Page 43 of 43 FirstFirst ... 333940414243
Results 421 to 422 of 422

Thread: Lượm lặt đó đây

  1. #421
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    1,724
    Viện Dưỡng Lăo: Chuyện Xưa, Chuyện Nay

    https://www.tvvn.org/vien-duong-lao-...en-nay-lltran/
    https://nuocnha.blogspot.com/2021/05...huyen-nay.html

    Viện Dưỡng Lăo: Chuyện Xưa, Chuyện Nay – lltran
    March 26, 2021 | by Ban Tu Thư | 0


    Viện dưỡng lăo, nhà [cho người] già hay “nursing home” là mấy chữ khó khăn cho người nghe, nhất là những người cao niên. Không mấy ai hoan hỷ nghe hay muốn bàn chuyện viện dưỡng lăo v́ h́nh ảnh các cụ cao niên lọm khọm, cô đơn ngồi ngó trời ngó đất là một ám ảnh nặng nề. Người trẻ th́ chuyện “dưỡng lăo” xa vời qua, “c̣n lâu mới tới phiên ḿnh”. Người già th́ sợ hăi trước viễn tượng sống buồn bă, cô đơn giữa những người xa lạ. Người chưa già lắm th́ xao xuyến, băn khoăn và lo âu khi phải t́m hiểu về viện dưỡng lăo cho thân nhân.
    Chuyện cá nhân th́ riêng tư như thế nhưng chuyện cộng đồng, quốc gia th́ cả một chính sách cần thiết hầu trợ giúp, chăm nom hiệu quả hơn các công dân luống tuổi, những người không c̣n khả năng tự chăm nom. Đại dịch Covid 19 thổi qua địa cầu, cư dân sống trong viện dưỡng lăo là những người nhiễm bệnh và tử vong ở mức cao nhất. Các con số ấy đă đánh thức thế giới và nhà cầm quyền nơi nơi đă bắt đầu chú ư hơn đến viện dưỡng lăo. Tại Hoa Kỳ, khi thuốc chủng ngừa có mặt, cư dân viện dưỡng lăo là những người ưu tiên trên danh sách chủng ngừa v́ họ là những người dễ nhiễm bệnh lại sinh sống trong môi trường chung đụng với nhiều người khác. Tại những quốc gia khác, cách giải quyết vấn nạn nhiễm trùng trong các trung tâm dưỡng lăo sẽ nói lên phần nào tương lai của các cư dân luống tuổi sinh sống ở địa phương ấy. Sức khỏe, tính mạng của họ có được xem trọng hay không qua các chính sách y tế dành cho người già.
    Mức tử vong của người già trong viện dưỡng lăo do trận đại dịch Vũ Hán đă khơi dậy những bất b́nh từ cư dân Hoa Kỳ, và họ đ̣i chính quyền thay đổi chính sách kiểm soát, theo dơi hoạt động của viện dưỡng lăo để trợ giúp người già đắc lực hơn, không thể để họ chết như rạ như việc đă xảy ra. Tất nhiên các vấn nạn ấy không là điều mới mẻ mà là hệ quả của những hoạt động cũ. Lịch sử đă chứng minh điều ấy. Để hiểu rơ hơn, ta cần xem xét những dữ kiện từ lịch sử của viện dưỡng lăo, bắt đầu từ đâu và đă diễn tiến, phát triển ra sao; các nguyên nhân nào đă thay đổi cái nh́n của xă hội về tuổi già.
    Tại Hoa Kỳ, số người già tuổi 85 trở lên mỗi ngày một đông, cư dân sống lâu hơn mức liệu định của xă hội nên ta chưa có các chính sách rơ ràng hầu giải quyết các vấn nạn y tế, xă hội liên quan đến tuổi già. Người già sức lực kiệt quệ …như chuối chín cây… cần được chăm sóc cẩn thận về sức khỏe cũng như được trợ giúp trong các nhu cầu cá nhân. Có cụ cần được cho uống thuốc men hằng ngày v́ không c̣n minh mẫn để tự sử dụng các món thuốc cần thiết. Có cụ mất cả khả năng tự tắm rửa, thay quần áo. Rất ít những cư dân luống tuổi được gia đ́nh chăm sóc đầy đủ. Số c̣n lại trông nhờ vào các dịch vụ công cộng và tùy địa phương họ sinh sống, phẩm chất cũng như số lượng của các dịch vụ ấy thay đổi.
    Ngày nay, viện dưỡng lăo, “nursing home” hoặc “skilled nursing home”, thường bao gồm cả dịch vụ y tế, cung cấp các bữa ăn và đôi khi cả các dịch vụ giải trí để ngày tháng bớt nhàm chán. Ta lại có cả các trung tâm phục hồi, rehabilitation, dành cho các cụ luống tuổi hồi phục sau cơn bạo bệnh sau khi rời bệnh viện và trở về nhà (nhưng chưa cần mức chăm sóc tại viện dưỡng lăo). Các trung tâm chăm sóc ấy c̣n có cả nơi dành riêng cho những người đă bị lẫn (dementia); tạm hiểu là đủ mọi loại và mức độ chăm sóc từ trợ giúp, phục hồi đến trông nom toàn phần. Cách “phân chia” dịch vụ thành nhiều phần như thế là một kiểu mẫu làm ăn buôn bán, càng nhiều dịch vụ, mức phí tổn càng cao.

    Các bài phân tích dịch vụ y tế cho ta thấy được vài điều quan trọng, sự thay đổi theo thời gian, đi ngược về lịch sử từ thế kỷ XVII.
    Cuốn sách “Old and Sick in America: The Journey Through the Health Care System” của Tiến Sĩ Muriel R. Gillick, trong những năm 1600 – 1700, khi người Âu Châu chiếm lănh châu Mỹ, họ mang theo các tập quán sinh sống kể cả việc thành lập “almshouse” tạm dịch là “nhà tế bần” [của tư nhân] dành cho những người không được chăm nom bởi thân nhân hoặc láng giềng; cộng đồng hay quận hạt, chính quyền địa phương.

    Since the introduction of Medicare and Medicaid in 1965, the American health care system has steadily grown in size and complexity. Muriel R. Gillick takes readers on a narrative tour of American health care,...

    Muriel R. Gillick, MD, a physician specializing in geriatrics and palliative care, is a professor in the Department of Population Medicine at Harvard Medical School. ...
    Nhà tế bần không chỉ dành cho người già yếu mà c̣n nhận cả các trẻ mồ côi, người khuyết tật hoặc kẻ lang thang không nhà, cung cấp chỗ ở cũng như các bữa ăn.
    Đến những năm 1800 – 1900, nhà tế bần là nơi duy nhất cung cấp một số dịch vụ cần thiết cho người nghèo khó, những người không thân nhân để nương tựa. Măi đến đầu thế kỷ XX, ta mới thấy nhà “dưỡng lăo” hay “old age home” ra đời tại Hoa Kỳ. Nhà “tế bần” trở thành nơi dành cho những người bệnh tật, nghiện ngập và không c̣n là nơi dành cho người nghèo khó nữa. Người nghèo khó, “worthy poor”, được hiểu là những người không có khả năng làm việc để sinh sống và cũng không có thân nhân để nương tựa.
    Nhà dưỡng lăo thủa ấy thường do các tổ chức tôn giáo hoặc các nhóm đồng chủng / hội ái hữu như Evangelicals, Jewish people, Germans… thành lập và điều hành v́ tin rằng họ có trách nhiệm chăm sóc những người “cùng hội cùng thuyền”. Từ đó ta có Boston’s Home for Aged Woman, Indigent Widows’ and Single Women’s Society in Philadelphia và các trung tâm chăm sóc người già khác.
    Các nhà dưỡng lăo này thường nhỏ, chỉ có khoảng 30-50 giường; với một lệ phí khiêm nhường, cư dân có chỗ ăn và ở nhưng đủ khả năng dọn dẹp chỗ ngủ và tự vào pḥng ăn mỗi ngày.
    Vào thời khủng hoảng kinh tế, thập niên 30 của thế kỷ trước, xă hội cần nhiều nhà dưỡng lăo hơn nữa v́ số cung thấp hơn mức cầu rất xa. Mức dịch vụ cung cấp tại nhà tế bần trở nên tồi tệ [thiếu tiền tài trợ] nên bị xă hội lên án nặng nề.
    Các nhà lập pháp thủa ấy cho rằng một ngân sách khiêm nhường để chăm sóc người già sẽ tiết kiệm được các khoản tiền điều hành nhà tế bần. Từ đó, đạo luật An Sinh Xă Hội, the Social Security Act, ra đời năm 1935, bao gồm cả chương tŕnh Trợ Giúp Người Già, the Old Age Assistance (OAA) program, tài trợ cả người nghèo không nơi nương tựa.
    Để xóa bỏ nhà tế bần, chương tŕnh OAA không trợ cấp cho người cư trú, v́ vậy họ di chuyển sang các nhà dưỡng lăo của tư nhân. Thấy có tiền trợ cấp từ chính phủ, các công ty buôn bán đứng ra thành lập “trung tâm dưỡng lăo”, quy mô hơn, rộng lớn hơn để kiếm tiền v́ có thể kiếm lời từ việc chăm sóc người cư trú hợp lệ. Nghĩa là từ “nhà” sang “viện” hoặc “trung tâm” dưỡng lăo. Cách hoạt động này đánh dấu việc chính quyền tham dự vào việc điều hành viện dưỡng lăo [chi tiền nên có quyền điều khiển] của các công ty / tổ chức tư nhân ngày nay.
    Một thập niên sau, năm 1946, Quốc Hội ban hành Hill-Burton Act cho phép nhà dưỡng lăo được thành lập / xây cất chung với bệnh viện và cho phép chính phủ kiểm soát các hoạt động ấy. Viện dưỡng lăo trở thành nơi cung cấp các dịch vụ y tế [ở mức độ thấp hơn bệnh viện], tạm hiểu là viện dưỡng lăo chuyển từ hệ thống an sinh (welfare) sang hệ thống y tế (healthcare) và theo các tiêu chuẩn hoạt động riêng.

    Theo bà Gillick, người Hoa Kỳ trong thập niên 50 xem hệ thống y tế công cộng như bệnh viện, và viện dưỡng lăo khi nằm sát bên bệnh viện cũng là một loại bệnh viện dù không có mặt bác sĩ thường xuyên.
    Các trung tâm dưỡng lăo liên bang sinh sôi nảy nở rầm rộ; một số chịu nhiều tai tiếng và bị đóng cửa v́ kém tiêu chuẩn y tế và an toàn. Năm 1965, tu chính Medicare & Medicaid được thêm vào đạo luật Social Security Act th́ việc thành lập và điều hành viện dưỡng lăo trở thành một ngành kỹ nghệ, buôn bán làm ăn rầm rộ như mọi ngành kỹ nghệ khác.
    Đến giữa thập niên 70 th́ số viện dưỡng lăo gia tăng 140% và mức buôn bán gia tăng 2000%. Số lượng gia tăng nhưng phẩm chất của viên dưỡng lăo lại sút giảm. Đến nỗi các trung tâm này bị gọi là “nơi dừng chân & chết” hay “park and die facilities”. Thượng Nghị Sĩ / Dân Biểu David Pryor đă gọi viện dưỡng lăo là nơi nằm giữa xă hội và nghĩa địa, “halfway houses between society and the cemetery.” Từ thời điểm này, chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục kiểm soát để duy tŕ các tiêu chuẩn y tế áp dụng tại viện dưỡng lăo.

    David Hampton Pryor is an American politician and former Democratic United States Representative and United States Senator from the State of Arkansas. Pryor also served as the 39th Governor of Arkansas from 1975 to 1979 and was a member of the Arkansas House of Representatives from 1960 to 1966.
    Người nghèo khó, không có nguồn lợi tức nào khác, cư trú tại những viện dưỡng lăo tài trợ bởi Medicaid. Ở đó, mỗi pḥng thường có 3 – 4 giường và những chiếc tủ đứng có khóa cho mỗi người cư trú sử dụng nên pḥng ốc thường chật chội. Tại những viện dưỡng lăo dành cho người khá giả, thân nhân thường phàn nàn về phẩm chất dịch vụ mà họ phải trả tiền. Và khi bất b́nh, khách hàng thường t́m kiếm những nơi trú ngụ vừa ư hơn, tương xứng với món tiền phải trả. Nhu cầu này dẫn đến sự xuất hiện của các trung tâm cung cấp dịch vụ trợ giúp người già, assisted living vào thập niên 80; mức độ trợ giúp tùy thuộc vào sự cần thiết của người trú ngụ, từa tựa như nhà trọ và không mấy liên quan đến “y tế” như viện dưỡng lăo.
    Nói chung, mùi tiền bạc thu hút người buôn bán đến làm ăn qua việc cung cấp dịch vụ “trợ giúp người già”. Kỹ nghệ này cũng nhanh chóng phát triển, nhanh chóng đến nỗi nhiều tài phiệt bỏ cuộc v́ mức lời lăi không như họ mong muốn: Xây cất một ṭa nhà th́ dễ dàng nhưng chăm sóc người cư trú trong các ṭa nhà ấy là việc khó khăn; cách chủ nhà hoạt động [làm ăn buôn bán] ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống của người cư trú, nhất là những người đau yếu, sức khỏe ṃn mỏi, không c̣n minh mẫn để tự chăm sóc. Kỹ nghệ này chú trọng sức khỏe thể xác, theo tiêu chuẩn tối thiểu của chính phủ như bữa ăn, vệ sinh thân thể cho người cư trú. Để đạt đủ tiêu chuẩn chăm sóc người già, ta cần nhiều yếu tố nhất là sự hiểu biết về y tế của chủ nhà và nhân viên làm công việc chăm sóc.
    Những kiểu mẫu mới bắt đầu xuất hiện, nhà dưỡng lăo chú trọng đến tâm thần của người cư trú ngoài sức khỏe thể xác, con số này rất khiêm nhường, chưa mấy phổ thông.
    Dù mức tử vong tại viện dưỡng lăo do đại dịch Vũ Hán là một con số kinh hoàng, 170,000+ con người trên toàn quốc, viện dưỡng lăo vẫn là nơi cư trú thiết yếu cho người già nghèo khó v́ các trung tâm trợ giúp, assisted living facilities, không nhận chăm sóc người nghèo trong khi viện dưỡng lăo, nursing home, được tài trợ bởi chính phủ Hoa Kỳ qua chương tŕnh Medicaid.
    Tính đến hôm nay, chăm sóc người già là một kỹ nghệ lớn trị giá khoảng 100 tỷ mỹ kim hàng năm, tài trợ bởi Medicaid và nguồn tài lực tư nhân. Câu hỏi khiến các nhà xă hội băn khoăn là làm thể nào để kiểm soát, theo dơi hoạt động của các trung tâm chăm sóc người già này hiệu quả hơn, tránh được các vấn nạn xảy ra trong thời đại dịch?

  2. #422
    Member nguoi gia's Avatar
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    1,724
    Chủ nghĩa tư bản – Tầm quan trọng của Công sản

    http://www.caidinh.com/trangluu/vanh...nghiatuban.htm
    https://nuocnha.blogspot.com/2021/05...ong-cua-c.html


    Chủ nghĩa tư bản – Tầm quan trọng của Công sản
    Nhờ những phương tiện thông tin toàn cầu, trong thế giới hôm nay, chúng ta có cảm tưởng thế giới của chúng ta nhỏ lại như cái làng, cái xă thủa nào. V́ mỗi ngày, chúng ta chỉ cần dành ra tối thiểu từ 15 đến 30 phút, ngồi trước cái tivi nhỏ bé đặt trong căn nhà ấm cúng, chúng ta có thể biết được tin tức khắp thế giới. Nhân họa như chiến tranh. Thiên họa như lũ lụt, động đất, sóng thần, hoả hoạn. Và thật nhiều các tin tức khác trên toàn thế giới. So với trên một thế kỷ trước, hay hiện nay trong các chế độ độc tài, th́ nhiều những biến cố xẩy ra ở trong một làng, xă, quận, tỉnh hay trong một quốc gia, chúng ta cũng không biết, v́ không được thông tin, hay chưa có những phương tiện để tiếp nhận thông tin như xă hội hôm nay.
    Theo Peter Barnes viết trong Chủ Nghĩa tư bản phiên bản 3.0. Hướng dẫn cách giành lại Công sản. Cho biết, hiện nay trên hành tinh chúng ta đang sống có trên 6 tỷ người, trong số trên sáu tỷ người, chỉ được con số lẻ của sáu tỷ, khoảng từ 5 đến 7 trăm triệu được sống trong bầu khí tự do, theo chủ nghĩa tư bản, được hưởng một số quyền tương đối về con người, được làm chủ một số tài sản. Nhưng như Mỹ Quốc có trên ba trăm triệu dân, th́ tổng sản lượng tài sản chung của cả quốc gia, chỉ nằm trong tay một thiểu số có 5% dân số. Tổng sản lượng của 5% này nắm trong tay 95% Công sản cả nước. Còn 95% dân số chỉ làm chủ vỏn vẹn 5% tài sản của cả quốc gia. Mức chênh lệch, bất công quá cách biệt. Nên chủ nghĩa tư bản cũng c̣n có giai cấp chiếu trên, chiếu dưới. Tương tự như giai cấp thượng lưu và giai cấp cùng đinh trong các chế độ phong kiến thủa xưa; nay là giai cấp giầu có, có quyền lực, và giai cấp vô sản. Ngoài ra, có những Công sản mà đáng ra mỗi con người khi đă sinh ra đều được có quyền hưởng, nhưng v́ không biết, đă bị giới có nhiều quyền, nhiều tiền, tước đoạt một cách mặc nhiên.

    Peter Barnes is an American entrepreneur, environmentalist, and journalist.


    Chủ Nghĩa tư bản phiên bản 3.0
    Chúng ta nên biết về Công Sản, v́ đây là quyền lợi thiết thân của mỗi người được hưởng từ khi sinh ra cho đến lúc ĺa đời, v́ không biết, ta đă bị tước đoạt mất. Giới tước đoạt là một thiểu số 5 phần trăm các công ty, ngân hàng đang nắm vận mệnh tài chánh trên toàn cầu. Dưới đây là những Công Sản thuộc về quyền của mỗi người:

    – Thiên nhiên như: không khí, nước, DNA, quang hợp, hạt giống, đất trồng, sóng radio, khoáng sản, động vật, thực vật, chất kháng sinh, đại dương, ngư trường, nước ngầm, sự yên tĩnh, đầm lầy, rừng, sông, hồ, năng lượng mặt trời, năng lượng gió.
    – Cộng đồng: đường phố, sân chơi, lịch, lễ nghi, đại học, thư viện, nhà bảo tàng, bảo hiểm xă hội, luật, tiền, tiêu chuẩn kế toán, thị trường vốn, thể chế chính trị, thị trường của nhà nông, chợ đen, mạng rao vặt.
    – Văn hóa: ngôn ngữ, triết học, tôn giáo, vật lư, hóa học, nhạc cụ, nhạc cổ điển, Jazz, ba lê, hip-hop, thiên văn học, internet, tần số truyền thông, truyền h́nh, y khoa, sinh học, toán học, phần mềm.

    Chỉ cần đề cập đến thứ Công Sản tự nhiên khi con người chưa có th́ Tạo Hóa đă ban sẵn cho con người như: không khí để thở, nước sạch để dùng, năng lượng mặt trời, gió, và vô vàn những tài nguyên có sẵn trên đất, hay nằm sâu trong ḷng đất, giữa biển khơi, con người dần dà t́m kiếm và khám phá ra. Ta mới cảm nhận được những kỳ công của Tạo Hóa. Nhưng những kỳ công này cũng đ̣i hỏi con người phải xử dụng hợp lư, vun bồi, tô điểm thêm vào những kỳ công đă được tạo dựng, không sử dụng thái quá, và tệ hại hơn nữa là, phá hủy những cái đẹp của công tŕnh tạo dựng cho con người và các sinh vật.
    Dưới đây chúng ta nên nh́n lại chủ nghĩa tư bản đă lần lượt diễn tiến qua những giai đoạn như thế nào?

    1.- Tạm gọi là chủ nghĩa tư bản phiên bản 1.0

    Từ chủ nghĩa tư bản khan hiếm đến chủ nghĩa tư bản thặng dư.
    Vào khoảng năm 1950, chủ nghĩa tư bản bước vào một gia đoạn mới. Trước đó nạn nghèo đói rất phổ biến ở Mỹ. Tiền công thấp, công việc vất vả, và sự thất nghiệp chực chờ ập xuống hầu hết các gia đ́nh. Vào những năm 1930, tỷ lệ thất nghiệp lên đến 25%.
    T́nh h́nh này đă thay đổi trong thời kỳ tiếp theo sau thế chiến thứ II. Năm 1958, nhà kinh tế học John Kenneth Galbraith viết một cuốn sách bán rất chạy nhan đề The Affluent Society (xă hội sung túc) trong đó ông cho thấy đối với hầu hết người Mỹ, sự khan hiếm hàng hóa nay đă lui về quá khứ. Ông nhận xét.
    “người dân thường nay đă hưởng được những tiện nghi, thực phẩm, các phương tiện giải trí, phương tiện đi lại cá nhân và nước máy tư gia, mà cách đây một thế kỷ, thậm chí người giầu cũng không có”. “Sự thay đổi này lớn đến nỗi có nhiều thứ, người ta thậm chí không nhận ra đó chính là nhu cầu cá nhân của ḿnh. Người ta chỉ bắt đầu ư thức khi những nhu cầu đó được tổng hợp, giải thích, và khuyến khích bởi ngành quảng cáo và bán hàng, và nhờ vậy mà hai ngành này trở thành những nghề quan trọng và tài năng nhất của chúng ta”. (Trích chủ nghiă tư bản Phiên bản 3.0 của Peter Barnes).

    John Kenneth Galbraith OC, also known as Ken Galbraith, was a Canadian-American economist, public official and diplomat, and a leading proponent of 20th-century American liberalism.

    The Affluent Society
    Trước năm 1950, nền kinh tế không cung ứng được đầy đủ những thứ người ta cần. Nói cách khác, cầu vượt cung, và có thể gọi giai đoạn đó là chủ nghĩa tư bản khan hiếm. Và có thể đặt cho nó là chủ nghĩa tư bản phiên bản 1.0

    2.- Chủ nghĩa tư bản phiên bản 2.0

    Sau thay đổi này, chúng ta chuyển qua chủ nghĩa tư bản thặng dư.
    Trong phiên bản này, các công ty sản xuất hàng hóa không hạn chế; vấn đề của họ là t́m được người mua. Phải tiêu tốn một khoảng GDP lớn để làm cho người ta muốn mua những sản phẩm họ không cần. Và thời hạn trả chậm được kéo dài thoải mái, để có thể bán được những sản phẩm đó.
    Có thể mô tả bước chuyển biến lịch sử này một cách khác. Cách đây một thế kỷ, cái chúng ta thiếu nhất chính là hàng hóa. V́ vậy cũng dễ hiểu khi người ta hy sinh hết mọi thứ để làm ra hàng hóa cho được, và chủ nghĩa tư bản rất sành sơi việc này. Ngày nay chúng ta đă thừa mứa với những sản phẩm cho nhiều nhu cầu, và những cái chúng ta thiếu cũng đă khác trước. Theo tôi, trong các tầng lớp trung lưu, những thứ khan hiếm nhất là thời gian, quan hệ, và cộng đồng. Đối với người nghèo hàng hóa vẫn thiếu, nhưng không phải thiếu v́ sản xuất không đủ, thiếu là do người nghèo không có đủ tiền để mua. Nói cách khác, cái thiếu quan trọng nhất chính là thu nhập.
    Cũng vậy, trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, đất đai, tài nguyên, và điểm đổ chất thải đầy rẫy; cái thiếu nhất chính là vốn huy động được. V́ vậy người ta đă đặt ra những luật và lệ để dành ưu tiên nhất cho vốn. Tuy nhiên, sang thế kỷ 21, t́nh h́nh đă khác đi. Như nhà kinh tế học Joshua Farley đă nhận định,
    “Nếu chúng ta cần thêm cá trong bữa ăn, th́ cái thiếu không phải là thuyền đánh cá, mà chính là cá. Nếu chúng ta cần thêm gỗ, cái thiếu không phải là xưởng cưa, mà chính là cây”. Chúng ta coi, hay đặt tên cho thời kỳ này là phiên bản 2.0.

    Joshua Farley
    Ecological economics, development economics, economic globalization

    3.- Sẽ chuyển đến chủ nghĩa tư bản phiên bản 3.0 trong tương lai.

    Hiểu qua chủ nghĩa tư bản từ khởi đầu đến cuối thế kỷ 20, có nhiều bất cập, bất công, qúa lạm dụng Công Sản; tận dụng khai thác công sản thiên nhiên, và thải quá nhiều khí thải Carbon vào khí quyển, đổ xuống ḍng sông những chất cặn bă làm ô nhiễm ḍng nước, ô nhiễm nguồn nước ngầm, hủy diệt môi trường. Chủ Nghĩa kinh tế tư bản Phiên bản 1.0 từ đầu đến giữa thế kỷ thứ 19. Bước sang chủ nghĩa kinh tế tư bản phiên bản 2.0 cho đến ngày nay, đă làm thay đổi diện mạo và cơ cấu của trái đất. Mặc dầu đă được cảnh báo rằng, trái đất đang gặp nguy hiểm, nó vẫn tiếp tục như cũ, tựa như một động cơ hơi nước bất kham không có bộ điều tốc. Nó đă xây nên hàng núi của, nhưng rất nhiều của cải đó được lấy ra từ Công Sản mà chúng ta chưa nhận biết ra, và phần lớn trong số đó cũng chẳng giúp chúng ta có thêm hạnh phúc. Những tác nhân chính của chủ nghĩa tư bản, là do các công ty chuyên tối đa hóa lợi nhuận, thực chất đă vượt ngoài tầm kiểm soát, và thành quả từ nỗ lực của các công ty này.

    Tại sao chủ nghĩa tư bản thặng dư lại hành xử như vậy?

    Có thể là do chúng ta cứ toàn thuê những giám đốc điều hành xấu, nhưng tôi lại không nghĩ như vậy. Lỗi chính là do hệ điều hành, mà cũng c̣n do lỗi của các cơ quan công quyền không quan tâm đủ về địa hạt luân lư đạo đức của xă hội. Tạo lư cớ cho các giám đốc điều hành phải hành động, không nghĩ ǵ đến thế hệ tiếp theo, mà chỉ nghĩ đến lời lỗ trong quư sau. Điều này cho thấy, nếu chúng ta muốn thay đổi những kết quả của chủ nghĩa tư bản phiên bản 2.0, chúng ta phải nâng cấp hệ điều hành giữa các công ty và công quyền.
    Trên hành tinh nhỏ bé có sự sống của chúng ta hôm nay, có nhiều chủng loại, có những loài đă bị tận diệt v́ con người, và con người th́ sinh sôi nẩy nở đến con số trên 6 tỷ. Nếu chúng ta, những nhà tư bản, những đại công ty, những ngân hàng lớn, không nghĩ đến hậu vận của các thế hệ sau, hậu vận của trái đất, mà chúng ta chỉ nghĩ đến lợi nhuận. Chắc chắn trái đất này sẽ bị lâm nguy, các thế hệ sau của chúng ta sẽ gặp khốn đốn. V́ càng ngày, các nước có công nghiệp lớn càng thải nhiều khí thải vào bầu trời, nhiệt độ trái đất nóng dần, băng tan, mực nước biển dâng lên, khí hậu thay đổi bất thường gây hạn hán và băo lụt. Càng thải nhiều chất cặn bă xuống các ḍng sông, càng hủy diệt nhiều môi trường sống của các sinh vật khác, và cũng hủy diệt chính môi trường sống của con người.

    Công Sản là chi?

    Công Sản là tài sản Tạo Hóa đă ban sẵn cho con người cùng muôn loài được hưởng từ khi vũ trụ được tạo thành, ngày nay con người khai thác và xử dụng thái quá, không tôn trọng nhau mà chỉ nghĩ đến lợi nhuận của một thiểu số, của công ty mà quên đi số đông chiếm đến 95% dân số của thế giới, nhất là số dân đông đảo này lại nằm ở chiếu dưới, hạng ba trên địa cầu. Không khí, nước sạch, trái đất là của chung mọi người, các công ty và những người giầu có không được quyền tước đoạt của họ. Trả cho họ bầu trời trong lành, có mưa thuận gió ḥa, đừng vắt cạn kiện ḍng nước. Khai thác rừng có kế hoạch và phải gây lại rừng để tránh mưa lũ và lụt lội. Không bao giờ thải các chất thải gây ô nhiễm xuống các ḍng sông, các công ty phải xử lư các chất cặn bă hợp lư, không v́ lợi nhuận mà gây hại cho các thế hệ về sau.
    Mỗi người cần một nơi ở trên địa cầu, v́ đất đai Tạo Hóa đă dành sẵn cho họ, phải cho họ một chỗ để ở. Không v́ quyền lợi của các công ty, v́ đô thị hóa mà tước đoạt nơi ở của họ.
    Chế độ phong kiến cổ xưa, rồi chế độ Cộng Sản không đem lại công bằng cho xă hội, ấm no hạnh phúc cho con người.
    Nhưng chế độ Tư Bản có đem lại công bằng và hạnh phúc ấm no, cho chính những người dân của đất nước họ hay không?
    Đây cũng là những vấn đề vô cùng nan giải và phức tạp trong chế độ Tư Bản hôm nay, sau cuộc khủng hoảng tài chánh thế giới vừa qua.
    Chỉ có một thiểu số khoảng 5% các nhà tỷ phú, các công ty cổ phần lớn, các ngân hàng đă nắm đến 95% tài sản của nước Mỹ. Chính họ đă tạo ra cuộc khủng hoảng tài chánh thế giới, làm cho giới cầm quyền phải điên đầu, vận động quốc hội biểu quyết, dùng công quỹ quốc gia, mà công quỹ của quốc gia là do người dân nghèo phải đóng thuế, để bù lỗ cho các công ty, ngân hàng, hầu vực dậy nền kinh tế. Lời bạc tỷ th́ người giầu bỏ vào túi riêng, lỗ bạc tỷ th́ chính quyền huy động dân đóng thuế bù lỗ.
    Đó là chưa kể tài nguyên thiên nhiên Trời đă ban sẵn cho con người từ khi tạo nên vũ trụ, như bầu trời, không khí, các tần số phát thanh, truyền h́nh; nguồn nước ngầm, biển khơi, rừng. Những Công Sản thiên nhiên trên đă bị những đại công ty, những nhà tỷ phú khai thác không trả tiền, không nghĩ đến những tác hại và trách nhiệm trong hiện tại, và c̣n di lụy đến các thế hệ về sau như: thải bừa băi khí CO2 vào khí quyển, làm cho địa cầu nóng lên, băng đá ở miền bắc cực tan dần, mực nước biển dâng cao, gây cho nhiều phần đất trên thế giới bị ngập lụt.
    Các nhà máy lớn thuộc loại đại kỹ nghệ, của các đại công ty, ngoài việc thải khí thải lên bầu trời, c̣n thải các chất cặn bă xuống các ḍng sông, gây ô nhiễm ḍng nước, làm cho các sinh vật sống dưới nước, có những sinh vật đă bị tuyệt chủng. Những động vật sống trên cạn gần các ḍng sông bị bệnh tật. Và cuối cùng đến cộng đồng dân cư sống gần khu vực các nhà máy, ḍng sông ở chung quanh, cũng bị nhiều biến chứng như ung thư, thế hệ trẻ khi sinh ra mang những dị tật.
    Nạn khai thác rừng bừa băi v́ lợi nhuận, không nghĩ đến bảo vệ rừng có kế hoạch, trồng rừng, gây nên cảnh khi mưa lũ bị bào ṃn các chất màu mỡ ở mặt đất, gây cảnh sa mạc hóa, đồi trọc, đồng không. Tận diệt nhiều thứ động vật hiếm quư.
    Khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, thải quá nhiều khí thải vào bầu trời (người ta tính chỉ một ḿnh nước Mỹ thôi, đă thải ra 35% khí thải lên bầu trời). Thử tính xem, các nước kỹ nghệ khác ở Âu Châu, Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ, và cường quốc kỹ nghệ mới Trung Cộng, phun khói từng giây phút lên không gian, th́ thử hỏi, bầu khí quyển chúng ta đang sống rồi sẽ bị ngột ngạt đến chừng nào.

    Lượng khí CO2, mà Tàu cộng được phép thải so với thế-giới (Hiệp ước Paris do Obama ký)
    Công sản Trời ban cho nhân loại, đă bị những người ở chiếu trên, những nhà tỷ phú, các công ty xử dụng độc quyền, xử dụng bừa băi, xử dụng mà không hề nghĩ đến các thế hệ sau chúng ta. Đây thật là một tai họa, nếu ở trong chế độ tự do tư bản không sớm nghĩ đến và đưa ra được một quy luật để bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn những kho tàng Trời ban cho loài người, không phân biệt ranh giới giầu nghèo, th́ thế giới chúng ta đang sống sẽ tự bị hủy diệt, dù cho ngày gọi là tận thế chưa đến

    Bùi Văn Đỗ
    Cái Đ́nh - 2009

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 11 users browsing this thread. (1 members and 10 guests)

  1. nguoi gia

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •