Page 4 of 4 FirstFirst 1234
Results 31 to 39 of 39

Thread: Đảng CSVN phiên bản của t́nh báo TQ !?

  1. #31
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Hồi kí cố vấn Trung Quốc (3)
    ĐỒNG CHÍ VI QUỐC THANH
    TRONG VIỆN TRỢ VIỆT NAM
    ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP

    Vu Hoá Thầm
    bản dịch của DƯƠNG DANH DY
    P2




    Hạ tuần tháng 7 đồng chí Trần Canh đă đến Thái Nguyên, nơi đóng trụ sở của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, sau khi đến chào Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 14/8 cùng lên chỗ Bộ chỉ huy tiền phương chiến dịch Biên Giới Quân đội Nhân dân Việt Nam và gặp mặt đoàn cố vấn. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc giao nhiệm vụ cho Trần Canh là giúp Việt Nam tổ chức chiến dịch Biên Giới và thống nhất xử lư vấn đề Trung Quốc viện trợ quân sự cho Việt Nam.

    Trần Canh và Vi Quốc Thanh đă quen biết nhau từ lâu. Trong cuộc trường chinh hai vạn năm ngh́n dặm, khi Trần Canh làm đoàn trưởng đoàn cán bộ Trung ương th́ Vi Quốc Thanh là Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn đặc biệt dưới sự lănh đạo của Trần Canh. Hai người lâu năm chưa gặp, nay gặp nhau ở nước ngoài, dạt dào xúc động. V́ Đoàn cố vấn công tác dưới sự chỉ đạo của Trần Canh, Vi Quốc Thanh càng đặc biệt vui mừng.

    Trần Canh và Vi Quốc Thanh thông qua trao đổi với Vơ Nguyên Giáp và nghe Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam giới thiệu t́nh h́nh, đă hiểu được t́nh h́nh cơ bản của hai phía địch và bạn, và t́nh h́nh chuẩn bị chiến dịch :

    1 – Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam tuy đă bước vào năm thứ năm, nhưng Quân đội Nhân dân Việt Nam về cơ bản vẫn ở giai đoạn đánh du kích, chưa qua chiến đấu đánh, tiêu diệt một tiểu đoàn địch hoàn chỉnh trở lên. Hiện nay tuy đă thành lập 2 đại đoàn (đại đoàn 304 và 308) và 3 trung đoàn độc lập (trung đoàn 174, 209, 148) nhưng đại đoàn đoàn đều chưa qua tác chiến tập trung, trung đoàn cũng rất ít có kinh nghiệm tác chiến tập trung, về cơ bản vẫn là lấy tiểu đoàn, đại đội làm đơn vị phân tán tiến hành chiến tranh du kích. Dân quân, du kích có khắp cả nước chiếm lĩnh vùng nông thôn rộng lớn, không ngừng phá rối, tiêu hao đánh địch. Đoàn cố vấn đều cử tổ cố vấn đến hai đại đoàn và ba trung đoàn chủ lực nói trên, cả ba cấp đại đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn đều có cố vấn giúp công tác. Các bộ đội nói trên đều đă được Trung Quốc trang bị, huấn luyện, hoặc đang trang bị huấn luyện. Hiện nay đóng gần Cao Bằng có đại đoàn 308, trung đoàn 174 và trung đoàn 209, ngoài ra có một trung đoàn sơn pháo. Đại đoàn 304 đóng ở vùng Thanh Hoá phía bắc Trung Bộ, trung đoàn 148 hoạt động ở vùng Lào Cai – Tây Bắc như vậy có nghĩa là, toàn bộ binh lực có thể đưa vào chiến dịch Biên Giới là 5 trung đoàn bộ binh và 1 trung đoàn pháo binh và một số bộ đội địa phương.

    2 – Quân Pháp tổ thành rất phức tạp. Có binh đoàn người da trắng, cũng gọi là binh đoàn quốc tịch nước ngoài 1, chủ yếu do tù binh Đức, tù binh Liên Xô và một số nước Đông Âu trong chiến tranh thế giới thứ hai, và số ít phạm nhân người Pháp tổ thành, sĩ quan chỉ huy đều là người Pháp. Có binh đoàn da đen, chủ yếu do binh lính người da đen 2 thuộc các nước Maroc, Tunisie và Algérie thuộc địa của Pháp tổ thành, sĩ quan chỉ huy cũng đều là người Pháp. Quân Pháp tác chiến chủ yếu dựa vào hoả pháo và công sự, thiếu ư thức tấn công, sức chiến đấu không mạnh. Ngoài ra c̣n có một bộ phận nguỵ quân, sức chiến đấu càng yếu, chủ yếu đóng giữ cứ điểm. Ở Bắc Bộ, quân Pháp khống chế đường giao thông thành phố thị trấn vùng đồng bằng sông Hồng và khu vực Tây Bắc, giữ ưu thế và chủ động về chiến lược. Đầu năm 1950, quân Pháp và quân nguỵ trên toàn Đông Dương có tất cả 230.000 người. Do Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, chiến tranh du kích khắp các nơi trong nước, buộc quân Pháp chia quân ra pḥng thủ, ngày càng bộc lộ nhược điểm chí mạng là thiếu lính, binh lực phân tán.
    hcm

    Ảnh chụp tại An Toàn Khu, từ người thứ nh́ (bên trái sang) : Hoàng Quốc Việt, Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Lư Hàm Trân (vợ La Quư Ba), Hồ Chí Minh, x, La Quư Ba, Trường Chinh, x...

    3 – Trước khi đoàn cố vấn vào Việt Nam, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đă cử La Quư Ba 3 làm đại diện liên lạc, trung tuần tháng 3 đă đến trụ sở của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, thảo luận nhiều lần với Việt Nam về vấn đề phát động chiến dịch biên giới, quyết định vùng Cao Bằng biên giới đông bắc Việt Nam giáp Quảng Tây làm hướng tấn công chính của chiến dịch. Trên quốc lộ số 4 từ Cao Bằng đi Tiên Yên (Quảng Ninh) theo hướng đông nam, quân Pháp xây dựng một loạt cứ điểm kiên cố để phong toả biên giới Trung – Việt, bao vây và uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc. Mở một chiến dịch thắng lợi ở vùng này, có thể phá vỡ sự phong toả của địch, khai thông tuyến giao thông Trung – Việt, có lợi cho viện trợ của Trung Quốc đối với Việt Nam, và loại bỏ mối đe doạ đối với căn cứ địa Việt Bắc, có ư nghĩa rất quan trọng. Phía Việt Nam đă làm rất nhiều việc chuẩn bị cho chiến dịch, nhưng chưa thống nhất ư kiến đối với cách đánh trong chiến dịch, càng chưa h́nh thành phương án tác chiến. Lúc này, không ít tư tưởng chỉ đạo trong Quân đội Nhân dân vẫn câu nệ ở chỗ được mất một thành phố này một địa phương kia, mà không chú trọng vào tiêu diệt sinh lực địch. V́ vậy họ chủ trương đánh Cao Bằng trước cho rằng Cao Bằng là tỉnh lỵ là cứ điểm pḥng ngự hạt nhân của hệ thống pḥng ngự trọng điểm trên tuyến phong toả biên giới mà quân Pháp ra công tính toán bao năm, đánh lấy Cao Bằng không chỉ có ư nghĩa quân sự to lớn, mà c̣n có ảnh hưởng chính trị rất lớn.

    Căn cứ vào t́nh h́nh trên, Trần Canh và Vi Quốc Thanh đă nghiên cứu tỉ mỉ pḥng tuyến quốc lộ 4 của Pháp. Hai người cảm thấy, quân địch đóng giữ Cao Bằng có 3 tiểu đoàn, hơn 1000 tên, địa thế hiểm trở, công sự kiên cố, dễ pḥng thủ khó tấn công, theo khả năng công kiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam trước mắt, rất khó gặm cục xương cứng này. Họ phát hiện trên pḥng tuyến từ Cao Bằng đến Lạng Sơn dài hơn 100 km, ở giữa có hai cứ điểm Đông Khê và Thất Khê. Đông Khê cách Cao Bằng hơn 40 km về phía bắc, cách Thất Khê hơn 20 km về phía nam, cách Lạng Sơn, sáu bảy mươi kilômét, hơn 1 tiểu đoàn, bảy tám trăm quân địch đóng giữ. Đột phá từ đây có thể cô lập quân địch ở Cao Bằng, tạo cơ hội diệt viện. Kiến giải của anh hùng đại thể giống nhau, hai người không hẹn mà gặp, nhất trí đồng ư coi Thất Khê là điểm đột phá của chiến dịch. Họ lại thảo luận cao khả năng phát hiện của chiến dịch, đều đi đến nhất trí ư kiến.

    Tại một cuộc họp của lănh đạo Bộ Tổng tham mưu Việt Nam, Trần Canh phân tích biện chứng vấn đề chọn đột phá khẩu của chiến dịch và khả năng phát triển của chiến dịch như thế nào, đưa ra kiến nghị toàn diện. Nêu rơ địa thế Cao Bằng hiểm trở, ba mặt là sông, sau lưng là núi cao, công sự kiên cố, dễ pḥng thủ khó tấn công, là cục xương cứng. Điều đó đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam thiếu kinh nghiệm công kiên mà nói, là khó khăn rất nhiều, dễ trở thành đánh tiêu hao, lợi bất cập hại. Nếu trận đầu không thắng, nhất định sẽ ảnh hưởng rất bất lợi đối với toàn bộ chiến dịch. V́ vậy tốt nhất không đánh Cao Bằng trước, mà đánh cứ điểm Đông Khê nằm giữa Cao Bằng và Thất Khê. Quân địch đóng giữ Đông Khê chỉ có một tiểu đoàn, bố pḥng không kiên cố lắm vả lại rất cô lập, địa h́nh cũng có lợi cho ta tấn công, nằm chắc phần thắng tương đối lớn. Đánh lấy Đông Khê, chặt đứt sống lưng quốc lộ 4, cô lập Cao Bằng. Như vậy buộc địch ở Thất Khê, Lạng Sơn có thể đưa quân chi viện, sẽ tạo cơ hội có lợi tiêu diệt càng nhiều quân địch trong vận động.

    Nếu địch ở Thất Khê không đưa quân chi viện th́ sau khi giải quyết Đông Khê thừa thắng đánh lấy Thất Khê, cuối cùng tập trung toàn bộ binh lực tấn công Cao Bằng và ra sức tiêu diệt địch trong vận động. Tiến công Đông Khê, tương đối nắm chắc thắng lợi. Mà trận đầu thắng lợi sẽ cổ vũ mạnh mẽ sĩ khí, gây ảnh hưởng có lợi cho toàn bộ chiến dịch. Tiêu diệt quân địch đóng giữ Đông Khê và Thất Khê sẽ làm cho ḷng quân đóng giữ Cao Bằng lâm cô lập dao động. C̣n Quân đội Nhân dân Việt Nam trải qua nhiều lần chiến đấu, kinh nghiệm nhiều lên, niềm tin thắng lợi càng đầy đủ lúc đó lại đánh Cao Bằng tương đối dễ giành thắng lợi.

    Sự phân tích có hệ thống, thấu đáo đó của Trần Canh thuyết phục người lănh đạo phía Việt Nam. Qua thảo luận, lănh đạo Việt Nam nhất trí, đồng ư ư kiến của Trần Canh. Căn cứ vào đó, Đoàn cố vấn quân sự giúp cụ thể Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam vạch kế hoạch tác chiến chiến dịch biên giới.

    Lúc ấy, Hồ Chí Minh đă từ hậu phương lên tiền tuyến. Người đă phê chuẩn kế hoạch tác chiến chiến dịch biên giới và chỉ rơ : “ Chiến dịch này chỉ được thắng, không được thua ”. Người vô cùng tín nhiệm yêu cầu Trần Canh bảo đảm thắng lợi của chiến dịch này. Trần Canh nói : “ Tôi nhất định dốc sức giúp đánh tốt trận này, nhưng đánh trận chủ yếu c̣n dựa vào cán bộ chỉ huy bộ đội và quần chúng nhân dân Việt Nam ”. Để quán triệt thực thi kế hoạch tác chiến nói trên, Vi Quốc Thanh khẩn trương bận rộn tiến hành các công việc. Đồng chí luôn luôn liên hệ với các tổ cố vấn bộ đội tham chiến, t́m hiểu t́nh h́nh, giải đáp vấn đề, bố trí công tác; kịp thời bàn bạc với Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm và cố vấn hậu cần Mă Tây Phu, giúp cơ quan các Tổng cục quân đội nhân dân Việt Nam làm tốt các công tác chuẩn bị chiến dịch. Dưới sự giúp đỡ hết ḿnh của các tổ cố vấn, các công tác chuẩn bị cho cuộc vận động chiến quy mô lớn đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam vào thượng tuần tháng 9 đă cơ bản hoàn tất. Ngày 16/9, chiến dịch Biên Giới bắt đầu. Đêm 16/9, Trung đoàn 174 bộ đội chủ công được pháo binh phối hợp, mở cuộc tấn công quân địch ở Đông Khê. Dưới sự yểm trợ của các loại hoả lực, Quân đội Nhân dân Việt Nam lần lượt chiếm lĩnh một số cứ điểm ngoại vi Đông Khê, nhưng triến triển chậm chạp sau khi tiến gần tới trung tâm pḥng ngự của địch. Sáng sớm ngày 17, địch phản kích dưới sự yểm trợ của máy bay. Do Quân đội Nhân dân Việt Nam thiếu kinh nghiệm, chỉ huy không kịp thời, nên rút lui khỏi trận địa đă chiếm lĩnh.

    Sau khi Trần Canh và Vi Quốc Thanh biết được t́nh h́nh này hết sức lo lắng, lập tức đến bộ chỉ huy tiền tuyến Quân đội Nhân dân, gặp Vơ Nguyên Giáp, cùng nghiên cứu nguyên nhân tấn công bị thất bại, ra lệnh cho bộ đội điều chỉnh sự bố trí, bao vây chặt, đề pḥng địch phá vây, đến tối sẽ tấn công lại.

    Tối 17, do bộ đội tuyến trước không hành động theo bố trí đă định trước, chỉ tấn công từ một phía, làm cho địch tập trung được hoả lực ngoan cố chống cự. Đến nửa đêm, tấn công vẫn chưa đạt hiệu quả, bộ đội thương vong khá lớn, lại chuẩn bị rút khỏi cuộc lui chiến đấu. Sau khi Trần Canh và Vi Quốc Thanh chăm chú theo dơi phát triển của trận đánh biết được t́nh h́nh này đă lập tức khẩn cấp kiến nghị với Hồ Chí Minh, Vơ Nguyên Giáp : “ Ra lệnh cho bộ đội tiếp tục kiên tŕ không tiếc bất cứ giá nào, đồng thời điều chỉnh lại bố trí, đổi thành tiến công cả bốn phía, trọng điểm nhằm vào phía Bắc và phía Nam ”. Phía Việt Nam chấp nhận kiến nghị này. Vi Quốc Thanh lập tức điện thoại cho Trương Chí Thiện cố vấn trung đoàn 174 biết ư đồ này ; ra lệnh cho Trương giúp người chỉ huy trung đoàn này nhanh chóng điều chỉnh bố trí, chuẩn bị tốt cho việc đánh tiếp. Trước khi trời hừng sáng, tấn công lại lần nữa, kịch chiến đến 8g ngày 18, cuối cùng tiêu diệt toàn bộ quân địch.

    Sau khi cuộc chiến đấu kết thúc điều tra ra, quân địch đóng giữ Đông Khê chỉ có hơn 2 đại đội, không đến 400 tên, quân đội Việt Nam với binh lực 7000 người, tấn công hai đêm, thương vong 500 người mới thắng. Mặc dù cái giá rất lớn, nhưng mục tiêu bước đầu của chiến dịch đă đạt được, tức là một thắng lợi không nhỏ. Quân đội Việt Nam đánh được Đông Khê làm cho Vi Quốc Thanh mấy ngày qua căng thẳng tinh thần cao độ thở phào. Nhưng súc khoẻ của đồng chí không trụ nổi. Trong hoàn cảnh chiến tranh lâu dài, đồng chí mắc bệnh viêm dạ dày măn tính và thần kinh suy nhược. Sau này ở Bắc Kinh lại viêm ruột thừa, chuyển sang viêm màng ổ bụng, sau khi ra viện bận việc tổ chức Đoàn cố vấn, sức khoẻ chưa được phục hồi tốt. Sau khi vào Việt Nam chưa được mấy ngày, đồng chí lại mắc bệnh dạ dày, đau bụng đi lỏng, liên tục uống thuốc không khỏi. Đồng chí nổi nóng cáu gắt với quân y đi theo cũng chẳng được ǵ. Sức khoẻ đồng chí ngày càng gầy yếu, vẫn kiên tŕ công tác khẩn trương.

    Sau tấn công Đông Khê, Trần Canh và Mai Gia Sinh, Đặc Dật Phàm khuyên bảo, đồng chí mới về điều trị ở bệnh viện lục quân tại Long Châu, Quảng Tây. Theo kế hoạch chiến dịch dự định, sau khi lấy được Đông Khê, nếu địch ở Thất Khê không ra chi viện, th́ thừa thắng tấn công tiêu diệt địch ở Thất Khê. Nhưng lúc này Trần Canh biết được, lính địch đóng giữ ở Thất Khê tăng lên 4 tiểu đoàn. Theo kinh nghiệm của trận Đông Khê, nếu với lực lượng hiện có của quân đội Việt Nam tấn công tiêu diệt địch ở Thất Khê là rất khó khăn. Sau khi Trần Canh cùng Hồ Chí Minh, Vơ Nguyên Giáp nghiên cứu, thay đổi kế hoạch ra lệnh cho đại đoàn 308 tiếp tục mai phục ở nam Đông Khê, chờ thời cơ tiêu diệt địch.

    Trong 10 ngày sau đó, quân địch ở Thất Khê vẫn không động tĩnh. Lúc này một số cán bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam nảy sinh tư tưởng nôn nóng và oán trách. Có người nói, đánh Đông Khê là sai lầm, tiêu hao lực lượng của ḿnh, lại không có viện binh để đánh, cũng tiêu mất thời cơ có lợi đánh Cao Băng. Có người nói địch ở Thất Khê không xuất quân chi viện, chi bằng đưa quân lên phía bắc đánh Cao Bằng. Có người chủ trương rút quân về bảo vệ Thái Nguyên. Bởi v́ lúc này quân Pháp đă tập trung binh lực mấy tiểu đoàn, đang tấn công vào vùng Thái Nguyên trụ sở cơ quan đầu năo của Đảng, Chính phủ, quân đội Việt Nam.

    Trần Canh không dao động trước những lời bàn tán đó. Đồng chí tin chắc bộ chỉ huy quân Pháp sẽ không bỏ mặc hơn 1000 quân ở Cao Bằng. Theo phán đoán bố trí của quân Pháp đă làm, nhất định c̣n chuyện tiếp. Đồng chí kiến nghị với Vơ Nguyên Giáp, thuyết phục cán bộ, nhẫn nại kiên tŕ, b́nh tĩnh chờ đợi hành động tới của quân địch, nắm bắt thời cơ tiêu diệt địch. Trần Canh c̣n cho rằng địch tấn công Thái Nguyên là kế điệu hổ ly sơn. Để đánh lừa quân địch, đề nghị bộ chỉ huy tiền tuyến Quân đội Nhân dân cho trung đoàn 174 vờ di chuyển về phía nam Thất Khê. Hành động này quả nhiên có hiệu quả. Bọn địch nhầm tưởng chủ lực quân đội nhân dân Việt Nam quay xuống phía nam bảo vệ Thái Nguyên, vẫn thực hiện kế hoạch chi viện dự định của họ, rơi vào tḥng lọng do Trần Canh dăng sẵn.

    Đêm 30/9, binh đoàn Lepage của Pháp tiến vào bắc Thất Khê, ḥng chiếm lại Đông Khê, để tiếp ứng cho binh đoàn Charton sẽ rút khỏi nam Cao Bằng. Sau khi bị trung đoàn 209 quân đội Việt Nam chặn đánh, quân Pháp buộc phải triển khai bộ đội chiếm đóng một số điểm cao nam Đông Khê, không vào được Đông Khê. Biết được t́nh h́nh này, Trần Canh rất phấn khởi, cho rằng thời cơ tiêu diệt địch đă đến. Nhưng lúc này v́ bộ đội thiếu lương thực, đại đoàn 308 có trên một nửa chiến sĩ lên hướng Thuỷ Khẩu Trung Quốc vác gạo. Điều đó làm cho Trần Canh rất lo lắng. Đồng chí một mặt kiến nghị khẩn cấp với Vơ Nguyên Giáp ra lệnh cho bộ đội nhanh chóng tập trung đón địch, mặt khác điện thoại cho Vương Thạc Tuyền cố vấn đại đoàn 308, yêu cầu đồng chí đôn đốc phía Việt Nam cấp tốc tập trung bộ đội để bao vây, tấn công địch, được một tiểu đoàn xuất phát một tiểu đoàn, được một đại đội xuất phát một đại đội, không chậm trễ một phút.

    Dưới sự chỉ huy quyết đoán của Trần Canh, nói chung là tóm được kẻ địch. Nhưng do tổ chức không chặt, hiệp đồng cũng không tốt, dẫn đến phần lớn cuộc tấn công chưa đạt hiệu quả. Ngày 3/10, binh đoàn Charton Cao Bằng bỏ chạy xuống phía nam, nhưng bị bộ đội địa phương Việt Nam chặn đánh, nên tiến quân chậm chạp. Đêm hôm đó, binh đoàn Lepage lợi dụng thời cơ ban đêm quân đội Việt Nam ngừng tấn công, lén lút luồn qua núi Cốc Xá, ở tây quốc lộ 4, tây nam Đông Khê 7 km, chiếm lĩnh địa h́nh có lợi, chờ Charton tiếp ứng binh đoàn cùng chạy về phía nam. Ngày hôm sau, binh đoàn Charton được biết binh đoàn Lepage chưa chiếm được Đông Khê, mà chỉ vào núi Cốc Xá, nên không dám tiến theo quốc lộ 4 nữa, phá ôtô, đại bác và quân nhu, đi lối tắt đến điểm cao 477 gần núi Cốc Xá, ḥng gặp binh đoàn Lepage, rồi cướp đường chạy về Thất Khê.

    Trần Canh cho rằng, t́nh thế địch ta hiện nay rất có lợi cho ta, cơ hội tiêu diệt địch khó có, cần phải trước hết cần kiên quyết, nhanh chóng tiêu diệt binh đoàn Lepage sau đó di chuyển binh lực tiêu diệt binh đoàn Charton, quyết không cho chúng tập họp chạy về phía nam.

    Ngày 4, quân đội Việt Nam truy đuổi về hướng vùng núi Cốc Xá, và liên tục triển khai tấn công quân địch chiếm núi Cốc Xá. Cuộc chiến đấu khá quyết liệt, tuy giết chiết làm bị thương một số quân địch, nhưng chưa có tiến triển rất lớn, bộ đội ta cũng có không ít thương vong, có một số cán bộ bắt đầu kêu khổ.

    Tối ngày 4, Bộ chỉ huy Tiền phương Quân đội Việt Nam ra lệnh cho bộ đội tạm ngừng tấn công để nghỉ ngơi chỉnh đốn. Đồng thời Vơ Nguyên Giáp gọi điện thoại cho Trần Canh nói : “ Căn cứ phán đoán t́nh h́nh địch, hai cánh quân địch sẽ có thể nhanh chóng gặp nhau, lực lượng sẽ được tăng cường. Bộ đội đă đánh liên tiếp 3 ngày liền, tương đối mệt nên chăng rút về nghỉ ngơi chỉnh đốn ? ” Trần Canh nghe thế vội nói ngay : “ Một trận như thế này mà không đánh nữa th́ không có trận nào nữa đâu ”. Vơ Nguyên Giáp vẫn kiên tŕ ư kiến của ḿnh : “ Bộ đội quá mệt tôi thấy rất khó tiến công...” Nh́n thấy thời cơ rất tốt sắp bỏ qua, Trần Canh cũng không nhẫn nhịn được nữa, nói to trước ống nghe : “ Nếu trận này không đánh nữa th́ tôi xin cuốn gói chuồn ”. Ngừng một lát, Trần Canh lại nói : “ Vào giờ phút then chốt này, bộ chỉ huy mà dao động th́ chôn vùi thời cơ rất tốt để chiến dịch thắng lợi ”. Trần Canh dập máy xuống.

    Trần Canh suy nghĩ một lát để b́nh tâm trở lại rồi lập tức cầm bút viết thư cho Hồ Chí Minh kiến nghị Người mệnh lệnh và cổ vũ bộ đội tiền tuyến không sợ hy sinh, anh dũng chiến đấu, nhanh chóng tiêu diệt binh đoàn Lepage, sau thắng lợi lập tức di chuyển binh lực tiêu diệt binh đoàn Charton. Đồng chí Trần Canh cũng điện báo kế hoạch này cho Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Hồ Chí Minh tiếp nhận kiến nghị của Trần Canh, lập tức ra chỉ thị cho bộ đội tiền tuyến.

    Ngày 6/10, Mao Trạch Đông điện trả lời Trần Canh, nêu rơ : “ Các đồng chí phải nhanh chóng, kiên quyết, triệt để tiêu diệt quân địch ở tây nam Đông Khê, cho dù thương vong tương đối lớn cũng không nên quá lo, không nên dao động (phải tính đến trong cán bộ có thể có t́nh h́nh đó), ngoài ra, phải bám chặt bọn địch trốn khỏi Cao Bằng, không để chúng chạy thoát. Và phải có bố trí trước việc quân địch ở Lạng Sơn có thể đưa quân chi viện. Chỉ cần ba việc trên được xử lư xác đáng th́ thắng lợi thuộc về các đồng chí ”.

    Trần Canh xem điện trả lời của Mao Trạch Đông rất phấn khởi, lập tức báo cáo với Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh cũng rất phấn khởi. Quân đội Việt Nam được Hồ Chí Minh cổ vũ tinh thần phấn chấn hẳn lên. Trải qua chiến đấu quyết liệt, binh đoàn Lepage đă không chống cự nổi. Chiều ngày 6, Lepage dẫn tàn binh bại tướng lùi về trong hang Dơi cố thủ. Sáng ngày 7, tiểu đoàn 130 quân đội Việt Nam bao vây hang này, người phó của Lepage vừa ra cửa hang, bị một tràng đạn của quân đội Việt Nam bắn chết. Lepage và nhân viên tham mưu đành phải nộp súng đầu hàng quân đội Việt Nam.

    Thắng lợi tiêu diệt toàn bộ binh đoàn Lepage cổ vũ rất lớn tinh thần binh lính quân đội Việt Nam, làm lung lay dữ dội ḷng quân của binh đoàn Charton. Đại đoàn 308 lập tức chuyển quân tấn công tiêu diệt binh đoàn Charton. Chiều cùng ngày binh đoàn Charton cũng bị tiêu diệt hoàn toàn. Đại tá Charton và tỉnh trưởng nguỵ quyền Cao Bằng đều bị bắt sống. Hai binh đoàn Lepage và Charton bị tiêu diệt làm cho quân Pháp trên pḥng tuyến quốc lộ 4 hết sức kinh hoàng, lũ lượt tháo chạy, từ Thất Khê, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đ́nh Lập cho đến vùng phụ cận Tiên Yên ven biển. Pḥng tuyến quốc lộ 4 mà quân Pháp ra công xây dựng ba năm bị sụp đổ hoàn toàn. Đến đây kết thúc thắng lợi chiến dịch Biên Giới.

    Chiến dịch này tiêu diệt tất cả 8 tiểu đoàn hoàn chỉnh, hơn 8000 tên địch bị chết, bị thương, bị bắt làm tù binh, thu được rất nhiều vũ khí đạn được, giải phóng 18 thành phố, thị trấn và và khu vực có 350.000 dân, khai thông tuyến giao thông biên giới Trung – Việt, làm cho vùng giải phóng Việt Bắc mở rộng và củng cố, thay đổi rất lớn t́nh thế chiến lược địch ta trên chiến trường Bắc Bộ. Vi Quốc Thanh điều trị tại bệnh viện lục quân Long Châu, thân tại bệnh viện, tâm tại tiền tuyến, luôn luôn quan tâm theo dơi cuộc chiến phát triển. Bệnh t́nh có chuyển biến tốt, đồng chí vội ra viện, cùng với Trần Canh, có Vơ Nguyên Giáp cùng đi, thị sát Lạng Sơn mà mới lấy lại. Sau đó về đến chỗ ở Nam Sơn. Ngày 10/10, Vi Quốc Thanh đưa ra kiến nghị bằng văn bản với Vơ Nguyên Giáp về làm tốt công tác tổng kết chiến dịch, và đích thân chỉ đạo các tổ cố vấn giúp Việt Nam làm công tác tổng kết chiến dịch.

    Sau khi nhận lời phát biểu tổng kết chiến dịch suốt 4 ngày ṛng tràn đầy nhiệt t́nh với cán bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên của bộ đội tham gia chiến dịch, ngày 29/10 Trần Canh gửi điện cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc : “ Tôi đă hoàn thành nhiệm vụ công tác ở Việt Nam, năng lực đoàn cố vấn rất mạnh, không cần thiết lưu lại ở đây, xin về Bắc Kinh báo cáo công tác ”.

    Ngày 30, Trung ương phúc đáp điện đồng ư Trần Canh về nước. V́ thế ngày 1/11 Trần Canh rời Nam Sơn, Việt Bắc trở về tổ quốc, Vi Quốc Thanh cử thư kư Nghiêm Dục Sinh đi tiễn.


    Tác chiến đồng bằng

    Sau chiến thắng lớn biên giới, phát triển thắng lợi như thế nào là vấn đề Vi Quốc Thanh suy nghĩ trước tiên. Ở Bắc Bộ Việt Nam, có hai chiến trường có thể lựa chọn. Một là vùng đồng bằng sông Hồng, ở đây dân cư đông đúc của cải dồi dào, giao thông thuận tiện, là khu vực pḥng thủ trọng điểm của quân Pháp. Một là vùng Tây Bắc, núi cao rừng rậm, dân cư thưa thớt, giao thông bất tiện quân Pháp pḥng ngự tương đối yếu. Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm đều cho rằng : mở chiến trường Tây Bắc, đánh mấy chiến dịch, giành lấy vùng Tây Bắc làm cho nó liền một dải với căn cứ địa Việt Bắc, tiến có thể công thoái có thể thủ, tương đối có lợi. Nhưng kiến nghị này không được phía Việt Nam chấp nhận.

    Lúc này, quân đội Việt Nam từ trên xuống dưới đều nhằm vào vùng đồng bằng sông Hồng. Kiên tŕ muốn tác chiến ở đồng bằng, trực tiếp uy hiếp Hà Nội, thực hiện tổng phản công. Vi Quốc Thanh qua phân tích cho rằng cứ điểm quân Pháp ở vùng đồng bằng dày đặc, địa h́nh thoáng rộng, giao thông thuận tiện có lợi cho quân địch nhanh chóng tăng viện, cũng tiện cho việc phát huy hoả lực của pháo và không quân, điều đó rất bất lợi cho quân đội nhân dân Việt Nam. Nhưng cũng có điều kiện có lợi, cư dân phần lớn là dân tộc Kinh, cơ sở quần chúng khá tốt, có sự phối hợp của đội du kích. Địch hậu lại là vùng lương thực có thể cung cấp tại chỗ. Vi Quốc Thanh cảm thấy phía Việt Nam kiên tŕ tác chiến vùng đồng bằng cũng có đạo lư nhất định. Nhất là đồng chí nhớ tới lời dặn của các đồng chí lănh đạo Trung ương luôn luôn nhấn mạnh đoàn kết tốt với đồng chí Việt Nam, nên đồng ư với ư kiến của Việt Nam. V́ thế trong thời gian nửa năm từ tháng 12/1950 đến tháng 6/1951, quân đội Việt Nam liên tiếp mở ba chiến dịch ở vùng ven đồng bằng sông Hồng.

    Sau khi Vi Quốc Thanh và Vơ Nguyên Giáp nghiên cứu, trước tiên chĩa mũi tấn công vào vùng trung du sông Hồng. Phương án tác chiến Vi Quốc Thanh đưa ra được phía Việt Nam tiếp nhận là : sử dụng sư 308 và hai trung đoàn của sư 312 vừa thành lập, áp dụng cách đánh bôn tập đường xa, bao vây cứ điểm, đánh chặn chi viện, lấy tiêu diệt 3-5 tiểu đoàn giành lấy một phần vùng sản xuất lương thực làm mục tiêu chiến dịch. Thời gian bắt đầu chiến dịch dự định vào hạ tuần tháng 12. Kế hoạch tác chiến này được Bộ chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phê chuẩn sau khi thảo luận. Đồng thời Vi Quốc Thanh báo cáo Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, được đồng ư.

    Chiến trường của chiến dịch trung du ở vùng Vĩnh Phú cách Hà Nội vài chục kilomét về phía tây bắc, là vùng ven tây bắc của đồng bằng sông Hồng. Trung tuần tháng 12, Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh dẫn nhân viên Ban chỉ huy Đoàn cố vấn theo Bộ chỉ huy tiền tuyến quân đội Việt Nam ra tiền tuyến. Bộ chỉ huy tiền tuyến quân đội Việt Nam đóng trên núi Tam Đảo, nơi nghỉ mát nổi tiếng ở miền bắc Việt Nam. Núi này cao 1590 mét, từ trên núi có thể nh́n xuống đồng bằng sông Hồng. Phía nam núi có đường ôtô chạy thẳng lên núi, nơi đó là vùng địch chiếm. Phía bắc núi sát vùng giải phóng Việt Bắc có đường ṃn dốc đứng lên thẳng đỉnh núi. Vi Quốc Thanh năm đó 37 tuổi bỏ ngựa đi bộ, bước chân chắc nịch, sau hai ba giờ leo núi là cùng nhân viên Ban chỉ huy lên tới đinh. Trên núi rải rác bảy tám ngôi nhà tây kiểu biệt thự, cửa hư hỏng, trong nhà trống trơn. Những nôi nhà này thành chỗ ở của Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam và Đoàn cố vấn.

    Chiến dịch trung du nổ súng vào ngày 25/12, đại đoàn 308 đầu tiên tấn công cụm pḥng tuyến lô cốt ngầm của địch ở giáp ranh hai tỉnh Vĩnh Phú và Bắc Ninh, cách Hà Nội hơn 30 km về phía bắc, đột kích bất ngờ, tốc chiến tốc thắng, một lúc công phá 5 cứ điểm địch, tiêu diệt khoảng 5 đại đội địch. Trung đoàn 209, sư 312 ngày 27 chạm trán với một tiểu đoàn nước ngoài của quân Pháp, qua hai giờ chiến đấu quyết liệt, cơ bản tiêu diệt tiểu đoàn này. Kết thúc thắng lợi tác chiến đợt 1.

    Trận đầu thắng lợi, sở chỉ huy tiền tuyến quân đội Việt Nam tràn ngập không khí vui mừng. Năm mới đến Vơ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thái (Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân) mang rượu sâm banh Pháp lấy được của địch đến chỗ ở của Đoàn cố vấn thăm hỏi và liên hoan. Vơ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thái dẫn đầu mời Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh và đồng chí Trung Quốc khác cùng nhảy điệu múa Sạp. Trong buổi liên hoan, khách chủ liên tục nâng cốc chúc mừng thắng lợi, chúc mừng xuân mới.

    Quân đội Việt Nam sau khi nghỉ ngơi, chỉnh đốn và chuẩn bị, ngày 13/1 bắt đầu tác chiến đợt 2 chiến dịch Trung Du. Một bộ phận sư 308 và sư 312 lần lượt tấn công hai cứ điểm Bảo Trác và Ba Huyên phía bắc Kim Anh. Chủ lực của hai sư mai phục ở hương bắc và đông bắc Kim Anh, chuẩn bị đánh chặn viện. Ngày 13 và ngày đêm 14, quân đội Việt Nam liên tiếp tấn công hai cứ điểm trên, diệt hàng trăm quân địch. Quân Pháp đóng giữ Kim Anh đưa quân chi viện bị quân đội nhân dân phục kích, tiêu diệt một tiểu đoàn địch gốc Phi. Số c̣n lại rút lui, Quân đội Nhân dân truy kích, triển khai cuộc chiến đấu giành giật điểm cao với quân Pháp tiếp tục tăng viện ở vùng Hữu Thủ. Quân đội Nhân dân có lúc ở vào t́nh thế có lợi, nhưng quân địch tiếp viện từ Hà Nội đến nhanh, tổng binh lực của địch tăng lên hơn 10.000 tên. Ngày 16 và 17, quân Pháp lợi dụng địa h́nh trống trải, cho máy bay và đại bác ném bom bắn phá điên cuồng, quân đội Việt Nam thương vong tương đối lớn. Do thiếu lực lượng hậu bị, quân đội Việt Nam rút lui chiến đấu, kết thúc chiến dịch. Chiến dịch này tiêu diệt tất cả hơn 2000 tên địch, quân đội Việt Nam cũng trả giá gần 1000 người thương vong.
    Last edited by alamit; 21-02-2013 at 10:22 PM.

  2. #32
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Hồi kí cố vấn Trung Quốc (3)
    ĐỒNG CHÍ VI QUỐC THANH
    TRONG VIỆN TRỢ VIỆT NAM
    ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP

    Vu Hoá Thầm
    bản dịch của DƯƠNG DANH DY
    P3




    Sau chiến dịch Trung Du, Vi Quốc Thanh đề xuất với Việt Nam, kết quả của chiến dịch Trung Du cho thấy, tác chiến với quân Pháp ở vùng đồng bằng có rất nhiều điều bất lợi, không dễ đánh tiêu diệt chiến, chi bằng chuyển sang vùng Tây Bắc, mở chiến trường Tây Bắc. Ư kiến của Vi Quốc Thanh vẫn không được phía Việt Nam chấp nhận. Sau hai tháng nghỉ ngơi chỉnh đốn, quân đội Việt Nam lại mở chiến dịch Đông Bắc vào hạ tuần tháng 3. Lựa chọn chiến trường chính của chiến dịch Đông Bắc là vùng phụ cận Uông Bí trên quốc lộ 18 cách Hải Pḥng hơn 30 km về phía bắc. Sau khi nghiên cứu hệ thống pḥng ngự trên tuyến quốc lộ 18 của quân Pháp, Vi Quốc Thanh cảm thấy binh lực của địch ở vùng gần Uông Bí quả là tương đối mỏng yếu, cùng phía Việt Nam nghiên cứu và xác định bố trí tác chiến : sử dụng mỗi sư 2 trung đoàn của ba sư 308, 312, 316, tất cả binh lực là 7 trung đoàn, vẫn áp dụng cách đánh tấn công các cứ điểm, đánh chặn viện, lấy tiêu tiêu diệt một số tiểu đoàn địch và giải phóng một số vùng làm mục tiêu tác chiến.

    Trung tuần tháng 3, Vi Quốc Thanh cùng Mai Gia Sinh và Đặng Dật Phàm dẫn nhân viên Ban chỉ huy Đoàn cố vấn theo Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam ra tiền tuyến. Bắt đầu từ ngày 23/3 quân đội Việt Nam tấn công kiên tiếp vào bốn cứ điểm lan tháp v.v.. dụ quân Pháp tăng viện. Nhưng quân Pháp sau khi bị động trong chiến dịch Trung Du, trở nên thận trọng, không đưa quân chi viện. Sau ba ngày quân đội Việt Nam lại đánh lấy hai cứ điểm là Bí Tắc, Trường Bạch, quân Pháp vẫn không chi viện. Quân Pháp tăng cường binh lực ở vùng chúng bị đe doạ, dựa vào công sự cố thủ, đồng thời dùng đại bác ở căn cứ lân cận sát thương quân đội Việt Nam. Đêm 29 đến ngày 30, quân đội Việt Nam tấn công hai cứ điểm ở thị trấn Mạo Khê và và mỏ than Mạo Khê đều không thuận lợi, bộ đội thương vong tương đối lớn. Đêm mồng 4 và ngày 5/4, quân đội Việt Nam liên tục tấn công các cứ điểm Tân Đáp. Băi, Thảo Hoàng chiếm vu lại không thành công. Do thời gian kéo dài đă lâu, quân đội Việt Nam không c̣n lương thực không thể chiến đấu nữa nữa nên lui quân. Chiến dịch này tiêu diệt hơn 1100 tên đich, c̣n quân đội Việt Nam thương vong hơn 1700 người, không đạt mục đích chiến dịch.

    Trên đường trở về đại đoàn Vương Thạc Tuyên cố vấn đại đoàn 308 khi gặp Vi Quốc Thanh nói : “ Chúng tôi đă đánh hai trận ở đồng bằng đều không lư tưởng, sau này không nên đánh như thế nữa ”. Vi Quốc Thanh giải thích : “ Trung ương cử chúng ta đến đây là để hết sức giúp đỡ quân đội Việt Nam. Hai bên có ư kiến khác nhau đối với kế hoạch chiến dịch sẽ thường xuyên xảy ra. Chúng ta nên nhẫn nại, không nên sốt ruột đối với vấn đề này. Chúng ta sẽ rút kinh nghiệm, tin rằng Việt Nam cũng sẽ rút kinh nghiệm trong thực tiễn chiến đấu ”.

    Trước khi mùa mưa đến, quân đội Việt Nam lại mở chiến dịch Ninh B́nh. Vùng Ninh B́nh ở góc tây nam của châu thổ sông Hồng. Ở hướng chủ công, quân đội Việt Nam sử dụng đại đoàn 308 và 304 đóng ở tỉnh Thanh Hoá, tất cả binh lực có 6 trung đoàn. Ư đồ tác chiến là trước tiên tấn công một số cứ điểm của quân Pháp, phục kích bộ đội tăng viện của quân Pháp, nếu địch không xuất quân chi viện th́ mở rộng chiếm đóng một số vùng dân cư đông đúc, thu thập nhanh lương thực. Vi Quốc Thanh lại dẫn Ban chỉ huy theo Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam ra tiền tuyến giúp chỉ huy chiến dịch.

    Ngày 28-5, chiến dịch Ninh B́nh mở màn, tác chiến đợt 1, quân đội Việt Nam luồn sâu tập kích Ninh B́nh và cứ điểm địch dọc tuyến quốc lộ 1. Qua hai đêm chiến đấu, quân đội Việt Nam tấn công tỉnh lỵ Ninh B́nh và hơn 10 cứ điểm ở nam, đông nam Ninh B́nh, tiêu diệt hơn 600 tên đich. Trung úy Bernard de Lattre de Tassigny, con trai Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, chỉ huy ở cứ điểm Âu Ni cũng bị quân đội Việt Nam bắn chết. Chiến dịch mở đầu tương đối thuận lợi.

    Tác chiến đợt 2 do địch tăng cường lực lượng pḥng thủ, Quân đội Nhân dân tuy hạ được một số cứ điểm tiêu diệt một số địch nhưng có những cứ điểm không công phá nổi, đánh chặn viện cũng không được thuận lợi, bộ đội thương vong tương đối lớn, phải rút khỏi chiến đấu. Ngày 20/6 kết thúc chiến dịch. Chiến dịch này công phá được 22 cứ điểm, tiêu diệt hơn 3.100 địch.

    Ba lần tác chiến ở vùng Trung Du, Đông Bắc, Ninh B́nh là ba chiến dịch quân đội Việt Nam tấn công pḥng tuyến kiên cố của địch trong đó quy mô vùng ven đồng bằng Bắc Bộ. Đều là mở đầu tương đối tốt, đột kích bất ngờ, công phá một số cứ điểm, tiêu diệt một số địch. Sau đó, địch hoặc lợi dụng hoả lực của các cứ điểm chi viện cho nhau để cố thủ, hoặc lợi dụng điều kiện giao thông thuận tiện v.v. nhanh chóng điều động binh lực, phát huy ưu thế không quân đại bác, sát thương nặng Quân đội Nhân dân, làm cho Quân đội Nhân dân rơi vào bị động, đành phải kết thúc chiến dịch. Điều đó làm cho Vi Quốc Thanh tỉnh táo nhận thức rằng, quân đội Việt Nam tiến hành tác chiến quy mô tương đối lớn ở vùng đồng bằng và kẻ địch có quân mạnh pḥng thủ, th́ thời cơ chưa chín muồi. Xem xét từ t́nh thế địch ta trên toàn Bắc Bộ, cần phải giúp phía Việt Nam có sự chỉ đạo chiến lược sát thực tế hơn để giành thắng lợi lớn hơn. V́ vậy, cần phải tŕnh bày trực tiếp t́nh h́nh với Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, xin Trung ương đưa ra quyết đoán.

    Lúc này, Vi Quốc Thanh sang Việt Nam đă gần một năm. T́nh h́nh sức khoẻ của đồng chí rất xấu, ngoài bệnh dạ dày đường ruột thỉnh thoảng lên cơn đau, lại mắc bệnh chóng mặt, đau đầu. Đó là trước lúc chiến dịch Đông Bắc, đồng chí ngày đêm suy nghĩ để đánh tốt trận này. Bỗng một hôm, tự nhiên cảm thấy trời đất quay cuồng, đầu đau như búa bổ, toàn thân chao đảo, cảm thấy c̣n khó chịu hơn bị thương nặng trước đấy nhiều năm, nằm trên giường tre chốc chốc lại rên. Bác sĩ quân y theo đoàn không thể chẩn đoán chính xác, không dám cho thuốc. Vơ Nguyên Giáp biết tin, cử tiến sĩ y học ở Pháp, bác sĩ riêng của đồng chí đến khám, xem xong nói là bị sốt rét. Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm chưa cho đồng chí uống thuốc, điện khẩn cho Lâm Quân Tài cố vấn quân y ở rất xa đến gấp để chẩn đoán bệnh. Sau khi Lâm hỏi rơ bệnh t́nh, chẩn đoán chính xác là lớp vỏ đại năo mất cân đối v́ động năo quá mức gây ra. Sau khi cho thuốc an thần ngủ một đêm, bệnh t́nh mới khỏi. Nhưng sau đó, thỉnh thoảng nổi cơn chóng mặt, đau đầu.

    Chiến dịch Ninh B́nh kết thúc, mùa mưa đă đến, hai bên Việt – Pháp đều không có chiến sự lớn. Vi Quốc Thanh lại điện báo cáo cho Quân uỷ Trung ương, xin về nước để báo cáo t́nh h́nh và chữa bệnh. Trung ương trả lời đồng ư, thượng tuần tháng 7/1951, đồng chí rời nơi ở Việt Bắc trở về Bắc Kinh. Sau khi Vi Quốc Thanh về nước, quân đội Việt Nam lại mở chiến dịch Hoà B́nh đập tan phản công của quân Pháp ở vùng đồng bằng. Sau khi quân Pháp bị thất bại thảm hại ở chiến dịch biên giới, Chính phủ Pháp bổ nhiệm Jean de Lattre de Tassigny, nguyên tư lệnh lục quân liên minh Tây Âu, làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh ở Đông Dương. De Lattre sau khi đón nhận nhiệm vụ, một mặt tích cực xây đắp công sự pḥng ngự bằng bê tông cốt sắt xung quanh châu thổ sông Hồng, ra sức tạo ra vùng trống không có người để cắt đứt liên hệ với vùng giải phóng ; mặt khác ra sức phát triển nguỵ quân, tập trung bộ đội tinh nhuệ xây dựng binh đoàn cơ động, để đối phó tấn công của Quân đội Nhân dân và tăng cường “càn quét” vùng du kích. Trong thời gian một năm, quân Pháp đă phá huỷ 90% căn cứ địa du kích sau lưng địch của quân đội Việt Nam, từ đó đứng chắc chân. De Lattre cho rằng, thời cơ lấy lại quyền chủ động chiến trường Bắc Bộ đă đến. Thượng trung tuần tháng 11/1951, quân Pháp huy động 6 binh đoàn cơ động, có không quân, lính thiết giáp và hạm đội trên sông phối hợp dọc sông Đà và quốc lộ số 6, chia làm hai ngả tiến vào vùng giải phóng tây nam Hà Nội, chiếm đóng vùng Hoà B́nh.

    Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Tổng Quân uỷ QĐNDVN quyết định mở chiến dịch Hoà B́nh. Phía Việt Nam tiếp nhận kiến nghị của La Quư Ba, Đoàn trưởng Đoàn cố vấn chính trị ; đưa bộ phận chủ lực ṿng sau lưng địch, tấn công quân địch, phát triển chiến tranh du kích sau lưng địch. Bố trí cụ thể là, dùng hai đại đoàn chủ lực tấn công quân địch ở Hoà B́nh, đem ba đại đoàn chủ lực lần lượt đi sâu vào sau lưng địch. Ở mặt trận Hoà B́nh, quân đội Việt Nam công phá mấy cứ điểm, tiêu diệt 2 tiểu đoàn và một đội thuyền trên sông. Nhưng khi tấn công cứ điểm Phiêu không được, bộ đội thương vong tương đối lớn đă chuyển sang bao vây lâu dài quân địch ở Hoà B́nh. Bộ đội chủ lực vào sau lưng địch phân tán xuất kích, đạp tan nguỵ quyền, phát triển chiến tranh du kích, không những khôi phục toàn bộ căn cứ địa du kích trước đây mà c̣n mở ra một vùng rộng lớn mới, trực tiếp đe doạ Hà Nội, làm cho quân Pháp bị bao vây bốn phía, khó bề xoay xở, đành phải rút khỏi vùng Hoà B́nh vào hạ tuần tháng 2/1952, chiến dịch Hoà B́nh kết thúc thắng lợi.


    Xây dựng bộ đội

    Chiến dịch Biên Giới tuy giành được thắng lợi quan trọng, nhưng cũng bộc lộ Quân đội Nhân dân Việt Nam c̣n có không ít nhược điểm là về số lượng hay chất lượng, đều không thích ứng với yêu cầu tác chiến vận động quy mô lớn. Vi Quốc Thanh cảm thấy sâu sắc rằng, đồng thời với việc giúp quân đội Việt Nam tổ chức chỉ huy tác chiến, cần phải giúp họ tăng cường xây dựng bộ đội. Đó cũng là một trong hai nhiệm vụ quan trọng mà các đồng chí lănh đạo Trung ương giao cho Đoàn cố vấn. V́ vậy, trong thời gian sang Việt Nam gần một năm, Vi Quốc Thanh chú trọng giúp Việt Nam nắm mấy việc sau đây :

    1. Mở rộng bộ đội chủ lực, thống nhất biên chế trong trang bị. Chiến dịch Biên Giới vừa kết thúc, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lập tức đưa ra chỉ tiêu cho đoàn cố vấn giúp quân đội Việt Nam xây dựng quân chính quy khoảng 50.000 người. Theo đó, Vi Quốc Thanh nêu ra kiến nghị tương ứng với Vơ Nguyên Giáp. Tất nhiên Vơ Nguyên Giáp rất phấn khởi

    Thế là Đoàn cố vấn giúp Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam vạch ra “phương án xây dựng bộ đội chủ lực” và kế hoạch biên chế trang bị, sau khi được Trung ương đảng Lao động Việt Nam phê chuẩn trên cơ sở các đạị đoàn 304, 308, 312 đă xây dựng, lại được Trung Quốc viện trợ trang bị, thành lập thêm đại đoàn bộ binh 316, 320, và đại đoàn công pháo 351 do 3 trung đoàn pháo binh và một trung đoàn công binh tổ thành. Sau đó thành lập đại đoàn bộ binh 325. Đến cuối năm 1951, Quân đội Nhân dân Việt Nam đă có một lực lượng vũ trang chính quy gồm 6 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công pháo được thay đổi trang bị, biên chế thống nhất.

    2. Tăng cường huấn luyện quân sự, nâng cao tố chất quân sự. Vi Quốc Thanh cho rằng, nâng cao tố chất quân sự của quân đội Việt Nam, một là phải dựa vào rèn luyện trong chiến đấu thực tế, hai là phải dựa vào huấn luyện quân sự. V́ thế, đồng chí triệu tập các cố vấn quân sự họp hội nghị bàn về công tác huấn luyện bộ đội. Đồng chí nói với các cố vấn đến dự hội nghị : “ Quân đội Nhân dân Việt Nam trước đây không đánh tiêu diệt chiến, khi đánh trận dàn hàng ngang mà tiến, pháo bắn th́ phân tán tránh, như thế không được. Ở trong nước (tức ở Trung Quốc) chúng ta đánh thắng trận, dựa vào cái ǵ ? Dựa vào 10 nguyên tắc quân sự lớn của Mao Chủ tịch. Hạt nhân của 10 nguyên tắc quân sự lớn là cái ǵ ? Là đánh tiêu diệt chiến. Không đánh tiêu diệt chiến 9 nguyên tắc khác đều rỗng không. Chỉ cần đánh tốt tiêu diệt chiến th́ đạt được mục đích tác chiến.

    “ Các đồng chí trở về, phải lợi dụng thời gian nghỉ giữa hai chiến dịch, áp dụng biện pháp mở lớp huấn luyện luân phiên để chấn chỉnh rèn luyện bộ đội, tiến hành giáo dục quân sự cho bộ đội, làm cho mọi người đều nắm chắc tư tưởng đánh tiêu diệt chiến. Và phải dạy họ biết được các chiến thuật và động tác kỹ thuật cần thiết khi đánh tiêu diệt chiến. Làm không tốt việc này, th́ chúng ta không thể nào đánh thắng trận được, cũng không thể nào ăn nói với Trung ương được ”.

    Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Vi Quốc Thanh, tổ cố vấn quân sự Bộ Tổng Tham mưu và tổ cố vấn của mấy đại đoàn chủ lực giúp phía Việt Nam tổ chức nhiều lớp tập trung huấn luyện cho cán bộ, giúp bộ đội tiến hành nhiều đợt chỉnh huấn quân sự. Quân đội nhân dân lần lượt triển khai huấn luyện quân sự cho 11 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn công binh, 1 trung đoàn pháo binh và 1 tiểu đoàn trinh sát. Thời gian mỗi lần chỉnh huấn khoảng một tháng. Đề cương và giáo tài huấn luyện đều do tổ cố vấn giúp biên soạn. Tổ cố vấn ở các đại đoàn giúp đào tạo cán bộ và tổ chức thực thi huấn luyện.

    Trong huấn luyện quân sự, cố vấn cấp tiểu đoàn của các đơn vị đă phát huy tác dụng rất lớn. Các đồng chí ấy suốt ngày lăn lê ḅ toài với cán bộ chiến sĩ cơ sở, dạy họ động tác chiến thuật lợi dụng địa h́nh, ẩn nấp tiếp cận địch v.v... dạy họ năm kỹ thuật lớn là ném lựu đạn, nhất là tổ chức thực thi đánh bộc phá liên tục. Họ giảng đi giảng lại, làm mẫu nhiều lần, không sợ khổ, không sợ mệt, hết ḷng hết sức làm tốt việc huấn luyện, đă thu được hiệu quả tương đối tốt.

    3. Tăng cường xây dựng chính quy hoá, khắc phục thói quen du kích. Quân đội nhân dân ở trong môi trường chiến tranh du kích lâu dài, có thói quen du kích khá nặng. Đồng thời bộ máy của các Tổng cục quá cồng kềnh, nặng nề, chức trách của các ban ngành không rơ, tồn tại chủ nghĩa giấy tờ phiền phức. Từ cơ quan đến đơn vị chưa có điều lệ, điều lệnh chính quy và chế độ nội quy thống nhất. Nếu t́nh h́nh đó không thay đổi th́ không thể thích ứng với yêu cầu của vận động chiến, công kiên chiến. V́ vậy, Vi Quốc Thanh kiến nghị với Vơ Nguyên Giáp tiến hành giáo dục chính quy hoá xây dựng các chế độ nội quy đối với cơ quan, bộ đội. Phía Việt Nam tiếp nhận kiến nghị này. V́ thế, dưới sự chủ tŕ của Mai Gia Sinh, tổ cố vấn quân sự giúp phía Việt Nam khởi thảo “ Điều lệnh chiến đấu ”, “ Điều lệnh kỷ luật ” và “ Điều lệnh nội vụ ”. Những điều lệnh này sau khi được Tổng Quân uỷ Quân độI nhân dân Việt Nam thảo luận sửa đổi, thông qua, ban bố trong toàn quân chấp hành, làm cho việc xây dựng chính quy hoá của Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến một bước dài. Các cố vấn c̣n giúp quân đội Việt Nam tổ chức lớp huấn luyện cán bộ tham mưu, bồi dưỡng cán bộ tham mưu của Bộ Tổng Tham mưu và của các đại đoàn chủ lực tăng cường xây dựng Bộ tư lệnh của Quân đội Nhân dân.

    4. Bồi dưỡng cán bộ huấn luyện, đề bạt cán bộ từ cơ sở. Trong chiến dịch Biên Giới, Vi Quốc Thanh t́m hiểu thấy đông đảo chiến sĩ và một số cán bộ cơ sở bộ đội quân đội Việt Nam trong chiến đấu thể hiện rất tốt, dũng cảm mưu trí, chịu thương chịu khó, tuân thủ kỷ luật, trong đó không thiếu nhân tài ưu tú, nhưng đă lâu không được đề bạt trọng dụng. Bởi v́ Quân đội Nhân dân nói chung không đề bạt cán bộ trong chiến sĩ, mà là tuyển dụng học sinh thanh niên, được trường quân sự hoặc đợi huấn luyện tập huấn ngắn ngày, rồi phân phối về bộ đội làm cán bộ trung đội, đại đội. Một số cán bộ học sinh này biểu hiện rất tốt, nhưng cũng có không ít người không biết đánh giặc, không biết chỉ huy, ra trận nhút nhát, tham sống sợ chết. Đó là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sức chiến đấu của bộ đội. Trong cán bộ các cấp hiện có thành phần cũng khá phức tạp 4. Vi Quốc Thanh cho rằng, muốn giải quyết vấn đề nhức nhối này, cần phải bắt tay từ hai mặt :

    – Một là luân phiên huấn luyện cán bộ hiện có, nâng cao tố chất quân sự và tŕnh độ chính trị của họ. V́ vậy, tổ cố vấn chính trị do Đặng Dật Phàm chủ tŕ đă giúp phía Việt Nam mở lớp bồi dưỡng cán bộ phân kỳ chia đợt, luân lưu huấn luyện cán bộ đại đội trở lên. Trong lớp bồi dưỡng cán bộ, vừa học chính trị vừa học quân sự. Cố vấn đích thân giảng bài, hướng dẫn học viên độc lập suy nghĩ, dạy lẫn nhau học lẫn nhau; tự giác giải quyết tư tưởng. Lớp bồi dưỡng đợt đầu đă thu được kết quả rơ rệt, Hồ Chí Minh khen ngợi. Từ đợt thứ hai trở đi lănh đạo đảng và quân đội Việt Nam Trường Chinh, Vơ Nguyên Giáp và lănh đạo các Tổng cục cũng lần lượt đến lớp huấn luyện giảng bài, thu được hiệu quả tốt hơn. Trong mấy năm về sau liên tục tổ chức được 8 đợt bồi dưỡng cán bộ, cán bộ đại đội trở lên của bộ đội Việt Bắc về cơ bản luôn lưu huấn luyện được một lần, có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao tố chất cán bộ, tăng cường sức chiến đấu của quân đội.

    – Hai là coi trọng đề bạt cán bộ từ trong chiến sĩ, từng bước thay đổi thành phần của đội ngũ cán bộ. Công việc này được từng bước hướng dẫn và giúp đỡ phía Việt Nam tiến hành. Tổ cố vấn từ các Tổng cục đến các đại đoàn đều lợi dụng dịp tổng kết chiến dịch, hướng dẫn các chỉ huy cao cấp xuống cơ sở mở cuộc toạ đàm, nghe các chiến sĩ kể chuyện chiến đấu. Rất nhiều chiến sĩ kể chuyện rất sinh động hoạt bát, sự thật cụ thể, kinh nghiệm thiết thực. Các chỉ huy cao cấp dự toạ đàm cuối cùng nhận thức được trong chiến sĩ thực sự có nhân tài, nên đề bạt cán bộ từ trong chiến sĩ. Sau chiến dịch Biên Giới, Vơ Nguyên Giáp đi cùng cố vấn pháo binh Đậu Kim Ba, xuống bộ đội mở ba cuộc chiến sĩ toạ đàm làm cho đồng chí cảm thấy rất nhiều bổ ích. Sau đó đồng chí nói với cố vấn : “ Bộ đội cấp dưới có những nhân tài cầm quân đánh giặc. Ư kiến của các đồng chí đúng, phải t́m nhân tài có kinh nghiệm tác chiến từ cấp dưới, đưa lên vị trí lănh đạo, mới có thể nâng cao sức chiến đấu ”. Từ đó quân đội Việt Nam bắt đầu chú ư tuyển chọn đề bạt cán bộ từ trong chiến sĩ. Nhưng vấn đề, thuộc về đường lối cán bộ này măi đến sau 1953, Đoàn cố vấn giúp quân đội Việt Nam chỉnh quân chính trị, mới được giải quyết tương đối tốt. Trong thời gian này, Đặng Dật Phàm dẫn đầu tổ cố vấn chính trị bắt tay giúp Việt Nam tăng cường chỉ đạo công tác chính trị thời chiến, tăng cường xây dựng toàn diện công tác chính trị. Mă Tây Phu dẫn đầu tổ cố vấn hậu cần lấy việc làm tốt bảo đảm hậu cần cho các chiến sĩ làm trọng tâm, dẫn dắt xây dựng toàn diện công tác hậu cần, làm cho nó từng bước thích ứng với nhu cầu của đánh vận động quy mô lớn.

    Thế là, trải qua một năm công tác Quân đội nhân dân Việt Nam đều đạt được thành tích rơ rệt trên các mặt xây dựng quân sự, chính trị, hậu cần, thực hiện bước chuyển biến từ giai đoạn đánh du kích sang giai đoạn đánh vận động.

    Tiến quân lên Tây Bắc

    Sau khi về Bắc Kinh, đồng chí Vi Quốc Thanh báo cáo t́nh h́nh công tác của đoàn cố vấn quân sự với Lưu Thiếu Kỳ, Nhiếp Vinh Trăn, tŕnh bày ư kiến của ḿnh đối với chiến trường Việt Nam và phương hướng công tác chiến từ nay về sau, được Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quân uỷ Trung ương coi trọng.

    Do t́nh h́nh sức khoẻ của Vi Quốc Thanh không được tốt, trong thời gian ngắn không thể trở lại Việt Nam công tác, Trung ương bèn bổ nhiệm đồng chí làm Phó tư lệnh lực lượng công an. Từ đó, Vi Quốc Thanh dời vào ngôi nhà chữ Khẩu ở Đông Bản Kiều, chấm dứt lịch sử đồng chí ở chiêu đăi sở sau khi về nước và ở nhà tập thể thời gian dài với phu nhân, Hứa Kỳ Thanh, công tác ở Ban Tổ chức Trung ương. Vi Quốc Thanh tuy làm việc ở Bộ Tư lệnh lực lượng công an, nhưng vẫn quan tâm theo dơi sự phát triển của t́nh h́nh chiến sự Việt Nam. Các bức điện quan trọng qua lại giữa Quân uỷ Trung ương và Đoàn cố vấn, Cục Cơ yêu Bộ Tổng tham mưu theo chỉ thị của Quân uỷ Trung ương đều sao chuyển cho đồng chí xem.

    Thu đông năm 1951, t́nh h́nh chiến tranh Triều Tiên tương đối ổn định. Mao Trạch Đông càng quan tâm theo dơi với t́nh h́nh chiến sự Đông Dương hơn. Tầm mắt của Mao Chủ tịch không chỉ chú ư theo dơi chiến trường Bắc Bộ Việt Nam, mà c̣n chú ư theo dơi chiến trường Trung Bộ, Nam Bộ, chú ư theo dơi Lào và Campuchia. Không chỉ chú ư theo dơi chiều hướng của quân Pháp, mà c̣n quan tâm đến hoạt động của Mỹ đặt chân vào Đông Dương. Trong đầu Mao Chủ tịch dần dần hiện lên rơ nét một ư tưởng chiến lược : trước hết mở chiến trường Tây Bắc, giành lấy vùng Tây Bắc và Thượng Lào. Sau đó phát triển xuống Trung Nam Bộ, phát triển sang Trung Hạ Lào và Campuchia. Tấn công trước vào vùng binh lực địch mỏng yếu, để từng bước làm cho ḿnh lớn mạnh lên, làm cho địch suy yếu, tạo điều kiện, cuối cùng đánh lấy đồng bằng sông Hồng, giành thắng lợi trong chiến tranh chống Pháp. Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là đánh lấy vùng Tây Bắc và Thượng Lào. Phải đề xuất kiến nghị này với Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Cử ai đi bây giờ ? Sau khi Mao Trạch Đông bàn với Lưu Thiếu Kỳ, quyết định giao nhiệm vụ này cho La Quư Ba hoàn thành, và giao La Quư Ba kiêm luôn quản lư công tác của Đoàn cố vấn.

    Đồng chí La Quư Ba tham gia cách mạng năm 1925, trải qua cuộc đấu tranh ở Tỉnh Cương Sơn và cuộc Trường chinh hai vạn năm ngh́n dặm, từng giữ chức Tư lệnh kiêm Chính uỷ quân khu Tấn Trung (miền Trung Sơn Đông), Chính uỷ Quân đoàn 7 v.v... Tháng 3/1950 sang Việt Nam làm đại diện liên lạc của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ít lâu sau sang làm Trưởng đoàn cố vấn chính trị của Trung Quốc tại Việt Nam, phụ trách giúp công tác đảng của Việt Nam. Sau khi về nước nghỉ ngơi không lâu, đầu năm 1952 La Quư Ba lại nhận mệnh lệnh của Trung ương, sang Việt Nam. Vùng Tây Bắc Việt Nam giáp tỉnh Vân Nam – Trung Quốc có giá trị chiến lược rất quan trọng, nó là vùng xung yếu chiến lược của quân Pháp án ngữ Thượng Lào kiềm chế vùng giải phóng Việt Bắc, yểm hộ đồng bằng sông Hồng. Đánh lấy vùng Tây Bắc có thể nối liền thành một dải với vùng giải phóng Việt Bắc, h́nh thành hậu phương vững chắc, bắc dựa Trung Quốc, nam tiếp giáp Thượng Lào, một vùng rộng lớn, có ư nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc tạo điều kiện giành lấy đồng bằng sông Hồng và thúc đẩy toàn quốc kháng chiến thắng lợi. C̣n quân Pháp ở vùng Tây Bắc chỉ có binh lực của 8 tiểu đoàn và 41 đại đội, phân tán chốt giữ 144 cứ điểm, dù là phân bố binh lực hay cấu trúc công sự đều mỏng yếu hơn nhiều so với vùng đồng bằng sông Hồng. Đó là điều kiện có lợi cho Quân đội Nhân dân tiến quân lên đánh Tây Bắc. Tuy nhiên, vùng Tây Bắc sông sâu núi cao, dân cư thưa thớt, là vùng tập trung dân tộc thiểu số, cơ sở quần chúng yếu, kinh tế nghèo nàn, giao thông bất tiện. Đó là điều kiện bất lợi. Lúc đó rất nhiều cán bộ cao cấp trong quân đội nhân dân Việt Nam chỉ nh́n thấy mặt bất lợi, mà không nh́n thấy giá trị chiến lược quan trọng của vùng này, nên không muốn lên Tây Bắc tác chiến.

    Sau khi La Quư Ba đến Việt Nam, chuyển tới chủ tịch Hồ Chí Minh sự phân tích và kiến nghị của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với phương hướng tác chiến từ nay về sau, Hồ Chí Minh tiếp nhận kiến nghị đó. Hội nghị toàn thể lần thứ 3 Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp trong tháng 4, ra quyết định chuyển hướng chủ công của bộ đội chủ lực lên vùng núi Tây Bắc.

    Sau đó, Đoàn cố vấn quân sự và phía Việt Nam nghiên cứu nhiều lần phương án tác chiến của chiến dịch Tây Bắc và từ tháng 4 đến tháng 7, ba lần điện thỉnh thị Quân uỷ Trung ương Trung Quốc ; Quân uỷ Trung ương đă chỉ thị tỉ mỉ vấn đề mục tiêu, chiến thuật và thời gian tác chiến tại Tây Bắc. Cuối cùng phương án tác chiến của phía Việt Nam xác định là sử dụng hai đại đoàn 308,312 và hai trung đoàn của đại đoàn 316 tất cả binh lực 8 trung đoàn, mở tấn công địch vào trung tuần tháng 10. Tác chiến đợt 1 giải phóng vùng Nghĩa Lộ và Quang Huy, tác chiến đợt 2 giải phóng vùng Sơn La và Mộc Châu.

  3. #33
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Hồi kí cố vấn Trung Quốc (3)
    ĐỒNG CHÍ VI QUỐC THANH
    TRONG VIỆN TRỢ VIỆT NAM
    ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP

    Vu Hoá Thầm
    bản dịch của DƯƠNG DANH DY
    P4



    Hạ tuần tháng 9, Hồ Chí Minh bí mật thăm Trung Quốc, sau đó nhận lời mời sang Liên Xô dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 19 Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong thời gian ở Bắc Kinh, Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Bành Đức Hoài trực tiếp đưa ra với Hồ Chí Minh kiến nghị về chiến lược chung của chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, tức trước tiên đánh lấy vùng Tây Bắc, tiến tới tiến sang Thượng Lào, để xây dựng hậu phương chiến lược rộng lớn. Có hậu phương chiến lược này th́ có thể ở vị thế chủ động. Sau đó sẽ phát triển sang những vùng binh lực địch mỏng yếu Trung Hạ Lào, Campuchia và Trung Nam Bộ Việt Nam, cuối cùng đánh lấy đồng bằng sông Hồng, giành toàn thắng chiến tranh chống Pháp. Hồ Chí Minh bày tỏ hoàn toàn tán thành kiến nghị này. Các vị lănh đạo lại thảo luận thêm vấn đề tác chiến vùng Tây Bắc và đi đến ư kiến nhất trí.

    Hồ Chí Minh nêu ra với Mao Trạch Đông, chiến dịch Tây Bắc sắp bắt đầu vô cùng quan trọng, tốt nhất mời Vi Quốc Thanh sang lại Việt Nam giúp đánh tốt trận này. Mao Trạch Đông đồng ư ngay yêu cầu của Hồ Chí Minh. Ngày 30/9, Hồ Chí Minh gửi điện cho La Quư Ba nói, đồng chí đă bàn với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, trọng điểm của chiến dịch Tây Bắc là tấn công Nghĩa Lộ. Sau khi đánh lấy Nghĩa Lộ, lập tức phát triển ra vùng xung quanh, thành lập căn cứ địa cách mạng, xây dựng đường ôtô Yên Bái đi Nghĩa Lộ. Tác chiến đợt hai không tấn công Sơn La nữa. Hồ Chí Minh c̣n báo cho La Quư Ba biết, Vi Quốc Thanh sẽ nhanh chóng từ Bắc Kinh đi Việt Nam.

    Ngày 1/10 năm ấy là ngày quốc khánh thứ 3 của nước Cộng ḥa nhân dân Trung Hoa. Trên quảng trưởng Thiên An môn đêm hôm đó, hàng vạn quần chúng hân hoan vui mừng, ca hát nhảy múa. Vào lúc màn đêm buông xuống, mtc đến thành lầu Thiên An Môn nghồi chính giữa, cùng các trợ thủ chủ yếu của người xem pháo hoa. Lúc đó Vi Quốc Thanh đă được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh lực lượng công an, cũng bước lên Thiên An Môn. Đồng chí nh́n thấy Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh đang mỉm cười ngồi bên cạnh. Từ trên thành lầu, Vi Quốc Thanh một lần nữa nhận mệnh lệnh sang Việt Nam chấp hành sứ mệnh quân sư.

    Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, sau khi nhận điện của Hồ Chí Minh họp lại một lần nữa thảo luận kế hoạch chiến địa Tây Bắc. Hội nghị quyết định huỷ bỏ kế hoạch tác chiến đợt hai đă bàn định trước đấy, theo điện chỉ thị của Hồ Chí Minh tập trung tấn công Nghĩa Lộ. Vơ Nguyên Giáp không dự hội nghị này đang dẫn Bộ chỉ huy tiền tuyến chiến dịch tiến lên Nghĩa Lộ. Sau khi nhận được điện báo của Trường Chinh thông báo t́nh h́nh cho đồng chí sau hội nghị, Vơ Nguyên Giáp tỏ ra không đồng ư thay đổi kế hoạch tác chiến đợt 2. Trường Chinh quyết định chờ Vi Quốc Thanh sau khi đến sẽ định đoạt lại.

    Vi Quốc Thanh ở Bắc Kinh được nghe chỉ thị trực tiếp của Mao Trạch Đông, Bành Đức Hoài và sau khi trao đổi với Hồ Chí Minh, ngày 16/10 đến căn cứ địa Việt Bắc. Ngay hôm đến Việt Bắc, lập tức chuyển đến lănh đạo Việt Nam ư kiến của Hồ Chí Minh đă trao đổi với Mao Trạch Đông, Bành Đức Hoài về chiến dịch Tây Bắc Việt Nam. Ngày 18/10, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp thảo luận lại La Quư Ba và Vi Quốc Thanh cũng tham gia hội nghị này. Hội nghị quyết định sau đợt một chiến dịch Tây Bắc, xem t́nh h́nh lúc bấy giờ hăy quyết định có tiến hành đánh đợt 2 hay không.

    Sau hội nghị, ngày 24/10, Vi Quốc Thanh ra tiền tuyến Nghĩa Lộ. Lúc này Mai Gia Sinh đă dẫn nhân viên Ban chỉ huy Đoàn cố vấn ở tiền tuyến Tây Bắc giúp phía Việt Nam tổ chức chỉ huy tác chiến đợt 1 chiến dich.

    Chiến dịch Tây Bắc đă được sắp đặt và chuẩn bị thời gian dài bắt đầu nổ súng ngày 14/10/1952. Đêm hôm đó, trung đoàn 174 đại đoàn 316 tiêu diệt luôn quân địch ở cứ điểm Ca Vịnh, trung đoàn 141 đại đoàn 312 tấn công cứ điểm Sài Lương. Đại đoàn 308 sau khi bao vây sở chỉ huy phân khu của địch ở Nghĩa Lộ đêm 17 trước tiên tiêu diệt địch ở cứ điểm ngoại vi Bố Trương, tiếp đó sau khi chuẩn bị hỏa pháo, đă tấn công Nghĩa Lộ, cuộc chiến đấu quyết liệt đến hửng sáng hôm sau, tiêu diệt toàn bộ hơn 700 tên địch đóng ở Nghĩa Lộ.

    Khói đạn chiến đấu ở Nghĩa Lội chưa tan, Vu Bộ Huyết, cố vấn quân sự của đại đoàn 308 lập tức dẫn cảnh vệ Lỗ Hiển Dư đi xem trận địa. Khi họ đến bên cạnh trận địa quân Pháp bên g̣ núi, chú Lỗ liếc mắt nh́n thấy lá cờ của quân Pháp trên trận địa vẫn bay ở đây bèn hô lên một tiếng : “ Tôi đi nhổ lá cờ đó ”, một ḿnh chạy tới lá cờ của quân Pháp. Vu Bộ Huyết vội hét lên : “ Chú Lỗ quay về ”, nói chưa dứt lời, một tiếng nổ vang lên, một quả ḿn nổ tung chàng trai Lỗ Hiển Dư người Sơn Đông, vừa tṛn 20 tuổi ngă xuống, một ḍng máu nóng chảy trên mảnh đất Việt Nam.

    Cùng lúc với đại đoàn 308 thắng lợi ở Nghĩa Lộ, đại đoàn 312 đang tiến lên tấn công vào sâu phía bắc bờ tây sông Hồng, trên đường quét sạch cứ điểm quân Pháp, đánh tan quân địch phục kích ở Nam Mai và tiếp tục buộc địch rút khỏi điểm Tú Lệ, Gia Hội v.v.. Trung đoàn độc lập 148 từ Lào Cai tiến xuống phía nam, giải phóng Quỳnh Nhai ở bờ đông sông Đà, và hợp lại với đại đoàn 312. Các đại đoàn 308 và 316 sau khi đánh thắng trận đầu tiếp tục tiến quân tấn công Phù Yên, Vạn An v.v.. cho ngựa uống nước sông tại sông Đà.

    Đến 23/10, tác chiến đợt 1 cơ bản kết thúc, tấn công tất cả 35 cứ điểm tiêu diệt gần 200 tên địch, giải phóng một vùng rộng lớn từ tây sông Hồng đến đông sông Đà. Khi Vi Quốc Thanh đến tiền tuyến Tây Bắc vào đúng lúc tác chiến đợt 1 kết thúc tác chiến đợt 2 chưa bắt đầu. Đồng chí và Vơ Nguyên Giáp chia tay hơn một năm, hôm đó gặp lại tại tiền tuyến, hai người hết sức thân thiết. Vi Quốc Thanh t́m hiểu tỉ mỉ t́nh h́nh tác chiến đợt 1 và t́nh h́nh địch ta trước mắt.

    Sau khi mở màn chiến dịch, quân Pháp điều động 4 trung đoàn dù từ Hà Nội đổ bộ xuống vùng Tây Bắc. Quân lính đóng tại vùng Tây Bắc, quân Pháp hiện có 7 tiểu đoàn cơ động, 4 tiểu đoàn pḥng thủ, cộng với ngụy quân địa phương và những tên bị đánh tan ở đông sông Đà tháo chạy, ở vùng Sơn la, Lai Châu có tất cả khoảng 10.000 binh lực, phân bố trên một dải đất dài 300 km, rộng hơn 50 km. Pḥng ngự của địch tương đối phân tán mỏng yếu. Quân đội Việt Nam tuy có thương vong, nhưng số quân không giảm mấy và do trận đầu thắng lợi tinh thần lên cao, cung cấp hậu cần cũng không có vấn đề ǵ lớn. V́ vậy, Vi Quốc Thanh tán thành tiếp tục tiến hành tác chiến đợt 2. Nhưng lúc này, quân Pháp ở đồng bằng sông Hồng áp dụng hành động mới. Ngày 29/10 quân Pháp điều động 3 binh đoàn cơ động, và phối hợp với cụm pháo binh do viên chỉ huy khu vực Bắc Bộ De Linarès chỉ huy, xuất phát từ tây đồng bằng sông Hồng, tiến vào vùng Phú Thọ, ḥng chiếm đóng Phú Thọ và Yên Bái căn cứ hậu cần của quân đội Việt Nam, cắt đứt tuyến cung cấp lương thực của quân đội Việt Nam, để giải vây cho Tây Bắc.

    Ư đồ của địch rất rơ ràng, nên xử lư t́nh h́nh này như thế nào ? Sau khi Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh trao đổi với nhau kiến nghị phía Việt Nam rút ra 1 trung đoàn chủ lực trở về Phú Thọ, cùng với hai trung đoàn chủ lực bố trí sẵn ở vùng gần đó và một số bộ đội địa phương quần nhau với địch. Đồng thời, nhân lúc binh lực ở đồng bằng sông Hồng đang trống, quân đội Việt Nam tăng cường hoạt động vũ trang sau lưng địch, ra sức mở rộng vùng du kích, uy hiếp hậu phương địch. Vơ Nguyên Giáp tiếp nhận kiến nghị này.

    Quân Pháp tiến vào Phú Thọ bị chủ lực quân đội Việt Nam và bộ đội địa phương kiên quyết chặn đnáh, hành động chậm chạp. Sau khi đến gần Tuyên Quang được tin hậu phương của chúng không ổn địch, buộc phải rút lui. Trên đường rút lui không ngừng bị quân đội Việt Nam tấn công bắn chết, bị thương. Ngày 17/11 trung đoàn 36 đại đoàn 308 từ tiền tuyến Tây Bắc quay về phục kích trên quốc lộ số 2, một lúc tiêu diệt hơn 400 tên địch, bắn hỏng hơn 10 xe tăng và hơn 30 ôtô. Ba trung đoàn chủ lực Việt Nam truy kích quân Pháp đến pḥng tuyến đoạn phía Tây đồng bằng sông Hồng mới thu quân. Hành động giải vây Tây Bắc của quân Pháp lần này đă phải trả giá bằng việc hơn 1.200 tên địch bị thương vong, rốt cuộc thất bại hoàn toàn.

    Ngày 15/11, tác chiến đợt 2 bắt đầu. Sáu trung đoàn chủ lực quân đội Việt Nam vượt sông Đà, triển khai cuộc tấn công vào tỉnh Sơn La giáp Lào, công phá các cứ điểm quan trọng của quân Pháp, qua 6 ngày đêm liên tục tác chiến đă giải phóng các thành phố thị trấn quan trọng Mộc Châu, Yên Châu, Thuận Châu, Tuần Giáo v.v.. tiêu diệt rất nhiều quân địch.

    Khi tấn công Thuận Châu, quân đội Việt Nam được biết từ cửa miệng tù binh, binh lực địch ở Điện Biên Phủ trống vắng, chỉ có 200 lính người Thái canh giữ dưới sự chỉ huy của một trung úy quân Pháp, liền đưa một tiểu đoàn bộ binh, qua hai ngày hai đêm băng rừng lội suối ngày 30/11 nhẹ nhàng lấy được Điện Biên Phủ, bọn địch canh giữ chạy tán loạn vào rừng. Ngày 22/11 quân Pháp bỏ tỉnh lỵ Sơn La. Khoảng 8 tiểu đoàn binh lực địch tháo chạy khỏi các nơi ở Sơn la tập trung về Nà Sản cách Sơn La 20km về phía nam, tranh thủ xây dựng công sự ḥng cố thủ. Sau khi Vi Quốc Thanh và Vơ Nguyên Giáp bàn tính quyết định tập trung 6 trung đoàn chủ lực, bao vây và tấn công Nà Sản, tiêu diệt quân địch cố thủ, giành toàn thắng của chiến dịch.

    Nhưng lúc này t́nh h́nh ở Nà Sản có thay đổi. Quân địch giữ Nà Sản được không quân Pháp ra sức chi viện; trước tiên thả tấm thép làm đường băng làm sân bay đơn giản rất nhanh, tiếp đó máy bay vận tải chở xe tăng, pháo và vật liệu xây dựng công sự, binh lính xây dựng thành tập đoàn cứ điểm, hơn 20 cứ điểm. Sau khi chuẩn bị ngắn ngày, đêm 30/11 quân đội Việt Nam tấn công 4 cứ điểm bên ngoài Nà Sản. Do địch phát huy ưu thế hỏa lực, chi viện cho nhau, có cứ điểm chưa công phá được có cứ điểm sau khi công phá bị địch lấy lại, bộ đội ta bị thương vong nặng. Lúc này quân Pháp lại cho 2 tiểu đoàn nhảy dù xuống Nà Sản, tổng binh lực lên đến hơn 7000 người.

    Sau khi phân tích t́nh h́nh tác chiến ở ngoại vi Nà Sản, Vi Quốc Thanh cho rằng cứ điểm của địch thành cụm, hỏa lực chi viện cho nhau, công sự ngày càng tăng cường binh lực ngày càng tăng thêm quân đội Việt Nam khó gặm nổi cục xương cứng này. Tiếp tục đánh, bộ đội thương vong nhiều hơn, tiêu hao lớn hơn, lúc đó nếu địch phản kích, quân đội Việt Nam sẽ bị thiệt hại lớn. V́ vậy, đồng chí kiến nghị với Vơ Nguyên Giáp thu quân từ đây, kết thúc chiến dịch. Phía Việt Nam chấp nhận kiến nghị này. Chiến dịch Tây Bắc kết thúc ngày 10/12.

    Trong chiến dịch Tây Bắc trải qua gần hai tháng, quân đội Việt Nam giành được thắng lợi to lớn, tiêu diệt tất cả 13.800 tên địch giải phóng vùng đất rộng 28.500 km2 và 25.000 dân. Toàn bộ vùng Tây Bắc, trừ ngoại vi Nà Sản của tỉnh Sơn La và nửa phần phía bắc của tỉnh Lai Châu, đều do quân đội nhân dân kiểm soát. Vùng giải phóng nối liền thành một dải với căn cứ địa Việt Bắc, h́nh thành hậu phương chiến lược rộng lớn, thay đổi hơn nửa t́nh thế chiến lược địch ta của chiến trường Bắc Bộ.

    Ngày 17/12, khi gửi điện cho Quân uỷ Trung ương Trung Quốc tŕnh bày t́nh h́nh tác chiến Tây Bắc, Vi Quốc Thanh có nói : “ Tác chiến từ Nghĩa Lộ đến Yên Châu, đều căn cứ vào chỉ thị của Mao, Bành, tập trung binh lực hỏa lực ưu thế, chủ động tấn công tác chiến; đồng thời binh lực địch tương đối phân tán, các cứ điểm không thể tiếp ứng cho nhau, cho nên dễ bị ta công phá từng cái. Ta lợi dụng tấn công ban đêm, tránh được đe dọa của không quân, pháo binh, giải quyết chiến đấu nhanh chóng, lại có thể lợi dụng địa h́nh có lợi, di chuyển trận địa nghỉ ngơi tiêu hao đạn dược chưa được bổ sung, cho nên tuy thường bị đói hành động tác chiến dồn dập, nhưng thắng lợi liên tiếp, tinh thần rất cao... đến giai đoạn bao vây Nà Sản, cán bộ bắt đầu có tâm lư cho là gặp may, đánh giá chưa đầy đủ t́nh h́nh địch ở Nà Sản, khinh địch, cho nên khi đánh bốn cứ điểm bên ngoài Nà Sản thương vong tương đối lớn. Do hỏa lực của không quân, pháo binh địch được phát huy cao độ, tâm tư bộ đội chuyển biến nhanh, tư tưởng bi quan dao động nhanh chóng lan tràn, nảy sinh tâm lư oán trách. Thái độ của cán bộ đại đoàn, trung đoàn im lặng (v́ đă không bảo đảm lấy được Sơn La, trước mặt Hồ Chí Minh), không dám báo cáo lên trên t́nh h́nh chân thực của bộ đội, Bộ Tổng Tham mưu không thể nắm chính xác t́nh h́nh bộ đội. Kết quả cán bộ đại đoàn, trung đoàn muốn cố vấn đề đạt ư kiến lên trên, Bộ tổng th́ yêu cầu đại đoàn, trung đoàn bày tỏ thái độ có thể thắng hay bại, h́nh thành t́nh trạng trên dưới không chịu trách nhiệm đối với chiến tranh. Căn cứ theo t́nh h́nh lúc bấy giờ, chúng tôi không thể không nhanh chóng bày tỏ thái độ ”.

    Vào lúc kết thúc chiến dịch Tây Bắc, Hồ Chí Minh từ Liên Xô trở về Bắc Kinh. Trong thời gian ở Moscow, Stalin tiếp kiến Hồ Chí Minh, hai bên trao đổi một số vấn đề trọng đại liên quan đến cách mạng Việt Nam 5. Ở Bắc Kinh, Hồ Chí Minh nhận được báo cáo t́nh h́nh quân sự của chiến dịch Tây Bắc. Người cảm thấy quân đội Việt Nam ngừng tác chiến hơi sớm, c̣n có thể đánh tiếp, tốt nhất nhân đà khí thế đang hăng đánh lấy Nà Sản. V́ thế ngày 14/12, Người điện cho Vơ Nguyên Giáp và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Bức điện viết : “ Bọn địch ở Nà Sản cô lập, tấn công Nà Sản có ư nghĩa rất lớn đối với củng cố Tây Bắc, phát triển quan hệ với Lào, nên ra sức tiêu diệt quân địch ở đây, đừng để cho chúng chạy thoát. Nếu không thể tiêu diệt một lần th́ chỉ vài lần tiêu diệt chúng. Và đề ra, trên nguyên tắc, không ảnh hưởng đến đánh Nà Sản có thể đồng thời hoặc sớm hơn quét sạch bọn địch ở vùng Lai Châu ”.

    Bức điện đó của Hồ Chí Minh Vi Quốc Thanh được xem trước, v́ điện văn qua lại giữa Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đều do điện đài của Đoàn cố vấn sau khi nhận và dịch mới chuyển cho phía Việt Nam. Sau khi xem điện Vơ Nguyên Giáp lại bàn với Vi Quốc Thanh, ư kiến của hai người nhất trí. Trước mắt không thể tiếp tục đánh Nà Sản. Ngày 17/12 Vi Quốc Thanh điện cho Quân uỷ Trung ương : “ Đă biết bức điện ngày 14 của Hồ chủ tịch, chấp hành điện này có khó khăn. Quân địch cố thủ Nà Sản hiện có 10 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoạn lựu pháp, c̣n ta trong 5 trung đoàn có 3 trung đoàn thương vong tương đối lớn, không chỉnh đốn th́ không thể đánh tiếp. V́ vậy đề nghị thu quân thắng lợi, tạm thời bao vây quân địch ở Nà Sản, đợi t́nh h́nh có lợi sẽ tấn công lấy Nà Sản. Phải mất hai tháng làm tốt việc chấn chỉnh bổ sung bộ đội tranh thủ trước mùa mưa mở lại chiến dịch ở Tây Bắc. Ở phía bắc quét sạch bọn địch ở ngoại vi Lai Châu, cô lập Lai Châu. Ở phía nam tấn công lấy Sầm Nứa của Lào, nối liền với Điện Biên Phủ, tạo điều kiện tiếp tục mở ra chiến trường trung Lào ”.

    Ngày 19/12, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc điện trả lời Vi Quốc Thanh, nêu rơ : “ Bọn địch ở Nà Sản gặp rất nhiều khó khăn, nếu quân đội nhân dân có thể tấn công th́ rất có lợi cho việc củng cố Tây Bắc, giải phóng Lào. Nhưng tấn công Nà Sản không phải làm ngay lập tức, cần phải chuẩn bị ít nhất ba tháng, khi có đủ năng lực công kiên và nắm chắc thắng lợi mới tấn công tiêu diệt ”. Bức điện này vừa nêu lên tầm quan trọng của việc đánh lấy Nà Sản, ủng hộ ư kiến của Hồ Chí Minh vừa nêu ra phương châm cần phải chuẩn bị đầy đủ, sau khi có đủ điều kiện hăy đánh Nà Sản, cũng giải tỏa được nỗi lo của Vi Quốc Thanh.

    Đầu tháng 1/1953, Vi Quốc Thanh lại về Bắc Kinh báo cáo công tác và xin chỉ thị vấn đề tác chiến.

    Tiến đánh Sầm Nứa

    Ngày 3/2/1953, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam điện cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc : “ Vốn định đánh Nà Sản trước mùa mưa, v́ chuẩn bị chưa kịp, quyết định đánh sau mùa mưa. Tranh thủ tổ chức chiến dịch Sầm Nứa trong tháng 4, đánh lấy vùng thượng Lào ”. Ngày 9, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc điện trả lời tán thành.

    Ngày 2/3 Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi điện cho La Quư Ba và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, sau khi nêu lên ư kiến cần làm tốt hơn công tác chuẩn bị chiến dịch Thượng Lào, nói : “ Đồng chí Vi Quốc Thanh sắp lên đường sang Việt Nam giúp các đồng chí tổ chức chiến dịch Sầm Nứa, ngày 14/3 có thể đến Bằng Tường ”.

    Ngày 5/3, Vi Quốc Thanh vâng lệnh từ Bắc Kinh lên đường sang Việt Nam. Cùng đi c̣n có Hồ Chí Minh, đồng chí muốn về nước sau khi chữa bệnh nghỉ ngơi ở Bắc Kinh. Hai người cùng ngồi trong một toa xe công vụ của đoàn tàu từ Bắc Kinh đi Nam Ninh. Hồ Chí Minh rất nhiệt t́nh hiền hoà với mọi người, coi Vi Quốc Thanh như người bạn tri ân chuyện ǵ cũng có thể nói với nhau. Trên đường, Hồ Chí Minh nói đến t́nh h́nh hiện tại, nói đến chặng đường đă qua, cũng nói đến t́nh h́nh đồng chí gặp Stalin ở Moscow. Hồ Chí Minh nói với Vi Quốc Thanh : “ Năm nay chúng tôi sẽ triển khai cải cách ruộng đất quy mô lớn ở căn cứ địa Việt Bắc, bởi v́ “ người ” đă nói rồi ”. Khi nói tới chữ đồng chí cố ư kéo dài âm điệu đồng thời đặt hai ngón tay lên miệng thành h́nh chữ “ bát ”. Vi Quốc Thanh hiểu ngay đó là Stalin.

    Hồ Chí Minh nói : Khi gặp nhau ở Moscow ông ấy hỏi tôi : “ Đồng chí muốn làm lănh tụ của công nhân nông dân, hay là muốn làm lănh tụ của địa chủ, nhà tư bản ? ” tôi nói : “ Tất nhiên tôi làm lănh tụ của công nhân nông dân ”. Ông ấy nói : “ Đồng chí muốn làm lănh tụ của công nhân nông dân th́ phải mang lại ruộng đất cho họ, mang lại lợi ích thực tế cho họ ”. Ông ấy c̣n lấy ví dụ nói với tôi : “ Ví như một chiếc đ̣n gánh, một đầu là công nhân, nông dân, một đầu là địa chủ nhà tư bản, đồng chí phải đứng ở một đầu, không thể đứng ở giữa, đứng ở giữa không thể được ”. Hồ Chí Minh tiếp tục nói : “ Thực ra, được sự giúp đỡ của La Quư Ba, chúng tôi đă làm rất tốt nhiều việc về mặt phát động quần chúng, đă làm giảm tô giảm tức, chuẩn bị tiến hành cải cách ruộng đất. Bây giờ ông ấy đă nói ra, sau khi tôi về nước, phải thống nhất tư tưởng trong đảng chúng tôi hơn nữa, làm cải cách ruộng đất quy mô lớn ”.

    Vi Quốc Thanh nói : “ Thế th́ tốt ! thời kỳ chiến tranh giải phóng ở Trung Quốc, nhờ có cải cách ruộng đất, nông dân hăng hái ṭng quân, chi viện tiền tuyến, cho nên giành được thắng lợi toàn quốc rất nhanh. Việt Nam làm cải cách ruộng đất, quần chúng được phát động hơn nữa, nhất định sẽ thúc đẩy tiến hành kháng chiến toàn quốc thắng lợi ”.

    Vi Quốc Thanh nói tiếp : “ Địa phương làm cải cách ruộng đất, sẽ phản ánh vào trong bộ đội. Ở bộ đội cũng cần phải tiến hành giáo dục và chỉnh đốn ”. Hồ Chí Minh nói : “ Đồng chí nói đúng, về mặt này c̣n phải nhờ các cố vấn giúp đỡ cụ thể ” 6.

    Sau khi đoàn tàu đến Nam Ninh, Hồ Chí Minh và Vi Quốc Thanh được biết tin Stalin từ trần. Hồ Chí Minh vội về Việt Nam. Trước khi lên đường, Vi Quốc Thanh đă xin Quân uỷ nghỉ phép, dẫn bác sĩ và bảo vệ đi huyện Đông Lan tây bắc Quảng Tây, trở về quê hương 26 năm xa cách, để thăm em trai và bà con họ hàng của ḿnh. Ở nhà hai hôm lập tức quay lại Nam Ninh và trung tuần tháng 3 đến chỗ ở đoàn cố vấn ở Việt Bắc.

    Thượng Lào, tức miền bắc nước Lào, là hậu phương chiến lược quan trọng của quân Pháp ở Đông Dương. Sau khi bị thất bại nặng nề ở Tây Bắc Việt Nam, quân Pháp đă tăng cường pḥng ngự ở Thượng Lào, xây dựng Sầm Nứa thành cứ điểm có công sự pḥng ngự khá mạnh, có 3 tiểu đoàn và 1 đại đội pháo binh đóng giữ, hơn 1500 người. Ở Xiêng Khoảng và Mường Sủi phía nam Sầm Nứa nương tựa vào nhau, cũng có binh lực của 3 tiểu đoàn pḥng thủ. Nói chung, pḥng ngự của địch tương đối yếu. Sau khi về đến nơi ở của đoàn cố vấn, Vi Quốc Thanh lập tức bàn bạc với Vơ Nguyên Giáp về vấn đề liên quan đến chiến dịch Thượng Lào và đi đến nhận thức chung : mục đích mở chiến dịch Thượng Lào là tiêu diệt sinh lực địch ở Thượng Lào, đánh lấy một số vùng ở Thượng Lào, mở căn cứ địa cho chính phủ kháng chiến Lào, củng cố và phát triển thành quả của chiến dịch Tây Bắc. Kế hoạch của chiến dịch là : các đại đoàn 308, 312, 316 tiến vào Lào theo quốc lộ 6, bôn tập từ xa đến Sầm Nứa ; đại đoàn 304 từ Nghệ An tiến về phía tây theo quốc lộ 7, tấn công Xiêng Khoảng và chặn đánh quân Pháp nguỵ từ Sầm Nứa có thể chạy về phía nam, năm đại đội Pháp từ Điện Biên Phủ phát triển sang vùng sông Nậm Hu để phối hợp.

    Ngày 23/3, Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh dẫn nhân viên Ban chỉ huy đoàn cố vấn theo Bộ chỉ huy tiền phương QĐNDVN ra tiền tuyến Thượng Lào. Khi sắp đến biên giới Lào th́ gặp Hoàng thân Suphanuvong, lănh tụ kháng chiến Lào, cùng trên đường đi vào lănh thổ Lào.

    Hoàng thân Suphanuvong, thành viên của vương thất Lào đă sớm tiếp thụ chủ nghĩa Marx, tham gia phong trào độc lập Lào. Năm 1946 sau khi quân Pháp khôi phục lại binh lực, ông tổ chức đấu tranh vũ trang chống Pháp. Mùa hè năm 1950 đứng ra nhận chức Thủ tướng nhiệm kỳ đầu tiên của Chính phủ kháng chiền Lào. Tháng 2/1951, lănh đạo đảng Lao động Việt Nam và Hoàng thân Suphanuvong và Chêmxamây 7 người phụ trách mặt trận giái phóng Cao Miên họp hội nghị liên tịch, quyết định thành lập Liên minh kháng chiến ba nước, Việt Nam, Lào, Campuchia, cùng nhau chống lại sự cai trị thực dân của Pháp ở Đông Dương. Đến năm 1952 được sự giúp đỡ của Việt Nam, lực lưỡng vũ trang của Hoàng thân Suphanuvong lănh đạo phát triển được 1500 người.

    Vi Quốc Thanh sớm biết tiếng Hoàng thân Suphanuvong, cũng đại thể biết rơ sự từng trải phi thường của ông. Vị Hoàng thân này người tầm thước, khuôn mặt vuôn tṛn, nước da ngăm ngăm, khiêm tốn hoà nhă. Trong mấy ngày tiếp xúc với Suphanuvong Vi Quốc Thanh hiểu được t́nh h́nh đấu tranh và phong tục tập quán dân t́nh của Lào. Để bày tỏ ḷng kính trọng và t́nh bạn đối với Vi Quốc Thanh, Hoàng thân Suphanuvong tặng đồng chí một thanh đoản kiếm có vỏ bọc tinh xảo và chiếc túi vải thêu hoa văn sặc sỡ. Bộ đội chủ lực quân đội Việt Nam bắt đầu ra quân vào hạ tuần tháng 3. Ngày 10/4, đại đoàn 308 và 312 vượt qua sông Mă biên giới Lào, cử một tiểu đoàn trang bị nhẹ tiến lên suốt ngày đêm, chuẩn bị đánh chiếm sân bay Sầm Nứa bằng động tác bất ngờ để cắt đứt đường tháo chạy bằng máy bay của địch. Không ngờ, đêm 11, một trung đội trưởng trinh sát của bộ đội địa phương quân đội Việt Nam đầu hàng địch, tiết lộ ư đồ của quân đội nhân dân. Quân Pháp nguỵ rạng sáng ngày 13 bỏ chạy về phía nam. Thế là cuộc tập kích biến thành cuộc truy kích.

    17g ngày hôm đó, bộ đội đi đầu của đại đoàn 312 đến thị xă Sầm Nứa. Rút bài học trong chiến dịch Tây Bắc Bộ đội v́ mang nặng đường xa nên hành động truy kích chậm chạp để cho địch chạy thoát, một tiểu đoàn bộ đội truy kích vứt bỏ ruột tượng gạo, trang bị nhẹ, tiến nhanh, hai tiểu đoàn khác thồ lương thực đuổi theo. Ngày 15, đuổi kịp quân địch ở Na Nong cách Sầm Nứa 30 km về phía nam, tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch. Ngày 18, số địch sống sót chạy đến gần quốc lộ 7, bị bộ đội đại đoàn 304 từ Nghệ An tiến lên phía tây chặn đánh, tiêu diệt phần lớn. Trận này Quân đội Nhân dân chưa tốn một phát đạn pháo, đă bắn chết bắt làm tù binh gần 1000 tên địch. Hơn 200 tên chạy trốn vào rừng, hơn 220 tên chạy về tiểu đoàn địch ở cánh đồng Chum.

  4. #34
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Hồi kí cố vấn Trung Quốc (3)
    ĐỒNG CHÍ VI QUỐC THANH
    TRONG VIỆN TRỢ VIỆT NAM
    ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP

    Vu Hoá Thầm
    bản dịch của DƯƠNG DANH DY
    P5



    Ngày 18/4, các đại đoàn 308 và 312 tiến gần tới Luông PraBang, gặp vương thất Lào ở; buộc quân Pháp gấp rút đưa ba tiểu đoàn nhảy dù xuống Luông PraBang, tăng cường pḥng ngự ở đây. Đồng thời, đại đoàn 316 tiến đến gần bắc Xiêng Khoảng, đại đoàn 304 cũng áp sát Xiêng Khoảng theo quốc lộ 7. Quân Pháp ở Xiêng Khoảng bỏ chạy về cánh đồng Chum, làm cho binh lực ở đây tăng lên đến 5 tiểu đoàn. Ngày 26, quân đội Việt Nam truy đuổi đến cánh đồng Chum, bao vây doanh trại quân Pháp. Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Điện Biên Phủ tiến xuống phía nam tiến triển cũng rất nhanh, từ 16 đến 23 tháng 4, liên tiếp đánh các nơi Hội Ḥn, Toả Thi, Mường U và đều chiến thắng, tiêu diệt một phần quân địch, kiểm soát một số vùng của tỉnh Phong Xaĺ.

    Xét thấy mùa mưa sắp đến, đường cung cấp hậu cần cho bộ đội kéo quá dài, quân Pháp thực thi tập đoàn cứ điểm cố thủ, quân đội Việt Nam khó nắm bắt cơ hội tác chiến ở Thượng Lào, sau khi Vi Quốc Thanh và Vơ Nguyên Giáp bàn bạc quyết định kết thúc chiến dịch Thượng Lào ngày 3/5. Chiến dịch này tổng cộng tiêu diệt binh lực của 3 tiểu đoàn và 11 đại đội (tương ứng 1/5 tổng binh lực quân Pháp và ngụy ở Lào) giải phóng toàn tỉnh Sầm Nứa và một số vùng của tỉnh Xiêng Khoảng, Phong Xaĺ có tất cả hơn 300.000 dân (tương đương 1/5 diện tích của cả nước Lào), làm cho vùng này nối liền thành một dải với Tây Bắc, căn cứ địa Việt Bắc của Việt Nam. Từ đó, Sầm Nứa trở thành trụ sở của Chỉnh phủ kháng chiến Lào, cuộc kháng chiến của Lào xuất hiện cục diện mới.

    Sau khi kết thúc chiến dịch Thượng Lào, Vơ Nguyên Giáp và Hoàng thân Suphanuvong mời Vi Quốc Thanh nói chuyện với cán bộ Việt Nam, Lào. Lúc này, Vi Quốc Thanh hiểu được trong số cán bộ Việt Nam cử sang công tác giúp Lào, có hiện tượng coi thường cán bộ Lào và bao biện làm thầy, c̣n cán bộ Lào có tư tưởng ỷ lại và tâm lư tự ti, ảnh hưởng đến triển khai công tác, Vi Quốc Thanh cho rằng, nhân cơ hội này làm công tác tư tưởng là cần thiết, nên đồng ư.

    Hội nghị cán bộ Việt Nam, Lào lần này họp trong rừng gần Sầm Nứa. Cán bộ Lào đến họp nói chung đều biết tiếng Việt. Vi Quốc Thanh nói đến đâu, dịch ra tiếng Việt đến đấy. Chủ đề phát biểu của Vi Quốc Thanh là hợp tác Việt – Lào, đoàn kết chống ngoại xâm. Trong phát biểu, đồng chí điểm từng vấn đề tồn tại tương đối hàm súc, nhưng không phê b́nh trực diện. Trong phát biểu nói đến vấn đề cán bộ Việt Nam, lại nói đến vấn đề cán bộ Lào. Lời lẽ rất cân nhắc phát biểu tương đối biện chứng, toàn diện, được cán bộ dự hội nghị hoan nghênh và đánh giá tốt. Sau hội nghị, cố vấn chính trị Lư Văn Nhất nói : “ Phát biểu lần này của Vi Quốc Thanh thật không dễ dàng ! Nói rất hay, sẽ giúp ích cho công tác sau này ”.

    Sự thực về thời kỳ sau chiến dịch Tây Bắc quân đội Việt Nam tấn công tập đoàn cứ điểm Nà Sản chưa đánh đă bị thương vong nặng làm cho Vi Quốc Thanh nhận thức sắc bén rằng, từ nay về sau, quân Pháp có thể lợi dụng ưu thế không quân của chúng, dùng phương thức tập đoàn cứ điểm để ngăn chặn tấn công của Quân đội Nhân dân mà Quân đội Nhân dân th́ chưa có cách đối phó. Nếu không giải quyết vấn đề này th́ chủ lực quân đội Việt Nam sẽ rơi vào t́nh trạng không có đất dụng vơ trận lớn không đánh được, trận nhỏ không có để đánh. V́ vậy cần phải giúp quân đội Việt Nam nghiên cứu giải quyết vấn đề này. Vi Quốc Thanh cho rằng, trên vấn đề đối phó với tập đoàn cứ điểm của quân Pháp, quân đội Việt Nam có hai nhược điểm rơ rệt : một là hoả lực pháo binh yếu, thiếu đại bác và cao xạ pháo, không thể kiềm chế hoả pháo của địch và đối phó máy bay địch ; hai là tố chất chiến thuật công kiên kém, không biết đánh công kiên chiến quy mô tương đối lớn. V́ vậy sau khi kết thúc chiến dịch thượng Lào đồng chí một mặt kiến nghị Quân uỷ Trung ương, đẩy nhanh trang bị và huấn luyện đối với bộ đội pháo và cao xạ pháo quân đội Việt Nam, chuẩn bị dùng cho tác chiến mùa đông, mặt khác giúp phía Việt Nam nắm chắc huấn luyện chiến thuật công kiên cho bộ đội nâng cao năng lực tác chiến công kiên.

    Hạ tuần tháng 5/1953, Vi Quốc Thanh liên tục triệu tập cố vấn quân sự nghiên cứu vấn đề bố trí huấn luyện quân sự. Đồng chí nêu rơ : “ Huấn luyện chiến thuật công kiên của Quân đội Nhân dân phải bắt đầu từ biên soạn giáo tŕnh, thông qua biên soạn giáo tŕnh tăng cường nhận thức thống nhất tư tưởng với đặc điểm pḥng ngự của địch, sau đó dùng tài liệu thống nhất, triển khai huấn luyện quân sự cho cán bộ trước, chiến sĩ sau, đặt cơ sở chiến thuật để giành thắng lợi cho chiến dịch Đông Xuân tới ”. Đồng chí nêu rơ : Để biên soạn tốt giáo tŕnh, cần thành lập Ban biên tập giáo tŕnh gồm cán bộ lănh đạo Việt Nam và cố vấn quân sự, phụ trách công tác biên soạn ; biên tập giáo tŕnh và huấn luyện quân sự, cần tốn nhiều thời gian, phải làm chuyển biến tư tưởng của bộ đội không muốn đào công sự, học cách xây dựng công sự và xây dựng trận địa tấn công, học biết xây dựng đường sóc và cất giữ lương thực, đạn dược, học biết dùng hoả pháo khống chế sân bay địch và dập tắt hoả pháo địch.

    Những ư kiến này sau khi nêu ra với phía Việt Nam, được phía Việt Nam coi trọng. Đầu tháng 6, Ban biên tập giáo tŕnh được thành lập gồm người phụ trách cơ quan Bộ tổng tham mưu quân đội nhân dân, cán bộ lănh đạo các đại đoàn và cố vấn quân sự. Tại hội nghị thành lập, Vơ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh đều dự và phát biểu ư kiến. Vơ Nguyên Giáp phát biểu nhấn mạnh biên tập giáo tŕnh phải lấy học tập kinh nghiệm Trung Quốc là chính. Vi Quốc Thanh phát biểu nhấn mạnh biên soạn giáo tŕnh chiến thuật công kiên nên bao gồm động tác cá nhân và chiến thuật công kiên hợp đồng từ tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn đến trung đoàn, phải lấy tập đoàn cứ điểm Nà Sản làm đối tượng chính. Quá tŕnh biên soạn giáo tŕnh tức là quá tŕnh thống nhất tư tưởng chiến thuật.

    Sau khi bố trí xong công tác huấn luyện quân sự, Vi Quốc Thanh lại về Bắc Kinh báo cáo công tác. Theo bố trí thống nhất của Tổng quân uỷ quân đội Việt Nam, dưới sự giúp đỡ của cố vấn quân sự, bộ đội chủ lực quân đội Việt Nam tiến hành chỉnh huấn quân sự, chính trị quy mô lớn vào hè thu năm 1953. Trước tiên triển khai chỉnh quân chính trị gần giống phong trào chỉnh quân kiểu mới của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, tiến hành giáo dục tố khổ, nâng cao giác ngộ giai cấp, tăng cường ư chí chiến đấu để phối hợp với phong trào cải cách ruộng đất đang tiến hành ở căn cứ địa Việt Bắc. Sau đó, trên cơ sở biên soạn xong giáo tŕnh chiến thuật công kiên triển khai chỉnh huấn quân sự. Khi kết thúc chỉnh huấn quân sự, tổ chức diễn tập quân sự. Thông qua chỉnh huấn tŕnh độ chiến thuật công kiên của bộ đội được nâng cao rơ rệt, đặt cơ sở cho chiến dịch Điện Biên Phủ tiến hành sau đó.


    Quyết chiến Điện Biên Phủ (thượng)

    Sau thất bại nặng nề liên tiếp của quân Pháp ở Tây Bắc, Thượng Lào, Tổng chi huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương lại thay ngựa. Raoul Salan kế nhiệm Jean de Lattre de Tassigny bị cách chức, thay thế ông ta là tướng Henri Navarre nguyên Tham mưu trưởng bộ đội Đức đóng ở Trung Âu. Hy vọng của chính phủ Pháp kết thúc một cách “ thể diện ” chiến tranh Đông Dương gửi gắm vào Navarre.

    Sau khi lên nhậm chức, Navarre đă phân tích nghiên cứu t́nh thế chiến trường Đông Dương, nhanh chóng vạch ra một kế hoạch quân sự ḥng thoát khỏi bị động, giành lại chủ động, làm cho chiến tranh xâm lược chuyển bại thành thắng trong vài ba năm. Những điểm chủ yếu của kế hoạch này là : 1. Gấp rút tổ chức và huấn luyện nguỵ quân Bảo Đại (Hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn, Việt Nam) chốt giữ cứ điểm để quân Pháp tập trung tổ chức thành tập đoàn chủ lực làm nhiệm vụ tác chiến cơ động ; 2. Thực hành phương châm quân sự nam trước bắc sau, mưu đồ chiếm đóng toàn bộ vùng giải phóng và vùng du kích Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Việt Nam. Trước mùa xuân 1954 nhằm ổn định hậu phương chiến lược của quân Pháp. Mùa đông 1954 đến mùa xuân 1955, trên cơ sở tổ chức xong tập đoàn chủ lực, tập trung toàn bộ binh lực quyết chiến với chủ lực Việt Nam ở Bắc Bộ, giành thắng lợi có tính quyết định.

    Để thực hiện kế hoạch Navarre, nước Pháp điều động từ bản quốc, Bắc Phi và Triều Tiên 12 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh tăng viện cho quân viễn chinh xâm lược Việt Nam. Chính quyền bù nh́n Bảo Đại tiến hành tổng động viên, ra sức bắt lính bổ sung cho quân nguỵ, từ tháng 5/1953 đến tháng 3/1954, tổng cộng được 107 tiểu đoàn quân nguỵ. Đến mùa thu 1953 quân Pháp tập trung tổng cộng 84 tiểu đoàn binh lực cơ động tại chiến trường Đông Dương. Tháng 8/1953, quân Pháp điều chỉnh bố trí từ bỏ Nà Sản, không vận toàn bộ binh lực đóng ở Nà Sản đến đồng bằng Bắc Bộ, tăng cường lực lượng cơ động. Trong thời gian này quân Pháp ráo riết càn quét vùng địch hậu Nam Bộ, Trung Bộ và Bắc Bộ Việt Nam, ḥng tiêu diệt chủ lực quân đội Việt Nam và du kích vũ trang.

    Kế hoạch Navarre được đế quốc Mỹ tán thưởng và ủng hộ. Sau đ́nh chiến ở Triều Tiên để thực hiện chiến lược toàn cầu của ḿnh, Mỹ ráo riết can thiệp vào Đông Dương, quyết định tăng 50% viện trợ quân sự cho Pháp, chi 400 triệu USD để xây dựng nguỵ quân Việt Nam và cung cấp số lớn trang bị quân sự, để bổ sung cho quân Pháp và vũ trang quân nguỵ.

    Pháp – Mỹ ra sức cấu kết, tích cực thúc đẩy hoạt động của kế hoạch Navarre, làm cho phía Việt Nam cảnh giác và coi trọng. Sau khi quân Pháp rút khỏi Nà Sản vào trung tuần tháng 8, cần phải thay đổi kế hoạch tác chiến mùa đông đă định trước đây mà mục tiêu chính là tấn công Nà Sản. Nhận định, t́nh h́nh mới như thế nào, chọn hướng tấn công quan trọng của tác chiến mùa đông ở đâu ? Trở thành vấn đề to lớn cần được nghiên cứu giải quyết. Ngày 13/8, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thông báo cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc t́nh h́nh mới quân Pháp rút khỏi Nà Sản và đề nghị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc “giúp đề xuất ư kiến” đối với vấn đề nhận thức t́nh h́nh và phương hướng tác chiến từ nay về sau.

    Lúc này, người lănh đạo quân đội Việt Nam lại chuyển hướng tấn công chính của tác chiến mùa đông sang vùng đồng bằng sông Hồng, từ bỏ kế hoạch đă định đánh lấy Lai Châu, rút bộ đội bao vây Nà Sản về vùng Thanh Hoá, Trung Bộ Việt Nam. Ngày 22/8, Bộ chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp thảo luận vấn đề tác chiến. Trong cuộc họp, Vơ Nguyên Giáp phát biểu nghiêng về tác chiến chính diện ở chiến trường đồng bằng Bắc Bộ. Không nhắc đến đánh lấy vùng Lai Châu, cũng không chủ trương mở thêm chiến trường Thượng Lào. Hội nghị không ra được quyết định vấn đề tác chiến mùa đông. La Quư Ba được mời tham gia hội nghị này và báo cáo Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc t́nh h́nh hội nghị này.

    Ngày 27, 29 tháng 8, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc hai lần điện trả lời La Quư Ba và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, phân tích t́nh h́nh sau khi Navarre nhận thức, nêu ư kiến về biện pháp quân sự cần áp dụng. Nhất là trong điện ngày 29, đă tŕnh bày rơ ràng với phương châm chiến lược cần áp dụng từ nay về sau. Bức điện viết : “ Trước hết tiêu diệt địch ở vùng Lai Châu, giải phóng miền Bắc và miền Trung nước Lào, sau đó từng bước đẩy chiến trường sang Nam Lào và Cao Miên, uy hiếp Sài G̣n. Làm như vậy, th́ có thể rút thu hẹp nguồn lính nguỵ, nguồn tài chính, phân tán binh lực quân Pháp, đẩy chúng vào bị động, đồng thời mở rộng bản thân Quân đội Nhân dân, chủ động tiêu diệt địch ở khắp nơi và từng bước làm suy yếu địch. Đó là điều kiện tiên quyết để đánh lấy đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Thực hiện kế hoạch chiến lược này đủ để đánh bại ách thống trị thực dân của đế quốc Pháp ở Việt Nam, Lào, Cao Miên. Nhưng cần phải chuẩn bị khắc phục mọi khó khăn, cần phải tính toán lâu dài ”.

    Hồ Chí Minh hoàn toàn tán thành phương châm chiến lược của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nêu ra. Trong tháng 9, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam một lần nữa thảo luận vấn đề tác chiến mùa đông của Quân đội Nhân dân. Tổng Quân uỷ QĐNDVN nêu ra hai phương án; một là đặt hướng chủ công vào vùng Tây Bắc và Thượng Lào, hai là tập trung chủ lực vào tác chiến ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Qua hội nghị thảo luận, Hồ Chí Minh rút ra kết luận phương hướng chiến lược không thay đổi tiếp tục tấn công vùng Tây Bắc và Thượng Lào, phủ định phương án tập trung chủ lực vào tác chiến ở đồng bằng Bắc Bộ. Vấn đề hướng tác chiến mùa đông cơ bản đă được giải quyết. Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam căn cứ vào đó một lần nữa nghiên cứu vạch ra kết hoạch tác chiến, nhưng kế hoạch này chần chừ măi không vạch ra được.

    Ngày 10/10/1953, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc điện cho Trung ương Đảng Lao động Việt Nam : “ Năm 1950 chúng tôi đáp ứng đề nghị của các đồng chí lần lượt cử hai đồng chí La Quư Ba, Vi Quốc Thanh dẫn đầu một số cán bộ quân đội và cán bộ đảng địa phương sang Việt Nam làm công tác giúp đỡ có tính chất cố vấn. Về sau đồng chí Vi Quốc Thanh mắc bệnh về nước điều trị, nhất thời không thể trở lại Việt Nam công tác cho nên đồng chí La Quư Ba thống nhất phụ trách giúp các đồng chí tiến hành công tác. Nay sức khoẻ đồng chí Vi Quốc Thanh khá hơn năm ngoái, chúng tôi vẫn cử đồng chí trở lại Việt Nam công tác. Đồng thời quyết định Vi Quốc Thanh làm Tổng cố vấn quân sự, phụ trách công tác giúp chỉ đạo chiến tranh và xây dựng quân đội. Đồng chí La Quư Ba làm Tổng cố vấn chính trị, phụ trách công tác giúp xây dựng đảng, địa phương và chính sách ”. Bức điện nói : “ Vi Quốc Thanh và 4 cán bộ định trung tuần tháng này lên đường sang Việt Nam, ngày 21/10 có thể đến Bằng Tường, xin cho người đến Bằng Tường liên lạc với đồng chí ”.

    Sau khi nhận nhiệm vụ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc hai lần tạm thời cử đồng chí sang Việt Nam giúp quân đội Việt Nam tổ chức chỉ huy chiến dịch Tây Bắc và chiến dịch Thượng Lào, Vi Quốc Thanh lại được bổ nhiệm làm Tổng cố vấn quân sự, lại gánh vác nhiệm vụ nặng nề, lănh đạo Đoàn cố vấn quân sự giúp Việt Nam tổ chức chỉ huy tác chiến và xây dựng quân đội. Trước khi sang Việt Nam, đồng chí được Mao Trạch Đông tiếp và truyền đạt trực tiếp đối sách t́nh huống. Mùa thu Bắc Kinh trời cao lồng lộng, nắng gió chan hoà. Trong Phong Trạch Viên – Trung Nam Hải những cây tùng bách cao vút thẳng tắp xanh tốt um tùm, tràn đầy sức sống. Chiều một ngày trung tuần tháng 10, Mao Trạch Đông đi đi lại lại trong pḥng sách của Người, đang suy nghĩ t́nh h́nh chiến sự Việt Nam, suy nghĩ t́nh h́nh Việt Nam La Quư Ba điện về phản ánh.

    Tiếng báo cáo của cán bộ bảo vệ cắt ngang luồng suy nghĩ của Người : “ Chủ tịch, Bành tổng và đồng chí Vi Quốc Thanh đến ”.

    “ Mời các đồng chí vào ”. Mao Trạch Đông nói.

    Vi Quốc Thanh theo sát Bành Đức Hoài bước vào pḥng sách cũng là pḥng tiếp khách của Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông bắt tay từng đồng chí và mời họ ngồi. Bành Đức Hoài nói : “ Chủ tịch, đồng chí Vi Quốc Thanh gần đây sắp trở lại Việt Nam, lần này đến xin Chủ tịch chỉ thị trực tiếp ”.

    Mao Trạch Đông : “ À ! Tôi cũng đang muốn gặp các đồng chí cùng bàn t́nh h́nh và chiến sự của Việt Nam ”. Sau đó, Người nói với Vi Quốc Thanh : “ Đồng chí đă xem kế hoạch quân sự của Navarre chưa ? ”.

    Vi Quốc Thanh trả lời : “ Bộ Tổng Tham mưu có cho tôi xem rồi ”. Mao Trạch Đông lại hỏi : “ Đồng chí có ư kiến ǵ không ? ”. Vi Quốc Thanh trả lời : “ Đây là sự tiếp tục của kế hoạch De Lattre, tiền nhiệm của ông ta. Điểm chung của họ là ra sức phát triển nguỵ quân, thay quân Pháp chốt giữ cứ điểm, dùng người Việt đánh người Việt, làm cho quân Pháp có thể tập trung tổ thành lực lượng đột xuất làm nhiệm vụ tác chiến cơ động, để giành lại quyền chủ động chiến tranh. Ông ta nêu ra, trước hết giành thế thủ ở Bắc Bộ và ráo riết càn quét và tiến công ở Nam Bộ và Trung Bộ, sau khi ổn định hậu phương chiến lược, ông ta sẽ tập trung binh lực quyết chiến với chủ lực quân đội Việt Nam ở Bắc Bộ. Phương châm quân sự Nam trước Bắc sau này là sự phát triển của Navarre cũng là do t́nh thế bắt buộc ông ta như vậy ”.

    Mao Trạch Đông hỏi tiếp : “ Cuối tháng 8 Trung ương có điện cho La Quư Ba, đồng chí đă xem chưa ? ”. Bành Đức Hoài trả lời : “ Tôi đă cho người đưa đồng chí xem rồi ”. Vi Quốc Thanh nói : “ Phương châm chiến lược của Trung ương vạch ra cho Việt Nam mâu thuẫn gay gắt với kế hoạch của Navarre. Thực thi phương châm chiến lược này sẽ hoàn toàn đập tan tính toán chỉ tính đến một phía của Navarre ”.

    Mao Trạch Đông nói : “ La Quư Ba điện về nói Hồ Chí Minh tán thành kiến nghị đó, Bộ Chính trị cũng đă ra quyết định, nhưng kế hoạch tác chiến mùa đông của quân đội Việt Nam vẫn chần chừ chưa vạch ra được là sao ? ”. Vi Quốc Thanh nói : “ Trước chiến dịch Tây Bắc năm ngoái, trong cán bộ trung, cao cấp quân đội Việt Nam, có thể nói là đa số người không muốn đi Tây Bắc tác chiến. Chủ yếu là sợ gian khổ, sợ khó khăn, thiếu tầm nh́n chiến lược, cho rằng Tây Bắc đất rộng người thưa, là nơi nghèo, có giải phóng cũng không có ư nghĩa lớn bao nhiêu. Người phụ trách chủ yếu Tổng cục hậu cần quân đội Việt Nam lại nói Đoàn cố vấn tích cực chủ trương giải phóng Tây Bắc là v́ có lợi cho Trung Quốc, có thể tiêu diệt tận sào huyệt tàn quân phỉ Quốc dân đảng ở đó, không quấy rối biên giới Vân Nam Trung Quốc nữa. Họ cho rằng, chỉ có giải phóng đồng bằng sông Hồng th́ mới đă nghiện, mới có thể giành được kháng chiến thắng lợi. Qua làm công tác tư tưởng này lúc bây giờ về cơ bản được uốn nắn. Bây giờ quân địch đă rút khỏi Nà Sản, họ lại để mắt chằm chằm vào sông Hồng. Đó là bệnh cũ tái phát ”.

    Mao Trạch Đông nói : “ Chà ! Họ muốn đi đường thẳng. Nhưng e rằng đường này không đi nổi. Trước mất điều kiện đánh đồng bằng sông Hồng chưa chín muồi. Vẫn phải đi một ít đường quanh co khúc khuỷu, mới có thể đến đích. Điều đó đă được thực tiễn mấy chục năm cách mạng của Trung Quốc chứng minh. Tôi thấy cách mạng Việt Nam cũng không thể đi đường thẳng. Sau khi đồng chí trở sang, phải làm nhiều công tác giải thích thuyết phục cán bộ cao cấp của Quân đội Nhân dân ”.

    Vi Quốc Thanh chú ư lắng nghe mỗi lời nói của Mao Trạch Đông, và ghi lại vào quyển nhật kư bằng những từ ngữ giản đơn mà chỉ có đồng chí mới hiểu hết được ư nghĩa. Mao Trạch Đông nói tiếp : “ Tôi thấy hướng tác chiến của Việt Nam trong suốt thời kỳ từ nay về sau là nên hướng vào Trung, Nam Bộ ”. “ Để thực hiện kế hoạch chiến lược này, trước mắt cần áp dụng một số biện pháp thiết thực. Tôi nghĩ đến ba biện pháp thế này : một là dùng hai đại đoàn bộ binh và nửa đại đoàn pháo binh, trước tiên giải quyết địch ở Lai Châu, giải phóng toàn bộ vùng Tây Bắc, căn cứ chiến lược quan trọng này. Sau đó chuyển quân sang Thượng Lào, mở thêm chiến trường Thượng Lào. Đồng thời với tiến quân lên Tây Bắc, đưa một bộ phận binh lực xuống Trung Lào và Hạ Lào. Hai là kiên quyết khai thông con đường Nam tiến (chỉ con đường từ nam Liên khu 4 Trung bộ lên Trung, Thượng Lào, qua quốc lộ 9 đến Tây Nguyên), đó là đường giao thông huyết mạch của bộ đội, đánh xuống phía nam sau này, quan hệ rất lớn đến t́nh h́nh chiến sự tương lai. Nên đo đạc thật nhanh, xây dựng kế hoạch, chia giai đoạn hoàn thành. Có thể nói với các đồng chí Việt Nam, thái độ đối với làm đường tức là thái độ đối với chiến tranh. Làm đường không tích cực, không nghiêm túc tức là không tích cực, không nghiêm túc giành lấy thắng lợi chiến tranh. Ba là liên khu Việt Bắc, Liên khu 3, 4 mỗi nơi nên điều động một số cán bộ đảng, chính quyền, quân đội đến Trung, Hạ Lào và Nam Bộ Việt Nam làm công tác mở vùng mới, làm cho bộ đội đánh được nơi nào, th́ củng cố nơi ấy. Giống như thời kỳ sau chiến tranh giải phóng, chúng ta điều động cán bộ miền Bắc theo Đại quân xuống miền Nam. Nói tóm lại, ba biện pháp này tức là 12 chữ : hai đại đoàn rưỡi, một đường quốc lộ, ba lớp cán bộ ”.

    Nói xong Mao Trạch Đông đưa ánh mắt thăm ḍ nh́n vào hai người Bành Đức Hoài và Vi Quốc Thanh. Vi Quốc Thanh nói : “ Chỉ thị của Chủ tịch rất quan trọng. Sau khi tôi sang, sẽ truyền đạt tỉ mỉ cho phía Việt Nam và các đồng chí cố vấn, nghiêm chỉnh quán triệt chấp hành ”. Mao Trạch Đông nói : “ Có thể nói với các đồng chí Việt Nam, đó là kiến nghị của tôi ”. Mao Trạch Đông quay sang Bành Đức Hoài nói : “ Bành Tổng cũng nói ư kiến đi chứ ! ”.

    Bành Đức Hoài nói : “ Tôi đă nói với đồng chí Quốc Thanh ư kiến của tôi về t́nh h́nh chiến tranh Việt Nam và tác chiến Tây Bắc rồi. Xin nói thêm một việc. Bản tiếng Pháp kế hoạch quân sự Navarre mà Cục t́nh báo Bộ tổng tham mưu lấy được, có thể mang sang cho các đồng chí Việt Nam xem, điều đó giúp ích cho các đồng chí ấy t́m hiểu kẻ địch, phân tích t́nh h́nh. Có điều phải chú ư bảo mật ”.

    Hai ngày sau Mao Trạch Đông tiếp kiến, Vi Quốc Thanh cùng mấy cán bộ mới bổ nhiệm cố vấn quân sự đáp tàu hoả đi xuống phía Nam. Trong toa xe ghế mềm thoải mái, đồng chí nh́n thấy cảnh sắc cuối thu trên đồng bằng miền Bắc không ngừng lướt qua ngoài cửa sổ, trong ḷng lại nghĩ đến t́nh h́nh chiến sự Việt Nam. Trong thời gian hơn ba tháng rời Việt Nam, trong bức điện La Quư Ba gửi Trung ương mà đồng chí Tổng tham mưu trưởng cho đồng chí xem, Vi Quốc Thanh hiểu được sự thay đổi to lớn của hai bên địch – bạn trên chiến trường Việt Nam. Đồng chí cảm thấy thấm thía phương châm chiến lược và mấy biện pháp quan trọng của Mao Trạch Đông nêu ra là rất kịp thời, rất chính xác. Đồng chí trù tính với đầy ḷng tin là sau khi đến Việt Nam, triển khai công tác như thế nào, làm cho những kế hoạch, ư tưởng này trở thành hiện thực, mở ra cục diện mới cho cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam.

    Sau khi đến Nam Ninh, dừng lại có chút việc, Vi Quốc Thanh và các đồng chí cùng đi lại lên ôtô ra Mục Nam Quan (nay gọi là Hữu Nghị Quan), về nơi ở của Đoàn cố vấn quân sự trong rừng Việt Bắc. Khi đến nơi đă là ngày 25/10. Vi Quốc Thanh lập tức thông qua Vơ Nguyên Giáp xin gặp chào Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh nghe nói Vi Quốc Thanh trở lại Việt Nam rất phấn khởi, liền sắp xếp gặp đồng chí vào ngày 27.

    Ngày 26/10, trước hết Vi Quốc Thanh truyền đạt chỉ thị của Mao Trạch Đông, Bành Đức Hoài cho La Quư Ba, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm và cố vấn quân sự, đồng thời nghe các cố vấn báo cáo t́nh h́nh. Đồng chí được biết thêm sau khi quân Pháp chủ động rút khỏi Nà Sản ngày 12/8, quân đội Việt Nam từ trên xuống dưới đều thở phào nhẹ nhơm, tưởng rằng không cần lên Tây Bắc tác chiến. Họ nhằm vào t́nh h́nh mới quân Pháp tập trung binh lực cơ động ở Bắc Bộ, lại đặt trọng điểm tác chiến vào vùng đồng bằng Bắc Bộ, chủ trương phân tán tập kích, chia quân ứng phó, bố trí phân tán bộ đội chủ lực ở các nơi Phú Thọ, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Nho Quan v.v... để đối phó tấn công có thể của quân địch. Do họ bỏ Tây Bắc, nên nguỵ quân, đặc vụ ở đấy thừa cơ phát triển, gây trở ngại cho việc lại tiến quân lên Tây Bắc. Cùng với chuyển biến của tư tưởng chiến lược này, vật tư hậu cần bố trí ở Thái Nguyên và tuyến bắc Bắc Giang – Bắc Ninh, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến hành động tiếp theo.

    Sau hội nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam tháng 9 ra quyết định không thay đổi phương châm chiến lược tiến quân lên Tây Bắc, bắt đầu công tác chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc lần thứ hai. Nhưng những người lănh đạo quân đội thiếu thống nhất với chuyển biến nhận thức này, hành động tương đối chậm chạp, công việc tiến triển không nhanh. Tóm lại, việc tiến quân lên Tây Bắc c̣n rất nhiều vấn đề chờ giải quyết.

    Ngày 27, Vi Quốc Thanh được Vơ Nguyên Giáp đi cùng, cưỡi ngựa đến “dinh rừng trúc” của Hồ Chí Minh, cách hàng chục dặm. Hồ Chí Minh vừa thấy Vi Quốc Thanh lập tức ôm hôn thắm thiết. Cùng dự có Trường Chinh cũng ôm hôn đồng chí, Vi Quốc Thanh chuyển kiến nghị của Mao Trạch Đông về chiến lược Nam tiến và mấy biện pháp quan trọng và ư kiến của Bành Đức Hoài về phương pháp tác chiến và vấn đề xây dựng quân đội trong t́nh h́nh chiến tranh hiện nay, đến Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Vơ Nguyên Giáp và trực tiếp đưa cho Hồ Chí Minh bản tiếng Pháp kế hoạch kế hoạch quân sự Navarre.

    Cách một hôm, Hồ Chí Minh hành trang gọn nhẹ, bất ngờ đến thăm Vi Quốc Thanh. Người hồ hởi nói với Vi Quốc Thanh : “ Cám ơn đồng chí từ Bắc Kinh mang đến cho chúng tôi hai món quà rất tốt. Một là kiến nghị của Mao Chủ tịch đối với tác chiến về sau, giúp chúng tôi rất lớn. Tôi và các đồng chí Bộ Chính trị đều cho rằng ư kiến của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc là đúng đắn. Thực hành những phương châm và biện pháp đó nhất định có thể đập tan kế hoạch Navarre. Tôi đă gửi điện cho đồng chí Mao Trạch Đông, tỏ rơ thái độ của chúng tôi, kiên quyết làm theo. Hai là bản tiếng Pháp kế hoạch quân sự Navarre, cũng rất giúp ích chúng tôi, làm cho chúng tôi càng hiểu địch hơn trên toàn cục. Đồng chí Vơ Nguyên Giáp sau khi xem kế hoạch Navarre bị chấn động mạnh, tỏ ra thông suốt tư tưởng, hoàn toàn ủng hộ phương châm chiến lược giải phóng Tây Bắc, Thượng Lào trước rồi từng bước tiến về phía Nam ”. Hồ Chí Minh ngừng một lát rồi nói tiếp : “ Đồng chí Vi theo đồng chí trước mắt nên nắm những việc nào trước ? ”.

    Vi Quốc Thanh trả lời rằng : “ Tôi cho rằng điều chủ yếu nhất trước mắt là vạch kế hoạch tác chiến tấn công mùa đông. Dựa vào kế hoạch đó để thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động, th́ các công việc dễ triển khai ”. Hồ Chí Minh nói luôn : “ Rất tốt, rất tốt, hoàn toàn nhất trí với suy nghĩ của tôi ; đồng chí phải giúp đồng chí Vơ Nguyên Giáp vạch ra kế hoạch tác chiến thật nhanh, đưa Bộ chính trị thảo luận thông qua. Việc này giao cho đồng chí ”.

    Vi Quốc Thanh nói : “ Xin Hồ chủ tịch yên tâm, tôi sẽ cùng đồng chí Vơ Nguyên Giáp bàn bạc kỹ lưỡng, vạch ra kế hoạch này nhanh nhất ”. Hồ Chí Minh cám ơn và từ chối mời cơm của Vi Quốc Thanh, vội ra về. Với sự giúp đỡ trực tiếp của Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh, kế hoạch tác chiến tấn công mùa đông 1953-1954 của quân đội Việt Nam được vạch ra rất nhanh. Ngày 3/11, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thảo luận thông qua kế hoạch này. Vi Quốc Thanh điện báo cho Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nội dung chủ yếu của kế hoạch này và được đồng ư. Những điểm chủ yếu của kế hoạch tác chiến này là :

    Hướng chủ yếu của tác chiến mùa đông là vùng Lai Châu – Tây Bắc. Sử dụng đại đoàn 308, 316 (thiếu 1 trung đoàn) và trung đoàn 148 của vùng Tây Bắc cùng 4 tiểu đoàn pháo binh và 2 tiểu đoàn công binh, tất cả binh lực là 25.000 người, ngày 10/1/1954 bắt đầu tấn công Lai Châu. Sau thắng lợi, dùng binh lực của hai trung đoàn, đầu tháng 2 tiến quân lên Phong Xa Ĺ – Thượng Lào. Cuối tháng 2, hai đại đoàn này lần lượt tiến sát Luông PraBang và xem t́nh h́nh đánh chiếm Huộc Xăi. Một trung đoàn khác cắm giữa Xiêng Khoảng và Luông Prabang triển khai đánh du kích.

    Phần lớn binh lực của các đại đoàn 312, 304 lần lượt kín đáo tập kết ở vùng Tây Bắc và Tây Phú Thọ, đại đoàn 320 tập kết giữa phủ Nho Quan và Thanh Hóa chuẩn bị khi bộ đội cơ động của quân Pháp ở đồng bằng sông Hồng, tiến theo hướng Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên, Thanh Hoá v.v.. dụ địch vào sâu, tiêu diệt một bộ phận của chúng.

    Đồng thời với tiến quân lên Tây Bắc, 1 trung đoàn thuộc đại đoàn 304 và 1 trung đoàn thuộc đại đoàn 325 lần lượt tiến quân sang Trung Lào theo quốc lộ 8 và quốc lộ 12. Sau khi hai trung đoàn hợp lại, xem t́nh h́nh tấn công chiếm Thà Khẹt, thị trấn quan trọng ở Trung Lào cắt đứt pḥng tuyến của địch trên quốc lộ 13 và sông Mêkông.

    Đồng thời với tiến quân lên Thượng Lào, cử một tiểu đoàn tăng cường để phối hợp với cán bộ đảng, chính quyền quân đội triển khai công tác ở vùng mới, cắm vào vùng đồng cao nguyên Bô Lô Ven – Hạ Lào. Đồng thời, hai trung đoàn của Liên khu 5 đánh chiếm vùng bắc cao nguyên Tây Nguyên, sau đó tiến về phía tây tạo nên thế Nam Bắc đánh kẹp Hạ Lào.

    Kế hoạch tác chiến này thể hiện tương đối đầy đủ kiến nghị của Mao Trạch Đông về kế hoạch chiến lược đặt cơ sở thắng lợi cho toàn bộ tác chiến tấn công mùa đông và trận quyết chiến Điện Biên Phủ về sau :

    Để thực hiện thuận lợi kế hoạch tác chiến mùa đông này, từ 19-24 tháng 11, Tổng Quân uỷ QĐNDVN họp hội nghị cán bộ cấp cao. Đây là cuộc hội nghị quân sự quy mô lớn nhất trong chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, đến dự hội nghị không chỉ có cán bộ cao cấp của bộ đội tham gia chiến đấu mà c̣n có các đồng chí phụ trách các chiến khu Trung Bộ và Nam Bộ. Lănh đạo và cố vấn của Đoàn cố vấn quân sự cũng được mời dự hội nghị.

    Tại hội nghị, Vơ Nguyên Giáp trước tiên tuyên bố kế hoạch tác chiến tấn công mùa đông, và động viên ngắn gọn. Sau đó đi vào thảo luận. Trong thảo luận, những người dự hội nghị tuy nhất trí bày tỏ ủng hộ kế hoạch tác chiến này, nhưng vẫn bộc lộ tư tưởng ngại khó của một số người nhận thức mơ hồ và nhấn mạnh khó khăn quá mức. Ngày thứ hai hội nghị, tức 20/11, không quân Pháp thả lính dù chiếm đóng Điện Biên Phủ. Được tin, vấn đề đối xử với t́nh h́nh sau đấy như thế nào, trở thành vấn đề được mọi người quan tâm chú ư.

  5. #35
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Hồi kí cố vấn Trung Quốc (3)
    ĐỒNG CHÍ VI QUỐC THANH
    TRONG VIỆN TRỢ VIỆT NAM
    ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP

    Vu Hoá Thầm
    bản dịch của DƯƠNG DANH DY
    P6



    Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh cho rằng, mục đích địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là âm mưu ngăn chặn quân đội Việt Nam giải phóng hoàn toàn Tây Bắc và tiến quân lên Thượng Lào. Đây là một việc tốt, tạo thời cơ có lợi cho quân đội Việt Nam, cũng làm cho lực lượng cơ động của địch càng phân tán hơn. Qua trao đổi với Vơ Nguyên Giáp, đi đến nhận thức nhất trí. Ngày 23, Vơ Nguyên Giáp phát biểu tổng kết hội nghị. Đồng chí sắp xếp phát biểu hôm kết thúc hội nghị. Vi Quốc Thanh tuân theo chỉ thị của Mao Trạch Đông muốn đồng chí làm nhiều công tác tư tưởng đối với cán bộ cao cấp quân đội Việt Nam, đă chuẩn bị đầy đủ.

    Ngày 24, hội nghị vào tiến hành trong hội trường lều tre của Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam. Vơ Nguyên Giáp nói mấy câu mở đầu, sau đó mời Vi Quốc Thanh lên phát biểu. Vi Quốc Thanh mỉm cười, gật đầu đứng dậy bước lên bục phát biểu với giọng nói chắc nịch rơ ràng : “ Thưa các đồng chí ! Tại hội nghị này kế hoạch tác chiến mùa đông được Trung ương Đảng Lao động phê chuẩn, Vơ Tổng tư lệnh tuyên bố và hai lần phát biểu của đồng chí đều rất tốt, nói rất toàn diện, tôi hoàn toàn tán thành ”.

    Tiếp đó, đồng chí nêu lên ngắn gọn chủ đề của bài phát biểu lần này : “ Trung ương Đảng Lao động quyết định đặt hướng chính của tác chiến mùa đông này ở vùng Tây Bắc, tiêu diệt địch ở Lai Châu, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc, quyết sách này rất đúng đắn ”.

    Khi phiên dịch tiếng Việt dịch đoạn này, đồng chí liếc nh́n quanh hội trường. Hội trường rất yên lặng. Đồng chí biết mọi người đang chờ nghe đồng chí nói tiếp. Đồng chí không có bài viết sẵn, cũng không có đề cương, nội dung muốn nói hoàn toàn nằm trong đầu đồng chí. Đây là thói quen được rèn luyện từ bao nhiêu năm. Vi Quốc Thanh nói tiếp : “ Vùng Tây Bắc tuy núi cao vực sâu, đất đai cằn cỗi, dân cư thưa thớt, nhưng đó là một căn cứ chiến lược quan trọng. Giải phóng hoàn toàn Tây Bắc, th́ có thể nối liền với liên khu Việt Bắc lưng dựa vào Trung Quốc, nam tiếp giáp Lào, có lợi cho mở chiến trường Thượng Lào, tiến tới tiến xuống Trung Lào, Hạ Lào cho đến Cao Miên và Nam Bộ Việt Nam, có thể đập tan mộng tưởng của Navarre âm mưu củng cố hậu phương chiến lược của ông ta, tiến tới tập trung binh lực quyết chiến với chúng ta ở Bắc Bộ. Nếu Mỹ nhúng chân thêm vào Đông Dương, tiến hành can thiệp quân sự th́ chúng ta có khu vực xoay sở khá rộng lớn để đọ sức với chúng. Có thể nói, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc là một bước then chốt quan hệ đến phát triển của toàn bộ cuộc chiến từ nay về sau là một bước then chốt đánh bại bọn xâm lược Pháp, đập tan âm mưu can thiệp của đế quốc Mỹ ”.

    Nói đến đây, đồng chí chuyển đầu đề câu chuyện : “ Nghe nói có những đồng chí c̣n có tư tưởng này nọ đối với việc lên vùng biên cương xa xôi Tây Bắc, Thượng Lào tác chiến, nhấn mạnh khó khăn này nọ. Cho rằng nên đặt lực lượng chủ yếu vào tấn công cứ điểm boong ke của địch ở châu thổ sông Hồng (công sự bê tông cốt thép địch xây xung quanh châu thổ sông Hồng), đánh chiếm vùng châu thổ sông Hồng, mới thực hiện được tổng phản công, giành thắng lợi chiến tranh chống Pháp. Ư muốn của các đồng chí đó rơ ràng là rất tốt. Các đồng chí đó muốn đi đường thẳng, sớm giành thắng lợi kháng chiến. Nhưng con đường này e khó đi lọt. Đây là chỗ mạnh nhất của quân Pháp ở Đông Dương, không chỉ có số lớn bộ đội tinh nhuệ, mà c̣n giao thông thuận tiện, có lợi cho bộ đội cơ giới hoá của địch vận động. Điều kiện trang bị kỹ thuật hiện nay của quân đội nhân dân rất bất lợi cho tiến hành tác chiến công kích quy mô tương đối lớn. Chúng ta đă có bài học kinh nghiệm về mặt này. Tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, tránh chỗ thực, đánh chỗ hư là một nguyên tắc quan trọng của các nhà quân sự các thời đại trước.

    Rất nhiều địa phương Tây Bắc, Thượng, Trung Hạ Lào, cho đến Cao Miên và Nam Bộ, Trung Bộ Việt Nam, đều là những vùng pḥng ngự của địch mỏng yếu, chúng ta chĩa mũi nhọn tấn công vào những địa phương trên, biến hậu phương chiến lược của địch thành chiến trường mới th́ có thể điều động địch, phân tán lực lượng cơ động của địch, không ngừng tiêu diệt và tiêu hao địch, từ đó thay đổi hơn nữa t́nh thế chiến lược của địch, tạo điều kiện cuối cùng tấn công đánh lấy đồng bằng sông Hồng. Thưa các đồng chí đó là con đường quanh co khúc khuỷu, nhưng nó là con đường tất yếu để đi đến thắng lợi cuối cùng ”.

    Tiếp đó, Vi Quốc Thanh nói đến kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc : “ Cách mạng Trung Quốc đă đi con đường quanh co khúc khuỷu như thế. Căn cứ địa Tỉnh Cương Sơn và căn cứ địa Trung ương lấy Thụy Kim làm trung tâm do Mao Chủ tịch lănh đạo mở ra đều ở vùng núi xa xôi, nghèo nàn giáp giới mấy tỉnh. Năm 1935, Hồng quân trải qua cuộc Trường chinh hai vạn năm ngh́n dặm đến Thiểm Bắc thành lập khu Thiểm Cam Ninh lấy Diên An làm trung tâm. Nơi đây là cao nguyên hoàng thổ, đất đai cằn cỗi, nhân dân nghèo khó, nhưng Mao Chủ tịch, Trung ương đảng ở Diên An 13 năm liền, ở đây lănh đạo toàn bộ cuộc chiến tranh chống Nhật và chiến tranh giải phóng thời kỳ đầu, về sau chỉ cần thời gian hơn một năm đă đánh bại Tưởng Giới Thạch, giành thắng lợi trong cả nước. Đó là con đường thành công nông thôn bao vây thành thị, cuối cùng đánh lấy thành thị ”.

    Vi Quốc Thanh tiếp tục nói : “ Kháng chiến của Việt Nam cũng đi con đường như thế. Theo bố trí tác chiến mùa Đông năm nay của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, quyết định vạch ra chính là thể hiện cụ thể con đường này, giải phóng Tây Bắc trước, rồi tiến quân sang Thượng Lào và từng bước tiến xuống Trung – Hạ Lào, cho đến Cao Miên và Nam Bộ, Việt Nam, ở đấy làm cho chúng đảo điên nghiêng ngả, làm cho Navarre một ngày cũng không được yên, không thể không phân tán binh lực cơ động của y, như vậy sẽ xuất hiện rất nhiều cơ hội tiêu diệt địch, có thể từng bước làm suy yếu địch, làm cho ḿnh mạnh lên cải thiện trang bị kỹ thuật của quân đội nhân dân, nâng cao tố chất quân chính của bộ đội. Đến lúc đó, có thể chắc chắn tiêu diệt địch ở đồng bằng sông Hồng, giành thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến ”.

    Cuối cùng, Vi Quốc Thanh nói : “ Thưa các đồng chí ! Được sự ủng hộ đế quốc Mỹ, Navarre đang từng bước thực thi, ông ta được Mỹ viện trợ nhiều hơn, tăng cường trên trăm tiểu đoàn quân nguỵ, tổ chức hơn 80 tiểu đoàn bộ đội cơ động, đang tiến hành càn quét qui mô lớn tại các vùng chiếm đóng ở Nam bộ, Trung bộ và Bắc bộ và chuẩn bị tiến vào vùng giải phóng. Mấy ngày gần đây, Navarre lại cho lính nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, khí thế hung hăng. Nhưng y mừng quá sớm. Sắp tới đây cuộc tấn công chúng ta bắt đầu th́ sẽ đánh cho hắn không kịp trở tay, rối loạn lung tung, hết phương ứng phó. Nếu Navarre kiên quyết giữ Điện Biên Phủ, tất nhiên cũng không thoát khỏi số phận bị tiêu diệt. Mà điều đó phải dựa vào người chỉ huy các cấp chỉ huy tài t́nh, dựa vào cán bộ chiến sĩ bộ đội anh dũng thiện chiến. Chúng tôi tin tưởng các đồng chí dũng cảm gánh vác nhiệm vụ nặng nề này. Chúng tôi xin chúc các đồng chí thắng lợi dễ dàng, mă đáo thành công ”.

    Phát biểu của Vi Quốc Thanh thỉnh thoảng nổi lên từng tràng vỗ tay nhiệt liệt. Ư kiến sâu sắc, phân tích thấu đáo đó của Vi Quốc Thanh không thể không làm cho các đồng chí có tư tưởng này nọ chân thành cảm phục. Buổi nói chuyện của đồng chí Vi Quốc Thanh có tác dụng tích cực với thống nhất tư tưởng của cán bộ cao cấp quân đội Việt Nam. Sau khi kết thúc hội nghị quân sự, Vi Quốc Thanh được biết quân Pháp tiếp tục tăng viện binh lực cho Điện Biên Phủ, gấp rút xây công sự, mở sân bay, tích trữ vật tư quân sự, đồng thời tăng 6 tiểu đoàn cho Thượng Lào, đánh chiếm các nơi Mường Khè, Mường Khay v.v.. xây dựng pḥng tuyến sông Mă Việt Nam để tiếp ứng cho quân đóng giữ Điện Biên Phủ.

    Dấu hiệu bọn địch cố giữ Điện Biên Phủ là rất rơ ràng. Sau khi Vi Quốc Thanh và Vơ Nguyên Giáp bàn tính, quyết định điều chỉnh kế hoạch tác chiến tiến quân lên Tây Bắc. Chia toàn bộ cuộc tác chiến Tây Bắc làm hai bước : đánh Lai Châu trước, đánh Điện Biên Phủ sau. Đồng thời quyết định điều thêm bộ binh, trọng pháo, cao xạ pháo, công binh v.v.. dự trù vật tư tác chiến để bảo đảm nhu cầu tấn công Điện Biên Phủ. Vi Quốc Thanh điện báo kế hoạch điều chỉnh cho Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Quân uỷ Trung ương lập tức trả lời tán thành và đồng ư giải quyết vấn đề cung cấp vật tư cần thiết cho tấn công Điện Biên Phủ.

    Ngày 6/12, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam triệu tập hội nghị, thảo luận quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, phê phán kế hoạch tác chiến nói trên của Tổng Quân uỷ và quyết định thành lập Đảng uỷ và Bộ chỉ huy tiền phương Điện Biên Phủ do Vơ Nguyên Giáp làm Bí thư và Tổng chỉ huy. Sau khi kết thúc hội nghị quân sự, các bộ đội chủ lực quân đội Việt Nam lần lượt tiến vào vùng tác chiến đă định. Trên đường hành quân lên Tây Bắc, dại đoàn 316 được biết bọn địch ở Lai Châu ngày 7/12 rút về Điện Biên Phủ, lập tức tuân theo mệnh lệnh của Bộ chỉ huy tiền tuyến quân đội nhân dân truy kích bọn địch, lần lượt tiêu diệt tổng cộng 24 đại đội. Tàn quân địch chạy về Điện Biên Phủ toàn bộ vùng Lai Châu được giải phóng. Tiếp đó, Bộ chỉ huy tiền phương QĐNDVN ra lệnh cho các đại đoàn 316, 308 tiến xuống phía Nam bao vây Điện Biên Phủ.

    Trung đoàn 66 đại đoàn 304 tiến xuống phía Tây dọc quốc lộ 8 và trung đoàn 101 đại đoàn 325 thiếu một tiểu đoàn được đưa xuống Hạ Lào tiến xuống phía tây dọc quốc lộ 12, ngày 21, 22 tháng 12 lần lượt tấn công cứ điểm của địch ở Trung Lào, trong mấy ngày ngắn ngủi, tiêu diệt hơn 3 tiểu đoàn cơ động Âu – Phi, tất cả hơn 2200 tên. Quân địch ở Trung Lào khiếp đảm kinh hoàng, bỏ trận địa lũ lượt tháo chạy. Bộ đội Việt Nam rất nhanh tiến đến quốc lộ 13 và sông Mêkông. Lúc này bọn địch ở Thà Khẹt tỉnh lỵ của Khăm Muộn bỏ chạy về phía nam. Quân đội nhân dân lập tức giải phóng Thà Khẹt và phần lớn vùng Trung Lào, buộc quân Pháp nhanh chóng điều động binh lực tăng viện cho Trung Lào, xây dựng tập đoàn cứ điểm ở Xơ Nua và chiếm lại Thà Khẹt. Sau đó quân đội nhân dân chuyển sang củng cố vùng mới giải phóng và làm đường xuống phía nam, đồng thời thừa cơ xuất binh diệt địch.

    Ngày 20/1/1954, quân Pháp dùng binh lực của sáu trung tâm cơ động mở cuộc tấn công lớn vào Phú Yên của Liên khu 5 Trung Bộ Việt Nam, ḥng thực hiện mục đích của chúng chiếm toàn bộ Nam Trung Bộ. Liên khu 5 điều động số ít binh lực ứng phó với quân địch chính diện, tập trung 2 trung đoàn chủ lực, theo bố trí sẵn của Bộ Tổng Tham mưu, ngày 24/1 mở cuộc tấn công vào quân địch ở bắc Tây Nguyên. Trận đấu thắng lợi, sau khi tấn công phá liền ba cứ điểm, nhanh chóng mở rộng chiến quả. Bọn địch đóng giữ lũ lượt bỏ chạy. Ngày 5/2, quân đội nhân dân giải phóng thị xă Kon Tum, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở bắc Tây Nguyên. Sau đó tiếp tục tiến xuống phía nam tiến sát quốc lộ 19, và tập kích thị xă Pleiku. Đến đây quân đội nhân dân đă giải phóng 16.000 km2 đất và 200.000 dân. Quân Pháp không thể không ngừng tấn công Phú Yên, cấp tốc điều động binh lực tăng cường lực lượng pḥng ngự cho thị xă Pleiku và các cứ điểm ở nam Tây Nguyên để ngăn chặn quân đội nhân dân tiếp tục tiến xuống phía Nam.

    Tiểu đoàn tiền trạm của trung đoàn 101 được lệnh tiến xuống Hạ Lào, cuối tháng 1/1954 tấn công Attopeu tỉnh lỵ của Mường May, một tiểu đoàn đóng giữ ở đây bị tiêu diệt hoàn toàn. Quân địch đóng giữ các nơi ở Hạ Lào chỉ có viên chỉ huy là người Pháp, c̣n lại đều là nguỵ quân Lào, sức chiến đấu rất yếu. Quân đội nhân dân thừa thắng tiến lên, nhanh chóng giải phóng toàn tỉnh Mường May và phần lớn tỉnh Saravan (chiếm khoảng 2/3 tổng diện tích Hạ Lào) và hơn 200.000 dân làm cho nơi đây nối liền với vùng bắc Tây Nguyên Liên khu 5 mới giải phóng, h́nh thành t́nh thế chiến lược vô cùng có lợi.

    Ban đầu khi nghiên cứu bố trí tác chiến mùa đông, Đoàn cố vấn từng nêu ra đưa một trung đoàn binh lực xuống Hạ Lào. Phía Việt Nam sợ nơi đó thiếu lương thực, bộ đội khó sống, chỉ đưa 1 tiểu đoàn, không ngờ 1 tiểu đoàn này lại giành được thành tích chiến đấu như vậy, thương vong lại rất ít, cung cấp lương thực cũng hoàn toàn không có vấn đề ǵ. Điều đó làm cho Vơ Nguyên Giáp tăng thêm ḷng tin ra lệnh điều động thêm đoàn bộ trung đoàn 101 và 1 tiểu đoàn khác đang hoạt động ở Trung Lào xuống Hạ Lào, để tăng cường sự lănh đạo thống nhất đối với lực lượng vũ trang Hạ Lào, giúp chính phủ kháng chiến Lào xây dựng chính quyền, củng cố vùng mới giải phóng và tiếp tục phát triển xuống phía Nam.

    Vi Quốc Thanh tán thành chủ trương này. Sau khi trung đoàn 101 đến Hạ Lào, tiếp tục tiến quân xuống phía nam, giải phóng vùng đồng bằng Cao Miên bao gồm VeunSai và SiemBang, nối liền vùng này với vùng mới giải phóng Hạ Lào. Trong thời gian này, một bộ phận chủ lực quân đội nhân dân ở địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, Trung – Nam Bộ Việt Nam phối hợp với bộ đội địa phương dân quân; du kích tích cực bắt đầu chống càn quét, và chủ động đánh địch, nhổ các cứ điểm của địch, phá đường giao thông và cơ sở quân sự, đạt được thắng lợi không nhỏ.

    Tấn công mùa đông của quân đội Việt Nam đạt được thắng lợi rất lớn : vùng Tây Bắc trừ ốc đảo Điện Biên Phủ đă hoàn toàn được giải phóng với binh lực có hạn, trong một thời gian rất ngắn, đă giải phóng một vùng rộng lớn bắc Tây nguyên, Trung, Hạ Lào và đồng bằng Cao Miên có ư nghĩa chiến lược quan trọng, tiêu diệt được rất nhiều quân địch, thu được số lớn vật tư quân sự, cơ bản thực hiện được kế hoạch khai thông tuyến giao thông chiến lược Nam Bắc Đông Dương, kiểm soát đông tây đường số 6, 7, 8, 9, 12, 19 của Việt Nam thông sang Trung, Hạ Lào và Campuchia đến quốc lộ 6. Tuyến giao thông chiến lược của quân Pháp ở Đông Dương hầu như bị cắt đứt toàn bộ. Điều đó làm rối loạn hoàn toàn bố trí chiến lược của Navarre, buộc ông ta không ngừng phân tán binh lực cơ động, ứng phó bị động, mệt bở hơi tai, làm cho kế hoạch quân sự của ông ta giải quyết vấn đề Đông Dương nam trước bắc sau trở thành bong bóng. Điều đó đă tạo điều kiện hết sức thuận lợi về chiến lược cho quân đội nhân dân giành thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ.

    Quyết chiến Điện Biên Phủ (trung)

    Điện Biên Phủ là vùng ḷng chảo nam bắc dài khoảng 18km, đông tây rộng khoảng 6-8 km. Nam cách Lào khoảng 30km, đông cách Hà Nội hơn 300 km. Sau khi quân Pháp nhảy dù xuống đây ngày 20/11/1953, chúng đuổi hết cư dân yên lành sống ở đây, lần lượt tăng thêm binh lực, dùng máy bay vận chuyển vật liệu xây dựng, chặt phá cây rừng bừa băi, xây đắp công sự làm cho Điện Biên Phủ trở thành tập đoàn cứ điểm có hệ thống pḥng ngự hoàn chỉnh. Nơi đây có tất cả 49 cứ điểm, chia làm 8 cụm cứ điểm, 3 phân khu pḥng ngự : phân khu trung tâm Mường Thanh là trụ sở cơ quan chỉ huy của quân Pháp nằm giữa thung lũng, trận địa chính của pháo binh, kho hậu cần, sân bay chủ yếu và 2/3 binh lực đều tập trung ở đây.

    Phân khu bắc bao gồm hai cụm cứ điểm ở đồi Độc Lập và Bản Kéo ở bắc và tây bắc Mường Thanh, cùng với cụm cứ điểm Him Lam ở đông bắc phân khu trung tâm Mường Thanh trở thành b́nh phong phía bắc của Điện Biên Phủ. Vùng Hồng Cúm cách nam Mường Thanh khoảng 5km là phân khu nam, cũng có sân bay trận địa pháo binh, làm nhiệm vụ ngăn chặn quân đội nhân dân tấn công từ phía Nam. Mỗi cụm cứ điểm của quân Pháp có nhiều tầng hỏa lực hỗ trợ, đào giao thông hào chằng chịt. Xung quanh cứ điểm có một vùng làm vật cản 40-200m, trong vùng đó chằng nhiều lớp dây thép gai và lưới điện và chôn ḿn dầy đặc. Đầu tháng 3/1954, địch lần lượt tăng thêm binh lực lên 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, lính dù, cùng với 2 tiểu đoàn pháo 105 ly, 1 đại đội pháo 155 ly, 2 đại đội súng cối 120, 1 tiểu đoàn công binh và 1 đại đội xe tăng (10 chiếc), 1 phi đội máy bay (14 chiếc), tổng binh lực khoảng 13.000 tên. Xây 2 sân bay bắc, nam. Hằng ngày địch sử dụng 100-200 lần chiếc máy bay chờ 100-300 tấn vật tư quân dụng đến Điện Biên Phủ.

    Một số tướng lĩnh cao cấp của Pháp – Mỹ từng thị sát Điện Biên Phủ cho đây là “một pháo đài bất khả xâm phạm” là “Verdun của Đông Nam Á”. Quân địch cậy thế bộ đội tinh nhuệ đông, hoả lực mạnh, công sự kiên cố, bố pḥng nghiêm ngặt nên không lo sợ ǵ. Navarre, Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương lên tiếng phải “giữ vững cứ điểm này bằng bất cứ giá nào”, phải “nghiền nát” bộ đội Việt Nam ở Điện Biên Phủ.

    Trung hạ tuần tháng 12/1953, đại đoàn 316 và 308 quân đội Việt Nam nối tiếp nhau đến và bao vây Điện Biên Phủ. Tiếp theo, do Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN điều thêm bộ đội trọng pháo, bộ đội cao xạ pháo được Trung Quốc trang bị huấn luyện cũng lục tục tiến về Điện Biên Phủ. Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh dẫn nhân viên Ban chỉ huy cố vấn cũng theo Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam ra tiền tuyến. Từ tây Yên Bái chỉ có một con đường lên Điện Biên Phủ. Pháo binh ra trận, dân công vận tải đều đưa vào con đường này. Để đề pḥng máy bay địch, bộ đội và dân công đều ngày nghỉ đêm đi. Chiều xuống người gánh, xe chở rất chen chúc. Vi Quốc Thanh mang theo phiên dịch và bảo vệ ngồi trên xe jeep, chỉ có thể lăn bánh từ từ. Mỗi lần gặp máy bay địch bắn phá, ôtô phải tắt đèn giảm tốc độ. Gặp phải đoạn đường nguy hiểm chưa gỡ hết bom nổ chậm do máy bay địch ném xuống, phải xuống xe đi ṿng. V́ vậy, xe đi một đêm không nổi 100 dặm. Trời vừa hừng sáng phải chui vào rừng sâu ẩn nấp. Vi Quốc Thanh là người nóng tính, hết sức sốt ruột với tốc độ hành quân này, nhưng không biết làm sao được.

    Khi sắp đến gần tiền tuyến, có một đoạn đường, pháo tầm xa của địch thỉnh thoảng bắn vài phát để phong toả. Phía Việt Nam sắp xếp ôtô chở vật tư của đoàn cố vấn băng qua đoạn đường này, c̣n người th́ đi ṿng theo đường ṃn, để bảo đảm an toàn. Để đi nhanh ra tiền tuyến, Vi Quốc Thanh kiên tŕ ngồi xe băng qua. Khi xe băng qua chỗ phong toả này bỗng nhiên có tiếng nổ to, một phát đạn pháo nổ ở gần đó. Vi Quốc Thanh b́nh tĩnh ra lệnh cho lái xe không nên hoảng hốt, lái nhanh đi qua. Sau khi đến đích, kính cửa sau ôtô bị mảnh đạn xuyên một lỗ. Khi Vơ Nguyên Giáp đến thăm, nghe được chuyện này, vội nói : “ Quá nguy hiểm ! từ nay về sau bố trí hành động không thể nghe đồng chí nữa, đồng chí phải tuyệt đối nghe tôi ”. Vi Quốc Thanh cười nói : “ Vâng ! Vâng ! Từ nay về sau tuân lệnh ”.

    Thượng tuần 1/1954, bộ đội được Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam điều thêm tiếp tục đến mặt trận Điện Biên Phủ. Lúc này lực lượng QĐND Việt Nam bao vây Điện Biên Phủ có các đại đoàn bộ binh 308, 312, 316 và 304 (thiếu 1 trung đoàn) và đại đoàn công pháo binh 351 (gồm 1 trung đoàn lựu pháo, 1 trung đoàn sơn pháo, 1 trung đoàn công binh, 4 đại đội súng cối, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ, 2 tiểu đoàn súng máy cao xạ), tổng binh lực hơn 40.000 người, chiến ưu thế tuyệt đối về binh lực. Quân đội nhân dân vừa trải qua chỉnh quân chính trị và huấn luyện quân sự, tố chất quân chính nâng cao rơ rệt. Quân địch đóng giữ Điện Biên Phủ tuy lực lượng tinh nhuệ đông, công sự khá kiên cố, nhưng xa hậu phương, bị bao vây bốn bề, rất cô lập. V́ vậy, quân đội nhân dân có điều kiện cơ bản rất tốt để giành thắng lợi chiến dịch. Nhưng do quân đội nhân dân lâu nay chưa đánh công kiên quy mô lớn nên đứng trước tập đoàn cứ điểm kiên cố của đich, có những cán bộ kể cả cán bộ cao cấp nào đó, thấy quá nhiều khó khăn, thiếu ḷng tin. Căn cứ vào t́nh h́nh đó, Vi Quốc Thanh dẫn đầu Đoàn cố vấn quân sự đă làm công tác chuẩn bị trước khi chiến đấu.

    Thông qua trao đổi riêng với Vơ Nguyên Giáp và tham gia hội nghị của Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam, Vi Quốc Thanh giúp phân tích t́nh h́nh, nghiên cứu cách đánh, đi đến thống nhất tư tưởng, xác định mục đích quyết tâm tác chiến. Đồng thời lợi dụng mọi cơ hội, làm công tác tư tưởng đối với cán bộ trung cao cấp quân đội Việt Nam. Tại hội nghị cán bộ trung đoàn trở lên các đơn vị tham gia tác chiến, do Bộ chỉ huy tiền phương QĐND Việt Nam triệu tập ngày 14/1/1954, khi được mời phát biểu ư kiến, Vi Quốc Thanh nêu lên sự thật đầy đủ, nói rơ phương châm tác chiến của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Tổng Quân uỷ là hoàn toàn đúng đắn. Đồng chí nêu ví dụ nói từ khi Pháp chiến tranh xâm lược Việt Nam đến nay đă thay 7 Tổng chỉ huy, c̣n Tổng Tư lệnh của chúng ta vẫn là Tổng Tư lệnh. Điều đó nói lên địch nhiều lần thất bại, chúng ta liên tiếp thắng lợi. Nói lên sự lănh đạo của Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ là hoàn toàn có thể tin cậy được. Đồng chí vạch rơ, quân đội nhân dân có điều kiện, có khả năng giành thắng lợi của chiến dịch công kiên qui mô chưa từng có này. Đồng chí nói – các đơn vị bộ đội chủ lực quân đội nhân dân đă trải qua rèn luyện chiến đấu thực tế và huấn luyện quân chính. Sức chiến đấu đều được nâng cao rơ rệt, nhất là đại đoàn 308 và 312 càng trưởng thành là bộ đội có sức chiến đấu kiên cường, có thể nói một là bộ đội thép, một là bộ độ sắt, chúng ta có bộ đôi sắt thép sẽ đánh đâu thắng đó. Đồng chí cổ vũ cán bộ các cấp khắc phục mọi khó khăn, đánh tốt trận này, làm cho quân đội nhân dân tiến lên một bước lớn. Phát biểu của Vi Quốc Thanh có tác dụng cổ vũ ư chí chiến đấu, tăng thêm ḷng tin.

    Lúc này, khí thế của quân Pháp ở Điện Biên Phủ vẫn rất hung hăng. Một hôm, phiên dịch của Vơ Nguyên Giáp cầm mấy tờ truyền đơn của máy bay quân Pháp rải xuống đến gặp Vi Quốc Thanh. Truyền đơn là lá thư viết bằng tiếng Việt của De Castries gửi Đại tướng Vơ Nguyên Giáp, nội dung đại ư là : “ Tôi biết bộ đội của ông đă bao vây Điện Biên Phủ, nhưng v́ sao không tiến công ? Tôi đă kiên nhẫn chờ đợi. Nếu ông có gan dám mở tấn công, th́ xin bắt đầu đi ! Tôi đang chờ đón những thách thức của ông, quyết một phen thắng bại với ông ! ”

    Vi Quốc Thanh nghe người phiên dịch đọc hết tờ truyền đơn cười nói : “ Lăo De Castries này ! Ngông cuồng lắm ! Hăy đợi đấy. Đến lúc chiến dịch mở màn, là lúc hắn khóc đấy ”. Phiên dịch báo cáo nói : “ De Castires là một danh tướng của Lục quân Pháp là cấp dưới cũ của Navarre, đă qua trường quân sự, là học viên ưu tú. Hắn vốn quân hàm Đại tá, gần đây 8 vừa được phong Thiếu tướng ”. Vi Quốc Thanh nói : “ Thế th́ hăy để xem chúng ta học được ǵ ở học viên ưu tú này có tài chỉ huy đến đâu ”.

    Đứng trước kẻ địch điên cuồng, vận dụng cách đánh nào mới giành thắng lợi ? Khi quân địch đóng giữ không quá 10 tiểu đoàn, cấu trúc công sự chưa hoàn thiện lắm, Vi Quốc Thanh từng nghĩ, quân đội Việt Nam có trọng pháo và pháo cao xạ trong điều kiện khống chế được sân bay địch và kiềm chế hỏa pháo của địch có thể áp dụng cách đánh nhanh thắng nhanh, chủ lực một cú đột phá, chọc thẳng vào trong ḷng đich, tiêu diệt trước cơ quan chỉ huy, trận địa pháo binh và quân dự bị của Pháp “nở hoa từ trung tâm”, sau đó đóng từ trong đánh ra, giải quyết quyết nhanh chống cuộc chiến đấu. Vơ Nguyên Giáp tán thành ư kiến này. Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam lập tức tiến hành bố trí chiến dịch theo ư đồ đó, dự định khoảng 20/1 mở cuộc tấn công.

    Nhưng khi bộ đội trọng pháo của quân đội Việt Nam đến gần Điện Biên Phủ, trước mặt không có con đường nào để đi, không thể nào tiến vào trận địa. Mặc dù Vơ Nguyên Giáp ra lệnh đại đoàn 312 giúp mở đường kéo pháo, nhưng do núi cao vực sâu, địa h́nh phức tạp, tiến triển chậm chạp, vẫn không thể nào tiến vào trận địa trước 20/1, do đó không thể không lùi thời gian bắt đầu chiến đấu. Bộ đội trọng pháo của quân đội Việt Nam được sự giúp đỡ rất lớn của đại đoàn 312 suốt ngày đêm đạp bằng mọi chông gai, mở đường, kéo pháo. Lúc này, Vi Quốc Thanh lại nảy ra ư nghĩ mới.

    Vùng Tây Bắc Việt Nam dân cư thưa thớt không có nhà dân có thể làm nơi nghỉ quân. Bộ đội Việt Nam ngày đêm đều đóng quân ngoài trời, chỉ có Đoàn cố vấn được chiếu cố đặc biệt, công binh chặt tre dựng nhà lá đơn sơ, để tránh gió mưa. Vi Quốc Thanh ở trong nhà lá mười mấy mét vuông trên sàn hầu như trải đầy bản đồ. Đồng chí thường nh́n chăm chú vào bản đồ suy nghĩ rất lâu.

    Một cú đột phá, chọc thẳng vào trong ḷng địch tiêu diệt cơ quan đầu năo của địch, làm rối loạn hệ thống chỉ huy của chúng, làm cho địch không đánh mà bị rối loạn, từ đó đánh nhanh thắng nhanh, giành toàn thắng, đó là một cách đánh áp dụng nhiều lần và nhiều lần thành công trong chiến tranh giải phóng. Nhưng cách đánh này vận dụng ở Điện Biên Phủ có thích hợp hay không ? Sau khi t́m hiểu kỹ hơn t́nh h́nh địch ở mặt trận, trong đầu Vi Quốc Thanh lúc nào cũng lởn vởn vấn đề này. Mắt chăm chú nh́n vào cứ điểm chi chít ở Điện Biên Phủ trên bản đồ, trong ḷng Vi Quốc Thanh tưởng tượng ra một t́nh huống phức tạp về cơ sở pḥng ngự của địch. Đồng chí nghĩ, quân đội Việt Nam thiếu kinh nghiệm đánh công kiên qui mô lớn, theo t́nh h́nh địch ta hiện nay, áp dụng cách đánh này th́ không nắm chắc phần thắng. Đánh không tốt, c̣n phải chịu thiệt hại lớn. V́ vậy, cần thay đổi phương châm tác chiến.

  6. #36
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Hồi kí cố vấn Trung Quốc (3)
    ĐỒNG CHÍ VI QUỐC THANH
    TRONG VIỆN TRỢ VIỆT NAM
    ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP

    Vu Hoá Thầm
    bản dịch của DƯƠNG DANH DY
    P7



    Biến đánh nhanh thắng nhanh thành đánh chắc thắng chắc, từ ngoại vi vào trung tâm, tiêu diệt địch từng cứ điểm một. Đợi điều kiện chín muồi, mới mở tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch đóng giữ. Như vậy, có thể làm cho quân đội Việt Nam ở vị thế chủ động và rút kinh nghiệm từ trong từng trận đánh. Muốn như vậy phải chuẩn bị tác chiến thời gian dài, các công tác chuẩn bị phải làm thêm, không thể mở tấn công ngay. Xung quanh Điện Biên Phủ hiện nay, có nhiều bộ đội như thế, làm thế nào mới có thể phát huy tác dụng? Ánh mắt của Vi Quốc Thanh lọt vào vùng Ô Giang nam Thượng Lào, phía tây nam Điện Biên Phủ. Đây là một pḥng tuyến hỗ trợ cho quân đóng giữ Điện Biên Phủ mà địch mới chiếm gần đây. Chiến tuyến tương đối dài, pḥng ngự tương đối yếu, cách Điện Biên Phủ không xa lắm. Lệnh cho đại đoàn 308 ở tây Điện Biên Phủ đi đánh vùng này, rất nhiều điều lợi : tiêu diệt bộ phận sinh lực địch, phân tán binh lực cơ động của địch, giải phóng một vùng rộng lớn, càng cô lập Điện Biên Phủ.

    Vi Quốc Thanh nghĩ đến đây trong ḷng bỗng nhiên phấn chấn, lập tức bước ra khỏi nhà, đến chỗ Mai Gia Sinh. Đồng chí và Mai Gia Sinh bàn tính tỉ mỉ ư nghĩ của ḿnh, Vi Quốc Thanh liền gọi điện thoại cho Vơ Nguyên Giáp, nói có việc cần muốn bàn. Vơ Nguyên Giáp đến ngay. Vi Quốc Thanh tŕnh bày khá tỉ mỉ ư nghĩa mới của ḿnh với Vơ Nguyên Giáp. Vơ Nguyên Giáp tỏ ư hoàn toàn tán thành thay đổi phương châm tác chiến. Nhưng việc cử đại đoàn 308 đi đánh thượng Lào, th́ ngỏ ư để đồng chí sau khi suy nghĩ hăy quyết định.

    Đại đoàn 308 là đại đoàn chủ lực số 1 của quân đội Việt Nam. Vơ Nguyên Giáp suy nghĩ đại đoàn 308 đi Thượng Lào là một nước cờ hay cũng nắm chắc thắng lợi, nhưng ở Điện Biên Phủ có hơn 10.000 quân Pháp, trang bị tốt, khí thế hung hăng, liên tục chủ động xuất kích nếu biết được đại đoàn 308 đi Thượng Lào, chúng xuất kích toàn diện th́ làm thế nào ? Quân ta có thể trụ nổi không ? Phần lớn đại pháo đă chuyển lên rồi, để tránh bị tổn thất cần phải đưa xuống, bộ đội sẽ có lời ta thán cũng sẽ ảnh hưởng đến tinh thần binh sĩ. Đồng chí mất ngủ, suy nghĩ một đêm. Ngày hôm sau, đồng chí đến gặp Vi Quốc Thanh, bày tỏ đồng ư đại đoàn 308 đi Thượng Lào tác chiến, đồng thời cũng nói rơ nỗi lo lắng của ḿnh. Nghe xong, Vi Quốc Thanh nói : “ Tôi thấy dù địch biết đại đoàn 308 đi Lào, chưa chắc dám xuất kích toàn diện. Nếu địch xuất kích toàn diện, chúng ta cũng có cách đối phó. Để tránh tổn thất có thể rút một số đại pháo đă chuyển lên là cần thiết, có thể nói rơ với bộ đội đại đoàn 312 vẫn phải tích cực mở đường chuẩn bị đưa đại pháo vào, nhất thiết không được lơ là. Bộ chỉ huy mặt trận cũng lùi về một ít, để bảo đảm an toàn ”. Vơ Nguyên Giáp yên tâm, tỏ ư tán thành sự sắp xếp đó. Đồng chí lập tức ra lệnh.

    Thay đổi phương châm tác chiến đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc thắng chắc, rất nhanh được Trung ương Đảng Lao động Việt Nam phê chuẩn và Quân uỷ Đảng Cộng sản Trung Quốc đồng ư. Ngày 27/1, Quân uỷ Trung ương điện trả lời Vi Quốc Thanh nêu rơ : “ Tấn công Điện Biên Phủ nên áp dụng chia cắt bao vây, tiêu diệt địch từng toán một. Mỗi lần tiêu diệt khoảng 1 tiểu đoàn, chỉ cần có thể tiêu diệt hoàn toàn bốn, năm tiểu đoàn th́ địch ở Điện Biên Phủ có thể dao động hoặc rút chạy về phía nam, hoặc tiếp tục tăng viện. Cả hai trường hợp đều có lợi cho chúng ta ” 9.

    Cách đánh, đánh chắc thắng chắc từng bước tiêu diệt địch này, lúc bấy giờ gọi một cách h́nh ảnh là “bóc măng”, tức là bóc từng lớp một, ăn từng miếng một, cuối cùng tiêu diệt toàn bộ quân địch. Ngày 26/1, đại đoàn 308 tiến đến Thượng Lào, có nhiệm vụ tiêu diệt địch đóng giữ dọc bờ nam Ô Giang, xem t́nh h́nh đánh lấy Luông Prabang. Bọn địch ở pḥng tuyến nam Ô giang nghe phong thanh tháo chạy. Đại đoàn 308 đuổi đánh dữ dội, trong 10 ngày tiêu diệt hơn 5 tiểu đoàn, giải phóng toàn bộ vùng lưu vực nam Ô Giang, tiến sát Luông Prabang. Navarre cấp tốc điều quân bằng máy bay từ đồng bằng Bắc Bộ và Điện Biên Phủ sang Luông Prabang và Mường Xay để chống đỡ. Đại đoàn 308 đă đạt mục đích tấn công Thượng Lào v́ binh lực địch tăng thêm, cung cấp lương thực khó khăn, nên không tấn công Luông Prabang nữa, hạ tuần tháng 2 trở về vùng tây Điện Biên Phủ.

    Đồng thời với đại đoàn 308 đi đánh Thượng Lào, Trung đoàn 148 quân đội Việt Nam tiến quân lên Phong Xa Ĺ, Thượng Lào, trung tuần tháng 2 giải phóng toàn bộ tỉnh Phong Xa Ĺ. Đến đây diện tích vùng giải phóng Thượng Lào lại mở rộng thêm 10.000 km2, nối liền với vùng Tây Bắc, Việt Nam. Quân địch đóng giữ Điện Biên Phủ càng thêm cô lập. Quân địch đóng giữ Điện Biên Phủ bố pḥng nghiêm ngặt, công sự kiên cố hoả lực mạnh mẽ, làm thế nào mới có thể chia cắt bao vây địch, nuốt gọn từng miếng một ? Đó là vấn đề Vi Quốc Thanh ngày đêm suy nghĩ. Vi Quốc Thanh có kinh nghiệm tác chiến phong phú và đă làm Tiểu đoàn trưởng công binh thời kỳ trường chinh, nghĩ đến biện pháp thao tác áp sát và hào sâu tiếp cận địch. Tức tổ chức bộ đội đào hào sâu, lợi dụng hào sâu chia cắt, bao vây, áp sát cứ điểm địch. Sau đó bất ngờ tấn công. Như vậy có thể giảm thương vong bộ đội, lâu ngày đánh chắc, thắng chắc. Mai Gia Sinh cũng tán thành phương pháp này. Vi Quốc Thanh nói : “ Hăy bàn với các cố vấn xem sao ”.

    Lúc này, vừa may cố vấn đại đoàn 308 Vu Bộ Huyết đến Ban chỉ huy báo cáo t́nh h́nh. Vu Bộ Huyết báo cáo tóm tắt t́nh h́nh đại đoàn 308 tác chiến ở Thượng Lào. Vi Quốc Thanh hỏi đồng chí : “ Đồng chí có cách ǵ đánh Điện Biên Phủ không ? ”. Vu Bội Huyết nói : “ Tôi nghĩ có thể dùng biện pháp áp sát. Tôi và Vương Thừa Vũ (đại đoàn trưởng 308), Lê Quang Đạo (chính uỷ 308) sau khi từ Thượng Lào trở về, ngày nào cũng tâm niệm làm thế nào để gặm cục xương cứng Điện Biên Phủ này. Tôi nêu ra trước biện pháp này, được các đồng chí ấy đồng ư, để bộ đội làm thí nghiệm trong ruộng lúa. Họ càm thấy biện pháp này được, chúng tôi lần lượt báo cáo lên ”. Mấy ngày hôm nay, Vi Quốc Thanh lại mắc bệnh đau đầu, trên trán mang một máy giải nhiệt bằng nhôm, tinh thần mệt mỏi. Lúc này đồng chí phấn khởi đứng lên nói không ngớt lời : “ Thế th́ tốt rồi ! Đồng chí nói tỉ mỉ xem nào ”. Tiếp đó, đồng chí lại tập trung tinh thần lắng nghe báo cáo tỉ mỉ của Vu Bộ Huyết trong ḷng đă nắm chắc.

    Ngày hôm sau, Vi Quốc Thanh chính thức đưa ra kiến nghị nói trên với Vơ Nguyên Giáp. Vơ Nguyên Giáp phấn khởi tiếp nhận, chỉ nêu ra, quân đội Việt Nam ngoài số ít công binh ra, lâu nay chưa trang bị công cụ thao tác áp sát, đó là một khó khăn thực tế. Vi Quốc Thanh điện gấp cho Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, yêu cầu nhanh chóng điều động số lượng lớn cuốc xẻng để đáp ứng nhu cầu khẩn cấp. Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam tuân theo chỉ thị của Vơ Nguyên Giáp vạch ra kế hoạch công tŕnh xây dựng toàn bộ trận địa và truyền đạt cho bộ đội. Vi Quốc Thanh triệu tập họp cố vấn các đại đoàn, yêu cầu họ giúp bộ đội tổ chức thực hiện. Đồng chí c̣n kết hợp t́nh h́nh địch trước mắt, giới thiệu với phía Việt Nam kinh nghiệm tác chiến công kiên của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giúp giải quyết các vấn đề chiến thuật cụ thể, để tăng thêm niềm tin thắng lợi cho bộ đội.



    Quyết chiến Điện Biên Phủ (hạ)

    Đến thượng tuần tháng 3/1954, quân đội Việt Nam bao vây Điện Biên Phủ đă gần 3 tháng. Trong thời gian này, ngoài việc tiến hành chuẩn bị chiến đấu quân đội nhân dân c̣n nhiều lần đánh lui các cuộc xuất kích quy mô nhỏ của địch đóng giữ Điện Biên Phủ, qua đó rèn luyện bộ đội. Vào lúc này, để chuẩn bị cho 5 nước Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Trung và đại biểu các nước có liên quan tham gia hội nghị Genève thảo luận vấn đề Triều Tiên và vấn đề Đông Dương, triệu tập vào giữa tháng 4, Chu Ân Lai nêu ra với Đoàn cố vấn quân sự : “ Để giành chủ động về ngoại giao, có thể tổ chức đánh mấy trận thắng đẹp ở Việt Nam như trước khi đ́nh chiến ở Triều Tiên không ? ”. Ngày 3/3, sau khi nhận được điện chỉ thị đó của Chu Ân Lai do Bộ Tổng Tham mưu chuyển đến, Vi Quốc Thanh cho rằng, để phối hợp với đấu tranh đàm phán ở hội nghị Genève, cần phải nỗ lực lớn nhất, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ.

    Lúc này, các mặt chuẩn bị của quân đội Việt Nam đă tương đối đầy đủ, lựu pháo và pháo cao xạ đă vào trận địa dự định điều kiện tấn công Điện Biên Phủ đă chín muồi. Sau khi Vi Quốc Thanh và Vơ Nguyên Giáp bàn bạc, quyết định ngày 13/3 bắt đầu nổ súng tấn công Điện Biên Phủ.

    Toàn bộ chiến dịch trải qua ba đợt.

    Tác chiến đợt 1, phát triển thuận lợi. Vi Quốc Thanh cho rằng, trận đầu có thể giành được thắng lợi hay không vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của toàn bộ chiến dịch và đối với quân đội nhân dân lâu nay chưa đánh công kiên quy mô lớn như thế này mà nói, th́ ảnh hưởng càng to lớn hơn. V́ vậy đồng chí dày công giúp đỡ Việt Nam tổ chức tác chiến đợt 1. Mục tiêu tác chiến là tấn công cụm cứ điểm ở Him Lam và đồi Độc Lập bắc Điện Biên Phủ mỗi nơi có 1 tiểu đoàn địch đóng giữ. Vi Quốc Thanh và phía Việt Nam nghiên cứu nhiều lần việc bố trí tác chiến, quyết định đại đoàn 312 và 308 với binh lực ưu thế tuyệt đối gấp nhiều lần địch, có pháo binh phối hợp và pháo binh của Bộ Tổng Tham mưu chi viện hoả lực, ngày 13 và đêm ngày 14/3 theo chỉ thị của Vi Quốc Thanh giúp đỡ cụ thể các bộ đội tấn công từ quan sát đến bố trí, từ chiến thuật đến kỹ thuật, từ chọn điểm xuất kích đến xây trận địa xuất phát, đều đă chuẩn bị đầy đủ, do đó cuộc chiến đấu phát triển thuận lợi.

    Đêm 13, hàng trăm khẩu đại bác của quân đội Việt Nam cùng gầm lên một lúc, đạn pháo gào thét bay tới sân bay, cụm pháo binh và cứ điểm Him Lam của quân Pháp. Máy bay địch bị lật ngửa, đường bay bị phá nát, trọng pháo bị kiềm chế, từng lô cốt một trên đồi Him Lam bị phá sập. Sau đợt pháo gầm, các đội viên đột kích của đại đoàn 312 qua thao tác áp sát đă đào hào đến tận mũi quân địch, lập tức xung phong, nhanh chóng đột phá tiền duyên. Trải qua giành giật tại trung tâm, 11g30’ đêm 13 đánh chiếm toàn bộ đồi Him Lam, tiêu diệt sạch một tiểu đoàn địch.

    Đêm 14, một trung đoàn bộ binh của đại đoàn 308 và một trung đoàn bộ binh của đại đoàn 312 tấn công đồi Độc Lập. Chiến đấu đến rạng sáng hôm sau, quân đội Việt Nam đă cắm lá cờ mang ḍng chữ “quyết chiến quyết thắng” trên đỉnh đồi Độc Lập, tiêu diệt thêm một tiểu đoàn địch, đánh lui 1 tiểu đoàn viện binh địch, phá huỷ 1 xe tăng, bắt hơn 30 tù binh. Trận đầu kết thúc thắng lợi, quân đội Việt Nam trên dưới đều rất hân hoan. Trong lúc phấn khởi, Vi Quốc Thanh b́nh tĩnh trù tính tác chiến bước tiếp theo. Đêm 15, đồng chí điện báo cáo Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc : “ Hai trận chiến đấu đợt 1, đêm ngày 13 và 14 liên tiếp tấn công chiếm hai cụm cứ điểm ở bắc và đông bắc Điện Biên Phủ, tiêu diệt hoàn toàn hai tiểu đoàn Lê dương. Đây là lần đầu tiên quân đội Việt Nam sử dụng hoả lực trọng pháo có vai tṛ có tính quyết định đối với việc kiềm chế pháo binh địch, phối hợp tấn công. Trong ba ngày, bắn hỏng 16 máy bay địch, làm cho máy bay địch không dám hạ cánh xuống sân bay và bay thấp, trong chiến đấu nhấn mạnh thao tác áp sát và bộ pháo hiệp đồng, nên thương vong không lớn. Niềm tin của bộ đội tiếp tục vây diệt địch ở Điện Biên Phủ nâng cao hơn trước một bước. Muốn tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ c̣n phải mấy trận chiến đấu công kiên nữa, và trận sau khó khăn hơn trận trước. Để bảo đảm sử dụng pháo không gián đoạn khống chế sân bay và liên tục kiên tŕ chiến đấu tương đối dài, cần phải tiếp thêm lương thực và xăng dầu. Xin đưa thêm 3000 quả đạn pháo (cỡ 105 kiểu Mư), 3000 quả sơn pháo, 3000 thùng lớn xăng dầu đến Bằng Tường trước ngày 25/3 ”.

    Quân uỷ Trung ương Trung Quốc luôn luôn dốc toàn lực chi viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ hễ Vi Quốc Thanh nêu yêu cầu, là theo đó cấp đủ, cấp đúng.

    Mấy ngày qua, tin vui liên tiếp truyền về. Viên trung tá chỉ huy pháo binh quân Pháp ở Điện Biên Phủ v́ bị tổn thất nặng nề trong trận đấu pháo, mất ḷng tin, dùng lựu đạn tự sát 10. Điều đó giáng một đ̣n vào tinh thần binh lính quân Pháp. Cứ điểm Bản Kéo rơi vào cô lập do đồi Him Lam, Độc Lập thất thủ, một tiểu đoàn lính Thái đóng giữ cứ điểm này hoang mang cực độ, ngày 27/3 ra hàng Quân đội Nhân dân. Đến đây Quân đội Nhân dân đă chiếm giữ 3 cụm cứ điểm án ngữ phía bắc Điện Biên Phủ, mở cánh cửa thông sang khu trung tâm Điện Biên Phủ. Tác chiến đợt 1 của Quân đội Nhân dân đă vượt mục tiêu dự kiến, tinh thần binh sĩ phấn chấn, niềm tin tăng lên gấp bội.

    Để cứu văn t́nh thế thất bại, sau tác chiến đợt 1, Navarre tiếp tục cho ba tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ (về sau trong chiến đấu đợt 2, 3 lần lượt nhảy dù thêm 2 tiểu đoàn nữa).Tác chiến đợt 2, giành giật quyết liệt

    Sau khi tổng kết kinh nghiệm trận đầu và chuẩn bị cho trận đánh tiếp theo, đêm 30/3 Quân đội Nhân dân bắt đầu tác chiến đợt 2, tấn công quân địch ở phân khu trung tâm Mường Thanh, trụ sở cơ quan chỉ huy của quân Pháp. Bố trí tác chiến của Vi Quốc Thanh và phía Việt Nam nghiên cứu xác định là : ngoài hai trung đoàn của đại đoàn 308, 312, sư 316 và toàn bộ hỏa lực pháo binh tấn công tiêu diệt địch ở điểm cao phía đông phân khu trung tâm và vùng Tây bắc sân bay, để thít chặt ṿng vây, khống chế điểm cao, khống chế sân bay, cắt đường không vận của địch. Nếu phát triển thuận lợi, th́ liên tục tấn công, tiêu diệt toàn bộ quân địch.

    Sau khi cuộc chiến đấu bắt đầu, đột phá tiền duyên địch tương đối thuận lợi, nhưng sau khi đi vào sâu ḷng địch th́ phát triển rất chậm. Quân Pháp dựa vào công sự kiên cố, hoả lực dày đặc, ngoan cố chống cự và tổ chức đánh trả. Cán bộ quân đội Việt Nam thiếu khả năng ứng biến, bộ đội thương vong tăng nhiều, tấn công gặp trở ngại. Qua một tuần chiến đấu, quân đội Việt Nam hạ được 5 cứ điểm địch, tiêu diệt binh lực hơn 3 tiểu đoàn, không chế phần lớn điểm cao quan trọng phía đông Điện Biên Phủ, và h́nh thành t́nh thế có lợi đứng trên cao nh́n xuống bọn địch ở Mường Thanh. Nhưng khi tấn công cứ điểm A1 bảo vệ Mường Thanh, do quân địch lợi dụng hầm hào và nhà dưới dất ngoan cố chống cự, không thể đánh hạ được toàn bộ, h́nh thành thế giằng co, mỗi bên chiếm một nửa. Sau khi cao điểm C1, cứ điểm quan trọng bảo vệ Mường Thanh bị đánh hạ, quân Pháp tổ chức đánh trả, chiếm lại hơn một nửa. Hai bên giành giật nhiều lần, cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt. Trong tác chiến hơn một tuần, các bộ đội tấn công của quân đội Việt Nam đều bị thương vong không ít.

    Vi Quốc Thanh ngày đêm theo dơi phát triển của chiến cuộc. Tin tức từ tiền tuyến về có lúc hỗn loạn. Lúc th́ nói hạ được một cứ điểm, sau vài giờ lại nói chưa hạ được. T́nh h́nh tấn công cứ điểm A1 càng như thế. Lúc th́ nói gặp đường hầm hào của địch đang đánh bộc phá, lúc th́ lại nói, cách đường hầm c̣n rất xa, không thể nào đánh bộc phá được. Lúc th́ nói đường hào không lớn, chỉ có số ít địch ngoan cố chống cự. Một lát sau lại nói, nhà hầm của địch rất lớn, có thể chứa hàng trăm tên. Điều đó một lần nữa phản ánh cái tật của viên chỉ huy cơ sở nào đó không đích thân theo dơi tuyệt một. Vi Quốc Thanh rất bực tức, kiến nghị phía Việt Nam nghiêm túc ra lệnh cho bộ đội tấn công điều tra rơ t́nh h́nh thực tế, để nghiên cứu đối sách. Cuối cùng rơ ra là, quân địch ở A1 lợi dụng đường hào và nhà hầm xây dựng thời kỳ quân Nhật chiếm đóng để ngoan cố chống cự và thỉnh thoảng tiến hành phản kích quân đội Việt Nam không thể nào đối phó. Vi Quốc Thanh điện gấp về Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, báo cáo t́nh h́nh này, Quân uỷ Trung Quốc cấp tốc điều một số cán bộ từng tác chiến ở Triều Tiên có kinh nghiệm đánh đường hào, đi nhanh ra tiền tuyến Điện Biên Phủ. Họ giúp bộ đội Việt Nam đào hầm ngầm thông đến đường hào cứ điểm A1, chuẩn bị dùng thuốc nổ phá huỷ nó.

    Lúc này Vơ Nguyên Giáp hơi sốt ruột chưa đánh hạ được A1, liền ra lệnh tấn công C1. Đồng chí chưa bàn với Vi Quốc Thanh quyết định điều trung đoàn 102 của đại đoàn 308, ngày 11/4 tấn công đồi C1, kết quả bị hoả pháo địch sát thương nặng, toàn trung đoàn thương vong trên 700 người, không thể tiếp tục chiến đấu. Trung đoàn 102 là trung đoàn chủ lực của đại đoàn 308, là bộ đội từ khi bắt đầu chiến dịch cho đến nay chưa bị tổn thất, lần này bị trọng thương, ảnh hưởng rất lớn đến phát triển của trận đánh. Chỉ huy “quả đoán” của Vơ Nguyên Giáp lần này bị không ngờ vấp váp. Vi Quốc Thanh lựa lời an ủi đồng chí, nêu ra kiến nghị tạm ngừng tiến công chuyển sang tổng kết chỉnh đốn. Vơ Nguyên Giáp tiếp nhận kiến nghị này. Lúc này, hội nghị Genève sắp triệu tập, Điện Biên Phủ trở thành một điểm nóng khiến cả thế giới dơi theo sau khi Triều Tiên đ́nh chiến, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc rất quan tâm theo dơi tác chiến Điện Biên Phủ, luôn luôn hỏi Vi Quốc Thanh t́nh h́nh chiến sự và có nhiều chỉ thị cụ thể đối với chiến thuật tấn công Điện Biên Phủ.

    Vi Quốc Thanh theo chỉ thị của Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, kết hợp t́nh h́nh thực tế quân đội Việt Nam thương vong tương đối lớn trong tác chiến đợt hai, một mặt giúp Việt Nam tổng kết kinh nghiệm chiến đấu, cải tiến chỉ huy tác chiến bổ sung quân lính, chỉnh đốn tổ chức, khôi phục và tăng cường sức chiến đấu, để có lợi cho tiếp tục chiến đấu, đồng thời kiến nghị quân đội Việt Nam áp dụng biện pháp hữu hiệu, tăng cường bao vây và tấn công quân Pháp sau đó quân đội Việt Nam chủ động áp dụng các biện pháp sau đây :

    Một là, tổ chức bộ đội đào hầm hào từng bước thắt chặt ṿng vây, chia cắt quân địch ở phân khu trung tâm Mường Thanh với phân khu nam bằng hầm hào, cắt đứt liên hệ trên mặt đất giữa chúng. Đồng thời, từ các hướng đào đến tận tung thâm phân khu trung tâm Mường Thanh. Lúc này đào hầm hào trở thành phương tiện tấn công tích cực, không ngừng thu hẹp địa bàn quân Pháp chiếm đóng. Quân Pháp tuy thường xuyên pháo kích và phá hoại, nhưng các chiến sĩ quân đội Việt Nam không sợ đổ máu, mồ hôi, càng đào càng hăng, càng đào càng nhanh. Chiến hào cứ mỗi ngày một vươn dài lên phía trước, chiến hào chính, chiến hào nhánh đan xen ngang dọc, chia cắt quân Pháp từng mảnh. Đúng như miêu tả trong cuốn sách Lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam của Việt Nam xuất bản những năm 70 : “ Chiến hào như những chiếc tḥng lọng, mỗi ngày một xiết chặt cổ của địch ”.

    Hai là, khống chế hơn nữa sân bay, cắt đứt vận chuyển hàng không của địch. Quân địch đóng giữ Điện Biên Phủ cách xa hậu phương, bị bao vây bốn bề, mọi cung ứng đều dựa vào vào vận chuyển hàng không, hằng ngày phải có trên trăm lượt chiếc máy bay chở các loạt vật tư quân sự, mới có thể duy tŕ nhu cầu sinh hoạt cần thiết và tiêu hao chiến đấu của hơn 10.000 quân đóng giữ. Vi Quốc Thanh coi việc cắt đứt vận chuyển hàng không là một điều kiện quan trọng để giành toàn thắng của chiến dịch. Chiến dịch bắt đầu, bộ đội cao xạ quân đội Việt Nam lần đầu tiên bước vào chiến đấu đánh cho máy bay địch bay thấp ném bom bắn phá điên cuồng bị trọng thương. Hoả lực trọng pháo của quân đội Việt Nam bắn vào sân bay buộc máy bay địch chở người và vật tư không dám thả dù phải chuyển sang thả từ trên máy bay xuống. Quân đội Việt Nam chỉnh đốn bổ sung sau khi chuẩn bị đầy đủ, liên tục công phá mấy cứ điểm địch gần sân bay, và lợi dụng ban đêm đào hào cắt ngang lưng sân bay, làm cho sân bay hoàn toàn không sử dụng được. Đi theo chiến hào của quân đội Việt Nam không ngừng vươn dài tới trước, ṿng vây ngày càng hẹp lại, vật tư của máy bay địch ném xuống ngày càng nhiều (thậm chí phần lớn) rơi xuống trận địa quân đội Việt Nam. Đây là một hỗ trợ lớn đối với quân đội Việt Nam, nhưng lại là đ̣n đánh hết sức nặng nề với quân Pháp.

    Ba là, tổ chức bộ đội triển khai hoạt động đánh chặn. Các bộ đội rất nhanh tổ chức thành nhóm diệt địch do các tay súng thần, pháo thần tham gia, bắn lén, bắn tỉa vào các mục tiêu hoạt động trên trận địa địch, không ngừng sát thương địch, buộc quân Pháp không dám hoạt động ngoài công sự, đánh mạnh vào tinh thần của quân Pháp.

    Bốn là, tổ chức bộ đội triển khai tấn công chính trị. Thành phần binh lính Pháp phức tạp, nhiều loại quốc tịch. Nhằm vào t́nh h́nh này, quân đội Việt Nam dùng loa phóng thanh, bằng nhiều ngôn ngữ phát thanh, kêu gọi binh lính địch trên trận địa, có tác dụng làm suy yếu tinh thần chiến đấu của binh lính địch, tiến tới làm tan ră quân địch, thường có lẻ tẻ lính nguỵ, lính nước ngoài và lính da đen ra đầu hàng quân đội Việt Nam.

  7. #37
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Hồi kí cố vấn Trung Quốc (3)
    ĐỒNG CHÍ VI QUỐC THANH
    TRONG VIỆN TRỢ VIỆT NAM
    ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP

    Vu Hoá Thầm
    bản dịch của DƯƠNG DANH DY
    P8



    Biện pháp đấu tranh quân sự chính trị phối hợp cả hai cùng tiến hành song song với tiếp thu được hiệu quả rất tốt. Đến hạ tuần tháng 4, t́nh cảnh của quân Pháp hết sức khó khăn. Diện tích trong ṿng vây không đầy 2 km2, toàn bộ tập đoàn cứ điểm của quân Pháp bị chia cắt thành nhiều đoạn, sân bay cũng bị quân đội Việt Nam chiếm một nửa. Do sợ quân đội Việt Nam tấn công, sĩ quan, binh lính Pháp suốt ngày co ro trong công sự. Trong nhà hầm chật ních thương binh, bốc mùi khó thở. Tinh thần quân Pháp sa sút cực độ. Lúc này, tập đoàn thống trị Mỹ không muốn nh́n thấy quân Pháp ở Điện Biên Phủ thất bại, đồng thời với tăng cường viện trợ cho Pháp, tiến hành đe doạ trắng trợn đối với Việt Nam, đưa hạm đội 7 đến Vịnh Bắc Bộ “diễn tập”, đánh tiếng sắp sử dụng máy bay ném bom B29 ném bom xuống trận địa quân đội Việt Nam ở Điện Biên Phủ, thậm chí để ngỏ ư muốn ném bom nguyên tử cỡ nhỏ.

    Vào thời gian này quân đội Việt Nam cũng gặp một số vấn đề và khó khăn mới : do bộ đội đóng quân ngoài trời lâu ngày, số người không trực tiếp chiến đấu tăng lên, tác chiến liên tục nhiều tháng, người chỉ huy nảy sinh tư tưởng mệt mỏi, nhất là tư tưởng tiêu cực hữu khuynh trỗi dậy trong cán bộ. Có những cán bộ, tinh thần trách nhiệm yếu, tính tích cực chiến đấu không cao, thậm chí xuất hiện hiện tượng nghiêm trọng kiếm cớ rời khỏi vị trí chiến đấu, báo cáo láo t́nh h́nh, không chấp hành mệnh lệnh trong t́nh h́nh chiến đấu khẩn cấp v.v... Do máy bay địch bắn phá điên cuồng và mùa mưa đến, vận tải hậu cần cũng ngày càng khó khăn. Đứng trước t́nh h́nh Mỹ đe doạ, quân Pháp giăy giụa hung hăng, trong số cán bộ cao cấp quân đội Việt Nam có những người dao động niềm tin giành toàn thắng chiến dịch, thậm chí sợ Mỹ ném bom nguyên tử, cho rằng không nên đánh tiếp nữa. Vào giờ phút then chốt quan hệ đến tiêu diệt hoàn toàn quân địch hay là công dă tràng này, Vi Quốc Thanh đă b́nh tĩnh suy nghĩ và phân tích khách quan cho rằng, quân đội Việt Nam tuy gặp rất nhiều khó khăn, nhưng quân Pháp càng khó khăn hơn, hơn nữa không có cách ǵ khắc phục được chỉ cần quân đội Việt Nam không sợ hăm doạ, không sợ khó khăn, cắn chặt răng lại, kiên tŕ chiến đấu, nắm chặt nhược điểm của địch, liên tục tác chiến th́ có thể khắc phục được khó khăn, giành toàn thắng cho chiến dịch. Đồng chí nói với các cố vấn : “Hiện tại toàn thế giới đều nh́n về Điện Biên Phủ, chúng ta không có đường lui. Chỉ có hạ quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch. Tạm thời chưa đánh được, mùa mưa đến nước d́m chết chúng. Nước không d́m chết, th́ khốn khó lâu ngày, chúng cũng chết. Không lấy được Điện Biên Phủ quyết không lui quân. Các đồng chí phải chuẩn bị tư tưởng này”.

    Vi Quốc Thanh trao đổi chân t́nh với Vơ Nguyên Giáp, tŕnh bày tỉ mỉ ư nghĩ trên đây của ḿnh để thống nhất nhận thức, kiên định ḷng tin. Hai người c̣n nghiên cứu biện pháp giải quyết vấn đề tư tưởng cán bộ và khắc phục khó khăn thực tế. Lúc này, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam triệu tập hội nghị mở rộng, phân tích t́nh h́nh tác chiến Điện Biên Phủ, vạch rơ thêm ư nghĩa quan trọng của chiến dịch, nhấn mạnh phải kiên quyết khắc phục tư tưởng tiêu cực hữu khuynh trong cán bộ, giành thắng lợi hoàn toàn cho chiến dịch. Cuối tháng 4, đảng uỷ tiền phương Quân đội Nhân dân triệu tập hội nghị mở rộng để quán triệt tinh thần của hội nghị mở rộng của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Vơ Nguyên Giáp báo cáo tại hội nghị chú trọng phê b́nh nghiêm khắc các biểu hiện của tư tưởng tiêu cực hữu khuynh trong cán bộ, đặc biệt là hành vi vô kỷ luật không chấp hành mệnh lệnh kiếm cớ rời bỏ nhiệm vụ, báo cáo láo t́nh h́nh v.v... Các cố vấn phản ánh, đây là cuộc nói chuyện chống khuynh hướng sai lầm với lập trường quan điểm rơ ràng ít có của Tổng Tư lệnh. Hội nghị này đă đặt nền móng tư tưởng cho tác chiến đợt 3, giành toàn thắng của chiến dịch.

    Tác chiến đợt 3, giành toàn thắng

    Từ hạ tuần tháng tư, quân Pháp có dấu hiệu tăng quân cho Thượng Lào, ḥng tiếp ứng cho địch đóng giữ Điện Biên Phủ chạy xuống phía nam. Vi Quốc Thanh lập tức cùng phía Việt Nam nghiên cứu, kịp thời bố trí đề pḥng địch phá vây. Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc căn cứ vào t́nh h́nh quân Pháp tập trung mấy tiểu đoàn lính dù ở Hà Nội, cuối tháng 4 đầu tháng 5 hai lần điện cho Vi Quốc Thanh, nhắc đồng chí đề pḥng địch nhảy dù xuống nút giao thông quan trọng ở hậu phương quân đội nhân dân, để cắt đường tiếp tế, làm rối loạn hậu phương, và hiệp đồng với quân địch ở Thượng Lào giải vây Điện Biên Phủ.

    Theo chỉ thị của Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, Vi Quốc Thanh lại bàn với Vơ Nguyên Giáp, tăng cường hơn nữa bố trí đề pḥng quân địch giải vây ở hai hướng nam, bắc. Đồng thời quyết định : các đại đoàn 308, 312, 316 đêm 1/5 mở tấn công cứ điểm tây và đông sở chỉ huy Mường Thanh của quân Pháp, xiết chặt ṿng vây hơn nữa. Trước hết tiêu diệt địch ở các cứ điểm đông sông Nạm Rốn rút binh lực cơ động để đối phó t́nh huống bất trắc. Sau khi chiến đấu bắt đầu, quân đội nhân dân rất nhanh tiêu diệt địch ở cánh sườn cứ điểm C1 và tấn công cứ điểm 505, 505A v.v.. chiến đấu đến ngày 3/5, lại tấn công tiếp cứ điểm 311A, 311B. Đến đây quân đội nhân dân đă áp sát sở chỉ huy Mường Thanh của địch.

    Vi Quốc Thanh cho rằng, thời cơ tổng công kích Điện Biên Phủ đă chín muồi. Cùng với phía Việt Nam nghiên cứu, quyết định đêm 6/5 mở tổng công kích. Lúc này, đă đào xong đường ngầm thông sang đường hào cứ điểm A1, và chôn 1 tấn thuốc nổ. Sau tiếng nổ rền trời của một tấn thuốc nổ ở cứ điểm A1, cuộc tổng công kích trên toàn tuyến bắt đầu. Tất cả hoả pháo của quân đội Việt Nam kể cả pháo tên lửa 17 ṇng của Trung Quốc trang bị vừa trở ra tiền tuyến cùng nă vào trận địa quân Pháp, với uy lực to lớn làm sát thương và choáng váng quân địch. Bọn địch dưới nhà hầm A1 bị thuốc nổ xé xác, bọn tàn quân trên mặt đất rất nhanh bị quét sạch. Đến sáng 7, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở cứ điểm Châu Ôn, Na Nông, 506, làm cho Mường Thanh mất b́nh phong cuối cùng. Quân Pháp thấy rơ thế cờ, tiêu tan hy vọng, lúc 14g ngày 7, lục tục kéo cờ trắng, nộp vũ khí đầu hàng Quân đội Nhân dân. Thiếu tướng De Castries viên chỉ huy quân Pháp đă từng hùng hổ một thời cuối cùng cúi đầu, chắp hai tay cùng nhân viên Bộ Tham mưu của y ra làm tù binh của Quân đội Nhân dân.

    Ngày hôm đó, đại đoàn 304 tấn công quân địch ở Hồng Cúm, phân khu nam. Hơn 2000 tên địch đêm tối phá vây chạy xuống phía nam, bị quân đội Việt Nam truy đuổi tiêu diệt vào nửa đêm. Đến đây, chiến dịch Điện Biên Phủ trải qua 55 ngày đêm, kết thúc với thắng lợi to lớn của quân đội Việt Nam. Thành quả chiến thắng Điện Biên Phủ rực rỡ, tiêu diệt tất cả 17 tiểu đoàn bộ binh, lính dù, 3 tiểu đoàn pháo binh, kể cả bộ đội công binh, thiết giáp, vận tải v.v... tất cả là 16.200 tên địch. Trong đó có 10.903 tù binh, bao gồm 41 sĩ quan cấp tướng tá, 1.749 sĩ quan cấp uư, bắn rơi bắn hỏng 62 máy bay thu 30 khẩu trọng pháo, 6 xe tăng hơn 30.000 chiếc dù và số lớn vũ khí đạn dược và vật tư quân dụng khác.

    Chiến thắng Điện Biên Phủ như đă làm chấn động thế giới, càng chấn động nước Pháp. Chính phủ Pháp treo cờ rủ để tang cho các tướng sĩ trận vong ở Điện Biên Phủ, tập đoàn thống trị thốt lên tiếng ai oán và lời than văn, c̣n những người tiến bộ trên toàn thế giới th́ reo ḥ mừng vui. Ngày thứ hai kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ, tức ngày 8/5/1954, chính là ngày hội nghị Genève bắt đầu thảo luận vấn đề Đông Dương. Sự trùng hợp lịch sử này lại bao hàm nhân tố tất nhiên. Chiến thắng Điện Biên Phủ đă phối hợp mạnh mẽ với đấu tranh ngoại giao ở hội nghị Genève, nó làm cho đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam không chỉ ở vào vị thế của người chống xâm lược, chính nghĩa, mà c̣n ở vào vị thế của người chiến thắng.

    Đoàn đại biểu chính phủ Pháp không chỉ ở vào vị thế của kẻ xâm lược mà c̣n ở vào vị thế của kẻ thất bại. Chiến thắng Điện Biên Phủ đă mở đường cho hội nghị Genève cuối cùng đi đến hiệp định lập lại hoà b́nh ở Đông Dương. Nhưng sau khi hội nghị Genève bắt đầu thảo luận vấn đề Đông Dương, đoàn đại biểu Pháp lại ra sức vẽ vời, xuyên tạc sự thật, vu khống công kích Việt Nam vấn đề đưa thương binh về nước, làm cho hội nghị trước tiến triển khai đấu tranh xoay quanh vấn đề phóng thích thương binh Pháp. Do đoàn đại biểu Việt Nam không có điện đài liên hệ trong nước, nên Trung ương đoàn, đoàn đại biểu chính phủ Trung Quốc Chu Ân Lai điện hỏi Vi Quốc Thanh về t́nh h́nh liên quan đến vấn đề phóng thích thương binh. Ngày 13/5 Chu Ân Lai gửi điện cho Vi Quốc Thanh nói : “Các nước phương Tây đang lợi dụng vấn đề thương binh ở Điện Biên Phủ để chỉ trích Liên Xô. Phía nhân sĩ tiến bộ và bạn bè mong muốn kịp thời có được tư liệu liên quan đến t́nh h́nh xử lư thương binh của phía địch ở Điện Biên Phủ, có thể điện cho biết bất cứ vào lúc nào về t́nh h́nh hai bên thương lượng thả thương binh binh nặng của phía địch và t́nh h́nh tiến triển cụ thể trong việc chuyên chở thương binh được thả để chuyển cho Phạm Văn Đồng và đoàn đại biểu Liên Xô, để có căn cứ tuyên truyền, đập tan âm mưu của địch”. Sau đó, Chu Ân Lai căn cứ và t́nh h́nh phía Pháp nói phía Việt Nam chỉ thả thương binh người nước ngoài, không thả thương binh người Việt Nam, công kích Việt Nam “kỳ thị dân tộc”, ngày 15/5 một lần nữa Chu Ân Lai điện cho Vi Quốc Thanh hỏi : “ Trong đợt đầu thả thương binh nặng có thương binh nguỵ quân Việt Nam hay không, và nếu có, nếu đợt này không có, th́ trong danh sách đợt hai nên có thương binh nguỵ quân Việt Nam, và cho công bố ”.

    Lúc này, ở Điện Biên Phủ cũng tiến hành cuộc đấu tranh xoay quanh vấn đề thả tù binh, bị thương nặng của quân Pháp. Theo yêu cầu của Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam cho phép phía Pháp chở tù binh bị thương nặng của họ và cử đoàn đại biểu đến Điện Biên Phủ để bàn cách chở cụ thể, ngày 13/5 phía Pháp cử đoàn đại biểu do giáo sư Huard dẫn đầu đến Điện Biên Phủ, thương lượng với phía Việt Nam và đạt được thoả thuận như sau : “ V́ sân bay khó sửa chữa nên phía Pháp dùng máy bay trực thăng và máy bay vận tải cỡ nhỏ để chuyên chở tù binh bị thương. Trong thời gian này, phía Pháp bảo đảm ngừng hoạt động máy bay oanh tạc xung quanh Điện Biên Phủ 10 km và trên tuyến đường từ Điện Biên Phủ đi Tuần Giáo dọc quốc lộ số 41 đến Sơn La ”. Ngày hôm sau, thoả thuận được Bộ chỉ huy hai bên phê chuẩn có hiệu lực. Đợt đầu tiên tù binh bị thương nặng được chở về Hà Nội.

    Phía Pháp lập tức phát hiện thoả thuận trên có lợi cho Việt Nam, phía Việt Nam có thể nhân cơ hội này vận chuyển số lớn vật tư đă thu được ra ngoài Điện Biên Phủ. V́ thế phía Pháp bác bỏ thoả thuận trước, ngày 16/5 đổi lại cử đoàn đại biểu do thiếu tá Jamis dẫn đầu đi Điện Biên Phủ đưa ra kiến nghị mới với phía Việt Nam, yêu cầu sửa chữa sân bay, để máy bay vận tải cỡ lớn vận chuyển thương binh, thay đổi điều khoản máy bay quân Pháp ngừng hoạt động bắn phá quốc lộ 41. Khi Việt Nam chưa trả lời, phía Pháp đă đơn phương ngừng chuyên chở thương binh nặng của họ và khôi phục hoạt động của máy bay trên tuyến quốc lộ 41. Phía Việt Nam lập tức vạch trần đầy đủ hành vi lật lọng đó của phía Pháp.

    Vi Quốc Thanh tuân theo chỉ thị của Chu Ân Lai, trên đường từ Điện Biên Phủ trở về hậu phương, nhiều lần cùng phía Việt Nam nghiên cứu vấn đề thả tù binh bị thương, áp dụng một số biện pháp quan trọng và thuyết phục phía Việt Nam thả một số tù binh bị thương của quân nguỵ Việt Nam. Vi Quốc Thanh đă điện báo kịp thời cho Chu Ân Lai những biện pháp của phía Việt Nam thả tù binh bị thương, t́nh h́nh tiến triển thả tù binh hằng ngày và cả tài liệu Bộ Tổng tham mưu quân đội Việt Nam vạch trần phía Pháp phá hoại thoả thuận chuyên chở tù binh bị thương, từ đó làm cho đoàn đại biểu Việt Nam có sự thực xác đáng vạch trần mạnh mẽ âm mưu của phía Pháp lấy vấn đề tù binh bị thương làm cái cớ để phá hoại đàm phán hoà b́nh Genève.

    Trải qua hơn hai tháng đấu tranh đàm phán, cuối cùng ngày 20/7, hội nghị Genève đạt được Hiệp định lập lại hoà b́nh ở Đông Dương. Hiệp định quy định : “ Các bên có liên quan ở Việt Nam, Lào, Campuchia chấm dứt hành động thù địch, thực hiện ngừng bắn trên toàn cơi Đông Dương, chính phủ Pháp sẽ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lănh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia, rút quân đội của ḿnh ra khỏi Đông Dương, lấy vĩ tuyến 170 Bắc làm giới tuyến quân sự tạm thời, lực lượng vũ trang Việt Nam tập kết ở phía bắc giới tuyến quân đội Pháp tập kết ở phía nam giới tuyến ”.

    Ngày 22/7, hai bên Việt – Pháp ra lệnh ngừng bắn. Cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam trải qua hơn 8 năm kết thúc thắng lợi, hoà b́nh được lập lại ở Đông Dương. Đến đây, nhiệm vụ của Vi Quốc Thanh lănh đạo đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc giúp Việt Nam đấu tranh chống Pháp hoàn thành thắng lợi. Trong thời gian công tác ở Việt Nam, Vi Quốc Thanh được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm nhiệt t́nh và tín nhiệm rất lớn. Một số kiến nghị trọng đại của đồng chí liên quan đến tác chiến và xây dựng quân đội Việt Nam đều do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tŕ hội nghị. Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thảo luận quyết định. Sau đó Tổng Quân uỷ và cơ quan Bộ Tổng Tham mưu tổ chức thực hiện. Hồ Chí Minh nhiều lần đến nơi ở của Đoàn cố vấn thăm Vi Quốc Thanh và các cố vấn, thăm hỏi ân cần, quan tâm hết mực, có lúc c̣n mời Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm cùng đến chỗ ở của Người ăn cơm, luận bàn chiến sự, kể chuyện gia đ́nh, tự do thoải mái giăi bày tâm sự. Hồ Chí Minh c̣n tặng thơ cho Vi Quốc Thanh. Đó là một ngày sau chiến dịch Biên Giới, Hồ Chí Minh bất ngờ đến thăm đoàn cố vấn, gặp lúc Vi Quốc Thanh không có nhà. Ngày hôm sau, Hồ Chí Minh cho người đưa đến cho Vi Quốc Thanh một bài thơ chữ Hán

    Bách lư tầm quân vi ngộ quân,
    Mă đề đạp toái lĩnh đầu vân.
    Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ,
    Mỗi đoá hoàng hoa nhất điểm xuân.

    (Trăm dặm t́m bạn nhưng không gặp,
    vó ngựa dẫm nát mây đỉnh núi.
    Quay về t́nh cờ gặp cây mai rừng,
    mỗi đoá hoa vàng một điểm xuân)

    Bày tỏ t́nh nghĩa sâu nặng của Người đối với Vi Quốc Thanh – cũng là đối với nhân dân Trung Quốc. Khi Vi Quốc Thanh hoàn thành nhiệm vụ giúp Việt Nam sắp về nước, Hồ Chí Minh và mấy vị thành viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam : Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp và Nguyễn Chí Thanh chiêu đăi Vi Quốc Thanh tại phủ Chủ tịch Hà Nội. Trước đó phía Việt Nam đă gửi giấy mời Vi Quốc Thanh và thư kư Vương Chấn Hoa. Tối hôm đó Vi Quốc Thanh dẫn thư kư đến dự tiệc. Trong phủ Chủ tịch ánh đèn sáng choang. Khi Vi Quốc Thanh đến, Hồ Chí Minh và từng người ôm hôn đồng chí. Ngồi ở pḥng khách rộng răi sáng sủa một lát, rồi chủ khách 7 người đi vào pḥng tiệc ngồi vây quanh chiếc bàn h́nh chữ nhật.

    Hồ Chí Minh ngồi chính giữa phía chiều dài, bên phải là Vi Quốc Thanh, bên trái là Tổng Bí thư Trường Chinh. Buổi tiệc bắt đầu, Hồ Chí Minh chúc mấy câu ngắn gọn bằng tiếng Việt, ngỏ ư thư kư phiên dịch. Thư kư dịch được mấy câu th́ ấp úng. Vi Quốc Thanh vội đỡ lời nói : “ Phiên dịch Hầu Hàn Giang đă về nước. Người thư kư này học được ít tiếng Việt, khó hoàn thành nhiệm vụ này lắm ! ” Hồ Chí Minh nghe xong cười nói : “ À ! Chẳng sao, tôi sẽ nói tiếng Hán vậy, lát nữa khi đồng chí nói chuyện với Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh, tôi làm phiên dịch ! ” Trong 5 thành viên phía Việt Nam, Hồ, Phạm, Vơ đều biết chữ Hán và nói được tiếng Trung Quốc, Trường Chinh chỉ biết chữ Hán, không biết nói tiếng Trung Quốc, Nguyễn Chí Thanh biết chút ít chữ Hán cũng không nói được tiếng Trung Quốc. V́ thế sau lời chúc Hồ Chí Minh đích thân làm phiên dịch.

    Mọi người và Vi Quốc Thanh tṛ chuyện chân t́nh nồng nhiệt, thể hiện t́nh hữu nghị chiến đấu lưu luyến bịn rịn. 34 năm sau, tức tháng 9 năm 1990, khi Bắc Kinh tổ chức Á vận hội, Vơ Nguyên Giáp nhận lời mời đến Bắc Kinh khai mạc. Lúc này Vi Quốc Thanh đă qua đời hơn một năm. Vơ Nguyên Giáp có nhă ư gặp thăm Hứa Kỳ Thanh, phu nhân của Vi Quốc Thanh, và con gái Vi Tiểu Nhạn. Khi Hứa Kỳ Thanh mời Vơ Nguyên Giáp nói đôi lời về Vi Quốc Thanh, đồng chí trầm tư một lát rồi đánh giá như sau : “ Đồng chí Vi Quốc Thanh là con người kiên định. Thời kỳ tôi cùng làm việc với đồng chí là thời kỳ hoàng kim trong lịch sử của tôi. Chúng tôi sống với nhau trong những ngày Việt Nam gian khổ nhất. Đồng chí rất kiên định. Khi đồng chí nói sắp rời Việt Nam, chúng tôi cùng nh́n lại công tác mấy năm qua, quan hệ giữa chúng tôi rất tốt. Đồng chí tặng tôi một bức hoành xinh đẹp “ Gió đông đón khải hoàn ” vẫn treo trong pḥng làm việc của tôi, người bạn tri kỷ nhất của tôi là đồng chí Vi Quốc Thanh ”.

    Công tác của đồng chí Vi Quốc Thanh dẫn đầu Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam và những đóng góp của đồng chí cho cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam là một trang vẻ vang trong lịch sử Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. T́nh hữu nghị chiến đấu gắn bó giữa nhân dân và quân đội hai nước Trung – Việt sẽ trường tồn trong lịch sử hai nước Trung – Việt, nhân dân hai nước măi măi không bao giờ quên.
    Vu Hoá Thầm

    (đăng trong Thượng tướng phong vân lục
    nhà xuất bản Đại Bách Khoa toàn thư xuất bản năm 2000.
    Khi đưa vào tập sách này có sửa chữa đôi chữ cá biệt ;
    tác giả là Vương Chấn Hoa, bút danh là Vu Hóa Thầm)



    1 Légion Etrangère (chú thích của Diễn Đàn)

    2 Đúng hơn, đó là những binh đoàn Âu-Phi, gồm thiểu số là bính lính Pháp, đa số là người Bắc Phi (Ả rập, Kabyle) và Tây Phi (da đen).

    3 Xem hồi kí của La Quư Ba

    4 Đây bắt đầu quá tŕnh Mao hoá Quân đội Nhân dân, gạt bỏ các thành phần “không cơ bản”. Trong một hồi kư, Vơ Nguyên Giáp kể lại rằng trong các lớp huấn luyện, cố vấn Trung Quốc thấy cán bộ Việt Nam ghi chép rất nhanh, bèn kết luận đây là nhừng phần tử “phức tạp”…

    5 Theo những thông tin của chúng tôi, lần này Stalin không tiếp Hồ Chí Minh, một cách để làm sức ép. Trong một bức thiệp gửi Stalin, chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ ư tiếc không được gặp Stalin và hứa sẽ tiến hành cải cách ruộng đất.

    6 Nội dung cuộc trao đổi này thực ra là nội dung cuộc găp Stalin – Hồ Chí Minh tháng 2.1950 (xem hồi kí của Khrushev và Vơ Nguyên Giáp). Cách tŕnh bày của tác giả hàm ư giảm nhẹ trách nhiệm của Trung Quốc trong cuộc cải cách ruông đất.

    7 Dịch giả Dương Danh Dy phiên âm từ Trung văn. Có lẽ là Tou Samouth, chủ tịch Mặt trận Issarak Thống nhất, bị chính quyền Sihanouk ám sát năm 1962 (cũng có nguồn tin cho rằng Pol Pot cũng nhúng tay vào cái chết của lănh tụ Tou Samouth).

    8 Sự thực đến cuối trận đánh, De Castries mới được phong thiếu tướng.

    9 Ở đây, tác giả hoàn toàn viết sai sự thật. Quyết định thay đổi cách đánh là của đại tướng Vơ Nguyên Giáp ngày 25.1.1954 (“quyết định khó nhất đời tôi”), giờ chót có sự ủng hộ của Vi Quốc Thanh. Bộ chính trị ĐCSVN ở xa, mấy ngày sau mới được báo cáo và tán thành. Năm 2004, trong dịp kỉ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, phía Trung Quốc có ṛ rỉ tin đồn là quyết định ấy dă được chính Mao Trạch Đông chuẩn y cho Vi Quốc Thanh. Nhưng cuối cùng, tại cuộc hội thảo ở Bắc Kinh, họ đă phải thừa nhận là bức điện này, ngày 27.1, Vi Quốc Thanh mới nhận được (bài viết này cũng thừa nhận ngày 27.1, nhưng trước đó lại tŕnh bày lươn lẹo0. Có thể tham khảo tường tŕnh về cuộc tranh luận này của nhà sử học Pháp Pierre Journoud Paris, Ha Noi, Pekin

    10 Trung tá Charles Piroth (1906-1954) đă tham gia chiến đấu chống Đức. Ba lần sang Việt Nam trong hàng ngũ quân đội thực dân. Lần đầu, trong một trận đánh ở Thủ Dầu Một (tháng 12-1946) bị thương, phải cưa cụt cánh tay trái (không gây mê). Trước khi trận Điên Biên Phủ bắt đầu, Piroth cam đoan sẽ dập tắt ‘đại bác của Giáp’ ngay từ giờ đầu (điều này chắc sẽ xảy ra nếu Vơ Nguyên Giáp không sáng suốt và dũng cảm thay đổi phương châm tiến công ngày 25.1.1954). Ngày 15.3, sau hai đêm và một ngày, pháo binh của Piroth hoàn toàn bất lực trước hoả lực của QĐND, không làm sao bảo vệ được các cứ điểm Him Lam và Độc Lập. Trung tá Piroth đi một ṿng xin lỗi chiến hữu (C’est ma faute !), trở về boong-ke, rút chốt lựu đạn đeo trước ngực. Bộ chỉ huy của đại tá Christian de Castries giấu nhẹm tin Piroth tự tử vói binh sĩ ở Điện Biên Phủ, chôn cất Piroth ngay trong hầm. Nhưng báo chí Pháp được tin (do một nguồn tin “ẩn danh” báo qua vô tuyến) và khi báo Pháp được thả dù tiếp tế xuống Điện Biên Phủ, tin này đă lan ra các đơn vị “quân dội Liên Hiệp Pháp”, tác động như một tiếng sét giáng vào tinh thần binh sĩ.

  8. #38
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Giặc đă ùa vào nhà Việt Nam - Kỳ 1 (Huỳnh Tâm)



    “…Theo tôi biết, xung đột vũ trang hiện nay rất nghiêm trọng, các chi tiết cướp biên giới hoàn toàn từ phía Trung Quốc, khói lửa ấy đem đến cho Việt Nam, trái với ḷng mong muốn của người dân Trung Quốc và Việt Nam…”





    CS Việt Nam không muốn biết hay đă quên Lăo Sơn & Vị Xuyên.

    Viên Dung không có ư định đi đường dài vượt sông núi cùng với Hải Âu (海鸥DF-1, Q:14)và Trịnh Ḥa (郑和), một nữ phóng viên trẻ của nhật báo Giải Phóng (Trung Hoa). Tháp tùng đoàn binh bổ sung trở lại chiến trường sau khi dưỡng thương tại căn cứ Quân khu Vân Nam. Viên Dung đă từng đi qua vùng biên giới Lai Châu, Lào Cai và Hà Giang nhưng không có dịp vào sâu Tây Bắc lănh thổ của quê hương, nhưng hôm nay được ngồi trên toa tàu hỏa để đến địa danh Lăo Sơn, Vị Xuyên nhờ may mắn nhờ trên tay có thông hành "K..". Mọi chuyện diễn ra thật bất ngờ v́ những t́nh cờ dồn dập, đưa đẩy tạo ra sự việc không kịp tính toán. Sự hiện diện của Viên Dung ở đây là một t́nh cờ không có dự tính trước. Viên Dung không hề biết những người lính Trung Quốc sẽ đến quân đoàn nào tại Lăo Sơn (Trung Quốc gọi Laoshan) tỉnh Lào Cai, và Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, chỉ biết họ phải đến tiền đồn nằm sâu trong lănh thổ Việt Nam. Đến nơi được biết CS Trung Quốc đă chiếm cứ và kiểm soát hoàn toàn vùng núi Lăo Sơn này vào ngày 2 tháng 4 năm 1984, và đến nay chiến sự vẫn c̣n tiếp tục.

    Vào lúc 6g30 sáng, ngày 10 tháng 1 năm 1987, tàu hỏa khởi hành trên tuyến đường dài 1.571 km, nó ḅ qua những đèo cao giống hệt con rắn mệt mỏi. Toa tàu lắc lư đều đặn, chạy qua những miền đất hoàn toàn xa lạ, con tàu cứ thế lao tới. Lắm lúc nh́n qua khung cửa, tôi chẳng thấy phong cảnh nào đẹp hay ít nhất để lại một ấn tượng về thiên nhiên đất nước Trung Hoa, cũng có thể trái tim tôi vô cảm với CS Trung Quốc nên không c̣n chỗ dành riêng cho cảnh tạo hóa hùng vĩ nơi đây!

    Ấy thế, hôm nay lại khác thường. Lỗ tai của tôi hết lăng, nghe rơ hơn và chú ư tỷ mỉ, đồng thời tôi thu âm những lời của bọn lính Trung Quốc vào máy. Bọn họ nói chuyện quá khoác lác không khác nào những tràng đại pháo nổ, tuy nhiên những lời nói ấy xoáy sâu vào t́nh yêu thiêng liêng của tôi dành riêng cho mẹ Việt Nam. Đôi lúc ḷng rung động muốn ngạt thở khi nghe những lời nói khẳng định con số 42.500 chiến binh Việt Nam tử vong, cũng như vùng đất Lăo Sơn, và Vị Xuyên đă bị mất trắng. Họ c̣n tiết lộ mật mă "MB84", những tên t́nh báo Hoa Nam trong Bộ Chính Trị CS Việt Nam bán đứng biên giới Việt Nam cho CS Trung Quốc[1].

    Tôi tự nhủ:

    – Rồi một ngày có dịp sẽ giải mă "MB84", t́m những tên nội gián theo t́nh báo Hoa Nam phản quốc, c̣n hôm nay quyết định tập trung để nghe hiểu thêm, biết nhiều, cùng lúc h́nh dung chiến trường trước khi bước chân đến đó. Những tên lính Trung Quốc tiếp tục khoe khoang về thành tích chiến trường:

    – Quư đồng chí có biết không? Trên tay tôi, lựu đạn sẵn sàng tung vào địch, trước đó tôi phải thu ḿnh vào một hốc đá có bụi rậm, bởi buổi sáng hôm ấy đă xem địa h́nh xung quanh. Thấy đằng sau có một trung đoàn địch đang phục kích ở bên cánh rừng trái, một khoảng cách hẹp không xa có tuyến đường quan trọng dẫn sâu vào biên giới Việt Nam. Ngày hôm sau tôi đưa J 4 (đại đội 4) băng nhanh qua đường đến khu rừng lớn, nơi đây địa thế lập tiền tiêu an toàn. Trong cánh rừng này, cây to bao phủ một màu đen, địch quân không thể nào thấy J4, lúc ấy tôi liên tưởng chắc chắn có quân phục kích. Tôi nh́n xuống đồng hồ, điểm phát sáng chỉ hướng Đông. Sáng sớm hôm sau, bầu trời màu xám dần dần b́nh minh.

    Lần này tôi tự vẽ tọa độ của một vùng núi đồi Lăo Sơn, trong không khí buổi sáng sớm với điếu thuốc thơm làm tươi râu. Không khí có hơi ẩm ướt, tôi nhún nhún đôi vai liên tục để loại bỏ mệt mỏi. Nh́n vào chân trời mây kéo hé lộ ánh sáng ban mai. Những con chim trong rừng, bắt đầu hát giai điệu chiến trường, bản làng vẫn chưa thức giấc, cảnh sống c̣n yên tĩnh, thanh b́nh trong hạnh phúc. Thực sự sâu kín trong trái tim, tôi muốn giúp họ thực hiện ước mơ đó, chúng tôi đang ở đây để bảo vệ họ, nếu chiến tranh đến với họ".

    Tôi suy nghĩ một hồi lâu, đầu gật vài lần rồi hỏi:

    – Anh là một người Việt gốc Hoa mới có ư tưởng ấy.

    Y không đáp lời nào, ngó xuống Ba lô trầm tư, một người lính Trung Quốc đối diện với Hải Âu DF-1, Q:14, nói:

    – Những năm trước vào lúc 5 giờ sáng, đoàn quân của chúng tôi đă vào tận thị trấn Lào Cai Việt Nam, đột nhiên phía trước có những âm thanh lớn hơn cơn băo, một luồn khói của đại pháo nổ làm hiệu xuất lệnh quân sự, mà người ta gọi đây là lệnh tổng tấn công, chúng tôi hối hả bắt đầu tay súng tự vệ, chính thức bắt đầu chiến đấu với Việt Nam!

    Mười triệu (10.200.000) khẩu súng Trung Quốc giận dữ, một vùng đất rung chuyển mạnh, những núi đồi đồng rung chuyển cả bầu trời phía Tây Nam. Ṇng súng phát ra những tia màu đỏ trắng. Những tiếng súng nổ mạnh mẽ vang động chói tai, ngay cả hơi thở trong tim cũng bị nhồi máu. Nhóm 141 không quân đột ngột xuất hiện, tiếng động cơ vang rền trên không như sấm nổ. Hàng chục máy bay chiến đấu siêu âm trút đạn về hướng phía trước, bắn vào pḥng ngự quân biên pḥng của địch, lực lượng không quân mạnh mẽ trong việc kiểm soát những vị trí chiến lược, trước khi Bộ binh tiến vào, cùng lúc những quân cảm tử hàng đầu của chúng tôi phát động các cuộc tấn công khốc liệt vào đối phương.

    Th́nh ĺnh một người có vẻ là sĩ quan ngồi đối diện với Hải Âu DF-1, Q:14 lên tiếng:

    – Sự khởi đầu của chiến tranh, có sai lầm từ các chỉ huy cơ sở hay trên toàn bộ tuyến đầu tự vệ, họ bố trí các đơn vị không rơ ràng, ngay cả công tác hiện tại, chúng tôi đối mặt với kẻ thù cũng không rơ ràng. Nhiệm vụ của chúng tôi được đề cập đến tại địa điểm A. Nơi đó cho phép chúng tôi được quyền hành động theo khả năng. Không biết lư do nào đưa chúng tôi rơi vào điểm tử huyệt địch đang cố thủ. Trong thực tế, kế hoạch đă thành h́nh, ấn định cuối tháng 11 năm 1978, các lực lượng của 3 quân khu gồm: Quảng Châu, Côn Minh, Thành Đô chuẩn bị sẵn sàng để chiến đấu theo lệnh, đến ngày 08 tháng 12/1978, lại ban hành thêm chiến lược mở rộng lệnh, rồi ngày 13 tháng 12/1978, ban hành nhập lệnh vào cuối tháng 12.

    Đến 3 lần thay đổi kế hoạch cho thấy CPC không nhất quán, từ 9 quân đoàn tham dự, tăng lên 11 quân đoàn, tổng số quân 235.000 binh sĩ, và c̣n tập kết ở Quảng Tây, Vân Nam trên số quân ra chiến trường, chuẩn bị mở đường cho các lực lượng sẵn sàng đi sâu vào lănh thổ Việt Nam. Như vậy phải mất một thời gian chuẩn bị lâu dài, thế mà t́nh báo của Việt Nam không phát hiện, được biết mật mă "MB84" của Hoa Nam trong Bộ chính trị CSVN đă bán đứng biên giới, mà khi năy đống chí đă đề cập đến!

    – Đúng thế.

    – Cảm ơn đồng chí.

    Một sĩ quan nói tiếp:

    – Ngày 17 tháng 2 năm 1979. Bộ binh gồm 9 quân đoàn, hướng Vân Nam Trung Quốc có đến 5 quân đoàn, như Q:41, Q:42, Q:43, Q:54, Q:55, Bộ tổng tham mưu tư lệnh mặt trận phía Nam Vân Nam, do Đại tướng Dương Đắc Chí(杨得志- Yang Dezhi) chỉ huy, tấn công 3 tỉnh Lai châu, Lào Cai, và Hà Giang của Việt Nam.


    Tư lệnh phó, Đại tướng Yang Dezhi (杨得志) Dương Đắc Chí.
    Nguồn: Hoa Chí Cường

    Theo kế hoạch đă định: "Thời gian tiến quân hạn chế, tiến sâu vào lănh thổ Việt Nam cũng có lệnh hạn chế, trước đó quân lực Trung Quốc đă tập trung một lực lượng vượt trội tại biên giới trước khi có lệnh tấn công. Công binh thiết lập cầu nổi và sửa chữa cấp bách, quân tiến đến đâu lập chiến lũy, giao thông hào đến đó, nhiều lớp bao quanh ṿng đai chiến lũy bằng cài trái phá, chiến thuật biển người nhanh chóng với tốc độ tiêu diệt càng nhiều càng tốt".

    Chỉ 2 tuần lễ sau Trung Quốc tăng viện thêm Quân đoàn 20, và sư đoàn 58. Đồng tham chiến c̣n có Tham mưu trưởng, Thượng tướng Trương Đ́nh Phát Tư lệnh Không quân Trung Quốc.


    Thượng tướng Trương Đ́nh Phát

    Trước đó quân đội Trung Quốc đă khẩn cấp xây dựng chiến lũy tại biên giới, đến sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, biển người nhanh chóng tràn vào biên giới Việt Nam. Chín (9) quân đoàn, tiến sâu vào 11 quận, và 6 tỉnh của Việt Nam trong cả hai hướng từ Quảng Tây, Vân Nam đồng tấn công, một phần lực lượng Không quân tham chiến, máy bay tuần tra dọc theo biên giới phía Trung Quốc, ngoài ra c̣n có tàu chiến của Hải quân bảo vệ các giàn khoan dầu tại Vịnh Bắc Bộ. Ngoài ra Trung Quốc c̣n sử dụng kế hoạch dự trữ chiến lược, phía sau có Quân đoàn 54, tại mặt trận Đông.

    Một sĩ quan khác nói:

    – Kế hoạch, đối mặt với kẻ thù bằng chiến thuật biển người quá tàn nhẫn không phù hợp với ngày nay; chỉ một giờ lịch sử tổng quân 11 Sư đoàn, 9 Lữ đoàn theo lệnh cầu h́nh ḍng biển. Tấn công ḍng biển đầu tiên có 6 đơn vị cấp Sư đoàn, và 6 Trung đoàn, tấn công ḍng thứ hai có 7 đơn vị cấp Lữ đoàn, và 5 Trung đoàn, ḍng biển thứ ba có 5 đơn vị cấp Sư đoàn, dự bị triển khai tấn công gần Hà Nội, v.v...

    Biển pháo đặt bộ chỉ huy tại Cao Bằng gồm Sư đoàn Pháo 346, Lữ đoàn 246, Lữ đoàn 611, Lữ đoàn 851, và Lữ đoàn 246, hướng về chiến trường Tây Bắc.

    Đảng CS Trung Quốc đặt bộ chỉ huy Pháo binh tại Lạng Sơn một Tập đoàn 188, gồm 12 đơn vị Pháo binh, Trung đoàn 141, và Trung đoàn 68, hướng về chiến trường Đông Bắc.

    Ngoài ra Quân báo cho rằng: Lập pḥng tuyến tại vị trí cao nhất tiện cho chiến thuật pḥng thủ, những hang động làm công sự tự nhiên của điểm A nối vào giao thông hào đầu B, tuy gồ ghề nhưng lợi điểm di chuyển, đổi quân trong chiến lũy thuận tiện, lập được nhiều giao thông hào, chiến hào, phần lớn nhờ Công Binh.

    Pḥng tuyến bộ binh của chúng tôi chiếm được điểm cao, trước tầm mắt đă thấy được phía địch có rất nhiều chiến hào chống xe tăng, chiến hào rào dây thép gai, băi ḿn, cũng như cái bẫy thanh tre pḥng thủ đơn sơ. Bề mặt pḥng thủ chúng tôi có hỏa lực pháo binh từ xa đến gần, h́nh thành mạng lưới hỏa lực bộ binh bởi tầm đạn chéo cánh.

    Tôi cho rằng phía quân đội Việt Nam có hệ thống pḥng thủ chưa hoàn chỉnh, vị trí hỏa lực không đủ mạnh mẽ, nếu chiến tranh kéo dài chiến lũy của Việt Nam không c̣n giá trị như buổi ban đầu, sự chặt chẽ đó không phải lớp vỏ cứng.

    Trước đó một ngày sĩ quan chỉ huy Quân Đoàn I đă quyết định bắt đầu cho lệnh pháo binh tập trung tấn công vào những vị trí của địch, bằng hỏa lực bắn phá mạnh mẽ, những địa điểm của địch được chú ư đầu tiên là bộ chỉ huy, các vị trí pháo binh, khu vực dàn binh, các phương tiện truyền thông, quân xa. v.v...

    Vào lúc 5:30 vào ngày 17 Tháng 2 năm 1979, quân đội sẵn sàng đẩy hỏa lực đến mục tiêu, pháo kích kéo dài đủ 30 phút. Sau đó thấy phía trước vị trí quân đội Việt Nam, cháy khắp mọi nơi lửa rực trời, khói cuồn cuộn mang theo hơi nóng. Bộ chỉ huy, vị trí pháo binh, bộ binh và các phương tiện thông tin của địch bị hỏa lực pháo binh đàn áp, phá hủy hoàn toàn pḥng tuyến một của Việt Nam.

    Nói về Lăo Sơn 1984. Trận chiến hội đồng của quân lực Trung Quốc rất khốc liệt đối với quân dân Việt Nam, tin tức từ chiến trường cho biết nhờ phía Đông có núi cao nhất. Lực lượng bộ binh của chúng tôi tiến xuống đồng bằng cùng lúc phát động cuộc tấn công thần tốc và mạnh mẽ, lúc này đă nắm chắc chiến trường, biên giới phía Nam trong lănh thổ Việt Nam. Theo báo cáo của Quân đội Nhân Dân (PLA) Trung Quốc, chiến đấu tự vệ đă chiến thắng sớm hơn một ngày trước b́nh minh. Trong ngày "Pháo cá heo màu xanh lá cây" (Không quân Trung Quốc) từ sân bay miền Nam Trung Quốc cất cánh, một đội máy bay chiến đấu rống tiếng siêu âm, những mũi tên sắc bén trên bầu trời lao tới.

    Mỗi ngày hàng trăm phi vụ qua đầu của chúng tôi, tuần tra dọc theo biên giới Trung-Việt Nam. Lực lượng không quân răn đe Việt Nam, không thấy phi vụ nào của Việt Nam lên ứng chiến. Chúng tôi đă tiến sâu vào đất địch, chiếm điểm pḥng thủ và khiêu khích địch, chỉ cần ra khỏi giao thông hào 13 bước, là đụng độ với địch. Có thể nói chiến trường nằm bên cạnh nhà tôi.

    Hai tuần sau chúng tôi được lệnh chuyển quân mở đường biên giới số 2, nối liền với các làng dân cư thiểu số gần biên giới Quảng Tây. Trên đôi vai của mỗi binh sĩ mang theo các loại vũ khí, đạn dược, trong chiếc ba lô, dụng cụ đun nước, áo mưa, túi gạo, áo quần mùa hè và một đôi giày cao su. Chúng tôi đến vị trí quy định để xây dựng công sự pḥng không, chúng tôi sẵn sàng tham gia cuộc chiến, về cơ bản pḥng không hợp lực với quân II pháo binh.

    Chúng tôi đóng quân ở đây đă vài ngày, bỗng nhận được lệnh của PLA nhắn từ phát sóng của máy điện tín, do Tân Hoa Xă phát :

    "Chính quyền và đảng CS Việt Nam đă biết sợ, một ḷng thần phục làm bầy tôi, tuân lệnh cảnh báo của PLA. Nay các lực lượng vũ trang anh hùng vẫn triển khai thường lệ, đánh gục các hành vi của nhà nước và nhân dân Việt Nam đă vi phạm lănh thổ của chúng ta, hăy tấn công tự vệ. Các lực lượng bộ đội biên pḥng và cư dân biên giới tiếp nhận lập lại lănh thổ của Trung Quốc. Nhà nước Việt Nam đă suy giảm chiến tranh và sắc nét của t́nh h́nh hiện nay, mối đe dọa nghiêm trọng ḥa b́nh và an ninh biên giới của chúng ta xem như thắng lợi. Trước đây v́ Việt Nam cướp đất của ta, t́nh h́nh biên giới không được an ninh, đă đến lúc không thể chịu đựng nổi, buộc Trung Quốc phải tăng cường quân sự chống lại để bảo vệ biên giới ".

    Viên sĩ quan nói tiếp:

    – Theo học tập chính trị và t́nh h́nh trong hai năm qua cho biết, chính quyền Việt Nam thực hiện bành trướng liên tục trong khu vực biên giới, tràn lan trong lănh thổ của Trung Quốc, hành động khiêu khích vũ trang đưa đến chiến tranh là điều không b́nh thường. Quan trọng nhất Trung Quốc đă quan hệ hữu nghị với Việt Nam và xem các dân tộc của hai nước cần phải có an ninh ḥa b́nh. Trung Quốc có thái độ kiềm chế và khoan dung, liên tục cảnh báo Việt Nam, để tránh tác động trên một quy mô lớn hơn. Tuy nhiên, các nhà chức trách Việt Nam với sự hỗ trợ của Liên Xô, và từ đó kiềm chế Trung Quốc, khuyến khích và mong muốn ḥa b́nh như là một dấu hiệu của sự yếu kém, ngày càng dựa vào sự leo thang, sợ hành vi của cuộc tấn công vũ trang trên khu vực biên giới Trung Quốc. Nhà cầm quyền Việt Nam đă tập hợp một số lực lượng vũ trang dọc theo biên giới Trung-Việt. Việt Nam không ngừng vi phạm biên giới, cướp lănh thổ của Trung Quốc. Việt Nam công khai chôn ḿn, xây dựng các công sự trên lănh thổ của Trung Quốc, bắn, phá, thiêu hủy nhiều ngôi làng, giết binh sĩ và dân thường của chúng ta, cướp lấy đồ đạc, vật chất sản xuất của dân làng, đưa đến nhiều cuộc xô xát đổ máu nghiêm trọng tại biên giới.

    Tháng 6 năm 1978 Việt Nam khiêu khích vũ trang đă gây thương tích cho 700 bộ đội Biên pḥng, và làm thiệt mạng trên 300 binh sĩ tự vệ biên giới Trung Quốc, chưa kể đến số thương vong của cư dân biên giới. Chính quyền Việt Nam có hành vi xâm lược tràn lan, và kích động cuộc xung đột quân sự tại biên giới phía Nam của Trung Quốc, mỗi ngày thêm trầm trọng và căng thẳng suy yếu, trong khi ấy xă hội chủ nghĩa của Trung Quốc đang hiện đại hoá không cho phép Việt Nam hỗn láo. Nếu không ngăn chặn sự xâm lăng của Việt Nam sẽ chắc chắn đe dọa đến ḥa b́nh và ổn định của khu vực Đông Nam Á, và thậm chí toàn bộ khu vực châu Á.

    Một quân nhân trẻ giọng nói pha tiếng miền Bắc Việt Nam, ngồi đối diện với tôi tiếp lời:

    – Phải khách quan mà xét, Việt Nam vi phạm biên giới hay là chính quân đội nhân dân Trung Quốc. Thuở nay đă có người không đánh nhau, trái lại ḿnh vẫn đánh họ ở phía sau lưng. Hiện nay tinh thần chúng tôi vô tổ quốc (Hoa kiều) tuy nhiên nếu bị tấn công, chúng tôi có hành động cấn thiết cầm vũ khí, hoàn toàn chính đáng. Tôi nhất định không làm tù binh để bảo vệ biên giới của cả hai quốc gia Trung-Việt, tôi không thể chấp nhận để chiến tranh bốc cháy cao, và chiến tranh dai dẳng. Suy nghĩ của tôi, kẻ đang thực hiện chiến tranh có nhiều ư đồ riêng. Ví dụ, tại sao chúng ta lại muốn xây dựng đất nước trong ḷng lănh thổ của Việt Nam, trong khi ấy chúng ta cần một môi trường ḥa b́nh quốc tế. Tôi không muốn chiến đấu bởi tôi không có một tấc đất nào ở Việt Nam, và không bao giờ cho phép người khác bừa băi vi phạm lănh thổ của họ. Tôi chỉ muốn ḥa b́nh và ổn định tại biên giới Trung Quốc. Trong khi ấy chính phủ nhân dân Trung Quốc làm một việc khó hiểu, cấp giấy phép xâm lược Việt Nam cho những người Hoa kiều, cầm súng trở lại quê hương của họ để chiến đấu, nhà nước nhân dân Trung Quốc c̣n hứa, sau khi bảo vệ biên giới sẽ thuộc miền đất tự trị của họ. Suy nghĩ sâu xa hơn sau khi chiếm được biên giới tự nhiên thuộc về quốc gia Trung Quốc không phải của người Hoa kiều. Tôi tin rằng vị trí người Hoa kiều không có chỗ đứng trong ḷng dân tộc Hán, họ khó tiếp nhận được sự đồng cảm và hỗ trợ tinh thần yêu chuộng ḥa b́nh hay công lư của quốc gia ưu tiên cho người Hoa kiều!

    Chính Trung Quốc tạo ra hay nói một cách khác họ buộc Việt Nam phải đứng vào cuộc đấu tranh cách mạng chư hầu, Trung Quốc không thương nghị, không t́m đồng thuận, không hỗ trợ lẫn nhau, và không thiết lập một t́nh bạn sâu sắc. Theo tôi biết, xung đột vũ trang hiện nay rất nghiêm trọng, các chi tiết cướp biên giới hoàn toàn từ Trung Quốc, khói lửa ấy đem đến cho Việt Nam, trái với ḷng mong muốn của người dân Trung Quốc và Việt Nam. Lịch sử đă chứng minh, có bao giờ những chính quyền Trung Quốc yêu mến hoà b́nh và duy tŕ t́nh hữu nghị với nhân dân Việt Nam.

    Hiện nay, chính phủ nhân dân Trung Quốc và đảng CS Việt Nam cả hai đồng long trọng tuyên bố ban giao b́nh thường, tuy nhiên họ nói một đường, hành động một nẻo bởi tất cả là anh em cộng sản có máu gian hoạt! Có lần Trung Quốc yêu cầu:

    – Chính quyền Việt Nam lập tức ngăn chặn cuộc xâm lược vũ trang tại khu vực biên giới Trung Quốc, tất cả các hoạt động khiêu khích và phá hoại phải nhất định đ́nh chỉ, Việt Nam phải thu hồi tất cả binh sĩ vũ trang tại vùng lănh thổ bị chiếm đóng bất hợp pháp, hăy tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc và toàn vẹn lănh thổ. Chính phủ Trung Quốc luôn ủng hộ một giải pháp công bằng và hợp lư để tránh mọi tranh chấp giữa hai nước thông qua đàm phán ḥa b́nh.

    Sự long trọng truyên bố của Trung Quốc có nhiều bí ẩn, họ tiếp tục đánh chiếm những địa danh vị trí chiến lược của Việt Nam, và khoanh vùng lập pḥng tuyến biến thành lănh thổ của Trung Quốc, quư đồng chí có nhận thấy không ?

    Mỗi khi đàm phán, người Hán sử dụng ngôn ngữ trịch thượng, khó nghe, đôi khi đượm giọng xảo trá trong văn tự đàm phán hay ngoại giao, như "Từ khi Việt Nam không chân thành trong các cuộc đàm phán trước đây. Bây giờ, chính phủ Trung Quốc đề nghị rằng hai bên một lần nữa nhanh chóng mở lại các cuộc đàm phán cấp độ thích hợp, vị trí tổ chức bất kỳ ở hai bên đồng ư, thảo luận để khôi phục lại ḥa b́nh và yên tĩnh của các khu vực biên giới giữa hai nước, và do đó giải quyết tranh chấp về biên giới và các vấn đề lănh thổ. Chính phủ Trung Quốc đang chuẩn bị đàm phán cụ thể trên bất kỳ phương pháp tiếp cận xây dựng, bảo đảm ḥa b́nh và an ninh, biên giới".

    Thế nhưng, Trung Quốc lại quá nhiều sai phạm, một lần nữa đưa bộ đội vào lănh thổ Việt Nam chiến đấu chống lại Việt Nam, vào thời điểm này chính chúng ta đang trên đường đi đến cuộc xâm lược biên giới của người khác! Một mặt chính phủ Trung Quốc kêu gọi "Chính quyền Việt Nam sửa chữa lỗi lầm", và c̣n tḥn một câu đe dọa "Việt Nam không nên tiếp tục đi trên con đường sai lầm, kẻo khi trở lại đàm phán quá muộn".

    Tôi ngồi bó gối yên lặng, t́m trong suy nghĩ của những người lính đang trên đường ra chiến trường, lạ thay họ đều có những trạng thái không đồng nhất, có kẻ khoác lác về chiến thắng, cũng có kẻ nỗi ḷng bi kịch chiến tranh. Tôi thấy Hải Âu DF-1, Q:14, và 郑和…Trịnh Ḥa…nháy mắt có vẻ bảo nhau chú ư trao đổi vô tư của bọn lính Trung Quốc.

    Riêng tôi đă chuẩn bị máy thu âm từ sớm, việc thu âm không ai phát hiện, bởi vậy tôi có nhiều thời gian suy nghĩ về phương thức ứng phó, nếu có sự kiện đến bất ngờ, phần thu âm chỉ để kiểm tra lại và định chuẩn chiến trường không thể nghe những cái ṃm khoác lác để rồi lấy đó làm chuẩn cho điểm nóng chiến trường vốn luôn luôn bí ẩn, và chiến tranh có quá nhiều giả thuyết.

    Kẻ thắng người thua không bao giờ công bố sự thật, điều hay nhất là tiếp xúc với binh sĩ tại chiến trường, dù vậy đối với tư liệu có thể tin cậy được 30%, c̣n những lời nói của binh sĩ Trung Quốc trên toa tàu này, cần gạn lọc lại thật kỷ, tin cậy rất thấp 5%, đôi khi vô giá trị, tuy nhiên không thể bỏ qua những lời nói của họ, v́ đôi khi tin tức có những bất ngờ khác, cho thêm nhận định khái quát trước khi sự kiện diễn ra. Kệ họ cứ nói, tôi tiếp tục âm thầm như thường lệ và quên đi cái nháy mắt của Hải Âu DF-1, Q:14 và 郑和…Trịnh Ḥa…

    Một gă khác, từ lúc lên tàu hỏa đă ngồi đối diện với tôi, y có g̣ má cao, nước da hơi xanh xao bạc nhược, h́nh dạng khắc khoải, khuôn mặt trần ngâm nói:

    – Quư đồng chí, h́nh như chưa tham dự chiến tranh, cũng có thể chỉ mới một lần đầu cho nên nói bừa băi về chiến trường Việt Nam, và không hiểu lư cớ v́ sao có cuộc chiến tranh này, quư đồng chí ngồi ở đây chỉ kể cho nhau nghe vui, thay cho lời tán gẫu, cho nên không h́nh dung được cuộc chiến này.

    Gă phản bác tất cả những lời nói từ sáng nay đến giờ này, đều không có giá trị, lời nói của gă, kéo đầu óc của tôi bừng tĩnh, chú ư từng lời một. Gă nói tiếp :

    – Phải nói kế hoạch dựng đứng chiến tranh Việt-Trung do Quân ủy trung ương (CPC) truyền lệnh cho Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), khởi hấn, chủ ư tạo ra chiến dịch "Tự vệ biên giới phía Nam". Tân Hoa Xă được lệnh phát sóng mỗi ngày đưa tin ngắn, loan tải "phía Nam biên giới Quảng Tây, Vân Nam, có các lực lượng quân đội Việt Nam xâm lược, đang tấn công các chốt điểm biên pḥng của Trung Quốc v.v...".

    Họ kích động nhân dân mỗi ngày, nâng cao thù hận, đẩy nhân dân vào thế cầm súng ra chiến trường, tạo thêm các cuộc gây hấn mới, tại các vùng biên giới Việt Nam, khi hết thuốc chữa Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) mới kéo nhau đi đánh xứ người, gọi là hành động theo ư dân để "Tự vệ tổ quốc", sự đời là thế từ ḷng dă tâm biến thành chính nghĩa con người ta thế đấy.


    Những cuộc gây hấn nhỏ đến giao tranh tại Kim B́nh tỉnh Lai Châu,
    Hà Khẩu (河口) Hồng Hà, tỉnh Lào Cai - Nguồn bản đồ: Maps Google.




    Tĩnh Tây (靖西Jingxi), Bách Sắc tỉnh Cao Bằng,
    và Long Châu (龙州Longzhou) Sùng Tả tỉnh Cao Bằng -
    Nguồn bản đồ: Maps Google. [2]

    Tất cả xảo thuật của Trung Quốc điều được đem ra sử dụng tại chiến trường Việt Nam. Họ đă có ư đồ dùng chiến tranh để mở rộng biên giới. Trung Quốc lấy cớ "Tự vệ biên giới" để đổ quân ào ạt vượt biên giới để gậm nhấm lănh thổ VIệt Nam. Lúc nào họ cũng loan tải nào là "Một tuần nay các quân phản động Việt Nam vũ trang xâm lược, t́nh h́nh biên giới leo thang trở nên tồi tệ hơn v.v...".



    Cuối cùng những địa danh như Kim B́nh (锦屏Jinping), Hà Khẩu (河口), Tĩnh Tây (靖西Jingxi), Long Châu (龙州Longzhou) của Việt Nam, nay đă trở thành lănh thổ của Trung Quốc. Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) phát động cuộc chiến, tung quân vào Việt Nam, tăng cường bộ đội biên pḥng, nhân dân Trung Quốc lao vào cuộc chiến. Tờ mờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, Quân ủy trung ương (CPC) ra lệnh xuất phát và bắn pháo lệnh cướp biên giới Việt Nam.

    Huỳnh Tâm

    [1] Tiết lộ mật mă "MB84" từ tác giả bài viết, từng là Tùy viên quân sự tại Đại sứ quán Nhật ở VN dưới quyền của Đại sứ Tsutsumi Koichi, Đại sứ Matano Kachigeaka, và Đại sứ Asomura Kuniaki.

    [2] Maps google.

  9. #39
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Giặc đă ùa vào nhà Việt Nam - Kỳ 2 (Huỳnh Tâm)



    “…Quư đồng chí có biết không, Tân Hoa Xă đă phổ biến thông điệp kêu gọi toàn dân: "Tích cực bảo vệ biên giới, dùng cường độ tiếng súng uy hiếp địch". Nhưng không ngờ vài Lữ đoàn mới vượt qua biên giới, gặp địa h́nh phức tạp, cộng với dân quân địa phương cố thủ…”



    Chiến trường Lăo Sơn hốt xác chiến binh Việt Nam và Trung Quốc

    Hai tay vô cớ vịn vào thành ghế, lặng lẽ đứng lên đi đến lan-can cửa toa tàu, đôi mắt hướng về quê hương, hồi tưởng Sài G̣n, Huế và Hà Nội ; nơi đồng dă với lũy tre xanh, cây đa đầu đ́nh. Cả ba miền đất Việt, tôi đă thu vào ống kính, luôn gánh theo bên ḿnh không ngại dặm xa xăm, dù quan san cách trở, nhưng ḷng vẫn đậm t́nh quê hương, đứng trên đất xứ lạ bắc nhịp cầu liên lạc tưởng nhớ Tổ Quốc.

    Không ngờ đúng lúc trái t́m xúc động, những cảnh cũ kéo nhau hiện về, quá khứ sống động hồi sinh, t́nh riêng phận lẻ lại dạt dào. Nào ai có biết người đi xa vẫn rung động và diễn tả trọn vẹn t́nh tự quê hương. May nhờ bộ nhớ sống động nên tôi một lần nữa lại có dịp th́ thầm với đất nước Việt Nam.

    Tàu hỏa vùn vụt qua cầu, tôi ngừng suy tư trở về với thực tại, chú ư từ xa thấy một tấm bảng ghi hướng vào thị xă Hợp Ph́ (合肥) điểm đến đích của hành tŕnh dài 1.571 km. Sau đó chuyển qua hành tŕnh ôtô hơn 252 km, c̣n xa lắm chúng tôi mới đến chiến trường Lăo Sơn. Dọc theo bên đường dây điện thoại quân sự dày đặc. Tiếp theo trên triền núi có những ṇng súng pḥng không chống máy bay chỉ về hướng Nam. Bầu trời không phận c̣n xa, đối phương đă phối trí trước chờ địch. Có những tên lính pháo binh lúc nhúc, mặc áo lưới ngụy trang trong hầm trú ẩn, vẫy tay chào con tàu hỏa đi qua. Ở nơi đây cũng lắm sự lạ, mỗi giao lộ, cây cầu đều có lực lượng dân quân vũ trang canh gác, những khe núi cắm cờ đỏ trắng với một chữ thập đỏ, khác nào chuẩn bị nổ súng. Vào địa danh này chưa đầy một phút, lữ khách có thể cảm nhận không khí ngột ngạt, chiến trường chưa đến đă có cảnh giới toàn một màu bi thảm.

    Hải Âu 海鸥DF-1, Q:14 gọi :

    – Anh NF3.....86 (Viên Dung) nhanh lên vào đây.

    Vừa ngồi xuống, Hải Âu nháy mắt, tỏ ư bảo yên lặng để nghe, thực ra tôi không cần nghe v́ máy thu âm trong ba lô vẫn tiếp tục, một tên sỉ quan mồm há hốc nói:

    – Cuộc chiến Lăo Sơn và Giả Âm Sơn vào ngày 2 tháng 4 năm 1984, có tên gọi là "Chiến dịch Lưỡng Sơn", theo thông tin phía địch quân có tên tướng Văn ǵ đó... tên tướng ǵ nhỉ quên rồi.

    Tôi liền gợi cho y nhớ.

    – Có phải Đại Tướng Văn Tiến Dũng không?

    – Đúng rồi chính nó. Y nói tiếp:

    – Quân đội Việt Nam không có khí thế chiến tranh qui ước, tên Văn Tiến Dũng không thể đem so sánh với Tư lệnh Đại Tướng Dương Đắc Chí (Yang Dezhi - 杨得志). Ngài là vị anh hùng thao lược Bắc cương năm 1960 và Nam tiến năm 1979. Cho nên quân ta chiếm được Lưỡng Sơn một cách mau lẹ, và dễ dàng, thử hỏi tên Văn Tiến Dũngtướng hèn sĩ yếu làm sao có thể gọi là đối thủ trong cuộc giao chiến tại Lăo Sơn, Giả Âm Sơn, Vị Xuyên v.v....

    Nói về tương quan lực lượng tham chiến

    Việt Nam đưa quân cho tên tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy 3 Sư đoàn chính qui gồm có : Sư đoàn 313, Sư đoàn 316, Sư đoàn 356, một phần nhỏ Địa phương quân và dân binh cùng tham chiến.


    Đại Tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy trận chiến
    Lưỡng Sơn tại biên giới Tây Bắc ngày 2 tháng 4 năm 1984
    Nguồn: THX.

    Về quân ta (Trung Quốc), trước sự chuẩn bị mở hầu bao chiến dịch Lưỡng Sơn vào ngày 2 tháng 4 năm 1984. Tư lệnh Đại TướngDương Đắc Chí (杨得志-Yang Dezhi)chỉ huy,dưới trướng của Đại Tướng gồm có Quân đoàn 14, Quân đoàn 11, Quân đoàn 1, Tập đoàn 67(集团军67), Tập đoàn 27 (集团军27), Tập đoàn quân 13(集团军13) và Bộ Tư lệnh Hậu Cần. Ngoài ra c̣n có Quân đoàn 41, Quân đoàn 42, Quân đoàn 43, Quân đoàn 54, Quân đoàn 55,đóng chốt trước miệng 3 tỉnh Lai châu, Lào Cai, và Hà Giang của Việt Nam.

    Quân ta chiến thắng hào hùng, kiểm soát được Lăo Sơn, Giả Âm Sơn, Vị Xuyên, và tính đến nay quân ta dưới 500 binh sĩ tử vong, quân địch có hơn 4500 tử vong.

    Tôi nghe qua, nhận định thấy tên này bất quá chỉ là con chốt quân cờ đen, phát biểu không trung thực, kiến thức quân sự kém cỏi. Tôi tảng lờ, âm thầm tính nhẫm tương quan lực lượng của Việt Nam-Trung Quốc:

    – Lực lượng quân chính qui tham chiến của Việt Namvới quân số 3 sư đoàn, tương đương 1 quân đoàn.

    Trong khi ấy lực lượng tham chiến của quân Trung Quốc lên đến 62 Sư đoàn, gần gấp đôi quân số, tràn qua biên giới 6 tỉnh phía Bắc Việt Nam vào ngày 17 tháng 2 nam 1979. Nay Dương Đắc Chí mới kiểm soát được Lưỡng Sơn. Đại Tướng Văn Tiến Dũng chặn đứng quân Trung Quốc ở tại đây cũng khá lắm, trong thời điểm này Lưỡng Sơn chưa phân thắng bại, trận chiến vẫn tiếp diễn. Quân đội Việt Nam muốn thắng, mỗi Sư đoàn phải phấn đấu tiêu diệt 10 Sư đoàn của quân đội Trung Quốc. Tương quan lực lượng giữa Việt Nam và Trung Quốc hoàn toàn không cân xứng, cũng không thể nói đó là một cuộc chiến tranh qui ước.

    Trong chiến tranh binh sĩ tử vong nhiều hay ít căn cứ vào chiến thuật. Tôi đoan chắc trên chiến trường Lưỡng Sơn quân đội Việt Nam lấy 1 đổi 30 quân Trung Quốc, bởi địa thế chừng ấy không gian lại có đến 620.000 quân.

    Một gă g̣ má cao, khắc khoải, trầm ngâm nói tiếp:

    – Ngày nay chúng ta là người Hán lại mang nhiều ḍng máu với đặc thù riêng, như người anh em hôm qua phát biểu có tính suy tư của dân tộc Liêu, chính trong tôi đă khó ngửi được cái-con đảng nhân dân Trung Quốc từ lâu, họ độc đảng lại vừa độc quyền luôn đứng trên đấu dân, họ tự cho có quyền độc khẩu, tuyên bố lung tung, bừa bải nào là:

    – Việt Nam bất chấp lời kêu gọi của chúng tôi (Trung Quốc) và lặp đi, lặp lại nhiều lần gồm cảnh báo từ tháng 8 năm 1978 đến nay, chính quyền Việt Nam vẫn gửi các lực lượng vũ trang, vi phạm biên giới tại điểm 162 và 705, hành động khiêu khích vũ trang đă giết chết binh sĩ và thường dân trên 300 người tại biên giới của chúng tôi. Tất cả các dân tộc địa phương đề nghị chính phủ nên trừng trị những kẻ xâm lược quân sự tại biên giới như Việt Nam, hăy bắn bỏ bọn này để bảo vệ ḥa b́nh và ổn định biên giới.

    Lời tuyên bố của họ, cần phải xoay ngược đầu 180° mới thấy đặc kịt mùi xúi giục thường dân tại biên giới la làng, sau đó đảng CS Trung Quốc lên kế hoạch thực hiện chiến tranh, thế là tam toàn, được ḷng dân yêu, bành trướng chiếm được biên giới, bảo đảm được cái ghế lănh thụ, có phải ăn cướp mới có ḥa b́nh và ổn định biên giới chăng?


    Những kư hiệu cao điểm chiến trường Lăo Sơn, trên đường đi đến
    địa danh này chúng tôi tường thuật chi tiết, cống hiến quư bạn đọc
    Nguồn: Hải Âu 海鸥DF-1, Q:14.

    Tôi nghe gă xấu xí này nói quá bạo phổi hỏi:

    – Anh nói thế không sợ người ta cho giải ngũ hay vào nhà lao à?

    – X́..., tôi chờ giải ngũ, e rằng không có, nếu được dịp ở tù chung thân cũng được, c̣n hơn chết ngoài mặt trận, hay bị tàn phế ra thân ăn mày, tôi vốn dân tộc Nhà Liêu nếu có chết v́ 遼朝(Nhà Liêu) cũng hài ḷng đó mới gọi anh hùng, c̣n chết bởi Hán nào an tâm, nay tôi "gặp cơn vạ gió tai bay bất kỷ" h́...h́... [1]

    Trong toa tàu hỏa bỗng phấn khởi, một gă thanh niên non choèn choẹt có lẽ tân binh, đứng lên dang đôi tay cao nói:

    – Tôi cũng hiểu được một phần nào về nội t́nh cuộc chiến trong lănh thổ Việt Nam, chính gia đ́nh tôi đă bị chúng nướng hết 3 người anh em chú-bác, tôi là người thứ 4, có thể đi theo những người anh ấy. Nhà nước luôn kích động trực tiếp ḷng người, thúc dục liên quan đến chiến trận, mỗi tin nhắn chỉ dùng 50 hoặc 60 từ, ngụ ư thường kêu gọi "Chiến binh tay súng b́nh tĩnh" theo nghĩa đen người chiến sĩ không thể nh́n thấy khói, mùi máu, thậm chí các hướng tấn công trước mặt. Thực chất khi lâm chiến cả 2 đối thủ đồng gờm, thủ chặt chiến tuyến không nhất định kích thước, không phân định chiến bại, không nh́n thấy bất kỳ con đường sống trước mặt. Cho nên những tin kích động ḷng yêu Tổ quốc để rồi chết sẽ thành "tử v́ đạo" (chết v́ đảng) vô duyên.

    Có thể nh́n thấy ở đây có nhiều lư do, chiến tranh dựa vào sự lừa gạt, người nào không muốn đặt bên ḿnh những bí mật chiến trường hăy tiết lộ với nhau nghe, không nên báo cáo sai tính trung thực trong ḷng bởi chiến trường là nơi không cho chúng ta một ư niệm sống và tin tức từ nhà nước đến với chúng ta không bao giờ đúng sự thực.

    Nay mai chúng ta tiếp cận chiến trường có thể nh́n thấy những tuyệt vọng, qua 3 lời hứa hạn chế của lănh đạo chiến tranh, cam kết rằng "Thời gian hạn chế, hạn chế chiều sâu". Có ai nghĩ rằng nhà nước chơi chữ, sự thực đă xuất lệnh "Quy định không gian hạn chế chiến trường" theo nghĩa đen chiến tranh cho đến khi nào cụ Đặng Tiểu B́nh đứng vững trong nội bộ ổ điếm chính trị Bắc Kinh, sau đó bỏ mặc chúng ta, cho một ít hư ảo tử v́ đạo "hy sinh v́ đảng", dù thương binh sống sót tự lê thân xin ăn cũng mặc v.v...!

    Quư đồng chí có biết không, Tân Hoa Xă đă phổ biến thông điệp kêu gọi toàn dân: "Tích cực bảo vệ biên giới, dùng cường độ tiếng súng uy hiếp địch". Nhưng không ngờ vài Lữ đoàn mới vượt qua biên giới, gặp địa h́nh phức tạp, cộng với dân quân địa phương cố thủ. Những điểm này biến thành nơi pḥng ngự kiên cố, trận chiến diễn ra khốc liệt, những Lữ đoàn bị đóng cứng, chôn thân trong nghĩa trang. Tôi không hài ḷng với sự viện dẫn, t́m mọi lư do, kích động thù hận chủ nghĩa dân tộc, bởi đảng cộng sản TQ, v́ nó là ĐCSTQ.

    Gă thanh niên cóâm thanh kỳ lạ, dơng dạc phát biểu:

    – 为了增进“越-中” 友谊, "建议"把中国侵占的黄沙(我西沙) 两广还给越南. 越南自古以来已经就拥有主权并实现了有效管理, 后来被中国武力侵占了!

    "Để tăng cường hữu nghị "Việt-Trung" nâng tầmt́nh bạn, đề nghị "Ôn Vật" trả lại cho Việt Nam Hoàng Sa, và vùng Lưỡng Quảng, (Quảng Đông và Quảng Tây)từ thời xa xưa cổ đại Việt Nam đă thực hiện chủ quyền của ḿnh. Sau đó bịT ".


    Chúng tôi h́nh dung trước những bước chân sẽ đến cao điểm Lăo Sơn
    và Vị Xuyên, hai địa danh chiến trường Việt-Trung vẫn tiếp tục đẫm
    máu không phân biệt binh sĩ tử vong!
    Nguồn: Hải Âu 海鸥DF-1, Q:14.

    Bỗng dưng, có kẻ khen người chê lối phát biểu "phản động" của người thanh niên non choèn choẹt, riêng tôi nghi ngờ lỗ tai bệnh hoạn hay xúc động mạnh, ḷng hổ thẹn phải gục đầu xuống ba lô. Một hồi lâu tôi mới ngẩng đầu lên, mắt ngó về hướng cửa của con tàu, để suy nghiệm lời báo động của người thanh niên xa lạ, nói về thân phận Việt Nam, lên tiếng tố cáo đảng CSVN để mất nước, chấp nhận làm thân chư hầu.

    Tôi bừng tỉnh và cảm nghiệm chính đảng CSVN đă bán dân tộc và Tổ quốc Việt Nam; trí thức hững hờ, nhân dân im lặng, quân đội chỉ bảo vệ đảng CS làm ngơ Tổ quốc. Tổ quốc đă lâm nguy và sắp đến hồi kết thúc, 75 triệu người Việt Nam (1985) tiếp tục chạy theo phương tiện, sống cho cá nhân! Thử hỏi khi đất nước rơi vào ách nô lệ giặc Hán, viễn cảnh đất nước trong điêu linh, bị trị bởi hai ṿng xiềng xích của đảng CS bản xứ và đảng CS Trung Quốc!

    Lạ thay trước mặt tôi, có một thanh niên vốn dân tộc Liêu dám bộc bạch những lời kiêng cữ, không sợ hiểm nguy, quả nhiên người thanh niên Liêu truyền nồng ấm t́nh yêu quê hương Việt vào tim tôi đă khiến tôi bừng tỉnh, đánh thức lương tri ngủ say và mê muội của tôi. Càng nhớ về quê hương, nhớ từng bước chân rảo khắp trên mọi miền đất nước, tôi càng ngẫm nghĩ về 6 tỉnh biên giới của quê hương đă mất. Đây là một phần lănh thổ chiến lược của Việt Nam đă rơi vào tay Trung Quốc.


    Chúng tôi thu thập được 15 địa danh của lănh thổ Việt Nam bị
    Trung Quốc chiếm từ 1956 đến 1999. Căn cứ theo bản đồ hành chánh,
    hiện nay Trung Quốc chiếm toàn vùng chiến lược của 6 tỉnh Lai châu,
    Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh phía Bắc Việt Nam
    Nguồn: Hải Âu 海鸥DF-1, Q:14.

    Tôi lại gục đầu xuống ba lô muốn khóc, đầu óc liên miên chập chờn, vọng niệm hư giả vẫn không có tiếng ai đáp lại. Một hồi lâu nghe tiếng người thanh niên dân tộc Liêu và gă có g̣ má cao, khuôn mặt trần ngâm đồng nói:

    – Chúng tôi nói thẳng, nói bằng lương tâm, quư ông không hài ḷng th́ đi chỗ khác hay tránh bọn hủi này, để không mích ḷng nhau.

    Bốn khẩu súng lục chĩa vào đầu ngươi dân tộc Liêu và gă g̣ má cao, bốn tay súng đưa thẻ công vụ Quân báo ra và nói :

    – Mời quư đồng chí đi theo chúng tôi.

    Giọng nói của họ rất khô khan, riêng tôi lẹ làng giúi vào tay người thanh niên dân tộc Liêu, 200 Yuan, đưa tay làm dấu hiệu tặng hai người. Lúc này cả toa tàu yên lặng khác thường, hơi khó hiểu. Trong ḷng tự trào một quyết định:

    – Khi vào đất Tổ phải làm ǵ đó cho Quê-hương, từ đây mở rộng giao thiệp với "Hải Âu", bám không rời biên giới Tây-Đông Bắc của Tổ quốc, chính ḿnh phải có một phương thức thực hiện cẩn trọng, đồng giải mă "MB84" t́m cho bằng được trong Bộ chính trị đảng CS Việt Nam có bao nhiêu nhân viên t́nh báo Hoa Nam. Ít nhất đă đọc qua một lần từ "V" của t́nh báo Hoa Nam, cho thấy Bộ chính trị đảng CSVN trực thuộc Hoa Nam, bởi thế họ tổ chức bộ máy cai trị đất nước Việt Nam bằng một phiên bản không thể khác CS Trung Quốc!

    Trong đầu óc tiếp tục suy nghĩ liên miên, đặt nhiều nghi vấn khác nhau về "MB84" và "V":

    – Nếu thế "V" một bộ máy CS Trung Quốc đă làm chủ đất nước Việt Nam, c̣n "MB84" một tổ chức hoạt động siêu quốc gia, đứng trên chính quyền đảng CS Việt Nam, họ có riêng quân sự, kinh tế, tài chánh, phương tiện sống của nhân dân và quốc gia thuộc về họ.v.v... Thảo nào một t́nh báo Hoa Nam có qui luật của nó, dù sống hay ở bất cứ nơi nào cũng an toàn dưới bóng CS Trung Quốc. Thế "V" và "MB84" không thể qui tội cho họ phản bội dân tộc và bán đứng Tổ quốc Việt Nam, bởi họ là người Hán đă hoạt động t́nh báo tại Việt Nam hơn 73 năm qua (1940-2013), chỉ qui tội người Việt Nam quá khờ khạo để cho họ mượn chủ thuyết Cộng Sản biến Việt Nam thành chư hầu, đến nay người Việt vẫn chưa mở mắt ra để soi rọi bóng tôi đi t́m sự thật.

    Đây là một sự kiện quá khủng khiếp, CS Trung Quốc đă vận dụng CS Quốc Tế để cướp quốc gia lân bang. Họ hành động rất tinh vi, hơn cả suy nghĩ của những nhà thông thái. Giờ đây nhân dân Việt Nam vẫn c̣n say đắm mùi vị CS chăng, hay vẫn ngủ trong truyền thuyết cách mạng tháng 8, bản tuyên ngôn độc lập 1945 của t́nh báo Hoa Nam và Hiến pháp đẫm máu ôm chân CS Trung Quốc. Chế độ CS che đậy dă tâm lớn bằng những nhân vật biểu tượng như Hồ Tập Chương (Hồ Chí Minh). Người dân hăy bừng tỉnh để đón cơ hội trở ḿnh, cùng nhau t́m phương thức thoát đại họa CS, và mở cửa tiếp nhận trào lưu tiến bộ "Dân Chủ Đa Nguyên", thế kỷ 21 của nhân loại văn minh.

    Ngồi trong toa tàu hỏa của Trung Quốc, tiềm thức trong tôi cứ măi xoay quanh tầm vóc rộng lớn củalịch sử dân tộc Việt, cảm nhận thế hệ nào cũng đắm ch́m trong chiến tranh. Đầu óc quay cuồng suy nghĩ không chịu ở yên, bởi ḷng xôn xao không chấp nhận sự gian giảo của đảng CS Trung Quốc đă bày ra trận bố cướp biên giới của Ông-cha đă dầy cong xây dựng đất Tổ Việt! Đến hôm nay tôi mới h́nh dung hành động của riêng ḿnh, và chuyến đi này cho phép dấn thân hơn.

    Có người thúc bên hông, tôi tỉnh lại tâm ư, tự thôi thúc, hứa:

    – Nhất định giải mă "MB84" cho bằng được.

    Tôi sửa lại thế ngồi, hành tŕnh điền dă c̣n dài. Tiếp cận chiến trường dù cô độc nhưng ḷng tôi vẫn vui và chấp nhận mọi hiểm nguy. Một lần nữa cùi chơ cánh tay của Hải Âu (海鸥DF-1, Q:14) thúc vào bên hông tôi, y nói:

    – NF3.....86, có biết một sự kiện khôi hài nhà nước CS Trung Quốc không?

    – Hải Âu cứ nói tôi nghe đây.

    – Buổi chiều ngày 18 tháng 2 năm 1979, Cục Dự trữ chiến dịch thuộc Quân Ủy trung ương (CPPC), nhận lệnh khẩn cấp, mở cuộc tổng tấn công phía trước biên giới Việt Nam di chuyển bằng quân xa. Họ ngụy trang đầy cây lá, hối hả chuyển quân bắt đầu tấn công, binh sĩ không có thời gian nấu ăn phải lên đường. Quân Ủy trung ương giao cho trung đoàn 55 của Quân khu Quảng Châu chuyên sản xuất và lắp ráp ôtô, nhận trách nhiệm nhà bếp và chuyển thức ăn vào chiến trường. Nhà máy ôtô biến thành kho lương thực của bộ binh, và từ đó chiến binh trên trận địa trường mang dạ dày trống rỗng! Chỉ được ăn vào 8-9 giờ ban đêm. Tôi đă mất hai xuất ăn bởi ôtô chuyển thức ăn quá ít, tôi phải chờ chuyến khác nhưng chờ măi vô ích. Binh sĩ biết rằng cấp trên ăn chận khẩu phần, họ bắt đầu "ăn cắp cơm gịn" đưa đến t́nh trạng đồng đội nổ súng rồi ôm nhau chết. Họ chết v́ miếng "cơm cháy" chứ không chết bởi địch quân, nhưng họ cũng được vinh danh anh hùng liệt sĩ. Tôi thường gặp trường hợp này, lặng lẽ ghi vào sổ lưu bút về căn tính xấu của người Hán. Họ vốn rất ích kỷ, dù nước ở con mương bên đường, họ vận dụng bắp thịt để giải quyết biên giới sử dụng nước.

    Vừa rồi tôi thấy NF3.....86 tặng cho hai đồng chí tên tuổi không biết, một số tiền không phải nhỏ, trong ḷng họ có cảm ơn bạn không!

    Một hiện thực khác trong cuộc chiến tranh VN-TQ người ta gọi "Tự vệ"

    Buổi sáng ngày 19 tháng 2 năm 1979, Quân đội tuy được trang bị nhẹ, thế nhưng trong ba lô của những chiến binh lại có những mặt hàng phi chiến đấu, tất cả đều được xếp chồng lên nhau cùng với vũ khí, đạn dược, chai, túi xách, và nước. Những người lính tự động phân phối một vài mẩu tạc đạn, chất nổ cứng. T́m hiểu ra mới biết do nhu cầu bồi dưỡng cho nên dùng tạc đạn đánh cá ao hồ v.v... Họ không hiểu nhiệt độ đầu mùa Xuân phía Nam rất cao, ban ngày lên đến 25 độ, cái nóng ấy làm nhiều binh sĩ bất cẩn cho nổ tạc đạn vào người thay v́ cho cá. Khí trời Việt Nam rất nóng, họ phải tự động cởi đồng phục, hầu hết chỉ mặc quần đùi, áo sơ mi. Cấp lănh đạo cho rằng không hợp với phong cách quân đội, tức th́ binh sĩ được trang bị bằng vải mưa, cho rằng trang bị nhẹ; thực ra binh sĩ không cần áo mưa, họ chỉ cần ăn no.

    Tại chiến trường xảy ra những sự kiện không nên có; cấp chỉ huy nhận lệnh khởi hành 20 đoàn quân xa chuyên chở lương thực, và mạng lưới nước cung cấp chiến trường. Việc làm này cũng đă thấy quá khó khăn, do biên giới phía Nam núi non hiểm trở. Quân ủy (CPC) quá ngu muội, trong đoàn quân xa lương thực lại chèn vào xe tăng, xe bọc thép, pháo binh, đạn dược v.v... nếu địch quân phát hiện xem như "tự vệ" thành "thất thủ". Địch thủ chỉ cần đánh vào lương thực và nước là đương nhiên Họ Đặng kêu trời không thấu! Chiến trường sẽ tan vỡ cuộn thành thép, không khác nào bột màu đỏ tung toé trên vỉa hè. Tôi thường th́ thầm hỏi lư do nào Đặng Tiểu B́nh đẩy chúng tôi về phía trước tuyệt vọng.

    Anh NF3.....86, có biết không, những con đường núi không đủ rộng, nhiều nhánh quân đội di chuyển cùng một lộ tŕnh, luôn bị ùn tắc giao thông, không ai chịu nhường ai. Thế là tranh chấp lẫn nhau trên sườn núi; những tiếng nói ồn ào trộn lẫn lời thô lỗ và giọng điệu của kẻ cướp trong người lính Trung Quốc. Công binh đă mở hành lang thứ hai, xe vẫn ùn tắc ở những nơi quá hẹp giống bị khóa nút miệng chai. Xe Quân y tải xác binh sĩ bị ùn tắc lâu ngày, bọc vải nhựa bao tử thi không bền, không đủ sức chịu đựng thời khí nóng trong-ngoài, có những tiếng x́ hơi kinh hăi, sau đó bốc hơi mang theo mùi hôi tanh, khiến cho binh sĩ sợ hăi, nản ḷng, chưa ra chiến trường đă hết ư chí chiến đấu!

    Theo tôi nhận thấy cuộc chiến năm 1979 quá tàn nhẫn. Tại ngă ba giao điểm gần cửa khẩu Hữu Nghị, thường dân Việt Nam vô t́nh phải hứng chịu pháo kích của ta, làm chói tai, vạn lần tiếng gầm rú của thuốc súng, khói lửa mang theo bạo lực âm thanh nổ long trời lở đất. Trong lúc chúng tôi được lệnh tham gia cuộc chiến gần cửa khẩu Hữu Nghị, đột nhiên lại nhận được lệnh hỗ trợ giải thoát cho Tập đoàn quân 42 tại hướng Nam, chúng tôi phải mở cửa tấn công tổng hợp. Cấp chỉ huy bảo chúng tôi tiếp tục đột nhập sâu vào biên giới Việt Nam, chiếm được một đầu cấu làm pḥng ngự cố thủ, cầu đúc bê tông cốt thép, cây cầu dài hơn 100 mét, có khả năng chịu trọng tải hàng chục tấn.

    Phía quân đội Việt Nam muốn phản công ngăn chặn chúng tôi, họ sẵn sàng làm nổ tung cầu, họ đă đặt ở đầu cầu của họ hai tấn thuốc nổ, hơn 300 ng̣i nổ lắp đặt điện và điều khiển bán tự động. Binh sĩ Việt Nam đang cố gắng tận dụng lợi thế khi quân đội của chúng tôi mới vượt qua biên giới được một nửa. Chúng tôi sử dụng chiến lược nhanh, thổi đạn pháo qua đầu cầu của địch, không cho đối phương kịp phản ứng, do đó chúng tôi đă giành được chiến thắng, nắm bắt cầu cho quân đoàn 4, quân đoàn 12, trung đoàn trinh sát 374, và trung đội Công binh.

    Trong ngày ấy chúng tôi không nhận được sự che chở của pháo binh, chúng tôi dùng chiến thuật biển người, đẩy nhiều lớp tấn công vào những trạm kiểm soát biên giới của Việt. Chỉ mười lăm phút sau chúng tôi dập tắt tất cả sức kháng cự của địch quân và họ phải đầu hàng. Sau đó pháo binh Việt Nam bắn trả nhưng chỉ tạo ra những ổ gà dưới đất, tổn hao vỏ đạn thuốc súng. Nhiệm vụ của chúng tôi là ở lại bám cầu, tay cầm vũ khí bảo vệ hai đầu cầu cho đến ngày rút quân.

    Những đơn vị phía trước đă chạm địch và giao tranh quyết liệt, tiếng súng và pháo ở khắp mọi nơi, súng máy, súng trường, âm thanh đạn lạnh, gầm thét trong biển máu, với những tiếng pháo gầm bay trên đầu, không khác nào miệng núi phun lửa suốt ngày đêm, những vỏ đạn rơi xuống đất mỗi lúc chồng chất lên cao.

    Trong khu rừng xanh, những ruộng mía, xe tăng quân ta xuất hiện, địch phát hiện phá vỡ điểm khiếm khuyết của xe tăng, đưa đến t́nh trạng tê liệt tháp pháo, những lỗ đạn lớn trên thân xe. Xa xa bên đường có những chiếc ôtô quân sự hiệu Hoàng Hà JN252, Hongyan CQ261, Dongfanghong DFH665, Diên An SX250 bị cháy, xe tăng T54A, B/55 nh́n thấy không khác rùa chết, đôi khi c̣n ngửi được mùi cháy khét lẹt từ xác cháy của binh sĩ tử vong.


    Đoàn tàu hỏa chở quân xe, vũ khí bị loại ra khỏi chiến trường,
    chuyển tải từ ga Hợp Ph́ về Côn Minh trang bị lại,
    chỉ cần nh́n thấy những thứ này cũng biết quân đội Việt Nam đáng gờm.
    Ảnh: NF3.....86.

    C̣n 10 cây số nữa th́ tàu hỏa vào ga Hợp Ph́(合肥).

    Tự dưng nói với ḷng, tuy đứng ngoài cuộc chiến Việt Nam-Trung Quốc, không v́ thế mà làm ngơ trước sự vô cớ quân Trung Quốc xăm lăng, chiếm lănh thổ của Việt Nam. Ḷng phẫn nộ không thể tha thứ đảng CS Việt Nam bán nước, thôi thúc con người một ḿnh một thân đi qua những con hào chiến lũy của bọn bành trường Bắc Kinh và tiếp cận chiến trường để ghi lại những h́nh ảnh, thước film lịch sử cho hậu thế.

    Người ta đi t́m chân lư, riêng tôi t́m ḷng cảm xúc yêu mến quê hương bằng hành động của trái tim, cùng những chiến binh Việt Nam nằm xuống v́ bảo vệ Tổ quốc. Họ đă hy sinh cho Tổ quốc chưa hẳn họ đă hy sinh cho đảng CS Việt Nam. Họ đă bị đảng CSVN đánh lừa và lợi dụng. Qua những trag hồi kư nhặt được từ chiến trường, trên lănh thổ của quê hương mới biết được người chiến sĩ vô danh ấy để lại đôi lời suy tư nhận diện cuộc chiến 1979, và chân dung người chiến sĩ vô danh ước mơ lănh thổ quê hương vẹn toàn vẫn c̣n nguyên. Người chiến binh tử sĩ đă đem theo nhiều bí ẩn trong cuộc chiến trên lănh thổ Tây Bắc-Đông Bắc Việt Nam, mà anh đă một lần tham chiến vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 và ngày 2 tháng 4 năm 1984. Cuộc chiến biên giới này đến nay vẫn chưa nguôi ngoai khói lửa.

    Chắc chắn thế hệ mai sau sẽ đánh giá sự kiện chiến tranh hôm nay, bởi tuổi trẻ năng động, cần điểm đứng trong xă hội dân chủ đa nguyên và nguồn sống thanh b́nh từ cộng đồng đến tâm hồn.

    Huỳnh Tâm

    [1] Một người Liêu đọc thơ của Nguyễn Du.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 07-09-2011, 01:38 PM
  2. Replies: 2
    Last Post: 30-08-2011, 10:36 PM
  3. Replies: 0
    Last Post: 13-11-2010, 05:52 AM
  4. Replies: 0
    Last Post: 29-10-2010, 07:08 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •