước nên dắt tôi và Tư Mô một buổi th́ tới bờ sông Long Mỹ. Cây cầu sắt bị đánh găy gục xuống sông, mấy cái trụ đứng chôn chân giữa sông ngóng cổ kêu trời không thấu. Hai bờ sông đầy những lá dừa nước như rừng. Hai Liêm trỏ qua bên kia sông bảo:

    – Mấy giả đóng bên đó. Đi ṿng th́ xa lắm. Nhưng nếu bơi qua sông th́ đụng ngay. Các chú muốn hành thuyền hay kỵ mă?

    Tư Mô ngó tôi. Tôi hiểu ư, nói ngay:

    – Nếu mấy ổng đóng bên kia sông th́ để một ḿnh tôi “hành thuyền” cũng được.

    Tư Mô móc trong túi ra con dao sáu lưỡi rất bén luôn luôn bất ly thân cắt một cái bập lá ném cho tôi.

    – Thuyền nè !

    Tôi tự hào một cách cảm tử:

    – Không cần !

    Nói xong tôi giao đồ tế nhuyễn cho anh, cởi trần bận quần tiều tay cầm quần áo rồi phóng xuống sông bơi như đua… kiểu sải, kiểu chó và kiểu trẻ con đập tầm vũng trong mương. Lâu quá không có dịp trổ tài rái cá, nay mới gặp sông. Tư Mô thấy tôi bơi khá nhưng sợ tôi bị “vọp bẻ” nên ném cái bập lá chận đầu.

    Quả thật, anh hiểu sức khỏe của tôi đă bị Trường Sơn róc gần hết , rồi Đồng Chó Ngáp cạp cũng bộn bàng, về đồng bằng chạy đua mấy chục trận với trực thăng, nay gặp con sông Lưu Sa Hà này sợ e khó vượt.

    Tôi chỉ cảm thấy điều đó khi ra đến giữa sông, nước chảy mạnh. Nếu không có cái bập lá chắc phải vất vả và có thể bị tắp vào chân cầu. Nhưng cuối cùng nhà thể thao vẫn tới mé bờ. Tôi quay lại vẫy tay rồi bươn lên băi lá lội lên bờ đi theo sự chỉ vẽ của Hai Liêm.

    Quả thật tôi t́m được ông cậu tôi. Nhờ xưng tên tuổi mà hai cậu cháu nhận ra nhau chớ không ai biết mặt ai cả. Cậu hỏi tôi có về thăm quê cụ ngoại không? Tôi mô tả sự hoang tàn của các ngôi nhà ở Cẩm Sơn. Cậu nói:

    – Tao biết lâu rồi. Nhưng làm ǵ được! Cách mạng là như thế cháu ơi !

    Tôi hiểu sở dĩ người ta cho cậu giữ tiền của tỉnh là v́ cậu thuộc thành phần phi vô sản. Không phải người ta sẽ lấy đất đai nhà cửa của cậu, v́ c̣n đâu mà lấy, nếu cậu thụt két, nhưng đây là vấn đề tâm lư. Các ngài địa chủ đă quen giữ tiền bạc nên khi ôm một bao đầy ắp không bị lóa mắt, c̣n các ông bần cố th́ khó chưa từng thấy của, gặp bao bạc là ôm nhảy ra thành liền. Kinh nghiệm phổ biến cho thấy là thành phần bần cố tham ô bạt mạng cô hồn , vượt các thành phần khác gấp năm lần.

    Cậu hỏi tôi:

    – Mày cần bao nhiêu?

    – Biết bao nhiêu mà nói, cậu?

    – Mày có biết là ở R ra lệnh cắt sinh hoạt phí của mày không?

    – Dạ biết, đó là chuyện lâu rồi.

    – Mới đây nữa ở trên vừa tống thêm một cái công điện gắt gao hơn.

    – Nói ǵ trong đó cậu?

    – Trên đó bảo Tỉnh Ủy không cho mày ở trong tỉnh nữa.

    Tôi cười ph́. Cậu hỏi:

    – Mày mới cưới vợ mà có được tiếp tế của gia đ́nh không?

    – Cháu có gởi người về nhưng lính bao vây ngặt quá nên không ai đi tới nhà cháu cả. ..

    Cậu nói:

    – T́nh h́nh này ôm tiền nhiều không có lợi, nên Tỉnh ủy bảo phân tán. Do đó tao nghĩ tới mày. Mày cầm bấy nhiêu đây về chia cho mấy ông bạn mày với. Nên đi hai người. Có bề ǵ giúp nhau, mày đi một ḿnh nguy hiểm.

    Cậu đưa cho tôi một gói bạc và hỏi:

    – Vợ con mày bỏ ở đâu?

    – Cháu dắt theo chớ An Định bị đóng bót rồi . Ông nhạc cháu cũng chạy, cháu đâu có gởi vợ cháu được.

    – Bây giờ nó ở đâu?

    – Dạ ở bên Tân Hào.

    – Tân Hào mà ở ấp nào?

    – Dạ không biết ấp nào mà ở gần Giồng Đồng.

    – Sao lựa chỗ nó hay chụp mà ở vậy cháu?

    – Đâu có chỗ nào khác nữa cậu! ở đây đâu có bà con ḍng họ ǵ mà trú ngụ .

    – Mày tới đây bằng cách nào?

    – Dạ bơi qua sông.

    – Trời đất! Rủi chết hụt làm sao? Để tao biểu tụi nó lấy xuồng đưa cho về.

    Tôi đứng dậy tự hào lần nữa:

    – Dạ cháu dư sức bơi qua cậu à .

    Tôi trở về bờ bên kia và được hai lăo tướng đón tiếp như một anh hùng thắng trận.

    Hai Liêm cười móm mém:

    – Mẹ kiếp ngồi buồn lại gặp chiếu manh!

    Chúng tôi biếu ông bạn già một ít như một cách trả ơn chỉ đường, c̣n bao nhiêu chia đôi. Mỗi đứa được 16 ngàn trong khi gạo 30 đồng một lít. Trên đường trở lại nhà, tôi ghé quán ở Ngă Ba Giồng Chùa mua đủ thứ vừa thức ăn, thức nhẩm xà , thức uống trà , thức ph́ phà và dầu Nhị Thiên Đường, cù là, kí nính …

    Tư Mô không quên mua một chục ống Tranquinol để hằng đêm xoa dịu thần kinh. C̣n anh Hai Liêm th́ mua một chục rê thuốc giồng rọc cọng để thủ sẵn trong ba lô.


    Mai tiếp ....

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 9 users browsing this thread. (0 members and 9 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 26-03-2012, 08:51 PM
  2. Replies: 50
    Last Post: 27-02-2012, 04:26 PM
  3. Ở đâu không có Madison, ở đó có Little Saigon.
    By NguyễnQuân in forum Tin Cộng Đồng
    Replies: 10
    Last Post: 15-08-2011, 04:43 AM
  4. Ở ĐÂY CÓ ĐẤU TRANH LÀ Ở ĐÂY CÓ BỊ BẮT
    By hatka in forum Giao Lưu - Giải Trí
    Replies: 0
    Last Post: 02-04-2011, 04:48 AM
  5. Replies: 0
    Last Post: 12-03-2011, 08:05 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •