Page 3 of 5 FirstFirst 12345 LastLast
Results 21 to 30 of 49

Thread: Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh

  1. #21
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh
    TÔI ĐI T̀M MỘ CỤ HỒ SĨ TẠO
    Phạm Xuân Cần

    .

    Bác Hồ Thanh Chương, nguyên là đại tá, Hiệu trưởng Trường Đại học An ninh nhân dân, ở thành phố Hồ Chí Minh, quê làng Lai Nhă, xă Thanh Khê, huyện Thanh Chương. Bác là cháu nội cụ cử nhân Hồ Sĩ Tạo, đồng thời cũng là em đồng hao của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Bác cho biết, bác quê ở Thanh Chương, nên sau mới đổi tên từ Hồ Giả Chương thành Hồ Thanh Chương. Tuy nhiên, bác không sinh ra và lớn lên ở Thanh Chương, mà sinh ra và lớn lên ở Quảng Trạch, Quảng B́nh, nơi cụ Hồ Sĩ Tạo trước đây đă từng làm tri phủ. (Hai con trai của bác Chương được đặt tên là Quảng và B́nh). Đă hàng chục năm bác Chương không về quê, nhưng vẫn canh cánh bên ḷng chuyện chưa t́m được mộ ông nội.

    Bác cho biết ông nội bác sau khi thôi chức Tri phủ Quảng Trạch, th́ về quê dạy học ở Thanh Trường, Thanh Chương (Nay gọi là xă Xuân Tường). Nơi cụ mở trường dạy học về sau được gọi là Cồn Trường. Tại đây cụ gá nghĩa với một người phụ nữ, thường gọi là bà Chổi. Có lẽ do bà thường đi bán chổi kiếm ăn. Đó là người đàn bà thứ năm của bậc tài hoa và đào hoa Hồ Sĩ Tạo. Theo bác Chương, sau khi mất, cụ Hồ Sĩ Tạo không được chôn cất ngay, mà học tṛ của cụ c̣n để đến ba tháng sau mới làm lễ. (Điều này hơi khác với những ǵ mà ông Trường Lam Hồ Sĩ Sênh đă viết trong bài kư nổi tiếng “Chuyện ở sân sau”).

    Đầu năm 1998, sau khi nghỉ hưu, bác Hồ Thanh Chương từ thành phố HCM ra Vinh, cùng anh em chúng tôi là những học tṛ của bác đi t́m mộ cụ Hồ Sĩ Tạo. Đó cũng là chuyến về quê đầu tiên sau hơn hai mươi năm của bác.

    Về quê, bác Chương chỉ có một nguồn tin duy nhất do bà cô cho biết: mộ cụ Hồ Sĩ Tạo ở xă Thanh Trường, huyện Thanh Chương. Mộ có một tấm bia đá nhỏ, bị sứt góc phía bên trái. Bà c̣n cho biết ở xă này có một ông già họ Mai biết nơi đặt ngôi mộ.

    Xuất phát từ Vinh từ sáng sớm, việc đầu tiên của chúng tôi là t́m ông già họ Mai. Gần trưa th́ mới t́m được ông cụ họ Mai. Qua một vài câu chuyện, tôi đă hơi nghi ngại, v́ ông cụ đă bắt đầu lẫn. Ông kể chuyện đi chiến dịch Điện Biên phủ gặp Bác Hồ, nói chuyện đồng hương với Bác, mà quả thật tôi cũng không biết thực hư ra sao. Nhưng dù sao ông cụ cũng là điểm tựa duy nhất lúc này, v́ vậy vẫn phải mời cụ lên xe ra “hiện trường”. Đến nơi ông cụ khoát tay chỉ một vùng đồi rộng lớn và nói: “ở đây”. Đây là vùng đồi chắc là đă chia cho từng hộ gia đ́nh, nên được ngăn cách bằng những hàng rào bằng tre, hoặc những loại cây có gai. Nh́n khắp nơi tôi không hề thấy dấu hiệu ǵ là có mồ mả cả. Ban đầu chúng tôi c̣n theo ông cụ, luồn hết đồi này sang đồi khác, nhưng càng đi càng thấy mông lung, nên sau tôi bàn với bác Chương, chia ra mỗi người một khu vực để t́m. Thế nhưng, càng t́m càng mất hút, nh́n chỗ nào cũng tưởng như là có ngôi mộ, nhưng đến gần th́ không thấy có dấu hiệu ǵ.

    Đă quá trưa, đói và mệt, lại bị gai cào, ông cụ và cả bác Chương nữa cũng không biết đang t́m ở đâu, tôi ngồi xuống nghỉ một chốc cho lại sức. Đang nghỉ, tự nhiên thấy một bé trai độ chín mười tuổi cũng đang ḷ ḍ t́m kiếm ǵ đó trong vườn đồi. Tôi gọi cháu đến và hỏi: “Cháu ở đây có biết chỗ nào có ngôi mộ không?”. Cháu bé trả lời ngay: “Đằng bụi tre này có cái bia chú ạ”. Nói rồi nó tất tả đi trước chỉ cho tôi đến chỗ có tấm bia. Tấm bia quay lưng vào một lùm tre, xung quanh cây cối rậm ŕ. Có lẽ đă hàng chục năm không người chăm sóc, ngôi mộ không c̣n nhô lên nữa. Nó chỉ c̣n là một tấm bia đá nhỏ cắm giữa cây dại, phía sau là lùm tre đă bắt đầu lấn ra cả phía tấm bia. Tôi gần như quỳ ngay xuống tấm bia khi nh́n thấy nó. Đây rồi, bị sứt góc phía bên trái! Mấy chữ Hán trên bia hăy c̣n rơ. Tôi bứt vội mấy lá cây xát lên bia và đọc được chữ “Hồ”, chữ “Tiểu”, dưới đó là một chữ ǵ đó rậm ŕ, có bộ thủy, cuối cùng chữ “chi mộ” th́ quen rồi, biết ngay. Tôi c̣n đọc được chữ “Quảng”, chữ “Phủ” phía bên phải. Sao lại là “Hồ Tiểu” nhỉ, ông là Hồ Sĩ Tạo kia mà, chữ Sĩ và chữ Tạo th́ tôi biết. Nghĩ thế, nhưng tôi vẫn tin chắc là mộ cụ Hồ Sĩ Tạo. Tôi khum tay gọi bác Chương vang động cả vùng đồi.

    Măi hàng chục phút sau bác Chương mới bươn đến, mặt mũi đỏ bừng, mồ hôi, mồ kê nhễ nhại. Ông quỳ ngay xuống trước tấm bia. “Đây thật rồi! Đây thật rồi!”. Tôi hỏi: “Nhưng tại sao lại là Hồ Tiểu hả bác?”. Bác Chương nói ngay: “Hồ Tiểu Khê! Hồ Tiểu Khê! Tiểu Khê là tên hiệu của ông nội ḿnh. Tiểu Khê nghĩa là ḍng suối nhỏ”. Thế th́ chính xác rồi. Tôi vào một gia đ́nh có nhà gần đó mượn một con dao. Hai thầy tṛ cùng chặt cành, phát quang, dọn sạch khu vực quanh tấm bia. Sau đó, đem hương mang theo, thắp hương cắm lên mộ. Hai thầy tṛ đứng nghiêm trước mộ phần của cụ, nghẹn ngào, không nói được lời nào. Bác Chương chắc xúc động lắm. Nguyện ước cả đời đă đạt được. Để chắc chắn hơn, tôi cẩn thận chép lại từng chữ Hán trên tấm bia. Tối hôm đó cha tôi đă dịch nội dung tấm bia. Ḍng trên cùng là chữ Lai Nhă thôn. Bên trái là “mậu th́n giải nguyên’, bên phải là “Quảng Trạch tri phủ”, chính giữa là “Hồ Tiểu Khê chi mộ”. Có nghĩa: Mộ của Hồ Tiếu Khê, người làng Lai Nhă, đậu giải nguyên năm Mậu th́n, làm tri phủ Quảng Trạch.

    Xong nghi lễ, hai thầy tṛ vào gia đ́nh có khu vườn đồi. Bác Chương cám ơn gia đ́nh, gửi lại cho họ một ít tiền, nhờ chăm sóc, hương khói cho phần mộ trong lúc chưa tôn tạo lại được. Ông chủ nhà cho biết cách đó chừng tám chín, năm, tức là khoảng năm 1989, 1990 ǵ đó cũng đă có một vài người, nói là cán bộ văn hóa về t́m ngôi mộ. Gia đ́nh cũng biết ngôi mộ này chắc là của một nhân vật quan trọng, nên cũng có ư thức giữ ǵn.

    Có một chút ân hận nhỏ, là mải lo chuyện, tôi quên mất đứa trẻ đă chỉ cho ḿnh ngôi mộ, khi hỏi ông chủ nhà th́ ông cũng lắc đầu “không biết đứa mô”. Ông già họ Mai cũng vậy. Xong việc, tôi lại bươn khắp vùng đồi, vừa gọi vừa t́m ông, nhưng măi vẫn không thấy. Tin chắc không có ǵ bất trắc, thầy tṛ chúng tôi đành lên xe, không quên ghé qua nhà ông gửi cho gia đ́nh một ít tiền, thay lời cám ơn.

    Chiều hôm đó bác Chương mới về đến Thanh Khê, sau hơn hai mươi năm. Họ hàng đón ông mừng mừng tủi tủi. Tiếp chuyện với chúng tôi là ông Hồ Sĩ Dũng, gọi bác Chương bằng bác. Ông Dũng người trông khắc khổ, nhưng tỏ ra khá hiểu biết về lịch sử và văn hóa. Sau khi nghe kể lại quá tŕnh t́m mộ, ông tỏ ra tiếc rẻ. “Nếu bác về quê trước th́ chắc không vất vả như vậy, v́ ở quê vẫn có một số người biết ngôi mộ này”. Ông cũng kể nhiều giai thoại về cụ Hồ Sĩ Tạo. Ông cho biết, cụ Hồ Sĩ Tạo có một tập thơ, tựa là “Tiểu Khê thi tập”, gồm trên dưới một trăm bài thơ. Những năm 60, 70 có đoàn sưu tầm văn hóa dân gian của tỉnh về đă mượn tập thơ đó, nay chắc Phó giáo sư Ninh Viết Giao đang giữ. Ngay hôm sau về Vinh, tôi đă nhờ người đưa bác Chương lên gặp PGS Ninh Viết Giao. Hai người nói chuyện rất tâm đắc về Hồ Sĩ Tạo. Nhưng về tập thơ, ông Giao cho biết ông cũng nghe nói vậy, chứ chưa hề nh́n thấy nó. Nếu có th́ chắc chắn ông đă t́m cách giới thiệu rồi. Gần đây nhà nghiên cứu Trần Minh Siêu, tác giả nhiều công tŕnh nghiên cứu về gia đ́nh Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói cụ Hồ Sỹ Tạo có một tập nhật kư t́m họ, nói về việc t́m lai lịch họ Hồ, không biết nay thất lạc ở đâu.

    Sau chuyến đi t́m mộ, bác Chương c̣n về nhiều lần nữa. Ngôi mộ đă được sửa sang lại khang trang hơn và đă được con cháu lui tới chăm sóc. Năm 2010, ngôi mộ đă được đầu tư tôn tạo lại hết sức khang trang. Hôm trở lại đây dự lễ khánh thành ngôi mộ, tôi hầu như không nhận ra nơi mười hai năm về trước ḿnh đă có một chuyến đi vất vả mà đầy ư nghĩa. Buổi lễ khánh thành được tổ chức thật trọng thể và nghiêm trang. Ban liên lạc họ Hồ toàn quốc, cùng với con cháu khắp trong Nam ngoài Bắc về dự. Trong các đoàn lên dâng hương, tôi nghe giới thiệu cả đoàn đại biểu họ Hà. Tôi được bác Hồ Thanh Chương trịnh trọng giới thiệu là “một ân nhân của họ Hồ ta”. Tự nhiên nước mắt cứ thế tuôn trào. Hôm đó, bác Chương cũng thay mặt con cháu nói mấy câu cám ơn. Một vị được giới thiệu là trưởng ban sử của ḍng họ lên nói vanh vách về lịch sử họ Hồ và Hồ Sĩ Tạo. Ông không ngần ngại tŕnh bày hết sức rơ ràng, thuyết phục về những ǵ gọi là giai thoại, là thâm cung bí sử quanh nhân vật Hồ Sĩ Tạo.

    Lại nhớ, buổi chiều của năm 1998 ở Thanh Khê. Khi bước vào nhà thờ họ thắp hương, tôi, bác Chương và mấy người cùng đi sửng sốt trước bức phả hệ được vẽ trên tấm vải trắng, treo trang trọng giữa nhà thờ. Trên đó, dưới cái tên Hồ Sĩ Tạo có một mũi tên chỉ xuống. Dưới mũi tên là những cái tên quen thuộc. Bác Chương nghiêm sắc mặt: “Không được! Không được!”. “Chi mà không được bác?”, ông Hồ Sỹ Dũng nói. “Không được là không đươc. Đă rơ ràng chi mô!”. “Bác hay thật. Có chi nữa mà không rơ ràng?” “Không được”. Bất giác, tôi cũng nói theo bác Chương: “Không được. Không được…”






    Ảnh: 1- Trước mộ cụ Hồ Sĩ Tạo khi vừa t́m thấy ngày 12/4/1998; 2- Bia mộ cụ Hồ Sĩ Tạo; 3- Mộ cụ Hồ Sĩ Tạo hiện nay.





    Câu chuyện về cụ thân sinh ra
    Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Phó bảng
    Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy

    Trần Quốc Vượng

    (Trích từ cuốn Trong Cơi, xuất bản tại Mỹ. Chương 15. Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia – Kinh nghiệm điền dă)

    Tôi đă mở (đầu) bài kinh nghiệm điền dă Folklore này của ḿnh bằng câu chuyện một vị tiến sĩ vô danh, nghĩa là không c̣n tên tuổi, để dẫn dắt đến câu chuyện của những người có tên tuổi.

    Đến đây tôi sẽ khép (lại) bài kể lể khá dài ḍng của ḿnh bằng câu chuyện một người tuy có tên tuổi nhưng không lấy ǵ làm nổi tiếng lắm, hay đúng hơn đă trở nên có tên tuổi nhờ gắn bó máu thịt với một người tên tuổi (nhưng từ đầu đến cuối câu chuyện của tôi đều nói về các nhà Nho, các vị thái học sinh, tiến sĩ, bảng nhăn hay là phó bảng cả).

    Đó là câu chuyện về cụ thân sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy.

    Phó bảng là một học vị tiến sĩ, chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam từ đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn (1830-31).

    Trong một lá đơn bằng tiếng Pháp gửi bộ Thuộc địa Pháp, Nguyễn Tất Thành (sau là Hồ Chí Minh) đă khéo dịch tên học vị của phụ thân ḿnh là sous docteur (1), như ngày nay ta gọi là phó tiến sĩ.

    Quê hương cụ, là làng Kim Liên, tên nôm là làng Sen, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nhưng đậu phó bảng rồi cụ đă làm thừa biện bộ Lễ ở Huế rồi tri huyện B́nh Khê (B́nh Định). Rồi bỏ quan (hay bị cách chức quan) cụ phiêu dạt vô Sài G̣n, ngồi bắt mạch kê đơn ở tiệm thuốc bắc Hoa kiều, để có chút cơm rượu… Lại phiêu lăng nữa, tới miền Tây Nam bộ, và cuối cùng mất ở Cao Lănh (Sa Đéc nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Mộ cụ phó bảng được xây lại cuối năm 1954 sau sự kiện Genève tạm thời chia đôi đất nước Việt Nam.

    Người ta làm thế là v́ cụ Hồ. Cũng như mộ bà Hoàng Thị Loan vợ cụ và là thân mẫu Hồ Chí Minh mới được dời xây lại vài năm nay ở Nam Đàn, Nghệ An. Người ta làm thế cũng là v́ cụ Hồ. Hai ngôi mộ này, cũng như bản thân Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh giữa ḷng Ba Đ́nh, Hà Nội đều hiện hữu ngoài ư thức chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Hồ vốn được xem là người giản dị, khiêm nhường…

    Cũng đă có dăm cuốn sách nói về gia thế cụ Hồ Chí Minh. Nhưng câu chuyện tôi sắp kể dưới đây th́ chưa từng ai viết.

    Chỉ là lời truyền miệng dân gian, ở Kim Liên, Nam Đàn, ở một số người gốc Nghệ hiện sống tại Hà Nội và nhiều nơi khác trên mảnh đất Việt Nam. Nếu trong Folklore, có hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là lan truyền th́ từ lâu câu chuyện này cũng đă lan truyền từ làng Kim Liên ra khắp huyện Nam Đàn rồi khắp tỉnh Nghệ Anh rồi rộng ra hơn nữa… Nhưng phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. V́ người ta Sợ.

    Sợ động chạm đến cụ Hồ. Một cái sợ vô nghĩa nhưng người ta cứ gán cho nó cái ư nghĩa chính trị giả tạo. V́ như bà Trịnh Khắc Niệm viết trong cuốn tiểu truyện bằng tiếng Anh “Life and Death in Shanghai” (2), đă được phiên dịch ra tiếng Việt: Ở xă hội xă hội chủ nghĩa, cuộc đời của các lănh tụ cộng sản được coi là “bí mật quốc gia”.

    Nhưng đây không phải là chuyện cụ Hồ, tuy cũng có dính dáng đến cụ Hồ. Mà v́ đây là chuyện cụ thân sinh ra cụ Hồ. Cụ Nguyễn Sinh Huy. Mà cũng là truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử, như tôi đă nói từ đầu bài này.

    Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc ḍng máu mủ của họ Nguyễn Sinh làng này. Mà là con của một người khác: ông đồ nho, cử nhân Hồ Sĩ Tạo.

    Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc ḍng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (đây là quê gốc của Hồ Quư Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ), đây cũng là quê hương Hoàng Văn Hoan, người đồng chí thân cận một thời của cụ Hồ Chí Minh, được cụ Hồ giao phụ trách công tác đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa thời kháng chiến chống Pháp và là Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa, sống lưu vong ở Trung Hoa, có viết một tài liệu lịch sử làng Quỳnh Đôi quê ông, bà vợ nhà văn lớn Đặng Thái Mai, người một thời làm Bộ trưởng Giáo Dục trong chính phủ của cụ Hồ 45-46 rồi làm Viện trưởng viện Văn Học, là Hồ Thị Loan, cũng thuộc ḍng họ Hồ này ở làng Quỳnh Đôi). Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX) cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xă Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen (Kim Liên). Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có phường hát ả đào.

    Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là múa đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô Đèn. Người ta thường bảo: má hồng th́ mệnh bạc. Như Đặng Trần Côn viết mở đầu khúc ngâm chinh phụ: “Hồng nhan đa truân” (Gái má hồng nhiều nỗi truân chuyên). Hay như Nguyễn Du than thở dùm người đẹp tài hoa trong truyện Kiều: “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”… “Rằng hồng nhan tự thuở xưa, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”…

    Vả ở thời ấy, dưới chế độ quân chủ nho giáo lấy tứ dân (Sĩ Nông Công Thương) làm gốc, người ta vẫn xem thường nghề ca xướng và con nhà ca xướng “Xướng ca vô loài”.

    Cô Đèn, Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà th́ lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” là lẽ thường theo tâm lư dân gian, huống chi là giữa văn nhân – tài tử – giai nhân: “Trai tài Gái sắc” mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng “không chồng mà chửa”. Mà ông cử Tạo th́ đă có vợ có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề, sỉ nhục hạng gái “chửa hoang” hạng “gian phu dâm phụ”. Để tránh nỗi nhục cho con gái ḿnh và cho cả ông cử Tạo đang làm “thầy đồ” được hết sức kính trọng trong nhà ḿnh, nhà họ Hà phải bù đầu suy tính…

    Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xă có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ (bà vợ trước đă có một con trai là Nguyễn Sinh Thuyết, và người con trai này cũng đă có vợ).

    Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đ́nh, “cho không” cô Hy làm vợ kế ông này, như một người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ th́, lấy ông già góa vợ, mong ém nhém việc cô gái đă “to bụng”.

    Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới có cheo cẩn thận. Việc phạt vạ của làng không thể xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc th́ bao đêm khóc thầm v́ bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lăo nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn v́ đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn “của thừa”, “người ăn ốc (ông cử Tạo), kẻ đổ vỏ (cụ lăo nông Nhậm)”. “Miệng tiếng thế gian x́ xầm”, ai mà bịt miệng nổi dân làng. Mà trước hết là lời “nói ra nói vào”, lời ch́ chiết của nàng dâu vợ anh Thuyết, vốn nổi tiếng ngoa ngoắt, lắm điều. Ông Nhậm đành cho con trai và vợ anh ta ra ở riêng, và ḿnh ở riêng với bà vợ kế.

    Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đă sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc, lấy họ ông, mặc dù ông biết rơ hơn ai hết đó không phải là con ông, con nhà họ Nguyễn Sinh này. Nàng dâu ông càng “tiếng bấc tiếng ch́” hơn trước v́ ngoài việc bố chồng “rước của tội của nợ”, “lấy đĩ làm vợ” th́ nay c̣n nỗi lo: Người con trai này – được ông nhận làm con – lớn lên sẽ được quyền chia xẻ cái gia tài vốn cũng chẳng nhiều nhặn ǵ của một gia đ́nh nông phu thôn dă. Việc ấy xảy ra vào năm Quư Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).

    V́ trọng tuổi, lại v́ lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên 4, về ở với người anh gọi là “cùng cha khác mẹ” mà thật ra là “khác cả cha lẫn mẹ”, cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ muốn tống cổ cái thằng “em hờ” của chồng đi cho “rảnh nợ”.

    Không cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về vật chất như thế nào trong cái cảnh nhà Nguyễn Sinh như vậy. Ta cảm thấy vô cùng thương xót một đứa trẻ mồ côi sớm chịu cảnh ngang trái của cuộc đời. Bên ngoại th́ ông bà đều đă mất, họ hàng chẳng c̣n ai chịu cưu mang đứa trẻ có số kiếp hẩm hiu này.

    May có ông Tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa (Hoàng Trù) gần đó, xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là ḥn máu rơi của một nhà nho khác, lại có vẻ sáng dạ, nên đă đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu ḷng, Hoàng Thị Loan, mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ăn ở riêng. Ta dễ hiểu v́ sao Nguyễn Sinh Sắc gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ, làng Chùa, hơn là với làng Sen “quê nội”, “quê cha hờ”. Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi ông Cả Đạt) đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành, sau này là Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên ở làng Chùa bên quê mẹ hay là quê ngoại. Khi ông Tú Hoàng (Hoàng Xuân Đường) mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà đồ Hoàng. Các cháu đều quấn quít bên bà ngoại.

    Qua giỗ đầu cụ tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng học điền, ruộng công của làng Chùa chia cho những người có học (nhằm khuyến khích việc học) để học thêm, chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), ông thi trượt.

    Nhờ sự vận động gửi gắm của ông Hồ Sĩ Tạo, người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc, với các quan lại đồng liêu quen biết ở triều đ́nh Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô. (Ai cũng biết: Để được nhận vào học Quốc Tử Giám và làm giám sinh phải là con cháu của những gia đ́nh có thế lực gọi là “danh gia tử đệ”. Nếu không có sự can thiệp của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cao quan th́ làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn c̣n có một “cử chỉ đẹp” với đứa con mà ḿnh không dám nhận). Nguyễn Sinh Sắc, đổi tên là Nguyễn Sinh Huy, đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898) ông lại trượt.

    Ngày 22 tháng chạp năm Canh Tư (10-2-1901), bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ngày sau) trở thành con trai út.

    Nguyễn Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng chăm sóc dùm, rồi trở vào kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu phó bảng và được “vinh quy bái tổ” về làng. Theo thể thức triều đ́nh, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội, dù là quê nội danh nghĩa, tức là làng Sen – Kim Liên. Hội đồng hương lư và dân xă dựng nhà tranh 5 gian (chứ không phải nhà ngói) trên một khoảnh đất vườn làng Sen, để đón quan Phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về làng.

    Thế là buộc ḷng ông phải về “quê nội”. Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh Côn (Hồ Chí Minh ngày sau), về ở quê nội, nhưng thân ông, ḷng ông vẫn hướng về quê ngoại là cái ǵ “đích thực” và gắn bó với tuổi thơ ông. Ông Phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.

    Nhưng gia đ́nh ông phó bảng cùng hai con trai cũng không ở lâu tại Kim Liên. Chưa đầy 3 năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô nhận chức quan (1904) ở bộ Lễ, đem theo hai con trai vào Huế học. Năm 1907 ông bị đổi đi Tri huyện B́nh Khê… Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan, khoảng 1910), ông phiêu bạt vô Sài G̣n rồi lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa…

    *

    Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đ́nh riêng.

    Người ta bảo lúc sau khi cụ Hồ Sĩ Tạo đă qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái “bí mật” về cội nguồn của cụ Phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông sang Quỳnh Đôi nhận họ.

    C̣n Nguyễn Sinh Côn – Nguyễn Tất Thành có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông biết? Hay là trước đó nữa, khi ông ở làng Chùa quê ngoại gần gặn với làng Sen! Hay là sau đó nữa chả nhẽ không khi nào cụ Phó bảng hay bà Thanh hay ông Đạt lại không kể với ông về “bí mật” của gốc tích phụ thân ḿnh?

    Không có chứng cớ ǵ về việc ông Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc, biết hay không biết chuyện này… Sau này khi hoạt động cách mạng, ông c̣n mang nhiều tên khác nữa…

    Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, th́ người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh.

    Sau Cách mạng tháng Tám 1945, khi tên tuổi Hồ Chí Minh trở thành công khai th́ cũng bắt đầu từ đó dân gian Việt Nam, từ trí thức đến người dân quê, lại âm thầm bàn tán: V́ sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là Hồ Chí Minh? Và tên này cụ giữ măi cho tới khi “về với Các Mác, Lê Nin” năm 1969.

    Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh c̣n quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng ǵ một cái tên! Và biết làm sao được khi cụ Hồ, tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức của người Ấn Độ, đă trở thành một huyền thoại. Huyền thoại Hồ Chí Minh được h́nh thành trong vô thức dân gian mà Carl Gustav Jung gọi là vô thức tập thể. Nhưng nó cũng có phần được h́nh thành một cách hữu thức, bởi một số cán bộ gần gụi cụ Hồ. Nghĩa là một phần cuộc đời cụ Hồ đă được huyền thoại hóa.

    Ngay sau cách mạng tháng Tám, người ta c̣n in cả một cuốn sách (mỏng thôi) về sấm Trạng Tŕnh có những câu vận vào cụ Hồ và sự nghiệp cách mạng tháng Tám. Và sấm Trạng Tŕnh vẫn được vận vào cụ Hồ c̣n lâu về sau nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù là với hậu ư không ưa ǵ cụ Hồ… Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.

    Trở lại với cái tên Hồ Chí Minh, lời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đă lấy lại họ Hồ v́ cụ biết ông nội đích thực của ḿnh là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.

    Và dân làng Sen cũng bảo: Th́ cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau cách mạng, sau mấy chục năm xa quê (15-6-1957), từ thị xă Vinh – tỉnh lỵ Nghệ An, cụ Hồ đă về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen “quê nội” (3)!

    Riêng tôi nghĩ, th́ cũng phải thôi. V́ như ở trên ta đă thấy, cả một thời thơ ấu của cụ Hồ là gắn bó với quê ngoại làng Chùa, nơi cụ sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải làng Sen, là nơi cụ chỉ ở có vài năm, lại là khi đă bắt đầu khôn lớn?

    *

    Tôi không muốn có bất cứ một kết luận “khoa học” ǵ về bài viết này. V́ nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm hay là cái “mặc cảm” của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán Siêu, Chu Văn An) đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng quê (4).

    C̣n viết lách, th́ bao giờ chẳng là chuyện:

    “Thư bất tận ngôn, Ngôn bất tận ư”
    (Viết không (bao giờ) hết lời nói,
    Lời nói không (bao giờ) hết ư!)

    Tháng 1-1991

    (1) Xem phụ bản bức thư này công bố trong: G. Boudarel, La Bureaucratie au Vietnam, par L’Harmattan, 1983.
    Nguyễn Thế Anh: Du rêve mandarinal au chemin de la Révolution, Ho Chi Minh et l’école coloniale, La Voie nouvelle (Đường Mới) N1, Paris 6/1983, p. 13-14.
    Một chút về tiểu sử Nguyễn Sinh Sắc và thời thơ ấu của Hồ Chí Minh, xin xem Sơn Tùng, Búp Sen Xanh (in lần thứ 2, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1984). Cuốn sách này tuy là “tiểu thuyết”, khi mới in lần thứ nhất, đă bị cán bộ Viện bản tàng Hồ Chí Minh phê b́nh trên báo Nhân Dân là có những chi tiết không đúng sự thực lịch sử (chủ yếu là mối t́nh đầu của cụ Hồ).

  2. #22
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh
    Câu chuyện về cụ thân sinh ra
    Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Phó bảng
    Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy
    Nấm mộ ông Thầy Quảng


    BS Trần Ngươn Phiêu

    Trong số báo Xuân Ất Dậu 2005 của Thế Kỷ 21, tác giả Trần Đông Phong có bài “…Hồ Chí Minh và Ngô Đ́nh Diệm”. Trên hai trang 95 – 96, tác giả tường thuật về việc Bộ Trưởng Bộ Kiến Thiết, Hoàng Hùng, năm 1956, đă nhận được chỉ thị của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, cho sửa sang “ đàng hoàng tươm tất” một n ấm mộ vô chủ ở vùng Cái Tôm, Cao Lănh. Người phụ trách việc trùng tu đă được các bô lăo địa phương cho biết, đó là ngôi mộ của Phó bảng Huy, được chôn cất từ năm 1929. Thật ra, Bộ trưởng Hoàng Hùng không phải là người đầu tiên đă đứng ra sửa sang lại ngôi mộ này. Dân địa phương cũng đă biết từ lâu gốc tích của người nằm dưới mộ, được gọi là ông Thầy Quảng. Thân hào nhân sĩ thông hiểu sự việc gọi: đây là mộ thân sinh ông Nguyễn Ái Quốc. Người viết bài này vốn thuộc vùng Cao Lănh, muốn nhân cơ hội, góp thêm vài chi tiết liên quan đến nấm mộ mà một số người đă tưởng là vô chủ. mong rằng đây là một vài dữ kiện để làm tài liệu cho các nhà biên khảo trong tương lai.

    Cao Lănh thường được người miền Nam biết là một quận thuộc tỉnh Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc, nay là tỉnh Đồng Tháp vốn chỉ là một tỉnh nhỏ, nằm bên sông Tiền Giang. Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, vốn một quan chức miền Trung, là người đầu tiên đă có nhiều quyết định phân chia lại vị trí các tỉnh miền Nam theo các kinh nghiệm hành chánh của ông, khiến những người cố cựu vùng sông C?u đă lắm khi bàng hoàng kinh ngạc. Cao Lănh, một địa danh có tiếng hào hùng cách mạng chống Pháp, nhờ vị trí ven biên Đồng Tháp Mười rộng lớn bát ngát. Dưới thời Đệ nhất Cộng ḥa, quận được tách ra thành tỉnh Kiến Phong. Tỉnh Sa Đéc nhỏ bé lại bị chia năm xẻ bảy, các quận khi được sát nhập vào tỉnh Vĩnh Long, khi được hoàn trở lại, lận đận một thời! Vào thời khoảng các thập niên 1920 – 1940, thực dân Pháp đă lưu đày, đưa một số các nhà cách mạng từ Bắc hoặc Trung vào các tỉnh miền Nam. Cụ Dương Bá Trạc bị an trí ở An Giang, Phan Châu Trinh ở Định Tường…Cụ cử Vũ Hoành làm Thủ quỹ cho Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục nên bị Pháp bắt và lưu đày ở tỉnh lỵ Sa Đéc. Dân Sa Đéc đều biết tiếng ông và thường gọi tắt là ông Cử Hoành. Ông sống thanh bạch, làm nghề hốt thuốc Bắc và cư ngụ tại đường Rue des Pêcheurs, bây giờ là đường Nguyễn Trăi. Nhà ông thường có nhiều khách ra vào, phần lớn là những người đến xem mạch xin toa nhưng cũng là nơi nhiều nhà hoạt động cách mạng đến liên lạc. Gần cổng nhà ông, thực dân Pháp thành lập một quán nước nhỏ, cốt để nhân viên mật thám hằng ngày có nơi theo dơi các hoạt động của ông. Ông bác của người viết bài này là Trần Hàm Trung vốn người Hà Tỉnh v́ tham gia Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, cũng bị Pháp lưu đày ở Nha Mân, Sa Đéc. Ông nội tôi, thuộc hạ của Phan Đ́nh Phùng, sau khi phong trào bị tan ră, trở về nhà th́ thôn làng đă bị đốt phá . Ông quyết chí rời bỏ quê, đi bộ vào Nam t́m gặp lại người anh. Ôâng đă gầy dựng cơ nghiệp, vừa dạy học vừa làm ruộng vườn ở xă Mỹ Long, trong quận Cao Lănh. Vào thập niên 1920 – 1930, ở Mỹ Long, cấp Tiểu học chỉ có trường dạy đến lớp Ba. Muốn tiếp tục học, phải qua Sa Đéc. Các chú của tôi v́ vậy đều được ông nội tôi gởi tá túc ở nhà ông Cử Hoành để đi học. Các cụ cách mạng bị lưu đày ở miền Nam đều rất khắng khít với nhau, coi nhau như ruột thịt. Có một năm, gần ngày Tết, ông nội tôi sai hai chú tôi đem trái cây, cam quít của vườn nhà và gạo, nếp, qua Sa Đéc để tặng ông Cử Hoành là nơi hai chú đă có thời được lưu trú và dạy dỗ. Được cho tháp tùng ra tỉnh lỵ, thằng bé nhà quê là tôi lúc ấy mới có được dịp, lần đầu tiên, biết bánh chưng, thịt đông, chả cá… là những món chưa từng được nếm qua. V́ thích khẩu nên tôi ăn một mạch đến gần ba chén cơm. Chú thứ Sáu của tôi thúc cùi tay nhắc: “ Ba chén thôi nghe không?”. Hai chú tôi đă từng sống trong gia đ́nh ông Cử nên biết thông lệ ở gia đ́nh này. V́ nhà luôn luôn tiếp nhiều khách mà khả năng tài chánh lại hạn hẹp nên nhà bếp thường hay hỏi trước mỗi thực khách : trong các buổi ăn, thường dùng bao nhiêu chén cơm để lo liệu nấu cho vừa đủ! Ông Cử là một nhà nho, có nếp sống rất chững chạc. Ngồi vào bàn ăn của ông, lúc nào cũng phải ăn mặc tươm tất. Riêng ông có cái thế ngồi đặc biệt: lúc nào cũng giữ lưng thẳng đứng, ngay ngắn. Ông thường nói: “Tôi không luồn cúi ai nên lưng lúc nào cũng thẳng”. Sau buổi ăn ngày hôm đó, ông ra lịnh cho hai chú tôi: “Chúng mày trước khi về nhà, phải nhớ ghé giẫy mả Cụ Phó bảng như mọi năm. Tập thêm cho thằng cháu nhỏ này phụ việc. Mà phải làm cho tươm tất. Nếu làm cho lấy có. không đàng hoàng, tao sẽ “róc xương” chúng mày”. Đó là lần đầu tiên tôi dược biết về nấm mộ đơn sơ gần Miễu Trời Sanh, cạnh nhiều ngôi mộ hoang khác, ở xă Ḥa An, Cao Lănh. Hai chú tôi cho tôi biết đó là mộ ông thân phụ của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc. Trên đường lưu lạc vào Nam sau khi mất chức ở triều đ́nh Huế, ông đă được ông Cử Hoành rước về Sa Đéc, t́m cho nơi tá túc để hành nghề thuốc. Năm 1929, ông qua đời và được chôn cất tại đây. Hằng năm, nếu ông Cử Hoành không đánh tiếng, ông nội tôi vẫn bắt các chú tôi làm công việc chỉnh trang lại mả này mà dân chúng địa phương gọi là mả ông Thầy Quảng. Các chú tôi cũng lo phát cỏ luôn cho các mả hoang khác, thắp hương cho mỗi mả trước khi về lại nhà. Năm1945, khi khởi đầu cuộc Kháng Chiến Nam Bộ, Tướng Nguyễn Ḥa Hiệp đă rút quân Đệ Tam Sư Đoàn về trú đóng Cao Lănh. Được ông Cử Hoành chỉ dẫn, Nguyễn Ḥa Hiệp thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng, đă đưa các nhân viên bộ tham mưu đến chào kính, viếng mộ thân phụ Hồ Chí Minh. Ông Cử Hoành đă cùng gia đ́nh rời thị xă Sa Đéc, tản cư trên một chiếc ghe và đă qua đời năm 1946 ở Rạch Tân Trường thuộc Xă Mỹ Hội, Cao Lănh. Sau này, do sự t́nh cờ và cũng do liên hệ gia đ́nh bên vợ của tôi nên tôi được biết thêm về những ngày thân sinh ông Nguyễn Ái Quốc khi ông đến trú ngụ ở Sa Đéc. Như nhiều người đă viết trên báo chí, sách vở, tên ông là Nguyễn Sinh Sắc, quê Nghệ-Tĩnh, đỗ Phó bảng và được Triều đ́nh Huế cử làm quan phụ trách một địa phương ở B́nh Định. Trong một cơn say rượu, ông đă lỡ tay đánh chết một can phạm nên bị Triều đ́nh cách chức. Nguyễn Ái Quốc lúc ấy đang trên đường bôn ba ở hải ngoại, đă có viết đơn bằng Pháp văn gởi cho Khâm sứ Pháp ở Huế xin can thiệp để cha được trở lại quan trường nhưng việc đó không có kết quả. Ông Nguyễn Sinh Sắc đă lưu lạc vào Nam và đă có nhiều lần có những cơn say rượu trên đường phố Sài G̣n. Nhà báo Diệp Văn Kỳ đă nhiều phen giúp đỡ khi ông bị khó khăn v́ say rượu nơi công cộng. Khi biết được tin ấy, cụ Cử Hoành đă cho người t́m đưa ông về Sa Đéc. Nơi đây, ông Nguyễn Sinh Sắc đă được giới thiệu đến tá túc ở gia đ́nh một người có hằng sản ở thị xă là ông Vơ Tấn Lập. Ông Cử Hoành có người vợ kế. Bà này là cháu của bà Hồ Thị Xuyến, vợ lẽ của ông Vơ Tấn Lập. Ông Nguyễn Sinh Sắc được cho nương náu ở phần sau của căn nhà, ngày nay mang số 17/ 7 đường Lê Lợi, Thị xă Sa Đéc. Sau 30- 4- 1975, có thể v́ gia chủ căn nhà này là một sĩ quan quân đội VNCH đang bị đi “cải tạo”, chánh quyền địa phương thời đó lại ghi nơi ông Nguyễn Sinh Sắc từng trú ngụ là nhà Bà Chín Đường, nằm ở góc đưởng Rue des Pêcheurs và Quai Tân Quy Đông(?). Về sau, phối kiểm lại, chánh quyền có ư định lấy nhà 17/ 7 đường Lê Lợi làm nhà “Truyền thống” và định gắn Bảng Tri Ân. Nơi đây, ông Nguyễn Sinh Sắc đă từng hành nghề coi mạch. hốt thuốc Bắc và cũng luôn thể, dạy chữ Nho cho con cháu gia chủ. Trong gia đ́nh này, con cháu có lệ gọi cha ḿnh là Thầy. V́ thế nên ông Sắc được mọi người gọi là Thầy Quảng v́ ông từ xứ Quảng vào Nam. Người vợ chánh của gia chủ có tên là Trương Thị Sắc nên ông Nguyễn Sinh Sắc đă đổi tên thành Nguyễn Sanh Huy. Tên này ông dùng để tiện cho các tiệm thuốc Bắc ghi trong sổ để hưởng tiền hoa hồng khi các bịnh nhân đem toa thuốc của ông đến các tiệm này để hốt thuốc. Đó là một thông lệ thương măi của các tiệm thuốc người Tàu. Tiệm thuốc Quản Ḥa Sanh ở chợ Sa Đéc có giữ một sổ ghi chú nhiều lần tên ông Nguyễn Sanh Huy. Ông Nguyễn Sanh Huy có chấm một số tử vi cho cháu gia chủ khi người cháu này ra đời trong thời gian ông Huy đang trú ngụ. Người cháu này tên Vơ Ngọc Lang, khi lớn lên là một sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa, tốt nghiệp khóa 4 trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức năm 1953. Tuy đă được giải ngũ vào tháng 11 năm 1974, sau 30 – 4-1975, ông Lang vẫn bị bắt phải đi “học tập”cho đến tháng Tư năm 1982 mới được thả! Qua Mỹ theo diện HO, ông đang cư ngụ ở Torrance, California và h́nh như vẫn c̣n giữ được lá số tử vi viết tay của ông Thầy Quảng. Tuy được trú ngụ trong gia đ́nh ông nội của ông Vơ Ngọc Lang, nhưng ông Nguyễn Sanh Huy lại thân thích, tâm đầu ư hợp với ông ngoại của ông Vơ Ngọc Lang tên Hà Văn Ngọ. Nhà ông Ngọ ở miệt Chợ Cồn, tỉnh lỵ Sa Đéc. Ông Nguyễn Sanh Sắc thường đến Cao Lănh để xem mạch, hốt thuốc cho các gia đ́nh nghèo ở đó. Các gia đ́nh khá giả khác thường chọn các Thầy có gia sản ở địa phương và ít khi mời ông Thầy Quảng. Vào thời đó và cả cho đến cuối thập niên 1940, sự giao dịch giữa Sa Đéc, Cao Lănh thường được thực hiện bằng loại đ̣ đạp. Đây là một loại đ̣ khá lớn, chuyên chở được trên hai mươi hành khách và hàng hóa. Đ̣ di chuyển do sức đẩy của một bánh xe nước. Bạn đạp đ̣ ít nhất cũng phải đến bốn người. Chợ Cồn là bến đ̣ quan trọng. Ông Nguyễn Sanh Huy thường lên, xuống đ̣ ở bến này và thường nhân dịp, ghé đàm đạo, đánh cờ với ông ngoại của ông Lang. Thêm nữa, mỗi khi đi Cao Lănh, ông Thầy Quảng thường chỉ ở một vài ngày và khi về thường đem các loại dược thảo ông t́m hái được ở Cao Lănh, giao lại nhờ ông ngoại của ông Lang phơi sấy để làm thuốc cho thân chủ nghèo. Một hôm, ông ngoại của ông Lang nhận được thơ do chủ đ̣ đạp đem về từ Cao Lănh. Ngươi đem thơ đă lơ đăng quên đưa thơ khi cập bến Chợ Cồn nên đă đưa trễ khi về đến bến chót ở chợ Sa Đéc. Trong thơ, người cho ông Nguyễn Sanh Huy tá túc mỗi khi ông đến Cao Lănh, báo cho ông Ngọ biết tin ông Huy đang bị bịnh nặng. V́ không biết dùng xe đạp, ông ngoại của ông Lang đă đi bộ đến Cao Lănh để thăm bạn. Vào chiều tối, lúc ông đến nơi th́ ông Thầy Quảng đă chết rồi, thân ḿnh c̣n ấm! Ông cùng chủ nhà tri hô lên, tŕnh cho Hương Quản. Lục giấy tờ trong ḿnh, thấy tên là Nguyễn Sinh Sắc, với số tiền hơn một đồng bạc Đông Dương Ngân Hàng, một số tiền khá lớn thời bấy giờ nhưng chưa đủ để tống táng. Bà con lối xóm đă quyên góp thêm để đủ tiền mua một ḥm rẻ để liệm. Ông ngoại ông Lang đă vào Miễu Trời Sanh, xin ông Chủ Chùa cấp cho một mảnh đất nhỏ, mượn luôn đ̣n và dây luột để khiêng đi chôn cất. Theo tục lệ cổ truyền, đầu ḥm đă được chôn hướng về phía mặt trời lặn để hồn sớm được siêu thăng. Nấm mộ được chôn gần với nhiều mộ vô danh khác nhưng mộ Thầy Quảng đă được nhiều gia đ́nh trong giới cách mạng Sa Đéc chăm lo. Có một giai thoại lư thú ít người biết là vào khoảng 1946, sau khi Thỏa Hiệp Án (Modus Vivendi) được kư kết giữa Hồ Chí Minh và Marius Moutet sau Hội nghị Fontainebleau ở Paris, viên Quận trưởng quận Cao Lănh là Trung úy người Pháp tên Menut đă cho người đắp đất, làm cỏ cho ngôi mộ!. Trước đó, một nông dân tên Tư Quyết, có việc đi từ Sa Đéc về Cao Lănh bằng xe ngựa. Cùng đi trên có một lính Lê Dương. Anh lính này có trang bị một súng máy. Khi gần đến vùng Cao Lănh là nơi tương đối an toàn, anh lính lơ đĩnh bỏ súng xuống trên sàn xe. Tư Quyết nhân cơ hội, giựt súng lủi nhanh vào xóm và đem nạp cho ủy ban kháng chiến địa phương. Để chứng tỏ tinh thần tôn trọng thỏa ước vừa được kư, ủy ban cho người đánh tiếng với viên Quận trưởng và cho người đem trả lại súng. Việc Trung úy Menut cho người sửa sang ngôi mộ đă chứng tỏ ông ta cũng biết ngôi mộ là mộ của thân phụ Hồ Chí Minh. Sau ngày 30- 4- 1975, vào khoảng 1976, tất cả các nấm mồ phía sau Miễu Trời Sanh, nơi an nghỉ cuối cùng của những người tứ cố vô thân được chôn cất nơi đây đă được chánh quyền mới bốc lên đem cải táng nơi khác. Riêng mộ ông Thầy Quảng giờ đây được xây cất huy hoàng bằng đá hoa theo mô h́nh một lăng tẩm rộng lớn. Cây kiểng quư được chăm sóc từ nhiều đời của dân chúng đă được đem cốâng hiến để trang trí trong lăng. Băng ghế công viên do các Công ty ghi tặng là để khách tứ phương có nơi dừng lại nghỉ chân. Cơ quan địa phương trong xứ đều đem sản phẩm quư báu về đây chưng làm kỷ niệm. Cây cối, thư viện, nhà cửa, đường đi… đă được bố trí rất mỹ thuật để nơi đây được xứng đáng với danh xưng mới: Lăng Cụ Phó Bảng.

    Từ một nấm mộ đất nhỏ đơn sơ, không bia, không tường vôi, đá chắn, giữa những nắm mồ vô chủ, mộ ông Thầy Quảng giờ đây đă trở thành một lăng tẩm uy nghi, rộng lớn, một công tŕnh kiến trúc mỹ thuật. Các nấm mộ vô danh đă được dời đi cải táng nơi xa nào đấy để lấy đất xây lăng Cụ Phó Bảng. Tuy vậy, cầu mong sao cho hương linh của những nấm mộ hoang trước kia, nếu chưa được siêu thoát và hiện đang c̣n vất vưởng quanh Lăng, đă được Cụ Phó Bảng cho họ được tá túc trong lăng của Cụ, như ngày nào Cụ đă được những tấm ḷng người miền Nam cho tá túc, trên bước đường lưu lạc của Cụ.

    Trần Nguơn Phiêu

    Amarillo, Texas, Tết Ất Dậu, 2005

  3. #23
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh
    Thêm tài liệu mới về gia phả Hồ Chí Minh




    Hồ Chí Minh

    - Ông nội Hồ Chí Minh là ai?
    - Em út của Hồ Chí Minh là ai?
    - Đứa con rơi của Hồ Chí Minh là ai?

    Số phận con người: Không thể bất công kéo dài đến vậy!

    * ông nội thật của Hồ Chí Minh
    * Vương Chí Nghĩa là ai?
    * Hoa Quốc Phong là con cả Mao Trạch Đông
    * quyền sống b́nh thường của anh Nguyễn Tất Trung

    Tết Mậu Tư đến gần. Người ta thường nghĩ về quê hương, về người thân, về bà con họ hàng, về mồ mả tổ tiên…Thường vào dịp cuối năm, nhiều người t́m ra họ hàng mới, người thân mới. Những khám phá mới, có khi bất ngờ, đến lạ lùng, có trường hợp thú vị, lại có chuyện pha với đắng cay. Nhất là trong những gia đ́nh ḍng họ lớn, có tăm tiếng, đă và đang đi vào lịch sử.

    - Ông Hồ Sĩ Tạo là ông nội Hồ Chí Minh: Đây là tin có thật, do nhà văn Hồ Sĩ Sênh, bút danh Trường Lam, hội viên Hội văn nghệ tỉnh Nghệ An, đưa ra, qua một sáng tác được công bố tại trại viết văn của Hội văn nghệ Nghệ An đầu năm 2007. Trường Lam đă sưu tầm tài liệu khá công phu từ những người thật việc thật có quan hệ chặt chẽ với ông phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, c̣n có tên Nguyễn Sinh Huy, nguyên tri huyện B́nh Khê, cha đẻ Nguyễn Sinh Côn (Cung) là ông Hồ Chí Minh sau này, sau khi bị mất chức do tội ngộ sát, đă vào Nam bộ làm nghề thầy lang khám bệnh bốc thuốc.

    Điều trên bảo đảm tính chân thật của sự kiện.
    Theo tiểu sử chính thức Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Sinh Sắc là con ông Nguyễn Sinh Nhậm quê ở Kim Liên, huyện Nam Đàn.Thật ra ông Nguyễn Sinh Nhậm vợ chết sớm, ốm yếu, nhận lấy cô Hà Thị Hy thường gọi là cô Đèn,” cheo” cô về làm vợ mọn, khi cô đă có mang với ông Hồ Sĩ Tạo; ông Nguyễn Sinh Nhậm đặt tên cho con cô Đèn, sinh vào năm 1863 là Nguyễn Sinh Sắc, nhận là con của ḿnh. Ông Nhậm chết sau đó 3 năm.

    Chính ông Hồ Sĩ Tạo mới là người cha huyết thống của ông Nguyễn Sinh Sắc, là ông nội thật sự của ông Hồ Chí Minh. Ông Hồ Sĩ Tạo sinh năm 1834 mất năm 1907, quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, đỗ Gỉải Nguyên khoa Mậu Th́n (1868), làm quan, dạy học, có tiếng văn hay chữ tốt cả một vùng Nghệ Tĩnh, tiếng vang trong Kinh, ngoài Bắc, quan hệ xă hội rất rộng. Ông lại hào hoa phong nhă, thích ngâm thơ vịnh nguyệt, mê ca trù, nhiều vợ đông con. Ông yêu mến cô Hà Thị Hy quê làng Sài huyện Nam Đàn, xinh đẹp hát hay; ông lại dạy học ngay trong nhà cô.

    Hồng nhan bạc mệnh, người t́nh của cô Hy tài hoa bao nhiêu th́ chồng danh nghĩa của cô là ông Nguyễn Sinh Nhậm yếu kém nhạt nhẽo bấy nhiêu. Ông chết sau khi lấy bà chừng 3 năm; phận làm mọn thời ấy thật cực nhục, cả họ Nguyễn Sinh khinh thị hắt hủi 2 mẹ con bà; bà phải bỏ nhà, bỏ con ra đi. May là khi bà chết, có người thương xót mang xác bà về quê và chính ông Hồ Sĩ Tạo lại tổ chức chôn cất và đọc lời điếu cho bà.
    Chính ông Hồ Sĩ Tạo đă chăm lo bồi dưỡng cho ” đứa con hoang” của ḿnh thành danh, qua gửi gắm ở những học tṛ cũ của ḿnh đă thành thầy giỏi và quan chức có thanh thế trong triều đ́nh, như ông Cao Xuân Dục. Ông Nguyễn Sinh Sắc đỗ phó bảng năm Tân Sửu (1901), sau đó vào Huế nhận chức Thừa biện bộ Lễ.

    - Vương Chí Nghĩa: em út của Hồ Chí Minh. Năm 1907, ông Sắc được bổ nhiệm Tri huyện B́nh Khê, đến 1911 ông tự gây nạn lớn, khi trong cơn nát rượu, ông ra lệnh đánh một số nông dân chậm nộp thuế, làm một người chết. Ông bị kết trọng tội, suưt mất đầu. Tuyệt vọng, bị sỉ nhục, ông rời bỏ kinh đô và quê nhà, đi biệt vào phương Nam, tít vùng sâu Đồng tháp – Cao lănh, tự xưng là Cụ Vương, làm nghề bắt mạch, bốc thuốc.
    Một lăo nông tên là Mai Nhuận, có cả gia đ́nh hàm ơn cụ Vương cứu mạng trong nạn dịch lớn, tự nguyện gả cô con gái út cho cụ Vương để đỡ đần cụ trong tuổi già cô đơn mà cô gái cũng đỡ vất vả. Mối t́nh vùng sông nước giữa cụ Vương và cô gái họ Mai đă tạo nên một cậu con trai kháu khỉnh mang tên Vương Chí Nghĩa, sinh năm 1927. Đây là người em út chưa từng biết của ông Hồ Chí Minh.

    Vương Chí Nghĩa dời nơi ở lên vùng Tây Nguyên, sống mai danh ẩn tích để giữ an toàn cho ḍng họ khi đất nước chưa độc lập, lại chia đôi và chiến tranh. Vương Chí Nghĩa có 2 con trai: Vương Chí Hùng và Vương Chí Việt (sinh tháng 12-1959), cùng 5 con gái, trong đó một người mang tên Hồ Thị Minh Nguyệt đă cùng em là Vương Chí Việt xuất gia đi tu từ năm 1980. Vương Chí Việt mang pháp danh Thượng tọa Thích Chân Quang, hiện chủ tŕ chùa Phật Quang ở Bà rịa – Vũng tàu, đă tốt nghiệp khoa ngoại ngữ tiếng Anh. Mới đây năm 2007, Thượng tọa đă ra Nghệ An thăm viếng các làng xă quê hương ở Quỳnh Lưu và Nam Đàn, nhận họ hàng với chú bác, anh chị em, con cháu…Tuy nhiên về ông thày tu này đang có những nhận định khác nhau từ trong nước…
    Thích Chân Quang (tên tục làVương Chí Việt) cháu kêu Hồ Chí Minh bằng Bác ruột


    Thích Chân Quang (tên tục làVương Chí Việt) cháu kêu Hồ Chí Minh bằng Bác ruột

    - Chuyện bên Tàu: Hoa Quốc Phong là con cả của Mao Trạch Đông Lại bắt sang chuyện Tàu. Trước đây vài năm, báo chí Hồng công lên tiếng nhiều lần cho rằng Hoa Quốc Phong từng là Thủ tướng Quốc vụ viện Trung quốc, rồi Chủ tịch Đảng CS Trung quốc là con trai ngoài giá thú của Mao Trạch Đông. Từ đó nhiều người bán tín bán nghi, v́ trong các triều đ́nh cộng sản, thật với giả, giả với thật cứ lộn nhèo với nhau, nhiều chuyện khó tin nhất có khi lại là thật, có chuyện ngỡ là của thiệt lại là của giả, của dỏm.
    Gần đây báo chí Hồng công khẳng định chuyện trên đây là sự thật 100 phần trăm, và in hẳn cuốn sách nhỏ phát hành nửa công khai trên lục địa, kể đầu đuôi câu chuyện này. Talawas vừa đưa lên mạng.
    Chuyện rằng năm 1920 khi Mao Trạch Đông 27 tuổi, xây dựng Tổ Thanh niên Cộng sản ở Trường Sa (thủ phủ tỉnh Hồ Nam), có quan hệ với một cô gái họ Diêu. Bố cô gái buôn thuốc lá. Mao và cô gái họ Diêu sinh ra một bé trai ngoài giá thú năm 1921 đặt tên là Hoa Quang Tổ; sau 2 năm cô gái họ Diêu ốm chết. Hoa Quang Tổ được một số gia đ́nh thay nhau nhận nuôi, đổi tên là Hoa Thành Vũ, sau đó là Hoa Quốc Phong. [Một năm sau Mao mới gặp Dương Khải Tuệ và sinh ra con chính thức Mao Ngạn Anh].
    Ngoài Mao ra, một số lănh đạo cao nhất của đảng CS Trung quốc như Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu B́nh …đều biết chuyện này và chú ư đào tạo, nâng đỡ quá tŕnh trưởng thành của Hoa Quốc Phong. Năm 1950 Mao điều Hoa từ tỉnh Sơn Tây về tỉnh Hồ Nam quê nhà, với chức bí thư địa ủy của địa khu Tương Đàm (địa khu là cấp trên của huyện, cấp dưới của tỉnh). Hoa được đưa lên làm Trưởng ban Văn giáo tỉnh, Trưởng ban Mặt trận tỉnh,và đến 1968 vào ban chấp hành trung ương, là Bí thư thứ nhất tỉnh ủy Hồ Nam. Mọi việc đều giữ kín, không cho Hoa biết thân thế thật của ḿnh.
    Cho đến đầu năm 1966, Mao chỉ thị cho Chu Ân Lai nói rơ cho Hoa biết Hoa là con trai cả theo huyết thống của Mao và chỉ phổ biến trong nhóm lănh đạo cao nhất, đồng thời chỉ thị cho Hoa ”cứ giữ lư lịch như cũ, không thay đổi quan hệ vốn có với Mao, v́ lợi ích toàn cục của đảng”. Hoa đă phải kư vào văn bản cam kết như thế.
    Sau khi Lâm Bưu làm phản tháng 9-1971, Mao điều Hoa Quốc Phong về Bắc Kinh, đưa vào Bộ chính trị, chức vụ là phó thủ tướng, khi Hoa vừa 50 tuổi.
    Sau khi Mao chết tháng 9-1976, Hoa Quốc Phong được đưa vọt lên là Chủ tịch ban chấp hành trung ương đảng kiêm Chủ tịch Ủy ban quân sự Trung ương vào tháng 7-1977, cho đến tháng 6-1981 th́ bị đưa xuống Phó chủ tịch, Hồ Diệu Bang lên làm Chủ tịch, đến Đại hội XII (9-1982) Hoa ra khỏi trung ương, rồi về hưu sau đó ở Hồ Nam.
    Hoa Quốc Phong nhiều lần khẩn khoản xin được bạch hóa lư lịch thật, đổi sang họ Mao, nhưng đều bị từ chối, với lư do phải ”bảo vệ danh dự của lănh tụ và của đảng ”.
    Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Hoa Quốc Phong nay 86 tuổi vẫn quan hệ chặt chẽ với Mao Lina, em gái út của ḿnh, nay đă 67 tuổi, con của Mao và Giang Thanh; Hoa hiện sống ở Thiều Sơn, Hồ Nam quê của Mao và tự ḿnh xử sự như người tiếp nối tự nhiên của ḍng họ Mao.

    - Phải đối xử công bằng với anh Nguyễn Tất Trung: Trên đây nói về ông Hồ Sĩ Tạo là người ông nội thật sự của ông Hồ Chí Minh, về Vương Chí Nghĩa là em út cùng cha khác mẹ với ông Hồ Chí Minh, về Thượng tọa Thích Chân Quang (Vương Chí Việt) là cháu gọi ông Hồ Chí Minh là bác ruột, về cả chuyện ông Hoa Quốc Phong nay được biết rơ là con cả theo huyết thống của Mao Trạch Đông… chỉ để nói đến trường hợp anh Nguyễn Tất Trung.
    Tất cả những sự thật trên đây đều bị chế độ cộng sản phủ nhận, đi với những sự giả dối và bịa đặt bị cưỡng bức là sự thật. Chế độ độc quyền đảng trị ép mọi người phải hiểu rằng ông nội của Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Nhậm chứ không phải là Hồ Sĩ Tạo, rằng ông Hồ chỉ có chị cả là cô Thanh, có bí danh là Bạch Liên, người anh là ông Nguyễn Tất Khiêm, c̣n gọi là ông Khơm, và em út là Xin chết sớm sau khi sinh vào năm 1904 (Mậu Tuất), chứ không có anh chị em nào khác.
    Một trong những nạn nhân bi thảm kéo dài nhất của kiểu lừa dối trên đây là anh Nguyễn Tất Trung, con của ông Hồ Chí Minh và cô Nông Thị Xuân, một cô gái Tày quê ở làng Nà Mạ, xă Hồng Việt, huyện Ḥa An, tỉnh Cao bằng. Cô được Trần Đăng Ninh, chủ nhiệm hậu cần quân đội chọn rồi đưa về Hànội nhằm ”phục vụ” ông Hồ. Cô được bộ công an của Trần Quốc Hoàn quản lư, dấu tại ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông thợ nhuộm, để hàng tuần đưa vào phục vụ ông Hồ 1, 2 đêm. Mối quan hệ ấy đưa đến kết quả là cô Xuân cho ra đời vào cuối năm 1956 một cháu bé được ông Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung theo họ cũ của ḿnh (Nguyễn Tất Thành).

    Trần Quốc Hoàn nổi tiếng dâm loạn đă nhiều lần cưỡng hiếp cô Xuân, bị cô chống lại quyết liệt, có cô Vàng là em họ ở cùng pḥng với cô Xuân biết rơ. Nhiều lần con quỷ râu xanh này trói cô Xuân vào giường để cưỡng hiếp, hắn c̣n đe dọa 2 cô không được hé môi nói với ai, nhất là không được bẩm báo ông Hồ. Hoàn c̣n dương súng ngắn đe nẹt 2 cô rằng :” chúng mày liệu hồn, đến ông Hồ cũng nằm trong tay tao đây, hiểu chưa?”. Thế rồi sau một cuộc cưỡng hiếp cực kỳ thô bạo, tên Hoàn sợ rằng cô Xuân sẽ báo với ông Hồ, Hoàn liền dựng lên một tai nạn xe ô tô trên đường đê gần làng Chèm vào tờ mờ sáng để thủ tiêu cô. Ông Nguyễn Minh Cần lúc ấy là phó chủ tịch uỷ ban nhân dân Hà nội đă biết rơ vụ án mạng này, với những biên bản khám mổ tử thi của bệnh viện Việt – Đức. Sau đó cô Vàng bị đuổi về Cao bằng và ”chết đuối” trong một nghi án trên sông Bằng Giang; chồng chưa cưới của cô Vàng khẳng định hung thủ là tay chân của Trần Quốc Hoàn, kẻ sát nhân muốn bịt hết kẽ hở về tội ác của ḿnh.


    Cô Nông thị Xuân sau đổi là Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1932, mất năm 1957. Chụp cuối năm 1956 tại Hànội sau khi đẻ Nguyễn Tất Trung

    - Những nạn nhân một cuộc án mạng giữa cung đ́nh: Cô Xuân, cô Vàng, anh thương binh nặng chồng chưa cưới của cô Vàng đều là những nạn nhân của chế độ toàn trị giả đạo đức, hiện c̣n ngậm đắng nuốt cay dưới suối vàng v́ nỗi oan khiên của họ vẫn chưa được làm sáng tỏ; bọn tội phạm bất nhân của một chính quyền đàn áp lấy công an làm ṇng cốt vẫn c̣n lộng hành.
    Ở đây, lúc này, toàn xă hội ta cần đặc biệt chú trọng đến số phận, đến nỗi oan khiên đeo đẳng một con người c̣n sống và gia đ́nh anh, đó là anh Nguyễn Tất Trung, đứa con không được thừa nhận của ông Hồ Chí Minh và cô Nông Thị Xuân.

    Đă 51 năm nay, hơn nửa thế kỷ, anh Trung sống lay lắt về mặt pháp lư, không có giấy khai sinh thật, không được nhận cha đẻ của ḿnh, không được nhận mẹ đẻ của ḿnh,chưa được một lần thăm mộ và thắp hương trên mộ mẹ; anh không được về quê hương bản quán quê nội cũng như quê ngoại để nhận bà con họ hàng, không được biết, và dù biết cũng không được nhận ai là ông bà, chú bác, anh chị em, con cháu ruột thịt của ḿnh.

    Cả cuộc đời anh và đời vợ và con anh bị đặt trong thế bất công và phi lư, không có một văn bản pháp lư nào quy định, sống không có căn cước thật, bị xô đẩy, đưa qua chuyển lại tùy tiện theo ngẫu hứng của gịng đời. Trung chỉ được yên ấm trong ḷng mẹ Xuân và trong ṿng tay êm ái của d́ Vàng có vài tháng ngắn ngủi, để rồi côi cút, cô đơn, không hiểu ǵ cho rơ về cuộc đời ḿnh. Ông Sao Đỏ – Nguyễn Lương Bằng đưa bé Trung về gia đ́nh được vài tháng trong năm 1957, rồi giao lại cho gia đ́nh tướng Chu Văn Tấn trên Thái Nguyên vài năm. Sau đó, các bà Hội phụ nữ cứu quốc trung ương đưa chú bé vào trại mồ côi của Hội, rồi vào trường Nguyễn Văn Trỗi dành cho con liệt sỹ. Vào những năm 1967 – 1968, cậu bé Trung thông minh, nhanh nhẹn, bắt đầu t́m hiểu thế giới xung quanh, cũng bắt đầu ṭ ṃ về căn cước thật của ḿnh, th́ 2 đợt ốm nặng ập đến, có lúc tưởng như không qua khỏi. Bóng đen của tên “lưu manh xứ Nghệ” trở thành trùm công an cộng sản – quỷ dâm ô Trần Quốc Hoàn lại hiện ra. Tên này lo sợ bị lật tẩy, đă dùng thủ thuật an ninh cộng sản được thày Tàu tiếp tay, cho cậu bé uống và tiêm nhiều lần thuốc độc, thuốc lú, gây thần kinh hỗn loạn, khi quên khi nhớ, có lúc như ngớ ngẩn, có khi ngồi thừ vô cảm hàng buổi, mất hẳn sinh khí, như kẻ vô hồn. Ông Hồ mất vào tháng 9-1969 khi cậu Trung vừa ra khỏi cơn ốm dài. Trước khi mất, ông chỉ mong được đi gặp Cụ Mác cụ Lê, quên khuấy c̣n có đứa con bị bỏ rơi đang băn khoăn về lư lịch thật của ḿnh.

    Cái may cho cậu Trung là sau khi ông Hồ mất, ông Vũ Kỳ, thư kư riêng lâu năm (từ năm 1948) của ông Hồ đón Trung về gia đ́nh, nhận Trung làm con nuôi, coi như con đẻ của ḿnh, đi học trường phổ thông Chu Văn An cạnh Hồ Tây cùng 2 con ông là Vũ Quang và Vũ Vinh, cùng độ tuổi với Trung. Đây là thời kỳ ổn định, ấm cúng nhất của anh Trung, nhưng bệnh đau đầu dai dẳng không cho anh vào được trường Đại học. Ông Vũ Kỳ c̣n quan tâm đến việc lập gia đ́nh cho Trung, và đám cưới được tổ chức khi anh 32 tuổi, vào năm 1988, với cô Lưu Thị Duyên, thuộc một gia đ́nh b́nh thường. Anh chị có một cháu trai kháu khỉnh, sinh năm 1992, đặt họ và tên là Vũ Thanh, sau đổi là Nguyễn Thanh Trung, v́ tuy Trung rất quư ông Vũ Kỳ, nhưng vẫn nuôi ư muốn t́m trở về gốc gác thật của ḿnh.
    Trong xă hội Việt nam suốt nửa thế kỷ qua, không có một con người nào sống trong t́nh trạng cay đắng đặc biệt như anh Trung. Anh bị mất quyền được là ḿnh. Anh luôn phải đeo chiếc mặt nạ. Anh không có cha thật, mẹ thật, anh chị em thật của ḿnh. Anh là người công dân lương thiện cực hiếm trong xă hội không có căn cước thật. Anh không hề có một tội nào dù là nhỏ nhất. Thắc mắc về cội nguồn, anh có chăng? biết hỏi ai cho ra lẽ? Anh tự biết, nếu hỏi với người cai quản anh, có khi mang vạ vào thân. V́ anh có thể lờ mờ hiểu rằng người đẻ ra anh có liên quan đến nhiều vụ án mạng kinh khủng. Anh ngại, anh sợ. Nhiều người biết, và họ thấy ở anh luôn có sự không b́nh thường; bệnh trầm cảm, phẫn chí, lầm lỳ, tâm thần bất định…luôn bám chặt anh.

    - Thời minh bạch và hội nhập, sự giải thoát: Chúng ta hăy tưởng tượng nỗi hận đời trong ḷng anh Nguyễn Tất Trung, khi tâm trí anh đă trở lại gần như b́nh thường 5, 6 năm nay, như một số anh em trong nước cho biết, sau khi “thuốc lú” độc ác đă tiêu tan với thời gian. Bao nhiêu câu hỏi “v́ sao?”, ” v́ sao? ” gậm nhấm tâm hồn anh. V́ sao anh lại phải sống u ẩn, trong bóng tối măi thế này? V́ sao ḿnh lại không được là ḿnh? phải mang mặt nạ kỳ quặc măi thế này? Cái quư nhất của con người là căn cước riêng biệt để phân biệt với mọi người khác đă bị tịch thu vĩnh viễn. Quyền cao quư nhất là quyền được làm một con người, được là chính ḿnh đă bị tước đoạt. Một điều phi lư bất công anh có vẻ không sao hiểu và chịu nổi.

    Vẫn chưa hết. Câu hỏi ai oán nhất làm anh đau xót là về mẹ anh. Anh chỉ có một bức ảnh hơi mờ ảo về người mẹ xinh đẹp và hiền hậu của anh, đôi mắt sáng mà dịu, hàm răng hé trắng, mái tóc bồng, áo len cụt tay tự đan, ảnh quư chụp năm 1956 ngay sau khi sinh anh; nhưng c̣n thiếu cháy bỏng những di vật có thể c̣n,- bộ quần áo, chiếc gương, lược – , những hiểu biết về ông bà ngoại, về họ hàng thân thuộc ở Nà Mạ hiện c̣n là những ai để ngày nào đó anh sẽ đưa vợ con anh lên thăm.
    Nỗi ám ảnh lớn là cái chết bi thảm của người mẹ yêu quư của anh đă diễn ra như thế nào vào sáng 12-2-1957 ấy, v́ sao? ai là thủ phạm? Mộ mẹ anh ở đâu sau khi mổ tử thi ở bệnh viện Việt – Đức th́ người ta mang chôn nơi nào? có ai chăm sóc nấm mộ thiêng ấy, bao giờ anh và vợ con anh được thăm viếng? Lại c̣n cái chết bi đát của d́ Vàng, mà ṿng tay đă ôm ấp anh từ những ngày trứng nước, có phải đă bị giết ngày 2-11-1957 rồi quẳng xuống sông Bằng Giang? Phải chăng như có người biết, anh vẫn ǵn giữ một phiên bản lá thư của anh thương binh chồng chưa cưới của cô Vàng gửi ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội (đề ngày 29-7-1983) để quyết t́m hiểu cho ra sự thật. Bức thư tuyệt mệnh này đă được gửi ra hải ngoại và một bản sao đă được một người bạn chuyển cho anh. Có lần anh đă mạnh dạn t́m đến nhà tướng Ngô Thế Nùng, em rể ông Hoàng Minh Chính để cố hỏi ḍ về cái chết bi thảm của mẹ anh.

    Việc thông tin công khai, nói lên đầy đủ sự thật về Nguyễn Tất Trung nay đặt ra là đă chín muồi. Nỗi hận ấp ủ nửa thế kỷ đến hồi phải được giải tỏa. V́ đất nước đang trong quá tŕnh đổi mới không ai cưỡng lại nổi, tính trong sáng, minh bạch đă được cam kết trước toàn dân và thế giới.

  4. #24
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh
    Thêm tài liệu mới về gia phả Hồ Chí Minh
    P2



    - Chia sẻ yêu thương: Trước hết những người có lương tâm và t́nh người trong xă hội ta dễ thông cảm với anh Nguyễn Tất Trung và ḷng khao khát của anh t́m hiểu sự thật về ḿnh, vượt lên số phận bất công phi lư do hoàn cảnh khe khắt tạo nên, và sẵn sàng khuyến khích, tiếp sức cho anh bước vào cuộc đời mới, có căn cước thật, được là chính ḿnh.
    Được biết anh Trung thường ngồi suy tư hàng giờ, và từng nói với bạn rằng anh đă khóc cạn nước mắt về người mẹ quư yêu, rằng cuộc đời anh ch́m nổi tưởng là chết nhiều lần rồi, nay th́ phải sống để biết những điều cần biết …
    Tôi cùng một số bạn mạnh dạn đưa câu chuyện về anh Trung và gia đ́nh v́ thông cảm sâu sắc với hoàn cảnh của anh, trên trách nhiệm con người đối với con người, không ai có quyền dửng dưng với một số phận éo le, cô đơn, có vẻ bế tắc như thế, để tiếp sức nghị lực cho anh đứng dậy là chính ḿnh giữa thanh thiên bạch nhật. Anh rất ham tin tức trên đời, hằng ngày đọc các bản tin trên mạng. Anh thông minh, tư duy đă hồi phục, tự ḿnh biết cách ”ra công khai” như thế nào và từ đó làm chủ đời ḿnh, không cần ai chỉ vẽ, o ép.
    Thật ra tôi đă có ḷng cảm mến anh thanh niên Nguyễn Tất Trung từ gần 20 năm nay. Vào năm 1989 tôi hay ghé qua nhà ông Vũ Kỳ, khi ấy đang là Giám đốc bảo tàng Hồ Chí Minh. Ông Kỳ và tôi lúc ấy rất không hài ḷng khi thấy họ xóa bỏ 3 đoạn của di chúc ông Hồ Chí Minh, các đoạn nói về: mở ngay cuộc kiểm điểm sau toàn thắng để pḥng ngừa bệnh kiêu ngạo; giảm một năm thuế nông nghiệp để ”thư dân”; làm ”hỏa thiêu”. Tôi đặt và đăng bài viết của ông Vũ Kỳ trên báo ”Nhân dân Chủ nhật” phơi bày 3 điểm ấy, buộc họ phải đưa ra Quốc hội, công bố lại ” toàn bộ di chúc ”, đưa công khai bản chụp nguyên si cả tập di chúc, ra nghị quyết giảm thuế nông ngiệp 50% trong 2 năm. Ông Kỳ và tôi bị ban bí thư lên án là vô kỷ luật, bị triệu tập đến ”làm việc với lănh đạo” ở số 4 Nguyễn Cảnh Chân, cứ như một phiên ṭa. Sau đó tôi hay ghé chơi nhà ông Kỳ, và gặp cả 3 cháu Quang, Vinh và Trung ở đó. Quang và Vinh người mập mạp như ông Kỳ, c̣n Trung th́ gầy, cao, rất xinh trai. Vợ Trung là cô Duyên cũng xinh, trắng, giản dị; 2 vợ chồng đă ở riêng, đang cố chữa bệnh để mong có con. Hai vợ chồng vẫn thường về thăm ông Vũ kỳ và gia đ́nh.
    Tôi cũng được biết tháng 4-2005, khi ông Vũ Kỳ ốm nặng nằm trong bệnh viện Việt-Xô sát bờ sông Hồng, Trung luôn thay phiên với Quang và Vinh túc trực bên cạnh bố; khi ông Kỳ mất, Trung cũng mặc áo xô, chống gậy, đội mũ rơm trong lễ tang.
    V́ bị bệnh, học không đến nơi đến chốn, nên Trung khó kiếm việc làm. Có lúc làm giữ kho, bảo vệ công xưởng. Khi sức khỏe khá, 2 vợ chồng mở quán cà-phê, ở sau ga Hàng Cỏ – Hà nội, rồi dời về cổng trường Đại học Bách khoa. Có lúc gia đ́nh anh ở số nhà 31 phố Lê Thanh Nghị, có lúc ở tại Pḥng 102- Khu tập thể Ủy ban khoa học nhà nước trong ngơ Thịnh Hào 1 . Lâu nay anh được tự do tiếp bè bạn hơn trước, không khí chung của xă hội dễ thở hơn, tính công khai minh bạch và quyền tự do công dân được khẳng định dần.
    Trước đây, thế lực an ninh luôn vây bủa, kiềm chế cuộc sống của gia đ́nh Trung, kiểm tra mọi mối quan hệ, vừa đe dọa vừa mua chuộc. Gần dây, kinh tế khá lên, họ cấp cho nhà khá rộng, rồi phong lên là sỹ quan trong danh sách, nhận lương cấp ”thượng tá, cốt để vợ chồng tránh những quan hệ xă hội rộng răi khó kiểm soát.
    Nhưng không ǵ quư hơn tự do, nhân phẩm của một con người. Con người luôn nhận trách nhiệm với chính bản thân ḿnh trước hết.

    Khi cuộc sống anh Nguyễn Tất Trung khá lên, tiền không thiếu, có xe cộ khá sang th́ anh lại càng có vẻ băn khoăn thao thức; th́ ra tiền không mua được sự yên tĩnh của tâm hồn, anh có vẻ bứt rứt: tại sao cuộc đời che dấu, mang mặt nạ măi của anh lại không đến lúc chấm dứt, để anh được là anh với căn cước chân thực đàng hoàng, sống tự do, thoải mái, hồn nhiên trong quăng đời c̣n lại của ḿnh.
    Cả đại gia đ́nh người Việt trong và ngoài nước sẽ hết ḷng chia sẻ yêu thương với anh và chị Duyên cùng gia đ́nh và tận lực giúp anh, che chở anh khi cần.
    Có kẻ sẽ lại vu cáo tôi là nói xấu chế độ, có âm mưu lật đổ và phá hoại.
    Tôi chỉ có ḷng dạ ngay thật, trọn vẹn với nhân dân, kiên định niềm tin vững chăi rằng sự thật, chỉ có sự thật mới cứu văn được đất nước này khỏi sự dối trá, đạo đức giả và tội ác, xây dựng mối quan hệ ngừơi với người là bạn, là anh chị em trên t́nh nghĩa đồng bào thân thiết.

    Không có bí mật quốc gia nào, không có danh dự của một phe đảng nào có thể viện ra để chà đạp nhân thân, thủ tiêu căn cước thật, quyền làm người trọn vẹn của một công dân sinh ra đă b́nh đẳng tuyệt đối với mọi con người khác dưới ánh mặt trời.



    2 vợ chồng Nguyễn Tất Trung và Lưu Thị Duyên cùng con là Nguyễn Thanh Trung (sinh năm 1992) tại gia đ́nh ông Vũ Kỳ vào năm 1998; người có râu trắng dài là ông Vũ Kỳ, mất năm 2005; bên trái ông Kỳ là ông em ruột. Trung và vợ con ở phía phải



    2 vợ chồng Nguyễn Tất Trung và Lưu Thị Duyên viếng mộ của tướng Chu Văn Tấn; thượng tướng Chu Văn Tấn người dân tộc Nùng ở Bắc Sơn, Tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu Việt Bắc, Phó chủ tịch Quốc hội, sinh năm 1910, mất năm 1984, bị lột hết chức vụ năm 1978 v́ '' tội'' làm gián điệp cho Tàu không có xét xử; khi chết không được chôn ở Nghĩa trang Mai Dịch, mộ trong ảnh ở Thái nguyên, mấy người đứng quanh là mật vụ công an luôn theo dơi những người đến thăm mộ



    Nguyễn Tất Trung thăm hang Pắc Bó, ngồi bên ḥn đá, có ghi: Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ngồi tại đây để dịch cuốn Lịch sử đảng CS Liên Xô vào năm 1941.
    2 vợ chồng Trung và Duyên bên ḍng suối ở Hang Pắc Bó - Cao Bằng (ông Hồ đặt tên cho suối này là suối Lênin, cạnh đó là núi Mác)


    2 vợ chồng Trung và Duyên bên ḍng suối ở Hang Pắc Bó - Cao Bằng (ông Hồ đặt tên cho suối này là suối Lênin, cạnh đó là núi Mác)

    Bùi Tín

  5. #25
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh
    Hồ Chí Minh, Sự thật về thân thế và sự nghiệp – Nhóm Đường Mới



    Ho-Chi-Minh

    Ho-Chi-Minh

    Năm 1990, nhà xuất bản Nam Á ở Paris phát hành cuốn ” HCM, Sự thật về thân thế và sự nghiệp “do 9 tác giả đồng soạn, trong đó có 6 người Việt, 2 người Pháp, một người Mỹ.
    Cuốn sách được viết và dịch ra 3 thứ tiếng Anh, Pháp, Việt xuất hiện vào lúc tổ chức Văn Hóa Giáo Dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) dự tính vinh danh HCM nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông tạ

    Hai tác giả người Pháp là Olivier Tođ và Jean-Francois Revel từng có mặt trong số nhà văn và triết gia ngoại quốc đă can thiệp để UNESCO hủy bỏ ư định. V́ vậy UNESCO chỉ cho CSVN mượn trụ sở để tổ chức văn nghệ nhưng không được nhắc tới ngày sinh của HCM.

    7 tác giả c̣n lại gồm:
    - Ralph B. Smith, giáo sư sử học Á Đông tại trường School of Oriental and African Studies (Viện nghiên cứu Á Phi) thuộc đại học Luân Đôn.
    - Bùi Xuân Quang, chủ biên, nhà văn, đạo diễn điện ảnh, là người cùng Nguyễn Thế Anh và Huỳnh Bá Yết Dương sáng lập nhóm nghiên cứu và tập san Đường Mới.
    - Nguyễn Thế Anh từng là Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, giáo sư Đại Học Văn Khoa Saigon, giáo sư thỉnh giảng đại học Harvard, giám đốc CNRS (Trung tâm Quốc Gia Khảo Cứu Khoa Học, Paris) và là một sử gia có uy tín trong giới sử học quốc tế.
    - Tôn Thất Thiện, từng là giáo sư Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và đại học Vạn Hạnh, Tổng Trưởng Thông Tin VNCH, giáo sư đại học Québec tại Trois Rivières, từng được trao tặng Giải Thưởng Quốc Tế Về Báo Chí (Giải MacSaysay, mang tên tổng thống Phi Luật Tân ) vào thời Đệ Nhất Cộng Ḥa VN.
    - Lâm Thanh Liêm, nguyên giáo sư và Trưởng Ban Địa Lư Đại Học Văn khoa Saigon, chuyên gia nghiên cứu CNRS, tác giả nhiều sách về chuyên môn và lịch sử, trong đó có cuốn Từ Saigon đến thành phố HCM, viết chung với Gustave D. Meillon.
    - Đinh Trọng Hiếu, chuyên gia nghiên cứu CNRS, giảng sư đại học Paris VII, từng có thời viết cho tập san Đoàn Kết thân cộng.
    - Đằng Phương, Nguyễn Ngọc Huy, nguyên giáo sư Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Saigon, nguyên chuyên gia khảo cứu tại đại học Harvard, tổng thư kư Phong Trào Quốc gia Cấp Tiến.
    Cuốn sách là tập hợp những bài viết của 9 tác giả nói trên, mỗi tác giả một bài.

    Trong Lời Nhà Xuất Bản, Mai Trung viết rằng các dân tộc Đông Âu đă ném chủ nghĩa CS vào “thùng rác lịch sử”.

    Trong lời mở đầu, Vấn đề HCM, Bùi Xuân Quang viết: “Đời của lănh tu. CS HCM hoàn toàn giả tạo từ ngày sinh cho đến ngày ông mất….Trong tinh thần đi t́m sự thật, công bằng và nhân ái, chúng ta phải đặt ông HCM vào đúng chỗ của ông: một người đă hoàn toàn sai lầm và phải chịu trách nhiệm với dân tộc, với đất nước.” (1)

    Bài thứ nhất, HCM: Ḷng yêu nước bị chuyển hướng của Jean-Francois Revel, triết gia, nhà văn và nhà báo, phụ trách mục xă luận các tuần báo Le Point, Giornale và đài Europe I. Tác giả viết: “Đáng lẽ HCM đă là một vị anh hùng tạo lập một nước VN tân tiến và dân chủ. Khốn thay, mục tiêu của ông không phải là nền độc lập của VN mà là việc sáp nhập nước này vào Quốc Tế CS … HCM là một trong những người thực hiện khắt khe nhất phương pháp mà chủ nghĩa CS đă dùng suốt thế kỷ 20. Đó là dùng sức mạnh nằm trong mong muốn tự nhiên của con người như tự do, độc lập, tiến bộ rồi xoay chuyển sức mạnh đó để phục vụ mục đích trái ngược với mục đích mà những người dân bị lợi dụng đă ước mong và theo đuổi…Dựa vào ḷng ước mơ tự do để nô lệ hóa, đó là phương pháp của HCM theo đúng phương pháp của Lênin gian ác.”

    Với tư cách một triết gia, một nhà tư tưởng, Revel đưa ra định nghĩa của lịch sử rồi căn cứ vào đó và dựa trên kết quả những hành động của HCM để đưa ra lời kết tội, dù chấp nhận trường hợp cho rằng buổi ban đầu đă có ư định hết sức tốt đẹp: “Lịch sử không phải là kết quả do những ư định của người ta mà là kết quả do những hành động của họ. Thế th́ những kết quả c̣n đó: Nô lệ, xương máu, chết chóc và đói khát. Đă trưng dụng cuộc chiến đấu chống thực dân để đưa đến một t́nh trạng suy sụp như thế th́ chẳng c̣n cách ǵ chống chế để chạy tội cả. Trái lại, đây là một trường hợp phạm tội gia trọng, một vụ đánh cắp, một vụ lừa bịp không hơn không kém.”

    Bài thứ hai, Hành tŕnh chính trị của HCM của Nguyễn Thế Anh. Theo tác giả, những nghi vấn đầy rẫy trong đời HCM đến nay vẫn chưa được giải tỏa. Chỉ riêng về năm sinh đă khá rắc rối.
    Năm 1911, HCM ghi ḿnh sinh năm 1892. Một báo cáo khác ghi: sinh năm1894. Trong chiếu khán thông hành cấp năm 1923 ghi sinh ngày 15-1-1895. Ngày sinh được coi như chính thức là 19-5-1890. Về cái tên Nguyễn Ái Quốc, tác giả cho rằng “có thể” là tên chung của nhiều người thường lui tới nhà luật sư Phan Văn Trường ở số 6 Villa des Gobelins. Và, hội Người VN Yêu Nước không phải do HCM lập nên như ghi trong sử liệu của CSVN. Hội này là của hai nhà cách mạng Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường: “Hai chí sĩ ho. Phan đă không nề hà d́u dắt những bước đầu của người thanh niên mà không bao lâu hai ông dành cho độc quyền sử dụng tên Nguyễn Ái Quốc. Biết rằng công an Pháp theo dơi chặt chẽ hành vi của ḿnh, nên hai ông c̣n giao phó cho anh ta vận mệnh Hội Người VN Yêu Nước, một sự ủy thác mà các sử gia viết tiểu sử HCM lơ đi để lạm gán cho ông ta công lao lập hội này.
    Với tư cách tổng thư kư của hội, Nguyễn Ái Quốc được nhận làm hội viên chi nhánh Pháp của Hội Nhân Quyền và Dân Quyền”.
    Sự việc trên gợi nhắc trường hợp tương tự sau này khi HCM chiếm dụng danh xưng và danh nghĩa của VN Độc Lập Đồng Minh Hội (gọi tắt là Việt Minh) của Hồ Học Lăm để rồi biến thành Mặt Trận Việt Minh của ông ta vào năm 1941.
    Tác giả nói HCM đă đến Nga ba lần khi chưa làm chủ tịch vào các thời điểm 1923-1924, 1927-1928, 1934-1938 và phủ nhận tin do HCM bịa rằng đến Nga lần đầu sau khi Lênin đă chết nên không được gặp. Tác giả khẳng định HCM đến Nga lần đầu vào tháng 7-1923, dự đại hội Quốc Tế Nông Dân từ ngày 10 đến 15-10 năm ấy.
    Đó là lúc Liên Xô thay đổi sách lược dành cho nông dân một vai tṛ quan trọng mới. Năm sau HCM lại được dự đại hội V Đệ Tam Quốc Tế từ 17-6 đến 8-7-1924 tại Mạc Tư Khoa. Tác giả cho biết thêm: “Đến khi đại hội chấm dứt, một ủy ban tuyên truyền quốc tế được thành lập, mà trọng trách là tuyên truyền chủ nghĩa CS tại các nước thuộc địa… Quốc (HCM) được chỉ định gia nhập ủy ban này, ngang hàng với các ủy viên Pháp: Marcel Cachin; Ấn Độ: M.N.Roy; Nhật-bản: Sen Katayama; Algérie: Hadjali Abdelkader v.v…”

    Tác giả gắn liền việc HCM đến Nga lần thứ 3 từ 1934-1938 với việc Liên Xô thay đổi chiến lược, quay ra thân thiện với Anh – Pháp ḥng đối phó với Hitler, chủ trương cần phải liên hệ tốt
    với họ để “thành lập những mặt trận b́nh dân, phải liên kết với các đảng phái dân chủ tư sản để chống chủ nghĩa phát xít”. Tại đại hội kỳ 7 (cũng là đại hội chót) của Đệ Tam Quốc Tế, HCM tham dự với tư cách đại diện bô. Đông Phương. Lê Hồng Phong dự với tư cách đại diện của đảng CS Đông Dương. Nguyễn Thế Anh trưng dẫn cuốn Chính giới Pháp và cách mạng VN (tháng 8-12, 1945) của Alain Ruscio để cho rằng “thỏa hiệp 6-3-1946 bao hàm sự duy tŕ nước VN trong khối Liên Hiệp Pháp”. (2)
    Tác giả kết luận:”Huyền thoại này (HCM yêu nước) đă giúp nhiều cho CSVN được bên ngoài cũng như bên trong ủng hộ. Nhưng nó đă che lấp sự kiện chính yếu là nhà lănh tu. CS đă hiến
    dâng đời ông nhiều nhất cho sự thắng lợi của Quốc Tế CS, và ông đă hoạt động cho sự giải phóng xứ sở cốt là để đưa một cách hữu hiệu nhất quốc gia ông nhập vào phong trào công
    nhân và nông dân quốc tế”.

    Bài thứ ba, Cái đúng và cái giả dối về chuyện HCM, của giáo sư Tôn Thất Thiện là một trong hai bài dài nhất (47 trang), viết về chuyến đi lén lút sang Nga của HCM năm 1923 và chuyện bị thất sủng ở Komintern năm 1933-1938. Tác giả là một trong những người đầu tiên nói đến 2 tác phẩm do HCM ngụy trang người khác để kể về ḿnh. Ông cũng nghiên cứu nhiều tác phẩm của các học giả và nhà văn, nhà báo thế giới như Jean Lacouture, Bernard Fall, Michelle Zecchini, Jean Sainteny, Archimedes Patti… và bài phỏng vấn HCM của kư gia? Charles Fourneau. Trong danh mục tài liệu tham khảo c̣n liệt kê bô. HCM toàn tập, các tác phẩm của Hồng Hà và của ban nghiên cứu lịch sử đảng do tỉnh ủy Nghệ Tĩnh phổ biến. Ngoài ra là các sách viết về HCM của những thủ hạ thân cận như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng … và một số sử gia CS khác. Một bài viết dài trên bốn chục trang mà có tới 60 chú thích dựa trên số lượng tài liệu tham khảo đó đă phản ảnh thái độ hết sức thận trọng của tác giả.
    Khác với Nguyễn Thế Anh, giáo sư Tôn Thất Thiện đă dựa theo các tài liệu CS, nhất là của chính HCM, để ghi rằng Nguyễn Ái Quốc đến Nga, sau khi Lênin đă chết và mục đích chuyến đi Nga là dự đại hội kỳ V của Đệ Tam Quốc Tế (năm 1924) chứ không phải dự hội nghị về Nông Dân (năm 1923). Nhưng, sau đó tác giả viết thêm: “…Cũng ghi nhận rằng, một điều lạ lùng là Nguyễn Khắc Huyên, người đă viết một tiểu sử về Hồ, dựa vào tư liệu vững vàng xuất bản năm 1971, cũng nói rằng Hồ đă tham dự đại hội IV của Komintern vào tháng 11-12 năm 1922, trong đại hội đó ông đă gặp Lênin và Stalin, rồi rời nước Nga để trở lại lần nữa vào năm 1923, ông đến thủ đô Xô Viết ít lâu sau cái chết của Lênin.” (3)
    Dù vậy, theo tác giả, những điều do Hồng Hà viết trong cuốn Bác Hồ trên đất nước Lênin, với tài liệu lấy từ văn khố Xô Viết cũ là dễ chấp nhận hơn cả. Do đó, tác giả kể một số sự việc theo Hồng Hà như ngay khi đến Berlin, HCM đă đi đến trụ sở của phái bô. Xô Viết số 7 Unter den, Linden, do đă có thỏa thuận trước và tác giả cho rằng theo những ǵ Hồng Hà tường thuật sau đó th́ phải hiểu việc HCM đi Nga đă được Manuilski xếp đặt với đảng CS Pháp để được phái sang Nga dự đại hội kỳ V của Đệ Tam Quốc Tế với tư cách đảng viên CS Pháp.
    Tác giả nhận định rằng lúc bấy giờ Manuilski rất cần những ư kiến về Phương Đông và các vấn đề thuộc địa, để thay Lênin (đang ốm nặng) tranh luận với M.N. Roy, lănh tu. Ấn Cộng, về các vấn đề Phương Đông. Do thế mà HCM trở thành nhân vật quan trọng “được bầu vào chủ tịch đoàn của QT3.” (4) trở thành một thứ Kominternchik – tên gọi của một ủy viên của QT3, một người đă cống hiến hoàn toàn cuộc đời ḿnh để phục vụ cho Quốc Tế CS. Nguyễn Ái Quốc là người như thế đó. (5)
    Và tác giả kết luận: “Từ đó Hồ không c̣n là một chiến sĩ b́nh thường nữa, mà là một cán bộ quan trọng của bộ máy Komintern.” (6) Tác giả cho biết theo các tài liệu của Huỳnh Kim
    Khánh, có một thời gian dài “…địa vị của Hồ bị giảm suy bởi v́, ngược lại với các người khác, ông từ chối tuân phục theo ư muốn của Mátxcơva, do ông không phải là “quốc tế vô sản”
    nhưng là cách mạng yêu nước.” (7) Nhưng tác giả dựa vào tài liệu của Hồng Hà để quả quyết, HCM vẫn là “một Kominternchik phục vụ cho Komintern và được xem như một ủy viên trưởng thành của đảng CS Đông Dương” (8) Tác giả cũng dẫn lời HCM lên án gắt gao nhóm Tờ-rốt-kít để chứng minh HCM luôn trung thành với đường lối của Stalin: “Hồ làm tất cả để cho các thuộc hạ của ḿnh bám riết chặt chẽ vào đường lối chống Trotsky…Ngay tại nhà ga, trước khi các đại biểu lên xe lửa, lời căn dặn cuối cùng của ông là họ phải chuyển lại cho Lê Hồng Phong mệnh lệnh là bất cứ ở trường hợp nào cũng không được hợp tác với bọn Trotskít.” (9)
    Theo tác giả th́ người như HCM và ở vào vị trí đó, “không có quyền quyết định về mặt chiến lược, mà phải chứng tỏ là khéo léo về mặt chiến thuật.” Phải chăng quyết định áp dụng đường lối dân tộc là bước chiến thuật để hoàn thành chiến lược cách mạng vô sản quốc tế mà HCM theo đuổi đă có một lúc bị ngờ vực? Để kết luận, tác giả viết: “Ta có quyền nghi ngờ sự khôn ngoan và ḷng trung thực của người đó (ư nói ông Hồ) khi ông ta đă chọn con đường đó mà không nói cho họ biết ngay từ đầu một cách minh bạch rơ ràng. Những tai họa kinh hoàng đă dồn dập đè nặng lên dân tộc VN từ cuộc chiến thắng của CS năm 1975 cho phép chúng ta, c̣n bắt buộc chúng ta nữa, phải chấp nhận một kết luận như thế”.

    Bài thứ tư, Thập niên cuối của cuộc đời HCM của Ralph Smith do Lê Đ́nh Thông chuyển ngữ chỉ nói về hoạt động của HCM trong mười năm cuối đời. Ngay trang đầu, tác giả viết: “Một vài chuyên gia t́nh báo phương Tây có xu hướng tin rằng cuối đời ông, HCM chỉ c̣n ngồi làm v́ và quyền lănh đạo đă chuyển sang tay người khác.” (10) Tác giả trưng dẫn tiết lộ của Hoàng Văn Hoan, người bi. Lê Duẩn kết án tử h́nh vắng mặt, để cho rằng chuyện đó có vẻ đáng tin!
    Tuy nhiên, tác giả đă ghi lại sự kiện HCM tiếp đón nhiều phái đoàn quốc tế, chủ tŕ những hội nghị quan trọng của đảng và nhà nước, cho thấy có thể HCM c̣n nắm thực quyền – đặc biệt là việc HCM có ảnh hưởng lớn đối với thế giới và luôn luôn cố giữ ḥa khí với cả Liên Xô và Trung Cộng để nhận được viện trợ của cả đôi bên càng chứng tỏ điều đó. Do đó, tác giả đă đi đến kết luận ngược lại: “Sự việc này là một bằng chứng tỏ rơ Hồ không phải chỉ là một lănh tụ hoàn toàn bị động trong t́nh huống khó xử này.” (11)
    Về các phe nhóm tại miền Bắc lúc đó, theo tác giả, Lê Duẩn thân Liên Xộ C̣n Trường Chinh và Hoàng Văn Hoan thân Trung Cộng. Nhưng tác giả cho rằng Trung Cộng đă không thành công trong việc gây ảnh hưởng quyết định với Hà Nội do sự việc Lê Duẩn (mà tác giả cho là thân Nga) đă nắm được quyền hành tuyệt đối sau khi HCM chết. Tác giả kết luận: “Nhưng cho tới nay người ta vẫn không biết là quyền hành của Lê Duẩn bắt nguồn từ một quá tŕnh tiệm tiến suốt 4 năm trước đó – theo như Hoàng Văn Hoan đă nêu – hay là xuất phát từ một cuộc đảo chính trong thực tế ngay sau khi HCM từ trần.” Với lời kết luận này, tác giả có vẻ vẫn nghĩ HCM đă nắm trọn thực quyền tới phút cuối trong đời và ngờ vực là đă có một cuộc đảo chính theo một cách nào đó của phe nhóm Lê Duẩn sau cái chết của HCM.


    Nanh vuốt

    Bài thứ năm của tác gia? Bùi Xuân Quang có tựa đề thật dài, Trải qua một cuộc “bể dâu” Chiến tranh chống Pháp (1945-1946), Những điều trông thấy trong cuộc đời HCM.
    Tác giả cũng mở đầu bài viết bằng t́nh trạng HCM bị lấn át bởi các phe nhóm thủ hạ: “…Ngày nay người ta được biết Hồ đă thường xuyên phải chịu áp lực của các đồng chí chiến đấu, hoặc bằng t́nh đồng chí, hoặc với kỷ luật đảng”. (12) Tác giả c̣n cho rằng t́nh trạng lấn át này đă có từ năm 1946 thể hiện qua việc khai chiến với Pháp. Theo tác giả, khi HCM sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau th́ ở trong nước Vơ Nguyên Giáp chuẩn bị chiến tranh và “Tổng bộ (Việt Minh) đă chấm dứt nhiệm vụ của Hồ và sẵn sàng đối đầu với Pháp… Thái độ cực đoan nóng ḷng của tổng bộ ngày 19-12 (1946) đă dồn Hồ đến chân tường, đưa đến cuộc đảo chính trong nội bộ đảng” Nhưng tác giả nói t́nh thế cấp bách khiến đám thủ hạ “phải để Hồ khôi phục lại t́nh thế.” (13) Dù trải qua t́nh huống thăng trầm nào trong đời hoạt động th́ HCM vẫn luôn là kẻ say mê quyền lực bất chấp các thủ đoạn gieo tai rắc họa khi cần thiết. Cho nên, tác giả kết tội HCM đă giết hại người quốc gia không khác nhà Hồ ở thế kỷ 15 chém giết không nương tay các con cháu nhà Trần. (14)
    Tác giả trưng dẫn Lucien Laurat kể lại đă có lần HCM thổ lộ: “Tôi luôn đứng về phía quyền lực. Chỉ có bộ phận này mới có thể hậu thuẫn được cho tôi.” Tác giả c̣n nhắc đến một bức điện văn mà theo tác giả là hết sức kỳ cục, bởi v́ bức điện kư tên Nguyễn Ái Quốc gửi cho HCM(!) để nói lên rằng “Hồ được Nguyễn hậu thuẫn”. Một câu nói khác của Hồ cũng được tác giả trích dẫn và cho là không kém kỳ cục:”Thà ngửi phân Tây c̣n hơn cả đời ăn phân Tàu”. Cuối cùng, tác giả kết án HCM và CSVN đă “cuỗm” lấy danh nghĩa độc lập để làm lợi cho phong trào CSVN, đồng thời “cấm đoán mọi quyền lực có thể xuất phát từ các đối thủ chính trị”.

    Bài thứ sáu, Chính sách cải cách ruộng đất của HCM: sai lầm hay tội ác? của Lâm Thanh Liêm gồm 2 phần chính:
    1) Các giai đoạn (chuẩn bị và thực hiện)
    2) Kết quả.
    Tác giả dựa theo những tài liệu chính xác về chiến dịch cải cách ruộng đất của CS tại miền Bắc và dành phần cuối nói rơ về vai tṛ của HCM. Về kết quả, tác giả trưng dẫn lời của một
    số cán bộ từng phụ trách công tác Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc những năm 1955-56 mà tác giả được gặp ở Saigon trước khi vượt biên ra nước ngoài: “Một cán bộ ước lượng 120 ngàn người bị giết oan (trong số này có 40 ngàn đảng viên). Một cán bộ thứ nh́ ước lượng có khoảng 150 ngàn đến 160 ngàn người bị giết oan (trong đó có khoảng 60 ngàn cán bộ đảng viên). Tác giả dẫn thêm hồi kư của Hoàng Văn Hoan về sự tàn ác dă man trong Cải Cách Ruộng Đất, dù Hoàng Văn Hoan chỉ tả lại một phần nhỏ sự thực. Hoàng Văn Hoan đă viết: “Các đội cải cách đă để cho nông dân xỉ vả người bị gọi là địa chủ, thậm chí để cho nàng dâu xỉ vả mẹ chồng, con xỉ vả bố mẹ, mà người bị gọi là địa chủ cứ phải cúi đầu chịu, không được thanh minh phải trái…” Theo tác giả, Hoàng Văn Hoan xác nhận chính tác phong gia trưởng và ư thức tả khuynh của Trường Chinh “đă đưa đến những sai lầm nghiêm trọng là đánh tràn lan vào trung nông, phú nông và những người có một ít ruộng đất cho thuê, đánh tràn vào cả cơ sở đảng.” Tuy nhiên, tác giả không hoàn toàn chia xẻ cáo giác trên mà nghĩ rằng tác phong của Trường Chinh chỉ chịu một phần nhỏ trách nhiệm thôi, bởi lẽ “đánh tràn lan…. không phải là không có chủ ư. Bởi v́ trung nông, phú nông, hay đảng viên nào mà không chịu tuân theo đảng một cách vô điều kiện, c̣n dám phê b́nh chống đối hay nghi ngờ đảng, th́ bị gán cho tội địa chủ để thủ tiêu cho hết những phần tử đối kháng, hầu sau đó, đảng toàn quyền sinh sát trong mọi vấn đề mà không gặp trở ngại ǵ. Đó mới là điều quan trọng, và v́ thế nên đảng và nhà nước lúc ấy mới tuyên bố Cải Cách Ruộng Đất đă thành công hay thắng lợi. Sửa sai chỉ là phụ, với mục đích xoa dịu sự chống đối, và cũng nhân thể giăng một cái bẫy khác ḥng bắt thêm một mớ trí thức, văn nghệ sĩ…”
    Tác giả bác bỏ luận điệu của Hoàng Văn Hoan trút hết tội cho Trường Chinh, v́ cho rằng Trường Chinh không thể một ḿnh chủ xướng một công việc cực kỳ quan trọng như vậy do trước hết trên đầu Trường Chinh vẫn luôn luôn c̣n có HCM vừa là chủ tịch đảng, vừa là chủ tịch nhà nước.

    Bài thứ bảy, Đất nước mới, con người mới, xă hội mới: mẫu mực cu Hồ đưa ta về đâu? là bài của Đinh Trọng Hiếu, một chuyên gia về dân tộc thực vật học.
    Tác giả mở đầu bằng câu danh ngôn của HCM “không có ǵ quư hơn độc lập tự do” rồi từ tốn nêu ra những vi phạm quyền độc lập và tự do của cái đảng do HCM lănh đạo. Với tư cách chuyên viên về dân tộc thực vật học, tác giả ghi trong mục “đất nước mới” về công lao HCM cổ vơ trồng cây không đúng cách để ngày nay dân chúng trong chế độ do ông lập nên tha hồ phá rừng và phá núi vôi, làm hại môi sinh… Trong mục “con người mới”, tác giả viết: “cách đào tạo con người “mới” của cu. Hồ đă phá sản. Nhưng đó là phá sản tất yếu của ư chí chủ nghĩa, chưa có ǵ đáng lo. Quan trọng hơn: khi đă coi “chủ nghĩa anh hùng cách mạng” là phương cách chỉ đạo, dùng bạo lực làm phương tiện cốt cán, lấy căm thù làm động cơ hành động, th́ dần dà đưa con người cách mạng “mới” vào con đường không lối thoát”. Tác giả trích báo chí trong nước để minh họa tính sa đọa cùng cực của “con người mới”: “Lái xe coi mạng người như ngóe, v́ c̣n quen cách lái dưới bom và dọc đường ṃn HCM, coi luật pháp như loài xa xỉ phẩm. Giải quyết những việc hàng ngày, dùng súng, dao găm, lựu đạn vv…là điều hay gặp, báo chí vẫn đăng. Cái dă man đă vào nếp sống: đi đường thấy bà cụ ngă xe không ai đến đỡ (Hà Nội, Bờ Hồ, 30-10-1989); trời mưa lụt lội, thấy một thiếu nữ ngă ướt hết quần áo, cả phố vỗ tay cười (Hà Nội, Kim Liên, 15-10-1989, 13.30 giờ)…Con mất tiền bắt cha thề là không ăn cắp, cha phải thắp hương và chặt ngón tay (đă đăng báo); con căi mẹ cầm chầy đập vào thái dương, bà cụ chết giăy đành đạch (đầu tháng 9-1989, nhà hàng xóm, nông thôn Bắc bộ) vv và vv…”
    Trong mục “xă hội mới”, Đinh Trọng Hiếu trích đăng lại hai câu trong bài tham luận Nguyễn Ái Quốc đọc tại đại hội đảng xă hội Pháp ở Tours, năm 1920, về tự do và 2 vần thơ của HCM để
    kết luận ông Hồ đă tiên tri, ngày nay xă hội VN y hệt như vậy. Hai câu nói trước đại hội Tours của HCM: “Chúng tôi không có tự do báo chí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội
    họp và lập hội cũng không có. Chúng tôi không có quyền sống hoặc đi du lịch nước ngoài”
    Và, 2 vần thơ của HCM:

    Thân người chẳng khác thân trâu,
    Cái phần no ấm có đâu đến ḿnh.

    Tác giả trích thêm 4 câu thơ khác của HCM:

    Sức c̣n yếu tuổi c̣n thơ
    Mà đă khó nhọc cũng như người già
    Có khi ĺa mẹ ĺa cha
    Để làm tôi tớ người ta bên ngoài.

    Mượn lời một tác giả vô danh thuật truyện, tại kinh đô, đạo Phật mất hết ư nghĩa, chỉ c̣n những từ ngữ rỗng không, tác giả kết thúc với câu tiên đoán bi thảm về t́nh trạng xă hội
    VN, dưới triều đại HCM: “Miệng Phật nín thinh. Đêm mạt pháp bắt đầu.”

    Bài thứ tám, Huyền thoại HCM, do Olivier Todd viết và Nguyễn Văn chuyển ngữ. Olivier Tođ là nhà văn, nhà báo Pháp nổi tiếng từng điều khiển 2 tờ tuần báo Le Nouvel Observateur – Người Quan Sát Mới và L’Express – Tin Nhanh. Oliver Todd cũng viết nhiều tác phẩm về VN được hâm mộ, trong đó có Vịt Cà Mâu, Saigon thất thủ, Tháng Tư Đen – Le cruel Avril và tác phẩm mới nhất, Cuộc thương thuyết – La négotiation. Ban đầu Oliver Tođ là người ca ngợi chính nghĩa giải phóng dân tộc của HCM nhưng sau 1975, thái độ của ông đổi hẳn.
    Mở đầu bài viết, tác giả nhận xét tổng quát: “Hồ chắc chắn là một lănh tụ có tầm vóc: ông ta chiếm và giữ quyền hành – với một giá quá đắt… Nhưng lưu danh thơm? Không! Lưu xú th́
    đúng hơn, đó là người đă đầy đọa dân hơn là giải phóng dân.”

    Sau đó tác giả đưa ra những h́nh ảnh HCM do thủ hạ và những nhà báo thiên tả tô vẽ: Đi dép râu, trong sạch như thánh, khắc khổ, ăn ít, một thứ thánh Phan-xi-cô thành Assise của chủ thuyết Lênin. Đặc biệt là “có thể khóc bất cứ lúc nào (chùi mắt trong khăn tay đỏ)…Người ta có thể tin dễ dàng rằng “bác” dường như mềm dẻo hơn đám thuộc hạ. Bồ câu trong đám diều hâu. Cũng như Staline dưới mắt đại sứ Mỹ trước đệ nhị thế chiến.” (15)
    Olivier Todd gọi một loạt tác phẩm “nịnh bợ” HCM của những nhân vật như Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Vơ Nguyên Giáp… là loại thô lỗ, đê tiện. Về phía các tác giả ngoại quốc, Olivier Todd nêu đích danh Wilfred Burchett, một tác gia? CS Úc cùng với Jean Chesneaux, Philippe Devillers và mệnh danh đây là những tên hề của lịch sử, v́ không cải chính sau khi đă biết ḿnh sai. Olivier Todd nhắc nhiều đến cuốn Fire in the lake – Lửa trong hồ của bà Frances Fitzgerauld (đă tạ ơn sư phụ là Paul Mus), và đặc biệt là cuốn viết về HCM của Jean Lacouture. Olivier Todd khen cuốn sách viết hay:”Lacouture đă viết bằng sự cuồng nhiệt của ông quan ṭa tự ăn năn và cái duyên dáng của một nữ danh ca lỗi lạc.” Nhưng sau đó Olivier Todd dành hơn 10 trang sách phơi bày những sai trái trong cuốn sách của Lacouture. Olivier Todd nêu nhiều cuộc tàn sát thủ tiêu đối lập thuộc đủ mọi phe phái không CS trong khoảng 1945-46 để bác bỏ ư kiến của Lacouture cho rằng HCM không thích bạo động và kết luận: “Trong nhăn giới của J. Lacouture có một khoảng tối om khiến ông ta cũng như lâu la của ông ta không
    thấy được sự thật.” Tuy vậy, tác giả vẫn mong Lacouture sẽ lên tiếng để góp phần dựng lại bức chân dung chính xác: “Không một Lacouture nào có trách nhiệm trong công cuộc CS hóa VN. Ông ta chỉ có lỗi bóp méo sự thực, tuyên truyền xuyên tạc khoảng 20 năm. Chúng ta mong mỏi Lacouture trở lại vấn đề VN, phá tan huyền thoại HCM. Chưa trễ lắm đâu.”
    Trong phần kết luận, tác giả viết về HCM: “Phương tŕnh cá nhân “cách mạng” của Hồ rất đơn giản: Nhu trí (software) sản xuất từ Moscow. Mỗi lần gặp khó khăn trầm trọng, ḅ về với mấy ông Bolshevik để học hỏi, lănh chỉ thị. Cương trí (hardware), từ Tàu, Hồ dùng nơi đó làm thí nghiệm và là bàn đạp để chiếm VN. Thêm vốn liếng riêng của cá nhân Hồ, thơ, thuốc, tiếu ngạo chẳng có giá trị ǵ trong cuộc chơi đă được ấn định sẵn. Hồ có khả năng che đậy tài t́nh, có tài làm đầu đảng, tính quyết định và tàn ác dị thường.”
    Và đây là những ḍng cuối bài: “VN quốc gia không cung cấp nổi cho dân ḿền Nam một ư thức hệ có khả năng chống chọi với CS của Hồ ở miền Bắc. Phe quốc gia cũng không có một huyền thoại nào có thể đem ra so sánh với Hồ. Ngày nay người ta biết thế nào là Staline. Phải chờ một thời gian nữa để cho bộ mặt thật của Hồ từ huyền thoại đi trở về lịch sử, về với
    giới trí thức và quần chúng. Chiến thắng cuối cùng của Hồ: Lăng và xác ướp của “Bác” ở Hà Nội. Người đi viếng phải đi rất nhanh: Chết hay sống, chúng ta không có quyền nh́n Hồ quá
    lâu, hoặc quá gần.”

    Bài cuối cùng, Vị trí HCM trong diễn tiến của t́nh trạng nhơn quyền tại VN, Nguyễn Ngọc Huy dành 58 trang chứng minh chế đô. CS mà HCM xây dựng ở VN thua cả chế độ quân chủ lẫn chế độ thực dân về đủ mọi phương diện: chính trị, tư pháp, kinh tế, xă hội.
    Tác giả trích dẫn nhiều sự việc cụ thể đối chiếu với những lời tuyên bố của chính HCM tạo một sức thuyết phục rơ rệt cho mọi ư kiến phê phán. Tác giả c̣n chứng minh lập luận của ḿnh bằng nhiều điểm tựa dựa trên lư thuyết CS, kinh điển Nho Gia, Pháp Gia, Hàn Phi thời phong kiến, các bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Pháp, bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 và các bộ luật VN thời quân chủ vv…Ví dụ, tác giả nhắc lại vài thực tế đời sống dưới thời Pháp thuộc: “Về mặt học thuật người VN không c̣n phải hạn chế sự suy luận trong khuôn khổ của đạo lư lưu hành thời quân chủ. Các học thuyết và tư tưởng Tây phương mọi loại đă du nhập xă hội VN. Trong số này có cả học thuyết và tư tưởng chống chọi lại ư thức hệ dân chủ tự do lưu hành tại Pháp, như các học thuyết và tư tưởng Phát xít hay Marx-Lênin chẳng hạn.
    - Quyền tự do tín ngưỡng được tôn trọng.
    - Các báo và sách viết bằng tiếng Pháp được xuất bản tự dọ . Trong đó mọi người được tự do phát biểu ư kiến về mọi vấn đề.
    - Một số cơ quan đại diện dân chúng được thành lập như hội đồng tỉnh, thành phố, viện dân biểu Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ

    …Các cuộc bầu cử thực sự tự do. Từ 1933 đến 1939, những người theo đệ tứ Quốc Tế thuộc nhóm Tranh Đấu, tuy chống đối Pháp một cách công khai và mạnh mẽ, đă nhiều lần đắc
    cử vào hội đồng thành phố Saigon, và năm 1939, liên danh của họ cũng đă đắc cử vào hội đồng quản hạt Nam Kỳ”.
    Tác giả dẫn chứng CS không chịu kư tên trong bản quốc tế nhân quyền 1948 (măi thời Gorbachev mới kư muộn) lấy cớ nó chỉ là h́nh thức. “Nhưng v́ chế đô. CS không chấp nhận các nhân quyền Tây phương mà các nhân quyền “có thực chất” của họ lại chỉ thể hiện được trong tương lai xa vời không hạn định – lúc chế đô. CS đă hoàn thành – nên trong thực tế, người dân trong chế đô. CS hoàn toàn không được hưởng nhân quyền nào. Bởi đó, tại VN, về mặt nhân quyền, chế đô. CS đă thoái bộ hơn cả chế độ thực dân lẫn chế độ quân chủ.” (16)
    Tác giả mượn ư trong thơ Nguyễn Chí Thiện (c̣n trong tù CS) để kết thúc bài viết: “Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, một nạn nhân của những vi phạm nhân quyền thời CS lănh đạo VN, đă bảo rằng phải hàng triệu năm tổ tiên loài người mới tiến từ trạng thái vượn lên trạng thái người, nhưng chế đô. CSVN chỉ trong mấy năm đă đẩy người VN ngày nay lui về trạng thái làm vượn. Khi chủ trương suy tôn HCM, phải chăng các nước hội viên của tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) có ư muốn tuyên dương thành tích hăn hữu này?”

    Trong bài viết, tác giả không nêu đích danh HCM mà chỉ nói chung về CSVN, nhưng trước mắt tác giả, CSVN đă được đồng hóa với HCM và v́ thế, tất cả tội ác của CSVN cũng chính là tội
    ác của HCM. CSVN không thể được hiểu là ǵ khác ngoài sản phẩm do HCM tạo ra theo chỉ thị của Quốc Tế CS nên mọi hành vi của CSVN không thể đặt khỏi ṿng trách nhiệm của HCM.

  6. #26
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh
    Công tội Hồ Chí Minh





    1. Mục đích xét công tội HCM là ǵ?

    Trước tiên phải nói rằng việc xét công tội của HCM không phải là một chủ đề mới mẻ ǵ mà dù bí mật hay công khai, “lề trái” hay “lề phải” cũng đă đề cập đến đề tài này từ rất lâu rồi, xét lại công tội Hồ Chí Minh là rất cần thiết để khép lại một giai đoạn lịch sử, tránh sự lợi dụng một nhân vật có ảnh hưởng như HCM để bóp méo sự thật phục vụ cho các mưu đồ chính trị bẩn thỉu, nhằm ngăn chặn sự trả thù, hay kích động bới móc xuyên tạc lịch sử, sùng bái cá nhân… để gây mất ổn định đất nước và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

    Nhưng trong hoàn cảnh một đất nước mà người dân chưa có dân chủ dân quyền, th́ đây là một điều không tưởng và việc một số tổ chức, cá nhân bên “lề trái” đang tiến hành làm công việc này là rất đáng ghi nhận và trân trọng.

    Điều không thể phủ nhận HCM là con người có tầm ảnh hưởng rất lớn trong giai đoạn lịch sử từ 1930 đến bây giờ. Trong con mắt và tâm trí của nhiều người HCM là tội đồ dân tộc, một kẻ sát nhân và tên bán nước, nhưng cũng rất nhiều thế hệ, tầng lớp, thành phần của dân chúng VN coi h́nh tượng ông ấy như một nhân việt kiệt xuất nhất trong đấu tranh dành độc lập,và giải phóng dân tộc, như một cha già dân tộc, một vị thánh.

    Đây là mâu thuẫn đau đớn lớn nhất của nội tại dân tộc VN trải dài trong suốt một thời kỳ lịch sử của các cuộc chiến tranh và nội chiến, mâu thuẫn này không được sáng tỏ và giải quyết th́ càng ngày mức độ đối kháng lẫn nhau càng quyết liệt th́ công cuộc đổi mới đất nước càng gian nan kéo dài. Sự phân hóa và chia rẽ trong nhân dân, trong các lực lượng tranh đấu chống chế độ CS cầm quyền là một tai họa và tổn thất tự có mà kẻ có lợi nhất trong mâu thuẫn này chính là lănh đạo đảng CS cầm quyền.

    Trong khi ban lănh CSVN có cả một hệ thống truyền thông, một tổ chức hoàn chỉnh sâu rộng được công khai tuyên truyền đă xây dựng HCM trở thành một vị thánh (h́nh tượng) bằng cách bắt tất cả người dân trong nước phải học tập tấm gương đạo đức HCM mà họ đă dày công nhào nặn nâng lên hàng tư tưởng như kim chỉ nam dẫn lối cho cả dân tộc đi đến bến bờ Cộng sản. H́nh tượng HCM và tư tưởng HCM là phương tiện và công cụ chủ lực cốt lơi bảo vệ cho sự tồn vong của chế độ cầm quyền độc đảng, h́nh tượng HCM và tư tưởng HCM có quan hệ mật thiết và hữu cơ, là hai vị thuốc trong cùng một đơn thuốc nó hỗ trợ cho nhau trở thành một thứ linh đan tuyệt diệu để mê hoặc nhân dân.

    Có một câu chuyện thật như thế này để minh họa, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đến thăm một trường tiểu học, ông ấy hỏi một học sinh: Cháu có yêu bác Hồ không?

    - Cậu bé trả lời mà không hề do dự: có ạ, cháu rất yêu Bác Hồ.

    TBT Mạnh lại hỏi cậu bé: cháu có biết Đảng là ai, bác Hồ là ai không?

    - Cậu bé đắn đo rồi cũng trả lời: Đảng là mẹ, bác Hồ là cha ạ.

    TBT Mạnh lại hỏi: cháu có yêu đảng không? Cậu bé cười hóm hỉnh: Đảng là mẹ, bác Hồ là cha, yêu Bác Hồ phải yêu Đảng nữa chứ ạ.

    Nông Đức Mạnh cười hềnh hệch nói với lũ bậu sậu – xây dựng h́nh tượng HCM đă thành công rồi đấy, để h́nh tượng HCM đi vào sâu rộng các tầng lớp nhân dân cần gấp rút triển khai học tập tấm gương HCM trên toàn quốc.

    Thánh Hồ bảo với con dân: con đường của dân tộc VN là con đường đi lên CNXH dưới sự lănh đạo của ĐCSVN, các Đồng chí Lănh đạo Đảng nói với dân: tuân theo giáo huấn của Thánh Hồ phải giữ Đảng đến cùng để đưa nhân dân đến thiên đường CS.

    Như vậy mục đích cuối cùng của việc nhào nặn ra h́nh tượng HCM và học tập tư tưởng HCM là để che đậy và giải thích tại sao Đảng CS của họ là Đảng đuy nhất lănh đạo và con đường đi lên của dân tộc là con đường tiến lên CNXH, đó là con đường Bác Hồ đă lựa chọn đó là ḷng dân, ư đảng.

    Trong thực tế Lănh đạo Đảng CS Việt Nam Xây dựng CNXH theo một chiều hướng tự biến tấu không giống ai và không có cơ sở duy vật biện chứng, cũng như duy vật lịch sử đó là “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” và học thuyết Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với quyết tâm “Đổi mới mà không đổi màu, ḥa nhập mà không ḥa tan”. Mớ lư thuyết rối như canh hẹ này chính là biểu hiện của sự bế tắc và mâu thuẫn giữa mục đích và phương tiện mà bản chất trong khi không muốn từ bỏ quyền duy nhất là một Đảng cầm quyền nhưng cũng không thể kiên định măi học thuyết Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giáo điều và lỗi thời trong một nền kinh tế quan liêu, bao cấp tem phiếu tŕ trệ và đói nghèo. Nhưng dù có câu chữ ǵ đi nữa th́ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng không không hơn ǵ nền kinh tế kế hoạch, tập trung mà về bản chất bóc lột nó c̣n tàn tệ hơn cả kinh tế thị trường tự do, v́ nó dựa trên các tập đoàn kinh tế nhà nước đặc quyền đặc lợi làm xương sống mà các ông trùm Tư Bản Đỏ là các ông chủ, hoạt động theo các chính sách mà chính họ đẻ ra và bợ đỡ. Hậu quả là các tập đoàn kinh tế nhà nước thông qua hệ thống chính sách và các nghị quyết TW được TT Dũng hợp thức hóa đă lũng đoạn nền kinh tế đất nước, thu vén cho các nhóm lợi ích (thực ra đến thời điểm này là không phù hợp mà phải gọi là Lợi ích của lănh đạo Đảng), đẩy nền kinh tế đi đến thảm họa, đồng thời với tệ nạn tham nhũng tràn lan vô phương cứu chữa, và sự băng hoại đạo đức ghê tởm trong chóp bu những kẻ cầm quyền biến họ trở thành những kẻ tàn ác với nhân dân, và hèn hạ với Trung Quốc.

    Trước nhu cầu cấp bách cần sự đổi thay đất nước đă có rất nhiều nhà phân tích, nhóm phân tích của các bên phản kháng chế độ CS cầm quyền VN đă đưa ra nhiều giải pháp,biện pháp, h́nh thức đấu tranh nhằm lật đổ chế độ CS cầm quyền, và một trong những yêu cầu hàng đầu được thống nhất cao đó là việc phải đánh giá lại công tội của Hồ Chí Minh để mục đích cuối cùng là phải đánh sập h́nh tượng Hồ Chí Minh, thức tỉnh nhân dân khỏi cơn mê dài hàng vài thập kỷ do bị Đảng CS cầm quyền bỏ bùa mê thuốc lú.

    2. Công tội HCM được đánh giá như thế nào?

    Có rất nhiều cá nhân, nhóm tác giả đă nghiên cứu (tạm gọi là lề trái), đánh giá HCM, được phổ biến trên các diễn đàn, và phương tiện thông tin đại chúng (báo mạng, báo viết, phát thanh, truyền h́nh) nhưng đây chỉ là các bài viết có tính chất cung cấp thông tin, và đánh giá, b́nh luận trên một vài khía cạnh của vấn đề mà chưa đạt được đến mức cho đại đa số nhân dân có cái nh́n tổng thể, toàn diện về Hồ Chí Minh và bản chất phản động của ban lănh đạo Đảng CS cầm quyền VN, các bài viết này c̣n gây tranh căi rất nhiều trong mọi phía thậm chí một phía từ nhiều thành phần và tầng lớp… trong XH làm cho mục đích là thông qua đánh giá công tội HCM để vạch mặt Lănh đạo ĐCS cầm quyền, đoàn kết các lực lượng tranh đấu th́ lại xảy ra rất nhiều quan điểm trái chiều xung quanh các bài viết các tác phẩm..

    Những điều thiếu xót và sai lầm trong cách thể hiện thường thấy của các bài viết các b́nh luận… thông thường như sau:

    - Đánh giá công tội HCM không gắn liền với Đánh giá công tội của Ban lănh đạo Đảng CSVN: Ngay cả Đảng CSTQ khi đánh giá công tôi Mao Trạch Đông cũng đặt vấ đề lên này hàng đầu, Đặng Tiểu B́nh đă phát biểu ư kiến: “Chúng ta đă hoàn thành bản “Quyết nghị” một cách hoàn hảo, nhất là phần phân tích những vấn đề xoay quanh việc đánh giá đồng chí Mao Trạch Đông, nhưng có chỗ nói c̣n hơi quá lời, nên sửa chữa đôi chút. Những phần thuộc về trách nhiệm, đương nhiên trách nhiệm chính vẫn là của Mao Trạch Đông nhưng cũng không thể bỏ qua trách nhiệm của tập thể ban lănh đạo”. Có một số bài viết đă kết luận theo khuynh hướng đổ tội hết mọi sai lầm tội lỗi cho HCM là một thiếu sót cực lớn khi bỏ qua hoặc không nêu mối quan hệ liên đới, các sai lầm và tội lỗi của ban lănh đạo Đảng CSVN như vậy là bỏ xót đối tượng và bị mắc mưu đối tượng này.

    - Đánh giá công tội HCM không xét đến bối cảnh và hoàn cảnh khách quan, chủ quan tại thời điểm diễn ra của sự kiện mà thường đem hoàn cảnh, bối cảnh trong quá khứ trước sự kiện và hiện tại để so sánh và nhận định cho nên người đọc, người nghe cảm giác tác giả chụp mũ, ép buộc đối tượng rất khiên cưỡng. Mối quan hệ giữa cá nhân với thời thế và thời thế với cá nhân được thể hiện sai phạm rất nghiêm trọng, thời thế tạo anh hùng, hay anh hùng tạo thời thế, nếu cứ như các tác giả viết th́ HCM là con người không tạo ra thời thế, nhưng lại có quyết định thời thế và ngược lại… nói chung là rất khó phân định điều này nên tính thuyết phục cũng rất thấp.

    - Bản thân sự mờ ảo trong thân thế, sự nghiệp của HCM đang được cần sáng tỏ bởi v́ HCM là bao gồm một phần của hiện thực trong chính con người ông ấy và phần c̣n lại được thêu dệt, tô son, trát phấn để trở thành một thánh nhân nhưng các tác giả lại cứ lên án phần thánh nhân của ông ấy mà không t́m ra cái vô lư của thánh nhân do kẻ nào tạo ra, cái phần thực thể như bao con người khác có cần lên án không? Và lên án ở chỗ nào ở bản ngă hay ở sự dối trá và tại sao như vậy nếu viết được như thế th́ hay và có sức thuyết phục hơn không.

    - Thiếu khách quan trong việc đánh giá cùng một hiện tượng, cùng bản chất như nhau nhưng lại người này là đúng là hay, người này là yêu nước nguời kia là bán nước, người này là do khách quan,do hoàn cảnh, người kia là chủ mưu chủ định… như việc đánh giá HCM với Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu ai là bán nước ai là yêu nước mà không thấy rằng đây là một đánh giá rất dễ xảy ra tranh căi v́ nếu thiên về bên nào th́ chắc là có chuyện với bên kia, có một điều mà các nhà đánh giá cần thấy rằng có những nhân vật mà lịch sử măi măi không bao giờ đánh giá được ở một góc độ nào đó như Napoleon, Tào tháo, Lê nin và thậm trí cả Stalin, Ngô Đ́nh Diệm… cho nên đánh giá một người thường đă là khó đánh giá các nhân vật có ảnh huởng đến lịch sử lại c̣n khó hơn lao vào đề tài này đừng vội chủ quan, cho ḿnh là đúng hết.

    - Nếu nhận định HCM là một cái xác không hồn và thối rữa lâu rồi, mọi thứ của ông ấy không lừa bịp được ai th́ lại là một sai lầm lớn. V́ nếu ông ấy như thế th́ cần ǵ phải xét công tội, phải tốn nhiều tranh căi và giấy mực như thế, thực chất ảnh hưởng của cá nhân HCM rất lớn trong rất nhiều bộ phận người VN mà có thể nói đă được nâng lên thành sự tôn thờ mang tính tôn giáo như thánh, phật mà khi nó đă trở thành tôn giáo tức là nó đă trở thành món ăn tinh thần th́ xin hăy cẩn thận tuyên chiến với tôn giáo là tự sát, nên khi viết đề tài HCM hay xét công tội của ông ấy mà báng bổ trực diện gây tổn hại đến đức tin của họ là tạo ra sự phản kháng ngược lại (Mặc dù bộ phận này cũng chỉ là mê muội mà thôi). Hăy viết, hăy làm những ǵ mà có bằng chứng vững chắc, có lập luận rơ ràng, có lợi thực sự cho nhân dân đất nước, cho lôi kéo lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân đừng v́ quá hận thù hay mục đích cá nhân mà mất tỉnh táo, trở thành kẻ phục vụ cho thiểu số những người chỉ v́ sự hận thù cá nhân, hay quá khứ và hăy xác định đă đi vào đề tài này sự kiện này th́ coi như phần bản ngă của ḿnh phải bằng số không.

    - Cũng cần phải nhận thấy rằng đánh giá một nhân vật lịch sử hay một sự kiện lịch sử lớn lao không có kết luận của một các nhân, hoặc tổ chức vô pháp nhân nào có thể trở thành phán quyết của lịch sử mà trong các bài viết của một số tác giả sự nhân danh cáo buộc và phán xét rất nhiều, đến như tổng thống Nga Medvedep khi đánh giá về Stalin th́ cũng chỉ là ư kiến cá nhân, không phải ông ấy là tổng thống th́ câu nói của ông ấy đă trở thành phán quyết, cũng phải hiểu thêm rằng chúng ta là người cầm bút nói lên những ǵ thuộc về quan điểm của chúng ta, chúng ta viết cho người đọc để họ phán xét chứ chúng ta không phải là quan ṭa. Đây cũng là lỗi hay mắc phải của người viết và người đánh giá.

    - Bản chất của lịch sử là sự kiện mà bằng chứng và nhân chứng là hai điều kiện quyết định tính xác thực của sự kiện nó làm cho việc đánh giá hay phán quyết trở nên dễ dàng hơn nhiều, nhưng bằng chứng hay nhân chứng như thế nào là xác đáng, đáng tin cậy, ai chứng minh cho sự xác đáng đó là một điều khó nhất cho người viết, v́ vây nếu bằng chứng và nhân chứng từ các nguồn không tin cậy th́ tuyệt nhiên không bao giờ sử dụng, những sự kiện về HCM đă qua mấy chục năm các nhân chứng đă mai một nhiều các bằng chứng đă bị tam sao thất bản cũng là điều khó cho người viết v́ vậy việc sử dụng các bằng chứng và nhân chứng là điều rất quan trọng chỉ sai một li là mất tính thuyết phục, đây cũng là những lỗi mà nguời viết về đề tài HCM cũng hay vấp phải.

    Dù là đề tài xét về công tội HCM th́ mục đích chính như trên đă nói th́ cuối cùng là rút ra được bài học kinh nghiệm, có tính chất giáo dục với các thế hệ mai sau, tránh các sai lầm trong quá khứ, phân biệt công tội rơ ràng nhưng vẫn bao dung, độ lượng, không làm tổn hại đến những thực thể hiện tại đang sống có liên đới một cách không cần thiết tránh mầm mống của sự uất hận và trả thù, đoàn kết và tập hợp mọi tầng lớp thành phần… để xây dựng một nước VN mới dân chủ, dân quyền và giàu mạnh.

    Tôi viết bài này nhằm góp ư cho việc đánh giá công tội HCM của các tác giả đang viết chủ đề này ngày càng hoàn thiện và thuyết phục hơn để góp phần cho công cuộc đổi thay đất nước mà việc đánh sập h́nh tượng Hồ Chí Minh, thức tỉnh nhân dân khỏi cơn mê dài hàng vài thập kỷ do bị Đảng CS cầm quyền bỏ bùa mê thuốc lú là một yêu cầu cấp bách.

    Hoàng Việt
    http://danlambaovn.blogspot.com/

  7. #27
    Member
    Join Date
    19-09-2011
    Posts
    11

    TÁC GIẢ BÀI VIẾT “HIỆN TƯỢNG HỒ CHÍ MINH VÀ THẢM HỌA DÂN TỘC” CÓ PHẢI LÀ MỘT NGƯỜI MẮC BỆNH TÂM THẦN?

    V́ tôi chưa được gặp người này nên phải đặt dấu hỏi.C̣n sau khi đọc bài viết th́ có thể khẳng định ngay rằng tác giả bài viết này mắc bệnh tâm thần một trăm phần trăm. Toàn bộ tư liệu trong bài viết về Hồ Chí Minh là ông tự nghĩ ra, mà lại tự sáng tác một cách rất tâm thần.
    Tác giả cho rằng Hồ Chí Minh “vu cho anh chị ḿnh mắc bệnh điên” nên tránh gặp mặt (?!). Tác giả bài viết v́ thiểu năo, mắc bệnh điên nên mới nghĩ đến chữ “điên”. Hồ Chí Minh về quê hai lần th́ tác giả viết một lần. Lư do về quê ít, theo tác giả “tránh gặp mặt hay sợ bị lộ tẩy ḿnh là Hồ giả do Đảng Cộng sản Tàu đánh tráo. C̣n ông Nguyễn Tất Thành đă chết rồi (chỗ này tác giả đặt dấu ?, chứng tỏ không tin vào điều ḿnh viết). Câu chuyện Hồ Chí Minh giả hay thật đă “xưa như trái đất”. Tức là đă có tác giả người Đài Loan viết về sự kiện này, nhưng ngay sau đó lập tức bị bác bỏ, v́ câu chuyện như tṛ con nít. Bây giờ tác giả bài này, tưởng vớ được tư liệu mới tung ra để nói xấu Hồ Chí Minh, hù dọa, lừa bịp những ai không biết.
    Thật đau khổ cho người v́ đôla viết báo, nên trở thành người tâm thần. Nghe người ta nói Hồ Chí Minh thật chết trong tù rồi, c̣n sau này là Hồ Chí Minh giả cũng cứ viết lại như vậy mà không hề có chút suy nghĩ ǵ về câu chuyện thật, giả như thế nào. Không hề biết tự đặt câu hỏi, nếu là Hồ Chí Minh giả th́ làm sao có thể khi về quê lại biết rơ ngóc ngách vườn tược, nhà cửa, trước đây trồng cây ǵ, ngơ đi ở đâu, ao sen, ḷ rèn, ông bạn Điền ... như thế nào. Đến bây giờ mà vẫn c̣n có người viết về Hồ Chí Minh như vậy th́ không tâm thần mới là lạ. Tác giả lại c̣n viết: “Ông đi lang thang các tỉnh nhưng Nghệ An th́ xin miễn”. Ở trên th́ viết về thăm quê một lần, đoạn dưới lại viết “xin miễn”. Rồi lại viết: “Sắp chết lại muốn người ta hát cho một bài tiếng tàu”. Kỳ lạ! Cả thế giới lần đầu tiên đọc được một người viết rằng trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh muốn nghe một bài hát tiếng Tàu (?!). Trong lúc đó sự thật th́ trước lúc đi xa, Bác muốn nghe một câu ḥ xứ Huế, một câu ḥ xứ Nghệ và một khúc hát dân ca.
    Tác giả tuy có bệnh về trí năo, nhưng cũng lường trước được cái ǵ sẽ đến sau khi bài báo đến độc giả, nên đă viết một cách đón trước: “Tôi viết như vậy sẽ khối kẻ vờ vĩnh săn câu, bẻ chữ để bắt bẻ”. Chẳng có độc giả nào thèm vờ vĩnh săn câu, bẻ chữ cả. Vờ vĩnh với ai? Vờ vĩnh cái ǵ? Vờ vĩnh để làm ǵ? Câu chữ lồ lộ ra đấy, cần ǵ phải “săn câu bẻ chữ”. Viết như tâm thần th́ có ǵ mà phải vờ vĩnh và săn câu, bẻ chữ. Tôi nói thật nhá, tôi chẳng vờ vĩnh, săn câu bẻ chữ chút nào. Tôi nói thẳng rằng: những điều viết trong bài báo, ngay cả kẻ trả tiền thù lao cho tác giả cũng ngượng chín mặt. Đến bây giờ mà vẫn c̣n viết “Hồ Chí Minh dụ Pháp quay trở lại Đông Dương” (!?). “Hồ Chí Minh gây chiến với Pháp để làm món quà tặng Stalin”(!?). “Bịa đặt ra vụ án Ôn Như Hầu” (!?). “Pháp trao trả độc lập cho ta” (!?), “Xâm lấn miền Nam”... Rồi đi đến kết luận: “Hồ Chí Minh là nghiệp chướng của dân tộc”(!?). Chỉ có kẻ tâm thần và điên khùng mới viết như vậy. Viết như vậy th́ ngay cả những người Pháp và Mỹ (trước đây) cũng không hiểu tác giả bài viết này chui từ đâu lên.
    Nếu tác giả không thừa nhận ḿnh là người mắc bệnh tâm thần th́ cũng là người điên. Viết như vậy mà không sợ thế giới họ truy nă toàn cầu v́ xúc phạm bao nhiêu cây bút, các nhà chính khách, khoa học trên thế giới ca ngợi Hồ Chí Minh.
    Thế giới ngày nay mà vẫn c̣n những cây bút kiểu này th́ đó là một thảm họa cho giới truyền thông đôla, đi ngược lại những ǵ tiến bộ, chân chính của nhân loại.

  8. #28
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh
    SỰ THẬT ... LÀ ...SỰ THỰC


    Có mặt từ đầu tới cuối cuộc biểu t́nh tuần hành của nhân dân Việt Nam chống Trung Quốc tại Hà Nội 05/06/2011, cũng như xem lại các đĩa ghi h́nh do các anh em trong Sài G̣n tác nghiệp gửi ra. Tôi thấy khác với các cuộc biểu t́nh trước đây, như trong các cuộc biểu t́nh của dân oan mất đất, bị cưởng chế, giáo dân, phật tử bất măn v́ bị đàn áp. Trong các cuộc biểu t́nh này người dân thường mang theo cờ nước, ảnh bác và cả cờ Đảng (?), mục đích chỉ để làm b́nh phong và để tránh bị chụp mũ phản động. Trong tất cả các đĩa ghi h́nh cũng như theo dơi các h́nh ảnh được post trên các blog lề trái tôi thấy chỉ có mỗi một tấm ảnh cỡ nhỏ của Hồ Chí Minh được dương lên , ngoài Hà Nội th́ chỉ có ảnh của Tướng Giáp cỡ lớn, chỉ có một tấm ảnh cỡ nhỏ ảnh bác do một cậu thanh niên mang kính cầm . Bài hát “Như có bác hồ trong ngày vui đại thắng” chỉ được cất lên rời rạc, lạc lơng trong khoảng 20′ đoạn cạnh Lănh sự quán TQ, mặt bên đường Phạm Ngọc Thạch(Duy Tân cũ) và khoảng 15′ đoạn Nguyễn Thị Minh Khai trước các cửa hàng bán trang thiết bị thể dục thể thao thuộc Câu lạc bộ Lao Động khi đoàn biểu t́nh tuần hành trong Sài G̣n đi qua , sau đó tắt ngấm. Trong khí thế hừng hực chống TQ bành trướng của nhân dân VN ở hai thành phố lớn : Hà Nội, Sài G̣n, tôi thấy có đủ thành phần có các cụ già, thanh niên, thiếu nữ, học sinh, sinh viên, có người c̣n công kênh cả trẻ con trên vai để đi biểu t́nh. Trong một bức ảnh chụp tại góc đường Nguyễn Du-Thủ Khoa Huân(Sài G̣n) xeo xéo ṭa soạn báo CA, tôi thấy có mặt của nhà thơ Đỗ Trung Quân, ông Lê Hiếu Đằng, nhà báo Đinh Quốc Thái, cụ Nguyễn Đ́nh Đầu, ông người Pháp quốc tịch VN Andre Hồ Cương Quyết và cả nhà hoạt động trong phong trào đốt xe Mỹ khét tiếng một thời Huỳnh Tấn Mẫm.

    Trong khi đó ngược lại phía chính quyền Toàn trị CS VN, ngoài ṿng rào an ninh, cảnh sát giao thông, dân pḥng, trong Sài G̣n c̣n huy động cả lực lượng Thanh niên xung phong, Trật tự đô thị, trước Đại sứ quán TQ, đường Hoàng Diệu, Hà Nội, Lănh sự quán TQ tại đường Nguyễn Thị Minh Khai, c̣n cho xe CS 113 đi kèm đoàn biểu t́nh nhắc nhở giử trật tự và xua người biểu t́nh lên lề đường. Trong Sài G̣n chính quyền c̣n lập hẳn một bộ chỉ huy tiền phương gồm đủ mặt quan chức tai to mặt nhớn như Nguyễn Văn Đua, phó bí thư Thường trực, Nguyễn Thành Tài, phó chủ tịch UBNDTPHCM, Nguyễn thị Quyết Tâm….trà trộn lẫn trong ḍng người biểu t́nh th́ các cán bộ an ninh của đủ loại cục như A67, A83… và cả những nhà chống TQ “ôn ḥa” khuyên mọi người giải tán để mọi chuyện cho nhà nước lo, dân đừng có dại mà lo ??? Trong các trường Đại học th́ lưu hành một thông báo của Ban Giám hiệu, khuyên Sinh viên không nên đi biểu t́nh. Nếu bên an ninh xác định được h́nh ảnh, tên tuổi và gửi thông báo về nhà trường, th́ SV đó sẽ bị đuổi học ???

    Về mặt báo chí th́ TTXVN cực lực phản đối các hăng thông tấn báo chí nước ngoài đưa tin về cuộc biểu t́nh. Tất cả các báo lề phải đều đưa tin : ” “Một số” người phản đối hành động của TQ trong ôn ḥa” ???. Ông thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh th́ trả lời phóng viên BBC : ” Đây là hành động tự phát của người dân, cuộc tuần hành theo tôi được biết, đă diễn ra b́nh tĩnh, trật tự, không cản trở giao thông và cũng không mang các biểu ngữ mang tính kích động. Nhưng theo tôi là không nên, dù đấy bắt nguồn từ ḷng yêu nước. Người dân phải tin rằng Nhà nước sẽ có giải pháp, có đủ trách nhiệm để vừa giữ vững chủ quyền lănh thổ vừa duy tŕ ḥa khí và quan hệ với TQ” ??? Ông Bộ trưởng Phùng Quan Thanh th́ tuyên bố : “Chính sách của VN là ḥa b́nh và tự vệ”. Đến đây tôi lại nhớ đến các sủa sỹ trên các diễn đàn Dân chủ thường hay trêu các nhà Dân chủ với câu : “trùm chăn để đánh vơ mồm, đấu tranh Dân chủ”. Chắc có lẽ Bộ Quốc pḥng VN và cả Chính phủ VN cũng đang “trùm chăn’ để giữ toàn vẹn lănh thổ và chủ quyền đất nước ? Một thái độ và những câu phát biểu khó hiểu về phía chính quyền VN trước sự xâm phạm trắng trợn, thô bạo của TQ.

    Những động thái khó hiểu hiện tại của chính quyền CS VN hiện nay, đối chiếu lại những hành động trong quá khứ của Hồ Chí Minh nói riêng và chính quyền CS VN nói chung, trong quá khứ . Chúng ta thấy :

    1- Hồ Chí Minh đă mượn bút danh Nguyễn Ái Quốc của nhóm chí sỹ Phan Bôi Châu, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền để tạo dựng uy tín, đánh bóng tên tuổi của một anh phụ bếp chân ướt, chân ráo mới gia nhập vào cuộc chơi trính trị.

    2-Hồ Chí Minh và ĐCS VN đă mượn và lợi dụng sự tin tưởng của các đảng phái và tất cả các thành phần trong xă hội để thành lập mặt trận Việt Minh và sau khi cũng cố được lực lượng và thanh thế đă quay sang thanh trừng, loại bỏ các đảng phái liên minh bằng cuộc đánh úp của Vơ Nguyên Giáp và Huỳnh Thúc Kháng 07/1946

    3-Hồ Chí Minh và ĐCS VN đă mượn cớ “công bằng cho nông dân nghèo” và lợi dụng sự mù quáng và cả sự sợ hăi của đa số nông dân miền Bắc để tiếm đoạt tài sản hợp pháp của những địa chủ mà không thông qua sự xét xử của bất cứ một ṭa án nào ngoài ṭa “đấu tố”

    4-Hồ Chí Minh và ĐCS VN đă mượn sự ấu trĩ và ngây ngô về chính trị của dân chúng để vùi dập những nhà đấu tranh cho Tự do ngôn luận, Tự do sáng tác đầu tiên ở miền Bắc CS qua vụ án Nhân Văn giai phẩm.

    5-Hồ Chí Minh và ĐCS VN đă mượn sự tin tưởng của nhân dân miền Bắc để bán lănh hải, biển đảo cho TQ, qua công hàm 14/09/1958 của Ung Văn Khiêm và Phạm Văn Đồng thừa lệnh Hồ Chí Minh.

    6-Hồ Chí Minh và ĐCS VN đă mượn tinh thần yêu nước của nhân dân VN để dương cao ngọn cờ Giải phóng Dân tộc để cưỡng chiếm miền Nam VN

    7-ĐCS VN đă mượn sự tin tưởng của nhân dân VN để kư hiệp định trên bộ 1991 do Lê Khả Phiêu kư để nhượng lănh thổ trên bộ cho TQ.


    Hiện nay ĐCS VN đang mượn và lợi dụng sự tin tưởng của nhân dân VN để làm ngơ cho việc TQ đă chiếm các ḥn đảo trong quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, làm căn cứ quân sự và khuyên người dân b́nh tĩnh để cho nhà nước “no” trùm chăn “vừa giử chủ quyền lănh thổ vừa duy tŕ ḥa khí với TQ” người anh em bốn tốt, 16 chữ vàng ??? và bảo thủ với “chính sách ḥa b́nh và tự vệ” ???.

    Việc trong cuộc biểu t́nh tuần hành 05/06/2011 ảnh Hồ Chí Minh xuất hiện đơn độc, lẻ loi, bài hát “Như có bác hồ trong ngày vui đại thắng” cất lên yếu ớt và tắt ngấm trong tiếng ḥ hét : ” Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” , ” Hoàng Sa, Trường Sa” – ” “Việt Nam” vang dội trên đường phố cũng như vang măi trong ḷng người Việt Nam yêu nước trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại. Phải chăng nhân dân Việt Nam đă bắt đầu tỉnh ngộ và bắt đầu đánh giá vai tṛ của Đảng CS VN và Hồ Chí Minh trước lợi ích Dân tộc, quyền lợi quốc gia ?

    Một khi nhân dân đă tỉnh ngộ th́ có đến Mác, Lê, Mao, Hồ có sống lại cũng phải cùng nhau cuốn xéo về vui thú điền viên, chứ đừng có mơ “Mượn đầu heo nấu cháo” nữa mấy anh ĐIẾM GIÀ HẾT THỜI.
    Hà Nội
    Oanh Yến Thị Phạm

  9. #29
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh

    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh
    Giải Mă Hồ Chí Minh


    Mylinhng@aol.com
    Chính tên đổ tể Mao Trạch Đông chủ trương chia 2 nước VN, khi cử Chu Ân Lai triển khai Hiệp Định Geneve với Pháp, Việt Nam chỉ là con chốt trên bàn cờ. C̣n Hồ Chí Minh là tên gián điệp Tàu thi hành chỉ thị của Mao, thực hiện những việc tội ác tày trời đối với dân tộc VN:

    1) Hồ chia 2 đất nước VN bằng Hiệp Định Geneve.
    2) Hồ chỉ thị Tố Hữu làm ra những bài thơ tôn thờ Mao như “Giết, giết nữa bàn tay không chút nghỉ…..Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt”, rồi đưa vào học đường bắt sinh viên học sinh học tập.
    3) Hồ dùng lá cờ đỏ sao vàng của tỉnh Phúc Kiến cũng là một âm mưu thâm độc của Mao.
    4) Hồ dâng Hoàng Sa & Trường Sa cho Tàu qua công hàm bán nước Phạm Văn Đồng kư.
    5) Hồ thi hành kế hoạch giết hết trí thức, nhân tài của VN bằng chủ trương: “Trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ” trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất làm trên 500.000 dân vô tội bị chết oan ức.
    6) Hồ xẻ dọc Trường Sơn để thực hiện con đường ṃn HCM, đưa bộ đội vào Nam, làm hàng trăm ngàn thanh niên miền Bắc bị giết hại, để thực hiện một cuộc chiến tranh phi nghĩa, huynh đệ tương tàn, làm trên 3 triệu dân Việt bị giết hại.
    7) Hồ xua quân tổng công kích Mậu Thân vào ngày Tết Thiêng Liêng của dân tộc VN, rồi sau đó c̣n ra lệnh chôn sống trên 7 ngàn thường dân vô tội ở Huế.

    Hồ có phải là người Việt Nam???

    - Tại sao Hồ lấy vợ Tàu là Tăng Tuyết Minh và cũng đă có con?
    - Tại sao Hồ đă học trung học mà tiếng Việt không rành, viết sai lỗi chính tả tùm lum và lại toàn viết bằng kư hiệu của phiên âm, như “zân chủ, hạnh fúc,zao fó, ngĩ ngơi…”?
    - Tại sao Hồ không lấy tên cúng cơm là Nguyễn Sinh Cung hay Nguyễn Tất Thành khi đă làm chủ tịch nước?
    - Tại sao Hồ chưa từng bận quốc phục VN với áo dài khăn đóng trong những dịp Tết hoặc lễ?
    - Hồ thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam vào năm 1930, nhưng tại sao Hồ chưa từng làm Tổng Bí Thư cho đến 1956, các TBT theo thứ tự: Trần Phú (1930), Lê Hồng Phong (1934), Hà Huy Tập (1936)… ? Giải mă HCM nằm ngay điểm này, v́ Hồ bị chính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông năm 1931, rồi Hồ bị bịnh lao phổi trong nhà tù vào 1932. Vào thời điểm này, bịnh lao phổi là bịnh nan y do vi trùng Koch gây ra, không ai có thể thoát chết được v́ chưa có thuốc Streptomycine. Dễ hiểu, 100% Hồ đă chết v́ bịnh ho lao th́ làm sao làm TBT được. Đó cũng là lư do Hồ hoàn toàn vắng mặt trên chính trường quốc tế, rồi bất th́nh ĺnh xuất hiện tại hang Pắc Pó vào năm 1941. Một người làm chính trị như Hồ lại không làm ǵ cả trong suốt thời gian dài 8-9 năm, (1932-1941) qúa khôi hài.
    - Lư do nào khi Hồ làm chủ tịch lại không về Nghệ An thăm lại ḍng tộc của ḿnh, mà c̣n lẫn tránh việc chị ruột của Hồ là Nguyễn Thị Thanh lên Hà Nội t́m Hồ?
    - Tại sao Hồ muốn nghe ca sĩ Tàu hát nhạc Tàu rồi mới chịu chết?
    - Lư do nào Hồ muốn toàn dân Việt gọi ḿnh là “bác”, và gọi là “bác Hồ” chứ không phải “bác Minh”? Hoàn toàn sai văn phạm Việt Nam. Chẳng ai gọi Tổng Thống Nguyễn hay Tổng Thống Ngô bao giờ, mà phải gọi TT Thiệu, TT Diệm.
    - Tại sao tiền VN chỉ mang bộ mặt Hồ? Bộ VN ḿnh, trên 4000 năm qua, không có anh hùng dân tộc?
    Ngày 18 tháng 7 năm 2012
    Mylinhng@aol.com


    http://danlamthan.wordpress.com/2012...a-ho-chi-minh/

  10. #30
    Member
    Join Date
    20-04-2011
    Posts
    5,771
    Tiểu sử thật về Hồ Chí Minh
    Ông Hồ mấy vợ? (I)

    Trần Gia Phụng




    Lời nói đầu: Sau khi các báo đăng bài viết của tôi nhan đề “Sự thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương”, th́ có một độc giả nhận là du học sinh Việt Nam, đă e-mail hỏi tôi về việc gia đ́nh và vợ con của Hồ Chí Minh. Câu hỏi nầy trùng với đề tài một bài báo tôi đă viết và đăng trên Thế Kỷ 21 ở California gần mười năm trước. Tôi hiệu đính và đăng lại bài nầy, hy vọng để cung cấp cho các bạn trẻ thêm một số thông tin về đời sống Hồ Chí Minh mà trong nước cấm kỵ và bưng bít.



    Một người đến tuổi trưởng thành, lập gia đ́nh là chuyện b́nh thường. Hồ Chí Minh là một con người như mọi người. Do đó, nếu Hồ Chí Minh lấy vợ th́ không có ǵ đáng nói. Tuy nhiên, bản thân Hồ Chí Minh cũng như đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) luôn luôn xưng tụng ông Hồ là một người chỉ nghĩ đến việc phục vụ đất nước nên không có thời giờ lập gia đ́nh, và không có vợ con. Sự thật không phải như thế. Tài liệu cho thấy rằng ít nhất ông Hồ đă bốn lần lấy vợ.


    1. Tăng Tuyết Minh, ngượi vợ đầu

    Tăng Tuyết Minh: thời xuân sắc và lúc tuổi già ṃn mỏi đợi chờ (với ảnh vẫn trên tường)

    Tháng 10/1924, Nguyễn Ái Quốc, tên của ông Hồ thời mới qua Liên Xô, rời Moscow đi Vladivostok (Hải Sâm Uy), hải cảng cực đông Liên Xô, trên bờ biển Thái B́nh Dương. Từ đây, ông đáp tàu thủy, xuống tới Quảng Châu khoảng giữa tháng 11-1924, với bí danh Lư Thụy, một công dân Trung Hoa, làm thư kư kiêm thông ngôn trong phái đoàn cố vấn Borodine (Liên Xô) bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên ở Quảng Châu, trong giai đoạn liên minh quốc cộng lần thứ nhất ở Trung Hoa.

    Trong thời gian sống tại Quảng Châu, ngoài những hoạt động chính trị, Lư Thụy (Nguyễn Ái Quốc), Uỷ viên Đông phương bộ của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS), đă kết hôn với một nữ đảng viên CSTH là Tăng Tuyết Minh (1905-1991) ngày 18-10-1926. Lễ kết hôn diễn ra tại nhà hàng Thái B́nh ở trung tâm thành phố Quảng Châu với sự hiện diện của các bà Đặng Dĩnh Siêu (vợ ông Chu Ân Lai), Bào La Đ́nh, Thái Sướng. Hai người chia tay khi chiến tranh Quốc Cộng bùng nổ ngày 12-4-1927.(1) Lư Thụy trốn đi Vũ Hán, đến Thượng Hải, theo đường biển lên Vladivostok (Hải Sâm Uy), qua Moscow khoảng giữa tháng 6 năm 1927.

    Cuối năm 1927, Lư Thụy (Nguyễn Ái Quốc) được ĐTQTCS chuyển qua hoạt động ở Tây Âu một thời gian ngắn, rồi đến Ư. Tại đây, ông được gởi qua Xiêm La (Thái Lan) và ông đến Xiêm tháng 8-1928. Trong thời gian họat động ở Xiêm La, Lư Thụy có gởi cho Tăng Tuyết Minh một lá thư bằng chữ Nho, bị mật thám Pháp phát hiện ngày 14-8-1928, nên thư không đến tay người nhận(2)

    Vào tháng 5-1950, nh́n thấy h́nh Hồ Chí Minh trên Nhân Dân Nhật Báo (Trung Hoa), bà Tăng Tuyết Minh gởi nhiều lá thư cho ông Hồ, thông qua đại sứ Việt Minh ở Bắc Kinh là Hoàng Văn Hoan, nhưng đều không được trả lời. Sau năm 1954, bà Tăng Tuyết Minh xin qua Hà Nội gặp Hồ Chí Minh, cũng bị từ chối. (3)

    Thư Lư Thụy gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng (Công an) Đông Dương phát hiện ngày 14/8/1928
    Nguồn: Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l'Indochine au Vietnam
    Nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội phủ nhận mối quan hệ giữa Lư Thụy và Tăng Tuyết Minh. Họ cho rằng nếu lá thư có thật, chẳng qua là Lư Thụy thường thông tin với các đồng chí dưới dạng thư t́nh để qua mặt giới t́nh báo của các nước tại Quảng Châu, Trung Hoa. Sự phản bác nầy không hữu lư, v́ chú ư đọc kỹ lá thư với lời lẽ rất thân thiết lăng mạn (muội, huynh, t́nh thâm), th́ không thể là thư liên lạc b́nh thường.

    Sau đây là lá thư Lư Thụy gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng (Công an) Đông Dương phát hiện ngày 14/8/1928:

    “Dữ muội tương biệt,
    Chuyển thuấn niên dư,
    Hoài niệm t́nh thâm,
    Bất ngôn tự hiểu.
    Từ nhân hồng tiện,
    Dao kư thốn tiên,
    Tỷ muội an tâm,
    Thị ngă da vọng.
    Tịnh thỉnh nhạc mẫu vạn phúc.
    Chuyết huynh Thụy.”

    Tạm dịch:

    “Cùng em chia tay nhau,
    Thấm thoát nháy mắt đă hơn năm,
    Nhớ nhung t́nh sâu,
    Không nói cũng tự biết.
    Nay nhân gởi tin hồng nhạn,
    Xa xôi gởi lá thư mang tấm ḷng,
    Mong em yên tâm,
    Là điều anh trông ngóng.
    Cũng xin vấn an nhạc mẫu vạn phúc.
    Người anh vụng về Thụy.” (4)



    2. Nguyễn Thị Minh Khai, người đồng chí

    Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tại Vinh (Nghệ An), con ông Nguyễn Huy B́nh, nhân viên hỏa xa, và là chị của Nguyễn Thị Quang Thái, vợ đầu của Vơ Nguyên Giáp. Minh Khai học trường tiểu học Pháp Nam ở Vinh. Năm 1928, Minh Khai gia nhập Tân Việt Cách Mạng Đảng, sau đó qua đảng Cộng Sản Đông Dương, và sang Hồng Kông hoạt động năm 1930.(5)

    Ở Hương Cảng, tại trụ sở chi nhánh Bộ Đông Phương của Quốc tế cộng sản, hằng ngày, vào buổi sáng, Minh Khai học chính trị do Lư Thụy đích thân truyền dạy. Từ đó nẩy sinh t́nh cảm nam nữ giữa hai người.(6) Tháng 4-1931, Minh Khai bị bắt ở Hương Cảng, đến đầu năm sau th́ được thả ra. Trong khi đó, Lư Thụy cũng bị bắt ngày 6-6-1931 tại Cửu Long (Kowloon), gần Hương Cảng, rồi bị trục xuất đầu năm 1933. Lư Thụy qua Quảng Châu, lên Thượng Hải, đáp tàu đi Vladivostok, rồi đến Moscow trong cùng năm đó.

    Ngày 25/7/1935, tại Moscow khai mạc Đại hội cộng sản quốc tế. Phái đoàn đảng Cộng Sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu gồm Lê Hồng Phong, Quốc, Kao Bang, Minh Khai và hai đại biểu khác từ Nam Kỳ và Ai Lao đến. (8) CD

    Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lư lịch là đă có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó.(9): Cũng theo nguồn tài liệu nầy, những phiếu ghi nhận đồ đạc trong pḥng riêng hai người tại nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung pḥng, chung giường, chung đồ dùng...(10)


    Nguyễn Thị Minh Khai (1910-1941), một trong những đảng viên đầu tiên của đảng CSĐD
    Nguồn/Ảnh: Ho Chi Minh, A life, William J. Duiker/TTXVN
    Theo lời con gái của bà Vera Vasilieva (bà nầy là một nhân viên người Nga trong tổ chức Quốc tế Cộng sản), kể cho nhà nữ sử học Sophia Quinn Judge (Hoa Kỳ), được ông Thành Tín viết lại trong sách Về ba ông thánh, th́ trong thời gian diễn ra Đại hội nầy, ông Lin (tức Lư Thụy) hay ghé lại nhà bà Vera Vasilieva thăm, và thường đi cùng với một phụ nữ Việt Nam tên là Phan Lan. Phan Lan là bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai dùng khi ở Moscow.(11)

    Sau Đại hội, Minh Khai ở lại Liên Xô và học ở Viện thợ thuyền Đông phương tức trường Stalin đến tháng 2-1937. Trong thời gian nầy, Quốc bị giữ lại Liên Xô và cũng học ở Viện thợ thuyền Đông phương. Năm 1938, Minh Khai qua Pháp, về Sài G̣n. Hai năm sau (1940), Khai bị bắt, bị lên án tử h́nh, và bị bắn tại Hóc Môn năm 1941. Theo tài liệu của đảng CSVN, Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong (tức Lê Huy Doăn), và có với Phong một người con gái tên Lê Thị Hồng Minh, sinh năm 1939. Trước khi làm vợ Lê Hồng Phong, những tài liệu trong tờ khai lư lịch và những câu chuyện do bà Sophia Quinn Judge đưa ra, cho thấy một thời Minh Khai đă là vợ của Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh.

    Nhà báo Thành Tín c̣n đi xa hơn nữa khi đặt câu hỏi biết đâu tên Minh (trong Hồ Chí Minh) là kỷ niệm về Minh Khai? Ngoài ra ông Hồ c̣n lấy tên là T. Lan để viết một quyển sách tự truyện tựa đề là Vừa đi đường vừa kể chuyện. Cũng theo tác giả Thành Tín, có thể chữ Lan cũng lấy từ Phan Lan, bí danh của Minh Khai khi ở Moscow.(12)


    3. Đỗ Thị Lạc là ai?

    Lê Hồng Phong, Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Đông Dương từ 1935 đến 1936 (1902-1942)
    Nguồn: wikimedia.org

    Sau Đại hội Moscow ngày 25-7-1935, Lê Hồng Phong (1902-1942) được QTCS gởi về nước Việt Nam hoạt động, c̣n Nguyễn Tất Thành (hay Lư Thụy, Nguyễn Ái Quốc) ở lại hay bị giữ lại ở Liên Xô cho đến năm 1939, Thành được gởi về Trung Hoa dưới một tên mới là Hồ Quang, điều khiển ban Hải ngoại đảng Cộng Sản Đông Dương.

    Đầu năm 1940, Lê Hồng Phong bị bắt ở Phan Thiết, đưa vào Sài G̣n, bị đày đi Côn Đảo rồi chết ở ngoài đó năm 1942. Trong khi đó, cuối năm 1940, Nguyễn Tất Thành bắt đầu sử dụng thông hành mang tên Hồ Chí Minh, kư giả của một tờ báo do Cộng Sản Trung Hoa điều khiển. (13)

    Vào đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, đặt căn cứ ở hang Pắc Bó, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Sau khi củng cố nội bộ, huấn luyện đảng viên, phát triển cơ sở, và tổ chức Hội nghị trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 8 (tháng 5-1941), đưa Trường Chinh Đặng Xuân Khu (1909-1988) lên làm Tổng bí thư, Hồ Chí Minh qua Trung Hoa tiếp tục hoạt động, đánh phá các cơ sở cách mạng không cộng sản, và kiếm cách xin Trung Hoa viện trợ. Cuối tháng 8-1942, Hồ bị chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng bắt giữ đến tháng 9-1943.(14)

    Ra khỏi tù, Hồ luôn luôn kiếm cách lấy ḷng các tướng quân Trung Hoa ở Liễu Châu như Trương Phát Khuê, Tiêu Văn. Lúc bấy giờ, phía Trung Hoa đang có sự hợp tác quốc cộng lần thứ hai để chống Nhật. Tướng Tiêu Văn theo phương thức đó áp lực các tổ chức cách mạng Việt Nam hợp nhất với nhau.

    Dầu bị Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) phản đối, Tiêu Văn vẫn cho tiến hành Đại hội tại Liễu Châu ngày 28-3-1944 gồm đại biểu của tất cả các tổ chức chính trị Việt Nam. Các phe phái không cộng sản và cộng sản tranh luận gay gắt, nhưng cuối cùng cũng bầu ra được một ban chấp hành mới gồm có bảy uỷ viên chính thức, một uỷ viên dự khuyết là Hồ Chí Minh, và ba uỷ viên giám sát.(15)

    Trong danh xưng mới, Hồ khéo léo ẩn ḿnh, rất được Tiêu Văn tin cậy. Hồ đề nghị Tiêu Văn cho ḿnh về nước cùng một số cán bộ đă được Trung Hoa huấn luyện, đem theo súng đạn, thuốc men và tiền bạc. Tiêu Văn đồng ư cho Hồ về Việt Nam với 18 cán bộ vừa mới tốt nghiệp khóa huấn luyện quân sự Đại Kiều (gần Liễu Châu), cọng thêm 76.000 quan kim, tài liệu tuyên truyền, bản đồ quân sự và thuốc men, nhưng không cấp vũ khí. Hồ về tới Pắc Bó (Cao Bằng) vào gần cuối năm 1944.

    Trong số 18 cán bộ theo Hồ về nước lần nầy, có Đỗ Thị Lạc tức “chị Thuần”. Nhân thân của Đỗ Thị Lạc không được rơ ràng, chỉ biết rằng vào năm 1942, khi tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa là Trương Phát Khuê tổ chức lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Đại Kiều (gần Liễu Châu), Đỗ Thị Lạc theo học lớp truyền tin.

    Khi về Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với họ Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm gần Pắc Bó. Sử gia Trần Trọng Kim, trong sách Một cơn gió bụi cho biết Đỗ Thị Lạc đă có một người con gái với Hồ Chí Minh.(16) Do t́nh h́nh biến chuyển, Hồ rời Pắc Bó đầu năm 1945 qua Trung Hoa, bắt liên lạc và hợp tác với tổ chức OSS (Office of Strategic Services), tức Sở T́nh báo Chiến lược (Hoa Kỳ) dưới bí danh là Lucius vào tháng 3-1945.(17) Đầu tháng 5-1945, Hồ về Việt Nam, ghé Khuổi Nậm (Cao Bằng) thăm Đỗ Thị Lạc một thời gian ngắn, rồi đi Tân Trào (Tuyên Quang), và bị cuốn hút vào những biến chuyển lịch sử sau đó.

    Chuyện t́nh giữa Hồ với Đỗ Thị Lạc, cũng như với Nguyễn Thị Minh Khai, Tăng Tuyết Minh đều bị đảng CSVN giấu nhẹm, nên sau đó không c̣n dấu vết ǵ nữa.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 3 users browsing this thread. (0 members and 3 guests)

Similar Threads

  1. Bí Mật Về Xác Ướp Hồ Chí Minh
    By alamit in forum Hồ Chí Minh
    Replies: 21
    Last Post: 21-01-2020, 12:33 AM
  2. Bí mật về Hồ Chí Minh
    By alamit in forum Hồ Chí Minh
    Replies: 37
    Last Post: 20-02-2013, 08:00 AM
  3. Replies: 9
    Last Post: 24-06-2012, 09:45 AM
  4. Replies: 0
    Last Post: 05-08-2011, 05:10 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •