Page 3 of 3 FirstFirst 123
Results 21 to 28 of 28

Thread: Chiến tranh Đông Dương III

  1. #21
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    GHI CHÉP VỀ CAMPUCHIA (1975-1991)
    Huỳnh Anh Dũng, cựu Đại sứ VN tại Campuchia

    (Phần 2B)



    Tập trung sức thực hiện nhiệm vụ quân sự trước mắt là đánh thắng trong chiến tranh biên giới phía Tây-nam; tăng cường khả năng và tŕnh độ sẵn sàng chiến đấu trên hướng Bắc và Tây Bắc, tăng cường pḥng thủ các đảo và bảo vệ vùng biển; bảo vệ vững chắc cả nước. Phối họp với các đ/c Lào dẹp bạo loạn, củng cố mọi mặt ở tuyến biên giới phía Tây, phát huy sức mạnh của đường biên giới hữu nghị Việt-Lào, ra sức làm tốt nghĩa vụ quốc tế“… ‘

    Nghị quyết kết luận:

    “Tiếp theo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vừa kết thúc th́ sứ mệnh lịch sử mới, cuộc đấu tranh mới chống một đối tượng mới rất thâm độc và thô bạo, lại bắt đầu.

    Nhân dân ta đương vững bước tiến lên, hăng hái, dũng cảm và b́nh tĩnh thông minh vượt qua mọi khó khăn, thử thách, quyết giành những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc VN yêu quư, đánh bại mọi mưu đồ của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc, tích cực làm nghĩa vụ quốc tế cao cả v́ ḥa b́nh, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH trên toàn thế giới, tích cực góp phần bảo vệ sự trong sang của chủ nghĩa Marx- Lenin“.

    Từ đây, ta tiến hành một loạt hoạt động quan trọng để thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 :

    - Ngày 16/6/1978, BCT ra Nghị quyết 20 thành lập một ban mới gọi là B- 68 nhằm giúp Trung ương trong việc giúp cách mạng CPC. Nghị quyết nói rơ đây là một cơ quan nghiên cứu, làm tham mưu, vừa là cơ quan chuyên gia của bạn CPC. Trụ sở B-68 đặt ở ngôi nhà 606, đường Trần Hưng Đạo thành phố HCM. B-68 lúc đầu do đ/c Nguyễn Xuân Hoàng làm Trưởng Ban, là đ/c có quá tŕnh lâu dài giúp CPC, từng là Trưởng ban CP-48 của Trung ương Đảng; sau này đ/c Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện làm Trưởng ban, Phó ban có các đ/c Lê Hai (hiện là Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị), Đăng Thành, Vũ Oanh, Phan Đ́nh Vinh, Nguyễn Hữu Tài (Ban Đối ngoại Trung ương), Ngô Điền, sau này có thêm đ/c Phạm Chung (nguyên Phó Văn pḥng Trung ương Đảng). Khi cơ quan thành lập do đ/c Lê Đức Thọ trực tiếp phụ trách đă nhanh chóng triển khai những công việc đế chuẩn bị thực hiện Nghị quyết Trung ương

    Đ/c Lê Đức Thọ vào Nam, tập hợp những cán bộ miền Nam vốn quen biết CPC để xác minh những người ly khai Pol Pot chạy sang VN, dùng trực thăng để triệu tập cán bộ, lúc này Souvanna ở miền Đông CPC vốn có quan hệ tốt với VN hồi 1970 bị Pol Pot trấn áp đă tự sát, (sau này Nayan Chanda và Ben Kierman viết nhiều sách về vụ nổi dậy này ở miền Đông)18. Theo lời Hun Sen, Chea Sim, trước khi tự sát Souvanna có dặn khi khó khăn cần chạy sang VN t́m sự giúp đỡ. Heng Somrin và Chea Sim chạy sang VN năm 1978 cùng một số đông cán bộ cũng thuộc lực lượng miền Đông mà Pol Pot gọi là khu 203, c̣n Hun Sen th́ sang VN từ 6/1977. Một nguồn cán bộ nữa là những người dân CPC khi ta tấn công lên CPC ở khu vực Svay Rieng tháng 12/1977 cũng theo bộ đội VN về VN tị nạn, sống tập trung ở trại Bến Sắn (Tây Ninh) trong số đó sau này có người là Bộ, Thứ trưởng như Prach Sun, Phó Ban đối ngoại; Chay Kannha, Chủ tịch [Hội] phụ nữ và Thứ trưởng Bộ Y tế; Chan Ven, Bộ trưởng Bộ Giáo dục… Tôi được nghe kể lại là đ/c Lê Đức Thọ dặn cán bộ ta là phải t́m cho bằng được ngọn cờ, ngọn cờ chính trị của người CPC dù đó là “ngọn cờ rách”.

    Trong khi bên trong ta chuẩn bị khẩn trương như vậy th́ hoạt động đối ngoại để chuẩn bị cho hành động của ta cũng diễn ra rất khẩn trương. Nghị quyết Trung ương IV tháng 7/1978, đề ra nhiệm vụ cho hoạt động đối ngoại là:

    “Tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, giữ vững độc lập, tự chủ, đoàn kết với tất cả các lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, ra sức lợi dụng mọi mâu thuẫn giữa các đế quốc, giữa đế quốc và các nước khác với bọn phản động quốc tế phân hoá và cô lập cao độ kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất hiện nay của nhân dân các nước Đông-nam châu Á là tập đoàn phản động theo Mao trong giới cầm quyền Bắc Kinh.

    Ra sức củng cố và tăng cường t́nh đoàn kết anh em và quan hệ hợp tác gắn bó về mọi mặt với Liên Xô, đồng thời tăng cường quan hệ hữu nghị với các nước XHCN khác tranh chủ sự giúp đỡ của các nước XHCN cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ta“…

    - Ngày 29/6/1978 : VN chính thức gia nhập SEV [Hội đồng tương trợ kinh tế].

    - Ngày 3/7/1978: Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phan Hiền thăm Thái Lan, Nhật Bản, Singapore, New Zealand, Malaysia, Lào.

    - Từ 13/9/1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đi thăm các nước Thái Lan, Philippines, Indonesia, Maylaysia, Singapore nêu đề nghị kư Hiệp ước không xâm lược, không lật đổ, lập khu vực ḥa b́nh, độc lập, tự do, trung lập và ổn định, phồn vinh. Ta tuyên bố không ủng hộ các tổ chức Mao-ít ở các nước này.

    - Cuối tháng 9/1978, tại LHQ, VN và Mỹ gặp nhau về b́nh thường hóa quan hệ 2 nước. VN không gắn điều 21 với b́nh thường hóa quan hệ Việt-Mỹ.

    Hai bên thoả thuận lập Working Group bàn về b́nh thường hóa quan hệ 2 nước.

    - Trong 2 tháng 8 và 9/1978 đàm phán Trung-việt về người Hoa nhưng không kết quả.

    - Tháng 10/1978, Mỹ chuyển mạnh sang câu kết với TQ chống Liên Xô, VN, giảm và tạm ngừng thương lượng về b́nh thường hóa quan hệ với VN.

    - Ngày 3/11/1978, VN kư với Liên Xô Hiệp ước hữu nghị và hợp tác.

    - Ngày 2/12/1978, ta giúp h́nh thành Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước CPC, ngọn cờ chính trị của lực lượng yêu nước CPC và Hăng thông tấn SPK ra đời. Anh Ngô Tiến (hiện là phát thanh viên tiếng Khmer của Đài Tiếng nói An Giang) là người dịch và chép tay bản Tuyên ngôn và Cương lĩnh của Mặt trận để phân phát. Trong quá tŕnh chuẩn bị, một lần nữa những người CPC lại tỏ ư ngại VN lại chi phối CPC, điển h́nh là Ouch Bun Chhoeun người thuộc khu miền Đông cùng chạy sang với Chea Sim, cũng nhắc lại đề nghị tương tự như Pol Pot năm 1970 là VN chỉ giúp pháo binh, vũ khí và huấn luyện c̣n CPC tự đánh. V́ tư tưởng dân tộc đó nên Ouch Bun Chhoeun không được lựa chọn vào hàng ngũ lănh đạo mặc dù anh ta có tŕnh độ, sau này Chhoeun làm Bộ trưởng tư pháp. Người được lựa chọn đứng đầu Mặt trận là Heng Somrin, một người nông dân chất phác, hiền lành.

    Ngay trước và sau khi ra đời Mặt trận, ta đă từng bước ém quân vào sâu trong nội địa CPC, giúp xây dựng những đội quân vũ trang tuyên truyền CPC. Sau khi tập trung 19 trong số 25 sư đoàn ở biên giới CPC-VN, ngày 23/12/1978, quân Pol Pot tiến công thị trấn Bến Sỏi và mục tiêu là đánh chiếm thị xă Tây Ninh. Từ 25/12/1978, ta bắt đầu mở cuộc tấn công lớn sang CPC và 7/1/1979, đánh chiếm Phnom Penh và các tỉnh khác của CPC.

    Cần nói thêm rằng, sau khi ta đă đưa quân đánh sang CPC ngoài Mặt trận ta chưa kịp giúp thành lập Đảng, khi Phnom Penh sắp giải phóng, ngày 6/1- 8/1/1979, tại Thủ Đức (thành phố HCM) đă họp Hội nghị xây dựng lại Đảng CPC với tất cả là 62 đảng viên tập hợp từ các nguồn khác nhau bầu 7 người vào Ban xây dựng Đảng (sau này được gọi là Đại hội III): Pen Sovan19, Trưởng ban; Heng Somrin, Chea Sim, Van Son, Chan Kiri, Bouthong, Hun Sen là Uỷ viên. Van Son làm Trưởng ban tổ chức; Chan Kiri làm Trưởng ban kiểm tra. (Chan Kiri là một đ/c gốc Nam bộ tham gia kháng chiến chống Pháp, người trung thực chất phác nhưng năng lực hạn chế. Pen Sovan không thích đ/c này, thường chê bai và cũng không muốn có một đ/c lớp cũ như vậy trong lănh đạo. Van Son là Trưởng ban tổ chức kiêm Bí thư thành Uỷ Phnom Penh sớm có những biểu hiện sa đoạ và liên hệ với những phần tử xấu. Tháng 3/1979 Van Son và Chan Kiri bị Pen Sovan gạt và đưa Sai Phuthong thay Van Son nhưng không trao đổi ǵ với phía VN. Pen Sovan, Chea Sim và Sai Phuthong h́nh thành Thường vụ Trung ương Đảng). Ngày 7/1/1979, ta giải phóng Phnom Penh và các tỉnh nhưng các cán bộ chủ chốt của CPC vấn c̣n ở tại căn cứ Quân khu 7 ở sân bay Tân Sơn Nhất măi đến ngày 24/1/79, một chiếc Yak 40 của ta mới chở số lănh đạo CPC bao gồm cả Pen Sovan, Heng Somrin, Chea Sim, Hun Sen… về Phnom Penh để 25/1/1979 dự lễ mừng chiến thắng ở sân vận động Olimpic, c̣n mọi việc của buổi lễ đều do chuyên gia và anh Phùng Thế Tài đứng ra tổ chức. Chuyên gia VN đến làm tất cả, “làm thay, làm thầy” và “làm cả tớ”. Khi chuẩn bị đón Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ngoài vật chất, lễ tân, người phục vụ do Anh Khai ở Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh đưa lên, ta c̣n đưa cả công nhân quét đường lên Phnom Penh. Tôi c̣n nhớ một chi tiết khi Phnom Penh giải phóng, cần ra đời Chính phủ và tên nước mới, Bộ Ngoại giao được giao nhiệm vụ soạn giúp Tuyên ngôn của Chính phủ mới CPC. Một buổi tối sau 7/1/1979, tại Pḥng họp lớn của Bộ, các đ/c Nguyễn Cơ Thạch, Vơ Đông Giang, Phạm B́nh, Nguyễn Xuân, Lưu Văn Lợi thảo luận và phân công giao viết gấp. Anh Vơ Đông Giang nói là Tuyên ngôn nên ngắn gọn, súc tích, mang tính chất hiệu triệu như Tuyên ngôn 2/9 của VN. Tuyên ngôn phải ra đời tên nước có ư kiến là đặt tên là Cộng hoà Dân chủ, có ư kiến là Cộng hoà Dân chủ Nhân dân, ư kiến này bị bác v́ quá giống tên nước Lào, cuối cùng anh Giang đề nghị đặt tên Cộng hoà Nhân dân cho giống TQ.

    Bản Tuyên ngôn được viết, điện mật vào trong kia [tp HCM] và 12/1/1979, Tuyên ngôn của Hội đồng nhân dân cách mạng CPC chính thức được công bố và tên nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân CPC có từ đấy. Và cũng từ đó, do Bộ Ngoại giao CPC chưa h́nh thành, chuyên gia giúp Bộ Ngoại giao chỉ có anh Ngô Điền, anh Chiến Thắng và anh Bùi Hữu Nhân nên phần lớn các tuyên bố của Bộ Ngoại giao CPC đều được viết từ Bộ Ngoại giao VN, anh Vơ Đông Giang duyệt rồi gửi sang Phnom Penh để dịch và công bố.

    Ngày 16/2/1979, Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm chính thức CPC; ngày 17/2/1979 kư Hiệp ước hữu nghị và Hiệp định quân sự; cùng ngày TQ đưa 60 vạn quân tiến công các tỉnh miền Bắc VN để “dạy cho VN một bài học”.

    Chúng ta đưa quân vào CPC, giúp CPC làm lại cuộc cách mạng từ con số 0 trên tất cả mọi lĩnh vực. Để hiểu thực chất đội ngũ cán bộ CPC, xin trích đoạn báo cáo nhận xét của chuyên gia ta ở CPC năm 1980:

    “Lực lượng cán bộ, đảng viên CPC do nhiều nguồn tập hợp lại, chưa thông cảm và hoà hợp với nhau:

    - Số cán bộ đảng viên tập kết từ miền Bắc [VN] về nay c̣n độ 40 người.

    Số lượng ít song giữ vị trí quan trọng, chủ chốt (3/6 Uỷ viên Trung ơng, 5/8 Bộ trưởng, 9/26 Thứ trưởng, 7/29 Bí thư và Chủ tịch tỉnh. Nói chung, thái độ chính trị tốt, tin cậy và đoàn kết với VN. Có một ít thật sự là ly khai Pol Pot ở lại miền Bắc, giác ngộ chính trị khá. C̣n số đông là già yếu hoặc do cầu an, sinh hoạt bê tha. Đến nay một số đă thoái hoá, rơi rụng.

    - Lực lượng ly khai Koh Kong thuộc dân tộc Thái, đă sớm nhận ra bản chất phản động của Pol Pot, nổi dậy chống lại chúng ngay từ năm 1974 rồi chạy sang Thái Lan, lúc đó có 65 đảng viên. Lực lượng ly khai Đông Bắc chủ yếu là thuộc dân tộc ít người ở Ratanakiri cũng đă sớm chống lại Pol Pot, chạy sang VN và Lào.

    Hai lực lượng ly khai này đều thuộc các dần tộc ít người, nói chung có lập trường chính trị tốt, đoàn kết gắn bó với VN. Các dân tộc ít người tuy chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng có lực lượng cán bộ, đảng viên khá đông và giữ vị trí quan trọng. Dân tộc Thái chỉ có gần 4.000 [người] song đảng viên hiện tới 70 người chẳng những giữ vị trí chủ chốt của t́nh Koh Kong mà cả Kampot và một vài ngành Trung ương. Số cán bộ dân tộc ở Ratanakiri nay được bố trí giữ các chức vụ chủ chốt ở cả 4 tỉnh Đông Bắc và một vài ngành Trung ương.

    Bên cạnh chỗ mạnh, căn bản về lập trường chính trị, các cán bộ đảng viên người dân tộc (Koh Kong và Đông Bắc) đều có nhược điểm là tŕnh độ văn hoá thấp, chủ nghĩa địa phương và thành kiến dân tộc với người CPC Kinh20 khá nặng nề.

    - Lực lượng nổi dậy của K-203, có số cán bộ, đảng viên khá đông, giữ nhiều chức vụ quan trọng (2 Uỷ viên Trung ương, 10 Bí thư tỉnh, 2 Bộ trưởng và 4 Thứ trưởng). Số do nhận rơ đường lối, quan điểm Pol Pot phản động mà chống nó là số ít c̣n số đông do bị Pol Pot nghi ngờ trừng trị mà nổi dậy. Có người đến nay thấy rơ là tiến bộ, chuyển biến tốt lên nhưng cũng c̣n những người ta chưa thật hiểu rơ, ảnh hưởng quan điểm dân tộc hẹp ḥi, nghi ngờ VN, tác phong xấu của thời kỳ Pol Pot trong một số người c̣n nặng.

    - Những người tị nạn và ly khai khác, lẻ tẻ không thành tổ chức, chạy rải rác sang VN từ 1977 đến cuối 1978. Số này không thuần nhất. Có những người tốt nay trở thành cán bộ ṇng cốt. Nhưng cũng có người khá phức tạp.

    - Lực lượng cán bộ mới sau 7/1/1979, chủ yếu là học sinh, sinh viên, trí thức. Số đông có tinh thần yêu nước, nhiệt t́nh, tận tuỵ đă thấy những nhân tố mới, có triển vọng nhưng những người giác ngộ chính trị thấp, nhận thức mơ hồ, dễ dao động, có ảo tưởng đối với Sihanouk, hoài nghi chưa tin chế độ mới.

    Số cán bộ này đă chiếm tới 25% các Ban cán sự tỉnh, 38% UBND tỉnh, 80% cấp Vụ, Cục và 7 Thứ trưởng”.

    (C̣n tiếp)



    Ghi chú:

    13 Prince Souphanouvong (July 13, 1909 - January 9, 1995) was, along with his half-brother Prince Souvanna Phouma and Prince Boun Oum of Champasak, one of the “Three Princes” who represented respectively the communist (pro-Vietnam), neutralist, and royalist political factions in Laos. He was the figurehead president of Laos from December 1975 to October 1986, a period where the country was effectively under the control of Vietnam.

    14 Walter Frederick “Fritz” Mondale (born January 5, 1928) is an American politician and member of the Democratic-Farmer-Labor Party. He was the 42nd Vice President of the United States (1977 – 1981) under President Jimmy Carter.

    15 Brzezinski, Zbigniew (zbĭg‘nyū brəzhĭn‘skē) , 1928–, American political scientist and public official, b. Warsaw, Poland, Ph.D., Harvard, 1953. The son of a diplomat, he was raised in Canada and became (1958) a U.S. citizen. A professor of international relations at Harvard and Columbia Univ. (1960–77), he was a Soviet specialist and proved to be an influential voice regarding political affairs in the Communist world. As President Carter’s national security adviser (1977–81), he advocated a hard line toward the USSR. In 1981 he resumed his academic career, writing extensively on U.S. strategic relations, the collapse of Communism, and America’s security challenges. His books include Ideology and Power in Soviet Politics (1962, repr., 1976), Between Two Ages (1970, repr. 1982), The Grand Failure (1989), The Grand Chessboard (1997), and The Choice: Global Domination or Global Leadership (2004).

    16 乔冠华/Qiao Guanhua (1913.3.28-1983.9.22), Minister of Foreign Affairs of the People’s Republic of China (1974.11-1976.12) After 1976, he held the position of advisor to the Chinese People’s Association for Friendship with Foreign Countries.

    17 Chỉ nhóm tàn quân của Vang Pao sau năm 1975.

    18 Nayan Chanda (1986)). Brother Enemy: The War After the War. ISBN 0-15-114420-6.

    Ben Kierman - The Pol Pot Regime.

    19 Lănh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước CPC từ 1979-12/1981.

  2. #22
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    GHI CHÉP VỀ CAMPUCHIA (1975-1991)
    Huỳnh Anh Dũng, cựu Đại sứ VN tại Campuchia
    Phần 3




    II. diễn biến cuộc đấu tranh về CPC và một số quan hệ đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1979-1991



    Cuộc đấu tranh về vấn đề CPC trong gần 13 năm (1979-1991) và những quyết sách của ta về CPC luôn luôn gắn liền với những biến đổi trong chiến lược của các nước lớn những biến đồi sâu sắc trên thế giới. CPC là trọng tâm của hoạt động ngoại giao của ta trong giai đoạn này. Có thể có nhiều cách chia giai đoạn khác nhau những để tiện tŕnh bày được chi tiết, tôi phân chia làm 4 giai đoạn nhỏ:



    2.1 Giai đoạn 1979 – 1981



    a) Bối cảnh quốc tế:

    Thắng lợi của VN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đă đưa đến sự suy yếu và khủng hoảng sâu sắc nhất của đế quốc Mỹ, kéo theo sự khủng hoảng toàn diện của chủ nghĩa đế quốc trong thời kỳ sau VN. Mỹ phải rút khỏi lục địa châu Á, chuyển sang chiến lược quần đảo tạo nên khoảng trống trong khu vực. Thất bại của Mỹ, thắng lợi cách mạng VN và các nước Đông Dương đă đưa tới sự khủng hoảng của các nước ở Đông-nam Á. Mỹ ra sức giải quyết khủng hoảng nội bộ bằng mọi cách khôi phục lại sức mạnh của Mỹ về quân sự, kinh tế và vị trí số một đối với đồng minh; đối phó với việc Liên Xô mở rộng ảnh hưởng và sự phát triển của cách mạng thế giới. Nhằm mục tiêu đó, từ cuối những năm 70, Mỹ đẩy mạnh chạy đua vũ trang, kiềm chế Liên Xô và quan hệ Đông-tây nhưng tránh không làm đổ vỡ quan hệ Xô-Mỹ; đồng thời đẩy mạnh hoà hoăn với TQ, từng bước chơi con bài TQ chống Liên Xô và cách mạng, nhất là từ sau chuyến đi TQ của Brezinski tháng 8/1978, khi TQ chuyển hẳn sang đi với Mỹ chống Liên Xô, phục vụ 4 hiện đại hóa. Trong vấn đề CPC, Mỹ lợi dụng chính sách chống Liên Xô của TQ, tuy nhiên tránh dính líu trực tiếp và điều Mỹ quan tâm nhất là bảo đảm an ninh cho các nước ASEAN nhất là Thái Lan.



    Liên Xô triệt để khai thác cục diện quốc tế “sau VN”, sự suy yếu của Mỹ và khó khăn của TQ để mở rộng ảnh hưởng, bao vây, kiềm chế TQ và phá câu kết Mỹ-Trung. Đặc biệt Liên Xô đă lợi dụng thắng lợi của VN để tăng cường vị trí ở Đông-nam Á. Liên Xô đă ủng hộ ta đưa quân vào CPC, đồng thời thúc đẩy quan hệ với VN (kư Hiệp ước hợp tác hữu nghị tháng 11/1978), với Lào, thiết lập quan hệ với CPC, mở rộng sự có mặt của Liên Xô cả về chính trị, kinh tế lẫn quân sự, tranh thủ VN và các nước Đông Dương đi với Liên Xô đối phó với câu kết Trung-Mỹ song tránh dính líu trực tiếp vào cuộc xung đột.



    TQ coi Đông-nam Á là khu vực ảnh hưởng và là hướng bành trướng chủ yếu của TQ. Thắng lợi của VN, Đông Dương và sự phát triển của xu hướng ḥa b́nh, ổn định ở Đông-nam Á làm cho TQ thất bại trong chính sách truyền thống lợi dụng và kiềm chế cuộc đấu tranh của 3 nước Đông Dương, phá hoại và chia rẽ các nước Đông-nam Á v́ lợi ích chiến lược của TQ.



    Thắng lợi của VN kéo theo việc Liên Xô tăng cường ảnh hưởng ở Đông Dương, Mỹ thất bại và bị đẩy ra khỏi lục địa Đông-nam Á tạo một khoảng trống chiến lược lớn. Các chính quyền của các nước ASEAN lâm vào khủng hoảng, trong khi TQ bị suy yếu nghiêm trọng sau cách mạng văn hoá và bè lũ 4 tên.



    Trong t́nh h́nh đó, từ 1978 TQ triển khai mạnh mẽ kế hoạch 4 hiện đại [hóa] đi liền với sự chọn lựa “phương Tây hoá cả gói” đă quyết định bước ngoặt chiến lược đối ngoại của TQ đi với Mỹ dẫn đến đỉnh cao của câu kết Trung-Mỹ trong những năm 1978-1981. TQ triệt để lợi dụng sự suy yếu của Mỹ và yêu cầu của Mỹ ngăn chặn Liên Xô và cách mạng thế giới, khai thác mâu thuẫn Mỹ-Xô và giữa cách mạng với phản cách mạng, đưa ra khấu hiệu chống “đại bá” và “tiểu bá” tự xưng là “NATO phương Đông” phát triển mạnh quan hệ với Mỹ và phương Tây.



    TQ cũng triệt để lợi dụng mối lo ngại của các nước ASEAN trước việc Mỹ rút lui và nguy Cơ Liên Xô mở rộng ảnh hưởng ở Đông-nam Á để lập mặt trận TQ-Mỹ-ASEAN-phương Tây chống Liên Xô, VN và cách mạng thế giới. Nhằm thực hiện mục tiêu tranh thủ Mỹ và phương Tây phục vụ 4 hiện đại hoá đồng thời chống lại sự bao vây, kiềm chế của Liên Xô, TQ đă có những bước đi rất quyết liệt về mặt đối ngoại, cắt viện trợ cho VN, Anbani (1978), khuyến khích, hỗ trợ cho bọn Pol Pot tiến đánh VN, trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược chống VN tháng 2/1979, và lôi kéo Mỹ, ASEAN, phương Tây bao vây cô lập VN, đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Liên Xô, VN trong khu vực. Việc TQ chuyển từ cách mạng sang đi với Mỹ chống cách mạng, dùng vấn đề CPC để chống Liên Xô và VN đánh dấu sự thay đổi lớn trong chiến lược của TQ trong hơn 40 năm qua.



    b) Về CPC, ngày 7/1/1979 khi ta giải phóng CPC mặc dù ta dùng cả hải-lục-không quân; dùng lính dù nhảy xuống Siem Reap nhưng chủ yếu là lùa quân Pol Pot từ phía Đông sang phía Tây, do đó cơ bản lực lượng Pol Pot không bị tiêu hao lớn.



    Về mặt đối ngoại, ta phải đối phó với t́nh h́nh rất khẩn trương. Ngày 6/1/1979, TQ cho máy bay đón Sihanouk sang Bắc Kinh và cũng trong những ngày này Cảnh Tiêu, Hàn Niệm Long21 bí mật sang Bangkok gặp Thủ tướng Kriangsak [Chomanan] bàn việc giúp Pol Pot ” đất thánh” và vận chuyển vũ khí của TQ cho Pol Pot (tài liệu ta bắt được ở căn cứ Tà Sanh – Battambang). HĐBA/LHQ họp ngày 10/1/1979 và ra dự thảo nghị quyết lên án VN xâm lược, đ̣i VN rút quân; Liên Xô đă phủ quyết dự thảo nghị quyết này. Ngày 9/1/1979, Hội nghị Ngoại trưởng các nước ASEAN ra tuyên bố kêu gọi rút ngay, rút hết quân nước ngoài khỏi CPC. Cũng ngày 9/1/1979, Ngoại trưởng Mỹ Cyrus Vance nói: cuộc nói chuyện giữa VN và Mỹ về b́nh thường hóa quan hệ đă đổ vỡ do cuộc xâm lăng của VN vào CPC. Từ lúc này sức ép đ̣i ta rút quân ngày càng mạnh và cũng từ 30/6/1979 ḍng người VN di tản ngày càng tăng vọt trong khi kinh tế trong nước rất khó khăn làm xấu đi h́nh ảnh VN trên thế giới. Lập trường Cơ bản của chúng ta về CPC lúc này là tuyên bố “t́nh h́nh CPC là không thể đảo ngược” và quyết tâm “ăn cả” ở CPC. Tháng 7/1981, chúng ta tẩy chay không tham dự Hội nghị quốc tế của Liên hợp quốc về CPC (ICK).



    Trong nội địa CPC, sau giải phóng 7/1/1979, ngoài việc bộ đội ta tiếp tục tiến công đánh vào 11 căn cứ lớn của Pol Pot, nhiệm vụ khẩn cấp là phải cứu đói cho dân, lo tổ chức toà án kết tội Pol Pot (8/1979) làm ngọn cờ chính trị cho chính quyền CPC, lo tổ chức bộ máy chính. quyền từ Trung ơng đến địa phương, tổ chức in và phát hành đồng tiền trở lại. Cần nói thêm rằng trong bối cảnh t́nh h́nh CPC lúc đó việc xây dựng Đảng và chính quyền đều làm từ trên xuống, lập chính quyền tỉnh rồi mới đến huyện, xă; phát triển đảng viên trong Bộ, Thứ trưởng trước rồi mới đến cán bộ… đây cũng là nguyên nhân tại sao CPC không thể có Cơ sở vững chắc. Ngày 1/5/1981, ta giúp tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội ở CPC; 26-29/5/1981, tổ chức Đại hội IV của Đảng [Nhaan dân Cách mạng CPC] và công bố Hiến pháp mới. Có thể nói tất cả mọi hoạt động của ta về đối ngoại và trên thực địa CPC lúc này là nhằm củng cố chính quyền CPC, giữ nguyên trạng ở CPC.



    Từ giữa năm 1979, một vấn đề nữa mà ta phải đối phó là nhân việc dân CPC đói, các tổ chức quốc tế dùng chiêu bài “cứu trợ quốc tê” để mùa mưa kéo dân CPC tị nạn sang biên giới Thái và mùa khô th́ đẩy trở lại vào nội địa CPC để giúp bảo tồn và cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc men cho bọn Pol Pot. Tiếp theo Hội nghị 3 Ngoại trưởng VN, Lào, CPC lần thứ nhất năm 1980 tại Phnom Penh nhân kỷ niệm một năm ngày giải phóng CPC (đ/c Nguyễn Duy Trinh dự Hội nghị này; sau Hội nghị, đ/c Nguyễn Cơ Thạch trở thành Bộ trưởng ngoại giao). Hội nghị 3 ngoại trưởng lần thứ 2 họp tháng 7/1980 ở Vientiane là nhằm đối phó với vấn đề tị nạn, cứu trợ quốc tế và từ đấy h́nh thành cuộc họp thường kỳ Ngoại trưởng ba nước.



    Về Sihanouk, sau khi rời Phnom Penh 6/1/1979, Sihanouk được đưa đến New York để tŕnh bày vấn dề CPC, đ̣i VN rút quân; trong tâm trạng vừa thoát khỏi tù Pol Pot nhưng phải bảo vệ Pol Pot, ngày 14/1/1979, Sihanouk xin tị nạn chính trị ở Mỹ nhưng TQ đă thuyết phục Mỹ không cho Sihanouk tị nạn. Trở về Bắc Kinh, Sihanouk 4 lần viết thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng (7, 23, 27/10/1979 và 11/11/1979), nội dung thư Sihanouk cám ơn đă giải phóng CPC khỏi diệt chủng nhưng đề nghị được đàm phán với VN để khôi phục chủ quyền CPC.



    Ta không nhận và không trả lời [những] thư đó. Trong cuộc họp báo ở La Havana nhân dịp Hội nghị cấp cao 6 của Phong trào không liên kết (tháng 8/1979), Thủ tướng Phạm Văn Đồng đă nói về Sihanouk như sau: “Qest ce qui est Sihanouk? C’est ùn homme fini”. T́nh h́nh đó là do lợi ích của ta là giữ nguyên trạng ở CPC, c̣n những người lănh đạo mới ở CPC rất sợ uy tín và ảnh hưởng của Sihanouk nên kiên quyết không muốn ta tiếp xúc với Sihanouk. Trong một cuộc gặp lănh đạo ta năm 1979, để ngăn ta có thể có tiếp xúc với Sihanouk, Pen Sovan nói: giống như tục ngữ CPC, Sihanouk như con chó khi chui qua rào th́ cụp đuôi, vượt qua rào nó sẽ vểnh đuôi trở lại.



    c) Về quan hệ của ta với chính quyền CPC:

    Cán bộ, chuyên gia “làm thay, làm thầy, làm tớ”, c̣n những người lănh đạo, cán bộ CPC “hưởng thụ từ lúc c̣n thơ, quan liêu từ lúc bơ vơ mới về” lại sớm nảy sinh đầu óc hẹp ḥi dân tộc. Điển h́nh là vụ Chea Sim22 và Pen Sovan. Chea Sim là đại biểu Quốc hội của Pol Pot, được coi là người mẫu mực của CPC Dân chủ và Chea Sim dẫn đầu đoàn ly khai chạy sang VN 1978 trong đoàn có Heng Somrin nhưng không được trọng dụng, được cử làm Bộ trưởng nội vụ một thời gian ngắn lại chuyển sang làm Mặt trận, Quốc hội. Vốn mặc cảm v́ không được tin cậy nên Chea Sim tỏ ít nói, lầm ĺ và càng mặc cảm hơn khi bị khám nhà. Ngày 10/3/1979 một chiếc ca nô cặp bến Phnom Penh, có 47 người, có vũ trang và cờ Pol Pot, nói về để liên hệ với Chea Sim; tối 12/3/1979, quân quản Phnom Penh đem xe tăng đến khám nhà Chea Sim, chụp ảnh tài liệu, những người trong nhà và cho máy rà ḿn t́m vũ khí quanh nhà Chea Sim. Cuối tháng 3/1979, Hun Sen nói với anh Ngô Điền về sự kiện này như sau: Sao lại khám nhà một đ/c Trung ương. Có địch mới làm như vậy. Nếu là tôi, tôi không cho phép làm thế, tôi bắn cả người khám và bắn cả tôi luôn. C̣n Pen Sovan, vốn là trẻ mồ côi CPC do bộ đội ta nhặt được và được nuôi từ bé, trở thành đại uư quân đội ta, và thành Tổng Bí thư nhưng sớm trở mặt chống lại ta và tháng 7- 8/1981 làm găng về vấn đề người Việt ở CPC và đ̣i cử đoàn của Trung ương Đảng CPC sang đàm phán với Trung ương Đảng VN về vấn đề này. Trong nội bộ đảng CPC, Pen Sovan độc quyền, không tôn trọng tập thể. Tháng 12/1981, BCT CPC khai trừ Pen Sovan, nhờ ta bắt giam Pen Sovan ở Hà Nội và Heng Somrin trở thành Tổng Bí thư.



    Đối với Bộ Ngoại giao, từ 3 đ/c chuyên gia đầu năm 1979, tháng 9/1979 theo yêu cầu của Bộ Ngoại giao CPC ta đă cử sang 17 chuyên gia bố trí tới tất cả các Vụ của Bộ Ngoại giao CPC (như các đ/c Hoàng Đ́nh Cầu – trưởng đoàn, Ngô Quư Cận, Ngô Viết Lũy, Đặng Đức Khôi, Châu Phong, Lê Đông, Trần Ngữ, Đỗ Ngọc Sơn, Nguyễn Huy Cẩm, Lê Quang (Tài vụ), Kim Lân (Cục) v.v…). Tháng 3/1981, Pen Sovan và Hun Sen gặp đ/c Nguyễn Cơ Thạch ở nhà khách góc đường Nguyễn Du ở Hà Nội có ư chê chuyên gia ta, cho rằng một số việc CPC tự làm tốt hơn chuyên gia VN như về lễ tân, báo chí… và yêu cầu ta rút chuyên gia khỏi Bộ Ngoại giao và chỉ cử một vài cố vấn giỏi. Theo yêu cầu của CPC, ta rút chuyên gia khỏi Bộ Ngoại giao và cử 5 cố vấn sang CPC giúp Bộ Ngoại giao CPC trong thời gian từ 1982 đến 1988 (các đ/c Vũ Toàn, Hoàng Đ́nh Cầu, Khang, Trần Ngữ, Đoàn Trần Cảnh/Ban Đối ngoại, Phạm Công Bai…).



    Cần phải nói rằng Bộ Ngoại giao ta có sự giúp đỡ rất to lớn đối với Bộ ngoại giao CPC, ngoài sự giúp đỡ trực tiếp rất tỉ mỉ hàng ngày của đ/c Ngô Điền với cá nhân Hun Sen và Bộ Ngoại giao CPC, những cuộc họp ba ngoại trưởng thường kỳ hoặc những dịp sang trao đổi t́nh h́nh với những bài phát biểu chuẩn bị công phu của đ/c Nguyễn Cơ Thạch thật sự là sự bồi dưỡng rất Cơ bản về đánh giá t́nh h́nh thế giới và khu vực cũng như phương pháp luận trong việc xem xét xử lư các vấn đề đối ngoại và điều này có ảnh hưởng rất lớn đến Hun Sen. Không những thế, năm 1985 ta c̣n giúp mở lớp bồi dưỡng kiến thức ngoại giao cho CPC, các đ/c Vũ Khoan, Lê Mai, Nguyễn Phượng Vũ đă từng sang CPC giới thiệu với lớp học này về chiến lược của Liên Xô, Mỹ, TQ.



    2.2 Giai đoạn từ 1982-1986



    a) Bối cảnh quốc tế:

    Dưới tác động mạnh mẽ của cuộc chạy đua toàn cầu về kinh tế và KHKT và do những khó khăn nội tại của mỗi nước, từ đầu những năm 1980 cả ba nước Mỹ, Xô, Trung đă bắt đầu điều chỉnh chiến lược, tập trung phát triển sức mạnh bên trong, giảm bớt t́nh trạng căng mỏng ra nhiều địa bàn và nhiều mục tiêu, từ đó ở mức độ khác nhau buộc phải giảm bớt chạy đua vũ trang, giảm cam kết ở bên ngoài, tránh đụng độ trực tiếp với nhau và tránh bị sa lầy vào một cuộc xung đột quân sự kéo dài. Quan hệ 3 nước lớn đă vượt qua thời kỳ đối đầu căng thẳng của giai đoạn trước, chuyện sang h́nh thái cải thiện quan hệ từng đôi một. Xô- Mỹ đă đẩy nhanh việc cải thiện quan hệ (gặp gỡ cấp cao Genève 1985, kư INF 12/1985), củng cố thế 2 cực. TQ tiếp tục duy tŕ quan hệ với Mỹ trong khuôn khổ các thông cáo chung Trung-Mỹ từ 1972, đồng thời từng bước đi vào b́nh thường hóa với Liên Xô (nối lại đàm phán Thứ trưởng từ 1982, gặp gỡ 2 Ngoại trưởng tháng 9/1984, đón Phó Thủ tướng Liên Xô Arkhipov tháng 12/1984). Tuy nhiên, việc cải thiện từng cặp quan hệ các nước lớn chỉ đang ở bước đầu.



    b) Cuộc đấu tranh về vấn đề CPC trong giai đoạn này về Cơ bản vẫn nằm trong khung cảnh tập hợp lực lượng.cho cuộc đối đầu giữa 2 phía, đồng thời xuất hiện nhân tố mới là các nước lớn bắt đầu sử dụng vấn đề CPC để dàn xếp quan hệ với nhau.



    Khi nối lại đám phán Trung-Xô tháng 10/1982, ngay từ đầu TQ nêu “3 trở ngại”, trong đó có vấn đề CPC, đồng thời trao 5 điểm cho Liên Xô (VN tuyên bố rút hết quân và bắt đầu rút một bộ phận; đàm phán b́nh thường hóa Việt-Trung; cải thiện quan hệ Trung-Xô; lập Chính phủ liên hiệp ở CPC; bảo đảm quốc tế cho một nước CPC độc lập và không liên kết). Đến 1/3/1983, TQ đưa ra công khai 5 điểm, tháng 6/1983, TBT Triệu Tử Dương nhắc lại 5 điểm ở Quốc hội TQ, và 10/1983 TQ nhắc lại tại ṿng 3 Xô-Trung. Lập trường của TQ về vấn đề CPC lúc này là không chấp nhận được đối với ta. Trong khi thương lượng với Liên Xô về CPC, TQ cương quyết bác bỏ đàm phán với ta, dùng việc TQ cải thiện quan hệ với Liên Xô, các nước XHCN để ép ta và gây xung đột lớn trên biên giới Việt-trung đầu năm 1984. Đi vào đàm phán với TQ từ tháng 10/1982, Liên Xô tiếp tục ủng hộ VN, CPC, chưa chịu bàn với TQ về 3 trở ngại. Cùng với việc điều chỉnh quan hệ với TQ, Mỹ coi trọng hơn vị trí của ASEAN. phó Tổng thống, Ngoại trưởng, Bộ trưởng quốc pḥng, Tham mưu liên quân Mỹ lần lượt thăm Đông-nam Á (1983-1984). TQ cùng các nước ASEAN thúc đẩy việc lập “Chính phủ liên hiệp 3 phái” (6/1982) và Mỹ ủng hộ, và từ 1983 TQ bắt đầu đề cao vai tṛ Sihanouk phù hợp với yêu cầu của Mỹ và ASEAN hơn.



    Từ năm 1985, khi các nước lớn đẩy mạnh quá tŕnh cải thiện quan hệ từng cặp một, vấn đề CPC ngày càng trở thành một chủ đề quan trọng và trực tiếp trong đàm phán tay đôi giữa 3 nước lớn.



    Từ giữa năm 1984, thái độ của Liên Xô trên vấn đề CPC đă bắt đầu thay đổi, Liên Xô thúc đẩy ta và CPC đi vào giải quyết vấn đề CPC bằng chính trị. Tháng 6/1984, lần đầu tiên gợi ư ta tiếp xúc với Sihanouk, đồng thời lấy vấn đề CPC làm một nội dung trong đàm phán tay đôi với Mỹ và TQ. Tháng 5/1985 vấn đề CPC đă được đặt vào chương tŕnh nghị sự cuộc đàm phán cấp chuyên viên Xô-Mỹ bàn về các vấn đề khu vực. Từ ṿng 9 đàm phán Xô-Trung tháng 10/1986, Liên Xô bắt đầu nhận bàn với TQ về vấn đề CPC, nêu lên khả năng sử dụng Khieu Samphan. Tháng 7/1986, TBT Gorbachov tuyên bố ở Vladivostok nêu vấn đề CPC phải giải quyết giữa VN và TQ là 2 nước XHCN. Tháng 3/1987, Ngoại trưởng Liên Xô Shevardnadze thăm VN, CPC khuyên CPC nên đẩy mạnh hoà hợp dân tộc. Tháng 6/1987, đ/c Nguyễn Văn Linh thăm Liên Xô, Liên Xô gợi ư giải pháp về CPC theo công thức Afghanistan; sau chuyến đi này, đ/c Nguyễn Cơ Thạch sang CPC (2/6/1987) thông báo cho lănh đạo CPC và phân tích sự khác nhau giữa CPC và Afghanistan… Tháng 7/1987, Gorbachov tuyên bố với báo Merdeka (Indonesia) Liên Xô ủng hộ việc lập Chính phủ liên hiệp ở CPC giống như ở Afghanistan; cuối 1987, Liên Xô lại gợi ư với ta về việc Hun Sen gặp Khieu Samphan. Khác với trước, Mỹ tăng cường hoạt động về vấn đề CPC, từ tháng 5/1985, cùng với Liên Xô đưa vấn đề CPC vào danh mục các vấn đề khu vực nhưng ưu tiên bàn về các khu vực khác quan trọng hơn đối với Mỹ, đồng thời Mỹ bắt đầu viện trợ công khai cho 2 phái không cộng sản CPC nhằm giúp 2 phái này tăng cường lực lượng, khẳng định vai tṛ của Mỹ trong việc giải quyết vấn đề CPC. Tới tháng 9/1985 Mỹ cùng với Liên Xô đàm phán ở cấp Thứ trưởng về CPC và châu Á- Thái B́nh Dương. Qua 8 ṿng đàm phán Xô-Trung, TQ kiên tŕ đ̣i lấy vấn đề CPC làm một nội dung đàm phán về b́nh thường hóa quan hệ 2 nước, và trước bước phát triển nhanh của quan hệ Xô-Mỹ, TQ đă giảm yêu cầu, cố vượt qua “trở ngại” để thúc đẩy quan hệ Trung-Xô (tháng 4/1985, Đặng đặt vấn đề: nếu VN rút quân khỏi CPC, Liên Xô có thể duy tŕ căn cứ Cam Ranh và tháng 9/1986, Đặng tuyên bố sẵn sàng gặp Gorbachov nếu để giải quyết vấn đề CPC). Ngay trong khi sử dụng vấn đề CPC để thúc đẩy quan hệ với Liên Xô, TQ vẫn rất coi trọng việc tranh thủ Mỹ, phương Tây và ASEAN. Tháng 11/1986, Đặng tuyên bố một chính thể cộng sản không phù hợp với CPC, đồng thời TQ không chịu nói chuyện với VN.



    Trước triển vọng Xô-Mỹ, Xô-Trung dùng vấn đề CPC để dàn xếp với nhau, ASEAN cũng điều chỉnh chính sách gia tăng đối thoại với VN về vấn đề CPC, trong đó Indonesia đi mạnh hơn cả do Indonesia muốn đề cao vai tṛ nước lớn trong khu vực, tạo thế đi vào b́nh thường hóa với TQ. Từ cuối 1987, Thái Lan cũng bắt đầu t́m kiếm quan hệ với ta và CPC. Một nhân tố không kém phần quan trọng là các nước Đông-nam Á cũng đi vào cuộc chạy đua về kinh tế và KHKT, từ đầu những năm 1980 do giá sản phẩm sơ cấp giảm mạnh, nhiều nước khó khăn lớn, phải điều chỉnh Cơ cấu để thích nghi với t́nh h́nh.



    Nếu như trước đây các nước Tây Âu đứng về phía ASEAN trong giải pháp cho vấn đề CPC th́ nay đă tích cực tham gia, từ năm 1984 Pháp đă gợi ư tổ chức cuộc gặp Hun Sen-Sihanouk nhưng không thành do TQ cản phá.



    c) Từ 1982, với những chuyển biến mới trong t́nh h́nh quốc tế và sau Đại hội V của Đảng, chính sách của ta về CPC cũng từng bước điều chỉnh. Ngày 6/7/1982, Hội nghị 3 Ngoại trưởng VN, Lào CPC họp ở Vientiane tuyên bố đơn phương rút một bộ phận quân đội VN ở CPC. Ngày 1 8/9/1982, lần đầu tiên Hun Sen tuyên bố: nếu những người trong hàng ngũ Pol Pot tuyên bố ly khai chúng, tôn trọng Hiến pháp CHND CPC th́ sẽ được hưởng quyền công dân trong bầu cử theo Hiên pháp qui định và sẽ mời người nước ngoài quan sát cuộc tổng tuyển cử tự do ở CPC.



    Trong lúc này, ư định về việc phải rút quân t́nh nguyện VN ở CPC về nước là một ư định rơ ràng tuy nhiên việc rút quân đó phải trên Cơ sở giữ nguyên trạng ở CPC. Ngày 22/2/1983, Hội nghị cấp cao Đông Dương ở thủ đô Vientiane đă ra tuyên bố về vấn dề quân t́nh nguyện VN ở CPC, khẳng định hàng năm, một bộ phận quân đội VN sẽ rút quân tùy theo sự phát triển của t́nh h́nh CPC và Tuyên bố chung của Hội nghị tăng cường hơn nữa quan hệ đoàn kết đặc biệt giữa 3 nước, quyết định lập Ủy ban hợp tác kinh tế 3 nước và Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao 3 nước 6 tháng họp một lần là nằm trong Cơ chế tăng cường hợp tác kinh tế-văn hóa-KHKT giữa 3 nước. Đ/c Lê Duẩn trong hội đàm cấp cao ba nước đă phát biểu đại ư: chúng ta có SEV lớn ở Đông Âu c̣n ở Đông-nam Á, 3 nước chúng ta h́nh thành một SEV nhỏ .



    Tháng 2/1983, BCT Đảng Nhân dân cách mạng (NDCM) CPC ra Nghị quyết đề ra 3 mục tiêu phấn đấu của cách mạng CPC: xây dựng thực lực cách mạng; làm cho địch suy tàn; xây dựng đoàn kết VN-CPC, CPC-Lào. Tháng 5/1983, BCT ta ra Nghị quyết 11 chỉ đạo các ngành, các tỉnh giúp CPC thực hiện 3 mục tiêu nói trên.



    Ngày 3/2/1983, đ/c Nguyễn Cơ Thạch cùng đ/c Lê Đức Căng (Vụ trưởng Vụ châu Á 2), Trần Như Lịch (thư kư) đến thăm bí mật CPC. Ngày 4/2/1983, đ/c Thạch làm việc với BCT CPC có mặt: Heng Somrin, Sai Phuthong, Bouthong, Chao Si, Hun Sen, Chia Soth, Chea Sim. Phía ta có thêm đ/c Lê Đức Anh và đ/c Ngô Điền.



    Đ/c Lê Đức Anh nói: Từ 1979 đến nay, hàng năm, tùy theo sự phát triển của t́nh h́nh CPC, sự suy yếu của địch mà một bộ phận quân đội VN rút bớt. Năm 1983, đề nghị rút thêm Bộ tư lệnh Quân đoàn, 1 sư đoàn và 5 trung đoàn trực thuộc binh đoàn. Từ 1981 ta rút không công khai, từ 1982 việc rút đó có kết hợp với tấn công ngoại giao và đă thu được kết quả tốt. Lần rút này, đề nghị kết hợp tốt với đấu tranh ngoại giao. TBT Heng Somrin phát biểu tán thành nhưng đề nghị VN tăng cường giúp quân đội CPC. Việc rút Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long), đợt rút quân lớn nhất cho đến lúc này, được tiến hành vào tháng 5/1983, kết hợp với tuyên truyền đối ngoại, đă gây tiếng vang lớn trên thế giới. Cũng lúc này trên chiến trường CPC là bọn Pol Pot giảm hoạt động quân sự nhưng đẩy mạnh xây dựng chính quyền 2 mặt. Điển h́nh là vụ đánh địch “ngầm” ở Siem Reap tháng 5/1983, sai về phương pháp, phương châm, đánh vào cán bộ CPC. Ban lănh đạo chuyên gia toàn CPC đă kiểm điểm và ta đă thi hành kỷ luật: cảnh cáo trong Ban chấp hành Trung ương Đảng và rút về nước đ/c Bùi San (thường trực Ban Lănh đạo Tổng đoàn chuyên gia ở CPC), kỷ luật lưu Đảng và hạ cấp đ/c Hồ Quang Hoá từ Thiếu tướng xuống Đại tá. Ngày 18-19/10/1983, nhân dự Hội nghị chủ nhiệm Tổng cục chính trị 3 nước, đ/c Chu Huy Mân và Trần Xuân Bách thay mặt BCT ta xin lỗi Bộ chính trị CPC về sự kiện Siem Reap và thông báo quyết định kỷ luật của phía ta.



    Ngày 15/6/1984, Đại sứ Ngô Điền gặp TBT Heng Somrin thông báo việc Ngoại trưởng Pháp Claude Cheysson gửi thư cho Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đề nghị thu xếp cuộc gặp với Sihanouk nhưng VN không chấp nhận, chỉ có thể cùng Pháp thu xếp cuộc gặp CHND CPC với Sihanouk. Heng Somrin nói Sihanouk là kẻ thù trước mắt của CPC và là kẻ thù của 3 nước Đông Dương.



    Ngày 24/9/1984, đ/c Lê Đức Anh gặp Bộ chính trị CPC tại Phnom Penh.



    Đ/c Lê Đức Anh phát biểu đại ư: BCT VN hoàn toàn ủng hộ 3 mục tiêu mà BCT ra nghị quyết tháng 2/1983 nhằm xây dựng lực lượng cách mạng CPC. Qua thực hiện thấy CPC có nhiều tiến bộ. Cách mạng nước nào là sự nghiệp của bản thân nhân dân nước đó. Cuối 1978, đầu 1979 do hoàn cảnh rất đặc biệt của CPC, sự phản bội của chủ nghĩa bành trướng; nhân tố cách mạng, nhân tố những người cách mạng chân chính CPC bị tàn sát do đó lực lượng cách mạng VN phải tạo điều kiện cho nhân dân CPC đứng lên xây dựng lại lực lượng cách mạng, tạo điều kiện cho những người cách mạng chân chính thoát khỏi bàn tay giết người của Pol Pot.



    Do hoàn cảnh đặc biệt đó, lúc đầu cách mạng CPC phải do 2 lực lượng VN- CPC quyết định nhưng lực lượng quyết định là cách mạng CPC, không ai có thể làm thay… BCT VN ủng hộ và sẽ giúp thực hiện 3 mục tiêu. Sau khi thực hiện được 3 mục tiêu đó, lúc bấy giờ mới tính giải pháp chính trị. Trong khi đẩy mạnh xây dựng thực lực cách mạng, hiểu bản chất kẻ thù, chúng ta có thể vận dụng sách lược để phân hoá hàng ngũ kẻ thù, tranh thủ sự đồng t́nh của quốc tế đặc biệt sách lược đó phải làm cho cách mạng mạnh lên. Trên tinh thần đó BCT VN tán thành cuộc gặp gỡ CHND CPC với Sihanouk. Heng Somrin và Hun Sen phát biểu nhấn ư thúc đẩy để gặp Sihanouk chỉ dể t́m hiểu chứ chưa phải là để t́m giải pháp.



    Cuối tháng 11 đầu tháng 12/1984, Hun Sen đi thăm Thụy Điển và đi thăm Pháp để gặp Sihanouk theo sự sắp xếp của Ngoại trưởng Pháp Claude Cheysson nhưng cuộc gặp không thành do TQ phá. Hun Sen chỉ gặp người bà con tên là Hun Yendi có quan hệ mật thiết với In Tam, nguyên Chủ tịch Quốc hội thời Lon Nol và từ đó Hun Sen thiết lập được quan hệ với In Tam.



    Ngày 4/12/1984, anh Trần Xuân Bách gặp tay đôi với Heng Somrin và tôi đi dịch. Anh Bách thông báo Thủ tướng Chan Sy ốm phải điều trị lâu dài ở Liên Xô do đó CPC nên cử Quyền Thủ tướng. Anh Bách nói Chia Soth và Buthong bận quá nên để Hun Sen làm Quyền Thủ tướng. Heng Somrin nói Hun Sen có khả năng hơn, giải quyết việc nhanh hơn c̣n Chia Soth khi bận việc hay ngang ngạnh và hay quên. Ít lâu sau đó, Chan Sy23 chết v́ ung thư và Hun Sen trở thành thủ tướng từ đó.



    Năm 1984, ta và CPC tổng kết thành tựu 5 năm kể từ 1979), CPC rất phấn khởi, tự tin. Cuối năm 1984 đầu 1985, mặc dù rất gian khổ và chịu nhiều hy sinh, quân đội VN mở chiến dịch mùa khô tấn công đánh chiếm toàn bộ các căn cứ của cả 3 phái CPC phản động trên toàn bộ tuyến biên giới CPC-Thái Lan; đánh chiếm đến đâu ta xây dựng công tŕnh kiên cố, rào lại toàn bộ biên giới và đưa lực lượng CPC chốt giữ – Lực lượng CPC này có tên gọi là A.3.

    Trên cơ sở thắng lợi lớn về quân sự đó, Hội nghị 3 Ngoại trưởng lần thứ 11 tại Phnom Penh 16/8/1985 đă ra tuyên bố nêu nội dung mạnh mẽ nhất về giải pháp chính trị :

    - VN sẽ đơn phương rút hết quân vào năm 1990.

    - CHND CPC sẵn sàng nói chuyện với cá nhân và các nhóm Khmer đối lập bàn về vấn đề hoà hợp dân tộc trên Cơ sở loại trừ bọn diệt chủng Pol Pot.



    Tuy nhiên, những cố gắng của ta về đàm phán với TQ, đàm phán về CPC vẫn bế tắc, TQ vẫn giữ đ̣i hỏi cao về vấn đề CPC. Trước Đại hội VI, BCT họp ngày 12/6/1986 đă thảo luận và ngày 8/7/1986 đă ra Nghị quyết 32 về t́nh h́nh thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, đánh dấu bước ngoặt trong đấu tranh của ta về CPC và quan hệ với TQ.



    Nghị quyết 32 nhận định: “Trong cuộc đấu tranh hiện nay của nhân dân ta, đế quốc Mỹ là kẻ thù lâu dài và Cơ bản, bá quyền TQ là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, TQ lại là đối tượng mà Liên Xô, các nước XHCN và lực lượng tiến bộ trên thê giới đang tranh thủ đồng thời có đấu tranh”… ” Trong 10 năm qua, chúng ta giành được những thắng lợi lớn trên mặt trận đối ngoại, đồng thời cũng có một số khuyết điểm và thiếu sót“.

    Nghị quyết đề ra nhiệm vụ đối ngoại trong t́nh h́nh mới và chủ trương: “Ta phải chủ động tạo ra thế ổn định để tập trung vào xây dựng kinh tế“. Nghị quyết nhận định, do thuận lợi trên thế giới và thắng lợi của cuộc đấu tranh của ta “đang mở ra khả năng mới cho phép chúng ta chủ động chuyển sang một giai đoạn đấu tranh mới dưới h́nh thức cùng tồn tại ḥa b́nh giữa 3 nước Đông Dương với TQ, với các nước ASEAN, với đế quốc Mỹ, xây dựng Đông-nam Á thành một khu vực ḥa b́nh, ổn định và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho việc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc“. T́nh h́nh CPC đang có thuận lợi, CPC lớn mạnh và có chỗ dựa là VN, Lào; …”tuy nhiên sự nghiệp cách mạng CPC phải do nhân dân CPC quyết định“.

    Nghị quyết 32 chủ trương: “Để giải quyết ḥa b́nh vấn đề CPC và Đông- nam Á, chúng ta cần phải đạt được một sự thoả thuận của các bên có liên quan trực tiếp ở Đông-nam Á, đồng thời chúng ta có thể và cần ra sức lợi dụng mâu thuẫn giữa bọn đế quốc và bá quyền để đạt một giải pháp có lợi nhất cho 3 nước Đông Dương. Một giải pháp về CPC phải bảo đảm giữ vững thành quả cách mạng CPC và cách mạng CPC phải tiến lên, tăng cường khối liên minh giữa 3 nước với nhau và giữa 3 nước với Liên Xô…” ...“Ta cần tranh thủ Liên Xô ủng hộ một giải pháp về CPC có lợi cho cách mạng 3 nước Đông Dương. Mặt khác, một giải pháp về CPC mà không tính đến vai tṛ của TQ là không phù hợp với t́nh h́nh thực tế cuộc đấu tranh ở CPC và trong khu vực Đông-nam Á. Đồng thời chúng ta phải tính đến thực tế và kinh nghiệm của ông cha ta. Chúng ta kiên quyết chống chính sách bá quyền của. TQ đối với ta, đồng thời tranh thủ cùng tồn tại ḥa b́nh với TQ ” ...“ta có thể vận dụng sách lược linh hoạt với TQ để kéo TQ đi vào một giải pháp cùng tồn tại ḥa b́nh. Làm được như vậy chúng ta chủ động tạo được thế mạnh và vững chắc cho cách mạng 3 nước tiếp tục tiến lên.”



    (C̣n tiếp)







    Ghi chú:



    17 Mr. Han Nianlong, born in Renhuai County of Guizhou Province in May 1910, served as vice minister of Foreign Affairs of the People’s Republic ofChinafrom April 1964 to April 1982.



    18 Nay là Chủ tịch Đảng Nhân dân CPC (PCC).



    19 Chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng (thủ tướng) nước CHND Campuchia từ tháng 12.1981 cho tới ngày 31.12.1984, khi công bố tin mất tại Matxkva.

  3. #23
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    GHI CHÉP VỀ CAMPUCHIA (1975-1991)
    Huỳnh Anh Dũng, cựu Đại sứ VN tại Campuchia
    Phần 4


    https://vietsuky.wordpress.com/2012/...a-1975-1991-4/


    2.3 Giai đoạn từ 1986 đến cuối 1989

    a) Bối cảnh quốc tế:

    Quan hệ Mỹ-Xô phát triển với cường độ cao, trong 6 năm 1986 – 1990 có tới 7 cuộc gặp cấp cao đi tới một loạt các thoả thuận về giảm chạy đua vũ trang, thực hiện Hiệp ước INF, hợp tác giải quyết các vấn đề khu vực (vấn đề Afghanistan, vấn đề CPC, bán đảo Triều Tiên), mở rộng quan hệ song phương.



    Trước t́nh h́nh đó, từ 1989 TQ đă bỏ qua các trở ngại, kể cả vấn đề CPC để b́nh thường hóa hoàn toàn quan hệ với Liên Xô. Cuộc gặp cấp cao Xô-Trung tháng 5/1989 đă b́nh thường hóa hoàn toàn quan hệ giữa Liên Xô và TQ, và đă Cơ bản hoàn chỉnh cục diện quan hệ từng đôi một giữa 3 nước lớn. Từ sau sự kiện Thiên An Môn, quan hệ giữa TQ với Mỹ và phương Tây giảm xuống mức thấp nhất kể từ 1979, đặt TQ vào thế khó khăn. TQ cần nhanh chóng khôi phục quan hệ với Mỹ và phương Tây để tiếp tục tranh thủ vốn và kỹ thuật cho 4 hiện đại, đồng thời cải thiện thế chiến lược trong mối quan hệ giữa các nước lớn. Đối với các nước láng. giềng, TQ cũng gác lại các vấn đề gây cấn, đi vào cải thiện quan hệ với Ấn Độ, Mông Cổ, VN…. trên Cơ sở 5 nguyên tắc cùng tồn tại ḥa b́nh.



    Đầu năm 1988, đàm phán về vấn đề CPC cũng được đẩy mạnh với một loạt các diễn đàn thương lượng: JIM (Jakarta Informal Meeting)-1 (7/1988), JIM-2 (2/1989), Hun Sen-Sihanouk (1981- 1989), Việt-Trung (l-5/1989), Hội nghị Paris (8/1989) và việc VN đơn phương rút Bộ tư lệnh quân đội và một nửa số quân về nước tháng 5/1988 và đơn phương rút hết quân khỏi CPC (9/1989) đă làm dư luận quan tâm hơn về nguy Cơ diệt chủng trở lại CPC.

    Nội dung đấu tranh chính trong thời gian này là vấn đề phân chia quyền lực trong thời gian quá độ, vấn đề tranh giành vai tṛ giữa các bên trong việc đi đến giải pháp và vai tṛ Liên hợp quốc trong một giải pháp. Về phía chúng ta, chúng ta vừa đ̣i giữ nguyên trạng chính quyền, quân đội trong thời kỳ quá độ và dùng vấn đề diệt chủng để làm c̣n bài mặc cả về việc giữ nguyên trạng.



    Mỹ từ ủng hộ ASEAN là chính, từ 6/1989 đă chuyển sang chủ động thúc đẩy giải pháp cho vấn đề CPC (James Baker đưa 3 mục tiêu giải pháp tại Brunei), đồng thời tính đến quan hệ với VN, Đông Dương “sau CPC”. Tư tưởng chỉ đạo trong chính sách của Mỹ là t́m cách hạn chế tối đưa vị trí của Khmer Đỏ và Nhà nước CPC nhưng chấp nhận sự tồn tại của cả 2 lực lượng này để đối trọng lẫn nhau, đồng thời cố đề cao vai tṛ Sihanouk và Son San nhằm tác động vào t́nh h́nh CPC. Sự chuyển biến đó của Mỹ diễn ra trong bối cảnh Liên Xô đang gặp nhiều khó khăn ở Đông Âu và trong nước, phải tập trung giải quyết vấn đề trong nước, giảm dần cam kết và buộc phải từng bước rút khỏi các vấn đề khu vực, kể cả VN và Đông Dương. Trong t́nh h́nh mới Mỹ có yêu cầu hạn chế vai tṛ của Liên Xô, ngăn chặn ảnh hưởng của TQ ở khu vực để bảo vệ lợi ích của Mỹ; vấn đề CPC đă chín muồi cho một giải pháp chính trị, nhiều nước tham gia vào giải pháp đ̣i hỏi Mỹ phải chủ động nắm vấn đề để có vai tṛ.



    Trước những khó khăn ngày càng lớn ở trong nước, Liên Xô từng bước giảm cam kết với VN, CPC và muốn thúc đẩy giải quyết nốt vấn đề khu vực c̣n tồn tại là vấn đề CPC, dùng vấn đề này để dàn xếp với Mỹ và TQ. Liên Xô theo đuổi lập trường về một giải pháp thỏa hiệp, vẫn ủng hộ VN, CPC nhưng chú ư đến lợi ích của tất cả các bên liên quan và coi trọng vai tṛ và lợi ích của TQ.



    TQ đứng trước những khó khăn nội bộ gay gắt, mà đỉnh cao là sự kiện Thiên An Môn 6/1989 làm giảm sút nghiêm trọng quan hệ TQ với Mỹ và phương Tây. TQ lo ngại quan hệ giữa các nước Đông-nam Á với VN chuyển theo hướng không có lợi cho TQ; Mỹ và phương Tây lại lên án Khmer Đỏ; xu hướng đối thoại phát triển. TQ đặc biệt lo ngại thế 2 cực Mỹ-Xô giải quyết các vấn đề thế giới. Trong vấn đề CPC, t́nh thế trở nên bất lợi hơn đối với TQ. Các diễn đàn khu vực (JIM) và giữa các bên CPC, nhất là giữa Hun Sen-Sihanouk đang phát triển; VN đă rút hết quân khỏi CPC. TQ có thể mất khả năng kiểm soát vấn đề CPC như trước. TQ thấy cần đi vào giải pháp chính trị về CPC và sử dụng giải pháp chính trị về CPC phục vụ lợi ích của TQ khai thông quan hệ với Liên Xô, khôi phục quan hệ với phương Tây nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật phục vụ cho 4 hiện đại và phá thế 2 cực Mỹ-Xô, khẳng định vai tṛ cường quốc của TQ. V́ vậy, một mặt TQ cản phá đối thoại Hun Sen-Sihanouk, diễn đàn khu vực, gây sự kiện Trường Sa, sự kiện biên giới Lào-Thái. Mặt khác, dùng vấn đề CPC để mặc cả với Liên Xô và Mỹ. Từ 2/1989, TQ bỏ qua vấn đề CPC đi vào cấp cao với Liên Xô và từ 3/1989 đi vào thảo luận trong khuôn khổ các nước lớn ở LHQ theo hướng giảm cam kết với Khmer Đỏ, cùng Mỹ và phương Tây sử dụng lực lượng trung gian (Sihanouk-Son San) và t́m cách gạt bỏ hoặc hạn chế tối đưa vị trí của Nhà nước CPC nhằm tạo thế để TQ hàn gắn quan hệ với phương Tây v́ lợi ích 4 hiện đại hóa. Đối với ta, TQ luôn đặt giá cao: tháng 10/1982 TQ chỉ đặt điều kiện VN rút quân, thậm chí chỉ cần có lịch rút quân rơ ràng và rút đợt đầu th́ TQ sẽ tiến hành đàm phán để b́nh thường hóa quan hệ Việt-Trung. Nhưng tháng 6/1988, sau khi ta rút 1/2 số quân và đặc biệt sau Tuyên bố 5/4/1989 về việc đơn phương rút hết quân vào 9/1989, TQ lại đặt điều kiện là VN phải giải quyết hậu quả của việc đưa quân xâm lược CPC, không phải rút là hết trách nhiệm, đ̣i lập Chính phủ liên hiệp 4 bên do Sihanouk đứng đầu, lập quân đội 4 bên ngang nhau. Trong 2 ṿng đàm phán Việt-Trung (tháng 1 và 5/1989), TQ một mực đ̣i ta phải giải quyết vấn đề nội bộ CPC “hậu quả của VN xâm lược CPC” rồi mới bàn việc cải thiện quan hệ 2 nước và tháng 6/1990 đưa kế hoạch 5 bước nhằm thâu tóm việc giải quyết vấn đề CPC. TQ chỉ chấp nhận đàm phán với ta sau khi tất cả các đối tượng đă chuyển động, VN đă rút quân từng bước và trong đàm phán với ta, TQ từ đầu chí cuối giữ một lập trường rất cứng rắn, không thay đổi – tôi muốn nhấn mạnh không thay đổi - là ta phải giải quyết vấn đề CPC như điều kiện tiên quyết để cải thiện quan hệ hai nước, VN phải rút hết quân khỏi CPC và phải chấp nhận một giải pháp chính trị về CPC theo ư muốn của TQ.



    Trong giai đoạn này, các nước ASEAN, nhất là Thái Lan, có bước phát triển nhanh về kinh tế, từ đó có nhu cầu bảo đảm ổn định để phát triển, đồng thời đối phó khả năng Xô-Trung, Việt-Trung b́nh thường hóa quan hệ, dàn xếp giải pháp CPC không có lợi cho họ. Thủ tướng Thái Chatichai lên cầm quyền tháng 8/1988 đă đưa ra chính sách biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường, lập Bán đảo Vàng, bao gồm 3 nước Đông Dương, Thái Lan, Miến Điện, lấy Thái Lan làm trung tâm để lập một khu vực kinh tế và thị trường của tư bản Thái Lan. Theo hướng đó, Thái Lan cải thiện quan hệ với Lào, VN và có quan hệ trên thực tế với Nhà nước CPC. Với cương vị là nước lớn, Indonesia đại diện cho ASEAN đưa ra dàn xếp giải pháp với VN, Đông Dương, đưa tới các diễn đàn JIM.



    Pháp ra sức làm trung gian dàn xếp các cuộc gặp Hun Sen-Sihanouk ở Paris (12/1987, 1 và 11/1988, 7/1989) và từ tháng 4/1989 đưa ra vấn đề họp hội nghị quốc tế về CPC ở Paris để nắm vai tṛ ở Đông-nam Á.



    b) Diễn biến của cuộc đấu tranh:

    Có thể chia thành 2 thời đoạn: 1986 đến tháng 5/1988 khi có Nghị quyết 13 Bộ Chính Trị và từ 5/1988 đến đầu 1990.



    * Thời đoạn 1986 – 1988: Thời kỳ bắt đầu đàm phán nhưng chỉ mang tính chất thăm ḍ.

    Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị ngày 8/7/1986 nêu vấn đề cần đạt giải pháp chính trị về vấn đề CPC và đi vào b́nh thường hóa quan hệ với TQ. Tuy nhiên việc triển khai Nghị quyết 32 có những khó khăn do phải chuẩn bị Đại hội VI. Tại Đại hội VI (12/1986) ta đă sửa lời nói đầu của Điều lệ Đảng nói về TQ, không c̣n coi Trung.Quốc là kẻ thù. Dịp Đại hội VI, ba TBT VN, Lào, CPC trao đổi ư kiến và nhất trí cần đi vào b́nh thường hóa quan hệ với TQ. Các đ/c Lào tỏ phấn khởi và chủ trương b́nh thường hóa.với TQ, đ/c Kaysone [Phomvihan] c̣n nói: chúng ta có mục tiêu chung như đàn sếu bay cùng một hướng nhưng có thể có con bay trước, có con bay sau, ư nói là để Lào b́nh thường hóa quan hệ với TQ trước rồi Lào thúc đẩy TQ b́nh thường hóa quan hệ với VN.

    Sau Đại hội Đảng VI, ngày 7/3/1987, BCT họp xem xét đề án đấu tranh ngoại giao do Bộ Ngoại giao tŕnh, nhận định TQ có hai mặt: vừa tồn tại nhân tố XHCN, vừa có chính sách bá quyền. Đánh giá về chiến lược TQ đối với Đông Dương, BCT nêu 3 khả năng: một là tiếp tục đối đầu, hai là cùng tồn tại ḥa b́nh; ba là đi vào hợp tác hữu nghị. Trên tinh thần đó, ta chủ trương tấn công ngoại giao trên 2 mũi: đề nghị TQ-VN đàm phán bí mật tạo khuôn khổ cho giải pháp CPC, mặt khác CPC ra tuyên bố về chính sách hoà hợp dân tộc. Ta chủ trương làm với TQ là quan trọng đồng thời thúc đẩy các diễn đàn khác.



    Ở Bộ Ngoại giao, để triển khai đấu tranh cho một giải pháp chính trị về CPC, đă tiến hành thành lập CP.87. Đ/c Trần Quang Cơ được phân công chỉ đạo trực tiếp bộ phận này. Thường trực gồm có các đ/c Đặng Nghiêm Hoành, Nguyễn Thương, Nguyễn Phượng Vũ, Trần Xuân Mận, Bùi Văn Thanh và Vụ trưởng một số Vụ trong Bộ; giúp việc có các đ/c Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Ngọc Trường, Nguyễn Duy Hưng, Hồ Xuân Sơn…



    Sau cuộc họp 7/3/1987 của BCT, đ/c Lê Đức Thọ đă sang thăm và làm việc với Lào (từ 9-16/3/1987) và cuối tháng 4 cùng với đ/c Lê Đức Anh sang CPC, trong đoàn có các đ/c Trần Quang Cơ, Trần Xuân Mận. Tiếp theo đó đă tiến hành họp 2 BCT Việt-Lào (9-10/5/1987) và BCT VN-CPC (12-13/5/1987) để triển khai việc thúc đẩy giải pháp chính trị về CPC và quan hệ với TQ.



    Đến thời đoạn này, có thể nói rằng vấn đề CPC đang đi vào giải quyết, đàm phán đă mở ra nhưng mỗi bên đều giữ giá cao, chưa thật sự muốn giải quyết vấn đề. VN có yêu cầu bức bách là giải quyết vấn đề CPC, b́nh thường hóa quan hệ với TQ, phá thế bị bao vây cô lập để tập trung khắc phục khủng hoảng kinh tế-xă hội trong nước. Trong khi đó, ta có khó khăn trong việc thuyết phục CPC đi vào đánh và đàm để tiến tới giải pháp chính trị và việc gợi ư về một Giải pháp Đỏ cũng không làm vừa ḷng lănh đạo CPC. Ư đồ nhất quán của lănh đạo CPC là muốn ăn cả bằng một giải pháp quân sự, coi cả Khmer Đỏ và cả Sihanouk đều là đối thủ nguy hiểm, chỉ miễn cưỡng tán thành giải pháp chính trị khi ta góp ư kiến. Nội bộ CPC có rất nhiều tâm tư, lo ngại khi đi vào giải pháp; khi bàn chuẩn bị đi vào giải pháp 4/1987, Ney Pena, Uỷ viên BCT nói lâu nay CPC làm được một số việc nhưng với điều kiện có VN bên cạnh, nay quân VN định rút hết không biết sẽ thế nào. Hun Sen nói: Chúng nó về th́ chúng nó sẽ làm thịt những người tích cực trước hết là chúng ta. C̣n Bou Thong và Chia Soth nói chúng nó sẽ mua chuộc cán bộ với giá rẻ lắm, chỉ cần vài “chỉ” cũng đánh ngă được khối người. C̣n về bạn Lào cũng không ít tâm tư, ngày 20/9/1987, Đại sứ Nguyễn Xuân từ Lào về nói với anh em phụ trách Vụ Châu Á 2: ư Lào là VN nên rút bài học đừng lập lại sai lầm cũ ở Genève 1954 về CPC; giải pháp phải bảo đảm chắc chắn thành quả cách mạng CPC; cần tranh thủ Sihanouk để phân hoá hàng ngũ đối phương, nên xem lại chuyên gia VN ở CPC có áp đặt và thiếu tôn trọng CPC không ? Tuy nhiên, theo sự gợi ư của ta, ngày 30/6/1987, BCT CPC ra nghị quyết về đấu tranh ngoại giao, CHND CPC ra tuyên bố về chính sách hoà hợp dân tộc (27/8/1987), ra tuyên bố 5 điểm về lập trường về một giải pháp chính trị cho vấn đề CPC (8/10/1987) và thành lập nhóm B.1 như CP.87 của ta để chuẩn bị đi vào giải pháp chính trị.



    Ngày 29/7/1987, gặp gỡ giữa Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch và Ngoại trưởng Indonesia Moctar tại thành phố Hồ Chí Minh thoả thuận sẽ tổ chức tiệc rượu (coctail party) để bàn về vấn đề Đông-nam Á và vấn đề CPC.



    Ngày 2/12/1987, Hun Sen gặp Sihanouk lần đầu tại Fère-en-tardenois, ngoại ô Paris kư được Thông cáo chung về một giải pháp chính trị cho vấn đề CPC. Lần thứ 2, Hun Sen-Sihanouk lại gặp nhau ngày 20/1/1988 tại Saint- German-en-Lay (Paris). Tuy nhiên các cuộc gặp gỡ này c̣n mang nặng tính chất thăm ḍ, ư kiến khác nhau vẫn về xử lư Khmer Đỏ, về lực lượng ǵn giữ ḥa b́nh quốc tế (IPKF) và sự tồn tại của Chính phủ CPC.



    - Tháng 12/1987, BCT ta ra quyết định số 35 và 36 về đổi mới quan hệ với Đảng Lào và Đảng CPC, quyết định giải tán Ban lănh đạo Tổng Đoàn chuyên gia ở CPC, cố vấn cao cấp bên cạnh Đảng Lào và Ban công tác miền Tây. Quyết định rút chuyên gia ở CPC, Lào; quan hệ Đảng sẽ tiến hành trực tiếp qua đại diện 2 BCT, quan hệ Nhà nước thông qua 2 Đại sứ.



    Ngày 5/1/1988, đ/c Lê Đức Anh đại diện BCT VN sang CPC bí mật làm việc với BCT Đảng CPC về đổi mới quan hệ, quyết định: thôi tổ chức chuyên gia cấp cao bên cạnh Trung ương Đảng và Nhà nước CPC và đổi mới quan hệ theo tinh thần quyết định 35, 36 sẽ rút hết chuyên gia trong năm 1988 và giúp CPC đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang CPC để rút 5 vạn quân CPC trong năm 1988.



    Ngày 3/6/1988, đ/c Lê Đức Anh một lần nữa sang CPC làm việc với BCT Đảng CPC và thoả thuận đến tháng 1/1989 sẽ từng đợt rút hết chuyên gia dân sự ở CPC và lấy ngày 28/6/1988 làm mốc kết thúc giai đoạn Đảng VN giúp CPC xây dựng Đảng, bộ máy Nhà nước và đoàn thể quần chúng ở CPC và tháng 6/1988 cũng chấm dứt hoạt động của Đoàn chuyên gia quân sự VN. Tháng 7/1988, Đoàn chuyên gia đối ngoại bên cạnh Bộ Ngoại giao CPC cũng chấm dứt hoạt động.



    Với TQ, ngày 20/5/1987, Bộ Ngoại giao kiến nghị với BCT cần sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp đoạn nói về TQ nhưng việc triển khai thực hiện có khó khăn măi đến ngày 28/6/1988, Quốc hội mới có Nghị quyết thông qua việc này. Ngày 26/6/1987, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch gặp Đại sứ TQ chuyển Message Oral của đ/c Phạm Văn Đồng đề nghị hai nước đàm phán bí mật. Ngày 22/8/1987, Ngoại trưởng TQ Ngô Học Khiêm nói chưa trả lời Message đó v́ không muốn chấp nhận sự việc đă rồi ở CPC.



    Ngày 14/3/1988, TQ tấn công ta ở Trường Sa. Ta ra tuyên bố bảo vệ chủ quyền ta, không ai ủng hộ kể cả Lào và Liên Xô mặc dù lúc này đang có cuộc họp tư vấn ba nước Đông Dương với Liên Xô ở Phnom Penh và ta đă trực tiếp vận động Liên Xô, măi đến khi ta đề nghị thương lượng, Liên Xô mới ủng hộ.



    Cũng giai đoạn này bắt đầu xuất hiện ư kiến về Giải pháp Đỏ, nhưng việc thực hiện gặp khó khăn.



    - Cuối tháng 4/1987, khi đ/c Lê Đức thọ và Lê Đức Anh sang CPC làm việc với lănh đạo CPC bàn về giải pháp chính trị kể cả Giải pháp Đỏ, CPC không đón tiếp và chiêu đăi; hai đ/c lănh đạo ăn, ở tại Bộ Tư lệnh 719. Dịp này Sứ quán tổ chức chiêu đăi, nhiều lănh đạo CPC như Chea Sim, Sai Phuthong lấy cớ “mệt”, ”đau bụng” để từ chối lời mời.



    Ngày 22/12/1987, ta và CPC tán thành gợi ư của Liên Xô là Liên Xô gửi Message Oral cho Ngoại trưởng TQ đề nghị Liên Xô và TQ góp phần dàn xếp một cuộc gặp gỡ giữa CHND CPC và Khmer Đỏ, nếu TQ đồng ư, Liên Xô sẵn sàng tiếp xúc 2 nước ở cấp Ngoại trưởng. TQ đă không đáp ứng đề nghị đó.



    - Ngày 30/7/1988, Hun Sen nói với đoàn ngoại giao ở Phnom Penh: Bọn Khmer Đỏ là thú chứ không phải là người, chúng không thay đổi bản chất, nhân dân CPC không chấp nhận chúng. Chúng tôi rất hiểu Khmer Đỏ, mong các đ/c hiểu cho, bọn này không chơi được, nếu chỉ CPC không thôi th́ không chấp nhận chúng. Nay ta muốn giải pháp nên cần có TQ, do đó mà chấp nhận chúng về chính trị. Riêng CPC không có TQ cũng giải quyết được… nhưng CPC liên quan đến xung quanh. VN cần b́nh thương hoá quan hệ với TQ.



    Ngày 19/9/1988 Hun Sen nói tại Hội nghị tài chính ám chỉ chuyên gia ta là “cộng sản tả khuynh”, là “người điên”.

    Ngày 12/10/1988, trao đổi với anh Ngô Điền, sau khi phê phán Liên Xô nhượng bộ TQ, ép CPC thoả hiệp với TQ, Khmer Đỏ đánh đồng “tội phạm và nạn nhân”, và không tôn trọng các nước bạn, Hun Sen nói: “VN cũng có đ/c nói phải nhượng cái ǵ để giữ thể diện cho Bắc Kinh. Năm 1987, tôi cũng đă tính đến Giải pháp Đỏ, bọn Khmer Đỏ, trừ bọn đầu sỏ, có thể tham gia, xin lỗi với nhân dân rồi hoà hợp dân tộc. Nay tôi đă suy nghĩ nhiều, tiếp xúc với dân ở nhiều nơi, trực tiếp gặp bọn Khieu Samphan, tôi nhận thức rơ dứt khoát không chơi với bọn này được, phải giải tán lực lượng của chúng…”



    - Ngày 7/1/1989, Hun Sen xuất bản quyển sách “CPC – con đường 10 năm” dành một đoạn dài nói về Giải pháp Đỏ, phê phán những suy nghĩ về Giải pháp Đỏ, cho quan điểm đó là “sai lầm và nguy hiểm”, là “điều phi lư và trái đạo đức khi đánh đồng bọn tội phạm Pol Pot với nạn nhân của bọn tội phạm” rồi kết luận “Giải pháp Đỏ là con đường nguy hiểm rất lớn cho nhân dân CPC, nó không thể nào h́nh thành được, bởi v́ chúng ta không “Đỏ” như kiểu người ta hiểu là có thể ḥa đồng vào với cái “Đỏ” của Pol Pot được”.



    * Thời đoạn 1988 đến đầu 1990: Giai đoạn đàm phán đi vào nội dung thực chất.

    Nghị quyết 13 BCT ngày 20/5/1988 chủ trương giải quyết vấn đề CPC trước năm 1990 và phấn đấu b́nh thường hóa quan hệ với TQ. Nghị quyết BCT nói rơ: “Phấn đấu b́nh thường hóa quan hệ với TQ là một quá tŕnh đấu tranh gay go, phức tạp, đ̣i hỏi có thời gian. Sau khi b́nh thường hóa, quan hệ 2 nước khó trở lại ngay như những năm 50, 60. Cuộc đấu tranh tiếp tục dưới nhiều h́nh thức khác, không như t́nh trạng đối đầu như hiện nay… Chúng ta phải luôn luôn cảnh giác, chuẩn bị tốt về mọi mặt khi bước vào cuộc đấu tranh mới, làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn xấu ḥng làm suy yếu ta, “diễn biến ḥa b́nh”, chia rẽ, phá hoại nội bộ, chia rẽ 3 nước VN, Lào, CPC“. Cần pḥng ngừa, khắc phục những tư tưởng lệch lạc: chỉ thấy giới hạn TQ là bá quyền, không thấy TQ là XHCN hoặc chỉ thấy TQ là nước XHCN mà không thấy bá quyền, bành trướng.



    Đối với Lào và CPC: “Việc Lào và CPC sẽ đi lên CNXH hoặc phát triển theo con đường dân tộc, dân chủ nhân dân là do Đảng và nhân dân 2 nước đó quyết định, phù hợp với điều kiện thực tế và nguyện vọng nhân dân nước đó“… “Vấn đề CPC phải giải quyết với TQ nhưng cho đến nay TQ chưa muốn trực tiếp giải quyết với ta vấn đề CPC. V́ vậy, ta cần tiếp tục kiên tŕ mở ra nhiều hướng khác nhau (Hun Sen-Sihanouk, VN-Indonesia, VN-Thái Lan, ASEAN- Đông Dương, VN-Mỹ…) để thúc đẩy và kéo TQ vào giải quyết. Dù giải quyết trực tiếp với TQ hay với các đối tượng khác th́ việc giải quyết vấn đề CPC cũng phục vụ mục tiêu b́nh thường hóa với TQ, không nhằm chống TQ“.

    Thực hiện Nghị quyết 13 BCT, ta đă có một loạt hoạt động rất quan trọng để thúc đẩy giải quyết vấn đề CPC và phấn đấu b́nh thường hóa quan hệ với TQ.

  4. #24
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    GHI CHÉP VỀ CAMPUCHIA (1975-1991)
    Huỳnh Anh Dũng, cựu Đại sứ VN tại Campuchia
    Phần 4B


    Với Trung Quốc

    Thực hiện Nghị quyết 32 và nghị quyết đại hội VI từ 1986, ta đă có nhiều hành động thiện chí để giảm căng thăng trong quan hệ Việt-Trung, thôi coi TQ “là kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm“, có nhiều động tác quan trọng để chứng tỏ ta không tiếp tục chống TQ và phấn đấu b́nh thường hóa với TQ, kiên tŕ đề nghị đàm phán (từ khi TQ cắt ṿng 2 đàm phán Việt-Trung ở Bắc Kinh 6/3/1980 đến cuối 1986 ta đă 16 lần gửi công hàm và thư đề nghị họp lại ṿng 3 và đàm phán bí mật) nhưng TQ đều bác bỏ.



    - Ngày 28/6/1988, Quốc hội có nghị quyết và ngày 27/12/1988, Quốc hội chính thức thông qua Lời nói đầu của Hiến pháp sửa đổi đoạn nói về TQ.



    - Ngày 15/7/1988, Ngoại trưởng Nguyễn ‘Cơ Thạch gặp Đại sứ TQ nêu một loạt biện pháp để giảm căng thẳng quan hệ 2 nước; chấm dứt hoạt động vũ trang trên biên giới đất liền và hải đảo, không bên nào đóng ở điểm cao trên đường biên, giảm quân về phía sau để tránh xung đột, ở điểm nóng Vị Xuyên cũng làm như vậy, tạo điều kiện cho dân biên giới qua lại thăm họ hàng, hai bên chấm dứt tuyên truyền chống đối nhau, và đề nghị hai bên đàm phán bất cứ cấp nào kể cả cấp cao, bất cứ lúc nào, ở đâu, bí mật hoặc công khai. Và sau đó, ta đă đơn phương thực hiện những đề nghị nói trên (2/8/1988), Ban Tuyên huấn Trung ương ra thông tư 94 về hướng dẫn tuyên truyền với TQ; mở một số cửa khẩu cho dân biên giới qua lại thăm nhau và trao đổi hàng thiết yếu hàng ngày…



    - Ngày 7/10/1989, Đặng Tiểu B́nh tiếp đ/c Kaysone [Phomvihan], TBT Lào, sang thăm chính thức TQ để b́nh thường hóa quan hệ hai Đảng, hai nước khi đề cập vấn đề b́nh thường hóa quan hệ với VN, Đặng chỉ nêu điều kiện là VN rút hết quân. Ngày 6/11/1989, Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch gặp Đại sứ Trương Đức Duy24 chuyển thông điệp miệng của TBT Nguyễn Văn Linh gửi Đặng Tiểu B́nh mong b́nh thường hóa quan hệ 2 Đảng, 2 nước, mong gặp Đặng. TQ không trả lời. Ngày 28/11/1989, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch gửi thư cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao [TQ] Tiền Kỳ Tham nhắc lại thông điệp miệng của TBT Nguyễn Văn Linh và khẳng định VN sẵn sàng gặp lại TQ cấp Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng trong tháng 12/1989. Ngày 12/12/1989, Đại sứ TQ Trương Đức Duy gặp Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch thông báo thông điệp miệng của Đặng Tiểu B́nh gửi đ/c Nguyễn Văn Linh: “VN rút quân sạch sẽ, triệt để và lập chính phủ liên hiệp lâm thời 4 bên do Sihanouk đứng đầu là hai vấn đề hạt nhân thiết thực cần đồng thời giải quyết. Phía TQ sẽ suy xét dề nghị của VN về mở ṿng thương lượng ở cấp Thứ trưởng, nếu VN chấp nhận một cơ chế giám sát quốc tế do Liên hợp quốc chủ tŕ có 4 bên tham gia để kiểm chứng VN rút quân và lập chính phủ liên hiệp lâm thời 4 bên do Sihanouk đứng đầu trong giai đoạn quá độ”.



    Sau Nghị quyết 13 BCT và điều chỉnh của TQ ở Hội nghị BCT [ĐCS TQ tại] Bắc Đới Hà tháng 9/1988, ta và TQ đă tiến hành hai ṿng đàm phán cấp Thứ trưởng ngoại giao ở Bắc Kinh (16/1/1989; 8-10/5/1989). Trong 2 ṿng đàm phán này, ta chủ trương chỉ bàn mặt quốc tế của vấn đề CPC c̣n TQ đ̣i phải bàn cả mặt nội bộ và đặt điều kiện có giải quyết xong vấn đề CPC mới bàn b́nh thường hóa quan hệ 2 nước. Đàm phán không kết quả. Như trên vừa nói, tháng 12/1989 ta đề nghị nối lại đàm phán, TQ đặt điều kiện VN rút quân “sạch sẽ”, lập chính phủ 4 bên do Sihanouk đứng đầu, nhận Liên hiệp quốc giám sát th́ TQ “sẽ suy xét” đề nghị của VN về nối lại đàm phán cấp Thứ trưởng. Trong t́nh h́nh bế tắc đó, từ 3-9/5/1990, Thứ trưởng Đinh Nho Liêm đi Bắc Kinh “kiểm tra công tác sứ quán” và thực chất đă tiến hành ṿng 3 đàm phán. Trong lần đàm phán này, ta tỏ mềm dẻo hơn là có thể trao đổi ư kiến về một giải pháp toàn diện nhưng không thể quyết định về vấn đề nội bộ CPC. Đàm phán ṿng 3 có một số tiến triển, TQ đ̣i 4 bên nhưng không đ̣i ngang nhau, không đ̣i chính phủ lâm thời nhưng đ̣i Hội đồng tối cao mang tính chất chính phủ; về diệt chủng, ta tán thành không nói quá khứ nhưng phải đề cập về tương lai; hai bên hẹn gặp tiếp tháng 6/1990 ở Hà Nội.



    Về vấn đề Campuchia

    - Thực hiện Nghị quyết 13 của BCT, ta và bạn thoả thuận rút hết chuyên gia quân sự dân sự ở CPC về nước, tháng 5/1988 tuyên bố rút 5 vạn quân trong năm 1988 và ngày 5/4/1989 tuyên bố đơn phương rút hết quân vào tháng 9/1989.



    Nhân đây cũng nói thêm rằng giữa đ/c TBT Nguyễn Văn.Linh và đ/c Nguyễn Cơ Thạch có ư kiến không hoàn toàn giống nhau về vấn đề rút quân: đ/c Thạch muốn rút quân gắn với giải pháp chính trị, ít nhất là có thỏa thuận quốc tế về chấm dứt viện trơ quân sự cho các bên CPC để làm con bài mặc cả, c̣n đ/c Nguyễn Văn Linh thấy không cần. Dịp đ/c Linh sang thăm Liên Xô ngày 20/7/1988, đ/c Linh đă nói với Liên Xô rằng VN sẽ rút hết quân vào tháng 9/1989 nhưng không nói điều kiện, Liên Xô đă đưa công khai điều này. Ngày 6/1/1989, sang CPC dự 10 năm giải phóng CPC, cùng đi có đ/c Trần Quang Cơ, đ/c Nguyễn Văn Linh phát biểu trong mít tinh ở Hội trường Bassac:

    “Hôm nay, VN tuyên bố hoàn toàn nhất trí với CHND CPC về quyết định rút toàn bộ số quân t́nh nguyện VN c̣n lại ra khỏi CPC vào tháng 9/1989.

    Việc rút hết quân VN khỏi CPC phải đặt song song với việc chấm dứt viện trợ quân sự của nước ngoài cho tất cả các bên CPC, chấm dứt sử dụng lănh thổ nước ngoài làm đất thánh chống lại nhân dân CPC. Những điều thoả thuận này phải được tiến hành dưới sự kiểm soát quốc tế có hiệu quả“.



    Khi đưa tin, ta cố gắn vế rút quân với chấm dứt viện trợ quân sự, thực chất ư Anh Linh không gắn 2 vấn đề này; măi đến 5/4/1989, Chính phủ ta mới ra tuyên bố rút quân đơn phương vào 9/1989.



    Việc VN quyết định rút hết quân VN khỏi CPC đă có tác động thúc đẩy đàm phán, tiếp theo mở ra hàng loạt diễn đàn về giải pháp CPC: JIM-1 (7/1988), ṿng 3 Hun Sen-Sihanouk (11/1988), Nhóm làm việc của JIM (l0/1988), JIM-2 (2/1989), ṿng 4-5-6 Hun Sen- Sihanouk (4 và 7/1989, 2/1990), và các diễn đàn Việt-Mỹ, Việt- Thái, CPC-Thái.



    Đỉnh cao của các diễn đàn là Hội nghị quốc tế Paris tháng 7/1989. Tại Hội nghị, phía bên kia đ̣i VN rút quân, xóa bỏ Nhà nước CPC; phía ta một mực đ̣i phải loại trừ vĩnh viễn bọn diệt chủng; phía bên kia lên án VN xâm lược CPC, đưa người VN định cư đến xâm chiếm CPC (colons vietnamiens), đ̣i giải tán nhà nước và quân đội CPC và Hội nghị không đi đến kết quả nào. Hội nghị quốc tế Paris kéo dài từ 30/7 đến 31/8/1989 nhưng không thành công là do nhiều nguyên nhân. TQ và 3 phái CPC chỉ muốn giải quyết vấn đề CPC trên cơ sở xoá bỏ Nhà nước CPC, mặt khác TQ c̣n hy vọng làm thay đổi t́nh h́nh sau khi VN rút hết quân tháng 9/1989. Về phía Nhà nước CPC, sau chuyến đi Thái Lan ngày 25/1/1989 của Hun Sen theo lời mời của Thủ tướng Chatichai và tiếp xúc với nhóm Chaovalít từ tháng 6/1988, CPC có phần ảo tưởng ở Thái Lan và đánh giá không đúng lực lượng của bản thân ḿnh nên Hội nghị Trung ương lần thứ 9 từ 30/6 đến 5/7/1989 ngay trước Hội nghị quốc tế Paris tháng 7/1989 quyết tâm ăn cả bằng một giải pháp quân sự; Nghị quyết nói: “Đối với giải pháp chính trị cho vấn đề CPC, mọi cố gắng của ta đều đặt trong phạm vi không có giải pháp“. Ngày 12/7/1989, đ/c Trần Quang Cơ sang CPC thông báo gợi ư của ta về đấu tranh tới (ṿng 5 Hun Sen-Sihanouk; Hội nghị quốc tế Paris), Hun Sen phát biểu trong cuộc họp BCT nghe đ/c Cơ tŕnh bày: “Nghị quyết 9 đă hạ quyết tâm không có giải pháp chính trị nhưng bên ngoài vẫn phải tỏ thiện chí phấn đấu cho một giải pháp về mặt quốc tế. Không ngại nội chiến. Sẽ không nhắc lại việc mở rộng chính phủ mời Sihanouk trở về mà chỉ nêu phương án lập HĐ Ḥa hợp Dân tộc và đề nghi lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp chuẩn bị cho Quốc hội tương lai để giữ cầu với Sihanouk trong cuộc gặp tới với Sihanouk“. Lúc này t́nh h́nh Đông Âu cũng bắt đầu diễn biến phức tạp mở đầu bằng việc Công đoàn Đoàn kết lên cầm quyền ở Ba Lan, đă làm tăng thêm lực cản của phía ta về việc đi vào giải pháp chính trị cho vấn đề CPC. Ngày 10/8/1989, Hun Sen (ở Phnom Penh) lại điện cho Anh Thạch ở Paris là: Vấn đề mở rộng chính phủ cho Sihanouk trở về là vấn đề sách lược đấu tranh để phân hoá kẻ thù. Nếu Sihanouk chấp nhận thảo luận, chúng ta sẽ đưa ra những đ̣i hỏi cao hơn nữa, trước hết là xoá Pol Pot và thậm chí đi đến đ̣i xoá lực lượng Sihanouk và nếu cần thiết sẽ đưa ra những đ̣i hỏi khác để ngăn chặn vai tṛ của Sihanouk hoặc ngăn không cho Sihanouk trở về.



    Về phía VN, mặc dù có Nghị quyết 13 BCT nhưng khi thực hiện có nhiều trục trặc, ư kiến khác nhau và chúng ta cũng c̣n ư muốn ăn cả ở CPC như Nghị quyết 13 nói: một giải pháp chính trị về CPC “phải bảo đảm thành quả cách mạng CPC”. Trong đàm phán về giải pháp CPC lúc này, chúng ta giữ 3 nguyên tắc: bảo vệ thành quả cách mạng CPC, kiên quyết loại diệt chủng Pol Pot; không chấp nhận lực lượng ǵn giữ ḥa b́nh IPKF. Chúng ta chủ trương mềm dẻo trên 3 điểm: thành phần Chính phủ liên hiệp; giữ nguyên trạng; chấp nhận Uỷ ban quốc tế về kiểm soát giám sát. Mặt khác, trong lúc này chúng ta đánh giá quá cao thành tựu đạt được mỗi khi có những tiến triển nhất định về đàm phán, cụ thể như:



    - Gặp gỡ đ/c Nguyện Cơ Thạch và Ngoại trưởng Indonesia ở thành phố HCM 29/7/1987 thoả thuận về “tiệc rượu”. Tại JIM-1 (7/1988), ta đạt được ghi vào Tuyên bố của Chủ tịch là không để diệt chủng trở lại. Chúng ta nhận định với việc rút 5 vạn quân tháng 5/1988, cuộc đấu tranh về CPC “đă thay đổi tính chất từ chỗ đ̣i VN rút quân sang đ̣i ngăn chặn nguy cơ diệt chủng trở lại CPC“… “đă đưa đến sự tập hợp lực lượng mới có lợi cho 3 nước“. Đề án đấu tranh từ tháng 9/1988 đến cuối năm 1988 nhận định “có 4 khả năng giải quyết vấn đề CPC: a) Một giải pháp toàn diện bao gồm mặt nội bộ và quốc tế; b) Một giải pháp bao gồm toàn bộ mặt quốc tế và chỉ một phần mặt nội bộ; c) Một giải pháp về mặt quốc tế, mặt nội bộ giải quyết sau; d) VN rút hết quân đơn phương vào năm 1990 và không có giải pháp chính trị. Khả năng nào cũng có mặt lợi, mặt phức tạp. Tuỳ t́nh h́nh sẽ tính.”… “Mục tiêu chính của ta là: vấn đề mấu chốt là tăng cường lực lượng cách mạng CPC… làm tan ră trên thực tế liên hiệp 3 phái, cô lập làm suy yếu lực lượng Khmer Đỏ” Ngày 16/10/1988, Đại sứ Nguyễn Xuân trao đổi với đ/c Kaysone Phomvihan về đề án này th́ đ/c Kaysone nói: “Điều quyết định là lực lượng cách mạng CPC. Nếu VN rút quân mà CPC đứng vững được th́ không cần giải pháp chính trị”.



    Lúc này có nhân tố mới là Chatichai25 lên cầm quyền ở Thái, chủ trương biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường; ngày 28/10/1988, Lào thu xếp để Hun Sen bí mật gặp Tướng Chaovalít26 ở Vientiane (và Chaovalít cũng gặp đ/c Trần Văn Quang, Thứ trưởng Bộ Quốc pḥng), Hun Sen-Chaovalít thoả thuận cơ chế giữ liên lạc 2 bên; tháng 1/1989, Chatichai mời Hun Sen thăm chính thức Thái; VN rút 5 vạn quân nhưng t́nh h́nh CPC không thay đổi lớn. T́nh h́nh đó củng cố thêm ư định VN rút quân, không có giải pháp mà CPC vẫn đứng vững.



    Ngày 11/2/1989, BCT họp cho ư kiến về đề án đấu tranh ngoại giao trong thời gian tới. Đề án nhận định “hiện nay mặt quốc tế của vấn đề CPC cơ bản đă được giải quyết đồng thời có nhiều thuận lợi gắn việc giải quyết vấn đề CPC với việc lập khu vực ḥa b́nh, tự do, trung lập ở Đông-nam Á“, nhận định về 4 khả năng giải quyết vấn đề CPC (như đề án tháng l0/1988). Khi xin ư kiến, đ/c Phạm Văn Đồng phát biểu với đ/c Nguyễn Dy Niên ngày 10/2/1989 như sau: “Cần tính khả năng rút quân 9/1989. Trong t́nh h́nh này phải tính nói chuyện với TQ. Đàm phán VN-TQ lúc này là quan trọng. Ta đừng để nó mất thể diện. Xem có thể đi nhanh về b́nh thường hóa quan hệ. Ta hiểu TQ, biết họ là bành trướng, biết âm mưu ư đồ của họ. Đă biết th́ không ngại“. Tuy nhiên ngày 16/2/1989, đ/c Nguyễn Cơ Thạch sang CPC họp 3 Bộ trưởng ngoại giao chuẩn bị cho JIM- 2, đ/c Thạch đă báo cáo với BCT CPC về chiến lược đấu tranh cho thời gian tới. Đ/c Thạch tŕnh bày:

    “Tháng 7/1988, chúng ta đánh giá rằng có 4 khả năng, đồng thời nhất trí cho rằng khả năng thứ tư, không có giải pháp, là không có lợi cho chúng ta. Lúc đó cũng thấy rằng tốt nhất là giải quyết mặt quốc tế, c̣n mặt nội bộ th́ giữ nguyên.

    Bây giờ chúng tôi cũng nghĩ rằng tốt nhất là giải pháp bộ phận, nhưng so với tháng 7/1988 th́ bây giờ t́nh h́nh có khác. Bây giờ không có giải pháp không phải là xấu. V́ trước kia Thái Lan là đất thánh, nay Thái Lan khác rồi, TQ cũng khác nên nếu không có giải pháp chúng ta vẫn sẽ rút quân mà không sợ. Không có giải pháp th́ ḿnh ăn cả. Cho nên bây giờ chúng tôi cho rằng giải pháp bộ phận là tốt, nhưng không có giải pháp cũng không phải là xấu… Sau khi VN rút hết quân mà không có giải pháp chính trị th́ Sihanouk và Son San có thể phải xin về tham gia CHND CPC, chứ không phải đ̣i xóa CHND CPC nữa. Có thể các đ/c nên tính sau khi VN rút hết quân th́ Quốc hội CHND CPC nên ra tuyên bố về nền trung lập vĩnh viễn của CPC“… “Hiện nay chúng ta đang chuyển sang giai đoạn đấu tranh mới. Chúng ta phải tranh thủ những nhân tố, đồng thời phải củng cố lực lượng” … “Chúng ta đều hết sức phấn khởi trước những thắng lợi của cách mạng CPC. Một năm trước đây chúng ta không nghĩ được rằng t́nh h́nh sẽ thuận lợi như thế này“.



    Ngày 30/4/1989, Quốc hội CPC ra tuyên bố về nền trung lập vĩnh viễn của CPC và đổi tên từ CHND CPC thành Nhà nước CPC (Etat du Cambodge và State of Cambodia) theo yêu cầu của Sihanouk. Ngày 2/5/1989, tiến hành ṿng 3 Hun Sen- Sihanouk tại Jakarta (Indonesia) đạt kết quả, Sihanouk hứa sẽ trở về CPC sau khi VN rút quân, thôi đ̣i giải tán CHND CPC.



    Trước t́nh h́nh đó, Hội nghị Trung ương 9 Đảng CPC ra nghị quyết ăn cả bằng giải pháp quân sự (5/7/1989) và Hội nghị quốc tế Paris về CPC tháng 7/1989 thất bại.



    - Sau thất bại ở Hội nghị quốc tế Paris, để t́m một giải pháp toàn bộ, những cố gắng để đạt giải pháp từng bước (sáng kiến của Chatichai về kiểm chứng rút quân VN (9/1989), nhân chuyến thăm Thái Lan lần thứ 2 của Hun Sen, tuyên bố của Ngoại trưởng Xô-Mỹ ngày 23/9/1989 về moratorium [đ́nh hoăn] việc cung cấp viện trợ cho các bên CPC…) đều không đạt kết quả. Cuộc đọ sức trên chiến trường CPC cho thấy không bên nào ở CPC có thể giành thắng lợi hoàn toàn bằng quân sự. 4 ngày sau khi VN rút quân, lực lượng Son San đă đánh chiếm Thmar Pouk27; ngày 22/1 0/1989, Khmer Đỏ đánh chiếm Pailin28 và uy hiếp thị xă Battambang, ta đă phải đưa lực lượng đặc biệt lên giúp bạn.



    Cũng từ thời gian này, nội bộ ta lại bộc lộ ra những khác biệt về nhận định đánh giá t́nh h́nh trước những chuyển biến nhanh chóng ở Đông Âu. Nghị quyết 13 chủ trương thúc đẩy giải pháp chính trị cho vấn đề CPC và b́nh thường hóa quan hệ với TQ được Nghị quyết Trung ương 6 khẳng định lại. Nhưng trong quá tŕnh thực hiện đă gặp không ít khó khăn, đặc biệt là trong thái độ xử lư quan hệ với TQ. Sau sự kiện Trường Sa (14/3/1988) và việc TQ tiếp tục gây căng thẳng trong quan hệ với ta, bác bỏ các đề nghị cải thiện quan hệ của ta, giữa các ngành đă xuất hiện nhiều ư kiến khác nhau, và không khí chung là không thuận lợi cho việc b́nh thường hóa quan hệ với TQ theo Nghị quyết 13 của BCT. Một số ư kiến cho rằng, trong khi TQ đang chống ta thông qua vấn đề CPC và t́m cách lấn chiếm biên giới 2 quần đảo của ta, việc ta rút quân khỏi CPC, sứa Điều lệ Đảng, sửa Hiến pháp… là sự hy sinh chủ quyền lănh thổ của đất nước, chủ trương của BCT về giảm tuyên truyền chống đối nhau cũng không được thực hiện đầy đủ; thậm chí c̣n có ư kiến cho rằng ngoại giao hữu khuynh trong quan hệ với TQ.



    Mặt khác, trong Trung ương, một số ngành và ngay trong BCT cũng đă bắt đầu xuất hiện một số ư kiến khác nhau về đánh giá sự kiện Thiên An Môn (6/1989), đánh giá TQ cũng như đánh giá Liên Xô-Đông Âu. Tại Hội nghị Trung ương 7, ư kiến rất khác nhau về thái độ của ta khi Công đoàn Đoàn kết lên cầm quyền ở Ba Lan (7/1989), báo Nhân dân có xă luận về sự kiện này. Trong hội nghị Trung ương 8 (27/3/1990), một số ư kiến đặt vấn đề về sự đúng đắn của Nghị quyết 13 và những bước đi của ta với TQ và trong vấn đề CPC. Tuy nhiên, sự khác nhau chưa bộc lộ rơ nét. Trung ương và BCT vẫn khẳng định Nghị quyết 13 là đúng đắn, đ/c TBT Nguyễn Văn Linh đă phát biểu về vấn đề này tại Hội nghị Trung ương 8 (26/3/1990) khi tiếp thu ư kiến phê b́nh của Trung ương đối với BCT.

    Đến đầu năm 1990, những ư kiến khác nhau trong BCT từ giữa năm 1989 bộc lộ rơ nét hơn. Có ư kiến nhấn mạnh mặt XHCN của TQ và thấy cần phải hợp tác với TQ để bảo vệ XHCN chống Mỹ và các thế lực đế quốc khác, nhất là từ sau sự kiện Thiên An Môn, sau khủng hoảng trầm trọng của Liên Xô, Ba Lan, Đức, Rumani và các nước Đông Âu khác. Từ những cách đánh giá đó đă dẫn đến ư kiến khác nhau về phương hướng đấu tranh cho một giải pháp chính trị về CPC. Sự thật là:



    Ngày 11/11/1989, BCT họp bàn và thông qua đề án đấu tranh ngoại giao về vấn đề CPC. Trên cơ sở đánh giá t́nh h́nh quân sự, chính trị trên chiến trường và xu thế chung trên thế giới, ta chủ trương cần phấn đấu đạt một giải pháp chính trị về CPC, đề ra 3 phương án về Cơ quan quyền lực ở CPC trước tổng tuyển cử (thấp nhất là giữ nguyên bộ máy 2 chính phủ đang tồn tại, lập Chính phủ liên hiệp hai bên ở Trung ương để tổ chức tổng tuyển cử và thực hiện những điều thoả thuận).



    Ngày 24/11/1989, Ngoại trưởng Australia Gareth Evans đưa ra sáng kiến dùng công thức Namibia để trống vấn đề quyền lực ở CPC trong thời kỳ quá độ, Liên hợp quốc kiểm soát và tổ chức tổng tuyên cử.



    Ngày 2/12/1989, đ/c Nguyễn Cơ Thạch, theo chỉ thị của BCT, đă sang bàn với BCT CPC, phân tích cuộc chiến tranh ở CPC là một cuộc nội chiến, VN không thể đưa quân trở lại, tính chất quốc tế của vấn đề CPC, xu thế của thế giới và bàn với bạn cần đấu tranh để đạt một giải pháp chính trị để giành thắng lợi từng bước. BCT CPC hoàn toàn nhất trí với 3 phương án trên, đồng thời đồng ư với ư kiến đ/c Thạch cần nghiên cứu việc sử dụng vai tṛ Liên hợp quốc như sáng kiến của Ngoại trưởng Australia G. Evans ngày 24/11/1989. Phải nói thêm rằng đ/c Thạch khi trên máy bay sang Phnom Penh mới đọc thư của Evans về sáng kiến 24/11/1989 và đến nơi, đ/c Thạch sửa lại bản tŕnh bày tinh thần như BCT cho ư kiến 11/11/1989 nhưng thêm phương án sử dụng vai tṛ Liên hợp quốc. Về phía những người CPC, khi thấy có phương án Liên hợp quốc th́ họ bập ngay cho là Liên hợp quốc ít phức tạp và nguy hiểm hơn là liên minh với lực lượng CPC đối lập. Đ/c Thạch nói phương án Liên hợp quốc cần xin thêm ư kiến BCT VN.

    Hội nghị BCT ta họp 14h30′ ngày 6/12/1989 có mặt Cố vấn Phạm Văn Đồng và 7 Uỷ viên BCT: Vơ Chí Công, Đỗ Mười, Nguyễn Đức Tâm, Trần Xuân Bách, Đổng Sĩ Nguyên, Nguyễn Cơ Thạch và Đào Duy Tùng (lúc này đ/c Nguyễn Văn Linh đang nghỉ ốm do bị cảm lạnh khi đi dự Quốc khánh ở CHDC Đức tháng l0/1989) đă bàn về sáng kiến của Australia và nhất trí ngoài 3 phương án BCT cho ư kiến ngày 11/11/1989, thêm phương án sử dụng vai tṛ Liên hợp quốc thành 4 phương án. Ngày 9/12/1989, đ/c Lê Mai vừa kết thúc nhiệm kỳ Đại sứ ở Thái Lan về được uỷ nhiệm sang Phnom Penh trao đổi với BCT CPC và BCT CPC hoàn toàn đồng ư với ư kiến BCT ta. BCT CPC đă triệu tập kỳ họp Trung ương lần thứ 10 từ ngày 10-15/1/1990 để bàn đi vào giải pháp chính trị và ngày 18/1/1990, Quốc hội CPC đă họp thông qua việc để Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử và uỷ quyền cho Hun Sen đàm phán về vấn đề này.



    - Với TQ: Bằng nghị quyết 13 BCT, với những động tác quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong quan hệ Việt-Trung (sửa lời nói đầu của Điều lệ Đảng (12/1986), sửa Hiến pháp (6/12/1988) không c̣n coi TQ là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm, giảm tuyên truyền chống TQ, mở cửa biên giới, VN đơn phương rồi cả 2 bên chấm dứt hoạt động quân sự trên biên giới, tuyên bố nới lỏng trong việc sử dụng cảng Cam Ranh… trên thực tế ta đă đơn phương giải quyết hết những điều mà TQ cho ta là dùng để chống TQ. Có thể nói đến tháng 12/1988, TQ không c̣n lư do ǵ để nói VN có những chính sách và hành động chống TQ, một trong hai vấn đề TQ coi là VN chống TQ từ 10 năm qua không tồn tại nữa. Tồn tại là vấn đề CPC. Việc VN tuyên bố rút 5 vạn quân bằng 1/2 số quân c̣n lại ở CPC và rút Bộ Tư lệnh quân t́nh nguyện VN ở CPC (tháng 5/1988) đă làm tác động mạnh mẽ xu hướng thúc đẩy một giải pháp cho vấn đề CPC, các nước lớn do lợi ích của ḿnh không muốn VN rút quân mà không có giải pháp, duy tŕ nguyên trạng ở CPC, chính v́ vậy phương Tây có thái độ mềm dẻo hơn, đáp ứng phần nào yêu cầu của phía ta trên vấn đề diệt chủng. Tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ ở Hội nghị PMC ASEAN 9/7/1988 ở Bangkok đă đưa đến kết quả cuộc gặp không chính thức về CPC ở Jakarta 25/7/1988 (JIM-1) khẳng định có 2 vấn đề trong giải pháp cho vấn đề CPC là rút quân VN đi đôi với việc ngăn chặn việc phục hồi chế độ diệt chủng Pol Pot.



    Chuyển biến của thế giới đối với vấn đề CPC, sự thay đổi trong quan hệ Xô-Mỹ trong quan hệ quốc tế và trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế đă đưa đến việc TQ điều chỉnh chính sách đối ngoại của ḿnh thể hiện ở Hội nghị BCT ở Bắc Đới Hà tháng 9/1988. Với VN, TQ đă từng bước hoà dịu trong quan hệ trên thực tế (giảm căng thẳng trên biên giới, trao đổi hàng hoá và đi lại thăm hỏi, làm ăn ở biên giới theo đề nghị của lănh đạo ta qua tiếp xúc giữa Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch và Đại sứ TQ ngày 15/7/1988) và chấp nhận đi vào đàm phán cấp Thứ trưởng Ngoại giao với ta để trao đổi về vấn đề CPC và quan hệ hai nước. Tuy nhiên TQ vẫn coi vấn đề CPC là điều kiện tiên quyết để cải thiện quan hệ Việt-Trung. Một mặt TQ duy tŕ “3 trở ngại” để mặc cả trong cải thiện quan hệ với Liên Xô mặt khác TQ đặt thêm điều kiện về vấn đề CPC trong cải thiện quan hệ với VN. Cần nhắc lại rằng tháng 10/1982 trong đàm phán Xô- Trung và trong tuyên bố chính thức của Bộ Ngoại giao TQ ngày 1/3/1983, TQ chỉ đặt điều kiện VN rút quân, thậm chí chỉ cần có lịch rút quân rơ ràng th́ TQ sẽ tiến hành đàm phán để đi đến b́nh thường hóa quan hệ Việt- Trung. Từ 6/1988 khi VN rút 1/2 số quân và Bộ Tư lệnh quân t́nh nguyện VN ở CPC, đặc biệt sau tuyên bố 5/4/1989 của VN, CPC đơn phương rút quân t́nh nguyện VN về nước vào tháng 9/1989, TQ lại đặt thêm điều kiện là VN “phải giải quyết hậu quả của VN đưa quân xâm lược CPC” không phải VN rút hết quân là xong trách nhiệm, đ̣i VN phải lập Chính phủ liên hiệp lâm thời 4 bên do Sihanouk làm Chủ tịch và phải chấp nhận bộ máy giám sát của Liên Hợp quốc (trong khi Liên hợp quốc ủng hộ Khmer Đỏ giữ ghế ở Liên Hợp quốc và ra nhiều nghị quyết bất lợi cho VN) kiểm chứng VN rút “hết mọi loại lực lượng VN” ở CPC làm điều kiện để nối lại đàm phán đề b́nh thường hóa quan hệ với VN. Trong khi đàm phán TQ một mực đ̣i VN phải giải quyết vấn đề nội bộ CPC “hậu quả của VN xâm lược CPC” th́ TQ mới bàn việc cải thiện quan hệ 2 nước. (Tuyên bố của Bộ Ngoại giao TQ ngày 1/7/1988 sau khi VN rút 5 vạn quân). Trong khi đó, cách xử sự của TQ với Liên Xô th́ khác hơn. Tháng 5/1989, trong khi “3 trở ngại” trong quan hệ Trung-Xô chưa được giải quyết TQ vẫn đón TBT Gorbachov thăm chính thức TQ, cải thiện quan hệ cả về mặt Đảng và Nhà nước với Liên Xô. Tháng 10/1989, khi TBT Lào Kaysone Phomvihan thăm TQ, Đặng Tiểu B́nh chuyển message oral cho TBT Nguyễn Văn Linh chỉ nêu yêu cầu VN rút quân nhưng ngày 6/11/1989 khi TBT Nguyễn Văn Linh gửi message oral bày tỏ mong muốn b́nh thường hóa quan hệ với TQ, đề nghị tiếp xúc cấp cao với TQ th́ ngày 12/12/1989 trả lời message oral đó TQ lại đặt thêm điều kiện VN ép Phnom Penh lập Chính phủ liên hiệp lâm thời 4 bên do Sihanouk đứng đầu và chấp nhận Liên Hợp quốc giám sát thi hành Hiệp định th́ TQ mới “suy xét” việc đàm phán cấp Thứ trưởng ngoại giao với VN.



    (C̣n tiếp)







    Ghi chú:



    24 張德偉/Zhang Dewei (1988.12-1993.02)



    25 General Chatchai Choonhavan (Thai: ชาตชิ Minister of Thailand from 1988–1991. าย ชณุ หะวณั, 5 April 1920—6 May 1998) was the Prime



    26 General Chavalit Yongchaiyudh (Thai , born May 15, 1932) is a Thai politician, General, Defence Minister, Deputy Prime Minister and Thailand’s 22nd Prime Minister from (1996-1997).



    27 district in Banteay Meanchey



    28 Pailin is a city (krong) in the west of Cambodia near the border of Thailand. Pailin is a major Khmer Rouge strongpoint and resource center.

  5. #25
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    GHI CHÉP VỀ CAMPUCHIA (1975-1991)
    Huỳnh Anh Dũng, cựu Đại sứ VN tại Campuchia
    Phần 5


    4. Giai đoạn từ đầu 1990 đến cuối 1991: Các nước lớn áp đặt giải pháp về Campuchia và Việt Nam không kiểm soát được vấn đề Campuchia nữa.



    Từ đầu năm 1990, mở đầu cho thời kỳ hoà hoăn giữa 3 nước lớn mà chủ yếu là sự hợp tác Xô-Mỹ, đồng thời mở đầu cho việc 3 nước lớn dùng cơ chế 5 nước thường trực HĐBA (P.5) giải quyết vấn đề CPC và vấn đề vùng Vịnh. Đây là chuyển biến rất quan trọng, từ chỗ 3 nước lớn trao đổi từng cặp với nhau về vấn đề CPC, nay h́nh thành cơ chế 5 nước đề áp đặt giải pháp vào CPC theo sự thỏa hiệp lợi ích của họ với nhau.



    Việc ta và CPC chấp nhận sử dụng vai tṛ Liên hợp quốc và xem xét sáng kiến của Australia để giải quyết vấn đề phân chia quyền lực bị bế tắc ở Hội nghị quốc tế Paris đă một lần nữa thúc đẩy mạnh mẽ các diễn đàn để giải quyết vấn đề CPC: Bí thư thường trực Australia Costello thăm CPC và VN 7/1/1990, Informal meeting on Cambodia (IMC) (Jakarta 26/2/1990), các cuộc họp 5 nước Hội đồng Bảo an, ṿng 6 Hun Sen-Sihanouk (Bangkok.- 22/2/1990). Tại IMC 26-28/2/1990, một lần nữa vấn đề diệt chủng đă ngăn cản mọi thoả thuận, Khmer Đỏ phủ quyết dự thảo thoả thuận có ghi vấn đề diệt chủng, IMC thất bại; đ/c Thạch gặp Ngoại trưởng Indonesia Ali Alatas với sự có mặt của hầu hết cán bộ chủ chốt của Bộ Ngoại giao Indonesia, đ/c Thạch phê phán rất mạnh Alatas nhu nhược, dung túng cho Khieu Samphan, Alatas bị bẽ mặt, quan hệ của Alatas với đ/c Thạch xấu hẳn đi.



    - Thất bại của Mặt trận giải phóng Sandino trong bầu cử ở Nicaragua 25/2/1990 và thất bại của cuộc họp IMC-Jakarta (28/2/1990) đă tác động mạnh mẽ vào nội bộ ta về phương hướng giải quyết vấn đề CPC. Ngày 8 và 10/3/1990, đ/c Lê Đức Thọ gặp đ/c Nguyễn Cơ Thạch, Đinh Nho Liêm, Trần Quang Cơ nêu ư kiến: “cần có chuyển hướng chiến lược trong đấu tranh về vấn đề CPC. Kinh nghiệm Genève 1954, Paris 1973 là phải đàm phán với lực lượng mạnh nhất, chủ yếu nhất. Ở CPC, phải giải quyết với TQ, nếu không giải quyết với TQ th́ không giải quyết được. Hướng tới là nên bàn với TQ để giải quyết, không thể gạt Khmer Đỏ, cần mềm dẻo về vấn đề diệt chủng, không thể chấp nhận để Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử ở CPC. Cần mềm dẻo về vấn đề diệt chủng, không thể gạt Khmer Đỏ. Có thể đưa ra 2 phương án cao thấp: lập HĐ Dân tộc Tối cao 4 bên có hệ thống dọc hoặc Chính phủ liên hiệp lâm thời 2 bên gồm 4 phái để tổ chức tổng tuyển cử và soạn thảo Hiến pháp. Liên hợp quốc chỉ giám sát và kiểm soát thi hành Hiệp định. Trước Đại hội VII, phải giải quyết một bước cơ bản vấn đề CPC để khai thông vấn đề đối ngoại cùng vấn đề đối nội khác, tạo không khí phấn khởi chung. Liên Xô, Đông Âu khó khăn; Lào đă đi với TQ, ta giải quyết được với TQ là phù hợp nhất.“



    Từ 8-20/3/1990, TBT Heng Somrin đi nghỉ ở Hà Nội có dịp gặp gỡ đ/c Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh trao đổi về t́nh h́nh Liên Xô Đông Âu, Nicaragua, t́nh h́nh CPC. Đ/c Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh nêu phải cảnh giác với Liên hợp quốc, không thể để Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử ở CPC. Từ đây CPC chuyển sang phương án SNC tổ chức tổng tuyển cử, không tán thành Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử.

    Hội nghị BCT ta ngày 10/4/1990 đă bàn về phương hướng thúc đẩy giải pháp chính trị về vấn đề CPC. Hội nghị BCT thấy không nên giao cho Liên Hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử mà nên trở lại phương án 3 mà BCT thông qua 11/11/1989 (lập Chính phủ liên hiệp 2 bên ở Trung ương để tổ chức tổng tuyển cử). Trong hội nghị, đ/c TBT Nguyễn Văn Linh có ư kiến: “VN, TQ là hai nước XHCN cùng chống âm mưu đế quốc xoá bỏ XHCN, phải cùng chống đế quốc, trước hết phải phát triển quan hệ 2 nước, các vấn đề khác giải quyết sau” … “Một CPC thân thiện với TQ, thân thiện với VN là tốt nhất. Trên cơ sở điểm đồng này mà giải quyết vấn đề CPC có lợi cho CPC“‘. “Phương án 3 là tốt, không để Liên Hợp quốc nhúng tay vào v́ Liên Hợp quốc là Mỹ; Thái Lan là Mỹ”. Hội nghị BCT quyết định cử đ/c Nguyễn Cơ Thạch đi CPC bàn với BCT CPC. (Ngày 17/4/1990, đ/c Thạch sang CPC thông báo, BCT CPC không tán thành.)



    - Ngày 20-21/5/1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chủ tịch, TBT VN, Lào, CPC họp hẹp dành nhiều thời gian phân tích t́nh h́nh thế giới, âm mưu của đế quốc chống CNXH, về những biến đổi phức tạp ở Liên Xô, Đông Âu. Ba đ/c TBT trao đổi thấy cần thực hiện Giải pháp Đỏ ở CPC. Phía CPC đề nghị về nước xin ư kiến tập thể BCT để BCT CPC quyết định rồi sẽ thông báo cho VN để VN thăm ḍ TQ. Heng Somrin về Phnom Penh để Hun Sen chờ ở Hà Nội. Ngày 26/5/1990, Sar Kheng29 ra Hà Nội báo cáo Hun Sen ư kiến BCT CPC, ngày 27/5/1990 Hun Sen lần lượt làm việc riêng với đ/c Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Cơ Thạch thông báo BCT CPC họp bỏ phiếu 10/16 tán thành Giải pháp Đỏ.



    Như phần trên đă tŕnh bày thực chất Nhà nước CPC muốn ăn cả bằng một giải pháp quân sự, coi cả Khmer Đỏ và Sihanouk đều là đối thủ nguy hiểm. Việc VN thuyết phục CPC và CPC chấp nhận đi vào giải pháp chính trị là điều miễn cưỡng và khi có điều kiện th́ CPC trở lại chủ trương giành thắng lợi bằng một giải pháp quân sự, điển h́nh là quyết tâm của Hội nghị Trung ương Đảng CPC lần thứ 9 (7/1989).



    Từ khi VN rút hết quân khỏi CPC, quan hệ CPC với VN chuyển sang giai đoạn mới. Càng đi gần vào giải pháp th́ lợi ích của CPC và lợi ích của ta ngày càng kênh nhau lớn. Ngay khi kiểm điểm rút hết chuyên gia và Ban lănh đạo đoàn chuyên gia ở CPC (6/1988), những người lănh đạo CPC đă bộc lộ ngay phản ứng, bộc lộ ư kiến khác ta, cho ta là áp đặt về vấn đề cán bộ CPC, hậu quả CPC phải gánh chịu, cho VN là “cộng sản tả khuynh” “người điên” “duy ư chí” bằng việc áp đặt CPC chuyển gia giai đoạn “quá độ đi lên CNXH” trong khi CPC không có cơ sở ǵ của CNXH30. Ngay sau khi ta rút hết chuyên gia (tháng 8/1988) CPC thay đổi ngay hàng loạt cán bộ lănh đạo cấp cao kể cả chức vụ thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng và tiến hành Hội nghị cán bộ Đảng toàn quốc để xác định lại giai đoạn là CPC phải hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chứ không phải bước vào thời kỳ quá độ đi lên CNXH như VN góp ư kiến đồng thời thay đổi hàng loạt chính sách kinh tế theo hướng kinh tế thị trường tự do; Mặt khác CPC “thanh toán ṣng phẳng mọi nợ nần” với VN: gửi công hàm xoá bỏ việc VN nợ gạo và tiền (831.790.000 riels) để nuôi quân t́nh nguyện VN trong 10 năm chiến đấu ở CPC (16/7/1988 và 30/5/1989).



    Ngày 9-10/7/1988, đ/c Nguyễn Cơ Thạch thăm bí mật CPC với danh nghĩa Đặc phái viên TBT ta. Ngày 10/7 đ/c Nguyễn Cơ Thạch thông báo ư kiến của BCT ta lấy đường Brévié làm biên giới trên biển giữa 2 nước. Ngày 25/7, Hun Sen gặp anh Ngô Điền, Hun Sen đề nghị kư sớm biên giới trên biển theo đường Brévié trước khi đàm phán ṿng 3 với Sihanouk (l0/1988). Hun Sen nói cán bộ CPC nhất là trí thức rất mừng khi nghe BCT VN khẳng định lấy đường Brévié; trước đây nghe kế hoạch chia đôi vùng nước lịch sử họ có thắc mắc và lo lắng. Ngày 10/9/1988, BCT VN họp bàn lại thấy việc kư Hiệp ước biên giới trên biển thấy phức tạp, đề nghị CPC hoăn lại, lư do cần tập trung giải pháp, VN c̣n quân, kư bây giờ địch sẽ xuyên tạc. Được chỉ thị, đ/c Ngô Điền xin gặp Hun Sen không được nên viết giấy để lại về ư kiến BCT hoăn kư đường Brévié. Măi đến 12/10/1988 gặp anh Ngô Điền, Hun Sen mới nói đồng ư chưa làm ǵ về đường Brévié.



    Về Giải pháp Đỏ, CPC nhiều lần ám chỉ xa gần là do VN cần b́nh thường hóa quan hệ với TQ và lợi ích của VN mà VN ép CPC đi vào Giải pháp Đỏ, cho đó là điều “phi đạo lư, phi đạo đức”, “đánh đồng nạn nhân diệt chủng và tội phạm diệt chủng” và kết luận rằng lănh đạo CPC không “Đỏ” để đi vào Giải pháp Đỏ với Pol Pot như có người tưởng…



    Việc ta thuyết phục CPC đi vào giải pháp chính trị và tán thành sáng kiến của Ngoại trưởng Australia dùng vai tṛ Liên Hợp quốc để không dùng vai tṛ Khmer Đỏ và Sihanouk trong thời kỳ quá độ đă làm cho bạn “nhẹ nhơm” trong việc chấp nhận đi vào giải pháp chính trị. Một tháng sau khi ta thông báo ư kiến của BCT (9/12/1989) chấp nhận sử dụng vai tṛ Liên hợp quốc, CPC đă chủ động triệu tập ngay Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ (10- l0/1/1990) để thông qua chủ trương đi vào giải pháp chính trị (mặc dù trước đó 5 tháng trong Hội nghị Trung ương 9, CPC đă quyết tâm giành một thắng lợi hoàn toàn bằng quân sự và triệu tập kỳ họp của Quốc hội (18/1/1990) để thông qua nghị quyết cho phép Liên Hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử ở CPC. (Ngày 11/8/1990, Hun Sen nói với đ/c Ngô Điền đại ư: CPC lo ngại bọn 3 phái hơn là Liên hợp quốc. Chấp nhận Liên hợp quốc hoặc cho SNC trong đó có 3 phái tổ chức tổng tuyển cử liên quan đến quyết định chiến lược có đi vào giải pháp chính trị hay không). Với những suy nghĩ đó TBT Heng Samrin miễn cưỡng chấp nhận ư kiến của TBT ta là không nên chấp nhận cho Liên Hợp quốc tổ chức tuyển cử ở CPC (tháng 3/1990) và ngày 17/4/1990 khi đ/c Nguyễn Cơ Thạch sang CPC thông báo với BCT CPC ư kiến của BCT ta trong Hội nghị BCT ngày 10/4/1990. BCT CPC không chấp nhận áp dụng phương án 4 (lập Chính phủ liên hiệp 2 bên để tổ chức Tổng tuyển cử). Cảnh giác với Liên hợp quốc và không chấp nhận thoả hiệp về vấn đề diệt chủng, cho rằng thoả hiệp về vấn đề này là phủ nhận cuộc đấu tranh 10 năm qua của cán bộ lănh đạo CPC, phủ nhận tính chính nghĩa của sự có mặt của quân t́nh nguyện VN ở CPC. Nó sẽ tạo điều kiện cho bọn Khmer đối lập tiêu diệt những cán bộ lănh đạo của Nhà nước v́ không có diệt chủng họ ắt phải là “phản quốc”, VN vào CPC ắt là “xâm lược”. Mặt khác, BCT CPC đề nghị ta góp ư để CPC đơn phương tổng tuyển cử vào đầu năm 1990.



    Từ 24-30/4/1990, Chea Sim sang VN kiểm tra sức khoẻ, gặp làm việc với đ/c Lê Đức Anh và Nguyễn Cơ Thạch. Đ/c Thạch nhắc lại BCT VN chỉ gợi ư phương án 4 như đ/c Thạch tŕnh bày ở Phnom Penh ngày 17/4/1990, tuỳ BCT CPC quyết định. Chea Sim nhắc lại là nên đề Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử tốt hơn đồng thời đề nghị ta giúp CPC đơn phương tổ chức tổng tuyển cử.



    Phải nói rằng việc ta khuyên CPC đi vào Giải pháp Đỏ (từ 1987), gợi ư việc chấp nhận vai tṛ Liên hợp quốc (12/1989) rồi bác vai tṛ Liên hợp quốc (3/1990), khuyên CPC đi vào phương án 3 (4/1990) và đi vào Giải pháp Đỏ (hội đàm 3 TBT 20-21/5/1990) là khác với lợi ích của những người lănh đạo CPC muốn ăn cả bằng một giải pháp quân sự. Việc BCT CPC không chấp nhận gợi ư của BCT ta trong cuộc hội đàm 17/4/1990 đánh đấu bước ngoặt mới trong quan hệ VN-CPC sau khi VN rút hết quân khỏi CPC và sau khi CPC đă có quan hệ với Thái Lan (từ tháng 6/1988). Ngay sau khi chấp nhận Giải pháp Đỏ trong cuộc gặp 3 TBT 20-21/5/1990, trong cuộc họp BCT CPC ngày 30/5/1990, Chea Sim đă nói “Nếu đi vào giải pháp quá sớm, chúng ta sẽ tự treo cổ ta“31. Ngày 1/6/1990, Hun Sen nói với đ/c Nguyễn Cơ Thạch ở sân bay Nội Bài trên đường đi Tokyo gặp Sihanouk: “BCT CPC thấy giải pháp như đă thoả thuận giữa 3 đ/c TBT (Giải pháp Đỏ) cũng có nhiều khó khăn.”



    Hun Sen cho rằng sự hợp tác có nhiều khó khăn v́ 3 nhân tố:

    a) Bọn Pol Pot là bọn rất cực đoan cả về cách mạng và rất cực đoan về chủ nghĩa dân tộc.

    b) Sau hơn 10 năm đánh nhau, việc hợp tác giữa 2 quân đội không thể dễ dàng được.

    c) Bọn Pol Pot sẽ cố gắng đưa một số đảng viên lớn hơn số đảng viên hiện nay của Đảng NDCM CPC để giành đa số trong một đảng hợp nhất.



    Trong khi trong nội bộ ta và ta với CPC có nhiều ư kiến khác nhau như vậy th́ bên ngoài, 5 nước lớn khẩn trương hoàn chỉnh Hiệp định khung về giải pháp toàn diện về CPC với vai tṛ lớn của Liên hợp quốc như Quốc hội CPC đă chấp nhận ngày 10/1/1990. Ngày 15-16/12/1989, 5 nước thường trực HĐBA/LHQ (P-5) họp lần đầu cấp Thứ trưởng tại Paris ra thông cáo nêu 16 nguyên tắc để chỉ đạo t́m kiếm giải pháp toàn bộ cho vấn đề CPC, bảo đảm quyền tự quyết của CPC thông qua tổng tuyển cử tự do, công bằng và dân chủ; với vai tṛ tăng cường của Liên hiệp quốc (enhance the role of the United Nations). Ngày 11 – 12/2/1990, P-5 họp ṿng 2 cấp Thứ trưởng tại New York tập trung bàn về 2 vấn đề quân sự và cơ chế chính quyền quá độ ở CPC nhưng chưa có thoả thuận cụ thể; ṿng 3 họp ngày 12- 13/3/1990 tại Paris thoả thuận những nguyên tắc chính về 3 vấn đề: tổ chức tổng tuyển cử; lập Hội đồng dân tộc tối cao (SNC); quyền lực lâm thời của Liên hợp quốc.



    Trên chiến trường CPC, sau khi VN rút quân vào cuối tháng 9/1989, ngày 22/10/1989, bọn Pol Pot phản công đánh chiếm thị trấn Pailin và uy hiếp thị xă Battambang. Ngày 26/10, CPC yêu cầu ta chi viện. Đ/c Lê Đức Anh sang CPC xem xét t́nh h́nh. Ngày 29/10/1989, ta đưa lực lượng đặc biệt lên Battambang cả bằng không quân và đường bộ để hỗ trợ cho CPC gồm 3 trung đoàn (E9 của F339, El của F330 và E20 của F4) do đ/c Sáu Phú, Phó Tư lệnh Quân khu 9 chỉ huy. Ngày 11/1/1990, Heng Somrin có công hàm khẩn gửi đ/c Nguyễn Văn Linh, đề nghị hoăn rút lực lượng đặc biệt ở Battambang và yêu cầu gửi thêm lực lượng bảo vệ Sisophon và Sam Rong. Ta không đáp ứng, ngày 15/1/1990, đ/c Đoàn Khuê lên CPC bàn với Bộ Quốc pḥng CPC: ta rút lực lượng đặc biệt, ngoài số 1.265 chuyên gia và nhân viên kỹ thuật, ta đưa một bộ phận lực lượng đặc biệt này vào số chuyên gia, tăng số chuyên gia lên gấp đôi (do CPC trả lương từ 70-150 USD/tháng, theo như thoả thuận giữa hai Bộ Quốc pḥng sau khi Bộ Tư lệnh VN ở CPC rút đi tháng 5/1988) bao gồm một số bộ phận bảo vệ cho chuyên gia, số lực lượng tăng cường này lúc cần có thể tham gia chiến đấu nhưng không chủ động chiến đấu. CPC chấp nhận phương án này, sau một thời gian nữa nếu không cần th́ rút bớt. Trên thực tế, nếu số đó quá đông mà trả lương theo Đô la như thoả thuận từ 5/1988 th́ CPC cũng không kham nổi. Lực lượng chuyên gia quân sự bên cạnh Bộ quốc pḥng CPC lấy tên là K-88.



    Từ giai đoạn này, t́nh h́nh chuyển biến rất nhanh chóng, ta phải đối phó rất căng thẳng v́ t́nh h́nh diễn biến rất khẩn trương mà nhận thức của chúng ta lại rất khác nhau; cộng thêm sức ép của việc chuẩn bị cho Đại hội VII trong khi đó, ở Bộ ngoại giao có thêm sức ép là đ/c Uỷ viên BCT phụ trách Bộ ngoại giao có khả năng thay đổi, thuyên chuyển.



    Từ 3-9/5/1990, đ/c Thứ trưởng ngoại giao Đinh Nho Liêm đi Bắc Kinh tiến hành ṿng 3 đàm phán VN-TQ với danh nghĩa là đi “kiểm tra công tác của Sứ quán”. Tại ṿng đàm phán này ta đồng ư có sự trao đổi ư kiến về vấn đề nội bộ CPC. Trong đàm phán, Từ Đôn Tín32 nói rơ ư TQ về SNC là SNC phải thật sự có quyền lực như chính quyền. Ta đồng ư giảm nói về diệt chủng. TQ coi giải quyết vấn đề CPC là điều kiện để b́nh thường hóa quan hệ với VN. Từ Đôn Tín hẹn sang Hà Nội tháng 6/1990 để tiếp tục đàm phán.



    Trước khi sang Hà Nội, ngày 25/5/1990, Từ Đôn Tín đi New York họp ṿng 4 Thứ trưởng P-5. Trong cuộc họp P-5 này, TQ đưa ra 2 phương án: hoặc lập SNC 4 bên làm nhiệm vụ chính quyền lâm thời trong thời kỳ quá độ hoặc giao cho Liên hợp quốc làm chức năng quản lư hành chính trong thời kỳ quá độ, c̣n SNC chỉ có chức năng tượng trưng. Trong khi đó ở Hà Nội, ta và CPC lại thấy cần tranh thủ Giải pháp Đỏ.



    Lúc này ở Hà nội, sau cuộc gặp 3 TBT ngày 21/5/1990, ngày 23/5/1990, theo chỉ thị của đ/c Lê Đức Anh, Thiếu tướng Vũ Xuân Vinh, Cục trưởng Cục đối ngoại Bộ quốc pḥng đă thông báo cho Tuỳ viên quân sự TQ Triệu Nhuệ: ”đ/c Nguyễn Văn Linh và đ/c Lê Đức Anh sẽ gặp Từ Đôn Tín” . Ngày 27/5/1990, Từ Đôn Tín huỷ bỏ chương tŕnh gặp Phó TTK/LHQ Admed sau cuộc gặp P-5 ngày 25-26/5/1990 và đi về Bắc Kinh ngay.



    Ngày 30/5/1990, BCT họp cho ư kiến về đề án đàm phán với Từ Đôn Tín.

    Đ/c Phạm Văn Đồng nói: Mấy ngh́n năm TQ vẫn là TQ, không nên cả tin TQ. Ta cần thăm ḍ thúc đẩy nhưng cảnh giác đừng để hớ. Đ/c Nguyễn Văn Linh kết luận: Đ/c TBT sẽ gặp Đại sứ TQ, không gặp Từ Đôn Tín. Đ/c Thạch gặp Từ Đôn Tín. Gặp Đại sứ TQ không nói giải pháp CPC, chỉ nói 2 nước đoàn kết bảo vệ CNXH, thăm ḍ việc gặp cấp cao.



    Chiều ngày 5/6/1990, đ/c TBT Nguyễn Văn Linh gặp Đại sứ TQ Trương Đức Duy. Đ/c TBT nói: “Bây giờ đế quốc âm mưu thủ tiêu CNXH, chúng điên cuồng tấn công CNXH, tất nhiên bọn đế quốc là cùng một ruột, chúng dùng KHKT và kinh tế bao vây XHCN. Chúng âm mưu dùng diễn biến ḥa b́nh, mỗi Đảng phải tự lực chống lại. Liên Xô là thành tŕ XHCN nhưng có nhiều vấn đề.

    Chúng tôi muốn cùng các người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ CNXH. Trong vụ Thiên An Môn, các đ/c đă xử lư rất kiên quyết và rất vững vàng. Tôi sẵn sàng sang TQ gặp các đ/c lănh đạo cấp cao của TQ để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Âm mưu của bọn đế quốc là chống phong trào cộng sản quốc tế do đó những người cộng sản chân chính của 2 nước cần trao đổi kinh nghiệm với nhau”.

    … “Giờ đây vấn đề CPC, ta phải giải quyết như thế nào. Việc Liên hợp quốc vào tổ chức tổng tuyển cử sẽ có lợi cho các nước phương Tây. Vừa qua 5 nước HĐBA/LHQ họp bàn trong đó có Mỹ, Anh, Pháp là 3 nước đế quốc, Liên Xô là nước XHCN nhưng có vấn đề cũng khó nói, nay chỉ c̣n TQ...” .



    Ngày 6/6/1990, đ/c Lê Đức Anh lại gặp Đại sứ TQ truyền đạt ư kiến của BCT VN. Nội dung xoay quanh vấn đề đoàn kết bảo vệ CNXH và Giải pháp Đỏ ở CPC.



    Ngày 8/6/1990, đ/c Lê Đức Anh điện thoại dặn đ/c Trần Quang Cơ khi biết đ/c Cơ sẽ thay đ/c Đinh Nho Liêm (bị ốm) làm việc với Từ Đôn Tín ở Hà Nội :

    + Đă làm việc với anh [Đặng Nghiêm] Hoành, anh [Đinh Nho] Liêm. Phương hướng như đă bàn. Tất cả các vấn đề đều ổn cả duy chỉ c̣n vấn đề Hội đồng tối cao thời kỳ quá độ gồm 2 bên, có chức năng nhất định, với các uỷ ban giúp việc như đối ngoại, kinh tài, tổng tuyển cử về quốc pḥng và an ninh chỉ nên là một. Nên tránh phương án Liên hợp quốc trong thời kỳ quá độ.

    + Việc hai bên Đỏ tiếp xúc nhau là chuyện lâu dài cần cho ổn định lâu dài. TQ sẽ tác động với phía thân TQ, ta sẽ tác động với phía thân ta để 2 bên kiềm chế việc thù địch nhau và hợp tác với nhau. Việc này phải có thời gian, không thể nhanh được, không thể đ̣i họ trả lời ngay. Đừng thúc họ, cứ để họ chủ động, khi nào trả lời được th́ họ trả lời.

    + Phải rất bí mật. Lộ ra rất nguy hiểm. Chỉ nói khi gặp riêng chứ không nói trong đàm phán. Về việc Anh Nguyễn Văn Linh đặt vấn đề với Đại sứ Trương Đức Duy nói sẵn sàng đi TQ gặp cấp cao nhất, cũng không nên hỏi lại Từ Đôn Tín nếu họ chưa nói tới.



    - Ngày 9/6/1990, trên đường từ Tokyo về nước, Hun Sen đă ghé Hà Nội.

    Đ/c Thạch tiếp và làm việc với Hun Sen, đ/c Thạch hoan nghênh và ửng hộ kết quả cuộc họp Hun Sen-Sihanouk, khẳng định VN tôn trọng thoả thuận Tokyo và sẵn sàng cùng các nước liên quan đảm bảo thực hiện các thoả thuận đó. (Thoả thuận Hun Sen – Sihanúc ở Tokyo là lập SNC 2 bên, như vậy là gạt Khmer Đỏ).



    - Ngày 11/6/1990, đàm phán tại Hà Nội giữa đ/c Trần Quang Cơ và Từ Đôn Tín. Từ Đôn Tín tŕnh bày ư kiến TQ Cơ bản như lập trường trong cuộc họp P-5 ngày 25/5/1990.



    Trưa 1 1/6/1990, đ/c Trần Quang Cơ về báo cáo đ/c Nguyễn Cơ Thạch (lúc này cũng đang có Hội nghị ngoại giao đánh giá sự sụp đổ của Đông Âu). Đ/c Thạch gắn hỏi đ/c Cơ có hỏi Từ Đôn Tín về Giải pháp Đỏ không ? Đ/c Cơ nói đ/c Lê Đức Anh đă dặn. Đ/c Thạch chất vấn đ/c Cơ nghe theo ư kiến Bộ trưởng ngoại giao hay nghe ư kiến Bộ trưởng quốc pḥng. Đ/c Cơ nói sẵn sàng chấp hành ư kiến đ/c Thạch, sẽ hỏi Từ đôn Tín với sự hiểu biết rằng đức Thạch là Uỷ viên BCT. Đ/c Thạch đề nghị đ/c Cơ phải gặp hỏi Từ Đôn Tín, thậm chí c̣n bảo đ/c Cơ phải viết cam kết sẽ thực hiện điêu đó.

  6. #26
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    GHI CHÉP VỀ CAMPUCHIA (1975-1991)
    Huỳnh Anh Dũng, cựu Đại sứ VN tại Campuchia
    Phần 5B



    Chiều 11/6/1990, họp giữa 2 Trưởng đoàn và có 2 Đại sứ trao đổi về nội dung đ/c Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh nói với Đại sứ Trương Đức Duy. Từ Đôn Tín nhờ đông chí Trần Quang Cơ chuyến toàn văn ư kiến của lănh đạo TQ trả lời ư kiến đ/c Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh như sau:

    “Lănh đạo TQ rất coi trọng quan hệ Trung-Việt, lănh đạo TQ cũng rất coi trọng những ư kiến đ/c TBT Nguyễn Văn Linh và đ/c Lê Đức Anh đă nói với Đại sứ TQ Trương Đức Duy. Phía TQ cho rằng quan hệ Trung-Việt sớm muộn cũng sẽ b́nh thường hóa. Hai bên đều cần cùng nhau cố gắng để thực hiện. Về vấn đề CPC, cuộc chiến tranh CPC đă kéo dài hơn 10 năm. Đây là vấn đề toàn thế giới quan tâm, các nước trong khu vực, nhất là ASEAN, cũng rất quan tâm. Đối với 2 nước TQ và VN, nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết hiện nay là trên cơ sở những nhận thức chung đă nhận được, tiếp tục trao đổi ư kiến về 2 vấn đề tồn tại (vấn đề quyền lực của Hội đồng tối cao và việc xử lư quân đội của các bên CPC), làm sao có tiến triển về 2 vấn đề này. Nếu được như vậy, chúng ta sẽ góp phần vào việc thực sự giải quyết vấn đề CPC. Bước đi này là hết sức quan trọng. Chỉ có đi xong bước này, chúng ta mới có thể suy nghĩ đến những bước sau. Cũng có nghĩa là chỉ có đi xong bước này, lănh đạo TQ mới suy nghĩ về việc gặp cấp cao, và việc thúc đẩy 2 phái cộng sản Khmer hoà giải với nhau.”



    (Ngày 25/6/1990, trong cuộc gặp Thứ trưởng Trần Quang Cơ ở Bộ Ngoại giao, Đại sứ Trương Đức Duy đă đọc lại toàn văn trả lời của lănh đạo TQ gửi lănh đạo VN và nói là văn bản này “chính xác hơn”, trong đó phần cuối nói về CPC như sau: “Vấn đề CPC đă kéo dài 11 năm, trở thành vấn đề quốc tế trọng đại mà cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước ASEAN rất chú trọng. Chúng tôi cho rằng việc này cần làm gấp trước mắt là 2 bên TQ-VN nên đi đến thoả thuận càng sớm càng tốt về một số những mặt quan trọng cho giải pháp chính trị vấn đề CPC để thúc đẩy và tăng nhanh hơn tiến tŕnh giải quyết toàn diện vấn đề CPC. Bước này đi tốt th́ có lợi cho việc suy tính những vấn đề của bước sau và tạo điều kiện cần thiết cho cuộc gặp cấp cao TQ-VN, và tạo sự hoà giải nội bộ của CPC“).



    Trong đàm phán với đ/c Cơ, Từ Đôn Tín đă nêu ra với ta dự kiến giải quyết vấn đề CPC theo 5 bước:

    (1) TQ-VN thoả thuận một “biên bản nội bộ” ghi lại sự nhất trí giữa 2 bên về những vấn đề chính của giải pháp.

    (2) Năm nước TQ, VN, Thái Lan, Lào và Indonesia (thay cho cuộc họp 3 nước TQ, VN, Thái Lan do Thủ tướng Thái đề nghị năm ngoái) họp cấp ngoại trưởng và có tuyên bố chung về CPC.

    (3) Năm nước trên họp cùng với 4 bên CPC.

    (4) Năm nước Hội đồng Bảo an họp với 4 bên CPC. Theo TQ, nếu 3 bước trên đều suôn sẻ th́ việc họp 5 nước Hội đồng Bảo an với 4 bên CPC làm sớm hay muộn không thành vấn đề.

    (5) Họp lại Hội nghị quốc tế Paris về CPC kư kết Hiệp định toàn bộ.



    Theo kế hoạch này, rơ ràng TQ muốn đóng vai tṛ trung tâm của khu vực trong cả quá tŕnh giải quyết vấn đề CPC. Trong 5 bước này, TQ không nói ǵ đến gặp gỡ cấp cao giữa 2 nước.



    Tối 12/6, từ 21 giờ đến 1 giờ sáng, Đại sứ Đặng Nghiêm Hoành làm việc với Vụ phó [Bộ Ngoại giao TQ] Trương Thanh về “biên bản nội bộ”. Cuộc tranh luận rất găng và không đi đến thoả thuận. Sau này trở lại Bắc Kinh, đ/c Hoành gặp rất nhiều khó khăn trong làm việc với Bộ Ngoại giao TQ.



    Một sự kiện đáng ghi nhớ là buổi đ/c Nguyễn Cơ Thạch tiếp Từ Đôn Tín chiều 13/6/1990 biến thành một buổi tranh luận to tiếng rất gay gắt và dùng những lời lẽ rất nặng nề, từ gọi là đ/c đến gọi nhau là Ngài. Từ Đôn Tín nói với đ/c Thạch: …”Tôi muốn nói điểm thứ hai về vấn đề 2 tiếng nói… Trong đàm phán, VN nêu ra với chúng tôi và vừa rồi đ/c nói mong muốn Trung-việt hợp tác thúc đẩy hai phái cộng sản CPC hợp tác với nhau. Chúng tôi biết đó không phải là ư kiến riêng của các đ/c mà là ư kiến của Trung ương Đảng VN.



    Chúng tôi đă báo cáo Trung ương Đảng chúng tôi. Tất nhiên chúng tôi rất coi trọng và nghiên cứu ư kiến của các đồng chí. Nhưng trong thời gian đó, trên diễn đàn quốc tế ở Tokyo, các đ/c lại cố sức t́m cách loại trừ một bên CPC, đó là Khmer Đỏ. Các đ/c nói hai bên chúng ta nên khuyên hai phái cộng sản hoà giải với nhau, nói đó là mong muốn chân thành của VN. Nhưng trên thực tế các đ/c cố sức tiêu diệt Khmer Đỏ. Nếu lănh đạo VN muốn có sự hoà giải giữa 2 nhóm cộng sản th́ lẽ tất nhiên là phải chấp nhận 4 bên. Chúng tôi không thể hiểu được hai giọng nói đó của lănh đạo VN. Không hiểu cái nào là thật và cái nào là giả. Nếu nghe tiếng nói này th́ tiếng nói kia là giả dối, nếu nghe tiếng nói kia th́ tiếng nói này là giả dối. Mong rằng sau này các đông chí không nên làm như vậy.” … Và hai bên tranh luận rất nhiều về “các bên” và “4 bên CPC “. …Đ/c Thạch hỏi Từ phụ trách vấn đề CPC từ bao giờ, Từ nói mới 2 năm. Đ/c Thạch nói: “Tôi bạc đầu v́ vấn đề CPC… Tôi phụ trách vấn đề CPC đă 20 năm, từ tháng 3/70 khi Sihanouk bị lật đổ… Người TQ cũng như người VN đều có câu “Hậu sinh khả uư” … Đ/c Thạch nói tiếp: “Nghe đ/c nói tôi rất không hài ḷng v́ chúng tôi nói một đằng, đ/c hiểu một nẻo, điều đó rất không tốt. Tôi nói đ/c sang Hà Nội một lần, chứ không phải nói sang một lần th́ phải thất bại. Đó là xuyên tạc, là một ư xấu… Tôi nói một đằng, đ/c hiểu một nẻo. Dù nước lớn hay nước nhỏ cũng phải tôn trọng b́nh đẳng với nhau. Chúng tôi có nói loại trừ bên nào đâu mà đ/c nói chúng tôi t́m cách loại trừ một bên. Đó là xuyên tạc. Tôi hết!“. Sau một hồi to tiếng nữa cuối cùng Từ Đôn Tín nói: “Ngài không hài ḷng với tôi nhưng tôi cũng măi măi không hài ḷng với Ngài“. Từ đây quan hệ giữa đ/c Thạch với TQ càng căng thẳng hơn. Ngày 1/11/1990, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao TQ c̣n nói: “phát biểu của Nguyễn Cơ Thạch về quan hệ Trung-Việt và vấn đề CPC nội dung là không đáng tin cậy, chẳng qua chi là cách nh́n của ông ta mà thôi“.



    - Ngày 19/6/1990, BCT họp đánh giá cuộc gặp Việt-Trung với Từ Đôn Tín ở Hà Nội, ư kiến rất khác nhau.

    Đ/c Nguyễn Văn Linh vắng mặt (đi thành phố Hồ Chí Minh) trong cuộc họp này và dặn đ/c Nguyễn Thanh B́nh đề nghị BCT chưa bàn về phương hướng tới chờ đ/c Linh về.



    - Ngày 25/6/1990, đ/c TBT Nguyễn Văn Linh từ thành phố Hồ Chí Minh điện ra cho BCT: Đă đọc biên bản họp BCT (19/6/1990), có một số ư kiến sẽ phát biểu sau. Một số việc làm ngay:

    a) Không đồng ư thông báo cho Trung ương và cấp uỷ về điều tối mật mà chỉ thông báo nói rơ cuộc họp Việt-Trung là do TQ phá. Ngoại giao có cách giải thích cho dư luận theo hướng trên.

    b) Do Bạn đề nghị ta thăm ḍ, đề nghị Anh Sáu Nam [Lê Đức Anh] đi ngay CPC thông báo cho bạn.

    T́nh h́nh thế này cần giúp bạn có đ̣n tấn công, đánh một số trận tốt như Kompong Thom chẳng hạn.

    c) Đề pḥng TQ lộ ra những điều ta lấy t́nh bạn mà nói, ngoại giao theo dơi, nếu có bác ngay, không để chậm 2-3 ngày.



    - Ngày 22/6/1990, Đại sứ Nguyễn Xuân thông báo cho động chí Phun Sipasớt về đàm phán với Từ Đôn Tín ở Hà Nội. Đông chí Phun phát biểu: Giải pháp Đỏ là không nên và không thể được, bất lợi cho ta. TQ đang bị cô lập v́ là nước duy nhất ủng hộ diệt chủng. Chắc chắn TQ không muốn Giải pháp Đỏ mà muốn giải pháp thực chất 4 bên để duy tŕ vai tṛ và vị trí Khmer Đỏ mà không mang tiếng là ủng hộ diệt chủng.



    Theo chỉ thị của TBT Nguyễn Văn Linh, sáng 1/7/1990, đ/c Lê Đức Anh đi Phnom Penh làm việc với BCT CPC, cùng dự có Đại sứ Ngô Điền và anh Ba Cung.



    Đ/c Lê Đức Anh phát biểu đại ư: Sau cuộc họp 3 TBT, các đ/c uỷ quyền cho chúng tôi thăm ḍ ư đồ thật của TQ về giải pháp CPC. BCT chúng tôi cho rằng những cuộc gặp gỡ ngoại giao (anh Đinh Nho Liêm đi Bắc Kinh, Từ Đôn Tín đi Hà Nội) cứ tiến hành b́nh thường, mặt khác, các đ/c Nguyễn Văn Linh, Vơ Chí Công, Đỗ Mười giao cho tôi gặp Đại sứ TQ. Khi gặp ăn cơm với Trương Đức Duy, tôi nói mặt quốc tế của vấn đề CPC hầu như không c̣n vấn đề ǵ chỉ c̣n mặt nội bộ CPC, nếu nhận thức nhất trí về 3 nguyên tắc sau đây th́ dễ giải quyết:

    a) Một giải pháp chính trị nội bộ CPC phải phản ánh gần đúng so sánh lực lượng, thế và lực trên chiến trường giữa 2 bên đối kháng. Một bên là Nhà nước CPC kiểm soát hầu hết CPC, c̣n bên kia là CPC Dân chủ lưu vong với 3 nhóm nhưng lực lượng chủ yếu là Khmer Đỏ.

    b) Mọi giải pháp phải tôn trọng chủ quyền CPC…

    c) Mọi giải pháp phải bảo đảm sự ổn định, ít nhất như hiện nay, không làm xáo trộn t́nh h́nh CPC…

    Đại sứ TQ không phản đối nguyên tắc trên và thăm ḍ VN có thể thuyết phục bạn bè ở Phnom Penh hoà giải với Khmer Đỏ không… Trương Đức Duy nói cần giữ tuyệt mật, sẽ báo cáo về Bắc Kinh. Tôi gặp đại sứ TQ ngày 6/6/1990 và ngày 7/6/1990 Từ Đôn Tín đă rời Bắc Kinh. Từ Đôn Tín sang Hà Nội đàm phán với giọng cao, đ̣i Hội đồng tối cao 4 bên nắm các Bộ chủ yếu…

    Theo uỷ quyền của BCT VN tôi đă thăm ḍ, xin báo cáo quá tŕnh làm và kết quả như vậy. Đề nghị CPC cho ư kiến về bước làm tới.



    Buổi trưa, BCT CPC họp riêng, chiều BCT CPC gặp lại đ/c Lê Đức Anh, TBT Heng Somrin phát biểu đại ư:

    - TQ quan tâm và không bác bỏ ư kiến của ta. Khó hiểu thái độ TQ, có lẽ họ đang nghiên cứu.

    - Đề nghị VN tiếp tục thăm ḍ, thúc đẩy TQ tác động đến Khmer Đỏ để có cuộc gặp bí mật với Khmer Đỏ. Có thể gặp thẳng Pol Pot hoặc gặp Son Sen hay đại diện có thẩm quyền của Khmer Đỏ, phải gặp người có thẩm quyền…

    Dù gặp Pol Pot không có nghĩa là ta chấp nhận Pol Pot trở về. Khi gặp Pol Pot ta nói rơ cho họ hiểu nhân dân CPC không chấp nhận họ trở về nên họ phải hy sinh v́ sự nghiệp hoà hợp dân tộc, chấm dứt đau khổ của nhân dân… Địa điểm gặp nên bí mật, có thể là một địa điểm trên biên giới Việt-Trung…



    Hun Sen phát biểu: Ta tiếp tục thăm ḍ, gặp để t́m hiểu song song ta thúc đẩy thực hiện thoả thuận Tokyo về lập SNC 2 bên…

    Anh Lê Đức Anh nhấn mạnh: ta vừa làm, vừa thăm ḍ, quan trọng là củng cố lực lượng trên chiến trường.



    - Trước đó, ngày 26/6, từ Hà Nội trở lại Phnom Penh, anh Ngô Điền đă thông báo cho Hun Sen và 28/6 thông báo cho Sar Kheng về kết quả đàm phán với Từ Đôn Tín. Cả hai ghi chép rất cẩn thận nhưng không b́nh luận ǵ mặc dù cuộc nói chuyện dài về nhiều vấn đề.



    Tối 1/7/1990, tại Phnom Penh, Đ/c Lê Đức Anh nói với đ/c Ngô Điền: Đ/c bất ngờ về ư kiến CPC định gặp thẳng Pol Pot. Trong cuộc gặp 3 TBT ở Hà Nội 5/1990, phía ta không đặt vấn đề Giải pháp Đỏ, chỉ bàn nhiều về t́nh h́nh khủng hoảng ở Liên Xô- Đông Âu, về âm mưu đế quốc đối với VN, Đông Dương. Khi giải lao, Anh Đỗ Mười có nói với Hun Sen về việc gặp Khmer Đỏ. Đoàn CPC hội ư với nhau lâu, khi vào Heng Somrin nêu Giải pháp Đỏ, 2 TBT khác tán thành và uỷ quyền cho ta thăm ḍ. Các Anh Linh, Công, Mười giao Anh Lê Đức Anh làm. Anh Lê Đức Anh nói trước đây Anh Sáu Thọ có nêu Giải pháp Đỏ với CPC từ 1987 măi sau này Anh Lê Đức Anh mới biết. Ngày 5/6, Anh Linh tiếp Đại sứ TQ có Anh Thạch dự. Hôm sau 6/6/1990, Anh Lê Đức Anh mới biết rằng Anh Linh đă nói hết với Đại sứ TQ (đoàn kết VN-TQ bảo vệ CNXH, chỗ dựa Liên Xô lung lay, Giải pháp Đỏ) đáng lẽ chỉ tiếp xă giao và thăm ḍ thôi. Khi tiếp và ăn cơm cùng Trương Đức Duy, anh Lê Đức Anh nêu 3 nguyên tắc giải quyết mặt nội bộ của CPC, Trương Đức Duy không phản đối (Thư ngày 6/7/1990 của Anh Ngô Điền gửi Anh Thạch).



    - Cũng khoảng tháng 7/1990, Hun Sen thông báo [với] anh Ngô Điền là, qua “người trung gian” của Bắc Kinh đến Phnom Penh ngày 20/7/1990) cũng như sự giúp đỡ của Jerome Kanapa và bà Galabru33 ở Pháp, chị Ty Borasy34 sẽ đi Hongkong để gặp Đại diện của Bắc Kinh vào cuối tháng 7/1990. Sau đó Hun Sen có nói với anh Ngô Điền một số tin về vấn đề này. Sau đó không thấy Hun Sen nhắc lại chuyện này. Ư kiến cá nhân tôi là việc này không có thật mà Hun Sen cố t́nh bịa ra để làm vừa ḷng ta.



    - Ngày 17/7/1990: P-5 họp ṿng 5 cấp Thứ trưởng thoả thuận 2 nội dung chủ yếu: tập kết và giải pháp các bên CPC; Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử, kiểm soát 5 Bộ, c̣n SNC chỉ là tượng trưng.



    - Ngày 18/7/1990: Tại Paris Ngoại trưởng Mỹ James Baker nói Mỹ sẽ rút lui công nhận CPC Dân chủ, lên án Khmer Đỏ, đối thoại với VN qua phái đoàn ở New York, viện trợ nhân đạo cho VN.



    - Ngày 27/7/1990, BCT ta họp đánh giá về tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ Baker, tán thành việc xúc tiến về đàm phán Việt-Mỹ, chủ trương về CPC: Ta thoả thuận với Mỹ, TQ, với các nước khác về mặt quốc tế của vấn đề CPC và không dính líu vào các vấn đề nội bộ CPC. BCT cử đ/c Nguyễn Cơ Thạch sang thông báo cho CPC ư kiến của ta.



    - Ngày 6/8/1990: Đàm phán Việt-Mỹ lần đầu tại New York theo tuyên bố của J. Baker. Mỹ chủ yếu thăm ḍ thái độ của ta về 2 văn kiện khung giải pháp CPC của Liên hợp quốc.



    - Ngày 8/8/1990: Bộ Ngoại giao tŕnh BCT đề án đấu tranh về vấn đề CPC trước những diễn biến quan trọng trên quốc tế. Đề án nhận định: chúng ta đứng trước một t́nh h́nh là Xô-Mỹ và 5 nước lớn quyết tâm đạt thoả thuận về một giải pháp chính trị cho vấn đề CPC. CPC đang đứng trước t́nh thế tiến thoái luỡng nan: không thể kéo dài nội chiến v́ khó khăn kinh tế, chính trị trong nước và khó khăn trên thế giới; đi vào giải pháp chính trị th́ lo thất bại trong tổng tuyển cử. Nên góp ư với bạn đồng ư phương án của P-5: SNC chỉ tượng trưng, cần xác định rơ quyền hạn của Liên hợp quốc trên cơ sở tôn trọng chủ quyền CPC.



    Trong khi chờ đợi ư kiến của BCT, đ/c Nguyễn Cơ Thạch cử tôi (Huỳnh Anh Dũng) đem đề án sang CPC để đ/c Ngô Điền tŕnh bày với Hun Sen. Ngày 11/8/1990, tại nhà riêng Hun Sen, Hun Sen tiếp anh Ngô Điền và tôi. Sau khi nghe, Hun Sen nói:

    Như vậy là ta trở lại phương án Liên hợp quốc như ta đă nhất trí từ trước. Ba đ/c TBT trao đổi ở Hà Nội thấy Liên hợp quốc là nguy hiểm. Khi chuyển không dùng Liên hợp quốc làm chúng tôi rất khó khăn, Liên Xô rất thắc mắc. Ba TBT nói giao Liên hợp quốc tổ chức bầu cử là nguy hiểm sau khi có thất bại của Mặt trận Sandino ở Nicaragoa. Ba đ/c TBT trao đổi như vậy nên ta phải chuyển. Trước đó các đ/c cùng chúng tôi đă nhất trí SNC chỉ là tượng trưng, giao Liên hợp quốc tổ chức bầu cử. Trên tinh thần đó, ta tính các phương án và các đ/c cử người (đ/c Đặng Nghiêm Hoành) gặp tôi ở Svay Rieng trước khi tôi gặp

    Costello ngày 7/1/1990… Khi ta chấp nhận Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử, Liên Xô rất vui… Nếu trở lại công thức này th́ rất tốt, tập hợp được lực lượng. Tôi và đ/c Hor Nam Hong35 bàn nhau thấy công thức này th́ tốt nhưng 3 đ/c TBT quyết định tôi phải làm theo, tôi phải làm công tác tư tưởng cho Hor Nam Hong, khó lắm… Tháng 4/1990, đ/c Thạch sang đây nêu phương án SNC tổ chức tổng tuyển cử. Tôi có phát biểu ư kiến cá nhân tôi chắc đ/c Điền và đ/c Dũng c̣n nhớ. Nếu ta lấy SNC tổ chức bầu cử th́ ta phải đối phó với không biết bao nhiêu người của bọn 3 phái, người của SNC và ứng cử viên của nó, đồng thời ta c̣n phải đối phó với Liên hợp quốc mà thôi. Liên hợp quốc lại là người nước

    ngoài, đi đâu ta cũng biết và họ khó mua chuộc được dân CPC, không như bọn 3 phái là người Khmer… Ta phải quyết định có giải pháp chính trị về vấn đề CPC. Giải pháp chính trị hay không, không phụ thuộc vào ư muốn của ta… Đối với CPC, việc cho Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử đă được hợp pháp hoá, Quốc hội đă thông qua. Ư anh em chúng tôi là muốn cái này (Liên hợp quốc)…

    Việc có sử dụng vai tṛ Liên hợp quốc hay SNC là một bộ phận quan trọng của quyết định chiến lược có đi vào giải pháp chính trị hay không?… Nếu BCT VN đồng ư cái này th́ BCT chúng tôi họp một giờ là thông qua được.

    Khi anh Heng Somrin đi nghỉ ở Hà Nội, đ/c Nguyễn Văn Linh và đ/c Lê Đức Anh gặp anh Heng Somrin tỏ lo ngại về việc sử dụng vai tṛ Liên hợp quốc. Anh Heng Somrin về nói cái này, tôi có nói lại là giao cho Liên hợp quốc có mặt phức tạp nhưng giao cho SNC phức tạp hơn: nó có hệ thống, người nhiều mà ta c̣n phải lo đối phó với cả Liên hợp quốc nữa. Cái này làm tôi rất khó… Quyết định của 2 đ/c TBT làm tôi rất khó. Không nên để có ư kiến khác nhau giữa TBT và Thủ tướng, tôi phải làm ư kiến nhất trí… Làm SNC rất phức tạp, CPC không đủ người và khả năng để tham gia các Uỷ ban đế đối phó với bọn kia. Khi bàn không để Liên Hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử, đ/c TBT Lào Kaysone Phomvihan băn khoăn điều này. Ta nhận rồi ta lại thôi. Đ/c Kaysone nói ta trèo cao rồi, nếu tuột xuống dễ ngă đau.

    …Về Giải pháp Đỏ, lúc đầu ta tưởng rằng TQ muốn như vậy. T́nh h́nh thế giới chuyển biến phức tạp tưởng rằng TQ muốn Giải pháp Đỏ. Bây giờ rơ ràng TQ không muốn Giải pháp Đỏ, ta không nên một ḿnh làm Giải pháp Đỏ. Đối với Khmer Đỏ như tôi vừa tŕnh bày khi anh Thạch vừa sang đây: sách lược của ta là không công nhận chúng có quyền véto [phủ quyết] nhưng ta không loại bỏ chúng hoàn toàn. Ta tính giải pháp “Đỏ” để loại trừ “Xanh”. Nếu “Đỏ” không được th́ ta phải đi với “Xanh” diệt “Đỏ”. TQ không muốn đi với ta, sao ta lại chiếu cố TQ?



    - 15 giờ 30′ ngày 8/8/1990, đ/c Phạm Văn Đồng góp ư với đ/c Trần Quang Cơ về đề án của Bộ Ngoại giao: T́nh h́nh hiện nay tạo cơ hội thuận lợi cho giải pháp vấn đề CPC. Cần tận dụng cơ hội mới này trong khi ta c̣n sử dụng được. Phải dám chơi với Liên hợp quốc, với HĐBA, với Mỹ và phương Tây… Đề án lư thuyết th́ tốt nhưng làm sao thực hiện được? Ta giúp vào đó cũng không có hiệu quả. C̣n lănh đạo CPC coi như bất lực, rất xoàng… Đi vào tổng tuyển cử giành được 50% là lư tưởng, có khi 30% c̣n khó… Cần tranh thủ nhân tố Mỹ trong t́nh h́nh mới… Trong liên minh… chớ nên tính chuyện khống chế. Không nên đặt yêu cầu quá cao “giữ vững thành quả cách mạng CPC”.



    - Ngày 12/8/1990, BCT họp về đề án của Bộ Ngoại giao, sau khi thảo luận, đ/c TBT Nguyễn Văn Linh kết luận:

    + Đối với Mỹ, ta tiếp tục đối thoại theo chủ trương của BCT đă cho ư kiến.

    + Đối với TQ, trong cuộc gặp ngày mai (13/8, giữa anh Cơ và Trương Đức Duy) ta nên nói là 2 nước XHCN Việt Nam và TQ nên hợp tác giải quyết vấn đề CPC, để có một nước CPC hữu nghị với các nước láng giềng, trước hết là

    VN, TQ, Lào. Ta không nói VN và TQ là 2 nước XHCN cần đoàn kết chống đế quốc và bảo vệ CNXH.

    + Đối với bạn CPC: những vấn đề tồn tại hiện nay là những vấn đề thuộc nội bộ và chủ quyền của CPC phải do các đ/c CPC tự quyết định. VN sẽ tôn trọng những quyết định của các đ/c CPC về những vấn đề này.



    - Ngày 12 và 13/8/1990, Anh Thạch điện chỉ thị anh Ngô Điền: Sáng 12/8, BCT VN vừa họp. Anh Thạch đă tŕnh bày ư kiến Bộ Ngoại giao. Sau đó BCT kết luận nhất trí từ nay các vấn đề nội bộ CPC trong giải pháp toàn diện do lănh đạo CPC cân nhắc lợi hại để quyết định làm như thê nào có lợi nhất. VN sẽ ủng hộ quyết định của CPC. VN tôn trọng quyết định của CPC giao một số quyền lực cho Liên hợp quốc trong thời kỳ quá dộ c̣n hơn là giao cho SNC như anh vừa trao đổi với Hun Sen. Anh Điền nên coi cuộc trao đổi ngày 11/8 với Hun Sen là giữa những bạn quen thân t́nh, không cần thông báo lại cho bất cứ ai.



    Chiều 14/8, anh Điền gặp Hun Sen tŕnh bày hầu như toàn bộ nội dung điện của Anh Thạch. Hun Sen cho biết: chiều 11/8, Hun Sen đă trao đổi với BCT CPC; tất cả nhất trí nên hạn chế SNC, giao một số quyền cho Liên hợp quốc, Hun Sen sẽ viết thư trả lời thư Ngoại trưởng Liên Xô Shevardnadze theo hướng chấp nhận văn kiện khung của Liên hợp quốc (Hun Sen gửi ngày 15/8/1990).



    - Ngày 27/8/1990, P-5 họp ṿng 6 cấp Thứ trưởng tại New York, nhất trí hoàn toàn văn kiện khung về giải pháp toàn bộ cho CPC gồm 5 vấn đề: sắp xếp về chính quyền quá dộ; sắp xếp vũ trang; bầu cử dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc; nhân quyền; bảo đảm quốc tế. Thông cáo nói 5 vấn đề này cùng với thoả thuận của Hội nghị quốc tế Paris về hồi hương và tái thiết CPC sẽ tạo khung cho giải pháp CPC.



    - Ngày 29/8/1990, Đại sứ Trương Đức Duy gặp TBT Nguyễn Văn Linh và đ/c Đỗ Mười chuyến lời mời của TBT Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lư Bằng mời TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và đ/c Phạm Văn Đồng sang TQ gặp bí mật tại Thành Đô 3/9/1990.



    - Ngày 31/8/1990, đàm phán Việt-Mỹ ṿng 2 tại New York. Mỹ đề nghị VN và CPC chấp nhận giải pháp khung, CPC đi Jakarta để lập SNC, coi đây là điều kiện để b́nh thường hóa quan hệ với VN và Mỹ nói chuyện với Phnom Penh.



    - Ngày 30/8/1990, BCT bàn về đàm phán cấp cao Trung-Việt ở Thành Đô (thủ phủ Tứ Xuyên, TQ). Anh Linh nêu vấn đề sẽ bàn hợp tác chống đế quốc bảo vệ CNXH và hợp tác [giữa] Phnom Penh và Khmer Đỏ.

    Anh Vơ Chí Công: TQ sẽ ép ta về vấn đề CPC. TQ vừa giữ Khmer Đỏ, vừa nắm Sihanouk, nắm cả 5 Bộ. TQ sẽ không nghe ta giữ CNXH, TQ muốn tranh thủ phương Tây. Không nên nói ǵ về Liên Xô, phải giữ chiến lược đoàn kết với Liên Xô.

    Anh Lê Đức Anh: Phải nói về hoà hợp dân tộc thực sự ở CPC. Nếu không có Pol Pot th́ vẫn tiếp tục chiến tranh.

    Anh Thạch nêu 3 khả năng về quan hệ với TQ, dự kiến các vấn đề TQ nêu: Hội đồng tối cao theo công thức 6+2+2+2 để đ̣i 4 bên, tập kết lực lượng vũ trang, diệt chủng.



    - Ngày 2-4/9/1990, TBT Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, Cố vấn Phạm Văn Đồng đă thăm Thành Đô, hội đàm với TBT Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lư Bằng về giải quyết vấn đề CPC và quan hệ 2 nước. Cùng đi có đ/c Hồng Hà [Bí thư TƯ Đảng], Hoàng Bích Sơn [Trưởng Ban Đối ngoại TƯ Đảng], Đinh Nho Liêm. Trong gặp gỡ Giang trạch Dân đọc hai câu thơ đời nhà Đường: “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, Trường phùng nhất tiếu mẫn ân cừu” ư nói: sau phong ba, băo táp, t́nh anh em vẫn c̣n; gặp nhau mở một nụ cười th́ xoá hết oán hờn. Hai bên đă kư biên bản nội bộ gồm 8 điểm, nhất trí giải quyết vấn đề CPC bằng giải pháp chính trị toàn diện, công bằng, hợp lư, đồng ư lập SNC gồm 13 thành viên do Sihanouk đứng đầu theo công thức 6+2+2+2+l và song song từng bước cải thiện quan hệ 2 Đảng, 2 Nhà nước tiến tới b́nh thường hóa quan hệ. Điểm 4 biên bản viết: “Hai bên tán thành 5 văn kiện được 5 nước thường trực HĐBA/LHQ thoả thuận về vấn đề CPC và cho rằng cần lấy các văn kiện đó để làm khuôn khổ cho việc giải quyết chính trị toàn diện vấn đề CPC. Hai bên sẽ thúc đẩy các bên CPC cũng tiếp nhận văn kiện đó và tích cực tham gia tiến tŕnh giải quyết chính trị toàn diện“.



    Ngay sau khi về đến Hà Nội, sáng ngày 5/9/1990, các đ/c TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Cơ Thạch bí mật sang Phnom Penh thông báo về gặp cấp cao Thành Đô. Sau khi nghe thông báo, trước khi BCT bạn họp riêng trao đổi, Heng Somrin đề nghị VN đánh giá khả năng về Giải pháp Đỏ để BCT CPC dễ trao đổi. Sáng 6/9/1990, TBT Heng Somrin trả lời không chấp nhận công thức 6+2+2+2+1 và phát biểu như sau:

    + Sau thoả thuận 3 TBT tháng 5/1990, VN đă cố gắng và có được cuộc gặp cấp cao với TQ.

    + Qua thăm ḍ của VN thấy rơ TQ trước đây cũng như hiện nay TQ luôn dùng vấn đề CPC đe gây sức ép trong quan hệ VN-TQ.

    + …Chúng tôi đánh giá TQ xuất phát từ lợi ích của họ. Lợi ích đó là 4 hiện đại. V́ vậy TQ giữ CNXH ở TQ nhưng TQ cố gắng mở cửa với phương Tây. Ư đồ TQ không muốn 2 phái cộng sản ở CPC hợp tác với nhau gây phức tạp cho quan hệ của họ với Sihanouk và gây phức tạp quan hệ của họ với phương Tây. V́ vậy chúng tôi thấy rằng khó có thể thực hiện Giải pháp Đỏ v́ Giải pháp Đỏ trái với lợi ích của TQ.

    Về văn kiện khung P-5, Heng Somrin nói: “Chúng tôi coi văn kiện này là cơ sở của giải pháp trong khuôn khổ giải pháp của chúng ta. V́ vậy, chúng tôi chấp nhận về nguyên tắc.“



    (C̣n tiếp một kỳ)







    29 Sar KhengPhó Thủ tướng và Bộ trưởng Nội vụ Campuchia từ năm 1998.



    30 Hồi kư “CPC con đường 10 năm’ và luận án tiến sĩ của Hun Sen. TG



    31 Báo cáo của C116. TG



    32徐敦信/Xu Dunxin (1934.12.10-) Vice Minister, Ministry of Foreign Affairs, People’s Republic of China (1991.4-1993.4)



    33 Đạo diễn và diễn viên điện ảnh Pháp.



    34 Chủ tịch Ủy ban ngoại giao và Hợp tác quốc tế về thông tin và truyền thông Quốc hội Campuchia.



    35 Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao và Hợp tác quốc tế CPC.

  7. #27
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    GHI CHÉP VỀ CAMPUCHIA (1975-1991)
    Huỳnh Anh Dũng, cựu Đại sứ VN tại Campuchia
    Phần 6




    http://vietsuky.wordpress.com/2012/1...a-1975-1991-6/


    Ngày 7/9/1990: BCT họp thảo luận về kết quả cấp cao Việt-Trung và cấp cao VN-CPC. BCT quyết định:

    + 8/9/1990: Đ/c Đỗ Mười gặp Đại sứ TQ nói lại lập trường CPC.

    + Thông báo cho Liên Xô, Lào như nội dung thông báo cho CPC.

    + Ai hỏi về công thức 6+2+2+2+1, nói không biết.

    - 7 giờ 15′ sáng 9/9/1990, BCT họp về thông điệp của TQ do Trương Đức Duy trao cho anh Hồng Hà 6 giờ sáng 9/9/1990 đề nghị tác động việc lập SNC do các bên CPC đang họp ở Jakarta. BCT quyết định: Anh Trần Quang Cơ đi Jakarta. Anh Linh nói cố lập được SNC. Anh Thạch gửi thư cho Hun Sen. Từ nay mọi tiếp xúc phải qua Bộ Ngoại giao và phải báo cáo trước với Anh Thạch và Anh Lê Đức Anh.(Ư là ngăn Đại sứ TQ chỉ tiếp xúc với Ban Đối ngoại [TW Đảng] và lờ đi Bộ Ngoại giao). Theo quyết định đó, anh Trần Quang Cơ, có tôi đi cùng, rời ngay Hà Nội trưa 9/9/1990 qua đường Bangkok. Chiều tối 10/9/1990, anh Cơ đến Jakarta th́ cuộc họp các bên CPC đă kết thúc, đă thoả thuận lập SNC gồm 12 thành viên xếp theo vẫn chữ cái và không có Sihanouk. Mặc dù vậy, khi anh Cơ vừa đến Sứ quán ta ở Jakarta, Vụ phó Trương Thanh chủ động gọi điện thoại cho anh Cơ thông báo cuộc họp đạt kết quả tốt và “cám ơn sự giúp đỡ” của anh Cơ. Tuyên bố chung cuộc họp ghi rơ “các bên CPC chấp nhận toàn bộ văn kiện khung P-5 làm cơ sở để giải quyết cuộc xung đột CPC. “



    - Ngày 24/9/1990, đ/c Lê Đức Anh sang CPC, thay mặt BCT ta làm việc với BCT CPC (tôi không c̣n nhớ nội dung, nhưng nghĩ rằng nội dung là bàn giúp CPC xây dựng lực lượng để chuẩn bị đi vào giải pháp chính trị). Ngày 26/9/1990, Chea Sim thay mặt BCT CPC gửi thư cho BCT ta với nội dung: Cám ơn sự giúp đỡ, hoàn toàn nhất trí với nội dung đ/c Lê Đức Anh bàn với BCT CPC ngày 24/9/1990, đề nghị BCT sớm cử một tổ giúp nghiên cứu tổng hợp trong t́nh h́nh mới ở CPC.

    Tiếp sau đó đoàn các đ/c Trần Văn Quang, Lê Hai sang làm việc với CPC ngày 18/10/1990 có Heng Somrin, Chea Sim, Hun Sen, Sai Phu thong, Sar Kheng. Heng Somrin tŕnh bày bản viết sẵn về t́nh h́nh và đề nghị ta giúp đỡ theo hướng chuẩn bị giải pháp chính trị. Anh Trần Văn Quang và Lê Hai c̣n dành th́ giờ làm việc thêm với Bộ trưởng Bộ quốc pḥng Tia Banh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Sin Song. Ngày 20/10, anh Quang về Hà Nội báo cáo BCT. Anh Ngô Điền cũng làm việc với anh Trần Văn Quang và Lê Hai theo hướng dùng K-88 (chuyên gia quân sự) và K-89 (chuyên gia an ninh) để giữ liên lạc với CPC. Trong làm việc, theo anh Ngô Điền báo cáo, Hun Sen nói: Ta xác định bước đi t́m giải pháp chính trị là không thể lùi lại được. (Từ 3 đến 7/2/1991, đ/c Trần Văn Quang lên CPC lần nữa, không rơ cụ thể nội dung, hướng là giúp CPC xây dựng căn cứ địa chuẩn bị giải pháp chính trị).



    - Ngày 28/9/1990, gặp anh Trần Quang Cơ tại Phnom Penh, Hun Sen nói: “Khi gặp Sok An36 ở Bangkok 17/9, TQ dọa và đ̣i Nhà nước CPC phải nhận công thức VN-TQ đă thoả thuận. Nhưng Phnom Penh độc lập. [Thủ tướng Thái] Kraisak đă nói rất đúng khi trả lời TQ về ư trên là VN không phải là Phnom Penh” .

    - Ngày 29/9/1990, ba nước VN, Lào, CPC thoả thuận làm bị vong lục chung gửi Liên Xô nói rơ ư kiến về văn kiện khung P-5 nhưng sau đó CPC thay đổi ư kiến là bị vong lục của riêng CPC không làm chung 3 nước. Và có thể khẳng định từ lúc này trở đi, CPC không thật sự trao đổi ư kiến với ta về giải pháp CPC nữa.



    - Ngày 1 l/10/1990: Anh Lê Đức Anh gặp Hun Sen tại sân bay Nội Bài. Anh Lê Đức Anh khuyên Hun Sen trong t́nh h́nh hiện nay CPC nên đẩy mạnh hoạt động ngoại giao dể họp sớm SNC. SNC không quan trọng; vấn đề quan trọng là đấu tranh sửa đổi tốt văn kiện khung P-5.

    Hun Sen nhắc lại lập trường cũ với vẻ kiên quyết, có thể nhân nhượng cho Sihanouk làm Chủ tịch nhưng Hun Sen phải là Phó Chủ tịch.

    Hun Sen thông báo đang tập trung quân để đánh Khmer Đỏ. Anh Lê Đức Anh khuyên không nên, làm như vậy sẽ bộc lộ lực lượng và mắc mưu Khmer

    Đỏ, nên bảo toàn lực lượng để chuẩn bị khi đi vào giải pháp. Hun Sen đồng ư, hứa sẽ báo cáo lại.



    - Cùng ngày 11/10/1990, Bộ trưởng ngoại giao Hor Nam Hong nói: Cho Sihanouk về là nguy hiểm cho ta. Để Sihanouk ở ngoài ta sẽ thắng trong tổng tuyển cử.



    - 15/10/1990: Hun Sen nói với anh Ngô Điền: “3 năm qua, tôi thấy rơ Sihanouk không trở về với ta đâu, Sihanouk về càng thêm phức tạp”.



    - Ngày 27/10/1990: Bộ trưởng ngoại giao CPC chủ động nói với phóng viên AFP: Một số người muốn Giải pháp Đỏ, nhân dân CPC bác bỏ Giải pháp Đỏ v́ họ chưa quên hàng triệu người bị Khmer Đỏ giết hại.



    - Ngày 9-10/11/1990: hai đồng chủ tịch Hội nghị Paris, P-5 và một số nước họp bàn cụ thể văn kiện khung P-5 thành dự thảo Hiệp định.



    - Ngày 18/11/1990, BCT ta họp bàn về vấn đề CPC. Anh Thạch đề nghị BCT cho ư kiến về 2 vấn đề: một số nguyên tắc để đấu tranh trong các văn kiện của P-5 và vấn đề SNC. Anh Trần Quang Cơ tŕnh bày đề án. BCT thảo luận, ư kiến khác nhau, đôi lúc căng thẳng. Ư Anh Thạch là phía CPC trong SNC cần phải phê phán mạnh văn kiện P-5 vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc. Đ/c Phạm Văn Đồng nói: “Ta cứ bác một số điểm nhưng làm khéo, có sách lược. Nếu SNC không thoả thuận được th́ Hội nghị quốc tế Paris có thể họp và thoả thuận được không? …Nếu ở Jakarta, Pháp và một số nước khác đă bàn nhau xong rồi th́ sẽ trở thành vấn đề nghiêm trọng; họ sẽ làm theo cách của họ, không đợi SNC v́ họ cho là không quan trọng và vẫn c̣n tranh luận nhau vấn đề Chủ tịch và Phó Chủ tịch. Lúc bấy giờ bạn và ta sẽ ở t́nh thế “khó”…” Đ/c Thạch nói lại: “Ta không lo v́ họ vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và đây cũng chỉ mới là ư kiến 5 nước. Ta có thể phối hợp với bạn bè đấu tranh chống những điều vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc.” Đ/c Linh nói: …”Phải giải quyết vấn đề CPC sớm. Bạn nên t́m mọi cách thực hiện ḥa hợp dân tộc, vừa đánh Khmer Đỏ, vừa có truyền đơn kêu gọi Khmer Đỏ, lôi kéo Sihanouk, Son San. Không nên nêu vấn đề diệt chủng v́ sẽ không phân hóa được Khmer Đỏ… Không nên găng với Sihanouk, không nên găng vấn đề Chủ tịch, Phó Chủ tịch…” . Đ/c Vơ Chí Công: “BCT đă bàn nhiều lần và nhất trí cần giải quyết vấn đề CPC bằng giải pháp chính trị, kéo dài măi sẽ nguy hiểm…“; Đ/c Lê Đức Anh:

    …”Vấn đề diệt chủng, phía VN ta không nên nói nhiều v́ đụng vào tim óc của TQ, trong khi ta phải làm cho TQ dịu đi trong vấn đề CPC…“. Đ/c Linh: “nếu nói rằng ư đồ TQ và Mỹ như nhau, tôi không đồng ư“.



    Cuối cùng, đ/c Nguyễn Văn Linh kết luận:

    1) Về các nội dung văn kiện, ta phối hợp với CPC và Lào cùng một số nước khác tiếp tục đấu tranh, vận dụng Hiến chương Liên hợp quốc.

    2) Về SNC, ta không thể góp ư kiến với bạn được.

    3) Sau Hội nghị Trung ương, BCT sẽ đánh giá lại một số vấn đề liên quan đến ngoại giao như nhận định về TQ thế nào, tuyên bố hoặc nói về TQ như thế

    nào.

    Đ/c Thạch nói thêm vào: Đồng ư đánh giá lại, kể cả cuộc hội đàm ở Thành Đô.



    - Từ 23-26/1l/1990: P-5 và 2 Đồng Chủ tịch họp tại Paris thông qua dự thảo văn kiện về giải pháp toàn bộ cho CPC, kêu gọi các bên CPC sớm hoàn tất SNC.



    - Ngày 2/12/1990, đ/c Nguyễn Cơ Thạch đi Vientiane cùng đ/c Vơ Chí Công dự lễ 15 năm Quốc khánh Lào. Tại Vientiane, đ/c Thạch làm việc với Thứ trưởng ngoại giao CPC Long Visalo và đ/c Phoun Sipaseut, phê phán mạnh dự thảo Hiệp định 26/11 vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và dung túng bọn diệt chủng. Tại Vientiane, đ/c Thạch và đ/c Nguyễn Mạnh Hùng (thư kư) làm rất công phu thống kê dự thảo gồm bao nhiêu điều, bao nhiều phần; những điều vi phạm Hiên chương Liên hiệp quốc, những điều có thể chấp nhận được và không. Cơ bản là không chấp nhận được. Khi từ Vientiane trở về, đ/c Thạch thông báo lại Lănh đạo Bộ Ngoại giao tinh thần đó; đ/c Trần Quang Cơ tỏ ư không tán thành v́ góp ư với CPC như vậy sẽ không thể có giải pháp chính trị, vấn đề sẽ lại rồi bế tắc và ảnh hưởng đến t́nh h́nh kinh tế-xă hội trong nước ta. Đ/c Thạch nổi giận, hỏi sao đ/c Cơ lo nhiều về kinh tế-xă hội như vậy. Đ/c Thạch nói giữa đ/c Thạch và đ/c Cơ đă bắt đầu có ư kiến khác nhau và đề nghị họp riêng Lănh đạo Bộ để trao đổi. Buổi chiều, Lănh đạo Bộ họp, đ/c Thạch dịu đi, đ/c Cơ không làm găng nhưng nói rơ ư kiến của ḿnh.



    - Ngày 8/12/1990, đ/c Thạch gửi báo cáo cho BCT theo tinh thần đă chuẩn bị ở Vientiane, nhận định dự thảo này xấu hơn cả văn kiện khung P-5; đề nghị thái độ ta đ̣i tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và phải ngăn chặn chế độ diệt chủng lập lại. Đ/c Thạch đề nghị BCT cho ư kiến để 10/12/1990, Hun Sen ra Hà Nội bảo vệ luận án Phó tiến sĩ đ/c Thạch sẽ làm việc.

    Đ/c Phạm Văn Đồng cho ư kiến về báo cáo này: đồng ư cách phân tích nhưng nhấn ư vấn đề nội bộ CPC do CPC phát biểu, ta ủng hộ. Đ/c viết thêm: “Tôi không hiểu là chúng ta làm cách nào để bạn CPC là người chủ động đề ra phương án của ḿnh… Theo tôi biết th́ trong t́nh h́nh hiện nay những điều nói trên rất không dễ thực hiện và nếu bạn CPC không chủ động như nói ở trên th́ chúng ta không thể làm thay được. Đó là điều cần chú ư và cần tránh bởi v́ nó có thể đưa đến những điều rất phức tạp. ư kiến tôi tóm tắt như trên bởi v́ các anh đều rơ t́nh h́nh cho nên tôi không cần nói nhiều.”



    - Ngày 11/12/1990, đ/c Thạch làm việc với Hun Sen theo tinh thần trên. Hun Sen đồng ư và đề nghị ta góp ư kiến cụ thể cần đ̣i hỏi bồ sung như thế nào.

    Ư kiến cá nhân tôi [tác giả?] đến lúc này không thể bổ sung nữa v́ văn kiện khung bao gồm những điều cơ bản mà ta không chấp nhận nhưng ta không thể làm ǵ hơn v́ P-5 đă áp đặt và SNC họp ở Jakarta 1 0/9/1990 đă chấp nhận.



    - Ngày 21-23/12/1990, hai Đồng Chủ tịch Hội nghị quốc tế Paris về CPC (PICC), đại diện TTK/LHQ họp với SNC tại Paris thông qua tuyên bố cuối cùng chấp nhận dự thảo Hiệp định do P-5 và 2 đồng Chủ tịch dự thảo. Lúc này, đ/c Nguyễn Thanh B́nh đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Pháp, tôi được đi cùng sang Paris nhưng chỉ để theo dơi cuộc họp về CPC. Tại cuộc họp này, Hun Sen ốm không dự hết các cuộc họp và giao cho Tea Banh chủ tŕ. (Cũng có thể Hun Sen lấy cớ ốm để tránh họp). Hẹn gặp tôi tại khách sạn ở Paris, Hun Sen tỏ ra rất mệt mỏi đề nghị tôi báo cáo với đ/c Nguyễn Cơ Thạch rằng Hun Sen đă làm hết sức ḿnh nhưng không thể làm được ǵ hơn nữa v́ SNC đă chấp nhận toàn bộ văn kiện khung P-5, CPC buộc ḷng phải chấp nhận dự thảo Hiệp định của P-5 và 2 đồng chủ tịch PICC.



    - Theo yêu cầu của CPC, từ 15-16/1/1991, đ/c Trần Quang Cơ cùng 3 chuyên viên Adhoc [Nhóm đặc biệt] CPC của Bộ Ngoại giao (Lê Công Phụng, Huỳnh Anh Dũng, Vũ Tiến Phúc) sang CPC làm việc với nhóm B-l của CPC. Ngày 16/1/1991, Hun Sen tiếp đ/c Trần Quang Cơ, nói: Nhận giải pháp chính trị vào lúc này th́ “nội bộ CPC sẽ hỗn loạn”, “xu hướng mạnh nhất trong nội bộ sẽ chống lại” và Hun Sen nói trong cuộc họp Trung ương ngày mai (17/1/1991) sẽ thông báo quyết định của BCT CPC “năm 1991 sẽ chưa có giải pháp chính trị”.



    - Từ ngày 24-25/1/1991, tại thành phố Hồ Chí Minh, nhân họp Hội nghị Trung ương 9, BCT đă nghe đ/c Trần Quang Cơ tŕnh bày đề án đấu tranh về CPC theo hướng “khi trao đổi với CPC về những mặt nội bộ của vấn đề CPC, ta sẽ gợi ư những phương hướng khác nhau để CPC lựa chọn, ta nói rơ đó là gợi ư và tuỳ CPC quyết định ta sẽ tôn trọng” . Đ/c Cơ cũng báo cáo kết quả đi CPC 15-16/1/1991 về ư CPC không muốn đi vào giải pháp lúc này.

    - Theo chỉ thị của đ/c Nguyễn Cơ Thạch, ngày 7/2/1991, tôi sang CPC làm việc với nhóm giải pháp CPC của Bộ Ngoại giao CPC về ư kiến của ta bổ sung sửa đổi dự thảo Hiệp định 26/11/1990, Thứ trưởng ngoại giao Sok An tiếp tôi và thông báo ngày 8/2/1991 BCT CPC đă quyết định không để Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử mà Liên hợp quốc chỉ có nhiệm vụ giám sát và kiểm soát. Tối 9/2/1991, Hun Sen cũng thông báo anh Ngô Điền như vậy.



    - Ngày 7/3/1991, đ/c Nguyễn Cơ Thạch điện cho anh Ngô Điền:

    ” 1) Ngày 24/2, Anh Nguyễn Văn Linh đă gặp riêng Heng Somrin (ở Hà Nội) gợi ư về vấn đề CPC. Cuộc gặp chỉ có Anh Linh và Heng Somrin. Anh Linh gợi ư là lúc này nên tập trung vào việc đối phó với văn kiện P-5. Muốn như vậy cần thực hiện tốt chính sách hoà hợp dân tộc, không nên nhấn mạnh vấn đề diệt chủng, cần tranh thủ cả 3 phái kia nên nhận SNC gồm 3 thành viên, Sihanouk làm Chủ tịch. Anh Linh nói cần có sách lược tranh chủ TQ. Anh [Linh] cho tôi biết Heng Somrin suy nghĩ hồi lâu rồi nói là cá nhân có thể đồng ư nhưng cần về bàn với nội bộ CPC v́ có ư kiến khác nhau.

    2) Ngày 5/5, anh Ba Cung báo cáo anh Lê Đức Anh: Ngày 4/3, Hun Sen gặp anh Ba Cung, Heng Somrin báo cáo với BCT về ư kiến Anh Linh. Các đ/c

    trong BCT băn khoăn và ngại rằng đ/c Heng Somrin không thạo tiếng Việt nên có thể sai sót. Anh nên gặp anh Hun Sen và Ba Cung để hỏi rơ ư kiến của BCT

    bạn.“

    Anh Ngô Điền báo cáo: “Chiều ngày 8/3/1991, tôi gặp anh Hun Sen. Tôi chưa hỏi, anh Hun Sen chủ động nói: Anh Heng Somrin từ Hà Nội về có thuật lại ở BCT những gợi ư của Anh Nguyễn Văn Linh. Một số đ/c BCT sợ rằng Anh Heng Somrin nghe tiếng Việt không rành, ghi chép lại chậm, do đó không nắm được kư ư kiến Anh Linh. Nhân chuyến đi Hà Nội sắp tới, anh Hun Sen được giao nói rơ ư định của CPC đồng thời trao đổi thêm về những bước đi sắp tới.

    a) Về diệt chủng: nhất trí là về chiến lược cần tranh thủ TQ nhưng về sách lược nên sử dụng con bài Khmer Đỏ trong đấu tranh chính trị ngoại giao như thế nào? Nếu TQ đi vào hướng Giải pháp Đỏ, quyền lợi của họ là hiện đại hoá, muốn thế phải tranh thủ Mỹ, phương Tây.

    b) Về Sihanouk: BCT đă trao đổi về gợi ư Anh Linh nhận Sihanouk làm người thứ 13 và Chủ tịch SNC, v́ ta không có ǵ phải sợ do SNC phải quyết định consensus.

    Chúng tôi thấy 2 điều bất lợi :

    - Sẽ gây chia rẽ trong nội bộ: trước đă cố gắng lôi Sihanouk vào, đă nhiều lần nhân nhượng, mà Sihanouk luôn đổi ư kiến làm tôi cũng chán. Càng nhân nhượng, y càng làm cao và trên thực tế uy tín của y cũng tăng thêm nhờ ta nhượng. Nay y đă việt vị, cứ đế thế rồi sẽ tính sau.

    - Tạo điều kiện cho Sihanouk và đồng bọn đổ lỗi cho ta. Họ sẽ nói là do ta ngăn cản từ tháng 9/1990 nên đàm phán ngưng trệ, nay bí quá phải nhận Sihanouk. Hoá ra ta cho nó đă không được công mà c̣n bị lỗi.“



    Lúc này, có thể do bị sức ép từ nhiều phía, CPC lại thay đổi thái độ, chủ trương không đi vào giải pháp chính trị nữa. Có mấy sự kiện:

    Hội nghị Trung ương lần thứ 12 của Đảng nhân dân Cách mạng CPC (17- 29/1/1991) chủ trương năm 1991 chưa đi vào giải pháp chính trị.



    Ngày 8/2/1991, BCT CPC đă họp và ngày 11/2/1991 ra nghị quyết về phương hướng đấu tranh ngoại giao tới, chủ trương hạn chế tối đưa vai tṛ của Liên hợp quốc cũng như của cả SNC. Ngày 3/3/1991, Bộ trưởng ngoại giao CPC có thông báo nội bộ cho các Đại sứ CPC ở ngoài nước chủ trương trên.



    Do tháng 1/1990 Quốc hội CPC đă chính thức thông qua quyết định giao cho Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyền cử, Quốc hội CPC họp phiên họp kín và bất thường (28/2- l/3/1991) sửa lại và thông qua quyết định hạn chế vai tṛ của Liên hợp quốc, biểu quyết thông qua 7 điểm:

    1) Hiệp định phải nêu các biện pháp cụ thể ngăn chế độ diệt chủng.

    2) Giữ nguyên trạng chính trị và quân sự trước tổng tuyển cử.

    3) Liên hợp quốc phải tôn trọng Hiến chương LHQ, chủ quyền và quyền tự quyết của CPC: Liên hợp quốc và nước ngoài chỉ tham gia giải quyết mặt quốc tế của vấn đề CPC không được can thiệp công việc nội bộ CPC.

    4) Công việc nội bộ CPC do SNC quyết định.

    5) SNC soạn thảo luật bầu cử, thủ tục bầu cử.

    6) Liên hợp quốc chỉ gồm các nhân viên kiểm soát quân sự, không cần lực lượng giữ ǵn ḥa b́nh.

    7) Đại diện TTK/LHQ không được giao quyền quyết định cuối cùng.



    Trong kỳ họp, Chea Sim đọc diễn văn khai mạc và bế mạc, Hun Sen báo cáo về quá tŕnh đàm phán và dự thảo Hiệp định của 5 nước lớn. Chea Sim nói: “Người ta không được ép nhân dân CPC chấp nhận những ǵ trái với lợi ích của ḿnh. Sự thật không ai hiểu sâu vấn đề CPC hơn người CPC“.

    Hun Sen nói: “Đấu tranh để bảo vệ độc lập, hạnh phúc và chân lư, nhất định sẽ gặp nhiều khó khăn nhưng chúng ta đă vượt qua những khó khăn lớn nhất.”

    …“Vấn đề quan trọng không phải ở chỗ là khó khăn đến mức nào mà là ở chỗ ta có dám vượt qua không? Trước hết phải xây dựng và giữ vững ḷng yêu nước, yêu dân tộc và dám hy sinh v́ độc lập và chủ quyền quốc gia.” Hun Sen phê phán công thức 6+2+2+2+l và nói: “Như các đại biểu đă biết, vấn đề SNC này rất phức tạp, để thoát được chúng ta phải đấu tranh khắc phục và làm thất bại âm mưu kẻ thù và bọn ủng hộ chúng nó không ít đâu, mặc dù SNC đă được thành lập trên cơ sở hai bên b́nh đẳng, nhưng người ta muốn biến nó thành 4 bên theo công thức 6+2+2+2+1 và vấn đề Chủ tịch làm cho SNC không hoạt động được.” Hun Sen c̣n nói: “Chấp nhận toàn bộ văn kiện đó (của 5 nước lớn), chúng ta sẽ ở vào địa vị thấp hơn là chế độ thuộc địa, và là hành động tự sát.”



    - Ngày 7/3/1991, mít tinh 5 vạn người trước Hoàng Cung ở Phnom Penh hoan nghênh Nghị quyết mới của Quốc hội CPC, Hun Sen phát biểu rất hùng biện mấy tiếng đồng hồ nhấn ư độc lập, tự chủ, đ̣i tôn trọng chủ quyền CPC. Trong mít tinh có cả khẩu hiệu tiếng Anh, Pháp “Không ai hiểu CPC hơn người CPC”.



    - Ngày 12/3/1991, Hun Sen ra Hà Nội bảo vệ luận án Tiến sĩ. Sáng 13/3, anh Ngọc, Thư kư anh Lê Đức Anh truyền đạt cho tôi ư kiến của anh Lê Đức Anh để thông báo với anh Thạch:

    “Chiều 12/3, Anh Lê Đức Anh đă làm việc với Hun Sen, Tea Banh. Hun Sen và Tea Banh thông báo lại t́nh h́nh trong thời gian vừa qua và hỏi lại ư của BCT trong cuộc anh Linh và anh Lê Đức Anh làm việc với anh Heng Somrin ở Hà Nội vừa qua. Bạn hoàn toàn nhất trí ư kiến của ta, không có ǵ gây cấn.

    Về t́nh h́nh chung: bạn thông báo t́nh h́nh chung tốt lên. Về đấu tranh cho giải pháp: Hun Sen và Tea Banh tán thành cần đi vào giải pháp chính trị. Nhất trí SNC sẽ do Sihanouk làm Chủ tịch; Hun Sen, Phó Chủ tịch, không đặt vấn đề đồng chủ tịch như trước. Nhất trí thu hẹp lại diện đối tượng đầu sỏ diệt chủng phải loại trừ, không mở rộng ra nữa. Đối với Sihanouk, nhất trí cân có cố gắng tranh thủ Sihanouk, tạo điều kiện để có cuộc gặp mang tính chất cá nhân giữa Hun Sen và Sihanouk. Không c̣n đ̣i tách bạch mặt nội bộ riêng, mặt quốc tế riêng nữa.“



    Chiều 13/3/1991, đ/c Nguyễn Cơ Thạch gặp Hun Sen trong 2 giờ. Hun Sen nói sẽ đáp ứng gợi ư của Ấn Độ là có “diễn đàn anh em” giữa Hun Sen- Sihanouk. Về diệt chủng, Hun Sen nói dứt khoát: không thể bỏ vấn đề diệt chủng. Tối 17/3, Trung ương Đảng ta chiêu đăi mừng Hun Sen bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ.

    Gặp anh Thạch sau chiêu đăi, Hun Sen đề nghị VN quản lư Pen Sovan chặt chẽ hơn. Vừa qua bà Lia, thuộc Hoàng tộc CPC, đến Hà Nội đă gặp Pen Sovan. Sau đó Pen Sovan viết thư về CPC nói ư sắp được VN cho về CPC. CPC rất lo ngại về việc quản lư Pen Sovan và đặc biệt về tin Pen Sovan sẽ trở lại CPC.



    16 giờ ngày 13/3/1991, sau khi kết thúc cuộc gặp giữa anh Thạch và Hun Sen ở Nhà khách Hồ Tây, anh Ngô Điền ngồi lại nói chuyện với Hun Sen. Hun Sen nói: May quá, ra đây nghe các anh nói vậy th́ rơ ra. Anh Heng Somrin nghe không nắm hết. Vấn đề diệt chủng không thể bỏ chỉ có vấn đề là sách lược phân hoá kẻ thù. Vấn đề diệt chủng phải giữ để sau này bàn cả gói. C̣n SNC th́ Sihanouk làm Chủ tịch. Tôi, Phó Chủ tịch. Không thể nhận 13, cần th́ 12 hoặc 14.



    Anh Heng Somrin ở Hà Nội về th́ họp BCT. Nghe anh Heng Somrin nói, nhiều đ/c BCT ngạc nhiên. Nếu như vậy th́ suy nghĩ của VN và CPC khác nhau nhiều. Anh Say Chhum rất lo lắng đề nghị BCT nên cử một đoàn 3-4 người đi Hà Nội nghe kỹ và trao đổi. BCT bàn và đề nghị anh Hun Sen, anh Tea Banh vốn đă có kế hoạch đi Hà Nội th́ nên đi sớm để trao đổi cho rơ. Ra đây, gặp anh Lê Đức Anh, nghe anh Lê Đức Anh th́ thấy rơ không có vấn đề ǵ, chỉ do anh Heng Somrin nghe nhầm. Chẳng lẽ khác nhau nhiều đến thế.



    Về Sihanouk, anh Lê Đức Anh nêu nên lôi kéo Sihanouk v́ đă có nguyên tắc consensus. C̣n 12 hay 13 không thành vấn đề. Tôi nói nếu ta nhận 13 th́ rất bất lợi kẻ thù sẽ đổ lỗi cho ta, Sihanouk sẽ làm cao, chỉ có thể nhận Sihanouk Chủ tịch và Hun Sen, Phó Chủ tịch. (Anh Ngô Điền báo cáo anh Trần Quang Cơ sang 14/3).



    - Ngày 13/4/1991, BCT bàn đánh giá t́nh h́nh thế giới, buổi sáng đ/c Thạch đọc bản báo cáo dài đến gần hết buổi họp mới kết thúc. Buổi chiều, đ/c Lân ở Tổng cục 2 Bộ Quốc pḥng lại tŕnh bày một bản báo cáo rất dài ngược lại hoàn toàn ư kiến đ/c Thạch. Đ/c Nguyễn Văn Linh nhận xét nói bản tŕnh bày sáng và chiều có nhiều chỗ khác nhau quá. Đ/c Thạch đề nghị 3 ngành quốc pḥng, an ninh, đối ngoại thảo luận để đi tới nhất trí. Đ/c Phạm Văn Đồng nói: Nói khôi hài lúc này thật không phải lẽ. Chúng ta cần cố gắng làm việc đúng lương tâm, nghiêm chỉnh, đúng trách nhiệm của ḿnh. BCT đă giao cho 3 đ/c phụ trách 3 ngành làm nhưng lại chưa làm. Đ/c Phạm Văn Đồng nói thêm: Nên gửi tài liệu thường xuyên, nghe thế này mất nhiều th́ giờ. Ba đ/c nên ngồi vào đánh giá t́nh h́nh xem cái ǵ nhất trí, cái ǵ chưa. Làm việc như thế này không có hiệu quả.



    Ngày 15/5/1991, đ/c Thứ trưởng quốc pḥng Trần Văn Quang sang CPC dự Hội nghị tổng kết mùa khô của CPC. Theo chỉ thị của đ/c Lê Đức Anh, đ/c Trần Văn Quang đă đặt vấn đề với CPC về rút chuyên gia. TBT Heng Somrin nói BCT CPC đă bàn nhất trí sẽ rút chuyên gia trước khi có kiểm chứng của Liên hợp quốc. Trước mắt có thể rút [một] bộ phận vào tháng 6/1991, số ít c̣n lại sẽ tuỳ hoàn cảnh mà rút sau. Hun Sen nói tháng 6/1991 rút khoảng 1.200, c̣n để lại khoảng 200 ở Quân khu 4 và 5 (Battambang và Siem Reap). Chiều 19/5/1991, đ/c Trần Văn Quang và Thứ trưởng Quốc pḥng CPC Ker Kimm Yan kư Hiệp định hợp tác quân sự năm 1991 theo tinh thần trên: rút hết 1.200 vào tháng 6/1991; rút hết chuyên gia ở Quân khu 1, 2, 3 (Kandal, Kompong Cham, Kratie); Quân khu 4, 5 mỗi nơi để lại 20; ở 3 sư đoàn của CPC: F286, F4, F196 mỗi nơi gửi lại 42; K.88 giữ lại 25; tổng số chuyên gia quân sự c̣n lại là 191.



    - Ngày 15-17/5/1991, BCT ta họp đánh giá t́nh h́nh thế giới và công tác đối ngoại (có trích biên bản kèm theo).



    - Ngày 2/6/1991: Hun Sen và Sihanouk gặp nhau tại Jakarta, thoả thuận Sihanouk làm Chủ tịch và Hun làm Phó Chủ tịch, phá vỡ cuộc khủng hoảng về SNC kéo dài từ tháng 9/1990 và mở đường đi thoả thuận một giải pháp chính trị về CPC. Sihanouk nhận lời trở về Phnom Penh vào tháng 11/1991 dù có hay không có giải pháp chính trị.



    - Đại hội lần thứ VII Đảng Cộng sản VN. họp từ 17-22/6/1991, bầu TBT và BCT mới, chủ trương đẩy mạnh đổi mới, thi hành chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá với tinh thần “VN muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng động quốc tế phấn đấu v́ ḥa b́nh, độc lập và phát triển.”



    - Ngày 27/6/1991, trong họp SNC tại Pattaya, Sihanouk mời Hun Sen đi Bắc Kinh 15/7 rồi đi B́nh Nhưỡng 18/7 để tiếp tục cuộc gặp riêng giữa 2 người.



    - Ngày 8/7/1991, BCT CPC ra nghị quyết chủ trương: trong t́nh h́nh mới, “cố gắng hoàn thành một giải pháp chính trị”, chủ trương lôi kéo Sihanouk và TQ.



    - Ngày 13/7/1991, đ/c TBT Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Đào Duy Tùng họp bàn về vấn đề CPC trước khi Hun Sen đi TQ (lần đầu từ 1979). Tham dự có đ/c Bí thư Trung ương Hồng Hà và các đ/c Hoàng Bích Sơn, Nguyễn Quang Tạo, Trịnh Ngọc Thái, Trần Quang Cơ, Nguyễn Dy Niên, Lê Mai. Trong cuộc họp, đ/c Lê Đức Anh nói: “Lần này anh Hun Sen đi gặp lănh đạo TQ cố gắng thành công, việc này có lợi cho ta. Phải thấy đây là kết thúc một giai đoạn đấu tranh, chuyên sang một giai đoạn đấu tranh mới, cuộc đấu tranh c̣n dài, chưa phải kết thúc vấn đề CPC. Với ta có thể là kết thúc, với bạn chỉ là chuyển giai đoạn đấu tranh… Thành bại trong giai đoạn này tuỳ bạn… Thúc đẩy quan hệ với TQ, nhưng phải thấy chuyện này v́ về sau không đơn giản… Nói với anh Hun Sen không [thể] nói hết v́ qua Hun Sen, TQ có thể khai thác.”



    - Ngày 1 5/7/1 991, đ/c Nguyễn Cơ Thạch gặp Hun Sen tại Sân bay quốc tế Nội Bài, Hun Sen thông báo tinh thần Nghị quyết BCT CPC chuyển từ giai đoạn “vừa đánh, vừa đàm” sang giai đoạn “vừa xây dựng lực lượng, vừa đàm phán”, chủ trương t́m cách tranh thủ lôi kéo và có chính sách lâu dài với Sihanouk, tranh thủ TQ.



    - Ngày 16-17/7/1991, SNC họp tại Bắc Kinh dưới sự quan sát của đại diện 2 đồng chủ tịch PICC, TTK/LHQ và TQ, thoả thuận Sihanouk làm Chủ tịch SNC, không có Phó Chủ tịch, giữ lại Cơ cấu SNC 12 thành viên; Sihanouk từ chức Chủ tịch liên hiệp 3 phái. Sau Bắc Kinh, Hun Sen đi thăm B́nh Nhưỡng.



    - Ngày 24/7/1991, đ/c TBT Đỗ Mười gặp Hun Sen tại Hà nội sau chuyến đi thăm TQ và Triều Tiên của Hun Sen, Hun Sen được gặp Tiền Kỳ Tham và Kim Nhật Thành và cuộc họp SNC ở Bắc Kinh đạt kết quả, Sihanouk được bầu làm Chủ tịch SNC. Hun Sen tỏ rất phấn khởi về kết quả chuyến đi, nói “Lần này vui lắm. Mọi lần cũng vui nhưng không đi vào cụ thể“, Hun Sen thông báo chủ trương tích cực tranh thủ Sihanouk,tranh thủ cả TQ và lạc quan về giải pháp chính trị.



    - Từ ngày 28/7-2/8/1991, đ/c Lê Đức Anh sang thăm và làm việc nội bộ ở TQ. Cùng đi có đ/c Hồng Hà, bí thư Trung ương, Trịnh Ngọc Thái, Phó Ban đối ngoại. Đ/c Lê Đức Anh đă giới thiệu về nội dung Đại hội VII, về b́nh thường hóa quan hệ 2 nước. Đ/c Lê Đức Anh và Hồng Hà đă hội đàm với Kiều Thạch, Uỷ viên thường vụ BCT, Chu Lương, Trưởng ban đối ngoại; gặp Thủ tướng Lư Bằng; TBT Giang Trạch Dân tiếp và chiêu đăi.



    Trong dịp này, đ/c Lê Đức Anh có buổi gặp với Từ Đôn Tín chiều 29/7/1991 tại Điếu Ngư Đài37, đ/c Lê Đức Anh nói: “Năm ngoái khi đ/c Từ Đôn Tín sang VN đă xảy ra một số trục trặc không hay lắm, do phía chúng tôi gây ra. Đ/c Nguyễn Văn Linh và chúng tôi khi biết việc này, chúng tôi không vui lắm. Đ/c thay mặt chính phủ TQ sang VN để cùng chúng tôi thảo luận giải quyết công việc nhưng lại để xẩy ra trục trặc, chúng tôi không vui lắm. Hôm nay gặp đ/c tôi nói t́nh cảm của đ/c Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và của tôi. Mong rằng sau này không xảy ra những trục trặc như thế nữa… T́nh h́nh trục trặc trong quan hệ nước là một việc đau, ḷng… Tôi đồng ư là không nên nêu vấn đề diệt chủng. Tôi cũng đă nói nhiều lần với đ/c Heng Somrin và Hun Sen.” Từ Đôn Tín nói: “Gốc là vấn đề CPC… Song song với việc giải quyết vấn đề CPC th́ tiến hành b́nh thường hóa quan hệ Việt-Trung… Nếu vấn đề CPC được giải quyết xong, các đ/c sang th́ việc b́nh thường hóa quan hệ sẽ rất tốt. Nếu các đ/c lănh đạo VN sang TQ mà cái đuôi CPC c̣n th́ chúng tôi khó nói với nhân dân… Tháng 6/1990, đă để mất cơ hội, nay loại trừ hoàn toàn vai tṛ Liên hợp quốc th́ không được nữa.“



    Tối 31/7/1991, đ/c Hồng Hà cùng Trịnh Ngọc Thái gặp Từ Đôn Tín. Cùng dự có Trương Tứ Giang, Tề Kiến Quốc, Hồ Càn Văn. Đ/c Hồng Hà nói: “Sau chuyến đi TQ lần này, đ/c Lê Đức Anh và tôi phải về gặp đ/c Nguyễn Dy Niên ở Hà Nội. Chúng tôi phải báo cáo BCT để BCT có ư kiến chỉ đạo trước khi đ/c Nguyễn Dy Niên đi TQ, không những về nội dung mà về cả tinh thần và thái độ làm việc. Để làm được như vậy, chúng tôi đề nghị hoăn cuộc gặp Thứ trưởng vài ngày để có th́ giờ chuẩn bị tốt. Trước đây dự định cuộc họp Thứ trưởng từ 5 đến 8/8, nay đề nghị từ 8 đến 10/8. Đ/c Trịnh Ngọc Thái sẽ ở lại tham dự cùng đ/c Nguyễn Dy Niên. Nếu cuộc gặp đó không nắm được tinh thần các buổi làm việc của chúng tôi với các đ/c lănh đạo TQ th́ khó có kết quả… Đ/c Lê Đức Anh và tôi sẽ làm việc trực tiếp với đ/c Nguyễn Dy Niên. Nếu chuẩn bị tốt, cuộc gặp Thứ trưởng sẽ không kéo dài. Tinh thần của chứng tôi là phấn đấu làm cho cuộc gặp thành công.” Từ Đôn Tín nói: “Cuộc gặp Thứ trưởng rất quan trọng, phải làm cho có kết quả. Tiếp đó SNC họp ở Bangkok, TQ và VN có đại diện ở Bangkok trao đổi ư kiến để góp phần làm cho cuộc họp SNC có kết quả. Tôi sẵn sàng gặp các đ/c ở Bangkok.”



    - Sáng 4/8/1991, tại Văn pḥng Trung ương Đảng (4 Nguyễn Cảnh Chân), đ/c Lê Đức Anh và đ/c Hồng Hà đă làm việc với đ/c Thứ trưởng Trần Quang Cơ và Nguyễn Dy Niên về đề án họp Thứ trưởng ngoại giao Việt-Trung.

    Đ/c Lê Đức Anh phát biểu như sau:

    “Hai vấn đề đối ngoại lớn ta đă bàn: b́nh thường hóa quan hệ với TQ và phá cấm vận của Mỹ. Giải quyết được 2 vấn đề này sẽ bung ra hết vấn đề khác. Hai vấn đề này tác động qua lại lẫn nhau. Sang TQ lần này ta phải giải quyết. Nhưng giải quyết 2 vấn đề này ta không được quên 3 nước Đông Dương. Tránh đừng để xảy ra trục trặc vấn đề ǵ trong quan hệ 2 nước.

  8. #28
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    GHI CHÉP VỀ CAMPUCHIA (1975-1991)
    Huỳnh Anh Dũng, cựu Đại sứ VN tại Campuchia
    Phần 6B



    Ta có 3 vấn đề về CPC cần nắm chắc.

    Về quan hệ 2 nước, 2 Đảng đă có một bước khai thông quan trọng. Cố gắng không để trục trặc để đi đến gặp cấp cao chính thức. Phải nói ta cố gắng từ khi sửa Hiến pháp măi đến sau Đại hội VII mới giải quyết.

    Trong vấn đề với TQ, khách quan mà nói cũng mở đầu bằng vấn đề CPC.

    Bên kia đánh ta, ta phản ứng lại. Vấn đề CPC là vấn đề giữa VN-TQ. Ta không thừa nhận vấn đề này là không đúng. Ta phải giải quyết vấn đề này. TQ cũng đă ngán lắm rồi. 10 triệu đô la một năm (?) cũng không phải ít. Ta cũng đă mệt.

    Khi tôi ở trong Nam, anh Chu Huy Mân vào phổ biến việc đưa quân sang CPC, tôi nói ngay lúc đó là ngay ở Tây Nguyên ta đă làm 3 năm rồi có được đâu mặc dù ta có Đảng, có cơ sở lại là người dân tộc ḿnh. Vấn đề không đơn giản. Ta vào CPC, Thái Lan sợ. Khi ta giải phóng miền Nam họ đă sợ, vào CPC họ càng sợ.

    Tuy ta kiên tŕ b́nh thường hóa quan hệ với TQ nhưng không được. Vấn đề CPC có tiến triển là do trưởng thành của bạn CPC và cố gắng ngoại giao của ta.

    Bạn CPC cũng từng bước nhận thức được vấn đề. Bạn CPC lúc thế này lúc thế khác là điều tất yếu có thể hiểu được.

    Quá tŕnh cho đến khi gặp cấp cao Thành Đô là do cách đặt vấn đề của TQ không đúng. Đáng lư quan hệ Đảng tốt rồi tác động giải quyết vấn đề CPC th́ thuận hơn. Ta muốn như vậy nhưng TQ lại khác. Bây giờ TQ muốn thoát ra và muốn giữ sĩ diện nước lớn. Khách quan là như vậy. Anh ủng hộ chế độ diệt chủng phải thoát ra như thế nào để giữ sĩ diện. Đây là vấn đề tâm lư. Trong bữa ăn, tôi nói với Giang Trạch Dân là TQ nước lớn, VN nước nhỏ, Giang Trạch Dân nói con chim chích tuy bé nhưng cũng đủ gan đủ mật. Về quan hệ 2 nước, cách đặt vấn đề của TQ đă khác. Về CPC, Lư Bằng nói chỉ giữ cái khung mà TQ đă kư với tư cách là một trong 5 nước HĐBA nhưng họ thừa nhận là văn kiện đó có điều không hợp lư. Cái khung này các bên CPC thừa nhận, cấp cao Thành Đô đă thừa nhận và đă trở thành vấn đề pháp lư. Đây là cái ṿng Kim cô. Văn kiện khung có 2 điếm quan trọng: Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử và quyền quản lư hành chính 5 Bộ, c̣n vấn đề quân đội chỉ nêu qua. Vấn đề đặt ra là bạn thấy nguy, bạn nghĩ lấy vấn đề diệt chủng để phá ṿng Kim cô này. Đó là suy nghĩ đúng nhưng không được. Sau Vùng Vịnh, TQ cũng thấy Liên hợp quốc quá lớn cũng nguy cho TQ. TQ muốn thay đổi nhưng TQ không muốn đứng ra thay đổi. Ta làm sao nói thân t́nh ta muốn CPC độc lập, trung lập CPC chỉ có thể là một nước tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ, có quan hệ quốc tế rộng răi để tranh thủ đầu tư nước ngoài. Điều kiện CPC không thể đi lên ngay CNXH được. Ta không cần liên minh quân sự, chính trị với CPC. Ta chỉ cần hữu nghị với CPC nhưng không đơn giản v́ vấn đề lịch sử bị nước ngoài kích động thêm. Vấn đề là ta cố giữ thế cho bạn, làm sao ta và TQ thống nhất với nhau để giữ một CPC độc lập, trung lập, không bị nước ngoài chiếm đóng.

    Từ đó, tôi nói dứt khoát, ta không nêu vấn đề diệt chủng. Chúng tôi sẽ nói với bạn cái này. Anh không thể lấy cái này đế phá ṿng Kim cô. Anh lấy cái này th́ TQ đứng về phía P-5. Anh đánh vào tim TQ, TQ bực, đứng về phía 5 nước ép anh bất lợi cho bạn. Liên Xô, Pháp, TQ đều thấy hợp lư cần phải sửa. Ta và TQ thoả thuận, ta gỡ sĩ diện cho TQ th́ giải quyết được Ta cần tạo điều kiện để TQ gỡ được sĩ diện để ta giải quyết vấn đề lớn. Tôi đă nói với bạn CPC, trong quần chúng, trong nhân dân không thể buông vấn đề diệt chủng. Khi Sihanouk về, dẫn Sihanouk đi xem để nâng cao tinh thần dân tộc nâng cao mặt tích cực của Sihanouk. Sihanouk nói vậy chứ chưa bao giờ tận mắt thấy tội ác diệt chủng.

    Giữ vấn đề diệt chủng thế nào cho thực chất. Không thể ngồi với Khieu Samphan, Son Sen mà nói diệt chủng, tức là chửi vào mặt nó th́ làm sao ḥa hợp dân tộc. Ta phân tích kỹ nhưng không can thiệp công việc nội bộ bạn.

    Ta nói với TQ và đồng ư tác động các bên CPC bỏ qua quá khứ, không để trở lại sai lầm cũ, ta muốn CPC hoà hợp dân tộc thực sự, bỏ qua quá khứ. Tôi nói với TQ bản thân vấn đề này là vấn đề nhân đạo, hai bên TQ-VN cần tiếp tục tác động về sau. Miễn chúng ta thống nhất với nhau th́ có thể nói với bạn CPC được. Ta nói trên tinh thần người cộng sản.

    Vấn đề thứ hai là vấn đề quân đội. Mỹ, Ahmed muốn giải giáp hoàn toàn quân đội CPC. Xu hướng chung trên thế giới là mọi người muốn giảm quân, Xô- Mỹ giảm chạy đua vũ trang. Ta nói các nước đă chấm dứt viện trợ quân sự, các bên CPC nên giảm quân. Có ngừng bắn và chấm dứt viện trợ, nên giảm quân. Giải giáp ngay sẽ là một vết thương quá đau. Giảm bao nhiêu do các bên CPC thoả thuận. Nếu mà bạn CPC nói giảm 50% th́ thực chất là không giảm do quân số ma. Ta có thể ghi vào giấy là có thể giảm quân để giảm bớt đóng góp của nhân dân. C̣n Từ Đôn Tín hỏi giảm bao nhiêu, ta đề nghị TQ đưa ra phương án. Ta có thể thống nhất giảm 50%, TQ tác động đi, VN phụ thêm. TQ nói Thái Lan được. Chưa chắc TQ dám chịu ghi biên bản điều này. TQ tác động, VN hỗ trợ. Nếu chúng tôi thoả thuận th́ tức là can thiệp công việc nội bộ người ta, phức tạp lắm. Ta phải làm cho bạn CPC, ta làm tất cả điều này v́ lợi ích của Đảng, Chính phủ và nhân dân CPC.

    Các anh lo là phải nhưng ta có cách.

    Quân đội không can thiệp vào tổng tuyển cử, ở trong doanh trại, đi ra ngoài không mang vũ khí.

    Vấn đề thứ ba là vai tṛ Liên hợp quốc: Cần nâng cao vai tṛ SNC, hạn chế Liên hợp quốc. Ta hỏi ư TQ như thế nào. TQ nên tác động 4 bên CPC để nâng cao vai tṛ SNC lên đến mức nào th́ VN sẽ phối hợp.

    Về tổ chức bộ máy Liên hợp quốc, ta không chấp nhận có quân đội Liên hợp quốc, ta chỉ chấp nhận nhân viên quân sự. VN và TQ nên thống nhất vấn đề này và tác động các bên CPC. Không thể chấp nhận đội quân chiếm đóng của Liên hợp quốc. Ta kiên quyết cái này, không chấp nhận v́ trái với Hiến chương Liên hợp quốc. TQ không đồng ư, ra Hội nghị quốc tế ta cũng bảo lưu cái này. Đồng ư ta đưa trước vấn đề quan hệ 2 nước, chuẩn bị gặp Ngoại trưởng, gặp cấp cao.

    Vấn đề CPC tồn tại 3 vấn đề như trên. Ta đồng ư trao đổi vấn đề này nhưng không phải là thương lượng. Nếu nhắc vấn đề diệt chủng th́ ta dồn TQ vào thế đi với 5 nước.

    Nếu quân đội Liên hợp quốc vào CPC, ta lại phải đưa quân xuống biên giới. Đưa quân vào không phải để đối phó với Liên hợp quốc mà đội quân Liên hợp quốc sẽ làm chỗ dựa cho bọn Khmer phản động đánh ta. Ta sẽ lại phải tăng quân số, cả một vùng ph́ nhiêu ở đồng bằng sông Cửu Long như An Giang, Đồng Tháp… lại bỏ hoang“.

    Đ/c Hồng Hà nói: “Ta khẳng định với TQ trong đoàn c̣n có anh Trịnh Ngọc Thái.“

    Đ/c Lê Đức Anh: “Anh Niên sang cố gắng giải toả quan hệ giữa hai Bộ Ngoại giao.

    …Nói thật, ta cũng bị Pol Pot diệt chủng. Đồng bào ta ở An Giang bị họ sang sát hại ghê gớm. Nhưng v́ ta v́ đại nghĩa v́ vấn đề lớn phải thoát ra.“



    Buổi chiều 4/8/1991, Thường trực BCT và BBT họp cho ư kiến tinh thần như đ/c Lê Đức Anh cho ư kiến ban sáng.



    - Từ ngày 8-10/8/1991, Thứ trưởng Nguyễn Dy Niên thăm và tiến hành họp Thứ trưởng ngoại giao 2 nước (anh Trịnh Ngọc Thái sang TQ với đ/c Lê Đức Anh từ cuối tháng 7/1991 ở lại chờ để dự cuộc gặp này). Sau khi bàn bạc, hai bên ra thông cáo báo chí chung: hoan nghênh Sihanouk làm Chủ tịch SNC, ủng hộ văn kiện khung Liên hợp quốc, khuyến khích giải pháp chính trị toàn diện và hoà hợp dân tộc và trao đổi ư kiến về b́nh thường hóa quan hệ 2 nước. Ngày 10/8/1991, đúng ngày Quốc hội VN thông qua việc để đ/c Nguyễn Cơ Thạch thôi chức Bộ trưởng ngoại giao và bổ nhiệm đ/c Nguyễn Mạnh Cầm làm Bộ trưởng Bộ ngoại giao, Ngoại trưởng TQ Tiền Kỳ Tham tiếp đ/c Nguyễn Dy Niên mời Bộ trưởng ngoại giao VN thăm TQ vào 10/9/1991 chuẩn bị cho cuộc gặp cấp cao.



    - Ngày 13/8/1991, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 của CPC ra nghị quyết đi vào giải pháp chính trị, đề ra khẩu hiệu hành động “Tất cả v́ bầu cử” thôi không nói cộng sản và chủ nghĩa Marx-Lenin.



    - Ngày 26-28/8/1991, SNC họp tại Pattaya (Thái Lan) chấp nhận toàn bộ văn kiện khung và dự thảo Hiệp định của P-5. Ngày 30/8, P-5 họp với SNC thoả thuận triệu tập Hội nghị quốc tế Paris về CPC trước cuối tháng 10/1991. Theo thoả thuận với TQ, đ/c Thứ trưởng Nguyễn Dy Niên và Từ Đôn Tín cũng đến Pattaya để theo dơi cuộc họp SNC. Trong quá tŕnh thảo luận trong SNC có lúc phía Phnom Penh lại nêu lại vấn đề diệt chủng, một giờ sáng (v́ phải chờ buổi chiêu đăi quá kéo dài do Sihanouk và Monique liên tục hát), Từ Đôn Tín lại gặp đ/c Niên để đề nghị VN tác động về vấn đề diệt chủng. Ta có thông báo cấp thấp cho CPC biết ư TQ, cuối cùng phía CPC không nêu vấn đề diệt chủng nữa và cuộc họp đạt kết quả, TQ hài ḷng. Dịp ở Pattaya, đ/c Nguyễn Dy Niên, (là quan chức cao cấp nhất của ta gặp Sihanouk từ 1975) đă đến chào Sihanouk và chuyển lời đ/c Lê Đức Anh mời Sihanouk thăm VN.



    - Ngày 9/9/1991, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm thăm chính thức TQ kư Thông cáo chung nêu 5 nguyên tắc chỉ đạo quan hệ 2 nước, thoả thuận Đoàn cấp cao VN chính thức thăm TQ để b́nh thường hóa quan hệ 2 nước.



    - Ngày 20/9/199: P-5 họp với SNC tại New York; ngày 24/9 Hun Sen chấp nhận toàn bộ dự thảo 26/11/1990, rút bỏ mọi bổ sung. Dịp này đ/c Trần Quang Cơ có mặt ở New York tham dự ĐHĐ/LHQ. Lúc đầu tại New York ta và Lào đề nghị với phía CPC lập cơ chế thông tin cho nhau, phía CPC tiến hành được vài buổi chủ yếu nghe CPC thông báo, sau đó đến những ngày cuối cùng quyết định th́ cả Lào và ta không thể nào gặp được CPC. Admed, Phó TTK/LHQ thông báo cho ta, phía CPC đă rút bỏ mọi bổ sung nhưng cả Lào và ta không thể gặp được CPC để xác minh. Phút cuối cùng, khi mọi việc đă ngă ngũ, Hun Sen ra sân bay chuẩn bị rời New York, đ/c Cơ mới gặp được Hun Sen, Hun Sen nói t́nh h́nh CPC, t́nh h́nh quốc tế Liên Xô như thế này th́ phải chấp nhận như vậy, đành phải rút hết bổ sung để c̣n giữ được bộ phận quân đội, chính quyền.



    - BCT và Ban Bí thư họp tối ngày 3 và sáng ngày 4/10 dưới sự chủ toạ của đ/c TBT Đỗ Mười để cho ư kiến về chủ trương của ta đối với việc kư kết Hiệp định Paris về CPC. Trong cuộc họp, đ/c Nguyện Cơ Thạch được mời đến phát biểu. Đến lúc này đ/c Thạch vẫn có ư kiến khác. Đ/c Thạch nói:” Trong đàm phán không ai bỏ chủ bài. Ta đă bỏ 2 chủ bài lớn nhất: diệt chủng, giảm quân số. Đáng lẽ phải lấy 2 vấn đề này ngăn Liên hợp quốc. Con buôn nhỏ cũng phải mặc cả. Đây là cuộc đàm phán lớn mà ta lại bỏ chủ bài để mặc cả. Ta có thế mạnh là Hiệp định vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc. Ta có 2 lựa chọn: không kư; kư với bảo lưu rơ ràng, kư và chấp nhận mặt quốc tế nhưng không chấp nhận mặt nội bộ. Cần phải làm hết mức, nếu bạn CPC không đồng t́nh th́ ta cũng không c̣n trách nhiệm lịch sử. Xin cho thêm thời gian để tôi làm việc với Bộ Ngoại giao rồi BCT bàn lại… Khi tôi đến Paris, tôi xin gặp, anh Hun Sen đồng ư gặp… Anh Hun Sen có nói dù tôi có thôi chức vụ vẫn yêu cầu tôi tiếp tục góp ư với anh… Nên đi CPC trao đổi với bạn, tôi xin xung phong đi (2 lần)… Chủ quyền CPC bị vi phạm th́ chủ quyền các nước bị đe dọa. TQ kư kết chỉ tán thành mặt quốc tế, c̣n mặt nội bộ ta bảo lưu v́ nó vi phạm chủ quyền CPC“. Đ/c Trần Quân Cơ phản ứng nói: như vậy th́ cứng quá; lâu nay ta đă nói ta tôn trọng mọi quyết định của SNC. Đ/c Thạch vẫn giữ ư kiến bảo lưu và nói thêm rằng: trước đây Mỹ c̣n không kư Hiệp định Genève về Đông Dương mặc dù Hội nghị quốc tế đều kư.



    Cuối cùng BCT kết luận: “Sau khi nghe báo cáo của Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc pḥng, BCT đă thảo luận và đi đến kết luận:

    1) BCT cho rằng, bạn đă quyết tâm sớm đi vào giải pháp và đă nhanh chóng rút bỏ tất cả những vấn đề rất quan trọng về giải pháp mà lâu nay bạn đă đấu tranh, và đă chấp nhận một dự thảo Hiệp định rất không có lợi.

    BCT cũng cho rằng, t́nh h́nh quốc tế đă có những thay đổi lớn. Mỹ đang ra sức khai thác lợi thế của ḿnh, nhằm thao túng t́nh h́nh, thực hiện ư đồ lập trật tự quốc tế mới có lợi cho chúng. Thái độ các nước khác trong P-5 nói chung cũng lựa chiều theo Mỹ. Các nước thành viên Hội nghị Paris cũng không muốn gay cấn và muốn sớm giải quyết vấn đề.

    Trong t́nh h́nh đó, tuy ta sẽ phải kư Hiệp định Paris, nhưng để giữ lập trường nguyên tắc nhất quán của ta, tránh việc giải quyết vấn đề CPC trở thành một vấn đề lịch sử trong quan hệ giữa ta và CPC như đă từng xẩy ra, đồng thời để cho nhân dân VN, nhân dân CPC và nhân dân thế giới hiểu rơ lập trường của ta, BCT chủ trương một mặt ta cần gặp sớm BCT CPC, chân thật, thẳng thắn nêu lại với bạn những vấn đề nguyên tắc mà lâu nay ta vẫn kiên tŕ, góp với bạn nhưng ư kiến cần thiết trước khi đi vào kư kết; mặt khác ta bảo lưu một cách khôn khéo việc đ̣i giữ nguyên tắc tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và chủ quyền CPC và một số vấn đề liên quan đến chủ quyền và lợi ích của ta.

    2) Cử đ/c Lê Đức Anh, đại diện BCT, đi trao đổi với BCT CPC về: a- Đánh giá của ta đối với bản dự thảo cuối cùng của Hiệp định.

    b- Thái độ của VN:

    + VN trước sau vẫn tuân thủ nguyên tắc: các vấn đề thuộc chủ quyền của CPC do lănh đạo CPC quyết định. VN tôn trọng các quyết định đó. Tuy nhiên, trên tinh thần người cộng sản đối với các đ/c CPC, chúng ta chân thành nêu ư kiến của chúng ta để các đ/c tham khảo.

    + Khi kư kết Hiệp định, với tư cách là một thành viên Liên hợp quốc và thành viên Hội nghị quốc tế Paris, VN sẽ ra tuyên bố Chính phủ nói rơ lập trường của ḿnh không tán thành và bảo lưu đối với các điều khoản Hiệp định vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và chủ quyền của một nước thành viên Liên hợp quốc…

    c- Gợi ư bạn một số việc cần làm để ngăn chặn tác động bất lợi của Hiệp định sau khi được kư kết …

    - Ngày 6/10/1991, đ/c Đỗ Mười điện cho đ/c Lê Đức Anh trên đường đi “Thường trực ở nhà bàn tiếp về vấn đề CPC thấy rằng trong tuyên bố về vấn đề CPC sắp tới khi kư Hiệp định Paris, Chính phủ ta cần nói rơ 3 ư lớn:

    1) Thiện chí của ta góp phần vào đi đến giải pháp về CPC (đă rút hết quân năm 1989).

    2) Ta tôn trọng quyết định của SNC.

    3) Việc thực hiện Hiệp định Paris về CPC phải trên Cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng chú quyền CPC.

    Nói như vậy là đủ, không dùng từ không tán thành và bảo lưu v́ như vậy đặt ta vào thế đối lập găng với tất cả các nước đă đồng t́nh nội dung Hiệp định, mà đằng nào Hiệp định vẫn được kư.

    Tôi báo lại Anh ư trên đây để anh lưu ư khi làm việc với bạn.“



    Đ/c Lê Đức Anh đến Phnom Penh sáng ngày 7/10/1991. Sai Phuthong và Hun Sen gặp riêng buổi sáng. Buổi chiều 14 giờ làm việc với BCT và Ban Bí thư, tất cả uỷ viên đều có mặt. Anh Ngô Điền và anh Ba Cung (đang có mặt ở Phnom Penh) tham dự cuộc họp. Đ/c Lê Đức Anh nói BCT Đảng Cộng sản VN đă họp bàn về giải pháp chính trị CPC và cử đ/c sang báo cáo ư kiến của BCT VN.



    Đánh giá tổng quát t́nh h́nh 12 năm qua, đ/c Lê Đức Anh nêu 2 thành tựu lớn:

    - Một là giải thoát nhân dân CPC khỏi họa diệt chủng; những người cộng sản CPC đứng lên lập mặt trận đoàn kết cứu nước với sự giúp đỡ của Đảng cộng sản và nhân dân VN, đă cứu nhân dân CPC đang trên bờ vực thẳm, sau đó thực hiện cuộc hồi sinh kỳ diệu, đem lại độc lập tự do và hạnh phúc bước đầu cho nhân dân CPC. Đó là thành tựu đáng tự hào của những người cộng sản CPC và VN.

    - Hai là giữa 2 Đảng và nhân dân 2 nước đă hun đúc t́nh sâu nghĩa nặng, làm cơ sở cho quan hệ hữu nghị bền vững.



    Trong đấu tranh cho giải pháp chính trị, phần đóng góp quan trọng nhất của VN là cuộc chiến đấu của quân t́nh nguyện VN nhằm tạo thế cho quân đội CPC. V́ mục đích đó, quân VN đă tiến vào những vùng chưa từng ai đến, thương vong v́ sốt rét rất cao. Quân t́nh nguyện VN đă trả giá rất đắt, thương vong trên 10 vạn, trên cơ sở chiến thắng, quân VN đă rút sớm hơn dự định mà thành quả cách mạng CPC vẫn được giữ vững, do đó thúc đẩy tiến tŕnh đàm phán t́m giải pháp chính trị cho vấn đề CPC.



    Về giải pháp, lập trường nguyên tắc của Đảng chúng tôi là: Vấn đề CPC do nhân dân CPC quyết định. Phải tôn trọng chủ quyền nhân dân CPC. Quốc tế chỉ giúp thôi, cao nhất là giám sát và kiểm soát, tuyệt đối không được vi phạm chủ quyền. Từ đầu cho đến nay, Đảng chúng tôi giữ lập trường này, không bao giờ đồng t́nh cho Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử và lâm thời cai trị CPC. Tuy nhiên, chúng tôi tôn trọng quyết định của CPC; khi CPC để cho Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử, lập trường của chúng tôi vẫn thế nhưng chúng tôi tôn trọng quyền của CPC, không làm trở ngại. Chúng tôi hoàn toàn không muốn Liên hợp quốc lâm thời cai quản CPC trong thời kỳ quá độ, đó là lập trường nguyên tắc, nhưng khi Đảng CPC quyết định chấp nhận UNTAC, chúng tôi không cản trở.

    Thái độ VN có 2 vế như vậy. Cuộc họp BCT của chúng tôi vừa rồi khẳng định lập trường nguyên tắc như vừa tŕnh bày…



    Ở Paris, nếu VN phải kư Hiệp định v́ tôn trọng SNC không phải sợ bị cô lập th́ VN sẽ ra một tuyên bố chính phủ có 3 nội dung:

    - Thiện chí VN góp phần đạt sớm một giải pháp chính trị, thể hiện bằng việc rút hết quân t́nh nguyện năm 1989.

    - Tôn trọng các quyết định của SNC.

    - Việc thực hiện Hiệp định phải trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của CPC và Hiến chương Liên hợp quốc.

    Chúng tôi nói với nhân dân VN: 10 năm qua, ta đă gửi con em đi làm nghĩa vụ quốc tế ở CPC, chúng ta đă làm tṛn nhiệm vụ, những người cộng sản VN tự hào mang danh hiệu đảng viên cộng sản. Về phần các đ/c chắc cũng như thế. Đế quốc chửi cộng sản, chúng ta càng tự hào là người cộng sản.



    BCT vừa họp xong đă giục tôi đi báo cáo, chưa có văn bản, xin các đ/c thông cảm, có ǵ sai sót xin lượng thứ trên tinh thần người cộng sản. Đề nghị các đ/c chuẩn bị nhiều phương án đấu tranh, mọi phương án phải bám dân, bám cơ sở để giành thắng lợi cuối cùng cho CPC.



    Anh Heng Somrin nói mấy lời cảm ơn. Anh nói: Đàm phán diễn ra phức tạp, ta cố giữ lập trường nguyên tắc nhưng có những điểm 2 Đảng chúng ta nhất trí kiên tŕ nhưng rồi không giữ được, trong 5 nước lớn không c̣n ai ủng hộ ta. Sắp tới càng phức tạp nên ta muốn hạn chế tiêu cực. Chúng tôi sẽ nghiên cứu để t́m cách đấu tranh. Sau đó, anh Heng Somrin nói về Đại hội Đảng bất thường (sẽ họp ngày 16-17/10).

    Hun Sen phát biểu, nêu những khó khăn trong đàm phán với t́nh h́nh quốc tế bất lợi Nhà nước CPC bị cô lập trong những vấn đề c̣n lại. Họp SNC ở đâu, P-5 cũng bám theo và tạo sức ép. V́ quyền quyết định cuối cùng của UNTAC, đă cố tránh đưa ra rộng, đ̣i bàn trước trong SNC nhưng Sihanouk đưa ra, buộc Hun Sen phải trả lời. Gạt không được, chỉ có thể giảm nhẹ đi thôi. Anh Heng Somrin vừa nói là t́m cách đấu tranh ở Paris, nhưng tôi thấy hết cách rồi. Chỉ có VN, Lào, Ấn Độ ủng hộ c̣n tất cả đều ép mạnh. Liên Xô khác trước, chỉ đến để moi tin và truyền đạt cho phía bên kia, nên chúng tôi không dám thông báo kỹ hay bàn bạc.



    - Ngày 23/10/1991, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber ở thủ đô Paris, các nước tham gia Hội nghị quốc tế Paris về CPC dă kư Hiệp định về giải pháp toàn bộ cho vấn đề CPC. Ngày 3/11/1991, tại Hà Nội, đoàn Đảng CPC do Heng Somrin, Chea Sim dẫn đầu làm việc với đoàn đại biểu Đảng ta về đôi mới quan hệ 2 Đảng trong t́nh h́nh mới; ngày 9/11/1991, đ/c Hồng Hà và Ker Kim Đan kư biên bản về những vấn đề cấp bách trong quan hệ 2 Đảng, 2 nước. Ngày 24- 31/10/1991, đ/c Thủ tướng Vơ Văn Kiệt đi thăm hữu nghị các nước ASEAN: Indonesia, Thái Lan, Singapore. Ngày 5/11/1991, đ/c TBT Đỗ Mười và Thủ tướng Vơ Văn Kiệt thăm hữu nghị chính thức TQ b́nh thường hóa hoàn toàn quan hệ 2 Đảng 2 nước. Ngày 14/11/1991, Sihanouk trở về Phnom Penh.

    Từ đây kết thúc vấn đề VN ở CPC; quan hệ Việt-Trung được b́nh thường trở lại kể từ 1978; VN-ASEAN chấm dứt 13 năm đối đầu về vấn đề Camnuchia. Từ thời điểm này mở ra một giai đoạn hoàn toàn mới trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước VN theo hướng ta thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đưa dạng hoá và đưa phương hoá với tinh thần VN muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới.



    *

    *



    Tôi đă ghi chép và kể lại hết tất cả hiểu biết của ḿnh về giai đoạn 1975 – 1991, chủ yếu là vấn đề CPC. Cảm tưởng của tôi là 13 năm đó thật sự quá nặng nề, bao nhiêu vật chất, công sức kể cả máu xương đă đổ xuống mà chắc hậu quả c̣n lâu dài. Tôi nghĩ rằng ta nên tổng kết giai đoạn này để từ đó rút ra bài học cho hoạt động của ta hiện nay. Tôi không dám làm tổng kết chỉ xin mạnh dạn nêu một số suy nghĩ như sau.



    Một là, trong từng giai đoạn cách mạng chúng ta nên xác định mục tiêu. và lợi ích cơ bản mang tính chất bao trùm của giai đoạn đó và mọi đường lối chiến lược và sách lược cả đối nội và đối ngoại của ta phải phục vụ cho mục tiêu và lợi ích cơ bản đó. Việc xác định mục tiêu và lợi ích cơ bản, bao trùm đó phải dựa trên cơ sở đánh giá đúng t́nh h́nh, đánh giá đúng, chính xác thế và lực của ta, hết sức tránh chủ quan duy ư chí v́ điều này có thể dẫn đến những hậu quả không lường hết được.

    Phải chăng sau 1975, chúng ta đă đánh giá quá mức thế và lực của chúng ta như nhận định đất nước ta măi măi sạch bóng quân thù, không kẻ thù nào dám nḥm ngó nữa và từ đó chủ trương hành động của chúng ta có những sai lầm nhất định. Từ những suy nghĩ đó, phải chăng nên xác định mục tiêu và lợi ích bao trùm của ta trong giai đoạn hiện nay là phấn đấu “duy tŕ và củng cố môi trường ḥa b́nh, tập trung sức đẩy mạnh phát triển kinh tế-xă hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Mọi cố gắng cao nhất của ta là nhằm để thực hiện mục tiêu đó, khi cần phải hy sinh, lùi một bước để tiến hai bước như Bác Hồ đă sử dụng rất tài t́nh sách lược đó trong những năm 1945-1946, phấn đấu không để những vấn đề cục bộ, tạm thời có thể làm chệch hướng lợi ích cơ bản, bao trùm đó.



    Hai là, đối với một nước vừa và nhỏ như ta, kinh nghiệm của ta cũng như kinh nghiệm của thế giới là cần phải kiên quyết giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, giữ quan hệ cân bằng với tất cả các nước lớn. Cân bằng ở đây có nội dung là tạo ra thế đứng độc lập và trong mọi hoàn cảnh tạo được khả năng khai thác mọi thuận lợi, hạn chế mọi bất trắc trong quan hệ với tất cả các nước lớn, các trung tâm kinh tế-chính trị lớn trên thế giới. Để thực hiện được tốt điều đó, điều cần thiết là phải thiết lập được mối quan hệ hữu nghị, thân thiện với các nước láng giềng xung quanh ta. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng tuyệt đối không đi với một nước lớn này chống lại một nước lớn khác.



    Ba là, nhận thức đúng đắn việc làm nghĩa vụ quốc tế theo đúng luận điểm của chủ nghĩa Marx-Lenin. Cách mạng không làm thay. Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Hơn nữa, cách mạng nước nào lo do bản thân quần chúng, nhân dân nước đó quyết định, bên ngoài chỉ có thể giúp đỡ chứ không thể làm thay. Đó phải chăng là bài học thấm thía ta rút ra được sau 13 năm tận t́nh giúp cách mạng CPC.



    Điều cuối cùng tôi muốn nói là, trong quan hệ với CPC, chúng ta cần thiết đi sâu nghiên cứu đặc tính của người CPC. Bản thân tôi nhiều năm gần gũi và công tác về CPC nhưng thật sự cũng thấy khó kết luận …



    Ấn tượng sâu sắc nữa của tôi là thái độ của TQ, qua hơn 10 năm theo dơi thái độ của TQ về vấn đề CPC và trong quan hệ đối với ta, tôi cảm nhận một cách mạnh mẽ rằng đối với VN, những ư kiến của TQ về những vấn đề trong quan hệ hai nước mang nặng ư kiến của “thiên triều”, những điều kiện TQ đặt ra trong quan hệ với ta, TQ kiên quyết giữ từ đầu chí cuối, không hề thay đổi mà chỉ một mực ép ta phải thực hiện đúng như điều TQ đặt ra, không một chút nhân nhượng, nếu cần nhân nhượng, TQ có thể nhân nhượng với các nước lớn khác chứ không bao giờ TQ nhân nhượng đối với ta. Liên hệ điều này với t́nh trạng tranh chấp ở Trường Sa, tôi thấy đây là bài toán rất hắc búa v́ tôi không nghĩ rằng TQ có thể có nhân nhượng nào đó dù là nhỏ đối với ta trong vấn đề này./.



    Tháng 6 năm 1995


    34 Thứ trưởng ngoại giao. Nay là Phó Thủ tướng, Bộ trưởng phụ trách Văn pḥng Hội đồng Bộ trưởng CPC (2006)

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. CHIẾN TRANH và TỘI ÁC: Tội ác chiến tranh VN
    By alamit in forum Ngược Ḍng Lịch Sử
    Replies: 5
    Last Post: 21-11-2012, 12:52 AM
  2. Replies: 509
    Last Post: 06-11-2012, 08:43 AM
  3. Biến Cố 30/4/1975 - Việt Nam sau 35 năm chiến tranh kết thúc
    By TuyetNhiNguyen in forum Ngược Ḍng Lịch Sử
    Replies: 0
    Last Post: 09-03-2012, 07:52 AM
  4. Replies: 0
    Last Post: 05-10-2011, 09:20 AM
  5. Replies: 0
    Last Post: 04-07-2011, 02:11 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •