Page 5 of 5 FirstFirst 12345
Results 41 to 50 of 50

Thread: Tổ Quốc Ghi Ơn

  1. #41
    Member
    Join Date
    30-03-2012
    Posts
    106

    Tổ Quốc nào Ghi Ơn những người như thế ?

    Quote Originally Posted by Nick banned View Post
    Chào alamit
    Tôi cho rằng cách giải đáp của bạn như trên làm xấu thêm h́nh ảnh QL VNCH !
    1) Bạn vẫn chưa trả lời về tấm h́nh quan tài phủ cờ vàng là của ai ? của cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn hay cố Thiếu Tá Đặng Sỹ Vinh ?

    Cuối cùng, tôi dám chắc thằng nhóc con lon ton xếp máy bay giấy chơi tṛ oanh tạc 14 ngày đêm vừa rồi không đời nào dám vô những thớt này : con cháu mấy thằng tẩu tướng đọc những tấm gương ANH HÙNG như thế này có thấy nhục chưa hả?
    Cả 2 tấm h́nh : Xử bắn HNC và h́nh phủ quan tài đều là h́nh trên phim ảnh !
    Cả thế giới đều ca ngợi chiến thắng Điện Biên Phủ của người VN mà Phạm V Phú lại là tên tù binh theo gặc pháp bị bắt sống Đến 30-4 th́ thua trận nhục nhă rồi tự tử ,Thiếu Tá Đặng Sỹ Vinh thua trận nhục nhă quá bắn giết cả vợ con th́ đúng là đồ lang sói chứ anh hùng cái nổi ǵ ?

    Đúng là những bài trên đây làm xấu thêm h́nh ảnh QL VNCH ! Tổ Quốc nào Ghi Ơn những người như thế ?

    Nhớ ngày xưa , mỗi lần lính sư đoàn 2 hay BDQ vào làng nơi chiến sự là nỗi ám ảnh cho dân chúng với những việc bắt gà , bẻ bí, hiếp dâm, đánh người t́nh nghi ...
    Thật là nhục nhă cho QLVNCH !



    Last edited by Sự thật VN; 02-10-2012 at 10:24 PM.

  2. #42
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    Tổ Quốc Ghi Ơn


    Một cuộc đời cho Dân Chủ và Tự Do

    Sở Bắc và cuộc Chiến Tranh Bí Mật


    Tưởng Niệm Cố Đại Tá Ngô Thế Linh
    (06/12/1928 - 25/02/1999)



    Tổ Quốc Tri Ân
    những Anh Hùng QLVNCH đă hy sinh
    cho Tự Do Dân Chủ cho miền Nam Việt Nam





    Biệt Kích Sở Bắc, Biệt Hải, Hắc Long, Lôi Hổ, Phủ Đặc Ủy Trung Ương T́nh Báo, Lực Lượng Đặc Biệt,
    Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Không Quân, Hải Quân,
    các Sư Đoàn Bộ Binh, Thiết Giáp, Địa Phương Quân và Nghĩa Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.


    Trong niềm thương tiếc người Cha kính yêu




    Cha tôi đă chưa bao giờ kể cho chúng tôi về những việc Người đă hy sinh phục vụ cho Tự Do Dân Chủ cho quê hương Việt Nam. Sau khi ông qua đời, nhiều sách báo và bài vở đă bắt đầu viết về tổ chức và những hoạt động của Người. Bài Tưởng Niệm này dựa trên nhiều dữ kiện phổ biến trên báo chí và sách vở cũng như từ những câu chuyện thuật lại cho chúng tôi.

    Nếu có những điều thiếu sót hoặc cần được tu bổ, xin quí độc giả vui ḷng liên lạc qua điện thư đến: ngoxuanhung@comcast. net

    Xin Chân Thành Cảm Tạ,


    Con trai của Cố Đại Tá Ngô Thế Linh
    Ngô Xuân Hùng

    Ngày 11 tháng Ba, năm 2000

    (Bổ túc ngày 5 tháng Hai, năm 2009 nhân Lễ Giỗ Mười Năm)ổ Quốc Ghi Ơn

  3. #43
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Hận Hoàng Sa - Trường Sa!
    Càng Thêm Nhớ Những Chiến Công Hiển Hách Của Tiền Nhân



    Mường Giang





    Dân tộc VN bao đời, luôn quan niệm sức mạnh của đất quan trọng hơn sức mạnh của máu, có nghỉa là vấn đề thuần tuư giống ṇi không bằng sự tồn vong của giang sơn gấm vóc. Bởi vậy nên các vị vua nhà Hậu Lư đă đem nhiều công nương gă cho các tù trưởng ở biên tái, để dựa vào sự liên hệ gia đ́nh làm phên dậu chống giặc Tàu. Vua Nhân Tôn nhà Trần đem Huyền Trân Công Chúa gă cho vua Chế Mân để được thêm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên ngày nay. Riêng Săi Vương Nguyễn Phúc Nguyên đồng lúc hy sinh ba người con gái của ḿnh để gă cho vua Chiêm, vua Chân Lạp và trưởng phái bộ Nhật, với mục đích “ cũng chỉ v́ an dân lợi nước”.



    Ngày nay qua những khai quật của lịch sử, việc quân Xiêm vào xâm lăng đất đai Nam Kỳ, nói là do Nguyễn Ánh cầu viện vẫn đang là một nghi vấn. Nhưng sử viết vua Gia Long là người cực đoan, có t́nh yêu nước nồng nàn, qua hành động không bao giờ chịu cắt một ly đất đai của nước ta nhường cho ngoại quốc, kể cả sứ bộ Bá Đa Lộc từng vào sinh ra tử với Chúa, lúc c̣n tẩu quốc, đó là sự thật.



    Thời VNCH mặc dù chỉ tồn tại được hai mươi năm (1955-1975) nhưng ít ra cũng đă giữ vững được gần như trọn vẹn lảnh thổ của tổ tiên để lại ngoại trừ quần đảo Hoàng Sa v́ thế yếu và sự phản bội của đồng minh Hoa Kỳ, nên phải chịu mất vào tay giặc Tàu xâm lược vào ngày 19 tháng 1 năm 1974, sau khi QLVNCH đă cho giặc một bài học đích đáng, chứ không như tại Trường Sa năm 1988 VC đă đem con bỏ chợ!



    Từ sau ngày 30-4-1975 chiếm được cả nước VN, ngụy quyền Hà Nội lúc nào cũng rêu rao khoắc lác về độc lập tự do, vẹn toàn lănh thổ. Thế nhưng mọi sự đă lộ nguyên h́nh, khi thành tích bán nước cho Tàu, phản bội quê hương bị toàn dân trong và ngoài nước phanh phui nguyền rủa. Nhờ vậy mà những cái loa Việt Gian từ bấy lâu nay tại hải ngoại mới chịu khép miệng, v́ không c̣n cơ hội để tuyên truyền cho dù có viết sách, lên đài khua mồm bán chữ.



    Theo đó ta biết trong năm 1999 và 2000, bọn chóp bu đảng gồm Đổ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn Mạnh Cầm và toàn lũ trong Chính trị Bộ đă lén lút kư kết 2 Hiệp Ước bất b́nh thường vô lư, phản bội dân tộc, trong sự Bán Đất Biên giới và Bán Vịnh Bắc Phần, cho giặc Tàu. Sau đó được Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng..hợp thức hóa. Tuy thành tích trên sớm bị bật mí nhưng VC chuyện ǵ cũng dám làm, v́ chúng coi dư luận của thế giới và đồng bào trong nước như cỏ rác, miễn là bảo vệ được chiếc ngai vàng đẫm máu, để c̣n dịp vơ vét và bán hết cho Tàu nước Việt khi trong tay c̣n nắm được quyền. Chuyện dài về cái gọi “ đại hội đảng bất thường lần 6 “ trong tháng 10-2012, đă phơi bày mặt thật của CSVN khắp hoàn vũ!



    Qua các tài liệu lưu trữ và phổ biến, ta biết Pháp coi như chính thức đô hộ VN vào năm 1884. Từ đó thực dân độc quyền kư kết, các hiệp ước song phương và những công ước quốc tế, về luật biển, hải đảo cũng như biên giới giữa các nước. Năm 1885, Pháp kư với Măn Thanh hiệp ước Thiên Tân, hủy bỏ sự liên hệ giữa Nhà Nguyễn VN và Trung Hoa, hủy bỏ ấn phong vương, phân định lại đường ranh giới bằng cọc cắm và bản đồ. Năm 1887, Pháp và Trung Hoa lại kư Hiệp Ước Brévié, phân ranh vùng Vịnh Bắc Phần, từ Trà Cổ (Móng Cáy), dọc theo kinh tuyến Đông 108. Theo đó, phía tây đảo Bạch Long Vĩ là lănh hải của VN, phía đông là của Trung Hoa. Về sự tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa -Trường Sa, cũng được quốc tế giải quyết năm 1982, theo công ước luật biển. Tháng 11-1993, công ước trên được LHQ phê chuẩn và thi hành vào năm 1994, với 170 quốc gia công nhận, trong đó có Trung Cộng và VC. Tóm lại đảng VC đă dối trá quốc dân VN, lén lút họp với giặc Tàu trong 20 phiên họp kín. Rồi cũng tự động bí mật kư kết, c̣n quốc hội VC th́ cũng lén lút thông qua.



    Tất cả những kư kết điều hoàn toàn sai trái về pháp lư quốc tế và đạo lư dân tộc, đi ngược lại truyền thống ḥa b́nh, tự chủ, không lấy thịt đè người của bản tuyên ngôn nhân quyền và “ khẩu hiệu bốn tốt, mười sáu chữ vàng “ mà Tàu đỏ và VC lúc nào cũng rêu rao ḷe thiên hạ. Tất cả đều là những âm mưu xâm lăng, hay nói đúng hơn chính Hồ Chí Minh và đảng VC đă rước voi Tàu về dầy mă Việt, ngay từ khi bắt đầu nhận viện trợ của Trung Cộng năm 1950 cho tới cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975) chấm dứt. Trung Cộng lợi dụng quân viện và nhất là trong cuộc chiến biên giới năm 1979 giữa Việt-Trung, đă xua hàng triệu dân Tàu gốc thiểu số tại các tỉnh biên giới, lấn đất dành dân sâu trong nội địa VN. Theo báo chí ngoại quốc, VC đă bán cho Trung Cộng tại biên giới Việt Hoa, hơn 15.600 km2 và 20.000 km2 lănh hải trong vịnh Bắc Phần.. Như vậy tại Miền Bắc, ngày nay VN đă mất hẳn những địa danh hồn thiêng sông núi như Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, và Đồng Đăng với Phố Kỳ Lừa



    ‘tiếng ai than khóc sầu thương

    Nhị Hà nước xuống trùng dương xa mờ

    Chương Dương, Hàm Tử ngàn xưa

    Giờ sao sông núi, bụi Hồ vấn vương..’



    Lời thơ làm cho ai cũng phải ngậm ngùi khi nhớ lại gương sáng của người xưa qua ư chí bất khuất của dân tộc Việt từ trong lịch sử thật kiêu hùng như tiếng thơ của Trần Quang Khải sau khi phá tan quân Mông:



    ‘Đoạt sáo Chương Dương độ

    Cầm hồ Hàm Tử quan

    Thái B́nh nghi nổ lực

    Vạn cổ thử gian san‘



    Mười năm b́nh định giặc Minh đầy gian lao khổ cực, cuối cùng:



    ‘Thôi Tụ phải qú mà xin lỗi

    Hoàng Phúc tự trói để ra hàng

    Lang Giang, Lạng Sơn thây chật đầy đường

    Xương Giang, B́nh Than máu trôi đỏ nước..’



    Hởi ôi những tinh thần khí phách trong’ B́nh Ngô Đại Cáo’ của Nguyễn Trăi, Lê Lợi.. nay c̣n đâu nữa dưới thời Hồ? Nên chúng ta làm sao làm ǵ và làm thế nào để mà ngăn cản nổi sự dày xéo non sông tổ quốc của giặc Tàu đỏ, qua sự tiếp tay của rợ Hồ mà mới nhất là sự kiện TC đang chuẩn bị chiếm trọn quần đảo Trường Sa của VN, để hoàn thành “ cái lưởi ḅ “ theo bản đồ mới phát hành của giặc Hán.



    1 - THỦY CHIẾN ĐẠI VIỆT VÀ TÂY BAN NHA TẠI CỬA HÀN:



    Từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, Đại Việt thật sự đă chia thành hai quốc gia đối nghịch, lấy sông Gianh làm ranh giới thiên nhiên, ḱnh chống nhau suốt 300 năm máu lửa. Do trên, các đời chúa Nguyễn đều tăng cường quân bị để chống lại quân Trịnh. Chúa Nguyễn phúc Nguyên (1614-1635), tăng quân từ 30.000-160.000. Đời Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), quân đội được chia thành 3 loại: quân túc vệ đóng tại kinh đô, quân chính quy pḥng thủ các dinh và thổ binh coi an ninh tại các làng xă. Tại các dinh, quân được phân thành dinh, cơ, đội, thuyền. Tóm lại quân đội Đàng Trong gồm nhiều binh chủng, trang bị đầy đủ và hùng hậu. Bắt đầu từ thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên đă có xưởng đức súng, sân bắn và trường huấn luyện voi, ngựa trận.. Tại kinh đô đă thành lập Ty Nội Pháo Tượng và hai đội tả hữu pháo, coi việc đúc trọng pháo và súng cá nhân. Thuyền chiến có tới 200 chiếc và thủy quân Đàng Trong rất mạnh, nên đă hai lần đánh bại hải quân Tây Ban Nha và Ḥa Lan trên Đông Hải.



    Năm 1592 Nguyễn Hoàng được lệnh vua Lê đem quân đánh nhà Mạc tại miền bắc, con thứ sáu của ông là Nguyễn Phúc Nguyên thay thế, trấn giữ Thuận-Quảng. Thời gian này sự giao hảo giữa Chân Lạp, Bồ và Tây Ban Nha rất tốt đẹp. Năm 1593, vua Tiêm La Prah Rama tấn công kinh đô Oudong, vua Chân Lạp Chan Pouha Tan cầu cứu Toàn quyền Tây Ban Nha Ruiz de Heman Gonzalez, đóng tại Manila, Philippine nguyên là thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha bị chiếm vào năm 1565.



    Tại Âu Châu, từ năm 1580 vương triều Soliman của Bồ Đào Nha cũng sụp đổ và bị Tây Ban Nha chiếm, do trên lực lượng hải quân nước này rất hùng hậu và mạnh hơn Ḥa Lan nhiều. Lúc đó v́ toàn quyền Gomez sắp đánh Moluques nên không giúp được Chân Lạp. Tới tháng 10-1593, Tây Ban Nha mới sang giúp và hạm đội do chính Toàn quyền chỉ huy, gồm 4 chiến thuyền rời Manila nhưng chỉ hai hôm sau th́ xảy ra biến loạn. Hơn 250 phu chèo người Trung Hoa đă nổi loạn, cướp thuyền, giết Gomer và hơn 80 lính Tây Ban Nha, đồng thời cướp vũ khí và một chiến thuyền trốn về Tàu.



    Do hậu quả trên, Tây Ban Nha đă thảm sát hơn 27.000 người trong số 30.000 Hoa kiều tại Phi Luật Tân vào năm 1603. Kế tiếp những năm 1639, 1660,1662,1668, 1755.. có thêm hàng trăm ngàn di dân Trung Hoa bị giết tại thuộc địa này. Riêng chiếc tàu của những người Trung Hoa kể trên không may bị băo trôi mắc cạn tại bờ biển Quảng Nam. Sau đó họ được chính quyền Đại Việt giúp đỡ cho nhập tịch, c̣n tàu và vũ khí bị giữ lại.



    Tháng 1-1596, con trai của Gomez là Louis Perez lên thế làm toàn quyền tại Philiipine, liền mang ba chiến thuyền sang cứu Chân Lạp, đồng thời đi t́m dấu vết những người Hoa phản loạn. Hạm đội do thiếu tướng hải quân Juan Xuares Gallinato chỉ huy, cùng đi c̣n có hai tu sĩ Thiên chúa ḍng Đa Minh. Nhưng v́ bảo tố nên ba chiến thuyền thất lạc măi tới tháng 5-1596 mới gặp lại nhau tại cửa sông Tiền, th́ được tin vua Pouha Tan đă bị quân Tiêm đánh bại phải trốn sang Lào.



    Rắc rối đă xảy ra khi tân quân Chân Lạp không chấp nhận các yêu sách của Tây Ban Nha, nên chiến tranh đột phát. Quân Tây Ban Nha thiện chiến nhưng ít nên cuối cùng phải bỏ Oudong chạy. Trên đường về, hạm đội này tắp vào duyên hải của Chiêm Thành cướp giựt lương thảo. Tháng 8-1596, hạm đội tới Quảng Nam và neo thuyền ở cửa Hàn, được chính quyền Đàng Trong giúp đỡ, tặng nhiều lương thực để tiếp tục cuộc hành tŕnh. Riêng hai giáo sĩ xin được phép ở lại để sang Vạn Tượng t́m vua Chân Lạp.



    Giữa lúc đó th́ Tây Ban Nha phát hiện được chiếc thuyền bị người Trung Hoa cướp năm xưa, đang mắc cạn ở ven biển Quảng Nam, nên cho người tới thẳng Thăng Long, yêu sách Vua Lê, chúa Trịnh phải trả thuyền, vũ khí và những người Hoa làm loạn nhưng bị từ chối, đồng thời triều đ́nh c̣n ra lệnh trục xuất hạm đội Tây Ban Nha ra khỏi Đại Việt.



    Thế là chiến tranh xảy ra vào tháng 9-1596 giữa hai bên. Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên được lệnh tấn công thủy quân Tây Ban Nha. Theo tài liệu của Cabaton đăng trong Revue d’histoire des colonie, xuất bản năm 1913, cho biết trong trận thủy chiến dữ dội năm đó, một chiến thuyền Tây Ban Nha đă bị thủy quân Đàng Trong đốt cháy, những chiếc c̣n lại phải chạy trốn ra khơi.



    Chính gíáo sĩ Aduarte là người chứng kiến và kể lại trong hồi kư năm 1693 cũng xác nhận, quân thủy bộ của Đại Việt rất hùng mạnh, các chuyến thuyền phải khó khăn lắm mới trốn khỏi ṿng vây ra khơi. Riêng giáo sĩ Jimernes kẹt ở trong bờ, bị bắt làm tù binh nhưng được đối xử tử tế. Sau đó, Tây Ban Nha mang vàng bạc tới Quảng Nam xin giảng ḥa và chuộc tù binh. Nguyễn phúc Nguyên đồng ư nhưng chỉ đ̣i ḅi thường thiệt hại bằng một khẩu súng hỏa mai.



    Người Tây Ban Nha lấy đó làm nhục nên bỏ về Philiipine vào cuối tháng 6-1596. Tuy vậy ít lâu sau, chúa Nguyễn cũng cho phép giáo sĩ Jimernez về nước, nhân có một thương thuyền Bồ Đào Nha ghé vào Hội An buôn bán. Mối thù vẫn dai dẳng và 15 năm sau, toàn quyền Tây Ban Nha lại muốn trả thù nhưng vua chúa Madrid biết lực lượng Đàng Trong rất mạnh, nên không chấp thuận.



    Hiền vương Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) nổi danh là một chiến tướng khi c̣n là thế tử, qua trận thủy chiến lịch sử giữa Đại Việt và hạm Đội Đông Ấn của Ḥa Lan. Trong cuộc phân tranh Trịnh Nguyễn, Hiền Vương là vị chúa duy nhất vượt Nam Bố Chính, tấn công Bắc Hà vào năm Ất Mùi 1655. Nhưng sự nghiệp để đời của NGÀI là mở rộng bờ cơi vào năm 1653 tới tận bờ sông Phan Lang, đặt Dinh Thái Khương gồm hai phủ Thái Khương (Ninh Ḥa) và Diên Ninh (Diên Khánh). Năm 1658, t́nh h́nh Chân Lạp hỗn loạn sau khi quốc vương Prea Chey Chetta II (chồng công chúa Ngọc Vạn) băng hà. Nặc Ông Chân tranh ngôi vua với quốc vương Batom Reacha Pontana Reja (con trai Ngọc Vạn). Mượn cớ bảo vệ dân Việt, Hiền Vương sai tướng Nguyễn Phúc Yên đem 3000 quân vào Miên đóng tại Mơ Xoài. Năm 1674 lại tranh giành ngôi vua, Hiền Vương sai Cai cơ Nguyễn Dương đem quân chiếm Sài Côn, G̣ Bích, Nam Vang, chia Chân Lạp thành hai nước với hai kinh đô Oudong và Sài G̣n. Năm 1679 các tướng nhà Minh là Dương ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần thượng Xuyên, Trần An B́nh cùng 50 chiến thuyền, v́ không đầu hàng Măn Thanh, nên sang Đàng Trong, xin phục tùng nhà Nguyễn. Dịp đó, Hiền Vương sai họ vào khai khẩn đất hoang tại Biên Ḥa và Định Tường, năm đó ông qua đời thọ 68 tuổi.



    2 - BANG GIAO GIỮA XIÊM LA VÀ ĐẠI VIỆT:



    Xiêm La hay Thái Lan ngày nay có diện tích 198.455 sq.ml hay 512.998 km2, dân số tính tới năm 2004 là 55.448.000 người, thủ đô là Bangkok (Vọng Các) chưa kể ngoại ô có 1.867.297 người. 95% người Thái theo Phât giáo tiểu thừa.



    Thật ra Xiêm không phải là quốc hiệu của người Thái. Đó là cái tên mà người Cao Mên và Chiêm Thành dùng để gọi họ. Ngay từ thế kỷ thứ XI, danh từ SYAM đă thấy xuất hiện trên các văn bía của người Chàm tại Trung phần VN, c̣n h́nh ảnh của người Syam, th́ đầy rẩy nơi các di tích của người Khmer, tại đền Angkor được dựng lên từ thế kỷ thứ XII sau TL.



    Người VN theo cách gọi của Miên và Chàm, cũng gọi là Xiêm. Riêng người Tàu qua lối phát âm Bắc Kinh, đọc là Tiêm, rồi ghép với tên của nước La Hộc, tức là vùng Lyo ngày nay, thuộc Lopburi ở hạ lưu sông Mê Nam, thành nước Tiêm-La. C̣n người Pháp cũng dựa vào lối phiên âm Tàu mà đọc là Siam, trong lúc người Anh th́ nói trại là Saiam. Trong bộ Bách Khoa Từ Điển của Ư Đại Lợi (Enciclopedia Italiana), đă giải thích rằng Anh và Pháp khi dùng tiếng Siam để chỉ người Thái, là căn cứ vào tiếng Saiam Sayang của người Miến Điện dùng để chỉ người Xiêm, rồi đọc trại ra là Siam hay Saiam.



    Nhưng căn cứ vào sử liệu, ta thấy từ ngày lập quốc đến nay, người Thái gọi ḿnh là Thay, c̣n người Shan là Nghiện. Riêng danh từ Siam chỉ mới xuất hiện gần đây. Do trên thời xưa, nước Thái Lan được gọi là Mường Thay hay Prathet Thay. Đời vua Rama IV (1851-1868), quốc hiệu mới được đổi là Sayam (Xiêm), để đánh dấu nước này canh tân theo văn minh tây phương. Năm 1939, tướng Phibul Songgram lên làm thủ tướng, mới đổi quốc hiệu từ Xiêm sang Thái. Từ 1945-1948, tên nước trở lại là Xiêm và sau đó tới ngày nay, chính thức là Thái. Với người Anh, họ phiên âm Thay thành Thai, c̣n Prathet là Land, nên sau này gọi nước Xiêm là Thailand. Theo cách đó, người Pháp viết là Thailande, c̣n VN th́ đọc là Thái Lan.



    - Những gây cấn giữa Đại Việt và Thái Lan::



    Từ đầu thế kỷ thứ XVII, người Việt đă tới khai hoang tại vùng Đồng-Nai và Mỏi-Xùy (nay là Biên-Hoà và Bà Rịa) của Chân Lạp. V́ muốn thoát khỏi ảnh hưởng và sự kềm kẹp của Xiêm La đă có từ trước đến nay, nên quốc vương nước này là Chey Chetia II sang cầu thân với Chúa Nguyễn Nam Hà, để nhờ che chở. Nhân dịp đó, Chúa Hy Tôn-Nguyễn Phúc Nguyên đă v́ dân nước, nên đành đem con gái cưng của ḿnh là Ngọc Vạn, gă cho vua này làm Hoàng Hậu vào năm 1620, để lấy chỗ dựa cho dân Đại Việt tới làm ăn tại Chân Lạp. Chúa c̣n đem người con gái kế là Ngọc Khoa, gă cho vua Chàm để mượn đường bộ từ Phú Yên vào Đồng Nai, v́ lúc đó nước Chiêm Thành vẫn c̣n. Do trên Xiêm La đả kết thù với Đại Việt, v́ cả hai đều muốn giành giựt ảnh hưởng tới Lào và Miên, vốn là hai nước nằm giữa rất yếu kém, do nội loạn thường trực.



    Năm 1672, Chey Croetha III làm loạn, giết cha vợ là vua Batom Reachea và dắt quân Xiêm từ Nam Vang xuống Sài Côn, chiếm lại tất cả thành tŕ, đồng thời đuổi giết người Việt đang khẩn đất làm ăn tại Đồng-Nai, Mơ Xùy. Năm 1674 Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần sai binh tướng sang Thủy Chân Lạp, đánh đuổi quân Xiêm chạy về biên giới Miên-Thái, giết vua Nặc Ông Đài. Sau đó lập Năc Thu làm vua Lục Chân Lạp, đóng tại Nam Vang và Năc Nộn là phó vương miền Thủy Chân Lạp, tại Sài G̣n. Từ đó người Miên thần phục Chúa Nguyễn.



    Năm 1687, quân Xiêm lại vào cướp phá đất Hà Tiên, bắt Mạc Cửu đem về giam lỏng tại Muang Garaburi nhưng sau đó, ông đă trốn được về nước vào năm 1700. Từ đó Mạc Cửu đem đất đai Hà Tiên và binh sĩ dưới quyền, xin thần phục Nam Hà, nên được Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu phong chức tổng binh.



    Năm 1717, quân Xiêm tấn công Hà Tiên, Mạc Cửu binh ít chống cự không nổi, nên phải bỏ thành lui về giữ Long Kỳ. Quân Xiêm vào tàn phá Hà Tiên thành b́nh địa nhưng sau đó chiến thuyền bị băo đánh đắm trong vịnh Phú Quốc, nên phải rút về nước. Mạc Cửu trở về kiến tạo lại Hà Tiên và đắp thành ngăn giặc vào năm 1718.



    Năm 1769, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh đem quân thủy bộ tấn công Hà Tiên, lại đặt đại bác trên núi Tô Châu bắn vào thành sát hại nhiều dân chúng vô tội. Tổng binh Mạc Thiên Tứ v́ binh ít và không có tiếp viện, nên phải bỏ thành, cùng các con Mạc Tử Hoàng, Tử Thương, Tử Duyên.. lui về Trấn Giang (Cần Thơ). Nhưng quân Xiêm đă bị các tướng lănh trấn thủ Long-Hồ và Đông Khấu là Tống Phước Hợp và Nguyễn Hữu Nhân, đánh đuổi phải bỏ Hà Tiên, chạy về cố thủ thành Nam Vang.



    Năm 1772, Duệ Vương Nguyễn Phúc Thuần sai chưởng cơ Nguyễn Cửu Đàm, thống suất hai đạo B́nh Khánh và B́nh Thuận, gồm 10.000 quân thủy bộ và 30 chiến thuyền. Quân Nguyễn chiếm lại Hà Tiên và Chân Lạp, rồi đưa Nặc Tôn về Nam Vang làm vua trở lại. Từ đó quân Nguyễn đóng luôn ở Nam Vang, bảo hộ và làm cố vấn cho quốc vương Chân Lạp.



    Năm 1780, v́ tàu buôn bị cướp ở Hà Tiên, vua Xiêm nghe theo lời xúi của quan Chân Lạp tên Bồ Công Giao, bắt cha con Mạc Thiên Tứ, Tử Hoàng, Tử Thương, Tử Duyên cùng sứ thần của chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Xuân.. đem xử trảm. Mạc Thiên Tứ lúc đó trên 70 tuổi, uất ức tự tử chết. Riêng gia quyến của họ đều bị đầy lên tận biên giới Miến-Thái.



    Năm 1782, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh bị hai tướng Chất Trí và Sô Sĩ giết chết. Chất Trí lên làm vua Xiêm, xưng Phật Vương (Rama 1), tha những người Việt bị đầy, đồng thời giao hảo với chúa Nguyễn Ánh lúc đó đang bị quân Tây Sơn đuổi giết tận tuyệt



    Năm 1784, mượn cớ sang giúp Nguyễn Ánh, vua Rama 1, sai 2 vạn thủy quân và 300 tháp thuyèn, do hai người cháu là Chiêu Sương, Chiêu Tăng sang xâm lăng Nam Phần. Quân Xiêm chiếm các đạo Kiên Giang, Trấn Giang, Ba Thắc, Trà Ôn, Sa Đéc.. đồng thời cướp của giết người, không ai có thể ngăn cản nổi. Sự kiện trên làm cho Nguyễn Ánh cũng phẫn uất nhưng phải bó tay ví không c̣n binh lực để kềm chế giặc.



    Cuối tháng chạp cùng năm, được tin quân Xiêm đă tới Định Tường, nên Long Nhưỡng tướng quân là Nguyễn Huệ, từ Qui Nhơn đem quân thủy bộ vào chận đánh, phá tan 2 vạn quân Xiêm tại vàm Rạch Gầm-Xoài Mút. Từ đó người Xiêm sợ Đại Việt như sợ cọp.



    Năm 1817, sau khi chiếm được Stung Treng và Vạn Tượng của Lào. Quân Xiêm tràn sang chiếm một phần cao nguyên Trung Phần, lúc đó gần như chưa có chính quyền VN hiện diện. Bọn quan lại Xiêm cai trị đồng bào thiểu số tại đấy rất tàn ác dă man. T́nh trạng kéo dài tới thời Pháp thuộc mới chấm dứt.

  4. #44
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Hận Hoàng Sa - Trường Sa!
    Càng Thêm Nhớ Những Chiến Công Hiển Hách Của Tiền Nhân



    3 - NGUYỄN HUỆ TIÊU DIỆT QUÂN XIÊM TẠI ĐỊNH TƯỜNG:



    - Địa Danh Rạch Gầm, Xoài Mút (Mỹ Tho):



    Đất Định Tường thuộc dinh Phiên Trấn, được Túc Tông Nguyễn Phúc Trú thành lập vào năm 1731. Vào năm 1772 Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần đổi là Đạo Trường Đồn, rồi thành Huyện Kiến An vào năm Gia Long nguyên niên 1801.



    Năm 1802 lại cải thành Dinh Trấn Định, phiên trấn Định Tường. Đời vua Minh Mang (1820-1840), chính thức chia đất Nam Kỳ, thành sáu tỉnh trong đó có tỉnh Định Tường. Danh xưng này tồn tại tới ngày 30-4-1975 th́ mất



    Riêng hai địa danh’ RẠCH GẦM-XOÀI MÚT’ nằm trong tỉnh Định Tường. Theo các tài liệu cổ có từ thời nhà Nguyễn, th́ Rạch Gầm ngày xưa được gọi là Sầm Giang. Đó là một con rạch dài chừng 15km, phát nguồn từ xă Long Tiên (Cai Lậy), chảy qua các thôn xóm trù phú thuộc các xă Kim Sơn, Vĩnh Kim, Mỹ Luông, Thuộc Phiên.rồi đổ vào sông Mỹ Tho (Tiền Giang) tại Kim Sơn. Khi người Việt từ miệt ngoài, theo chân các Chúa Nguyễn vào đây khẩn hoang lập ấp, th́ vùng này toàn là rừng rậm cây cao, đầy các loại dă thú như voi, cọp, trăn-rắn, heo rừng, cá sấu. Nói chung chỗ nào đêm ngày cũng có tiếng cọp gầm voi rống, làm cho ai cũng kinh hồn, sởn óc, nhiều người vô phước bị cọp vồ, cá sấu táp khi phá rừng làm ruộng. Do trên, tổ tiên ta mới đặt tên vùng này là’ Rạch Cọp Gầm’. Về sau để dễ nhớ, nên kêu là Rạch Gầm tới ngày nay không đổi. Ở đây cây cối sầm uất, hai bên bờ rạch đầy dừa nước và nhiều cây bần mọc gie ra khỏi con rạch. Đúng là một vị trí chiến lược lư tưởng, để các nhà quân sự tài danh, áp dụng lối đánh du kích, phản kích và nhất là hỏa công trận.



    Vàm Rạch Gầm có bề ngang chừng 100m, thuộc xă Kim Sơn. Trên bờ có chợ nhỏ, bán đầy các loại thổ sản miệt vườn như cam, quít, ổi, chuối.. Nhưng chợ Rạch Gầm nổi tiếng xưa nay vẫn là Vú Sửa, món đặc sản bản địa, ngon-ngọt hơn bất cứ nơi nào khác. Đặc biệt, vú sữa lại đơm bông kết trái đúng vào cuối đông sắp Tết Nguyên Đán. Cũng theo tài liệu, th́ xă Kim Sơn được thành lập rất sớm trong trấn Định Tường, vào đầu thế kỷ thứ XVIII, do tiên hiền Lê Công Báu, nhưng dân chúng kiêng cữ đă đọc là Bích. Về sau ông được nhà Nguyễn phong làm Thành Hoàng và vẫn được dân chúng điạ phượng thờ kính cho tới ngày nay.



    Xoài Mút chảy từ Gịng Dứa thuộc Ấp Thạch Long tới Ấp Thạnh Hưng, xă Phước Thạnh, rồi đổ vào rạch Xoài Hột và ra sông Mỹ Tho (Tiền Giang). Khúc rạch này cũng giống như Rạch Gầm rất um tùm. Hai bên bờ đầy dừa nước và cây bần mọc gie ra ngoài, tạo nên địa thế quanh co hiểm trở. Ở đây ngày xưa mọc đầy một loại xoài trái nhỏ, hột to, cơm ít, nên muốn ăn phải mút, nên mới xuất hiện danh xưng Xoài Mút. Ngày nay dân địa phương đă chặt bỏ hết để lấy đất làm vườn, nên họa hoằn lắm mới thấy một vài cây c̣n sót lại. Về hành chánh, th́ Xoài Mút là tên con rạch, c̣n Xoài Hột là tên của một ngôi chợ thuộc xă Thạnh Phú, kế xă B́nh Đức. Rạch Gầm cách Xoài Mút 7km và thành phố Mỹ Tho chừng 14 km.



    - Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ)::



    Trong ḍng Việt sử, dù triều đại Tây Sơn hiện hữu thật ngắn ngủi (1778-1802) nhưng qua hai chiến thắng bất hủ: Trận Thủy Chiến Rạch Gầm tiêu diệt quân Xiêm và Xuân kỷ Dậu đại thắng quân Thanh, đă đưa tên tuổi Quang Trung-Nguyễn Huệ, lên hàng Đại Đế, sánh bằng các quân vương-dũng tướng của dân tộc Hồng Lạc mọi thời như Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Lê Thánh Tông, Lư Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi,Nguyễn Trải, Lê Thánh Tông, Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Hữu Cảnh, Lê Văn Duyệt..



    Dù không đồng chính kiến nhưng tất cả các sử gia triều Nguyễn cũng như đọc qua các thiên du kư của các nhà truyền giáo phương tây. Ai cũng xưng tụng ông là một trong những thiên tài quân sự lửng lẫy của VN, có thể so sánh với các tên tuổi như Đại Đế Alexander Le Grand của Hy Lạp và vua Hung Nô Attila, là những thiên tài quân sự bách chiến bách thắng.



    Giống như các bậc danh tài trên, trong khi dùng binh vua Quang Trung luôn luôn theo đúng binh pháp Tôn Tử-Trần Hưng Đạo-Nguyễn Trải, đạt yếu tố bất ngờ, hành binh thần tốc và trên hết là biết tiên liệu t́nh h́nh địch, trước khi quyết định bày binh bố trận và tấn công. Ngoài ra để nêu gương với sĩ tốt cùng thuộc tướng dưới quyền, ông luơn luôn xông xáo nơi trận mạc, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, lâm trận đi đầu hàng quân, hiệu lệnh rất nghiêm minh. Bởi vậy, tướng sĩ ai cũng muốn hăm hở, lăn xả vào cái chết, để được đền ơn nhà trả nợ nước, xứng đáng bổn phận làm trai nước Việt. Ngoài thiên tài quân sự, vua Quang Trung c̣n được các sử gia đề cao là một nhà chính trí có thao lược, điển h́nh qua cách chiêu hiền đăi sĩ, kính trọng tài năng mọi người không phân biệt bất cứ một ai. Riêng tư cách th́ ḥa nhă độ lượng, trong khi đối xử với vua Lê và cái chết của chúa Trịnh Khải



    Nói chung từ trước tới nay, qua ḍng lịch sử, VN có ba thiên tài quân sự là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, B́nh Định Đại Vương Lê Lợi và Đại Đế Quang Trung-Nguyễn Huê. Nhưng mỗi người đều có phép hành binh riêng biệt. Với Hưng Đạo Vương, sở trường về lối đánh’ Dùng ít chọi đông’ mà binh pháp gọi là Dàn Binh, Tướng Trận. C̣n B́nh Định Vương Lê Lợi th́ ứng dụng phép’ Dĩ Dật Đăi Lao’, tức là lối đánh du kích, làm tiêu hao lực lượng địch. Trái lại Quang Trung Nguyễn Huệ th́ luôn luôn sử dụng vận động chiến, tấn công địch trước trong tư thế mạnh với quân số, hỏa lực, mưu kế và phương tiện.



    - Thủy Quân VN dười thời Tây Sơn:



    Từ năm 1627-1672, Trịnh Nguyễn đă đánh nhau bảy lần, trên chiến trường Nam và Bắc Bố Chánh (tỉnh Quảng B́nh ngày nay), nhưng bất phân thắng bại. Trong lúc giao tranh, cả hai phía gần như chỉ sử dụng bộ chiến, dù cả hai đều có một đạo thủy quân rất quan trọng. Theo tài liệu của giáo sĩ Alexandre de Rhodes, th́ chúa Nguyễn ở Nam Hà có 200 chiến thuyền loại Galéré, họ Trịnh ở miền Bắc có tới 600 chiếc. C̣n Quang Trung Nguyễn Huệ trái lại, đă đề cao vai tṛ thủy quân trên hết. Nhà vua đă cách mạng hoá hải quân bằng lối đóng thuyền cho phù hợp với bờ biển VN, trong đó đặt nặng việc trang bị vũ lực trên tàu thuyền.



    Theo sử liệu, thủy quân Tây Sơn có nhiều tàu vận tải cũng như tàu chiến, số lượng trên 1000 chiếc. Một du khách người Anh tên John Barraw, tới thăm Đàng Trong vào thế kỷ XVIII, đă viết:’Người Việt ở đây có một nghề rất tự hào, đó là kỹ thuật đóng tàu đi biển’.Theo tác giả, thuyền của Người Việt rất đẹp, chiều dài từ 50-80 pieds (1 pied bằng 0,30m), được ghép bằng 5 tấm ván, ăn khít nhờ có mộng bên trong. Thuyền lại được chia thành nhiều khoang kín, nên rất khó ch́m.



    Theo Jean Baptiste Chaigeau, một vơ quan người Pháp từng theo giúp chúa Nguyễn Ánh, cho biết thủy quân Tây Sơn gồm có nhiều hải đội, tổ chức khác nhau tùy theo trang bị. Do đó có thủy đội gồm 9 tàu, mỗi chiếc được trang bị tới 66 khẩu đại bác loại đường kính 24. Có thủy đội chỉ có 5 tàu, mỗi chiếc mang 50 khẩu đại bác cũng loại 24. Có thủy đội gồm tới 40 tàu, mỗi chiếc trang bị 16 khẩu đại bác cỡ 12 ly và một thủy đội đặc biệt gồm 93 tàu, mỗi chiếc chỉ có một khẩu đại bác lớn, ṇng cỡ 36. Ngoài ra c̣n có 300 pháo hạm và 100 tàu buôn cỡ lớn. Tất cả tàu thuyền của Tây Sơn đều dùng cánh buồm h́nh chữ nhật.



    Về thủy quân trên tàu, th́ mỗi thủy đội loại trang bị 66 khẩu đại bác, có quân số trên 700 người. Quân Tây Sơn được trang bị rất mạnh, vũ khí cá nhân gồm giáo mác, c̣n có súng điểm thương nhưng lợi hại nhất vẫn là loại súng phun lửa, gọi là’ Hoả Hổ’ khi hai bên cận chiến. Nhờ những ưu thế về trang bị cũng như kỹ thuật tác chiến, nên thủy quân Tây Sơn đă thắng quân Xiêm một cách dễ dàng. Mặc dù lúc đó hạm đội Xiêm La cũng rất tân tiến, v́ được đóng theo kỹ thuật Tây Phương, mà người Việt gọi là Tháp thuyền. Đây là loại ghe tam bản rất cao lớn, trên có pháo tháp trí súng đại bác. Các thủy thủ ngồi ngoảnh mặt về phía bánh lái mà chèo.



    - Thủy Chiến tại Rạch Gầm, Xoài Mút:



    Các sử gia hiện nay, khi viết về chiến thắng của Vua Quang Trung tại Rạch Gầm-Xoài Mút, đều thắc mắc về việc hành quân của Tây Sơn. Ngay khi nghe hung tin, đại quân Xiêm La gồm thủy bộ hơn 50 vạn và 300 tháp thuyền, đă chiếm gần hết các trấn tại Nam phần. Hiện thủy quân Xiêm đă tới trấn Định Tường. Trong lúc đó Long Nhưỡng tướng quân là Nguyễn Huệ c̣n ở tận Qui Nhơn. Vậy ngài đă cho thủy quân từ biển vào cửa Tiểu để tới Mỹ Tho hay là vào cửa Cần Giờ, rồi men theo ḍng Vàm Cỏ Tây để tới Rạch Gầm Xoài Mút, tạo yếu tố bất ngờ, đối với quân Xiêm? Chuyện này đă không thấy các nhà sử học xưa đề cập tới, kể cả các tài liệu của quốc sử quán triều Nguyễn.



    Nhưng về chiến tích của trận thủy chiến lịch sử, th́ hiện nay vẫn c̣n đầy rẩy trên đất Định Tường cũng như trong kho tàng văn chương b́nh dân bản địa, qua các bài hát ru em, ca dao, tục ngữ..’



    ‘Ầu ơ, Rạch Gầm-Xoài Mút tăm tăm

    xế xuống chút nữa, là vàm Mỹ Tho

    bần gie đóm đậu sáng ngời

    Rạch Gầm-Xoài Mút muôn đời oai linh

    Chẻ tre bện sáo cho dầy

    Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau

    Hay:’ gái Mỹ Tho mày tằm mắt phượng

    Giặc đến nhà, chẳng vụng hươi đao..’



    Ngày nay người dân sống ở rạch Bà Hào, kế rạch Gầm, vẫn thường hay kể những chuyện ma quỷ xuất hiện, vào những đêm mưa to gió lớn, mà họ quả quyết, đó là ma Xiêm, chưa được siêu thoát, dù cuộc chiến đă tàn hơn vài thế kỷ. Cũng ở vùng này, c̣n có một địa danh mang tên là’ Nghĩa địa Xiêm’ v́ có nhiều thuyền tháp bị ch́m, hiện vẫn c̣n trơ các hàng cột ở Đ́a Đôi (Ấp Hội), đầu cồn Phú Túc (Bến Tre). Ngoài ra c̣n nhiều quân dụng của lính Xiêm bỏ lại trận địa, được t́m thấy như súng thần công, gươm giáo, ấm, chén, nồi đồng.. tại vàm Rạch Gầm.



    Mùa thu năm 1785, vin vào cớ giúp Nguyễn Ánh đang bị quân Tây Sơn truy sát. Vua Xiêm Rama 1, cho 50 ngàn quân thủy bộ, tấn công VN bằng hai cánh quân. Lộ quân bộ chiến gồm 3 vạn, từ Nam Vang vào Nam Phần. Cánh thứ hai gồm 20 ngàn thủy quân, với 300 tháp thuyền. Cánh quân thủy này do hai người cháu của vua tên Chiêu Sương và Chiêu Tăng thống lănh, theo đường biển, vào cửa Rạch Giá ngày 25-7-1785. Hai đạo quân Xiêm thế mạnh như chẻ tre, lần hồi chiếm hết các dinh trấn tại Nam phần như Kiên Giang, Trấn Giang,Ba Thắt, Trà Ôn, Măng Thít.. và tới Định Tường. Bấy giờ đạo quân tinh nhuệ nhất của chúa Nguyễn Ánh ở Nam Phần đă bị tan vỡ v́ chúa tướng là Châu Văn Tiếp tử thương, nên không c̣n ai có thể cản nổi quân Xiêm. Do đó, trên bộ cũng như dưới sông, quân Xiêm tới đâu, cũng cướp của giết người, hăm hiếp phụ nữ Việt, tiếng than oán vọng tận trời cao, thật là thảm tuyệt.



    Tin dữ tới Phú Xuân, nên Long Nhưỡng tướng quân được lệnh, tức tốc đem quân thủy bộ từ Qui Nhơn vào Nam cứu viện. Lúc đó trời đang cuối đông, chỉ c̣n vài ngày nửa là đón Tết Giáp Th́n 1785. Để có thể tiêu diệt quân Xiêm đang trong thế mạnh và đông hơn quân ta, ông cho bày diệu kế, bằng lối mai phục rồi bất thần đánh úp tàu giặc đang neo đầy trên sông Mỹ Tho, giữa đọan Rạch Gầm-Xoài Mút. Đồng thời dùng hỏa công trận, để thiêu rụi toàn bộ thủy quân Xiêm.



    Mở đầu cuộc tấn công, quân Tây Sơn dùng cùi, lá và dầu dừa trộn chung với dầu mù u để làm bè lửa. Lại bày nghi binh kế, bằng cách lấy vỏ dừa khô rồi vẽ mặt người, đoạn kết thành bè, thả trôi lềnh bềnh gần chỗ thuyền giặc đậu. Chính diệu kế này, khiến cho quân Xiêm hoảng hốt, cứ ngỡ là quân Tây Sơn lặn đục thuyền, nên các tàu liên tiếp nhả đạn cho tới hết. Để nắm vững t́nh h́nh trận chiến, ông cho dựng hai cḥi chỉ huy ở hai đầu sông, một tại Chùi Mong (đầu rạch Xoài Mút), c̣n cḥi kia ở vàm Rạch Gầm. Hai cḥi chỉ huy có nhiệm vu ban lệnh tấn công, khi thấy thuyền quân Xiêm lọt hết vào trận địa. Ngoài ra không muốn để cho một thuyền giặc nào c̣n sống sót, Nguyễn Huệ cho chẻ tre bện thành sáo dầy có cột đá ḥn, để ngăn ḍng Tiền Giang, tại Ấp Tây, thuộc xă Kim Sơn, ngược vàm Rạch Gầm khoảng 1 cây số.



    Khi toàn bộ chiến thuyền của Quân Xiêm đă lọt vào khúc sông trận địa, do tín hiệu từ hai cḥi chỉ huy cấp báo, lập tức ông ban lệnh tấn công. Lúc đó giữa sông th́ lửa đốt, c̣n trên bờ dùng đại bác, tên và súng phóng lửa nhắm vào 300 tàu giặc mà bắn. V́ quá bất ngờ, nên hai đại tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng 300 tháp thuyền với 20.000 quân, trở tay không kịp, lớp th́ chết cháy, phần khác bị quân Tây Sơn giết. Chiêu Sương cùng Chiêu Tăng và vài ngàn tàn quân may mắn lội được vào bờ, cùng với quân bộ chiến, dùng đường bộ chạy về Nam Vang, rồi rút hết về Vọng Các, v́ sợ quân Tây Sơn truy sát. Từ đó người Xiêm La bỏ mộng tranh bá đồ vương với Đại Việt trên bán đảo Đông Dương, đồng thời sợ người Việt hơn cọp.



    Năm 1473 khi Thái bảo kiến dương bá Lê Duy Cảnh, được giao nhiệm vụ trấn giữ Ải Nam Quan, Vua Lê Thánh Tông đă ân cần nhắn gửi người ra đi:’ Một thước núi, một tấc sông của ta, không được bỏ. Nếu ngươi làm mất, tội đó phải tru di’. Lư Thường Kiệt khi đại chiến với quân Tống, dă viết’ Nam Quốc Sơn Hà, Nam Đế Cư’ xác quyết đất đai của người Việt muôn đời là của Nước Việt, không có ai được quyền xâm lấn hay bán nhượng.



    Ngày nay nhờ đọc lại những trang sử cũ, ta mới thấy tiền nhân đă mở dựng và giữ nước thật là gian lao cực khổ, có thể nói là người Việt đă đem máu và nước mắt của ḿnh, để tô bồi làm xanh thêm đất, khiên hoa cỏ mới nở rộ được khắp thôn làng, đê cho chúng ta thênh thang tọa hưởng.



    Đúng như sử gia Hoàng Xuân Hăn đă viết:’ trong ḍng lịch sử Việt, khi thế nước bị suy vi hèn yếu v́ chia rẻ, th́ giặc Tàu mới dám lấn đất dành biển’.



    Không biết tới ngày nào, cả nước mới có dịp theo sau gót ai để đánh đuổi ngụy Hồ, quang phục đất nước, như ngày xưa dân Việt đă theo sau bóng voi của Quang Trung Đại Đế vào Rạch Gầm-Xoài Mút đốt tàu giặc Xiêm hay ra Bắc Hà đánh đuổi quân Măn Thanh chạy về Tàu vào những ngày Tết Kỷ Dậu 1789.



    ‘Nhà tan sống cũng lạc loài

    thánh hiền sách nát đọc hoài hay sao?

    biển Đông sóng vổ ạ ạ

    ta nương cánh gió đi vào cơi xa

    ngày mai cũng có một ngày

    theo chân voi trận để vào Thăng Long..

    (thơ trích)’





    Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

    Những ngày đầu tháng 11-2012

    MƯỜNG GIANG

  5. #45
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Cựu Đại Tướng Nguyễn Khánh Đă Qua Đời ...
    Cựu trung tướng Linh Quang Viên qua đời




    Cựu trung tướng Linh Quang Viên qua đời

    VIRGINIA (NV) -Cựu trung tướng Quân Lực VNCH, Tướng Linh Quang Viên, qua đời ngày 17 Tháng Giêng, 2013 tại Virginia, Hoa Kỳ, hưởng thọ 95 tuổi. Theo cáo phó của Đảng Dân Tộc.


    Tướng Linh Quang Viên, h́nh chụp năm 1965. (H́nh: Robert W. Kelley/Time Life Pictures/Getty Images)

    Cựu Trung Tướng Linh Quang Viên từng được Đệ Nhị Đẳng Bảo Quốc Huân Chương và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân lực cùng nội các quân đội của Việt Nam Cộng Ḥa, từ năm 1965-1974 sau nền Đệ Nhất Cộng Ḥa thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Các chức vụ đă kinh qua có thể được kể đến: Tổng Trưởng Thông Tin VNCH, Tham Mưu Trưởng Liên Quân QLVNCH, Ủy Viên Chính Trị Hội Đồng Quân Lực, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục T́nh Báo Trung Ương thuộc Phủ Đặc Ủy Trung Ương T́nh Báo, Tổng Trưởng An Ninh Quốc Gia, Tổng Trưởng Nội Vụ, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh...

    Năm 1974 ông về hưu và được bổ nhiệm làm đại sứ VNCH tại Cộng Ḥa Trung Phi & Cộng Ḥa Tchad và ở lại đây cho đến sau khi Sài G̣n thất thủ năm 1975.

    Ông tị nạn chính trị tại Pháp và sống ở Paris đến năm 1978. Sau đó, ông tái định cư và sống ở tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ. Tại đây, ông tham gia những sinh hoạt chính trị của cộng đồng như Nghị Hội Người Việt, Phong Trào Yểm Trợ Kháng Chiến, Chính Phủ Việt Nam Tự Do và Đảng Dân Tộc.

    Cựu Trung Tướng Linh Quang Viên tốt nghiệp trường Cao đẳng Chỉ Huy và Tham Mưu, Fort Leavenworth, Kansas, năm 1958.

    Ông sinh ngày 11 tháng 11 năm 1918, tại Cao Bằng, Bắc Việt. Ông theo học trung học Albert Sarraut, Hà Nội, và tốt nghiệp năm 1939. (L.N.)

  6. #46
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    Viếng Nghĩa trang Quân đội Biên Ḥa
    Nguyễn Hoàng Vi (Danlambao)




    - Những ngày cuối năm, nhiều gia đ́nh người Việt vẫn duy tŕ phong tục tảo mộ ngày xuân. Vào dịp này, họ thường thăm viếng nghĩa trang để dọn dẹp, sửa sang mộ phần người đă khuất với niềm tin rằng hương hồn của những người quá văng về ăn tết cùng con cháu.

    Tại Việt Nam, hiện vẫn c̣n hơn 16.000 ngôi mộ quanh năm cô quạnh. Gần tết, những ngôi mộ càng trở nên lạnh lẽo, đây là nơi yên nghỉ của các tử sĩ quân lực Việt Nam Cộng Ḥa.

    Lương tâm con người không khỏi xót xa và thúc đẩy chúng tôi phải làm một điều ǵ đó để chia sẻ với họ, những người gần như đă bị quên lăng suốt gần 38 năm nay.

    Sáng ngày 02.02.2013, chúng tôi đă có cuộc viếng thăm nghĩa trang Quân đội Biên Ḥa. Có mặt tại đền Tử sĩ hơn 7h sáng, chúng tôi cùng nhau quét dọn, sửa sang, dâng hương và cầu nguyện, rồi cùng nhau qua phía nghĩa trang để thắp hương và cầu nguyện cho những người đă khuất.



    Khi vào cổng, bảo vệ bắt chúng tôi phải đăng kư họ tên và chứng minh nhân dân, trong bảng nội quy thăm viếng không hề nhắc đến điều này. Dù vậy, chúng tôi vẫn bày tỏ sự thiện chí.

    Sau khi đăng kư xong, xe chúng tôi vào trong để thắp hương th́ lập tức có khoảng 4-5 người đi theo vào trong. Khi xe vừa dừng, có một chú đến bắt chuyện với linh mục Anton Lê Ngọc Thanh:

    - Tôi biết ông này là Cha (trong khi Cha Thanh không hề mặc áo nhà ḍng).

    Những người đó giới thiệu với chúng tôi, họ là những người canh và quét dọn nghĩa trang.

    Khoảng 1 phút sau, có một người đàn ông trung niên tóc dài đă lốm đốm trắng chạy xe đến yêu cầu chúng tôi không được chụp h́nh, đồng thời căn dặn những người đi theo chúng tôi điều ǵ đó.

    Chúng tôi bắt đầu đặt hoa và đốt nhang, một anh trong đoàn mang theo máy để chụp h́nh lưu niệm th́ bị một chú nhắc nhở không cho chụp h́nh. Chúng tôi hỏi:

    - V́ sao vậy chú?

    - Ở đây cấm chụp h́nh, quay phim.

    - Chúng tôi có thấy bảng cấm chụp h́nh đâu? Trong nội quy thăm viếng cũng không cấm mà.

    - Các anh chị thông cảm. Chỉ đạo của bên an ninh không cho chụp h́nh.

    - Ủa... Nghĩa trang mà cũng có an ninh chỉ đạo nữa hả chú?

    - Có chứ. Pḥng bảo vệ chính trị của tỉnh ngày nào mà chẳng cắt cử người xuống đây canh...



    Chúng tôi bắt đầu chia ra thắp hương cho từng ngôi mộ. Đa số các ngôi mộ đều xuống cấp, sụp đổ, hoang tàn. Những ngôi mộ không có thân nhân đều chỉ xây bằng đất. Họ trồng cây cối xung quanh, rễ cây ăn sâu vào mộ khiến cho một số ngôi mộ bị trồi lên. Nh́n thấy Đài Nghĩa Dũng đang được xây mới, chúng tôi hỏi những người đi theo:

    - Đài đó được ai bỏ tiền ra xây lại ạ?

    - Không. Do nhà nước bỏ tiền ra xây lại đấy.

    - Vậy những ngôi mộ ở đây sao có những ngôi mộ được xây rất đẹp, có những ngôi mộ xây bằng xi măng qua loa, có những ngôi mộ chỉ bằng đất thôi vậy chú?

    - Những ngôi mộ được xây đẹp đa số là do thân nhân họ xây lại.

    - Vậy những ngôi mộ không có thân nhân th́ không được xây lại hả chú? Sao nhà nước không bỏ tiền ra xây mộ lại mà lại xây Đài kia?

    - Nhà nước "bên kia" họ bỏ tiền ra xây đó...


    ....


    Xong việc, chúng tôi tập trung lại để đọc kinh cầu nguyện (v́ đa số những người đi viếng là người Công giáo) nhưng lại bị nhắc nhở:

    - Ở đây không được làm lễ hay đọc kinh cầu nguyện nên các anh chị thông cảm. Nếu có đọc kinh th́ đọc thầm trong miệng để chúng tôi khỏi khó xử với an ninh.

    V́ mục đích của chúng tôi là thăm viếng, thắp hương để linh hồn các anh được ấm áp trong những ngày cuối năm nên chúng tôi cũng đành chấp nhận để hoàn thành xong công việc.

    Chuyến viếng thăm để lại trong tôi nhiều suy nghĩ, nhất là về chủ trương của những người tự nhận 'bên thắng cuộc'.

    Để ḥa giải, ḥa hợp dân tộc như đă tuyên truyền, trước hết hăy biết ḥa giải với những người khác chính kiến, nhất là đối với những người đă khuất.



    Nguyễn Hoàng Vi
    danlambaovn.blogspot .com

  7. #47
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    Người Lính Thủy Quân Lục Chiến bên bờ Bến Hải



    Kính dâng hương hồn người chiến sĩ vô danh




    Nguyễn Ngọc Ẩn





    Trời trên đầu vẫn nắng chang chang. Dưới chân là sỏi đá khô cằn. Đất ở đây như không đủ sức mời mọc cho cây đâm rễ nên quang cảnh mang một vẻ trơ trụi, hoang sơ thế nào.


    Đoàn tù vẫn lầm lũi bước. Cách từng quăng một là cán binh CS miền Bắc, vai mang khẩu AK-47, đầu đội mũ tai bèo, chân dép râu cũng tiếp nối từng bước như đoàn tù nhưng chắc chắn là mang trong họ một trạng thái tinh thần hoàn toàn khác. Họ là những kẻ chiến thắng, đang giải đoàn tù binh, sản phẩm của chiến bại, về Bắc. Trước là họ có dịp phô trương cái “anh hùng” của họ ở trong B, sau là biết đâu họ có thể có dịp tạt qua thăm nhà một lần sau bao nhiêu năm gia nhập bộ đội để đi “giải phóng miền Nam ruột thịt, đang oằn oại dưới ách thống trị bạo tàn của Mỹ Thiệu” và quan trọng và chắc chắn hơn hết là họ được tránh xa vùng lửa đạn có thể làm họ “đi gặp HCM” bất cứ lúc nào...


    Trước đó không lâu mà tưởng chừng như ở vào thế kỷ khác, quân CS đă bất ngờ vượt vùng phi quân sự để tràn xuống tấn công miền Nam. Trở tay không kịp, các căn cứ hoả lực ở vùng phía Nam Phi Quân Sự bị đánh tan vỡ, quân đội VNCH đă lập tức gởi ngay quân ở trong miền Nam ra cứu viện và các đơn vị Biệt động quân gồm 3 Liên Đoàn Tổng Trừ Bị được đưa ra và trong đó, Liên Đoàn 5 BĐQ là đơn vị ra tới đầu tiên mà trong đó có tôi với tư cách Y sĩ điều trị của Liên Đoàn.


    Tôi là một bác sĩ, tính tới hôm ra tới Quảng Trị là ngày 5/4/72 th́ tôi mới ra trường chưa được 5 tháng, do đó tôi c̣n ở dưới quyền một đàn anh là Y Sĩ Trưởng của đơn vị, hiện anh đang trở về làm việc ở hậu cứ khi có tôi ra thay ở mặt trận (hai anh em chúng tôi thay phiên nhau đi hành quân mỗi người nửa tháng).


    Tuy tôi không được dự các cuộc họp hành quân nhưng theo tin tức tôi thu nhặt được từ các sĩ quan trẻ trong BCH Liên Đoàn th́ tôi biết, Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai, Tư Lệnh SĐ3BB là sĩ quan cao cấp nhất được trên chỉ định làm Tư Lệnh mặt trận và ông đă điều quân như sau: LĐ5 chịu tuyến cực Bắc của mặt trận là thị trấn Đông Hà chạy dài về phía Nam ở hướng Tây của quốc lộ 1. Kế tiếp là LĐ4 BĐQ rồi tới LĐ7 BĐQ tiếp tục pḥng thủ và chiến đấu để giữ ǵn phía Tây QL 1. C̣n về hướng Đông là phía biển th́ mặt trận chắc chắn sẽ nhẹ hơn sẽ do SĐ 3 BB, sau trận đánh mấy ngày trước đă mỏi ṃn trấn giữ.


    Nhưng tới trận phục kích chót của quân CS vào BCH/LĐ trong đêm 30/4/72, trên đường rút quân của đơn vị tôi sau khi thành phố Quảng Trị đă thất thủ th́ đơn vị tôi chính thức cũng đă bị xoá tên trong trận chiến. Hỏi làm sao không xóa tên tại chỗ được khi một Liên đoàn BĐQ như đơn vị tôi mà có những 18 sĩ quan bị bắt làm tù binh trong đó phải kể đến: Tiểu Đoàn Trưởng và TĐ phó TĐ 38 BĐQ, sĩ quan trưởng ban 3 LĐ, sĩ quan trưởng ban Truyền Tin LĐ, bác sĩ (tôi), Đại Đội Trưởng Trinh Sát của LĐ và bao nhiêu sĩ quan cấp thấp khác ở các ban ngành của cả BCH LĐ cũng như của TĐ 38 là TĐ đi bọc hậu cho LĐ trên đường rút quân. Dĩ nhiên tôi được biết sau nầy là sau khi tập trung lại ở Huế, LĐ được đưa về để “làm máy lại,” tái tạo. bổ sung các cấp từ sĩ quan đến binh sĩ và tung vào hành quân 2 tháng sau đó. C̣n chúng tôi, 18 sĩ quan xấu số, trên con đường định mệnh không biết sẽ đi về đâu, đang bị xỏ xâu vào nhau và lầm lũi bước đi về hướng Bắc.


    Tôi viết hồi năy là LĐ tôi có 18 sĩ quan bị bắt là do về tới chỗ tạm giam gặp nhau chớ c̣n lúc giải đi trên đường th́ làm sao tôi biết được? Cá nhân tôi th́ trừ một số ít sĩ quan trong đơn vị là tôi biết mặt, hầu như tất cả anh em tù binh ở Quảng trị tôi mới gặp đều như gặp lần đầu, tôi mới biết mặt họ mà họ cũng mới biết mặt tôi. “À, anh là bác sĩ mới về đó hả ? Tui có nghe mà chưa gặp, không dè ḿnh gặp trong hoàn cảnh nầy, thiệt xui !!”


    Năy giờ tôi măi nói về đơn vị tôi, thực sự ra, đoàn tù binh bị giải đi về hướng bắc nầy hàng mấy trăm người là ít gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ của mọi binh chủng có mặt trong trận Quảng Trị hồi tháng 4/72: TQLC, BĐQ, Thiết Giáp, Bộ Binh, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và cả dân sự là mấy anh ở các ngành gọi là “ác ôn” dưới con mắt của CS như Chiêu Hồi, Xây Dựng Nông Thôn ...


    Tôi biết ḿnh đi về hướng Bắc là v́ dễ thôi, mặt trời bao giờ cũng mọc và ở suốt ngày bên tay phải tôi, có điều đi tới đâu th́ ḿnh không biết được, chỉ biết đôi chân quen mang giày dép, nay phải để trần dẩm lên sỏi đá, mỗi bước chân là hai hàng nước mắt chảy ra. Tôi không khóc đâu, nước mắt chảy là do cái đau đớn buốt lên từ ḷng bàn chân bắn thẳng lên óc làm nước mắt tự động chảy thôi chớ phải nói, ḷng căm giận đầy ngập trong tim th́ dễ ǵ tôi khóc được?


    Cái bụng th́ cồn cào, từ hồi bị bắt tới giờ cũng đă 5, 6 ngày rồi c̣n ǵ mà tôi chỉ được có mấy nắm cơm vắt nhỏ xíu bằng bàn tay (mỗi bửa ăn là nửa vắt!), c̣n khát th́ c̣n nói ǵ! Nắng, nóng, hoạt động (đi bộ ṛng ră) mà không hề có nước uống, nh́n chung quanh ḿnh, tôi thấy ai cũng ở vào t́nh trạng gọi là khát ră họng là đúng chữ nhất!


    Đă vậy mà thôi đâu, trong khi hạ sĩ quan hay binh sĩ th́ cứ chậm răi đi thành hàng một, c̣n chúng tôi, sĩ quan đâu được như vậy. Chúng dùng sợi dây dài cột tay trái người đi trước vào tay trái người đi sau thành từng hàng dài cho tới khi nào sợi dây hết th́ chúng dùng sợi dây khác nên không có con số nhất định mỗi xâu là bao nhiêu người mà chỉ do độ dài ngắn của sợi dây...


    Tôi th́ đi lọt vào áp chót của một sợi dây, vừa bước đi khập khiểng do đau hai ḷng bàn chân tột cùng, vừa đau đớn cho số phận của riêng ḿnh kể ǵ nói cho hết.


    Tuy lúc đầu lệnh của bọn cán binh là tù binh phải đi thành hàng một nhưng phải nói, do bị xâu chùm lại với nhau (với không biết có phải do ḷng hai bàn chân của các sĩ quan th́ “tiểu thơ” hơn anh em hạ sĩ quan và binh sĩ hay không?) mà đám tù sĩ quan đi chậm hơn đám tù đa số kia nhiều nên việc chúng tôi đi hàng xâu bên nầy song song với những anh lính của chúng tôi cách đó vài mét là thường. Có khi tên bộ đội đi gần đó mở miệng quát tháo, có khi chúng cũng mặc kệ mấy thằng tù, đi kiểu nào th́ đi, miễn cứ đi là được rồi...


    Từ lúc bị bắt đưa về cái nhà lá làm nơi tập trung đám tù binh mới bắt ngoài mặt trận cho tới ngày hôm nay, tôi đă bị đưa đi qua không biết bao nhiêu là cảnh vật thay đổi đủ kiểu. Chỗ gần nơi tôi bị bắt (sau nầy tôi mới biết là quận Hải Lăng) th́ có ruộng lúa, lúa cao ngang ngực như lúa sạ ở Đồng Tháp Mười, c̣n giải đi th́ lúc qua xóm Cửa Việt, chúng tôi đi dọc dài theo bờ biển cát êm mịn xinh đẹp với tiếng sóng vỗ ŕ rào. Nhưng cảnh vật khi họ dẫn chúng tôi từ phía đông QL 1 băng dần về phía núi rừng phía tây th́ thay đổi hẳn, những đám rừng lúc trước giờ chỉ là những cây với những cành trơ trụi v́ bom đạn làm tôi nhớ tới bài hát "Sương Trắng Miền Quê Ngoại" có 2 câu thơ:


    Gio Linh ơi, đất thiêng chừ run rẩy

    Tội lũ chim rừng không chỗ đậu v́ bom...


    Con đường càng đi về hướng Tây Bắc càng trơ trụi, sỏi đá khô cằn. Chỉ vài ngày đi bộ là tôi đă thấy thấm mùi đời lắm rồi nhưng ở trong tư thế không biết làm sao nên tôi cứ nhắm mắt mà bước theo những bước chân của những người bạn xấu số đồng cảnh của ḿnh.


    Tới buổi trưa hôm đó th́ đoàn tù (hay đúng ra là cái xâu của tôi) đang bước chân qua một ḍng nước nhỏ bề ngang chừng 1 mét. Ai cũng cố dừng lại để cúi người xuống hầu ké một ngụm nước và v́ chúng tôi bị xâu lại với nhau nên sự ḅ xuống uống nước không thể làm cùng lúc bao nhiêu người được. V́ thế mới có sự trùng tŕnh ở chỗ lạch nước nầy. Lúc tôi vừa uống nước xong th́ có tên bộ đội nhóc đứng gần đâu đó cất tiếng:


    - Chúng mầy có biết ḍng nước nầy có tên ǵ không?


    Khi không nghe ai trả lời cả (hoặc bận uống nước hoặc không bận cũng chẳng buồn trả lời làm ǵ) hắn ta nói tiếp, giọng oang oang đầy vẽ tự hào:


    - Sông Bến Hải đấy chúng mầy ạ! Hễ chúng mầy bước qua nó là chúng mầy đă chính thức đặt chân lên miền Bắc xă hội chủ nghĩa của chúng tao rồi đấy!


    Trong lúc tôi c̣n bàng hoàng v́ đây chỉ là một lạch nước nhỏ xíu mà người ta có thể bước ngang được dễ dàng mà lại là thượng nguồn của một con sông lịch sử, con sông chia cắt hai miền Nam Bắc của nước ḿnh từ mấy mươi năm qua bổng, hết sức bất ngờ ngoài sự tưởng tượng của tôi hay bất kỳ ai, một anh lính TQLC, chúng tôi biết anh là TQLC do tù binh vẫn c̣n bộ đồ lính trên người tuy lon lá đều đă bị tháo gở, anh ở trong đám binh sĩ đi gần chúng tôi, nhào lên bóp cổ tên bộ đội nhóc, vừa bóp cổ vừa gặc gặc cho cái siết cổ thêm mạnh trong khi miệng anh bật lên bao nhiêu là tiếng Đức, tiếng Đan Mạch, và đối tượng để anh chửi rủa là HCM, là “cha già kính yêu” của bọn bộ đội. Anh chửi rủa rất to tiếng trong khi nắm tay siết chung quanh cổ tên bộ đội như hai gọng kềm căm thù đă nung nấu từ hồi nào đến giờ, giờ mới có dịp phát huy.


    Tên bộ đội cố hết sức dăy dụa, tuy tay c̣n cầm khẩu AK nhưng mọi thứ đều thành vô dụng trong lúc nầy. Rồi một tên bộ đội khác nhanh chân chạy đến, bắn ngay một phát súng vào chân anh lính TQLC, anh đau đớn nên lỏng ṿng tay và tên bộ đội vùng thoát ra được, hắn không ngần ngại đá một phát vào anh lính lúc nầy đă nằm xuống đất...


    Sự việc viết lại tưởng như dông dài nhưng thực ra đă diễn ra trong chớp mắt trước sự ngỡ ngàng của đám tù binh chúng tôi. Rồi đám bộ đội đă tụ tập đến chung quanh anh lính miền Nam, một tên có vẻ là cao cấp nhất trong bọn đă nói ǵ không rơ với lũ thuộc cấp, sau đó hắn quay sang chúng tôi, ra lệnh mở trói xâu cho 2 sĩ quan tù binh ở cuối xâu và... tôi là một trong hai sĩ quan tù binh đó. Hắn ra lệnh cho đám bộ đội kia rồi không biết lấy ở đâu ra mà ngay sau đó vài phút là một tên đă đưa đến cho chúng tôi một cây đ̣n dài, một tên khác th́ đưa chúng tôi một cái vơng rồi tên chỉ huy ra lệnh cho hai anh em chúng tôi “cáng” anh lính đi tiếp.


    Tôi th́ v́ phản xạ nghề nghiệp nên khi vừa được “mở xâu” là đă chạy ngay đến anh lính TQLC đang nằm dưới đất để xem xét vết thương của anh nhưng ngay lập tức, một tên bộ đội đă xua tôi đứng dậy để làm nhiệm vụ cáng anh TQLC. Tuy nhiên trong một tích tắc đó, tôi cũng đă thấy được anh lính thần sắc đă tả tơi sau mấy ngày làm tù binh cho bọn chết đói, bộ quân phục sọc ngang cố hữu của binh chủng oai hùng ngày nào giờ cũng xác xơ giống như chủ nó, và viên đạn đi vào đùi anh lính, tôi đă không nh́n kịp coi có lỗ đạn ra hay không cũng như không thử mạch nên không biết có trúng động mạch đùi không và hơn hết, không biết cái chân có c̣n nhúc nhích được không nữa. Tuy nhiên, tôi cũng đă xé được từ cái áo thun của chính tôi được một miếng vải để cột ngay phía trên vết thương trong khi miệng th́ nói với mấy thằng bộ đội:


    - Mấy anh muốn cáng anh nầy th́ ít ra cũng phải để cho tôi băng bó sơ anh ấy cái chớ......

    Một tên bộ đội th́ nói:


    - Thường ngày chúng mầy là sĩ quan quen nạt nộ lính, hôm nay cho chúng mầy cáng lính của chúng mầy để đền tội......


    Trong khi tôi băng bó cho anh lính TQLC th́ anh bạn tù sĩ quan của tôi (anh thuộc SĐ3BB, rất tiếc tôi không c̣n nhớ tên anh) đă nhanh nhẹn cột hai đầu cái vơng vào cái đ̣n dài để hoàn thành cái cáng tức là có sau đó, chúng tôi sẽ gánh anh thương binh nằm trên đó. Nhưng khi chúng tôi mở cái vơng ra cho ngay ngắn và sửa soạn để khiêng anh thương binh đặt lên th́ anh đă nói:


    - Tui cám ơn mấy ông lo cho tui nhưng tui làm là tui chịu, tui hổng có làm phiền tới mấy ông đâu. Mấy ông cứ đi đi, tui hổng để mấy ông khiêng tui đâu......


    - Anh nói ǵ lạ vậy, tôi nói. Anh để chúng tôi khiêng anh đi, ít ra tới chỗ nào đó ḿnh mới có thể có phương tiện chữa cho anh được chớ.


    Nói qua nói lại ǵ th́ nói, hai lần chúng tôi đặt anh thương binh lên vơng, hai lần anh đều lăn ra khỏi cái vơng. Bọn bộ đội quay quần chung quanh nóng ruột, chúng hối thúc chúng tôi liền miệng nhưng - tôi nhớ đời câu nói nầy - anh thương binh nói:

    - Mấy thằng VC nầy nói cái ǵ sinh Bắc tử Nam, tui th́ dốt thiệt nhưng quyết sinh Nam tử Nam, tui không phải như mấy ông để tụi nó dẩn ra ngoài Bắc để hành hạ rồi chết ngoài đó đâu. Đây nè, tay tui c̣n xâm 2 chữ “Sát Cộng”, mấy ông tưởng tui sợ chết mà chịu sống chung với tụi chó đẻ nầy hả?


    Tới đó th́ bọn bộ đội chịu hết nổi, tên chỉ huy bèn quát:


    - Thôi hai thằng nầy về hàng trở lại đi để thằng nầy lại cho chúng tao!


    Bọn bộ đội đưa 2 thằng tù sĩ quan trở về xâu trở lại rồi ra lệnh tiếp tục lên đường. Tôi c̣n cố nh́n lại anh thương binh TQLC đang nằm dưới đất, cổ c̣n cố ngểnh lên để nh́n theo chúng tôi như tiển, như đưa... Bọn cán binh CS th́ bàn soạn x́ xào...

    Được một khoảng xa vài trăm thước, tôi nghe một tiếng súng nổ ở phía sau. Chỉ một tiếng súng nổ phá tan cái yên tỉnh của buổi trưa hè mà như đă phá nát cái định kiến cố hữu vẫn có trong ḷng tôi, anh lính TQLC, tuy v́ lư do thiếu văn hoá một chút nên dùng toàn những từ ngữ máy nước để chửi bọn CS nhưng đă đánh thức dậy trong tôi, đă nói vào tri thức tôi rằng, những tự hào tôi đă và đang có là một người ngang tàng không biết sợ, với cái học vấn hơn người thường một chút để tự cho ḿnh là một người trí thức. Hay nh́n xuống những người không được may mắn có cái học vấn của tôi hay các sĩ quan khác, phải đi hạ sĩ quan hay binh sĩ và cho họ là những người không đáng được kính trọng, họ chỉ là để phục vụ cho chúng tôi, các sĩ quan ăn trên ngồi trước, tất cả những suy nghĩ đó đều sai hết.


    Chỉ có một kết luận duy nhất, tôi là một thằng hèn, tôi đă v́ sự sống của chính tôi, v́ gia đ́nh và v́... tiếc của đời, tôi đâu có dám làm như một anh lính thường ở đơn vị TQLC, không chấp nhận sinh Nam tử Bắc, thẳng tay chửi bới già Hồ để ung dung đi vào cơi chết!


    Cái chết của anh là một bài học lớn cho tôi mà suổt đời, tôi đă không bao giờ dám quên. Từ đó, tôi đă không bao giờ coi lon lá nhà binh, bằng cấp bỏ trong túi hay tiền tài vật chất có trong cuộc sống là thực sự giá trị con người (có ở hoàn cảnh khốn cùng mới thấy lon lá hay ông lớn chừng nào lại dễ thành thằng hèn, thằng ăng-ten chừng nấy).


    Chỉ có Danh Dự, xin dùng chữ hoa ở đây, mới xác định giá trị con người. Xin cám ơn anh, một người tôi đă không được hân hạnh biết tên biết tuổi, đă dạy cho tôi một bài học vô cùng thắm thía mà suốt đời tôi sẽ ghi nhớ trong ḷng.


    Nước mắt chảy dài trên má tôi, lần nầy không phải v́ cái buốt đưa lên từ hai bàn chân đi đất mà là từ trái tim, khối óc chợt nhận ra cái hèn không dám chết của ḿnh.

    Nguyễn Ngọc Ẩn

    http://hon-viet.co.uk/NguyenNgocAn_N...enBoBenHai.htm

  8. #48
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    Người không có Tết
    Tác giả Huỳnh Công Thuận viếng nghĩa trang Biên Ḥa




    Huỳnh Công Thuận - Đêm nay là 28 tháng chạp, năm nay không có ngày 30 vậy mai là giao thừa rồi.

    Những ngày cuối năm, trong khi mọi người đang chuẩn bị vui mừng về quê tảo mộ đón tết th́ trái lại đối với tôi lại là những ngày cay đắng buồn đau sầu thảm nhất. Sau bao nhiêu năm sống kiếp không nhà, phải sống ly hương trên chính quê hương ḿnh, đối với tôi những tiếng “về quê, về nhà, gia đ́nh” đă không c̣n! Dù đă cố quên nhưng khốn nạn thay ngày mà người ta đưa ông táo lại là ngày giổ nội tôi, nội tôi mất đúng vào ngày 23 tết năm 1978 – đó cũng là năm cuối cùng tôi được hưởng không khí gia đ́nh ấm cúng dưới mái nhà trong phần đất hương hỏa của gia tộc họ HUỲNH chúng tôi. Nhớ lại những ngày ấy với những thời khắc cuối năm bên bàn thờ tổ tiên với những ngôi mộ đă được con cháu tảo mộ chu toàn với khói hương và với sự tưởng nhớ thành kính.

    Thắm thoát đă mấy mươi năm từ một thanh niên sống có lư tưởng, tôi đă phải bỏ nửa cuộc đời với những nỗi truân chuyên phải liên tục đấu tranh chống áp bức bất công, nhưng chẳng những không kết quả ngược lại c̣n bị rơi vào những “cuộc chiến” không lối thoát. Tôi đă mất quá nhiều thời gian của đời ḿnh cho việc này, giờ không c̣n nhiều thời gian nữa nhưng vẫn không biết đến bao giờ ḿnh mới được “về quê, về nhà, về gia đ́nh”, không biết bao giờ mới được tự do thanh thản thắp những nén hương viếng mộ tổ tiên trong những ngày lễ giổ v́ những ngôi mộ của gia tộc chúng tôi hiện đang bị chiếm đoạt…

    Trong nghĩa trang gia tộc họ Huỳnh của chúng tôi hiện có 8 ngôi mộ, tất cả đều có mộ bia với h́nh ảnh đầy đủ, nhưng chỉ mộ bia Ba tôi với h́nh mặc quân phục là bị đập phá, người ta dùng vật sắc nhọn gạch trầy các chử trên bia mộ và đục vào mắt di ảnh người quá cố…


    Kính xin hương hồn tổ tiên hăy tha thứ cho con không thể thắp hương viếng mộ tổ tiên gia tộc.
    Xin hăy tha thứ con bất lực để mộ bia người chết vẫn không được yên.
    Mong rằng các thế hệ mai sau sẽ không bao giờ
    c̣n phải sống dưới bất kỳ h́nh thức áp bức bất công phi lư nào.

    Thiết nghĩ mồ mả không chỉ là tài sản riêng của một gia tộc mà c̣n là niềm tự hào của cả quốc gia dân tộc. Trong thời chiến tranh loạn lạc, bản thân người sống lo c̣n không xong, nên không lo cho mồ mả người chết chu toàn là điều có thể chấp nhận được. Ngày nay, đang ở thời b́nh trị, ổn định th́ việc làm trước hết là phải khôi phục lại truyền thống văn hoá dân tộc lâu đời đă bị xâm hóa nghiêm trọng sau những thăng trầm của đất nước. Giữ ǵn và bảo quản cúng viếng mồ mả tổ tiên là giử cho con cháu đời sau một truyền thống văn hóa đạo hiếu “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.

    Hiện con cháu gia tộc họ HUỲNH chúng tôi không được quyền giữ ǵn bảo quản cúng viếng mồ mả tổ tiên nằm trong phần đất hương hỏa của gia tộc chúng tôi nhưng tôi vẫn cố gắng lưu truyền ǵn giử được gia phả của gia tộc ḿnh trên phần đất ảo. Những người con đi xa, nếu bị thất lạc thông tin về gia tộc họ HUỲNH có thể dễ dàng t́m lại được nguồn cội của ḿnh trên website Việt Nam gia phả tại đây:

    http://www.vietnamgiapha.com/XemGiaPha/6/giapha.html

    Người Việt Nam chúng ta có câu: “Sống cái nhà – Thác cái mồ” nhưng với những ǵ đă xảy ra đối với tôi và gia tộc tôi, cả với người sống lẫn người chết quả thực là đă quá sức chịu đựng!. Thiết nghĩ cướp nhà người sống và nhất là cướp mộ người chết là một trọng tội cần phải trừng trị một cách thật nghiêm khắc. Tôi luôn tin tưởng rằng: quyền bảo quản giử ǵn mồ mả tổ tiên trong phần đất hương hỏa của gia tộc họ “HUỲNH” rồi thế nào cũng trở về với con cháu họ HUỲNH chúng tôi và khi đó tôi sẽ vô cùng măn nguyện.

    Và khi nh́n lại “đoạn trường truân chuyên” trong suốt bao nhiêu năm qua dường như có giọt lệ nào, không chảy xuống mà chảy ngược vào tim tôi, lăn măi, và lăn măi... Người ta có thể tách quê hương ra khỏi con người nhưng không thể tách niềm đau nỗi nhớ ra khỏi tâm hồn.

    Một ngày cuối năm.


    Huỳnh Công Thuận
    http://emilydad.wordpress.com/2013/02/08/317/

  9. #49
    Member
    Join Date
    24-05-2016
    Posts
    6,984

    Tổ Quốc Ghi Ơn

    TƯỚNG LĂNH QLVNCH





    5 Tướng Việt Nam Cộng Ḥa tuẫn tiết 30/4/1975



  10. #50
    Member
    Join Date
    24-05-2016
    Posts
    6,984

    Tổ Quốc Ghi Ơn

    Tướng VNCH NGUYỄN HỮU THÔNG tuẫn tiết ngày chế độ Việt Nam Cộng Ḥa sụp đổ



Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 29
    Last Post: 19-03-2012, 02:26 AM
  2. Replies: 0
    Last Post: 18-03-2011, 11:49 AM
  3. Replies: 4
    Last Post: 02-03-2011, 11:46 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •